Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Luật Tổ Tôm

Một trò chơi trí tuệ có nguy cơ thất truyền. Rồi bị người đời gán vào cho cái tội cờ bạc, mặc dù vậy, theo mình Tổ Tôm là một trò chơi trí tuệ đậm nét văn hóa của Việt Nam (Trung Quốc không có), lại chơi hội 5 người (tượng trưng cho ngũ hành chăng?).

Sưu tầm một số bài viết hay trên mạng, post lại để cùng đọc.

BÀI SỐ 1
Người ta khuyến học, khuyến tài
Riêng tôi dở người: đi khuyến Tổ Tôm
CA DAO

I - NHẬP MÔN

Tổ Tôm là 1 loại bài lá có từ rất lâu đời và thường được giới trung lưu, thượng lưu trong thời phong kiến rất ưa chuộng và đề cao. Tỷ dụ học tự làm vè, kể như:

Làm trai biết đánh Tổ Tôm
Uống trà mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều
Làm trai (mà) không biết Tổ Tôm
Uống nước lá ổi, xem l... trẻ con

Trong khi chơi Tổ Tôm, những người có học, hay chữ còn thả thơ, lẩy Kiều... khi đánh một quân bài. Tỷ như khi đánh quân Ngũ Sách (có vẽ hình một chiếc thuyền buồm) thì đọc:

Thuyền tình vừa ghé tới nơi
Thì đà trâm gẫy, bình rơi mất rồi

Hay khi đánh quân bài Nhị Vạn (có vẽ hình một cành đào) thì đọc:

Dấn thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung

Người chơi còn tâm đắc kể cho nhau nghe giai thoại về Cao Bá Quát đánh Tổ Tôm với vua Tự Đức như sau:

Chuyện kể rằng vì mến tài văn chương của Cao Bá Quát nên vua Tự Đức hay cho gọi Quát vào cung hầu Tổ Tôm, nói chuyện văn thơ. Một bữa, khi quân Chi Chi vừa dậy, vua vỗ đùi hô to:"- Chi nẩy!". Các quan trong hội Tổ Tôm đều kinh hãi nhận ra vua hô nhầm. (Theo luật Tổ Tôm : - Ù Chi nẩy chỉ xảy ra khi duy nhất bài chỉ chờ đúng một tiếng Chi Chi thôi. Nhưng lần này, bài của vua còn chờ cả tiếng Ngũ Sách nữa. Đúng ra, vua chỉ được hô : - "Có lèo" thôi). Mọi người biết vậy nhưng không ai dám bắt lỗi vua. Duy chỉ có Cao Bá Quát vốn tính khảng khái quyết chỉ ra lỗi bắt vua phải: "Chèo đò" là lỗi ù nhỏ hô to (Một lỗi nặng trong luật Tổ Tôm là bị xóa hết điểm đã được từ đầu hội và cả ván ù tiếp theo nữa mới được trả đò. Ví như lỗi thẻ đỏ trong bóng đá). Tất nhiên, trước sự bình đẳng trong bài bạc, vua phải chấp hành nhưng trong bụng không vui.

Ít lâu sau, Quát làm chủ khảo bị phạm trường quy tại Quy Nhơn: đã để cho một thí sinh giỏi nhưng bài bị phạm húy được ưu ái chấm đỗ. Lỗi ấy lẽ ra chỉ bị tội đồ (nọc ra đánh rồi đày đi biệt xứ). Nhưng Cao Bá Quát bị tống ngục rồi xử trảm. Ngồi trong ngục, Quát dò lại nguyên nhân chính dẫn đến mình bị tăng án quá nặng là bài Tổ Tôm ngày nào hầu vua và ghi lại như sau:

Vạn Tam đáo Cửu, song Lục Thất
Sách Bát hoàn Tam Ngũ chí không
Văn Tam Tứ Tứ dư Lục Thất
Độc Cụ vô Thang, khởi binh đao

Trừ ba từ cuối là nguyên nhân việc chém chết mình còn cả bài thơ là bài Tổ Tôm của vua hôm đó:

- Hàng Vạn có từ Tam Vạn đến Cửu Vạn, trong đó có 2 quân Lục Vạn và Thất Vạn
- Hàng Sách có từ Bát Sách đến Tam Sách nhưng không có Ngũ Sách
- Hàng Văn có Tam Văn, 2 quân Tứ Văn và thừa ra Lục Thất Văn
- Hàng yêu có 1 quân Ông Cụ, không có Thang Thang

Thế chẳng phải là Tổ Tôm quá độc đoán và phong kiến sao? Các thông tin trên tôi sưu tầm được từ Đại tá Đặng Ngọc Lâm - Hiệu trưởng Trường Văn hóa Quân khu II khi tôi còn tại ngũ làm công tác giảng dạy ở đó. Số là những năm 80, Ban Giám hiệu trường VHQKII có Trung tá Hoàng Trung Hiếu - Hiệu phó nghỉ hưu làm thiếu mất một chân trong hội Tổ Tôm của họ, thế là tôi được huấn luyện để thế vào chân ấy. Nhằm gây hứng thú cho tôi học luật, thủ trưởng bèn kể những cái hay, cái thú của Tổ Tôm. Nó rất thú vị và chặt chẽ kể như các vị quan tâm xem luật của nó sau đây:

II - Giới thiệu quân bài Tổ Tôm

Một cỗ quân bài Tổ Tôm gồm có 120 quân bài. Nhưng thực ra chỉ gồm 30 loại vì mỗi loại có 4 quân bài giống nhau. Các quân bài được ghi tên bằng chữ Hán, viết cách điệu theo lối thảo (Cách viết thêm râu, thêm nét trông như rễ búi cỏ). Tên một quân bài được cấu thành bởi hai chữ ghép lại: gồm hoa và số.
- Trước hết nói về hoa: gồm có 3 hoa là Văn, Vạn, Sách
- Về số gồm 9 số từ Nhất, Nhị, Tam... đến Cửu.

Hai thành tố trên ghép lại thành 27 loại quân bài từ Nhất Văn, Nhị Văn, Tam Văn... đến Bát Sách, Cửu Sách.

Ngoài ra còn có 3 loại quân bài đặc biết gọi là yêu: Đó là:
- Chi Chi: có hình người cầm 2 quả chùy
- Thang Thang: có hình vẽ người đàn bà cho con bú
- Ông Cụ: có hình người già chống gậy.

III - Các khái niệm

1 - Phu: là 1 bộ quân bài thường tập hợp từ 3 quân bài trở lên được sắp xếp theo 3 quy tắc sau đây:

1.1 - Phu dọc: gồm các quân bài cùng hoa nhưng có số liên tiếp. Ví dụ như:
- Nhất Sách, Nhị Sách, Tam Sách...
- Tứ Văn, Ngũ Văn, Lục Văn, Thất Văn...
- Ngũ Vạn, Lục Vạn, Thất Vạn, Bát Vạn, Cửu Vạn…

1.2 - Phu ngang (còn gọi là phu bí): Gồm các quân bài cùng số nhưng khác hoa. Ví dụ:
- Nhị Văn, Nhị Vạn, Nhị Sách
- Tứ Văn, Tứ Vạn, Tứ Vạn, Tứ Sách
- Lục Văn, Lục Vạn, Lục Sách, Lục Sách...

1.3: Các quân yêu cũng là phu.

