Thứ Năm, 17 tháng 12, 2020

TÌM VỀ KỶ NIỆM

Trên chuyến xe Hà Nội-Dalat sau Tết Nhâm Thân (1992), lần đầu tiên dành dụm đủ tiền để về Hà Nội ăn tết cùng gia đình, tôi hối hả quay lại Dalat chuẩn bị cho mùa thực địa vùng Dachais-Lộc Lâm. Tình cờ khi lên xe ở Giáp Bát, tôi ngồi cạnh 2 cô bé tuổi PTTH tên là H và Y. Hai cô đều người Dalat, đưa bạn ra Hà Nội nhập học, trường ngân hàng thì phải, tên là C.

Ngày ấy đi lại cực kỳ khó khăn bằng xe hàng. Nhà xe ních người chật như nêm cối, nên tôi vô tình được ngồi cạnh và bắt chuyện làm quen với hai cô suốt cả ba ngày đường. Cả hai đều tuổi Giáp Dần (1974). H, cao to trắng trẻo, là con thứ trong một gia đình cách mạng, cô gọi nhà văn Phan Tứ là anh họ. H sống với mẹ (bà cụ là vợ thứ, bố H làm quan chức rất to, được Nhà nước phân cho nhà biệt thự ở Hà Nội thời ấy). Mẹ H có họ với cụ Võ Chí Công, bà người Bắc, làm Đông y, bốc thuốc nam chữa bệnh tại nhà ở đường Hồ Tùng Mậu (con phố nhỏ quanh co lên dốc ngả sau ấp Ánh Sáng). Y thấp nhỏ hơn, nhưng giống như các cô gái xứ sương mù, trắng trẻo, và đặc biệt nàng có dáng đi hệt như con trai (sau này tôi mới biết nàng là “con nhà võ”). Không hiểu sao ngay từ buổi ban đầu gặp mặt, nàng đã làm trái tim tôi rung động.

Và sau này, phải, mãi sau này, nàng vẫn là một nỗi niềm tôi để lại với Dalat, nơi tôi mưu sinh những tháng ngày tuổi trẻ.

Nàng là con út, thứ chín trong một gia đình có truyền thống võ thuật. Thân sinh ra nàng là cụ L.V.L, đại võ sư Judo ngày ấy. Thời kỳ trước 1975, hầu như các đoàn vận động viên Judo miền nam Việt Nam trước khi ra nước ngoài thi đấu đều lên Dalat để thọ giáo cụ (điều này chỉ mãi sau này đến nhà nàng chơi và nói chuyện với cụ, tôi mới biết tường tận). Nàng có 3 anh trai, anh cả tên L sinh sống ở Bảo Lộc, hai anh sau là V (sinh 1964) và N (sinh 1968) đều là huấn luyện viên Judo. Gia đình nàng theo đạo Phật, cố nội của nàng di cư từ Huế vào Dalat từ những ngày xa lắm, đất đai nhà cửa của các cụ để lại ngay khu ấp Ánh Sáng, được ba nàng tôn tạo quy củ thành võ đường Judo Dalat. Hai anh nàng cho đến giờ vẫn chưa lập gia đình, nghe nàng kể lại là ngày xưa cả hai anh đều có yêu người bên công giáo, họ bắt cải đạo nên ông cụ nổi trận lôi đình không đồng ý, thế là tình yêu tan vỡ (Tôi nghe nàng kể mà buồn cười, nghĩ bụng phải mình thì kể cả cải theo đạo Hồi cũng sẵn sàng).

Ngày ấy chưa có điện thoại di động, tôi cứ tranh thủ trực cơ quan ngày thứ bảy là ôm máy bàn gọi điện cho nàng. Chúng tôi nói với nhau chuyện trên giời dưới bể, có đến cả ngày trời không chán. Giờ nhớ lại vẫn thấy ngày ấy làm sao thật thanh bình như lời thơ của Nguyễn Bính:
“Thuở ấy làm sao thật thái bình
Trai hiền bạn với gái đồng trinh
Đời say men rượu thơm hoa rụng
Tràn những ngây thơ ngập cảm tình”
(Hoa với rượu, Nguyễn Bính)
Theo lệ thường, cứ trước và sau ngày đi thực địa là tôi lại mò đến nhà nàng.

Tôi nhớ có lần tìm đến nhà nàng trong cơn say (ngày đấy rượu chúng tôi uống như nước, thời tuổi trẻ không hiểu sao phung phí sức khỏe là vậy). Thường thì tôi phải ngồi chờ trong dãy ghế tại phòng tập, và không còn gì vui hơn khi thấy bóng nàng chạy ra đón tôi, những giọt mồ hôi vương trên má, trong bộ võ phục trắng truyền thống. Có đôi lần ba nàng ra tiếp chuyện tôi (thường thì nàng phải phụ giúp ba và hai anh trai huấn luyện cho các môn sinh). Ông hiền lành như Phật, nói năng nhỏ nhẹ, người ngoài tiếp xúc không thể biết ông là võ sư nhu đạo. Tôi rất có cảm tình với ông ngày đầu gặp mặt. Sau này thông qua nàng, tôi được biết ông cũng có cảm tình với tôi và đã cho phép chúng tôi được đi lại với nhau.

