ĐÔI ĐIỀU THUẬT VỀ PHONG THỦY
(do Phạm Vũ Thanh Liêm sưu tầm, bổ sung)
Thiết nghĩ đây là một tài liệu đọc được và cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong quá
trình nghiên cứu, tôi có tham khảo và ghi chú, bổ sung thêm một số tài liệu thu
thập được. Tám đồ hình minh họa (BÁT CẨM TRẠCH) cho tám mệnh quái, người đọc có
thể tự xây dựng theo hiểu biết của mình, hoặc lập trên giấy A4 mà chiêm nghiệm
(P.V.T.L).
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Minh triết phương Đông từ 6000 năm trước
đây đã có một luận đề mà tiến bộ của văn minh nhân loại ngày càng
xác nhận tính đúng đắn của nó, luận đề đó là: Vũ trụ là một, trời-đất-người là một. Ta có thể đọc
thấy chân lý đó trong Đạo đức Kinh của nhà triết học vĩ đại nhất
của mọi thời đại là Lão Tử: “Nhất
sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Thiệu Tử giải thích tư
tưởng đó: “Đạo sinh nhất, nhất vi
Thái cực. Nguyên chi nhất diễn chi vi vạn. Cùng Thiên hạ chi số nhi
phục qui ư nhất, Nhất hà dã? Thiên địa chi tâm dã! Tạo hóa chi nguyên
dã!” Khổng Tử than rằng: “Dịch
kỳ chi hỹ hồ!” Lão Tử còn nói: Đại
viết thệ, tự thệ viết viễn, viễn viết phản - Nghĩa là, phản phục
là một động tác của Đạo, càng đi xa là càng trở lại với nguồn
gốc. Kinh Dịch đã nói rõ quá trình sinh sinh hoá hoá ấy từ thuở
Phục Hy đặt ra Bát quái: Vô cực sinh
Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, hai nghi Âm và Dương xuất hiện,
thì Dương biến Âm hợp nhi sinh Thủy Hỏa Mộc Kim Thổ, ngũ khí thuận
bổ, tứ tà ơi hành yên. Ngũ hành, nhất Âm nhất Dương dã! Âm Dương nhất, Thái cực dã. Thái cực,
bản vô cực dã! Ngũ hành chi sinh dã các nhất kỳ tính, Vô cực chi
nhân, nhị ngũ chi tính, diệu hợp chi ngưng. Càn đạo thành nam, Khôn
đạo thành nữ, nhị khí giao cảm, hóa sinh vạn vật - Chu Liêm Khê
nói rõ như vậy. Dương biến Âm hợp mà thành ngũ hành, ngũ hành là
một Âm một Dương. Một Âm Dương là Thái cực. Thái cực vốn từ vô cực,
sự sinh ra ngũ hành đều là một tính. Cái chân của vô cực, cái tính
của âm dương ngũ hành khó hội hợp mà ngưng tụ thành. Đạo Càn thành
nam, đạo Khôn thành nữ, hai khí giao nhau, hóa sinh muôn loài.
Như vậy, con người cũng là một sản
phẩm của cuộc hóa sinh đó, chịu sự biến hóa của âm dương ngũ hành
dưới nguyên lý diễn biến của Đạo mà thôi. Suy ra, con người không thể
không chịu sự qui định của môi trường tự nhiên, và cái tư tưởng xem
con người là chúa tể của muôn loài, có thể cải tạo tự nhiên theo ý
mình, rõ là nực cười, khác nào tự mình nắm tóc mình nhấc lên khỏi
mặt đất vậy!
Người xưa xem trọng lúc xuất sinh. Với
bốn thông số giờ, ngày, tháng, năm sinh, có thể suy đoán dự báo vô
số thông tin về con người ấy. Cho nên mới tính ra được phương hướng
nhà ở nên như thế nào, mà ra đời thuật làm nhà ở. Nhưng người xưa
còn xem trọng nữa khi nhập tử, nơi chôn sẽ là nơi an giấc ngàn thu,
sao lại không coi trọng? Trở về với cát bụi thế nào để rồi lại luân
hồi kiếp sau, can hệ lớn lắm chứ! Cho nên người xưa bàn về Âm phần còn
nhiều hơn về Dương trạch do cái lý ấy. Mộ táng đắc địa, con cháu sẽ
phát, táng phải hãm địa ấy là đại họa! Thuật phong thuỷ ra đời từ
đó. Phong là gió, thuỷ là nước. Phong thuỷ cốt ở tìm ra sinh khí.
Quách Bốc nói: Vô thuỷ thì gió đến và khí tán, hữu thuỷ thì khí
dừng. Do đó đắc thuỷ là can hệ nhất, rồi đến đất chứa gió. Nước
dẫn khí, nước dừng thì khí đọng lại, không bị gió thổi tan, thế là
tìm được sinh khí. Phong thuỷ, nói cho cùng là thuật thừa sinh khí.
Khí theo phong mà tán, nước bị ngăn thì dừng. Tụ được khí là tốt
nhất.
Có biết thế, mới hiểu thế nào là
địa linh nhân kiệt. Phàm những miền núi cao như Cônlôn, Kailas, Hưng an
lĩnh, Tần lĩnh, Như Ngũ lĩnh, Thái sơn, Trường sơn, là nơi tiếp được
nhiều thiên khí nhất. Núi cao thì có sông lớn, như Hằng hà, Hoàng
hà, Dương tử, Nhị hà, Cửu long giang. Có sơn có thuỷ sẽ tụ khí, cho
nên những nơi đó thường sản sinh người tài, như đất Ba thục ở Trung Hoa,
Hai xuyên lắm kỳ giỏi như Lý Bạch, Khổng Minh, Từ Nguyên Trực, Bàng Thống.
Ở Việt Nam ta, thì miền núi bên triền sông Mã, sông Cả, nơi phát tích
bao anh hùng kiệt xuất, quê hương của nhiều triều đại vua Lê, bà
Triệu, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, Mai Thúc Loan, Nguyễn Du, Nguyễn
Thiếp, Phan Đình Phùng... Một miền núi Tản có Bố Cái Đại vương và
Ngô Quyền, rặng Tam điệp có Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Bặc là tổ của
Nguyễn Trãi...
Người Trung Hoa tìm ra thuật phong thuỷ
từ rất lâu. Trước Công nguyên hàng trăm năm, họ đã viết nhiều sách
phong thuỷ, như Trạch Kinh của Hoàng Đế và Văn Vương. Khổng Tử,
Tư Mã Thiên cũng có Trạch Kinh, rồi Hoài Nam Tử, Lưu Tấn Bình,
Trương Tử Hào, Lữ Tài. Thanh Ô Tử có Táng Kinh, Quản Lộ có Di lý chỉ môn. Đời
Tấn có Quách Bốc viết Táng thư, Thanh ly hải giác Kinh.
Từ thời Hán trở đi, sách Phong thuỷ ngày càng nhiều, hàng dăm chục
bộ. Phong thuỷ Trung hoa chia làm Âm trạch và Dương trạch, đặc biệt
phong phú về Âm trạch, những điều huyền hoặc cũng lắm bên cạnh những
tri thức khoa học.
Muốn hiểu thuật phong thuỷ, trước hết
người đọc cần nắm một số tri thức cơ sở sau:
1.
Lịch
Can chi:
Chỗ linh diệu của lịch can chi ở điểm
nó ghi thời gian bằng các thông số không gian. Can là 10 can trời: Giáp
Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý trong đó Giáp Bính Mậu Canh Nhâm
là 5 can Dương, còn lại là 5 can Âm. Mười can biểu thị ngũ hành trên
trời với ngũ phương dưới đất, tương truyền do Hoàng Đế tế Trời mà
được giáng. Các số 1, 3, 5, 7, 9 là Thiên số, các số 2, 4, 6, 8, 10 là
Địa số.
Hoàng Đế uỷ cho Nghiêu lập 12 địa chi
phối ứng: Thân Tí Thìn Dần Ngọ Tuất là 6 chi dương, còn lại là chi
âm. Mười hai địa chi ứng với 12 triền độ của sao trời. Trên đường
Hoàng đạo, Trái đất xoay qua đủ 12 cung. Bốn mùa ứng với tứ tượng,
12 tháng ứng với 12 cung độ, ứng với 12 quẻ bát quái đi từ thuần
Khôn đến thuần Càn, rồi lại từ Càn đến Khôn, đắp đôi mỗi tháng thêm
một hào âm hoặc dương. Với cách ghi thời gian bằng can chi, mỗi thời
điểm trên Trái đất ứng với vị trí xác định của quả đất trên Hoàng
đạo, như vậy, thời gian với lịch can chi đã biết thị sự phụ thuộc
vào không gian, chẳng đúng với lý thuyết của Einstein xem thời gian là
chiều thứ tư của không gian đó sao? Bởi thời gian phụ thuộc vào không
gian, nên không gian chuyển động với vận tốc cao, thì năng lượng cao
đòi hỏi khối lượng lớn theo. Khối lượng lớn sẽ làm thời gian co
lại, như ở trên đỉnh núi thời gian chậm hơn so với dưới chân núi.
Người xưa nói một ngày trên trời bằng một năm dưới đất, nói thế là
rất đúng với thuyết tương đối của Einstein. Với vật lý học hiện
đại, thời gian không gian là những đại lượng động lực, đâu phải cái
gì trừu tượng? Trong một vũ trụ đương dãn nở hiện tại, đương động,
thì mọi cái đều chịu của bao nhiêu biến động vũ trụ. Bởi thế cho
nên, khoa Tử vi học, với bốn thông số giờ ngày tháng năm sinh của một
người (gọi là tứ trụ) có thể suy đoán ra nhiều dự báo về cuộc đời
con người. Trong khoa phong thuỷ, biết tuổi một người có thể suy ra
phương hướng nơi ở nên có của người ấy, cũng như nơi đặt mộ huyệt.
2.
Âm
dương và Bát quái:
Âm dương là hai nghi trong Thái cực,
nương nhau mà tồn tại như hai cực Bắc Nam của thanh nam châm, muốn chia
cắt cũng chẳng nổi dù ta có chặt thanh nam châm ra làm mẩu vụn, thì
nó vẫn có đủ hai cực nam bắc. Thái cực sinh lưỡng nghi, âm dương tách
đôi thì thành trời đất Càn Khôn. Dịch nói: Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo! Âm Dương là đạo của Thiên
địa, là bản thuỷ của sống chết. Trời Dương đất Âm, ngày Dương đêm Âm,
đến Dương đi Âm, động Dương tĩnh Âm, nhanh Dương chậm Âm, mặt trời Dương
mặt trăng Âm, nam Dương bắc Âm, lồi Dương lõm Âm, Dương hô Âm hấp, Âm lai
Dương tác, Dương lai Âm tác... Phong thuỷ lấy Âm Dương giao nhau làm
lành, nếu chỉ thuần Âm hay thuần Dương thì đều hung. Bởi Âm Dương luôn
tương cầu, tương giao, tương thành, tương phản. Trong Âm có Dương, trong
Dương có Âm, Dương cạnh cái Dương hơn thì thành Âm, Âm cạnh cái Âm hơn
thì thành Dương. Âm Dương là hai khái niệm rất rộng, rất biện chứng.
Bát quái do hội nhập hai quẻ chính
Càn Khôn mà thành. Quẻ Càn có ba hào Dương, giao với quẻ Khôn ở hào
một thì được quẻ Tốn, ở hào hai thì được quẻ Ly, ở hào ba thì
được quẻ Đoài. Quẻ Khôn giao với quẻ Càn ở hào một thì được quẻ
Chấn, ở hào hai được quẻ Khảm, ở hào ba được quẻ Cấn. Bởi vậy Tốn
là gái cả, Ly là gái giữa, Đoài là gái út. Chấn là trai cả, Khảm
là trai giữa, Cấn là trai út. Tám quẻ đều có tượng của chúng, mà
muốn hiểu Dịch thì phải thuộc Quái tượng.
- Quẻ Càn có các tượng: Kim, Trời, Băng, Vua, quân tử, cha, đại nhân, người già, danh nhân, trai trưởng, cứng, mạnh, quả quyết, đầu, xương, phổi, mùa thu, ngựa, voi, sư tử, vàng ngọc, vật tròn, quả cây, mũ, lâu đài, tây bắc, danh gia, quan toà, nhà binh, thành công, xuất hành lợi Tây bắc...
- Quẻ Khôn có các tượng: Đất, mây đen, mù sương, mẹ già, vợ kế, vợ, phụ nữ, tiểu nhân, thường dân, bụng, dạ dày, tháng 8-5-10. Vật hình vuông, vải vóc, ngũ cốc, tây nam, trâu bò, chim, nhà nhỏ, thịt trâu, vị ngọt, ruột gan, quả phụ, nhà nông, thầy giáo, lợi cầu mưu, có thể đi...
- Quẻ Chấn có các tượng: Sấm, phương Đông, cây gỗ, đường lớn, chân, gan, tóc, âm thanh, trưởng nam, giận, sợ, động nhiều hơn tĩnh, mùa xuân, tháng hai, rồng rắn, thịt tươi, quả chua, rau, cá chép, được danh, quan coi ngục, động thai, bệnh chân, bệnh gan, lợi giao dịch, thế mạnh, màu xanh…
- Quẻ Tốn có tượng: Gió, đông nam, vườn rau, trưởng nữ, tu sĩ, quả phụ, nhu hoà, không quả quyết, cánh tay, đùi, tháng 3, gà, chim rừng, có danh, văn chức, bệnh tứ chi, đường ruột, màu xanh lục...
- Quẻ Khảm có tượng: Mưa, nước, tuyết, phương bắc, sông suối ao hồ, trung nam, nơi hiểm, phiêu bạt, tháng 11, mùa đông, lợn, cá tôm, rượu, hải sản, ám muội, đề phòng cướp, chức quản lý nhỏ, khó thành công, đau tai, bệnh tim mạch, thận, màu đen, vị mặn...
- Quẻ Ly có tượng: Lửa, ban ngày, phương nam, gò cao, trung nữ, văn nhân, bụng, tài học, khiêm tốn, tháng 5, mùa hạ, sách, chữ, quan văn, lội văn thư, bệnh mắt, màu đỏ tím, vị đắng...
- Quẻ Cấn có tượng: Mây, núi, phương đông bắc, trai út, trẻ em, do dự, phản lại, ngừng lại, ngón tay, mũi, lưng, đất đá, hổ, chó, chuột, cáo, khó sinh, khó thành, không nên đi xa, bệnh về tỳ vị, màu vàng, vị ngọt...
- Quẻ Đoài có tượng: đầm, hồ, kim loại, phương tây, gái út, kỹ nữ, diễn viên, lưỡi, miệng, vui mừng, mùa thu, tháng 8, khó hôn nhân, khó thành, không nên đi xa, phòng cãi vã, màu trắng, vị cay...
Với Bát quái đã đủ
hình dung giới tự nhiên.
3. Ngũ hành:
Âm dương biến hóa nhi ngũ hành
sinh. Đầu tiên sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hoả sinh
Thổ, Thổ sinh Kim theo chiều thuận, đó là Tiên thiên. Theo Hậu thiên,
thì trật tự theo chiều nghịch, lẽ tương khắc: Thuỷ khắc Hỏa, Hoả
khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ. Nắm ngũ hành
thì phải thuộc luật tương sinh tương khắc, đặc biệt khi xét quan hệ
giữa cung và sao, khi dựng nhà cửa mồ mả. Ngũ hành có các cục tam
hợp: Dần Ngọ Tuất thành Hoả cục, Tỵ Dậu Sửu thành Kim cục, Thân Tí
Thìn thành Thuỷ cục, Hợi Mão Mùi thành Mộc cục. Ngũ hành phối
Thiên can thành: Giáp Ất thuộc Mộc, Bính Đinh thuộc Hỏa, Mậu Kỷ thuộc
Thổ, Canh Tân thuộc Kim, Nhâm Quí thuộc Thuỷ.
§ Mộc
trường sinh tại Hợi, Đế vượng ở Mão, Mộ ở Mùi.
§ Hoả
trường sinh ở Dần, Đế vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu, Mộ ở Tuất.
§ Kim
trường sinh ở Tỵ, Đế vượng ở Dậu, Tử ở Tí, Mộ ở Sửu.
§ Thuỷ
Thổ trường sinh ở Thân, Đế vượng ở Tí, Tử ở Mão, Mộ ở Thìn.
Trường sinh, Đế vượng thì cát, Tử
Mộ thì hung.
4.
Long
mạch:
Mạch là mạch máu. Mạch tìm theo
sơn xuyên. Chỗ nào có núi thì có mạch, núi lớn thì mạch nước lớn.
Chỗ nước xuất hiện gọi là thuỷ khẩu. Long mạch ngắn thì phúc lộc
cũng ngắn, mau hết. Thuỷ khẩu tại Tân, thì Càn là Ất long, tại Quí à
Cấn là Đinh long, tại Ất à Tốn là Tân long, tại Đinh à Khôn là Quí long.
Lấy phương Càn làm đầu, xem hình tượng có đầy tròn sinh khí, là có chân
long phát phúc. Khảm long tọa Tuất, Cấn long tọa Thân, Chấn long tọa
Dần, Tốn long tọa Mão, Ly long tọa Tỵ, Khôn long tọa Dậu, Đoài long
tọa Hợi, Càn long tọa Tí, là đã phạm bát sát, tối hung, vậy nên
phải biết phép vào theo phương Càn.
5.
Minh
đường:
Minh đường là thế đất trước huyệt.
Trước huyệt là Tiểu Minh đường. Mạch núi xung quanh là Trung Minh
đường. Núi bao quanh là Đại Minh đường. Tiểu Minh đường không nên quá
rộng, rộng không chứa gió, hẹp quá thì không hiển quí. Nên vuông vắn
tròn trịa, không thấp trũng, nước không bị cắt. Đại Minh đường nên
thoáng đãng, có nước uốn khúc chầu về, có núi vây quanh, có thuỷ khẩu mở.
6.
Cung
phi:
Mỗi người đều sinh vào một năm
nhất định, năm đó ứng với một quẻ trong Bát quái, nên Cung phi còn
gọi là Mệnh quái, hay Quái mệnh. Cứ 60 năm họp thành một nguyên.
Ba nguyên Thượng, Trung, Hạ làm thành một khoảng 180 năm.
Thượng nguyên thì nam khởi cung Khảm
tự Giáp Tí, rồi tính theo chiều nghịch từ 1, 9, 8, 7, 6, 5 (5 nam tính
thành cung Khôn), rồi 4, 3, 2,1. Nữ thì khởi Cấn tự Giáp Tí, tính
thuận theo chiều 9, 1, 2, 3, 4, 5 (5 thì nữ tính thành Cấn), 6, 7, 8, 9.
Các số theo số của Hậu thiên Bát quái: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4,
Trung 5 (Nam Khôn, Nữ Cấn), Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
Trung nguyên nam khởi tự Tốn, nữ tự
Khôn.
Hạ nguyên nam khởi tự Đoài, nữ tự
Cấn.
Dưới đây sẽ cho trước bảng tính ba
nguyên cho cả nam và nữ. (Chú ý: Không nhất thiết phải nhớ Thượng,
Trung, Hạ nguyên. Hãy lấy năm 1970 làm chuẩn, là năm cả nam và nữ
cùng Quái mệnh Chấn (3), từ đó mà theo vòng quay nữ thuận nam
nghịch để lấy Quái mệnh cho mọi người. Tuy nhiên, có thể tính
hiện giờ (2002) chúng ta đang sống trong Hạ nguyên (1984-2044) – Liêm chú
dẫn).
7.
Đông
trạch và Tây trạch:
Bốn quẻ Khảm Ly Chấn Tốn sinh trong
quá trình từ tối ra sáng của vũ trụ, ứng với phương Đông nên gọi là
Đông trạch. Bốn quẻ Càn Cấn Khôn Đoài sinh ở quá trình từ sáng đến
tối, ứng với phương Tây nên gọi là Tây trạch. Người có Cung phi ứng
với Đông trạch thì có Đông mệnh, với Tây trạch thì có Tây mệnh. Đông
mạng phải ở Đông trạch, Tây mạng thì ở Tây trạch, ở nhầm trạch là
Đại hung. Làm nhà phải luận mệnh vì thế. Đông trạch thì Tam cát (3 phương
cát) ở về Đông, Tây trạch thì Tam cát ở về Tây.
8.
Phối
Bát cẩm trạch:
Quẻ của Cung phi tức Quái mệnh, sẽ
biến tám lần thành các biến quái. Công thức tính như sau:
1.
Đệ nhất trận,
thượng biến vi Sinh khí Tốn
biến thành Khảm
2.
Đệ nhị trận,
trung biến vi Ngũ quỉ
Khảm biến thành Khôn
3.
Đệ tam trận,
hạ biến vi Diên niên Khôn biến thành Chấn
4.
Đệ tứ trận,
trung biến vi Lục sát
Chấn biến thành Đoài
5.
Đệ ngũ trận,
thượng biến vi Họa hại Đoài
biến thành Càn
6.
Đệ lục trận,
trung biến vi Thiên y Càn
biến thành Ly
7.
Đệ thất trận,
hạ biến vi Tuyệt mệnh Ly
biến thành Cấn
8.
Đệ bát trận,
trung biến vi Phục vị
Cấn biến thành Tốn
Biến là thế nào? Là hào âm
biến thành hào dương, hào dương biến thành hào âm. Thượng trung hạ
tính từ trên xuống dưới. Ví như ta biến từ quẻ Tốn xem sao (xem cột
bên trái sơ đồ trên). Như đệ nhất biến, Tốn thành Khảm, thì Sinh khí
nằm ở phương Khảm. Đệ nhị trận, Khảm biến thành Khôn, thì Ngũ quỉ
nằm ở phương Khôn...Phép biến này là khóa để mở Cửu diệu thất
tinh.
Thế
nào là Cửu diệu thất tinh? Thất tinh là 7 ngôi sao trong chòm sao Bắc
đẩu, có ảnh hưởng lớn tới cát hung của người. Gồm:
·
Sinh khí, tức sao Tham lang, hành Mộc, đắc địa ở Chấn
Tốn Ly Khảm. Sao này đại cát, phát nhân tài hiếu hữu.
·
Thiên Y, tức sao Cự môn, hành Thổ, đắc địa ở Khôn Tốn
Càn Đoài, chủ giàu có, từ thiện.
·
Diên niên, tức sao Vũ khúc, hành Kim, đắc địa ở Càn
Khôn Cấn Đoài, chủ binh nghiệp cao sang, thọ quí.
·
Tuyệt mệnh, tức sao Phá quân, hành Kim, tối hung, chủ bại
tuyệt, ác tật.
·
Ngũ quỉ, tức sao Liêm trinh, hành Hỏa, chủ tà nhiễm vô
lễ.
·
Họa hại, tức sao Lộc tồn, hành Thổ, chủ cô quả, cờ
bạc.
·
Lục sát, tức sao Văn khúc, hành Thuỷ, chủ rượu trà du
đãng.
·
Cửu diệu là
chỉ ngôi Phục vị, do hai sao Phù Bật tạo thành, hành Thuỷ, chủ
phúc thọ phú quí.
Tính chất các sao như sau:
1.
Sao Sinh khí,
Phục vị sẽ tốt các năm Hợi, Mão, Mùi.
2.
Sao Diên niên,
Tuyệt mạng sẽ mạnh hơn các năm Tỵ, Dậu, Sửu.
3.
Sao Thiên Y, Họa
hại sẽ mạnh hơn vào các năm Tứ mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi).
4.
Sao Ngũ quỉ
mạnh vào các năm Dần Ngọ Tuất.
5.
Sao Lục sát
mạnh váo các năm Thân Tí Thìn.
Dưới
đây là bảng lập sẵn cho sự phối cung giữa Cung phi và phương vị bát
quái.
|
Quái mệnh |
Phục vị |
Sinh khí |
Diên niên |
Thiên Y |
Tuyệt mạng |
Ngũ quỉ |
Lục sát |
Họa hại |
|
Càn |
Càn |
Đoài |
Khôn |
Cấn |
Ly |
Chấn |
Khảm |
Tốn |
|
Cấn |
Cấn |
Khôn |
Đoài |
Càn |
Tốn |
Khảm |
Chấn |
Ly |
|
Khảm |
Khảm |
Tốn |
Ly |
Chấn |
Khôn |
Cấn |
Càn |
Đoài |
|
Chấn |
Chấn |
Ly |
Tốn |
Khảm |
Đoài |
Càn |
Cấn |
Khôn |
|
Tốn |
Tốn |
Khảm |
Chấn |
Ly |
Cấn |
Khôn |
Đoài |
Càn |
|
Ly |
Ly |
Chấn |
Khảm |
Tốn |
Càn |
Đoài |
Khôn |
Cấn |
|
Khôn |
Khôn |
Cấn |
Càn |
Đoài |
Khảm |
Tốn |
Ly |
Chấn |
|
Đoài |
Đoài |
Càn |
Cấn |
Khôn |
Chấn |
Ly |
Tốn |
Khảm |
Chú thích:
Bốn cung trên là bốn cung
dương, bốn cung dưới là bốn cung âm.
·
Càn Cấn Khôn Đoài là Tây tứ trạch, Tây
mạng.
·
Khảm Chấn Tốn Ly là Đông tứ trạch, Đông
mạng.
Bát cẩm trạch sẽ vẽ theo
đúng sự phối cung này.
Qua bảng này ta thấy tuổi
nào thì tuổi ấy giữ phương Phục vị. Phục vị là đúng hướng mà thôi.
Các phương khác có sao nào, do phép biến bát trận đã trình bày.
9.
24
sơn hướng:
Bát quái quản tám phương: Đ,
T, N, B, ĐB, TB, ĐN, TN. Nhưng mỗi quái còn quản ba sơn hướng. Thứ tự 24
sơn hướng như dưới đây: 1- Phúc đức, hướng đại phúc, quí tử. 2- Ôn
hoàng, lắm bệnh tật, cứ 3 đến 5 năm lại phát bệnh một lần, sản
ách. 3- Tấn tài, tức tài tinh, giàu. 4- Trường bệnh, hay đau yếu, đau
mắt, tù ngục. 5- Tố tụng, hay kiện cáo, mất của. 6- Quan tước, thăng
quan tiến chức, giàu sang. 7- Quan quí, công danh tài lộc. 8- Tụ ải,
lắm họa, trộm cướp, ly hương. 9- Vượng trang, tiền ruộng sẵn. 10- Hưng
phúc, phúc thọ giàu sang. 11- Pháp trường, đại hung, yểu thọ, tù
ngục. 12- Điên cuồng, sinh ly tử biệt, gia sự lục đục. 13- Khẩu thiệt,
bất hòa. 14- Vượng tàm, phát nghề nông. 15- Tấn điền, phúc bền,
nhiều tài lộc. 16- Khốc khấp, con chết non, lắm tai họa. 17- Cô quả,
goá bụa, ly tán. 18- Vinh phú, đại cát, giàu. 19- Thiếu vong, lắm
nạn, thuỷ nạn, sét đánh. 20- Xương dâm, dâm loạn. 21- Thân hôn, con cái
hòa thuận, lắm tài lộc. 22- Hoan lạc, có âm phù, lắm tài lộc. 23-
Bại tuyệt, con cái ly tán. 24- Vượng tài, phú quí hiền lương.
Chìa khóa mở Sơn
hướng:
§ Càn
trạch, khởi Phúc đức tự Thân sơn.
§ Khảm
trạch khởi Phúc đức tự Dần sơn.
§ Cấn
trạch, khởi Phúc đức tự Giáp sơn.
§ Chấn,
Tốn trạch khởi Phúc đức tự Tỵ sơn.
§ Ly
trạch, khởi Phúc đức tự Thân sơn.
§ Khôn,
Đoài trạch khởi Phúc đức tự Hợi sơn.
Phép làm nhà, luận mạng là tối cần
thiết, quên luận mạng thì đại hung. Luận sơn hướng không quan trọng
bằng, quên sơn hướng là tiểu hung.
Trong sơ đồ Bát cẩm trạch, vẽ đủ tám
phương (Cung) kèm đủ 24 sơn hướng, lại chỉ rõ Hoàng tuyền để tránh
mở lối vào nhà.
B. PHẦN CHỈ DẪN CỤ
THỂ
1.
Lựa
thế đất:
Phàm làm nhà, thì thế đất thường sau
cao trước thấp, như thế cốt để đời sau phát hơn đời trước, cho nên
người xưa thường làm nhà lưng tựa núi, mặt ngoảnh ra sông. Thế đất
sau nhỏ hơn trước là thế đuôi chuột, rất xấu. Tốt nhất là thửa đất
hình vuông vắn hoặc chữ nhật. Nơi đô thị, lấy đường làm sông, đường
lắm người đi, xem là dân thuỷ. Nhà trông ra đường là chính danh, thuận
ngôn.
Đẹp nhất là, phía trước nhà có tiền
đình để tiến, phía sau có hậu chẩm để dựa. Đó là thế tiền hô hậu
ủng. Hai bên nhà nên có vườn, phía tả làm vườn, phía hữu mở lối
vào, nhà tọa chính giữa, đó là thế tả
Thanh long, hữu Bạch hổ. Long nghi tĩnh, hổ nghi động. Soái phủ
chính giữa, hai bên như thể có tả phù hữu bật.
Tuyệt đối không được để ngã ba đâm
thẳng vào nhà, cũng không được để nhà ngoảnh mặt hay tựa lưng vào
đền miếu. Đền miếu là nơi tụ hội nhiều vong linh ma quái, dễ gây tai
nạn, thị phi điều tiếng. Cũng không để nhà trước chọc đầu hồi vào
nhà mình, chọc bên tả hại nam, chọc bên hữu hại nữ, chọc chính giữa
nhà mình thì hại chủ. Nhà mình ngoảnh vào lưng nhà khác cũng xấu.
Nhà bị bịt kín lối vào thì tổn người hao của, ba nhà chung ngõ thì
hay tranh chấp.
2.
Lựa
thế nước:
Trước nhà nên có dòng chảy. Nước
thẳng, sâu là nước chết. Nước ao hồ là nước hãm. Nên chọn nước chảy
quanh co uốn khúc, đó là nước sinh. Cũng nên chọn thượng dòng. Nếu
nước chảy từ phải qua trái, thì mở ngõ phía phải, trụ cổng bên
phải lui vào từ 5 - 10 cm, nếu nước chảy từ trái qua phải, thì
mở cổng bên trái, trụ cổng bên
trái lui vào từ 5 - 10 cm, phía nước tới là hướng Lai long. Nếu vì
một lẽ nào đó không mở hướng nhà ra sông ra đường được, thì phải
xoay bàn thờ gia tiên và miệng lò (táo khẩu) ra phía sông phía đường.
3.
Lựa
hướng:
Hướng nhà là tối quan trọng. Trước
hết cần luận mệnh, xem mình thuộc Đông mệnh hay Tây mệnh. Đông mệnh
nhất thiết chọn Đông trạch, Tây mệnh nhất thiết chọn Tây trạch. Chọn
nhầm là đại hung. Sau đó, lựa sơn hướng đẹp.
Phép
lựa hướng như sau: Chọn điểm giữa của nhà, ngồi chỗ đó, cầm la
bàn, khẽ xoay sao cho hướng la bàn trùng với phương Bắc của miếng
đất, rồi giở sơ đồ Bát cẩm trạch ra đối chiếu với trạch của mình
rơi vào cung nào trong bát quái, nhìn vào đó sẽ thấy rõ các phương
hung phương cát. Cắm cọc đánh dấu các phương đó, để chọn Tam cát mà
mở hướng nhà, mở ngõ, mở cửa lớn vào nhà. Nếu vì lẽ gì đó nhà
mở phải hướng hung, thì phía mặt sau nhà phải trổ nhiều cửa sổ cho
cái hung thoát ra. Nếu chọn được hướng cát, thì nên mở ít cửa, bắt
cái cát phải chạy một vòng quanh nhà trước khi thoát ra. Và phải
biết cách chế hóa, làm giảm cái hung bằng cách xoay hướng ban thờ
gia tiên và hướng miệng lò. Sau đây là cách chế hóa:
-
Nếu Cung phi của mình, tức trạch chủ, không được
hướng tốt, thì phải lấy cung phi tuổi con trai mình thay thế, và nhớ
làm lễ thay trạch chủ, uỷ cho con trai làm trạch chủ, cùng lắm, lấy
cung phi của vợ thay thế, bởi đàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp,
bất đắc dĩ mới để vợ làm trạch chủ.
-
Trường hợp không thể chọn được người thay thế,
thì phải dùng cách xoay hướng miệng lò và hướng ban thờ gia tiên về
Tam cát của sơ đồ bát cẩm trạch. Cách chế hoá như sau:
- Quái mệnh Càn
(Kim), nhà mở hướng Đoài, được Sinh khí (Mộc). Sinh khí đẹp,
nhưng Càn Kim lại khắc Sinh khí Mộc, đó là Cung khắc Tinh. Để
làm giảm sự khắc đó, ta xoay miệng lò và ban thờ về Càn để
được Phục vị (Thuỷ). Thuỷ của Phục vị sẽ nuôi Mộc của Sinh
khí, do đó, giảm được sự khắc của Kim Càn.
- Quái mệnh Chấn
(Mộc), ngõ Tốn, được Diên niên (Kim). Kim Diên niên khắc Mộc của
trạch chủ, không tốt, vì là Tinh (sao) khắc Cung. Ta xoay miệng lò
về Khảm, được Thiên Y (Thổ). Thổ của Thiên Y sẽ nuôi Kim của Diên
niên. Đó là phép Tu kỳ sinh dĩ chế kỳ ác dúng cách nuôi
dưỡng để giảm hung.
Bài Quyết của phép chế hóa như
sau:
Thiên Y (Thổ) chế Tuyệt mạng (Kim),
Sinh Khí (Mộc) chế Ngũ quỉ (Hỏa), Diên niên (Kim) chế Lục sát (Thuỷ),
Phục vị (Thuỷ) chế Họa hại (Mộc).
(Lưu ý: không có Hỏa sinh Thổ vì 4 sao tốt không có sao nào
hành Hỏa – Liêm chú dẫn).
Thí dụ cách dẫn dụng:
§ Mệnh Càn (Kim), nhà mở hướng Chấn, phạm
Ngũ quỉ (Hỏa). Thế thì phải xoay lò hướng Càn lấy Phục vị, Thủy
của Phục vị sẽ trị Hỏa của Ngũ quỉ.
§ Nhà
phạm Tuyệt mạng (Kim), xoay miệng lò về Phục vị, lấy Thuỷ của Phục
vị bắt Kim phải nuôi nó, làm nó yếu đi.
§ Nhà
phạm Lục sát (Thuỷ), xoay miệng lò về Thiên y, lấy Thổ của Thiên y
khắc Thuỷ của Lục sát (cách 2 – Tu kỳ khắc dĩ chế kỳ độc – Liêm
chú dẫn); Hoặc xoay miệng lò về Sinh khí (Mộc), bắt Thuỷ của Lục
sát phải nuôi Mộc của Sinh khí (cách 1 – Tu kỳ sinh dĩ chế kỳ ác -
Liêm chú dẫn), do đó cũng yếu đi.
Như thế, hoặc bắt cái ác phải sinh
cho nó hư hao đi, hoặc lấy cái khác khắc hành của cái ác, hai cách
đều được. Ta có: Thiên y giáng Ngũ quỉ (bắt Hỏa của Ngũ quỉ
phải nuôi Thổ của Thiên Y), Phục vị chế Tuyệt mạng (Bắt Kim
của Tuyệt mạng phải sinh Thuỷ của Phục vị, do phải sinh mà hư hao), Sinh
khí yểm Lục sát (bắt Thuỷ của Lục sát phải sinh Mộc của Sinh
khí, do sinh mà hư hao đi), Diên niên chế Lộc tồn (Họa hại) (bắt
Thổ của Lộc tồn phải nuôi Kim của Diên niên). Tu kỳ sinh dĩ chế kỳ
ác, tu kỳ khắc dĩ chế kỳ độc, cả hai đều được, nhưng dùng Tu kỳ
sinh thì cao cường hơn, nhân đức hơn.
Phép lựa hướng cần biết: Được
sao sinh cung là tốt nhất, sau đó là cung và sao tỵ hoà. Cung sinh sao
thì có hư hao. Cung khắc tinh cũng được tuy chưa thực tốt, nhưng sao
khắc cung là tối hung. Sao là khách, cung là chủ. Có khắc là có vấn
đề, lúc đó phải xem cho kỹ: Phải thuộc tượng của cung, như Càn bị
khắc, thì chú ý hướng Tây bắc, cha già. Khôn bị khắc, chú ý hướng
Tây nam, mẹ già. Tốn bị khắc, chú ý hướng Đông nam, gái trưởng. Cấn
bị khắc, hướng Đông bắc, con trai út. Ví như người mệnh Chấn, mở
hướng Càn là phạm Ngũ quỉ. Càn là cha, Hoả Ngũ quỉ khắc Kim của
Càn, là hại cha (Ngũ quỉ là sao, Càn là cung, sao khắc cung).
Lại phải xem sao đó là dương hay âm.
Sao dương rơi cung âm thì hại nữ, sao âm rơi cung dương thì hại nam.
Tóm lại, khi lên hướng phải tính toán
kỹ lẽ sinh khắc giữa cung với sao, sao với cung. Nói chung, sao và cung
tương sinh hoặc tị hoà là tốt, cát càng thêm cát, hung cũng giảm
hung. Cung và sao tương khắc thì cát cũng bất cát, hung càng thêm hung.
Tinh khắc cung hại hơn cung khắc tinh, vì cung là chủ, ít chịu để thua
khi khắc khách. Thí dụ: Người cung Cấn (Thổ) gặp sao Diên niên (Kim),
Thổ sinh Kim, chủ bị hư hao. Nếu tinh là Ngũ quỉ, thì Hoả của Ngũ
quỉ phải nuôi Thổ của Diên niên, mà bị hư hao, cái ác cũng giảm một
phần.
Trạch mệnh Tốn (Mộc) gặp Lục sát
Thuỷ. Thuỷ sinh Mộc, Lục sát do sinh mà hư hao, cái hung của Lục sát
cũng giảm. Nếu gặp Tuyệt mạng Kim, là tinh khắc cung, rất xấu. Nếu
tinh là Họa hại (Thổ) thì là cung khắc tinh, cái hung của Họa hại
cũng giảm.
Cho nên, rủi gặp Tứ hung cần xét với
hành của quái mệnh, với quẻ của trạch, tinh khắc trạch mới đáng lo.
Tinh tương sinh với trạch thì hung do sinh cũng giảm hung. Nếu trạch
khắc tinh được thi là hung tinh cũng giảm hung. Đó là mấy điều hệ
trọng nên phải nói kỹ.
Làm nhà, phải tinh thông Bát cẩm
trạch để lựa hướng, tìm cách chế hoá theo nguyên lý sinh khắc ngũ
hành. Nói chung, nhà thoả mãn được cả quái mệnh lẫn sơn hướng, lai
long là đẹp nhất. Sau khi làm nhà xong, thì giường ngủ, bàn làm việc
của mỗi người cũng đều phải sắp xếp theo Tam cát. Cha mẹ nằm giường
hướng Phục vị phần nhiều sinh con gái bởi Phục vị là Âm thuỷ. Cha
mẹ do hôn phối chót phạm phải Tứ hung, thì nhớ xoay miệng kiềng (lò)
về phương Tam cát của trạch chủ.
4.
Mở
ngõ:
Nhà như bụng, ngõ như miệng. Ngõ còn
có tác dụng chế hóa khi hướng nhà phạm Tứ hung. Như mệnh Càn, nhà
mở Khảm, phạm Lục sát, lúc ấy cần mở ngõ Cấn, lấy Thổ của ngõ
Cấn khắc Thuỷ của Lục sát. Có bài thơ sau cần nhớ:
·
Càn nhập Lôi môn thương trưởng tử: Mệnh
Càn, hướng Càn, ngõ Chấn thì hại cụ ông và con trai trưởng.
·
Hỏa kiến Thiên môn thương lão ông: Nhà
hướng Ly, mở ngõ Càn (Thiên môn) sẽ hại cụ già (Càn) và gái giữa
(Ly).
·
Ly xâm tây Đoài phương thương nữ: Nhà hướng
Ly, ngõ Đoài, phạm Ngũ quỉ, hại trung nữ (Ly) và thiếu nữ (Đoài),
hay tranh chấp.
·
Tốn nhập Khôn vị mẫu li ông: Nhà hướng
Tốn, ngõ Khôn, phạm Ngũ quỉ, cha mẹ lìa nhau, trưởng nữ xung khắc
mẹ.
·
Đoài phòng Chấn Tốn trưởng nữ tử: Nhà
hướng Đoài, ngõ Chấn hoặc Tốn thì họa đến với con gái cả hoặc con
cái bất hòa.
·
Cấn Ly âm phụ hoại gia phong: Nhà hướng
Cấn, ngõ Ly, thì vợ và trung nữ hư.
·
Cấn Khảm tiểu khẩu đa bệnh tật: Nhà
hướng Cấn, ngõ Khảm, phạm Ngũ quỉ, nhà lục đục, hại trung nam và
thiếu nam.
·
Khôn Khảm trung nam mạng tảo thương: Nhà
hướng Khôn, ngõ Khảm, phạm Tuyệt mạng, hại trung nam.
Nhà ở tĩnh âm, rất khó xoay chuyển.
Trong khi đó, ngõ là động dương, tha hồ chọn hướng. Cần phối hướng
ngõ với hướng mở nhà cho đẹp.
Ở thành thị, nhà và ngõ thường khó
chọn hướng. Lúc ấy, thì phải chế hóa bằng dùng phép xoay miệng lò
cộng hướng của bàn thờ gia tiên sao cho tạo thành sao Sinh khí. Sinh
khí có tác dụng giáng Ngũ quỉ, yểm Lục sát, khắc Họa hại. Các
hướng phối thuộc tạo thành Sinh khí là: Càn + Đoài, Cấn + Khôn, Khảm
+ Tốn, Chấn + Ly, Tốn + Khảm, Ly + Chấn, Khôn + Cấn, Đoài + Càn.
5.
Làm
bếp:
Bếp (Táo tòa) là nơi ngụ của Táo thần,
tức Phúc thần. Làm bếp rất quan trọng. Bếp là Hỏa, kỵ gần Thuỷ,
kỵ phương Khảm (nước). Làm bếp khác làm nhà ở chỗ Táo tòa phải
ngược hướng với nhà. Người Đông mệnh thì bếp phải ở Tây và
ngược lại. Mặt khác nếu nhà đặt ở Tam cát thì bếp phải đặt ở Tứ
hung nếu nhìn trên Cẩm trạch.
·
Bếp phương Lục
sát thì mạnh khỏe, sống lâu, nhiều của nhiều con.
·
Bếp phương
Tuyệt mạng thì thêm người phát tài.
·
Bếp phương Họa
hại thì không mất của, không hại người, ít đau yếu.
·
Bếp phương Ngũ
quỉ thì không trộm cướp, không đau ốm, gia đạo vượng.
Ngược lại, bếp đặt nhầm Tam cát thì
đại hung. Táo khẩu tức miệng lò, miệng kiềng thì luôn luôn phải xoay
về Tam cát của trạch chủ. Nhưng không được đối diện với ngõ vào mà
tán tài. Không được đối diện với giếng nước mà cãi cọ điên loạn.
·
Táo khẩu xoay
hướng Phục vị thì tâm cầu sở đắc, ước gì được nấy.
·
Táo khẩu xoay
hướng Lục sát thì hao tài tốn của thất đức.
·
Táo khẩu xoay
hướng Tuyệt mạng thì đau ốm mà chết.
·
Táo khẩu xoay
Ngũ quỉ thì tranh chấp, kiện tụng.
·
Táo khẩu xoay
Họa hại thì sinh thù oán.
·
Táo khẩu xoay
Thiên y thì đau ốm chóng lành, hướng Diên niên thì hôn sự thuận lợi,
hướng Sinh khí thì cầu tử tốt, con bỏ nhà đi lại về.
Ngày làm bếp, đắp lò hoặc di chuyển
bếp: Cần tránh các ngày có can là Bính Đinh để phòng hỏa. Bếp làm
đất mới, sạch.
Đối chiếu với Cung phi của trạch chủ,
thì nhà trạch Khảm, trạch Ly nên đặt Táo toà ở hướng Giáp-Dần đắc
tài, hướng Thìn-Mão phú. Nhà Chấn trạch chọn hướng Tỵ-Bính phát
tài, hướng Canh đại phú.
Bếp tối kỵ ba sơn hướng Nhâm, Tí, Quí
vì thuộc Thuỷ. Táo tại Cấn phương thì gia đạo bất an.
Giữa bếp với nhà cũng có quan hệ:
Phòng hậu Táo tiền thì gia đạo phá. Táo hậu phòng tiền tử tôn bất
hiền.
Có 12 sơn hướng tối kỵ đặt miệng lò:
Nhâm, Tí, Quí, Sửu, Cấn, Ất, Đinh, Khôn, Dậu, Đoài, Càn, Hợi. Phương
Ngọ giàu có, phương Nhâm-Tốn-Mùi-Tuất hanh thông. Hãy luôn luôn nhớ
phải xoay miệng lò về Tam cát còn Táo tòa thì ở Tứ hung. Bếp lò
day hướng Phục vị thường sinh con gái. Chồng Đông mạng muốn con trai
xoay miệng lò về Chấn Khảm, cầu gái xoay miệng lò về Ly Tốn.
6.
Nhà
vệ sinh:
Nhà vệ sinh nên đặt tại Tứ hung,
chọn hướng Giáp Ất Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quí và Tứ mộ. Tuyệt đối
tránh hướng Tí Ngọ Mão Dậu, Dần Thân Tỵ Hợi, Càn Khôn Tốn Cấn là
tứ xung, hướng của Thổ công.
Hố rác hố ga, cống rãnh thì kỵ
hướng Lai long và tám hướng có Thổ công, nên đặt ở Tứ mộ.
7.
Phép tính: Khởi
tự cung Khôn, mỗi cung 10 tuổi, đi lối thuận chiều, cứ đến 5
hoặc 50 là vào cung trung. Số lẻ thì cứ mỗi ô đếm 1
cho đến hết số tuổi của mình. Nơi có cung tuổi cuối cùng rơi vào
Khảm Ly Chấn Đoài thì tốt, còn rơi vào Càn Khôn Tốn Cấn thì
phạm Kim lâu. Khôn là Kim lâu Thân, Càn là Kim lâu Thê, Cấn là Kim lâu
Tử, Tốn là Kim lâu Súc.
Tuổi Kim
lâu:
|
Phép tính: Khởi
tự cung Khôn, mỗi cung 10 tuổi, đi lối thuận chiều, cứ đến 5
hoặc 50 là vào cung trung. Số lẻ thì cứ mỗi ô đếm 1
cho đến hết số tuổi của mình. Nơi có cung tuổi cuối cùng rơi vào
Khảm Ly Chấn Đoài thì tốt, còn rơi vào Càn Khôn Tốn Cấn thì
phạm Kim lâu. Khôn là Kim lâu Thân, Càn là Kim lâu Thê, Cấn là Kim lâu
Tử, Tốn là Kim lâu Súc. |
Làm nhà, lấy vợ, tậu trâu,
Trong ba điều ấy Kim lâu thì đừng.
Có bảng sau:
|
Tốn |
Ly |
Khôn |
|
Chấn |
Trung |
Đoài |
|
Cấn |
Khảm |
Càn |
Ví dụ:
Làm nhà năm 33 tuổi thì: Khôn
là 1 mười, Đoài là 2 mười, Càn là 3 mười, 31 là Khảm, 32 là Cấn, 33
là Chấn. Không phạm Kim lâu.
Cũng có kẻ nói lấy tổng số
tuổi chia cho 9, còn số dư bao nhiêu nếu là 1, 3, 6, 8 thì rơi vào Kim
lâu. Như thế 33 chia cho 9 được 27, còn dư 6 rơi vào cung Chấn.
8.
Tuổi
Quan ốc:
Còn gọi là Lục hoang
ốc gồm sáu ô như hình sau: Nhất cát, nhị nghi, tam địa sát, tứ tấn
tài, ngũ thụ tử, lục địa sát.
|
Cách
tính: Mỗi cung tính một
mười, số lẻ thì tính tiếp mỗi cung một số cho đến hết tuổi,
rơi vào cung nào thì biết ngay cung ấy xấu hay tốt. |
IV |
||
|
II |
V |
||
|
I |
VI |
Địa sát thì nhà cửa
chao đảo, gia sự lục đục. Thụ tử thì đau ốm, nhà làm dây dưa, tranh
chấp thị phi.
Ví dụ: Làm nhà
năm 34 tuổi, đếm cung I là một mười, cung II là hai mười, cung III là
ba mười, tiếp cung IV là 31, cung V là 32, cung VI là 33, cung I là 34.
Thế thì gặp nhất cát, rất tốt!
9.
Chọn
trực:
Chọn trực để tính số đòn
dông, đòn tay (vợ), số bậc cầu thang, số phòng. Có cả thảy 12 trực:
Kiến Thổ - Trừ Thuỷ - Mãn Thổ - Bình Thuỷ - Định Mộc - Chấp Hỏa -
Phá Hỏa - Nguy Thuỷ -Thành Kim - Thu Thuỷ - Khai Kim - Bế Kim.
|
Tỵ |
Ngọ |
Mùi |
Thân |
|
Thìn |
|
|
Dậu |
|
Mão |
|
|
Tuất |
|
Dần |
Sửu |
Tí |
Hợi |
Cách tính:
·
Mạng Kim khởi trực kiến ở cung Sửu
·
Mạng Hỏa khởi trực kiến ở cung Tuất
·
Mạng Mộc khởi trực kiến ở cung Mùi
·
Mạng Thổ và Thuỷ khởi trực kiến ở cung
Thìn.
Tính theo 12 cung trên lá số Tử vi,
thí dụ: Trạch chủ tuổi Canh Ngọ, mệnh Thổ, muốn làm nhà 5 đòn tay.
Cung mạng Thổ, khởi tự cung Thìn, tính đến trực Mãn là hành Thổ,
tức cung Ngọ. Lấy Ngọ tính tiếp 5 cung: Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy,
đủ số 5. Nguy rơi vào cung Hợi, Nguy cũng là hành Thuỷ, mà Thổ khắc
Thuỷ, thế là không hợp. Nếu tính thêm một đòn nữa là Thành, Thành
thuộc hành Kim. Thổ sinh Kim, thế là tốt. Nhà nên có sáu đòn dông.
Tính số bậc cầu thang như sau:
Tuổi Nhâm Thân, mệnh Kim, khởi tự cung Sửu là trực Kiến, tính đến
cung Thân thì được Nguy, tức cung năm sinh. Lấy Nguy làm 1, đếm đến 10
thì tới Định. Định là hành Mộc, Kim khắc Mộc vậy là đẹp, nên xây 10
bậc thang.
10. Chọn hình thể nhà:
Hình thể nhà rất quan trọng:
·
Nhà trước cao sau thấp: Tổn con khắc vợ.
·
Nhà sau cao trước thấp: U mê tăm tối.
·
Nhà giữa cao, sau trước thấp: Vợ chồng
bất hoà.
·
Nhà giữa cao, tả hữu thấp: Bất hoà.
·
Trước và sau nhà là công sở: Hao tán.
·
Nhà hiên rộng: Tốt.
·
Nhà hiên hẹp: Đau ốm.
·
Tường vách lở lói chân: Tán tài.
·
Trước nhà có dải đất thè lè lưỡi trai:
Đời đời sinh hiền tài.
·
Mái sau chìa đuôi cá: Ôn dịch.
·
Trước nhà có nhà đổ: Khẩu thiệt thị phi.
·
Có tum nhỏ: Trẻ khó nuôi.
·
Trước nhà là một nhà cao mái hơn nhà
mình: Cô quả.
·
Nhà phụ cao hơn nhà chính: Thoái bại.
·
Đất sau nhà rộng hơn mặt tiền: Giàu có.
11. Khí vị:
Sáng sủa- Tốt; ảm đạm, u ám- Suy
thoái; ấm áp- Hưng thịnh; chói chang- sắp phát tài, sắp sinh quí tử;
màu đỏ, có khói- sắp cháy; lờ mờ như sương- sắp có tai họa; ban đêm
trên nhà có màu sáng rực- quí tụ, sắp phát lộc; ban đêm trên mái
nhà có ngũ sắc- rất quí; đường dẫn thẳng vào nhà là có lai khí,
xem hướng lai khí mà đoán; đường chạy ngang trước cửa- là chính khí,
xem tụ khí ở hướng đối diện, như nhà Càn xem ở Tốn. Nhớ là khí tụ
phương Bắc tới thì xấu, từ phương sinh tới thì tốt.
Tóm lại, đàn ông cái nhà, đàn bà
cái bếp. Làm nhà phải tính theo Cung phi của đàn ông, phối hợp với
thế đất thế nước (Thổ cục và Thuỷ cục), luận Đông hay Tây mệnh.
Trường hợp hướng phạm Tứ hung thì phải xoay hướng bàn thờ gia tiên +
Cung phi của trạch chủ để được các hướng Sinh khí, Diên niên hoặc
Thiên y mà cầu phúc. Sau đó, miệng lò cùng day về hướng Sinh khí.
Thí dụ: Bàn thờ gia tiên ở Khôn
thì miệng lò day Cấn. Khôn + Cấn thành Sinh khí. Bàn thờ ở Ly, miệng
lò day Chấn. Ly + Chấn = Sinh khí.
Giường ngủ của trạch chủ cũng đạp
chân về Tam cát.
Táo khẩu và bàn thờ Táo thần hãy
phối với bàn thờ gia tiên cho được Tam cát.
·
Số của Tiên thiên bát quái là: Càn 1,
Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8.
·
Số của Hậu thiên bát quái là: Khảm 1,
Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung ương 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
Khai
môn và Sinh môn là cát. Hưu
môn chủ nghỉ ngơi, đợi thời. Thương
môn chủ lo sợ. Đô
môn chủ trắc trở. Cảnh
môn chủ vật tư, gia tài. Tử
môn chủ đại hung. Kinh
môn chủ kinh hoàng.
Khi dự đoán, Thiệu Khang Tiết dùng hành của Hậu thiên
nhưng với số của Tiên thiên, chưa rõ vì sao.
|
Khai môn (1) |
Hưu môn (6) |
Sinh môn (7) |
|
Kinh môn (2) |
|
Thương môn (4) |
|
Tử môn (8) |
Cảnh môn (3) |
Đô môn (5) |
Đồ hình của Tiên thiên như sau:
Số
của Tiên thiên rõ ra là Tứ tượng sinh Bát quái (Thái âm 4, Thiếu
âm 2, Thái dương 1, Thiếu dương 3).
|
Cấn (7) |
Khôn (8) |
Chấn (4) |
|
Khảm (6) |
|
Ly (3) |
|
Tốn (5) |
Càn (1) |
Đoài (2) |
12. Đặt huyệt mộ:
Phàm người chết, thì nên chọn đúng
huyệt mộ, tức là Âm trạch nằm đúng bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
§ Cung
phi của người chết phạm Tứ Kim lâu hoặc Ngũ Thụ tử, thì mộ nên đặt
phương Phục vị hoặc Thiên y.
§ Phạm
Lục địa sát, chọn hướng Phục vị, Sinh khí.
§ Phạm
Tam địa sát, chọn Diên niên.
§ Phạm
Trùng tang, chọn Phục vị.
Đặt phía chân hướng cao, đầu gối
hướng thấp.
Phép tính nhập mộ như sau: Trên
Thiên bàn của lá số Tử vi, nam khởi tại cung Dần, thuận hành. Nữ
khởi tại cung Thân, nghịch hành. Khởi tại Tí, đến tên năm chết. Tính
tiếp, đến tháng chết. Lại tính tiếp, đến ngày chết. Lại tính tiếp,
đến giờ chết. Bốn cung (năm, tháng, ngày, giờ) tìm được rơi đúng vào
bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Nhập mộ, rơi vào Dần, Thân, Tỵ,
Hợi là phạm Trùng tang, vào Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì được Thiên di.
Nhập mộ là tốt, chết đúng
cách, thứ đến Thiên di. Rơi vào Trùng tang là rất xấu.
Xem thí dụ sau:
|
Tỵ |
Ngọ |
Mùi |
Thân |
|
|
|
|
Dậu |
|
Mão |
Thuận |
Nghịch |
Tuất |
|
Dần |
Sửu |
Tí |
Hợi |
Ông Ba, chết năm 33 tuổi, tháng 3, ngày
21, giờ Mão. Tính như sau:
§ Khởi
tự cung Dần, làm 1 mười. Đến cung Thìn là 3 mười. Cộng thêm 3 cho đủ
tuổi, thì tuổi 33 rơi vào cung Mùi (được 1 mộ).
§ Tính
sang cung Thân là tháng 1, đến tháng 3 là sang Tuất, đúng tháng
chết (được 2 mộ).
§ Lại
tính tiếp cung Hợi là ngày 1, đủ 21 ngày, là ngày chết, rơi vào cung
Mùi, là được 3 mộ.
§ Tính
tiếp cung Thân là giờ Tí, đến giờ Mão thì rơi vào cung Hợi.
Vậy là giờ chết của ông Ba phạm Trùng tang, Ông Ba được 3 cái nhập
mộ. Dùng đủ 4 nhập mộ, là ông ấy đủ số trời cho.
Muốn tìm huyệt chôn, phải dựa vào
chòm sao Trường sinh. Vòng Trường sinh gồm 12 sao: Trường sinh -
Mộc dục - Quan đức - Lâm quan - Đế vượng - Suy - Bệnh - Tử - Mộ -
Tuyệt - Thai - Dưỡng. Huyệt đặt vào cung Sinh Vượng thì tốt,
vào Mộ thì đúng, huyệt rơi vào Tử, Tuyệt là rất xấu.
Tìm vòng Trường sinh dựa theo Thuỷ Y
Pháp:
§ Nếu
thấy nước nơi nghĩa địa chảy về phương Tuất (Tây Bắc) thì là Hỏa
cục. Sẽ đứng ở phương Mão nhìn sang Tuất, nếu nước chảy từ trái
sang phải thì là Dương cục. Dương Hỏa Cục, thì Trường sinh an Dần, Đế
vượng tại Ngọ, Mộ tại Tuất. Chôn ở Tuất, là mộ cư mộ địa. Nếu
nước chảy từ phải sang trái là Âm cục. Âm hỏa Cục, thì Trường sinh
khởi tại Ngọ, Mộ cũng ở Tuất.
§ Nếu
nước chảy phương Thìn (Đông Nam) thì đất ấy là Thuỷ cục. Đứng ở Dậu
nhìn Thìn, nếu nước chảy từ trái sang phải thì là Dương cục, Trường
sinh khởi tại Thân, Mộ tại Thìn. Nếu nước chảy từ phải sang trái là
Âm cục, Trường sinh khởi tại Tí, Mộ tại Thìn.
§ Nếu
nước chảy phương Sửu (Đông Bắc) là Kim cục. Đứng ở Ngọ nhìn Sửu.
Nước chảy từ tả (trái) sang hữu (phải) thì là Dương cục. Trong Kim
cục thì Trường sinh khởi tại Tỵ, Mộ tại Sửu (ô thứ 9). Nước chảy
từ hữu sang tả, là Âm cục. Trường sinh khởi tại Dậu, Mộ cũng tại
Sửu (khởi nghịch).
§ Nếu
nước chảy phương Mùi (Tây Nam) là Mộc cục. Đứng ở Tí nhìn Mùi, nếu
nước chảy từ trái sang phải thì là Dương mộc cục, Trường sinh khởi
tại cung Hợi. Nước chảy từ phải sang trái là Âm mộc cục, Trường sinh
khởi nghịch tại cung Mão.
Tóm lại dù Dương cục hay Âm cục, mộ
bao giờ cũng rơi vào Tứ mộ. Nhớ là Dương cục thuận hành, Âm cục
nghịch hành. Cái chết bao giờ cũng trở về với Thổ (Tứ mộ là Thổ).
Kim lâu: Lấy số tuổi chia cho 9,
số dư thuộc các số 1, 3, 6, 8 là phạm Kim lâu.
Lúc khâm liệm, lúc chôn, những ai phạm
các điều sau, nên tránh mặt:
§
Cùng địa chi
với tuổi người chết, có địa chi tương khắc với tuổi người chết.
§
Có Cung phi,
phối với cung phi của người chết tạo thành Tứ hung.
Cải táng, cũng phải theo Kim lâu và
Hoang ốc.
Phép tính Hoang ốc:
Khởi nhất càn ở ô I,
theo chiều thuận, mỗi ô 10 tuổi, cho đến ô 60. Nếu tuổi ở số
lẻ, thì dừng ở 10 cuối cùng, rồi tính tiếp mỗi ô một
tuổi. Tuổi cuối cùng rơi vào ô nào, là phạm tuổi ấy. § Chỉ có 3 ô tốt : Nhất cát, nhị nghi, tứ
tấn tài. § Đại sát xấu như Thụ tử.
|
Tam địa sát |
III |
IV |
Tứ tấn tài |
|
Nhị nghi |
II |
V |
Ngũ thụ tử |
|
Nhất cát |
I |
VI |
Lục địa sát |
TỪ THÁNG BIẾT NGÀY HOÀNG ĐẠO,
TỪ NGÀY BIẾT GIỜ HOÀNG ĐẠO
(theo tư liệu của anh Hinh sưu tầm – 02/2004)
Dần Thân ĐI ĐỨNG bình yên, ĐẾN
ĐÂU cũng ĐƯỢC người quen ĐÓN chào
Mão Dậu ĐẾN cửa ĐÔNG ĐÀO, có
tiên ĐƯA ĐÓN qua ĐÈO thiên thai
Thìn Tuất ai ngóng ĐỢI ai,
ĐƯỜNG ĐI suôn sẻ ĐẸP ĐÔI bạn ĐỜI
Tỵ Hợi cuối ĐẤT cùng trời, ĐẾN
nơi ĐẮC ĐỊA còn ngồi ĐẮN ĐO
Tí Ngọ ĐẸP ĐẼ tiền ĐỒ, qua sông
ĐỪNG vội ĐỢI ĐÒ sang ngang
Sửu Mùi sẵn kẻ ĐƯA ĐƯỜNG, băng
ĐÈO vượt suối ĐEM sang ĐỒN ĐIỀN
|
Tháng(ngày) Ngày(giờ) |
Tí |
Sửu |
Dần |
Mão |
Thìn |
Tỵ |
Ngọ |
Mùi |
Thân |
Dậu |
Tuất |
Hợi |
|
Dần
Thân |
ĐI |
ĐỨNG |
bình |
yên, |
ĐẾN |
ĐÂU |
cũng |
ĐƯỢC |
người |
quen |
ĐÓN |
chào |
|
Mão
Dậu |
ĐẾN |
cửa |
ĐÔNG |
ĐÀO, |
có |
tiên |
ĐƯA |
ĐÓN |
qua |
ĐÈO |
thiên |
thai |
|
Thìn
Tuất |
ai |
ngóng |
ĐỢI |
ai, |
ĐƯỜNG |
ĐI |
suôn |
sẻ |
ĐẸP |
ĐÔI |
bạn |
ĐỜI |
|
Tỵ
Hợi |
cuối |
ĐẤT |
cùng |
trời, |
ĐẾN |
nơi |
ĐẮC |
ĐỊA |
còn |
ngồi |
ĐẮN |
ĐO |
|
Tí
Ngọ |
ĐẸP |
ĐẼ |
tiền |
ĐỒ, |
qua |
sông |
ĐỪNG |
vội |
ĐỢI |
ĐÒ |
sang |
ngang |
|
Sửu
Mùi |
sẵn |
kẻ |
ĐƯA |
ĐƯỜNG, |
băng |
ĐÈO |
vượt |
suối |
ĐEM |
sang |
ĐỒN |
ĐIỀN |