2 - Lưng: là phu đặc biệt được quy định như sau:
2.1 - Hàng Văn và hàng Vạn (= hàng Sách) có tổng bằng 10:
- Cửu Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách
- Bát Văn, Nhị Vạn, Nhị Sách
- Thất Văn, Tam Vạn, Tam Sách (còn được gọi là Tôm)
2.2 - Nhất Văn + Nhị Văn + Tam Văn
2.3 - Cửu Vạn + Bát Sách + Chi Chi (còn được gọi là Lèo)
2.4 - Cửu Vạn + Cửu Sách + Thang Thang
2.5 - Cửu Sách + Thang Thang + Ông Cụ
2.6 - Khàn: Gồm 3 quân bài giống nhau cùng loại, được khi chia bài
2.7 - Thiên khai: Gồm 4 quân bài giống nhau cùng loại, được khi chia bài

3 - Cạ: Là 1 bộ thiếu 1 quân nữa mới thành phu (Quân thiếu ấy gọi là chờ). Tỷ dụ như:
- Nhất Sách, Tam Sách (chờ Nhị Sách)
- Tứ Vạn, Lục Vạn, Thất Vạn (chờ Ngũ Vạn)
- Cửu Sách, Thang Thang (chờ Cửu Vạn, hoặc chờ Ông Cụ)
- Ngũ Văn, Lục Văn, Bát Văn, Cửu Văn (chờ Thất Văn-Trường hợp chờ thành phu dọc 5 quân tương tự như thế này gọi là chờ xuyên 5 gian)
- Thất Sách, Thất Sách (trường hợp chờ phỗng tương tự như thế này hoặc chờ 1 quân bài cuối cùng gọi là Bạch thủ)

4 - Bài chờ: là bài có toàn bộ các quân đã vào phu gần hết chỉ còn một cạ cuối cùng để hoàn thành và có đủ ít nhất một lưng.

5 - Bài thành: là bài có toàn bộ các quân bài đã vào phu và có đủ ít nhất một lưng chỉ còn chờ quân sắp ra nằm trong các phu (gọi là chạm thành)

6 - Bài ù: là bài hội của 2 điều kiện cần và đủ sau đây:
6.1 - Điều kiện cần: Toàn bộ các quân bài đã vào phu và có từ 1 lưng trở lên;
6.2 - Điều kiện đủ: Quân bài vừa lên thì bài thành hoặc chạm thành như đã nói ở mục 5.

7 - Các loại Ù:
- Tôm: Như đã nói ở trên.
- Lèo: Như đã nói ở trên.
- Thông: là ván ù liên tiếp từ lần thứ 2 trở đi.
- Thập điều (còn gọi là thập hồng): Bài ù chỉ có 10 quân đỏ.
- Bạch định: Bài ù chỉ toàn quân trắng.
- Kính Cụ: Bài ù chỉ có quân ông cụ là đỏ còn lại là quân trắng.
- Kính tứ cố: Bài ù chỉ có 4 quân ông cụ là đỏ còn lại là quân trắng.
- Chi nẩy: Bài ù khi chi chi ở nọc mới lên. Thêm điều kiện bài chỉ chờ 1 tiếng như đã nói ở mục Nhập môn.
- Xuyên 5 gian (cây giữa của hàng 5 cây dọc, không tính yêu. Ví dụ: 4-5-7-8 Văn (chờ Lục Văn).
- Xuyên bí tư (2 Nhị Vạn + 2 Nhị Sách, chờ Ù lên Bát Văn; 2 Cửu Vạn + 2 Bát Sách, chờ Ù lên Chi Chi: Chi chi nảy xuyên bí tư).

IV-CÁC QUY TẮC KHI CHƠI BÀI

1. Số người chơi
Một hội Tổ Tôm nhất thiết phải có 5 người chơi. Nếu thiếu sẽ không thành. Trường hợp bất đắc dĩ chỉ có 4 người chơi thì chỉ chơi tạm (gọi là bí tứ). Khi đó phải bỏ 1 phần bài sẽ mất hay.

2. Chia bài
Vào hội, mọi người tôn trọng người cao tuổi nhất trong hội được mời rút 2 quân bài để tính tổng rồi chia đồng dư 10 nhằm chọn người chia bài (Tỷ dụ cụ rút được quân thất vạn và quân ngũ văn thì có tổng 12 chia 10 dư 2; sẽ đếm từ tay phải cụ (vì chơi Tổ Tôm theo thứ tự vòng tròn đến người thứ 2 sẽ được chia bài).

Bài được chia thành 6 phần theo vòng tròn và được úp sấp. Chia xong, người chia bốc 1 phần bất kỳ, rút ra 2 quân để tính phần bài cho mỗi người theo thứ tự. Sau đó phần bài đó được úp lên đĩa nọc.

3. Xếp bài trên tay
Tùy cách xếp cho tiện việc đánh và theo dõi (thường xếp theo hình nan quạt. Quân yêu được xếp thụt xuống tâm, 2 quân giống nhau chồng và rút cao hơn cho dễ nhìn để "phỗng". Các quân đã và sắp thành phu xếp cạnh nhau) nhưng nhất thiết phải tuân theo quy tắc sau:

3.1-Khàn phải úp sấp xuống chiếu cho đến khi có quân thứ 4 ra mới dậy khàn. Trường hợp tính thấy lợi khi khàn kéo theo được 2 phu thì được để trên tay, nhưng phải hô: "Có 1 khàn bất thực" và xin cho 1 chiếc chén úp sấp trước mặt để đánh dấu. Nếu có quân trong khàn ra phải hô: "Dậy khàn" và lật ngửa chén. Khi ù phải hô: "Bất thực 3 con (quân gì) ăn cả (nếu đã đánh đi thì hô: "Ăn 2 đánh 1, trả chén làng!". Nếu không sẽ bị phạt lỗi thiếu quân "Khê khàn".

3.2-Thiên khai: Phải úp sấp xuống chiếu nhưng khi thấy có người bắt đầu đánh quân bài đầu tiên sẽ hô "Thiên khai 4 quân (gì) đồng thời lật ngửa quân bài dưới chiếu lên.

3.3-Khi ăn quân có cùng loại thì phải hạ quân bài trên tay xuống chiếu kẻo phạm lỗi: "Treo tranh trái vỉ".

4. Xếp bài dưới chiếu
- Khi mới bắt đầu chơi, phần chiếu trước mặt gồm có các khàn, thiên khai (nếu có như đã nói ở trên). Có thể úp các quân yêu xuống nếu thấy nhớ được.
- Khi ăn quân phải hạ các quân trên tay xuống theo phu. Trường hợp có quân trùng với quân được ăn phải xếp lên trên hoặc xuống dưới cùng kẻo phạm lỗi "Kẹp cổ".

5. Đánh bài
- Trước khi đánh bài, việc đầu tiên phải làm đó là: "-Tiền điểm binh, hậu điểm bối" có nghĩa là đếm số quân bài xem có đủ 20 quân không (kẻo khi ù thừa hoặc thiếu quân sẽ bị phạt rất nặng) rồi mới đánh.
- Khi sắp ù phải xem có quân nào dư (bất thành phu) không? Đã có đủ ít nhất 1 lưng chưa? để tránh lỗi chèo đò.
- Đánh quân bài nào thấy có lợi (quân bài dư hoặc tính người dưới cửa không ăn được hoặc người khác không ù được....) cho người liền kề bên tay phải.
- Khi quân bài của người bên trái đánh cho nếu không ăn được thì hô: "-Xin 1 quân" để người phụ trách nọc rút cho quân khác. Nếu ăn được quân mới có quyền đánh còn không thì sẽ mất lượt.