Tôi thường chọc nàng, sau này bọn mình đi đâu anh sẽ không sợ bất kỳ ai, vì đã có em bên cạnh. Nàng cười hiền lành “tướng em ngó vậy nhưng hiền khô à”. Mà nàng “hiền” thật. Tôi nhớ có lần được nghe mấy cậu công nhân đào hào kể lại, đợt ấy thực địa về, rượu vào rồi lang thang quanh hồ Xuân Hương trêu chọc các nữ sinh đi học về (ngày đấy tuổi trẻ chúng tôi thường vậy, chỉ trêu đùa tán dóc thôi, hoàn toàn hồn nhiên và lành mạnh). Không biết có ý tứ gì, mà 2 cậu bị nhóm con gái quăng xuống hồ Xuân Hương lạnh giá, về đến trụ sở Đoàn 601 bên hồ Chi Lăng mà vẫn còn hậm hực. Tôi kể lại chuyện ấy với nàng, nào ngờ nàng bảo “là em và nhóm bạn em đấy. Hôm đấy lớp tập mới ở sân vận động Chi Lăng về (ngay cạnh Hồ Xuân Hương) thì gặp họ. Cũng bởi tại họ đùa không tế nhị mà thôi”. Câu chuyện này tôi nhớ mãi và vẫn thường nhắc lại với nàng.

Chúng tôi cứ hồn nhiên bên nhau cho đến ngày tôi phải rời Dalat. Phương án kết thúc, Đoàn 601 giải thể, tôi bị điều về Sài gòn để hoàn thiện Báo cáo kết thúc phương án, ăn nhờ ở đậu ở trụ sở của Đoàn 607 ở Bà Hom. Tôi hoang mang. Tình yêu chưa đủ độ để đi đến chín muồi, nàng còn đang học những năm cuối đại học, mà tôi thì…. Cuộc đời thằng địa chất nghèo như tôi, lương chỉ đủ đổ vào miệng, không nhà cửa, nay đây mai đó “đứng đâu là nhà, ngã đâu là giường” nào có đáng gì so với cuộc đời.

Bao năm rời xa phố núi
Gọi là một chút bon chen
Chiều nay giật mình thương quá
Người em tôi chưa kịp quên

Ở đây hoàng hôn tím lắm
Ngày tàn nhanh quá là nhanh
Bốn mùa sương rơi ngập đất
Đà Lạt tóc ai còn xanh

Em vẫn đi về phố nhỏ
Niềm thương mong manh đời ta
Chiều vẫn mang nhiều trăn trở
Trách đời sao nỡ vội xa

Chuông chiều vang trong thinh không
Lẻ loi lòng người xa xứ
Chỉ xin một lời nhắn nhủ
Đà Lạt em tôi đừng quên…

Thời gian, mẹ kiếp làm quên đi nhiều điều. Về Sài gòn phù hoa, người mới duyên mới, những mối quan hệ mới làm tôi dần nguôi ngoai kỷ niệm. Cuối năm 1993, Liên đoàn điều tôi ra Phú Yên, thị trấn Sông Cầu. Tôi ngần ngừ. Sau có anh B.M.T cùng phòng kỹ thuật Liên đoàn 6 (là người quen anh L.Đ.T, phó giám đốc PVEP) mới chuyển qua dầu khí giới thiệu, tôi thi vào Geoservices và đỗ. Tôi bỏ Liên đoàn địa chất 6 và bước vào nghiệp dầu khí kể từ ngày đó.

Bỏ rừng, tôi ra biển. Như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết “ngày mai tôi sẽ đi ra biển, ngoài biển không có thủy thần”. Nghề địa chất lãng mạn, nhưng đói, những tháng ngày triền miên trong cơn say, với tương lai là một không thời gian vô định (tôi sẽ viết chi tiết giai đoạn ở rừng vào một topic khác). Chia tay với rừng, với một thời tuổi trẻ nhiều gian khổ nhưng đầy kỷ niệm, tôi lao vào ngoại ngữ, tìm hiểu thêm chuyên môn về ngành dầu khí.

Những ngày đầu về với phố biển Vũng Tàu, tôi không quên được rừng. Sức ép của công việc trong những ngày này vô cùng lớn, làm tôi nhớ như điên dại không gian thoáng đãng của cao nguyên bao la, những đêm say bập bùng guitar bên bờ suối hay bên ngọn lửa hồng cùng đồng bào K’Hor, Ê-đê... và hơn nữa, quay quắt nhớ nàng. Có lẽ lúc đó tôi mới lờ mờ hiểu rằng cuộc đời này tiền không là tất cả.

