--------------------------------
TRẦN ĐẮC LỢI
VIỆT NAM
VỊNH XUÂN QUYỀN
MỤC LỤC
Lời mở đầu- Nguồn gốc môn phái Vịnh Xuân
- Con đường Vịnh Xuân vào Việt Nam – một vài lời của tác giả, thầy Trần Đắc Lợi, thế hệ thứ hai của Vịnh Xuân ở Việt Nam
- Luyện thở
- Luyện tập du đẩy hai người
- Luyện tập hai người
- Luyện tập ba bộ quyền pháp cơ bản
- Linh giác
- Luyện tán thủ và 108 mộc nhân thủ
- Luyện tập vũ khí
- Đặc điểm luyện thân pháp của Vịnh Xuân
- Pháp công thủ chủ yếu của Vịnh Xuân
- Phép chi sao trong Vịnh Xuân Quyền
- Cước pháp
- Tấn pháp (mã bộ)
- Tiểu luyện đầu và Tiểu niệm đầu
Thay cho lời kết
LỜI MỞ ĐẦU
BẢY CƠ BẢN CỦA VỊNH XUÂN QUYỀN
1.
Luyện thở:
(Thận khí qui nguyên công)
- Luyện kình: Hàng ngày luyện quyền
- Xoay thân
- Đơn niêm thủ
2.
Luyện tập
du đẩy hai người:
Luyện thuật đảo đan tay, ra vào tay
hợp lý, ném tay, tập quyền, di thân đảo bộ, quay tay để phá lỏng vai,
khuỷu tay và cổ tay.
3. Luyện tập hai người:
Đánh đỡ tự nhiên, sơ cấp niêm thủ để hiểu rõ cách dính tay và ra
đòn, đồng thời vừa niêm vừa di chuyển thân, chân.
4. Luyện tập ba bộ quyền pháp cơ bản:
- Tiểu niệm đầu
- Tầm kiều
- Tiêu chỉ
Đặc biệt trong bài Tiểu niệm đầu, người tập phải nắm vững
chính xác vị trí của khuỷu tay, nội dung chủ yếu là phòng ngự
trung tuyến và các động tác công, phòng đơn
và kình.
5.
Linh giác:
Khi đã biết niêm tay, phải chú ý
luyện linh giác (chú trọng tháo được ba khớp, cánh tay phải thật
lỏng, sau luyện đả thủ). Thông qua niêm tay phải chú trọng luyện Liên
hoàn bát thủ pháp trong Vòng tròn xa luân.
6.
Luyện tán
thủ và 108 mộc nhân thủ: Luyện tập 108 động tác đánh cây gỗ (Mộc nhân)
hoặc bảng thủ, với hai pháp: định bộ thân thủ (không dùng lực lấy hình và ý,
dùng lực để luyện kình) và ra vào hợp lý kết hợp thân, chân, tay hợp nhất.
7.
Luyện tập
vũ khí:
- Bát trảm đao
- Lục điểm bán côn
Bảy
phần cơ bản trên, người tập phải chú ý:
·
Khi định bộ thân thủ (Kiềm dương tấn)
hai người đều phải đứng gần, tỳ đẩy cho nhau, thông qua đẩy kéo sẽ
nhận thức được lực đẩy, lực kéo, lực mượn từ trong đó, đồng thời
sẽ đạt được sự vận dụng linh hoạt: cánh tay khúc mà không khúc,
thẳng mà không thẳng, có lực mà không có lực... đồng thời thân pháp
lên bình xuống thuận, phải nắm vững trọng tâm, không mất cân đối.
·
Khi bước đi phải tiến thấp thoái cao, nhẹ
nhàng, linh hoạt, vững vàng, trường đùi, đá bằng bàn chân nhẹ như
lông hồng lại nặng như núi Thái sơn. Kết hợp với du đẩy hai người sẽ
nắm vững lai lưu khứ tống của bộ pháp và thủ pháp.
·
Khi song thân niêm thủ, điều cao là cổ
tay triền kình, đó chính là luyện tập cao cấp của cảm giác tay.
MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CĂN BẢN
CỦA VỊNH XUÂN QUYỀN
Với nguyên lý Trường, Trung, Đoản:
- Trường Kiều: vận khí, luyện gân
- Trung Kiều: xung quyền
- Đoản Kiều: tự bảo vệ
Vận dụng đoản kiều để tránh
mã, sở trường để phát huy kình lực, ngoài ra lấy cánh tay, cùi trỏ,
cổ tay, bàn tay, ngón tay làm các loại thủ hình, cộng với thân pháp
lật bản lề độc đáo, bộ pháp kiềm dương tấn, khi chuyển bộ có
dùng ý chân của hạc thân, đồng thời cảm giác bằng độ nhanh nhẹn của
da thịt. Phát huy quyền thuật nội gia để tăng sức mạnh.
Đặc điểm luyện thân pháp của Vịnh
Xuân
Buông lỏng thân, chùng chân khép gối,
hai bàn chân bằng vai, bụng lỏng, cổ chân buông lỏng, bàn chân bám
chặt đất. Từ cổ chân đến thân phải có độ đàn hồi (đó là sự nhịp
nhàng của thượng, trung, hạ).
Lấy ý đẩy khí, ý đến khí đến, lấy
khí thôi lực, tay mắt cùng theo, tâm tới chân tới, thân tới bộ tới,
bộ tới quyền tới, quyền tới thì ý sẽ tới.
Khi luyện tập lấy tĩnh chế động, khi
tĩnh thì im như núi đứng, khi động thì nhanh như gió xoay, đó là đặc
điểm chủ yếu của nội gia công phu Vịnh Xuân Quyền.
Pháp công thủ chủ yếu của Vịnh Xuân
Vịnh Xuân lấy trung tuyến làm lý
chính, đó chính là nhãn hiệu cùi trỏ treo, khi xuất thủ phải chiếm
đường vuông góc của ngực. Đó là pháp công thủ chủ yếu của Vịnh
Xuân. Người luyện tập nhất định phải thủ trung tâm, chính ở trung tâm
này mà làm cho các động tác của đối phương chỉ có thể ở ngoại vi.
Khi sử dụng tay yêu cầu khoảng cách phải theo tiêu chuẩn sau:
- Thượng bất quá mắt
- Hạ bất quá bụng dưới
- Trái phải không quá vai
Tất cả các nguyên tắc trên làm tay
xuất quyền nhanh và thu về càng nhanh. Nó có tác dụng công thủ quyết
liệt, biến hoá đa dạng, đồng thời khi khuỷu tay làm trung trục thì
cánh tay và bàn tay sẽ chuyển động ở bất cứ góc độ nào và sinh ra
một uy lực vô cùng. Vị trí cánh tay phải giữ khoảng cách một quyền
với thân thể (đó là cánh tay treo), đây chính là mục đích tăng cường
sức, gân của cánh tay, tăng cường sức tấn công lót thân.
Phép
chi sao trong Vịnh Xuân Quyền
Sự cốt tử chính trong quyền thuật
Vịnh Xuân là pháp chi sao (niêm
thủ). Đó là đặc điểm lợi dụng nghe lực của tay mình mà biết ý
người, người động, người tĩnh, biết người trốn tay, người có tay
người không tay, biết tiến thoái, đó là một phương pháp huấn luyện
tâm lý và cảm giác của da cánh tay và cũng như toàn bộ tay: cánh
tay, cẳng tay, cổ tay và bàn tay. Với công phu luyện, người tập sẽ có
cảm giác nghe được sức (lực) xuất ra của người đối luyện (cảm nhận
lực), vì niêm tay không phải là một cách đọ sức quyết liệt mà chính
là một cách bồi dưỡng cảm giác nhạy cảm của cánh tay, đồng thời
cân đối với cảm nhận phương hướng. Tập lâu phương pháp này không chỉ
có thể thấy rõ và nghe được động cơ và ý đồ của người cùng tập,
quan trọng hơn nữa là thông qua niêm tay giúp cho việc bồ dưỡng gân lực
không ngừng phát triển, vì khi niêm tay sự cọ xát qua da thịt sẽ được thẩm
thấu vào tâm và đại não. Não bộ kịp thời phát ra hiệu lệnh đến
tay, để từ đó nghe ra chỗ cứng, đờ của người cùng tập, đồng thời
từ não bộ sẽ tự vận dụng phương pháp không giống nhau để ứng phó.
Sự niêm thủ có thể nói là một cách độ tâm sức quyết liệt cao sâu
nhất. Khi tập pháp này, người luyện luôn phải nhớ rõ:
- Bụng luôn lỏng
- Khí luôn phải ở đan điền (thở sâu, nhẹ)
- Bình chân, háng, gối thoải mái, bàn chân vững
như núi Thái sơn
Sau khi thân thủ buông lỏng thoải
mái, hai người cùng tung tay ra luyện niêm thủ. Khi đẩy tay phải
chuẩn, không sợ hụt, phản. Khi kéo và nâng tỳ phải nhanh. Luyện một
thời gian sẽ thấy sự tuyệt diệu ở trong đó. Nguyên tắc tập là đánh
vào trọng tâm người cùng luyện, làm cho người đối tập mất thăng
bằng. Mọi người luyện tập đều phải lấy cơ bản gốc của Bát thủ
pháp làm nền tảng chính, khi quay tay cần phải áp dụng Liên
hoàn bát pháp Vịnh Xuân. Khi sử dụng niêm thủ cần chú ý:
- Lấy phóng, chèn, đập (xà, hổ, hạc) làm chiêu
thức;
- Lấy đoản kiều làm chủ;
- Lấy pháp công làm thủ, lấy chủ làm hoà;
- Không được thừa và thiếu.
Thủ pháp biến hoá đa dạng có thể
phát huy tác dụng trong một khoảng cách đa dạng, đấy chính là uy lực
và huyền bí của Vịnh Xuân Quyền.
Còn một điều cao sâu hơn cả là phương
pháp luyện lực của Vịnh Xuân. Căn cứ theo nguyên lý:
- Không dựng trường kiều không thể đạt khí, không
dùng đoản kiều không thể tự lo (tay ném dài để đạt gân và khí,
tay ngắn có thể tự bảo vệ),
- Theo phương pháp lực phải lưu thuỷ, không đứt
đoạn, uy lực phải mạnh mẽ.
Người luyện lực phải hiểu rõ sức
mạnh nhu quyền của Vịnh Xuân chính là giật đột ngột một giải lụa
(lực ly tâm) mà sức giật nhờ người đối luyện, chỉ có sự luyện tập
lâu dài mới thấu hiểu được điều này.
Cước
pháp
Trong quyền Vịnh Xuân còn phải nói
đến cước pháp, với 5 ngọn: Thốn, quải, liêu, sát, thái (đạp, quét,
gối, phóng chân, tỳ chèn). Tuy nhiên, sự luyện tập phải có sự phối
hợp nhuần nhuyễn của thân thể với sự vô thức của tay (thân, chân, tay
hợp nhất).
Tất cả các phương pháp nói trên chỉ
được luyện tập sau khi đã qua luyện tập cơ bản.
Tấn pháp (Mã bộ)
Cơ bản gốc gồm có tấn pháp
(mã bộ) và bài Tiểu niệm đầu (thủ đầu quyền).
- Nhị tự kiềm dương tấn
- Kiềm dương xoay
- Kiềm dương di chân trụ
Mục đích chính của luyện mã bộ là
làm cho thân thể dẻo dai, bàn chân bám chặt đất, các khớp háng, gối,
mắt cá chân phải lỏng. Khi di chuyển phải nhẹ nhàng linh hoạt, dùng
ngón chân chuyển bộ làm chính. Khi định bộ mã hai người phải du đẩy
cho nhau để đạt sự cân bằng khéo léo.
Tiểu
niệm đầu
Khi luyện xong mã bộ thì chuyển sang
pháp luyện Tiểu niệm đầu (còn gọi là Tiểu luyện đầu,
khi đạt đến cao cấp mới gọi là Tiểu niệm đầu). Tiểu niệm đầu
chính là cơ bản công của Vịnh Xuân Quyền.
Tiểu luyện đầu và Tiểu niệm
đầu chiêu thức là của nhau nhưng hàm ý hoàn toàn khác nhau - Một
tập hình, một tập ý. Nếu Tiểu luyện đầu là cơ bản công phá
của Vịnh Xuân thì Tiểu niệm đầu là tu luyện âm nhu thông qua
vận khí và dụng ý để đạt đến trình độ cao nhất không lộ.
Trong quá trình tập luyện Tiểu niệm đầu không được phép tập
nhanh và liều lĩnh, phải luyện chậm chạp và thuần thục, sau khi nhớ
không sai mới thêm ý niệm vào phối hợp hô hấp. Nội phải đề khí,
ngoại phải tuỳ ý, luyện được tuỳ ý, tẩu ý bất tẩu thần thì mới
làm nền tảng cho phép Tầm kiều (tìm tay) về sau. Khi tập, lấy
tinh thần chậm làm chính, đưa tay ra dụng hô, thu tay vào dụng hấp.
Luyện được có thể vận dụng thân thể và ý niệm sức lực chớp nhoáng,
đó chính là nội lực âm nhu và cách biến ảo để lấy nhu chế cương
của quyền thuật Vịnh Xuân. Khi Mã bộ và pháp luyện Tiểu
niệm đầu đã tốt đó chính là lúc xảy ra Tứ tượng bát thiên
cân để hoá giải công kích đối thủ. Chú ý khi luyện quyền phải
buông lỏng toàn thân, ý niệm tập trung khi xuất thủ, lực nhẹ ý nặng,
cố gắng phát huy xảo lực (mượn sức người cùng luyện) đồng thời
phải xoá ý nghĩ mờ ám. Lưỡi đầy vòm họng, đề giang thu thận, hơi
thở tự nhiên. Điều này mang tính thực dụng rất mạnh, có quan hệ đến
thành bại Vịnh Xuân Quyền trong khi giao chiến. Vì vậy yêu cầu đặt ra
cho mỗi người tập Vịnh Xuân Quyền là đều phải ghi nhớ một cách
nghiêm túc các yếu lĩnh, động tác, và phải tiến hành khổ luyện thì
mới có thể bước xa hơn nữa trên con đường võ học.
KHÁI NIỆM CÔNG - HÓA - HÒA
THAY CHO LỜI KẾT
Sau một thời gian dài tập luyện (18
năm) tôi mới hiểu được câu: Công - Hóa - Hòa làm chủ, còn lối cũ lấy
Hòa - Hóa - Công, theo tôi là đúng mà cũng không hẳn đúng, vì văn tự
của người Trung Quốc được đọc (và hiểu) từ phải sang trái. Nguyên lý Công -
Hóa - Hòa, với sự thiển cận của tôi có thể diễn giải như sau:
- Công tức Thủ
- Hóa tức Công
- Hòa là Niêm dính
Theo chân lý "Đạo bất sinh bất
diệt", người viết một lần nữa rất mong mọi người luyện tập
môn Vịnh Xuân Quyền đều đạt được như ý để Vịnh Xuân Quyền Việt Nam
mãi mãi tồn tại và phát triển.
Chúc viên mãn.
Đông
Các - Hà Nội, 30/3/2001
Trần Đắc Lợi
Tông sư Nguyễn Tế Công và các học trò thế hệ Vịnh Xuân đầu tiên ở Việt Nam (Ảnh chụp vào những năm 1950 tại Hà Nội)
Trình bày bìa, biên tập: Nguyễn Thanh Linh
Hồ Đắc Hiếu
Phạm Thanh Liêm
Hiệu chỉnh: Trần Đắc Lợi
Hoàn thiện: Đông Các (Hà Nội) tháng 3/2001
Tái bản lần thứ hai: Hà Nội, tháng 3/2005