6. Trường hợp ưu tiên (cướp cái)
6.1-Phỗng: Khi thấy quân bài trùng với 2 quân bài trên tay, phải hô:"Phỗng" và được ăn không theo cửa (như trường hợp “chíu” trong đánh Chắn). Nếu trùng với khàn bất thực, phải hô: "-Phỗng tái kiến, trả chén làng" đồng thời hạ quân trên tay, ăn quân và lật ngửa chén.

6.2-Dậy khàn: Khi thấy quân bài thứ tư trùng với 3 quân bài đang úp khàn của mình phải hô:"Dậy khàn" đồng thời lật ngửa các quân bài úp khàn dưới chiếu lên kẻo mắc lỗi khê khàn.

6.3-Ù: Khi thấy quân bài vừa ra bất cứ là do người khác đánh hay là bốc dưới nọc lên ở cửa nào mà thỏa mãn điều kiện ở tiểu mục 8 thì phải hô: "Ù" và hạ bài.

7. Quy tắc hô Ù
7.1-Chỉ được hô "Ù" khi các quân bài đều hạ hết xuống chiếu và đồng thời các quân khàn úp dưới chiếu đã được ngửa lật lên hết (tránh bị lỗi thiếu quân). Khi bài ở tình trạng 6.3. thì chỉ được hô "-Xin làng cho xem quân... hoặc "Nhờ".

7.2-Bài Ù kèm theo cước sắc cũng hô kèm:
- Thông: có Ù ván trước.
- Có Tôm, có Lèo.
- Bạch thủ (quân gì); xuyên 5 gian; thập hồng; bạch định...
- Kính Cụ và tính Tứ Cố thì vừa hô vừa đưa 2 tay quân Ông Cụ ra giữa chiếu cho cả hội xem.
- Chi nẩy: vừa hô vừa vỗ đùi.

V-NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ
Phong tục mỗi nơi có kiêng kỵ khác nhau,nhưng ở 2 địa phương Phú Thọ và Tuyên Quang có mấy điều kiêng kỵ giống nhau sau đây:

1. Hội Tổ Tôm trong đám cưới:
Gia chủ sẽ rất vui khi đầu hội có ù "Thập điều" vì cho là điềm may mắn cho đôi trẻ. Nhưng rất kiêng Ù "Bạch định", nếu bạn thấy bài như thế phải đánh xén phu đi để ăn quân đỏ hoặc bỏ Ù.

2. Hội Tổ Tôm trong đám tang:
Kiêng ù "Kính tứ cố" và "Kính cụ". Nếu gặp phải xử lý, như kiêng ù "Bạch định" nói ở mục 1 trên đây.

VI-KIỂM TRA VÁN BÀI

Tuân theo nguyên tắc "Tả hữu biên hành sự" nghĩa là khi có người ù thì trách nhiệm kiểm tả và chia bài ván sau là của 2 người ngồi 2 bên người vừa ù. Nội dung kiểm tra theo các tiêu chí sau:

1. Kiểm số quân: Đếm lại xem bài có thừa hoặc thiếu quân không (Đề phòng người chơi vô tình hay cố ý nhầm lẫn thừa hay thiếu bài. Nếu thiếu bị phạm lỗi "Chèo đò".

2. Điều kiện cần và đủ để Ù
- Có quân bài nào bất thành phu không?
- Đủ số lưng theo quy định không?

3. Có bỏ Ù không?
-Soát lại các quân bài mới ra gần đây có đủ điều kiện để ù không (Nhất là trường hợp bài chạm thành).

4. Kiểm tả quy tắc hô
- Hô đã đúng lúc chưa? (Khi hạ hết bài xuống chiếu, lật hết các quân khàn, lấy quân chạm thành về....).
- Hô đúng cách chưa? Đã trả chén bất thực ,ăn mấy con? Đánh mấy con trong khàn hoặc bất thực thiên khai?
- Hô đúng cước sắc không? (tránh ù nhỏ hô to).

VII-PHẠM LỖI

1-Chèo đò: là lỗi nặng nhất (Như thẻ đỏ) phải hủy bỏ toàn bộ điểm đã giành được từ đầu hội và ván đang ù. Ngoài ra ván ù tiếp theo cũng không được tính điểm (gọi là trả đò); không được tính là ván ù thông. Hình phạt bổ sung còn vẽ thêm 1 hình con thuyền cạnh tên người phạm lỗi để cảnh cáo (chỉ đến khi trả được đò mới xóa). Các vi phạm sau đây sẽ bị phạt lỗi "Chèo đò".

- Thừa thiếu quân như đã nói ở tiết 1.6.
- Bất thành phu, thiếu lưng.
- Ù nhỏ, hô to.

2-Đeo kính: là lỗi kỹ thuật nhỏ, không được tính điểm ván thắng hiện tại và không được hô thông ở ván ù tiếp theo. Bị vẽ hình 1 cái kính bên cạnh tên người phạm lỗi để nhắc nhở lần sau nhìn cho rõ.Lỗi này áp dụng cho các vi phạm sau:

3-Treo tranh trái vỉ: như đã nói ở trên.

4-Kẹp cổ: như đã nói ở trên.

5-Bỏ Ù: như đã nói ở trên.

VIII-TÍNH ĐIỂM VÁN THẮNG

Người có bài ù được coi là người thắng duy nhất trong ván bài và được tính điểm theo nhiều cách tùy mỗi nơi mỗi khác.Ví dụ như suông 2 dịch 1; suông 4 dịch 2....

Cách ghi điểm cũng có thể do thư ký cuộc chơi chép vào giấy hoặc có thể dùng đũa, hạt ngô, hạt lạc... để nhớ điểm đều được. Thông thường quy định điểm thắng như sau:

- 8.1-Ù suông (hay còn gọi là ù thường) không có cước sắc gì : 2 điểm
- 8.2-Ù thông (có ván trước ù) +1
- 8.3-Có Tôm +1
- 8.4-Bạch thủ +1
- 8.5-Xuyên 5 gian +1
- 8.6-Có Lèo +2
- 8.7-Thập điều (Thập hồng) +3
- 8.8-Kính Cụ +6
- 8.9-Bạch định +8
- 9.10-Kính tứ Cố +10

Điểm 1 hội theo quy tắc “suông 2 dịch 1” có tổng điểm bằng 25.

Nếu theo quy tắc “suông 4 dịch 2” thì tổng điểm là 50.

Khi thấy trong tổng đạt >24 hoặc 48 thì tuyên bố kết thúc hội. Kiểm số điểm trong hội, ai là người có số điểm cao nhất là người thắng.

Cách tính điểm và cước Ù đang áp dụng trong Tổ Tôm Sân Đình

* Điểm: là đơn vị tính thắng - thua của người chơi sau mỗi ván Ù.

* Dịch: Là đơn vị cộng thêm khi người chơi Ù nhiều cước. Trong Tổ Tôm Sân Đình, 1 dịch = 2 điểm.

* Cách tính điểm của Sân Đình dựa trên cách tính của Tổ Tôm dân gian: Suông 4, dịch 2, bội tam, bội tứ, bội lục. Kính tứ cố bằng 2 Chi nẩy.

a. Suông: Bài Ù không có cước gì. Ù Suông được 4 điểm - 0 dịch.
b. Thông: Ván trước Ù đúng, ván sau Ù tiếp. Ù Thông được 6 điểm - 1 dịch (+2 điểm).
c. Tam khôi (Tứ khôi, Ngũ khôi…): Ù 3 (4, 5 ….) ván liên tiếp, ván trước có xướng Thông (Tam khôi, Tứ khôi…). Ù Tam khôi được 8 điểm - 2 dịch. Mỗi ván thông tiếp theo được cộng thêm 1 dịch (+2 điểm).
d. Thiên Ù: Là bài có cái, tất cả các quân bài đã được xếp vào phu và có lưng.
Thiên ù được tính 8 điểm - 1 dịch (+2 điểm).
e. Bạch thủ: Bài Ù đủ các điều kiện (1) bài chưa thành, (2) chỉ duy nhất có 1 nước ù bằng cách Phỗng để ù. (Phỗng quân Yêu, Phỗng quân đã xin Bất thực để ù thì không được xướng Bạch thủ). Ù Bạch thủ được 8 điểm - 1 dịch (+2 điểm).
f. Tôm: Bài Ù và có lưng Tôm (Tạm Vạn - Tam Sách - Thất Văn). Ù Tôm được 8 điểm - 1 dịch (+2 điểm).
g. Lèo: Bài Ù và có lưng Lèo (Cửu Vạn - Bát Sách - Chi Chi). Ù Lèo được 10 điểm - 2 dịch (+4 điểm).
h. Xuyên Bí Tư: Bài chờ có 2 đôi (4 quân này không có quân nào nằm trong các phu đang có, không phải quân Bất thực và không có quân Yêu), chỉ có 1 nước chờ Ù là lên quân còn lại tạo thành phu bí để Ù (Quân bài Ù là quân không có trên bài). 
Ù Xuyên Bí Tư được 10 điểm - 2 dịch (+4 điểm).
i. Xuyên Năm gian: Bài Ù với quân ù ghép với 4 quân trên bài (4 quân này không có quân nào nằm trong các phu đang có và không có quân Yêu) thành 1 phu dọc chỉ có 5 quân, trong đó quân Ù là quân có số ở giữa (Quân bài Ù là quân không có trên bài). 
Ù Xuyên Năm gian được 10 điểm - 2 dịch (+4 điểm).
j. Thập điều (thập hồng): Bài Ù có 10 quân đỏ, các quân còn lại là đen. 
Ù Thập điều được 12 điểm.
k. Kính Cụ: Bài Ù chỉ có 1 quân Ông Cụ là quân đỏ, 20 quân còn lại là quân đen. 
Ù Kính Cụ được 12 điểm.
l. Bạch định: Bài Ù với 21 quân đen, không có quân đỏ. Ù Bạch định được 16 điểm.
m. Chi Chi nảy: Bài Ù cần thoả mãn 3 điều kiện: (1) Chờ Ù duy nhất cây Chi Chi; (2) trong cách xếp bài chờ ù thì có què ít nhất 1 cây 9 Vạn và 1 cây 8 Sách, và (3) không bỏ vào thành. 
Ù Chi Chi nảy được 24 điểm.
Lưu ý: Khi ù Chi chi nảy thì không được xướng thêm cước Lèo. Các cước khác nếu có vẫn được xướng thêm.
n. Kính Tứ Cố: Bài ù có 4 quân Ông Cụ là quân đỏ, 17 quân còn lại là quân đen. Ù Kính Tứ Cố được 48 điểm.

Cách tính điểm sau mỗi ván Ù:
Lấy điểm của cước Ù lớn nhất + dịch của các cước còn lại.
Ví dụ: bài Ù Tam khôi Thập điều Lèo sẽ được tính điểm như sau:
12 (Thập điều) + 4 (Tam khôi) + 4 (Lèo) = 20 điểm​

* Định nghĩa Bất thực: Bất thực có nghĩa là người chơi không sử dụng Khàn, Thiên Khai theo cách thông thường (úp xuống chiếu, dậy trong quá trình ăn đánh và được tính là 1 lưng).

Người chơi Bất thực để sử dụng các cây bài trong Thiên khai, Khàn để xoay ra các thế bài có lợi hơn.

* Khi người chơi Bất thực thì phải có hành động Xin chén trong quá trình xếp bài, trước khi bấm Xếp xong. Nếu không xin chén thì khi Ù sẽ bị bắt lỗi Không úp khàn và không được tính điểm.

* Khi Ù, người chơi phải có thao tác Trả chén đúng quy định, nếu không sẽ bị bắt lỗi không trả chén hoặc trả chén sai và không được tính điểm.

* Trong quá trình ăn - đánh, nếu cả 3 cây bất thực đã hạ dưới chiếu thì cũng phải Trả chén, nếu không khi ù sẽ bị bắt lỗi không trả chén và không được tính điểm.

*Trong quá trình ăn đánh nếu bất thực rơi vào thế ăn 2 đánh 1 (2 quân trong bất thực đã lộ dưới chiếu) người chơi cần phải trả chén trước khi đánh đi quân thứ 3.

* Trong 1 ván bài, người chơi có thể có nhiều Bất thực. Mỗi Bất thực phải xin 1 chén.

* Trong Game Tổ tôm Sân Đình, người chơi xin Bất thực thì trên bài quân muốn bất thực ít nhất phải có sẵn 1 phu. Phu này sẽ phải đi kèm với quân bất thực khi trả chén - hạ bài Ù. Nếu không sẽ bị bắt lỗi Bất thực trùng trục.

* Bất thực gồm có 2 loại: Bất thực Khàn và Bất thực Thiên khai

1. Bất thực Khàn:
Sau khi bài được chia, người chơi bấm vào Chén úp để báo cho làng biết mình có bất thực.
Tất cả các trường hợp xin Bất thực thì Khàn đó không được tính là 1 lưng.

Các hình thức bất thực Khàn:

* Bất thực ăn cả:
- Cả 3 cây có thể xếp hết vào các phu, không đánh đi cây nào.
- Khi ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., ăn cả, trả chén làng” rồi mới xướng ù.​

* Bất thực ăn 2 đánh 1:
- 2 cây được xếp vào 2 phu riêng biệt, cây còn lại đánh đi.
- Khi ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., ăn 2 đánh 1, trả chén làng” rồi mới xướng ù.​

* Bất thực Bí hoàn bí:
- Người chơi xin Bất thực, sau quá trình ăn - đánh, khi hạ Ù thì 3 cây trong khàn Bất thực lại được ghép thành duy nhất vào 1 phu bí.
- Khi ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., bí hoàn bí, trả chén làng” rồi mới xướng ù.​

* Bất thực Yêu hoàn Yêu:
- Chỉ được xin Bất thực Yêu đen. Cây Yêu đỏ không được phép xin Bất thực.
- Người chơi xin Bất thực, sau quá trình ăn - đánh, khi hạ ù thì 3 quân Yêu trong khàn Bất thực lại không được ghép vào phu nào.
- Khi Ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., Yêu hoàn Yêu, trả chén làng” rồi mới xướng Ù.​

* Bất thực trùng trục:
- Là trường hợp xin bất thực nhưng quân bất thực không phải là quân Yêu và các quân trong Khàn không xếp được vào phu nào. Trường hợp này không hợp lệ nên khi Ù cũng phải trả chén làng và không được tính điểm.
- Trong Game Tổ Tôm Sân Đình, người chơi xin Bất thực đối với quân bài không phải là Quân Yêu thì trên bài ít nhất phải có sẵn 1 phu liên quan đến quân bất thực. Phu này phải hạ kèm với quân xin bất thực khi Ù. Nếu không sẽ bị bắt lỗi Bất thực trùng trục khi hạ bài Ù. ​

Trả chén trong ván chơi:
* Trong ván bài, nếu quân bài trong Khàn bất thực được đánh/bốc ra thì người chơi có thể Phỗng, hạ phu dọc và phải trả chén luôn. Khi đó phải xướng trả chén đúng, đủ như trả chén khi Ù.

* Trong quá trình ăn, đánh của mình, cả 3 cây Bất thực được hạ hết dưới chiếu thì người chơi cũng phải trả chén luôn. Khi đó phải xướng trả chén đúng, đủ như trả chén khi Ù.

* Nếu Bất thực từ 2 khàn trở lên, nếu trong quá trình ăn đánh không trả chén nào, khi Ù phải trả chén cho từng Bất thực.​

2. Bất thực Thiên khai
Trong Game Tổ Tôm Sân Đình, có các hình thức: Bất thực Thiên khai: Bất thực Thiên khai úp Khàn trình phu và Bất thực Thiên khai, Bất thực Khàn.

a. Bất thực Thiên khai úp Khàn trình Phu:
* Người chơi sử dụng 1 quân trong Thiên khai để ghép vào phu dọc, 3 cây còn lại thì không ghép vào đâu nữa và được úp như là Khàn. Khàn này vẫn được tính là Lưng.
* Trong Game Tổ Tôm Sân Đình, Úp khàn trình phu không phải xin chén và trả chén, khi ù vẫn phải bấm vào nút Dậy khàn. Người chơi chọn phu dọc có chứa quân Thiên khai và 3 quân còn lại, bấm vào nút Úp khàn trình phu khi xếp bài.​

b. Bất thực thiên khai bất thực khàn:
Được áp dụng khi mà các quân bài của Thiên khai có thể ghép thành ít nhất 2 phu khác nhau nhằm mục đích trôi được nhiều cây hơn.
Trong Tổ Tôm Sân Đình, Bất thực Thiên khai Bất thực Khàn, người chơi bấm vào Chén ngửa để xin Bất thực => khi đó sẽ có 1 chén úp, 1 chén ngửa được kéo về để báo làng mình có Bất thực.

Bất thực Thiên khai Bất thực Khàn, bao gồm các trường hợp sau:

* Bất thực Thiên khai Bất thực Khàn ăn cả:
- 4 cây của Thiên khai được xếp hết vào các phu, không thừa cây nào đánh đi.
- Khi ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., ăn cả, trả chén làng” rồi mới xướng ù.​

* Bất thực thiên khai bất thực khàn ăn 3 đánh 1:
- 4 quân trong thiên khai được chia 3 quân vào các phu, còn 1 quân thừa đánh đi.
- Khi ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., ăn 3 đánh 1, trả chén làng” rồi mới xướng ù.​

* Bất thực thiên khai bất thực khàn Yêu hoàn Yêu:
- Chỉ được xin Bất thực Yêu đen. Cây Yêu đỏ không được phép xin Bất thực.
- Người chơi xin Bất thực, sau quá trình ăn - đánh, khi hạ ù thì 4 quân Yêu trong khàn Bất thực lại không được ghép vào phu nào.
- Khi ù phải trả chén và hô “Bất thực quân …., Yêu hoàn Yêu, trả chén làng” rồi mới xướng ù.​

BÀI SỐ 2: Hướng dẫn chơi bài Tổ Tôm

Bài Tổ Tôm là loại bài gì?
Tổ Tôm là một trò chơi bài lá dân gian phổ biến của người dân Việt Nam, có lẽ được du nhập từ Trung Quốc (?). Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ "Tụ Tam" nghĩa là hội tụ của ba lại hàng Văn, Vạn và Sách. Trong các ngày lễ, Tết, Tổ Tôm thường được nam giới và người già chơi vì nó có một số luật khá khó, nhiều nước biến hoá, thanh niên và phụ nữ thời xưa ít chơi. Tổ Tôm không phổ biến và bình dân bằng trò chơi Tam Cúc. Do Tổ Tôm khá khó nên người xưa có câu ca dao đề cao Tổ Tôm, nó thể hiện trình độ và cái oai phong của bậc quân tử :

Làm trai biết đánh Tổ Tôm
Uống chè mạn hảo, xem nôm Thuý Kiều

Cũng có tài liệu nói rằng Tổ Tôm xuất phát từ Nhật Bản do các hình vẽ đều là hình vẽ theo kiểu của Nhật, theo lối tranh mộc bản (mokuhan) đơn giản và tất cả các nhân vật đều mặc "Kimono" thời Edo (trước khi Nhật hoàng Minh Trị lên ngôi và trị vì 1868-1912), trong số này có 18 hình đàn ông (có 8 người bó chân), 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em. Các hình cá chép, trái đào, thành, thuyền cũng là những hình ảnh rất Nhật.

Quân bài
Bài Tổ Tôm có 120 quân, gồm có 3 hàng Vạn (萬), Văn (文), Sách (索). Các hàng quân này được viết bằng chữ Nho và cách nhận biết 3 hàng quân này theo câu "Vạn vuông, Văn chéo, Sách loằng ngoằng". Bên phải các quân bài có chữ số từ Nhất đến Cửu. Loại quân đặc biệt có tên gọi là Thang Thang, Ông Lão và Chi Chi. Các quân bài đều có hình minh họa, có thể ghi nhớ bằng hình nếu như không thuộc được hết chữ Nho. Bài Tổ Tôm cũng được làm bằng bìa, mặt sau giống hệt nhau để tránh lộ bài.

Tổ Tôm điếm
Bài Ù phải có lưng, các lá còn lại nằm trong các bí, trừ các lá yêu.

Lưng: 1-Thiên khai; 2-Khàn (có 3 lá giống nhau); 3-Phỗng (bài có hai lá, phỗng thêm 1 lá, giống như chíu trong đánh chắn); 4-các Tụ Tam sau: <nhất van+nhất sách+cửu văn>; <nhị vạn+nhị sách+bát văn>; <tam vạn+tam sách+thất văn>(tôm); <cửu vạn+bát sách+chi chi> (lèo); <cửu vạn+cửu sách+thang thang>; <cửu sách+thang thang+ông lão>; <nhất văn+nhị văn+tam văn>. 

Phu:
- Phu dọc: dây dọc cùng chất (VD: tứ văn-ngũ văn-lục văn, ngũ sách-lục sách-thất sách-bát sách...);
- Phu ngang (phu bí): 1-bí tam - giống như phỏm trong "tá lả": 
VD: - 3 quân: tứ văn+tứ vạn+tứ sách; 
        - 4 quân: lục văn+lục vạn+2 lục sách; 
        - 5 quân: bát văn+2 bát sách+2 bát vạn).

Đánh chắn
Có hai cách chơi đánh chắn, trong dân gian gọi là Bí tứ : chơi chắn 4 người và Bí ngũ : chơi chắn 5 người. Mục đích của trò chơi này là làm tròn bài thông qua chắn và cạ cùng với việc ăn bài theo giá trị của các hàng quân mà bài của mỗi người có thể tiến tới ù.

Bộ bài Tổ Tôm sẽ bị bỏ bớt đi hàng Nhất và hàng Yêu (quân Thang Thang và Lão). Như vậy, bộ bài bây giờ chỉ còn 100 quân, gồm các quân có số Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu (mỗi số đều có 3 hàng Vạn, Văn, Sách, mỗi hàng 4 quân) và Chi Chi (chính là hàng Nhất Văn, có 4 quân). Trong 100 quân có 20 lá bài đỏ (các quân Bát Sách, Bát Vạn, Cửu Sách, Cửu Vạn và Chi Chi) và 80 lá bài trắng (các quân bài còn lại).

Chắn : là hai lá bài giống hệt nhau cả về hàng lẫn số. Ví dụ : hai lá bài lục Vạn tạo thành 1 chắn lục Vạn, hai lá bài thất Sách tạo thành 1 chắn thất Sách.
Cạ : là hai lá bài giống nhau về số nhưng khác hàng. Ví dụ : hai lá bài tam Văn và tam Sách tạo thành cạ tam Văn-Sách.
Ba đầu : là ba lá bài cùng số nhưng khác hàng. Ví dụ : tam Văn, tam Sách, tam Vạn được gọi là ba đầu tam.
Cửa trì: là cửa ở bên tay phải người chơi. Đây là cửa người chơi được ưu tiên khi ăn quân và ù.
Chíu: Khi có một người nào đó đánh một quân, mà trên tay người chơi cùng đã có 3 quân cùng tên, cùng số thì người này có quyền lấy lá bài đó về và đánh trả lại một bài khác vào cửa đó. Trong trường hợp này quyền ưu tiên ăn quân ở cửa trì không áp dụng.
Thiên khai: trên bài có 4 quân giống nhau.
Ăn bòn: từ một chắn trên bài, tách ra, ăn thêm được hai chắn để dưới bài. Trường hợp, ăn thêm một chắn mà ù thì gọi là ù bòn.
Lá què : là những lá bài không thể xếp lại với nhau thành chắn hoặc cạ.
Tôm: Là một nhóm quân gồm thất văn, tam sách, tam vạn
Lèo: là một nhóm quân gồm cửu Vạn, bát Sách, Chi Chi
Bạch thủ: khi đã có 5 chắn, và ăn thêm được 1 chắn nữa để ù. Với lá bài chờ ù là Chi Chi, thì chỉ được chờ bạch thủ. Có nghĩa là khi ù, tính cả chắn ù, là 6 chắn và còn lại là 4 cạ.
Bạch định : là bài không có một quân đỏ nào.
Tám đỏ: khi ù, bài có 8 quân màu đỏ.
Thập thành : là khi ù, bài ù có 10 chắn.
Tôm : Là một nhóm quân gồm thất văn, tam sách, tam vạn.
Ù thông: khi ù ván thứ hai liên tiếp.

Hoa rơi cửa Phật : là trường hợp khi bài dưới chiếu có một chắn Ngũ Vạn hoặc cạ Ngũ trong có Ngũ Vạn, người chơi lại bốc lên được lá bài Nhị Vạn (hình cánh hoa đào) đúng ở cửa trì.

BÀI SỐ 3: Tổ Tôm - Chắn: Một nét văn hóa có thể bị thất truyền

Đôi nét về lịch sử trò chơi
Nói đến trò chơi chắn , trước tiên phải nói đến Tổ Tôm - Tổ Tôm là một trò chơi bài lá, có lẽ được du nhập từ Trung Quốc. Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ "Tụ Tam" nghĩa là hội tụ của ba hàng Văn, Vạn và Sách. Trong các ngày lễ, Tết, Tổ Tôm thường được nam giới và người già chơi vì nó có một số luật khá khó.

Do Tổ Tôm khá khó nên người xưa có câu ca dao đề cao Tổ Tôm, nó thể hiện trình độ và cái oai phong của bậc quân tử :

Làm trai biết đánh Tổ Tôm
Uống chè mạn hảo, xem Nôm Thuý Kiều

Cũng có tài liệu nói rằng Tổ Tôm xuất phát từ Nhật Bản do các hình vẽ đều là hình vẽ theo kiểu của Nhật, theo lối tranh mộc bản (mokuhan) đơn giản và tất cả các nhân vật đều mặc "Kimono" ( trong số này có 18 hình đàn ông , có 8 người bó chân, 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em. Các hình cá chép, trái đào, thành, thuyền cũng là những hình ảnh rất Nhật).

Bài Tổ Tôm có 120 lá bài viết bằng chữ Nho theo nguyên tắc phần bên phải là phần số (từ nhị đến cửu – 2 đến 9) phần bên trái là phần chữ (văn , vạn, sách) để dễ nhận ra hàng chữ cứ nhớ câu “Vạn vuông, Văn chéo, Sách loằng ngoằng”, đơn giản Văn có nghĩa là kí tự giống gạch chéo, Vạn có kí tự giống hình vuông, Sách nhiều kí tự loằng ngoằng phức tạp còn hàng số thứ tự chỉ là số viết chữ Nho của 2,3,4,5,6,7,8,9.

Loại quân đặc biệt có tên gọi là Thang Thang, Ông Lão (Ông cụ) và Chi Chi. Các quân bài đều có hình minh họa, có thể ghi nhớ bằng hình nếu như không thuộc được hết chữ Nho.
Bài Tổ Tôm cũng được làm bằng bìa hình chữ nhật, mặt sau giống hệt nhau để tránh lộ bài.

Để đơn giản hóa một trò chơi hay là phục vụ Nữ nhi (Trước đây chỉ có phụ nữ chơi chắn) nên cũng là Bộ bài Tổ tôm 120 quân được bỏ đi 20 quân (Hàng nhất, ông cụ, thang thang) và gia giảm một số luật để có một trò chơi mới có tên là "CHẮN , CẠ".

Cũng có thể sự đơn giản trò chơi "Tổ Tôm biến thể" nên đến nay phổ biến mọi người chỉ chơi Chắn. Những người biết chơi Tổ Tôm đến nay không nhiều và có nguy cơ thất truyền.

Chơi đánh Chắn, phải đủ bốn người (Mấy người máu me thiếu người vẫn chơi Bí Tam (Ba người) hay Bí Nhị (Hai người) có điều như thế chẳng có gì là hay nữa.

Chỗ ngồi
Chơi Chắn thường ngồi trên mặt phẳng , người chơi xếp bằng, thường ngồi trên chiếu. Ở giữa có cái đĩa nông đặt quân Nọc cho dễ bốc. Hai người ngồi có vị trí đối mặt nhau gọi là chéo cánh .
Chéo cánh có ý nghĩa chung là không phải chia bài khi một trong hai người thắng “ Ù “Cửa ở bên tay phải người chơi. Đây là cửa người chơi được ưu tiên khi ăn quân và ù gọi là “ Cửa chì “ ngoại trừ khi quân ăn được bị người cửa khác “Chíu" đọc trệch là tríu hay chiếu cũng được.

Chia bài
Sau khi tráo bài , bộ bài được chia làm 5 phần bằng nhau. Một trong bốn người chơi chọn lấy một phần và nhặt mỗi phần trong 4 phần còn lại mỗi phần 1 lá bài gộp lại dùng để làm bài "Nọc"
Phần nọc này để trong một cái đĩa , tâm điểm so với vị trí 4 người chơi. Lần chia bài đầu tiên ai chia cũng được nhưng có một thứ luật bất thành văn là người ít tuổi sẽ chia (để cho nhanh thường hai người cùng chia.) Sau ván chơi đầu tiên hai nguời kế bên người thắng “ Ù “ phải chia bài.

Bắt cái
Bốn phần bài để vuông vắn ,người bắt cái lấy một quân bất kỳ trong phần nọc cho vào một trong 4 phần còn lại để bắt cái. Lá bài bắt cái lật lên có được đếm theo thứ tự theo kim đồng hồ tương ứng với số thứ tự trên lá bài.

Người có cái là người rơi vào số cuối cùng bài cái được chuyển cho người đó và các bài còn lại cũng phải thứ tự chuyển dịch theo chiều của bài cái (Thường không phải đếm vì đã sẵn công thức Nhất, Ngũ, Cửu, Chi; Nhị, Lục tiến; Tứ , Bát lùi; Tam, Thất chéo cánh).

Người bắt cái đầu tiên ai cũng được nhưng có một thứ luật bất thành văn là người lớn tuổi nhất sẽ là người bắt cái ván đầu tiên .Người có cái có 20 lá bài hơn 3 người cùng chơi 1 lá bài và là người ra bài trước.Lần bắt cái kế tiếp thuộc quyền người thắng “Ù".

Tên gọi các quân bài Tổ Tôm từ trái qua phải:
- Hàng thứ nhất: Ông Cụ, Thang Thang, Chi Chi (hàng yêu); Nhất Vạn, Nhất Sách, Nhất Văn; Nhị Vạn, Nhị Sách, Nhị Văn; Tam Vạn, Tam Sách, Tam Văn.
- Hàng thứ nhì: Tứ Vạn, Tứ Sách, Tứ Văn; Ngũ Vạn, Ngũ Sách, Ngũ Văn; Lục Vạn, Lục Sách, Lục Văn; Thất Vạn, Thất Sách, Thất Văn.
- Hàng thứ ba: Bát Vạn, Bách Sách, Bát Văn; Cửu Vạn, Cửu Sách, Cửu Văn.
- Theo tiếng Hán Việt thì Nhất = Một, Nhị = Hai, Tam = Ba,...Cửu = Chín. Những cây Yêu như Ông Cụ, Thang Thang, Chi Chi được xem như tương đương với các cây Nhất.

BÀI SỐ 4: Thú chơi Tổ Tôm ngày Tết

Nhiều trò chơi dân gian chúng ta đã từng nghe đến. Mỗi khi Tết về, trẻ con ai ai cũng thích chơi Tam Cúc, còn các cụ già thì khề khà bên bàn Tổ Tôm.

Trò chơi Tổ Tôm là một nét văn hóa tiêu khiển không thể thiếu được trong xã hội làng mạc Việt Nam thời xưa, cũng giống như thú chơi cờ. Tổ Tôm có thể được du nhập từ Trung Quốc từ rất lâu rồi. Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ "Tụ Tam" nghĩa là hội tụ của ba hàng Văn, Vạn, Sách (là ba "chất" của bài Tổ Tôm, tương tự như Cơ, Rô, Bích, Nhép trong bài Tây).

Chơi Tổ Tôm khá là khó, và cách biến hóa cũng nhiều nên thường được nam giới và người già chơi, thanh niên và phụ nữ thời xưa ít chơi. Cũng vì khó, nhưng thú vị, nên từ cách chơi Tổ Tôm đã sinh ra một cách chơi khác dễ hơn là "Chắn" dành cho thanh niên và phụ nữ.

Tổ Tôm không phổ biến và bình dân bằng trò chơi Tam Cúc, nhưng nó thể hiện trình độ và cái oai phong của bậc quân tử như câu ca dao:

Làm trai biết đánh Tổ Tôm
Uống chè mạn hảo xem nôm Thuý Kiều

Trong văn học Việt Nam, trò chơi Tổ Tôm cũng được nhắc đến rất nhiều.

Phạm Duy Tốn với truyện ngắn "Sống chết mặc bay" trong chúng ta chắc nhiều người còn nhớ đoạn:
... Ngài quay vào hỏi thầy đề :
- Thầy bốc quân gì thế ?
- Dạ, bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc đi chứ !
Thầy đề tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài, lật ngửa, xướng rằng :
- Chi chi !
Quan lớn vỗ tay xuống sập, kêu to :
- Ðây rồi !... Thế chứ lại !
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười vừa nói :
- Ù ! thông tôm, chi chi nẩy !... Ðiếu, mày ! ...

Tất nhiên trong khi đê vỡ, dân đen thì kêu khóc chạy loạn mà "quan phụ mẫu" vẫn còn mê say trong cơn Tổ Tôm thì coi dân như cỏ rác. Ở đây chỉ muốn nói lên cái thú vị của trò chơi.

Hay như Nguyễn Công Trứ. Lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ đã từng được người đời liệt vào hàng các tay đổ bác có tiếng. Ông say mê bài bạc, trong khi thơ văn thì siêu quần bạt chúng. Trong cơn đen đỏ, ông thắng cũng nhiều mà thua chẳng ít. Một lần đi đánh tổ tôm bị thua rồi mang nợ. Chủ nợ là một ông già, đến đòi năm lần bảy lượt mà Nguyễn Công Trứ cũng vẫn không có tiền để trả.

Sau ông lão đòi rát quá, Nguyễn Công Trứ đành phải đi lục lọi rương hòm xem có gì đáng giá để đem cầm đợ mà lấy tiền trang trải. Nhưng khốn thay, lục mãi mà vẫn chẳng khui ra được gì ngoài mấy quyển sách nát. Túng thế, Nguyễn Công Trứ mới đọc liều cho ông già một bài thơ để xin khất nợ. Thơ rằng:

Thân "bát văn" tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết "bán chi" giờ
Của trời cũng muốn "không thang" bắc
Lộc thánh còn mong "lục sách" chờ

Thiên tử "nhất văn" rồi chẳng thiếu
Nhân sinh "tam vạn" hãy còn thừa
Đã không "nhất sách" kêu chi nữa
"Ông lão" tha cho cũng được nhờ !

Nghe qua cả bài thấy thơ hay mà khéo quá, câu nào cũng có tên một quân bài Tổ Tôm, mà đồng thời lại nói lên được cái cảnh học trò kiết không tiền nên ông lão nghĩ thương tình và mến tài, bằng lòng cho Nguyễn Công Trứ khất nợ.

Nhà thơ "bình dân" Nguyễn Khuyến cũng đâu có thể bỏ qua trò chơi này trong văn thơ của ông:

Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang
Chẳng gầy chẳng béo chỉ làng nhàng
Cờ đương giở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng

Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng

BÀI SỐ 5: Tổ Tôm, thú chơi tao nhã

Tổ Tôm là thú chơi đã có từ lâu đời của người Việt Nam. Lối chơi này được du nhập từ Trung Hoa vào ta rồi dần dần trở nên Việt Nam hóa, được người xứ ta yêu mến bởi đây là một trò chơi trí tuệ, tao nhã, lại rất bài bản và không có nhiều yếu tố may rủi như một số trò chơi khác. Bởi thế, nó được dân gian coi như thú chơi tập thể, kể cả việc dùng người thay cho con bài hoặc quân cờ. Và vì vậy, chơi Tổ Tôm đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân ta, nó khác hoàn toàn với lối chơi cờ bạc đỏ đen của những kẻ xấu đã và đang làm vẩn đục xã hội.

Lối chơi Tổ Tôm phong phú và hấp dẫn, đây đúng là nơi rèn luyện trí óc và sức bền tinh thần, có cao thấp rõ ràng và sau cùng, thú chơi Tổ Tôm đã được đi vào văn chương cùng ngôn ngữ dân tộc. Nếu cờ Tướng có bài thơ Đánh Cờ Người của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thì Tổ Tôm có loạt bài Phú Tổ Tôm (Văn Đàn Bảo giám) với các tác giả Nguyễn Văn Vĩnh, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ… Những cụm từ “Gàn Bát Sách”, “Phỗng tay trên”, “Một ly Ông Cụ", “Lính Cửu Vạn”… của đời thường đã được lấy ra từ ngôn ngữ của Tổ Tôm; cũng như truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn đã khai thác một khía cạnh đặc biệt nhất: tính hấp dẫn của môn chơi ấy.

Trung thành với môn chơi truyền thống, đề cao vai trò rèn luyện sức mạnh trí óc và trên tinh thần đổi mới, đồng thời phê phán lối chơi sát phạt tầm thường, đó là ý muốn của chúng tôi khi cho ra mắt cuốn sách nhỏ này.

NXB THỂ DỤC THỂ THAO

Tổ Tôm là một trò chơi bài lá dân gian phổ biến của người dân Việt Nam (có lẽ được du nhập từ Trung Quốc, hiện nay chỉ thấy được chơi ở Việt Nam). Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ "Tụ Tam" nghĩa là hội tụ của ba lại hàng Văn, Vạn và Sách. Trong các ngày lễ, Tết, Tổ Tôm thường được nam giới và người già chơi vì nó có một số luật khá khó, nhiều nước biến hoá, thanh niên và phụ nữ thời xưa ít chơi. Tổ Tôm không phổ biến và bình dân bằng trò chơi Tam Cúc. Do Tổ Tôm khá khó nên người xưa có câu ca dao đề cao Tổ Tôm, nó thể hiện trình độ và cái oai phong của bậc quân tử:

Làm trai biết đánh Tổ Tôm
Uống chè mạn hảo xem nôm Thuý Kiều

Cũng có tài liệu nói rằng Tổ Tôm xuất phát từ Nhật Bản do các hình vẽ đều là hình vẽ theo kiểu của Nhật, theo lối tranh mộc bản (mokuhan) đơn giản và tất cả các nhân vật đều mặc kimono thời Edo (trước khi Nhật hoàng Minh Trị lên ngôi và trị vì 1868-1912), trong số này có 18 hình đàn ông (có 8 người bó chân), 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em. Các hình cá chép, trái đào, thành, thuyền cũng là những hình ảnh rất Nhật[1].

Quân bài
Bài Tổ Tôm có 120 quân, gồm có 3 hàng Vạn (萬), Văn (文), Sách (索). Các hàng quân này được viết bằng chữ Nho và cách nhận biết 3 hàng quân này theo câu "Vạn vuông, Văn chéo, Sách loằng ngoằng". Bên phải các quân bài có chữ số từ Nhất đến Cửu. Loại quân đặc biệt có tên gọi là Thang Thang, Lão và Chi Chi. Các quân bài đều có hình minh họa, có thể ghi nhớ bằng hình nếu như không thuộc được hết chữ Nho. Bài Tổ Tôm cũng được làm bằng bìa, mặt sau giống hệt nhau để tránh lộ bài.

Bài Ù phải có lưng, các lá còn lại nằm trong các bí, trừ các lá yêu.

Lưng:
-Thiên khai
-Khàn (có 3 lá giống nhau)
-Phỗng (bài có hai lá phỗng thêm 1 lá giống như chíu trong đánh chắn)
-các Tụ Tam sau:
<Cửu Vạn + Bát Sách + Chi Chi> (Lèo)
<Cửu Vạn + Cửu Sách + Thang Thang>
<Cửu Sách + Thang Thang + Ông Cụ>
<Nhất Vạn + Nhất Sách + Cửu Văn>
<Nhị Vạn + Nhị Sách + Bát Văn>
<Tam Vạn + Tam Sách + Thất Văn> (Tôm)
<Nhất Văn + Nhị Văn + Tam Văn>
Bí:
Bí Tam - giống như phỏm trong "tá lả":
Tứ Văn + Tứ Vạn + Tứ Sách
Tứ Văn + Ngũ Văn + Lục Văn
tương tự có bí tứ, bí ngũ...

Các từ ngữ liên quan đến Tổ Tôm
Gàn bát sách
Cửu vạn
Thất sách
Phỗng mất
Hoa rơi cửa Phật
Nhũn như Chi Chi
Hợp cạ
Tròn bài

Trong văn học, nhà thơ Nguyễn Khuyến có nhắc đến Tổ Tôm trong bài "Tự trào" :

...Mở miệng nói ra gàn Bát Sách
Mềm môi chén mãi tít cung Thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng

Còn nhà thơ Trần Tế Xương cũng có đề cập đến trò chơi này:

Bực chăng nhẽ anh hùng khi vị ngộ
Như lúc đen chơi cuộc Tổ Tôm

Riêng nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã viết cả một bài thơ, câu nào cũng có tên một quân bài Tổ Tôm, theo tương truyền là để khất nợ :

Thân "Bát Văn" tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết "bán Chi" giờ
Của Trời cũng muốn "không Thang" bắc
Lộc thánh còn mong "Lục Sách" chờ

Thiên tử "Nhất Văn" rồi chẳng thiếu
Nhân sinh "Tam Vạn" hãy còn thừa
Đã không "Nhất Sách" kêu chi nữa
"Ông Lão" tha cho cũng được nhờ

1. Thực hiện đếm trước khi lên bài, thừa giả ngay, thiếu rút nọc, tránh tiểu xảo nhìn nọc.
2. Khi đủ lưng, bài tròn, đủ quân thì được Ù.
3. Không có Ù lành làng.
4. Khi chơi 4 người, được phép dùng lưng ghé.
5. Khi Phỗng quân trong phu bí hoặc quân tiếp giáp với phu dọc để Ù thì không được Ù Bạch thủ.
6. Khi bất thực phu Khàn thì được yêu hoàn, không được bí hoàn. Khi ù thì ít nhất phải có 2 phu. Khi tái kiến phải có phu dọc.
Thí dụ về trường hợp yêu hoàn: Có 3 nhất văn, nay bất thực để mong tạo phu Nhất-Nhị-Tam Văn nhưng nếu không tạo được mà đã đủ điều kiện Ù thì vẫn được Ù. Lúc đó yêu Nhất Văn sẽ hoàn yêu.
7. Khi muốn Bất thực Thiên khai hoặc Bất thực Khàn thì phải nói trước khi nhà cái đánh quân.
8. Trước khi nhà cái đánh quân, phải hỏi: Làng, xong rồi mới đánh.
9. Được phỗng 1 đánh 1, không được phỗng 1 đánh 2.
10. Khi tạo phu dọc, không được bỏ Nhị ăn Ngũ, bỏ Tứ ăn Thất hoặc bỏ Lục ăn Cửu.
11. Khi có Thiên khai, nhà cái phải dậy trước khi đánh quân, nhà quân phải dậy khi rút nọc hoặc qua cửa mình.

PHONG CÁCH VUI CHƠI
Khi chơi phải vui vẻ, hòa nhã, thẳng thắn, thực thà, không nên có các tiểu xảo thiếu trung thực, hoặc ăn nói thiếu hòa nhã, khi không vừa ý mình thì không nói to ồn ào hoặc đập bàn đập ghế gây mất trật tự.
Khi thừa người vào bàn thì người đến sau tự giác nhường người đến trước.

HÀ ĐÔNG NGÀY 15/1/2007 (sưu tầm)

4 nhận xét:

  1. Kiên trì mới có thành công, Chứ đi lòng vòng mỏi mệt

    Trả lờiXóa
  2. Viết cho người biết chơi rồi chứ ko phải viết cho người chưa biết chơi

    Trả lờiXóa
  3. Giờ thì luật chơi chắn cũng khác nhiều rồi, như tôi đọc ở https://chanvanvan.com/dien-dan-choi-chan/luat-choi-chan-van-van.18/ cũng thấy khác đi khá nhiều

    Trả lờiXóa