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa - các cụ đã dạy. Ngày ấy, tôi liên tục đi đi về về Vũng Tàu-Sài gòn-Dalat chen vào là những ngày tháng dài lênh đênh trên biển cả (với 4 tuần on, 2 tuần off, nhiều khi thiếu người còn tăng lên đến 6-7 tuần trên biển). Có rất nhiều bài thơ tôi làm trong giai đoạn này, kể về nỗi nhớ nhung của người đi xa, kể về tình yêu của chúng tôi (đểu thật, trong đó có cả nỗi vấn vương với chị D., người cũng đã để lại cho tôi nhiều tâm trạng).

Hakuryu (*) một ngày buồn tênh
Lạnh lùng trời mây nước mông mênh
Chống chếnh hồn tôi màu kỷ niệm
Chiều hoàng hôn tím mắt ai xanh
Buồn như lá úa rụng sang đông
Buồn như màu mắt gái không chồng
Quên cả chính mình tôi chợt thấy
Hai chữ cô đơn em biết không
Ở đây chẳng rượu cũng không hoa
Chỉ rặt người ta với người ta
Người ta mong nhớ và thương nhớ
Có lẽ mình tôi như bóng ma
Lại ăn lại uống lại huyên thuyên
Lảm nhảm như người bị chứng điên
Tình ơi em ở nơi nào nhỉ
Đêm sắp qua rồi lại trắng đêm...

(*) Tên giàn khoan thăm dò Hakuryu III.

Thời gian lại qua. Tôi quen dần với biển, với hương vị mặn nồng của những mối quan hệ mới (!). Tôi bắt đầu yêu biển (Giời ạ). Những chuyến về lại Dalat thưa dần. Tôi bắt đầu tìm hiểu về Thiên chúa, về những phù hoa (chết người) của “hòn ngọc Viễn Đông” nơi mà bố tôi ví là “bông hồng có gai” mỗi khi ông viết thư dặn dò tôi về cuộc đời. Và rồi tôi quên dần...

Cùng thời gian ấy nàng ra trường. Hôm nàng từ Dalat về Sài gòn thăm tôi tại nhà khách trên đường Nam kỳ khởi nghĩa (vào giai đoạn cuối 1995) thì cũng là lúc tôi ra biển chuyến cuối cùng trước khi quyết định quay về Hà Nội vì lúc đó qua anh H.V.T (David Hà) tôi được biết Tổng công ty Dầu khí đang tuyển người, vả lại lòng tôi lúc đó, quả thật Hà Nội cố hương vẫn còn nhiều vấn vương, và hơn nữa, vẫn còn bố mẹ già đêm ngày mong nhớ. Tôi thành thật hết với nàng. Và tôi vẫn nhớ, hôm ấy trong ngậm ngùi, nàng đòi theo tôi ra Hà Nội.

Một điều khó lý giải nhưng tôi biết rằng lúc ấy, nàng vẫn chưa đủ can đảm theo tôi ra Hà Nội. Một loạt rào cản về cách sống, phong tục... nàng không đủ sức vượt qua, nhất là nàng chưa biết gì về gia đình tôi, về bố mẹ tôi, mặc dù trước đây, bố tôi cũng nhiều lần nhắc, nếu chúng tôi quyết định thì ông sẽ vào Dalat thưa chuyện với gia đình nàng.

Tôi ra Hà Nội và tâm tư tình cảm lại lặp lại y như những ngày xa Dalat, xa Vũng Tàu, xa Sài gòn. Nhiều ngày đến cơ quan chỉ chực chờ lúc vắng người để ôm điện thoại, nhiều đêm yên bình bên gia đình mà tiếng gọi lang thang lại giục giã tôi lên đường. Bố tôi biết hết, nhưng ông không áp đặt với tôi điều gì, đặc biệt trong tình cảm. Tôi và nàng vẫn thư từ liên lạc, điện thoại cho nhau, nhưng thưa dần theo thời gian.

Mùa thu năm 1999 khi đang học cao học ở Paris, tôi nhận được thiệp cưới của nàng. Chồng nàng là kỹ sư người Nhật làm cho một dự án chống ngập mặn vùng duyên hải của Việt Nam. Cũng phải vậy thôi, nàng đã chờ tôi tận 4 năm, mà với một thằng ỡm ờ là tôi thì thời gian đó quả là dài quá sức tưởng tượng. Từ Paris xa xôi, tôi gửi những lời cầu chúc khách sáo nhất đến nàng. Một câu chuyện tình kết thúc chả có tí thi vị gì, nhưng đôi khi quá khứ xưa hiện về, và đặc biệt trong những đêm say cô đơn, bóng nàng vẫn còn đâu đó, trong tôi./.


(28/3/2019)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét