Thứ Năm, 19 tháng 10, 2023

Vịnh Xuân đạo quán

--------------------------------


TRẦN ĐẮC LỢI


VIỆT NAM
VỊNH XUÂN QUYỀN




(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)

Tái bản lần thứ hai, tháng 3/2005

Hà Nội, tháng 3/2001



Tông sư Nguyễn Tế Công, còn gọi là Cụ Tề Cống (1877-1960) -
tên thật là Yuen Chai Wan, người truyền bá môn phái Vịnh Xuân
vào Việt Nam - Ảnh tư liệu

MỤC LỤC

Lời mở đầu
  • Nguồn gốc môn phái Vịnh Xuân
  • Con đường Vịnh Xuân vào Việt Nam – một vài lời của tác giả, thầy Trần Đắc Lợi, thế hệ thứ hai của Vịnh Xuân ở Việt Nam
Bảy cơ bản của Vịnh Xuân Quyền
  1. Luyện thở
  2. Luyện tập du đẩy hai người
  3. Luyện tập hai người
  4. Luyện tập ba bộ quyền pháp cơ bản
  5. Linh giác
  6. Luyện tán thủ và 108 mộc nhân thủ
  7. Luyện tập vũ khí
Một số nguyên lý căn bản của Vịnh Xuân Quyền
  • Đặc điểm luyện thân pháp của Vịnh Xuân
  • Pháp công thủ chủ yếu của Vịnh Xuân
  • Phép chi sao trong Vịnh Xuân Quyền
  • Cước pháp
  • Tấn pháp (mã bộ)
  • Tiểu luyện đầu và Tiểu niệm đầu
Khái niệm Công – Hóa – Hòa

Thay cho lời kết


Cụ Trần Văn Phùng (1900-1987), thế hệ Vịnh Xuân đầu tiên của Việt Nam


LỜI MỞ ĐẦU


Nguồn gốc môn phái Vịnh Xuân

Người sáng lập ra môn phái là bà Nghiêm Vịnh Xuân, một đệ tử tục gia của Thiếu Lâm Tự. Với tư chất thông minh, bà đã lãnh hội được tinh hoa của môn Thiếu Lâm, và cũng nhờ cơ duyên bà được gặp Ngũ Mai Lão Ni, từ đó học được tinh hoa của Võ Đang Thái Cực. Được sự chỉ bảo của hai đại cao thủ hai đại môn phái, với tố chất trời cho, bà đã nghiên cứu và chế tác ra môn phái mới, đó là Vịnh Xuân Quyền (hay còn được gọi tắt là Vịnh Xuân).

Con đường Vịnh Xuân vào Việt Nam - một vài lời của tác giả, thầy Trần Đắc Lợi, thế hệ thứ hai của Vịnh Xuân ở Việt Nam

Cụ Nguyễn Tế Công (tên thật là Yuen Chai Wan) còn được gọi là Cụ Tề Cống hay Tế Cống (1877-1960) là người đất Phật Sơn, tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc). Vào những năm 1930, cụ đến Việt Nam và truyền thụ môn phái Vịnh Xuân Quyền cho sư phụ tôi là cụ Trần Văn Phùng, cùng một số vị khác.

Là một trong số những đệ tử của cụ Trần Văn Phùng, được sự chỉ bảo của cụ, tôi cố nắm bắt và học hỏi thêm ở các sư phụ khác cùng anh em huynh đệ để củng cố cho kiến thức võ học của mình. Trong quá trình luyện tập, tôi chỉ mới hiểu rằng:

Âm dương và hư thực, mỗi quyền thức đều thể hiện sự tán ra và hợp lại, dùng tiểu khuyên làm chủ công (cổ tay, bàn tay), đó là sự nương đủ và thả quyền ra. Cộng với sự hư mà thực (trống không mà đầy đủ), rõ ràng lực tay nhẹ nhàng mà đầy uy lực - đó chính là sức mạnh của nhu và cương. Khi tập niêm thủ tôi cảm nhận thấy rõ khi nhanh, khi chậm, khi bên phải, khi bên trái, ở trên, ở dưới, ở đại khuyên, trung khuyên và nhất là ở tiểu khuyên đều có sự đối lập mà thống nhất. Tất cả điều này cấu tạo nên nguyên tắc cơ bản độc nhất của Vịnh Xuân Quyền, cần phải lấy tâm dụng ý, nhất cử nhất động đều lấy ý làm chính, không được dùng lực, ý động trước rồi hình theo sau, như vậy mới có thể đạt ý đến thì khí đến mà khí đến thì kình lực sẽ đến sau, tập luyện lâu sẽ thấu hiểu điều đó.

Với tất cả lòng say mê môn phái, tôi đã luyện tập được gần 20 năm nay và càng ngày càng thấy môn Vịnh Xuân quả là cao thâm, càng luyện tập tôi càng thấy mình chưa hiểu được là bao, chỉ với những bài tập không hoa mỹ, đơn giản, mà công năng ảo diệu vô cùng.

Với thời gian luyện tập, tôi xin viết một chút kiến thức mà bản thân đã cảm nhận được (chắc chỉ vào khoảng 20% lượng kiến thức võ học mà sư phụ tôi đã truyền dạy cho). Rất mong anh em cùng tập môn phái Vịnh Xuân đọc và góp ý. Tất cả thiển ý trên chỉ mong sao cho môn phái Vịnh Xuân mãi mãi tồn tại và phát huy theo con đường mà tông sư đã chỉ dạy./.

Hà Nội, đầu Xuân Tân Tỵ (tháng 3 năm 2001)

Tác giả, Trần Đắc Lợi, thế hệ Vịnh Xuân thứ hai ở Việt Nam
(Ảnh chụp tháng 02/2002)
---------------------------------

BẢY CƠ BẢN CỦA VỊNH XUÂN QUYỀN

1.      Luyện thở: (Thận khí qui nguyên công)

  • Luyện kình: Hàng ngày luyện quyền
  • Xoay thân
  • Đơn niêm thủ

2.      Luyện tập du đẩy hai người:

Luyện thuật đảo đan tay, ra vào tay hợp lý, ném tay, tập quyền, di thân đảo bộ, quay tay để phá lỏng vai, khuỷu tay và cổ tay.

3.      Luyện tập hai người:

Đánh đỡ tự nhiên, sơ cấp niêm thủ để hiểu rõ cách dính tay và ra đòn, đồng thời vừa niêm vừa di chuyển thân, chân.

4.      Luyện tập ba bộ quyền pháp cơ bản:

  • Tiểu niệm đầu
  • Tầm kiều
  • Tiêu chỉ

Đặc biệt trong bài Tiểu niệm đầu, người tập phải nắm vững chính xác vị trí của khuỷu tay, nội dung chủ yếu là phòng ngự trung tuyến và các động tác công, phòng đơn và kình.

5.      Linh giác:

Khi đã biết niêm tay, phải chú ý luyện linh giác (chú trọng tháo được ba khớp, cánh tay phải thật lỏng, sau luyện đả thủ). Thông qua niêm tay phải chú trọng luyện Liên hoàn bát thủ pháp trong Vòng tròn xa luân.

6.      Luyện tán thủ và 108 mộc nhân thủ: Luyện tập 108 động tác đánh cây gỗ (Mộc nhân) hoặc bảng thủ, với hai pháp: định bộ thân thủ (không dùng lực lấy hình và ý, dùng lực để luyện kình) và ra vào hợp lý kết hợp thân, chân, tay hợp nhất.

7.      Luyện tập vũ khí:

  • Bát trảm đao
  • Lục điểm bán côn

Bảy phần cơ bản trên, người tập phải chú ý:

·         Khi định bộ thân thủ (Kiềm dương tấn) hai người đều phải đứng gần, tỳ đẩy cho nhau, thông qua đẩy kéo sẽ nhận thức được lực đẩy, lực kéo, lực mượn từ trong đó, đồng thời sẽ đạt được sự vận dụng linh hoạt: cánh tay khúc mà không khúc, thẳng mà không thẳng, có lực mà không có lực... đồng thời thân pháp lên bình xuống thuận, phải nắm vững trọng tâm, không mất cân đối.

·         Khi bước đi phải tiến thấp thoái cao, nhẹ nhàng, linh hoạt, vững vàng, trường đùi, đá bằng bàn chân nhẹ như lông hồng lại nặng như núi Thái sơn. Kết hợp với du đẩy hai người sẽ nắm vững lai lưu khứ tống của bộ pháp và thủ pháp.

·         Khi song thân niêm thủ, điều cao là cổ tay triền kình, đó chính là luyện tập cao cấp của cảm giác tay.



MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CĂN BẢN

CỦA VỊNH XUÂN QUYỀN


Vịnh Xuân Quyền có phong cách độc đáo, các chiêu đa dạng, tổ chức đơn giản, vô chiêu vô thức, vận dụng sức mạnh linh hoạt, có tính đàn hồi cao, rất mạnh tính chiến đấu.

Với nguyên lý Trường, Trung, Đoản:

  • Trường Kiều: vận khí, luyện gân
  • Trung Kiều: xung quyền
  • Đoản Kiều: tự bảo vệ

Vận dụng đoản kiều để tránh mã, sở trường để phát huy kình lực, ngoài ra lấy cánh tay, cùi trỏ, cổ tay, bàn tay, ngón tay làm các loại thủ hình, cộng với thân pháp lật bản lề độc đáo, bộ pháp kiềm dương tấn, khi chuyển bộ có dùng ý chân của hạc thân, đồng thời cảm giác bằng độ nhanh nhẹn của da thịt. Phát huy quyền thuật nội gia để tăng sức mạnh.

Đặc điểm luyện thân pháp của Vịnh Xuân

Buông lỏng thân, chùng chân khép gối, hai bàn chân bằng vai, bụng lỏng, cổ chân buông lỏng, bàn chân bám chặt đất. Từ cổ chân đến thân phải có độ đàn hồi (đó là sự nhịp nhàng của thượng, trung, hạ).

Lấy ý đẩy khí, ý đến khí đến, lấy khí thôi lực, tay mắt cùng theo, tâm tới chân tới, thân tới bộ tới, bộ tới quyền tới, quyền tới thì ý sẽ tới.

Khi luyện tập lấy tĩnh chế động, khi tĩnh thì im như núi đứng, khi động thì nhanh như gió xoay, đó là đặc điểm chủ yếu của nội gia công phu Vịnh Xuân Quyền.

Pháp công thủ chủ yếu của Vịnh Xuân

Vịnh Xuân lấy trung tuyến làm lý chính, đó chính là nhãn hiệu cùi trỏ treo, khi xuất thủ phải chiếm đường vuông góc của ngực. Đó là pháp công thủ chủ yếu của Vịnh Xuân. Người luyện tập nhất định phải thủ trung tâm, chính ở trung tâm này mà làm cho các động tác của đối phương chỉ có thể ở ngoại vi. Khi sử dụng tay yêu cầu khoảng cách phải theo tiêu chuẩn sau:

  • Thượng bất quá mắt
  • Hạ bất quá bụng dưới
  • Trái phải không quá vai

Tất cả các nguyên tắc trên làm tay xuất quyền nhanh và thu về càng nhanh. Nó có tác dụng công thủ quyết liệt, biến hoá đa dạng, đồng thời khi khuỷu tay làm trung trục thì cánh tay và bàn tay sẽ chuyển động ở bất cứ góc độ nào và sinh ra một uy lực vô cùng. Vị trí cánh tay phải giữ khoảng cách một quyền với thân thể (đó là cánh tay treo), đây chính là mục đích tăng cường sức, gân của cánh tay, tăng cường sức tấn công lót thân.

Phép chi sao trong Vịnh Xuân Quyền

Sự cốt tử chính trong quyền thuật Vịnh Xuân là pháp chi sao (niêm thủ). Đó là đặc điểm lợi dụng nghe lực của tay mình mà biết ý người, người động, người tĩnh, biết người trốn tay, người có tay người không tay, biết tiến thoái, đó là một phương pháp huấn luyện tâm lý và cảm giác của da cánh tay và cũng như toàn bộ tay: cánh tay, cẳng tay, cổ tay và bàn tay. Với công phu luyện, người tập sẽ có cảm giác nghe được sức (lực) xuất ra của người đối luyện (cảm nhận lực), vì niêm tay không phải là một cách đọ sức quyết liệt mà chính là một cách bồi dưỡng cảm giác nhạy cảm của cánh tay, đồng thời cân đối với cảm nhận phương hướng. Tập lâu phương pháp này không chỉ có thể thấy rõ và nghe được động cơ và ý đồ của người cùng tập, quan trọng hơn nữa là thông qua niêm tay giúp cho việc bồ dưỡng gân lực không ngừng phát triển, vì khi niêm tay sự cọ xát qua da thịt sẽ được thẩm thấu vào tâm và đại não. Não bộ kịp thời phát ra hiệu lệnh đến tay, để từ đó nghe ra chỗ cứng, đờ của người cùng tập, đồng thời từ não bộ sẽ tự vận dụng phương pháp không giống nhau để ứng phó. Sự niêm thủ có thể nói là một cách độ tâm sức quyết liệt cao sâu nhất. Khi tập pháp này, người luyện luôn phải nhớ rõ:

  • Bụng luôn lỏng
  • Khí luôn phải ở đan điền (thở sâu, nhẹ)
  • Bình chân, háng, gối thoải mái, bàn chân vững như núi Thái sơn

Sau khi thân thủ buông lỏng thoải mái, hai người cùng tung tay ra luyện niêm thủ. Khi đẩy tay phải chuẩn, không sợ hụt, phản. Khi kéo và nâng tỳ phải nhanh. Luyện một thời gian sẽ thấy sự tuyệt diệu ở trong đó. Nguyên tắc tập là đánh vào trọng tâm người cùng luyện, làm cho người đối tập mất thăng bằng. Mọi người luyện tập đều phải lấy cơ bản gốc của Bát thủ pháp làm nền tảng chính, khi quay tay cần phải áp dụng Liên hoàn bát pháp Vịnh Xuân. Khi sử dụng niêm thủ cần chú ý:

  • Lấy phóng, chèn, đập (xà, hổ, hạc) làm chiêu thức;
  • Lấy đoản kiều làm chủ;
  • Lấy pháp công làm thủ, lấy chủ làm hoà;
  • Không được thừa và thiếu.

Thủ pháp biến hoá đa dạng có thể phát huy tác dụng trong một khoảng cách đa dạng, đấy chính là uy lực và huyền bí của Vịnh Xuân Quyền.

Còn một điều cao sâu hơn cả là phương pháp luyện lực của Vịnh Xuân. Căn cứ theo nguyên lý:

  • Không dựng trường kiều không thể đạt khí, không dùng đoản kiều không thể tự lo (tay ném dài để đạt gân và khí, tay ngắn có thể tự bảo vệ),
  • Theo phương pháp lực phải lưu thuỷ, không đứt đoạn, uy lực phải mạnh mẽ.

Người luyện lực phải hiểu rõ sức mạnh nhu quyền của Vịnh Xuân chính là giật đột ngột một giải lụa (lực ly tâm) mà sức giật nhờ người đối luyện, chỉ có sự luyện tập lâu dài mới thấu hiểu được điều này.

Cước pháp

Trong quyền Vịnh Xuân còn phải nói đến cước pháp, với 5 ngọn: Thốn, quải, liêu, sát, thái (đạp, quét, gối, phóng chân, tỳ chèn). Tuy nhiên, sự luyện tập phải có sự phối hợp nhuần nhuyễn của thân thể với sự vô thức của tay (thân, chân, tay hợp nhất).

Tất cả các phương pháp nói trên chỉ được luyện tập sau khi đã qua luyện tập cơ bản.

Tấn pháp (Mã bộ)

Cơ bản gốc gồm có tấn pháp (mã bộ) và bài Tiểu niệm đầu (thủ đầu quyền).

  • Nhị tự kiềm dương tấn
  • Kiềm dương xoay
  • Kiềm dương di chân trụ

Mục đích chính của luyện mã bộ là làm cho thân thể dẻo dai, bàn chân bám chặt đất, các khớp háng, gối, mắt cá chân phải lỏng. Khi di chuyển phải nhẹ nhàng linh hoạt, dùng ngón chân chuyển bộ làm chính. Khi định bộ mã hai người phải du đẩy cho nhau để đạt sự cân bằng khéo léo.

Tiểu niệm đầu

Khi luyện xong mã bộ thì chuyển sang pháp luyện Tiểu niệm đầu (còn gọi là Tiểu luyện đầu, khi đạt đến cao cấp mới gọi là Tiểu niệm đầu). Tiểu niệm đầu chính là cơ bản công của Vịnh Xuân Quyền.

Tiểu luyện đầu và Tiểu niệm đầu chiêu thức là của nhau nhưng hàm ý hoàn toàn khác nhau - Một tập hình, một tập ý. Nếu Tiểu luyện đầu là cơ bản công phá của Vịnh Xuân thì Tiểu niệm đầu là tu luyện âm nhu thông qua vận khí và dụng ý để đạt đến trình độ cao nhất không lộ. Trong quá trình tập luyện Tiểu niệm đầu không được phép tập nhanh và liều lĩnh, phải luyện chậm chạp và thuần thục, sau khi nhớ không sai mới thêm ý niệm vào phối hợp hô hấp. Nội phải đề khí, ngoại phải tuỳ ý, luyện được tuỳ ý, tẩu ý bất tẩu thần thì mới làm nền tảng cho phép Tầm kiều (tìm tay) về sau. Khi tập, lấy tinh thần chậm làm chính, đưa tay ra dụng hô, thu tay vào dụng hấp. Luyện được có thể vận dụng thân thể và ý niệm sức lực chớp nhoáng, đó chính là nội lực âm nhu và cách biến ảo để lấy nhu chế cương của quyền thuật Vịnh Xuân. Khi Mã bộ và pháp luyện Tiểu niệm đầu đã tốt đó chính là lúc xảy ra Tứ tượng bát thiên cân để hoá giải công kích đối thủ. Chú ý khi luyện quyền phải buông lỏng toàn thân, ý niệm tập trung khi xuất thủ, lực nhẹ ý nặng, cố gắng phát huy xảo lực (mượn sức người cùng luyện) đồng thời phải xoá ý nghĩ mờ ám. Lưỡi đầy vòm họng, đề giang thu thận, hơi thở tự nhiên. Điều này mang tính thực dụng rất mạnh, có quan hệ đến thành bại Vịnh Xuân Quyền trong khi giao chiến. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho mỗi người tập Vịnh Xuân Quyền là đều phải ghi nhớ một cách nghiêm túc các yếu lĩnh, động tác, và phải tiến hành khổ luyện thì mới có thể bước xa hơn nữa trên con đường võ học.

 

KHÁI NIỆM CÔNG - HÓA - HÒA

THAY CHO LỜI KẾT

Sau một thời gian dài tập luyện (18 năm) tôi mới hiểu được câu: Công - Hóa - Hòa làm chủ, còn lối cũ lấy Hòa - Hóa - Công, theo tôi là đúng mà cũng không hẳn đúng, vì văn tự của người Trung Quốc được đọc (và hiểu) từ phải sang trái. Nguyên lý Công - Hóa - Hòa, với sự thiển cận của tôi có thể diễn giải như sau:

  • Công tức Thủ
  • Hóa tức Công
  • Hòa là Niêm dính

Theo chân lý "Đạo bất sinh bất diệt", người viết một lần nữa rất mong mọi người luyện tập môn Vịnh Xuân Quyền đều đạt được như ý để Vịnh Xuân Quyền Việt Nam mãi mãi tồn tại và phát triển.

Chúc viên mãn.

Đông Các - Hà Nội, 30/3/2001

Trần Đắc Lợi

   

Tông sư Nguyễn Tế Công và các học trò thế hệ Vịnh Xuân đầu tiên ở Việt Nam (Ảnh chụp vào những năm 1950 tại Hà Nội)

 


Trên đường sang Giếng Chén
Hương Sơn, tháng 3/2003

 

Tác giả:                            Trần Đắc Lợi

Trình bày bìa, biên tập:     Nguyễn Thanh Linh

                                          Hồ Đắc Hiếu

                                          Phạm Thanh Liêm

Hiệu chỉnh:                        Trần Đắc Lợi

Hoàn thiện:                        Đông Các (Hà Nội) tháng 3/2001

Tái bản lần thứ hai:            Hà Nội, tháng 3/2005

Thơ Vịnh Xuân


ĐẠO QUÁN VỊNH XUÂN HÀ NỘI
Chi phái Cụ Trần Văn Phùng

- &  -

 MỘT SỐ VẦN THƠ

về

MÔN PHÁI VỊNH XUÂN

(tài liệu lưu hành nội bộ)

  

 Hà Nội, tháng 6/2004

LỜI TỰA

Là một đệ tử của Vịnh Xuân, học trò của thày Trần Đắc Lợi (thuộc chi phái Cụ Trần Văn Phùng) thế hệ Vịnh Xuân thứ hai ở Việt Nam, tôi, người viết bài này, chỉ muốn góp một phần nhỏ những gì mình được thày Lợi truyền thụ trong thời gian luyện tập cũng như trong những buổi đàm đạo về võ học cùng anh em đồng môn trong chi phái, để có được những vần thơ mang tinh thần môn phái, cũng không ngoài mục đích để cho Vịnh Xuân Việt Nam ngày càng phát triển, theo đúng con đường mà Tôn sư đã chỉ dạy và Sư phụ đang truyền lại cho chúng tôi, và thế hệ sau.

Bản thảo chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, những hiểu biết chưa được tường minh, rất mong anh em đồng môn trong chi phái xem xét, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện.

Hà Nội, tháng 6/2004

Phạm Thanh Liêm
-------------------------------------------

        Ở đời không có ngộ, nghi
        Thì trong thiên hạ làm gì có tin?
([1])

Với người theo học Vịnh Xuân
Đôi điều lịch sử cũng cần nắm qua
Năm 40 ở nước ta
Dưới ách đô hộ của ba loại người
Giặc Tàu, giặc Nhật, giặc Tây
Cả ba cùng muốn làm thầy Việt Nam
Toàn dân trong cảnh lầm than…([2])

Được Hoa kiều Hội mời sang
Có một cao thủ, từng làm bảo kê
Phật Sơn một cõi đi về
Sách xưa để lại tự đề Tế Công ([3])
Giang hồ ngang dọc biển Đông
Mình Cụ đã đánh ngã không ít người
Tin đồn Cụ một địch mười…
Giang hồ đất Việt bao người xin theo
Chiến tranh, ly tán, hiểm nghèo
Làm trai thời loạn, xin liều kết giao

Dường như lịch sử đã trao
Vịnh Xuân do Cụ đưa vào Việt Nam. ([4])

Học trò theo Cụ khá đông
Sau rồi điểm lại được không mấy người
Thế gian vật đổi sao dời,
Năm 54, Cụ di dời vào Nam (1954) ([5])
Học trò đất Bắc lang thang
Mạnh ai nấy học một đàng phát huy ([6])
Cụ Vũ Quý ở Hải Dương
Cụ Ngô Sỹ Quý đảm đương chính quyền
Cụ Tiển sau cũng quy tiên
Cụ Phùng bảo vệ tận trên Ba Đình…

Học trò thuộc thế hệ hai
Muôn hình muôn vẻ, lắm người tài ba

Thày tôi chi phái Cụ Phùng
Được học của Cụ từ ông Định “còi” ([7])
Cũng là duyên phận phải thôi
Đến khi thày gặp Cụ ngoài 83
Tất nhiên là Cụ đã già
Thế mà khí phách vẫn như thuở nào
Học trò từ thấp đến cao
Giày đinh Cụ đá, biết bao nhân tài ([8])
Nhiều người phát sợ chạy dài...

Năm 87, Cụ băng hà (1987)
Thày tôi theo học Cụ là 4 năm
4 năm tập luyện quên đời
Thày cùng một số những người đồng môn:
Trưởng môn, anh Tuấn hãy còn ([9])
Anh Châu họa sỹ vẫn luôn đến Thày ([10])
Anh Định thân pháp rất hay ([11])
Giang hồ ca tụng bàn tay bằng vàng
Anh Sao, đệ tử cuối hàng... ([12])
Và bao cao thủ trong làng Vịnh Xuân
Anh em bạn hữu xa gần
Chỉ trong chi phái cũng gần vài trăm
Ngày Rằm tháng 11 hàng năm ([13])
Là ngày giỗ Cụ, mộ phần ở Canh...
 
                            *
                           * *
Là đệ tử của Vịnh Xuân
Khái niệm cơ bản rất cần hiểu sâu
Sao cho luôn ở trong đầu
Như rễ, như gốc, ngấm vào tận xương.

Trước tiên là tấn “Kiềm Dương” ([14])
Hình tượng dê núi xuống đường thật hay
Khuỵu chân, lỏng gối, đầu ngay
Thẳng lưng, lỏng bụng, thả tay hoàn toàn
Hai bàn chân đạp sang ngang
Lòng bàn chân bết lực càng xuống sâu
Giữ cho thanh thản trong đầu
Phù trên, trầm dưới nhiệm màu lạ thay…

Rồi đến tấn “Kiềm Dương xoay”
Vặn người qua lại trục quay ở mình

Tập dần đến “Kiềm Dương di”
Búng lên chân trước, phải chì chân sau

Tiếp theo tập đến Thủ Đầu ([15])
36 động tác nhiệm màu thật hay
Thu về trong một đường tay
Triền kình ra cổ, lực ngay tức thì…

Sau rồi luyện đến Mộc nhân ([16])
108 động tác hóa thân vào mình
Giang hồ nhiều trận thất kinh
Ngày xưa Cụ đã bao lần bảo kê
Nhật, Tây không thấy đường về…

                            *
                           * *
Bản năng vốn ở cơ co
Với người mới tập thường do giật mình
Tâm thần bấn loạn mất tinh
Mình tự kéo mình, bổ vào đối phương
Bị đòn, khốn khổ ai thương?
Vậy nên phải luyện trong đường quay tay
Định bộ thân thủ hàng ngày
Kiềm Dương tự mã” hăng say luyện rèn
Xả kỷ” song luyện một phen
Một người phát lực người kia nghe đòn
Chuyển sang lực xoắn toàn thân
Cốt sao chuyển lực được dần xuống chi
Nửa thân dưới nặng như chì
Nửa thân trên vẫn du di nhẹ nhàng

                            *
                           * *
Mạn đàm về phép “chi sao”
Còn như tiếng Việt gọi là niêm tay
Đây là một phép rất hay
Người tập không thể đôi ngày biết qua
Phải chừng 6 tháng trở ra
Sư phụ khai dụ mới là quay tay
Yêu cầu cho được ở đây
Ba khớp vai, chỏ, cổ tay nhịp nhàng
Bước này như thể sang trang
Tập luyện kỹ càng mới được bền sâu
Thời gian nhanh chậm, mau lâu
Càng lâu càng chậm, càng sâu càng dày
Ra vào như thể gió mây
Đồng nhất là một sợi dây đàn hồi
Làm sao lực cổ tay thôi
Hai bàn tay quyện đôi người giằng co...

Quay tay luôn nghĩ đến chân,
Trên phù dưới trầm mới đạt về sau
Tịnh không nghĩ ngợi trong đầu
Cổ tay niêm dính với người đồng môn
Trước sau, nặng nhẹ, vuông tròn,
Cái theo vô thức là còn về lâu.
Võ học cao thấp, nông sâu
Một đường tay gặp biết nhau tức thì
Lai lưu khứ tống” thực thi
Người đến ta đón, người đi theo liền
Mở tâm ta nhận bạn hiền
Bám dính cuốn chặt cho liền bước đi
Cả khi định bộ lẫn di
Giữ cho tâm định mới thì cao thâm
Khi cần nhắm mắt dưỡng thần
Vòng tròn bát pháp thu dần tiểu khuyên. ([17])

Quay tay đâu chỉ lấy hình
Đều đều ru ngủ, vô tình làm sao?
Phải như gió giật, sóng trào
Lúc như bể lặng, làm sao biết chừng?
Cũng có khi đột ngột dừng
Yêu cầu người tập không ngừng giữ “niêm”
Phải người có chí thì nên
Quyết tâm mài giũa cũng liền vài năm.

Sấp ngửa là phải rõ ràng,
Treo chỏ, trầm chỏ, lại càng trì tay
Giữ khung đôi lúc rất hay
Là cơ bản gốc, hàng ngày vẫn treo
Khi nào đạt tới chữ “khuôn”,
Phá tan cái bó, trở về với không
Luyện tập hai chữ Có, Không
Vài chục năm ròng, có chí thì nên…

Đánh người trước phải đánh mình
Ra vào phù hợp vô tình sẽ cao…

                            *
                           * *
Trăng mãi đến rằm trăng tròn…
Lời Cụ Phùng dạy, hãy còn bên tai ([18])
Cũng xin nhắc nhở cùng ai
Vịnh Xuân theo học, đường dài gian truân
Tâm định, lòng chớ phân vân
Con đường Thày đã vài phần đi qua

Thuật ư, cốt ở như ta
Dưỡng cho tâm tốt, chữ hòa là trên

Trong hòa có hóa, có công
Cứ theo ý tập lấy công làm bền

Nhất nhớ, nhì chậm, ba mềm,
Ra vào uyển chuyển làm nền mà thôi
 
Cứng thì phá, đẩy, kéo, lôi,
Nhẽo thì ta cứ phệt ngay tức thì
Không có gì, phóng ra đi
Nhận đòn cho ngộ đến nghi là vừa
 
Lực ra không thiếu không thừa
Vuông tròn, Châu Bá ngày xưa đã làm ([19])
Nâng, tỳ, vít, đẩy miên man
Phóng, chèn, chấn, chỏ, liên hoàn triển khai ([20])
Con đường luyện tập còn dài
Thực hành bát pháp, cả hai cùng làm

Sóng lên mà đẩy thuyền lên
Hai người cùng luyện lấy bền nội gia
Anh em bốn bể là nhà
Trong ngoài như một đậm đà tình thương...

Vịnh Xuân ai hiểu mới theo
Bao năm mới đạt đến điều đam mê…

Nội, tháng 6/2004

Phạm Thanh Liêm

 

Lễ Khai tay đầu xuân Nhâm Ngọ (2002)
(Đứng : Tuấn con, Hiếu luật
Ngồi : Thành dã nhân, Đức, Liêm, An, Huy đạo sỹ, anh Lợi, anh Hiệp đồ tể)

Ảnh bìa : Đường sang Giếng Chén, đỉnh Bà Lồ, Hương Sơn (tháng 3/2003)
(từ trái qua : Bình, Hiếu luật, Nguyên, Cường con (trên cây), anh Tư Thật,
Linh họa sỹ, An, anh Lợi, Liêm, Thành phim – Ngồi : Sinh Thạnh)

([1]) Thày tôi thường nói: “Có nghi mới có ngộ, từ ngộ mới đến tin”.
([2]) Thời kỳ Việt Nam giai đoạn 1935-1944 (trước Cách mạng tháng Tám, 1945).
([3]) Sử cho rằng Nguyễn Tế Công (Yuen Chai Wan) sinh năm 1877 tại đất Phật Sơn, là con thứ tư trong gia đình một thương gia giàu có sở hữu một xưởng làm pháo hoa trên đường Zhenbai. Thời niên thiếu ốm yếu, ông còn được gọi là Dao Pei Chai (Chai đậu mùa). Đầu những năm 1900, cha của Yuen đã mời quyền sư nổi tiếng Phúc Bảo Châu dạy Vịnh Xuân cho hai con (người em trai ông là Nguyễn Kỳ Sơn, sinh năm 1880). Sau nhiều năm luyện tập chuyên cần với Phúc Bảo Châu được một nền tảng võ công nhất định, anh em họ Yuen xin học vị võ sư Vịnh Xuân lừng danh là Phùng Tiểu Thanh (lúc này 70 tuổi). Ông Thanh đã dạy võ và được chăm sóc taị gia đình họ Yuen cho đến khi mất lúc 73 tuổi. Ở Phật Sơn, Yuen Chai Wan dạy cho một số học trò trong đó có Yiu Choi. Khoảng những năm 1930 ông được Hội Hoa Kiều mời sang dạy Vịnh Xuân ở Việt Nam. Đầu tiên ông đến Hải Phòng, sau chuyển về Hà Nội. Ông làm quản gia cho một gia đình Hoa kiều, định cư ở phố Hàng Buồm.Tại đây, ông đã truyền dạy Vịnh Xuân cho nhiều Hoa kiều và người Việt. Ông được biết đến với tên tiếng Việt là Nguyễn Tế Công. Đến năm 1954, ông vào miền Nam Việt Nam và thu nhận thêm một số học trò nữa. Tôn sư Nguyễn Tế Công mất năm 1960, thọ 84 tuổi.
Em trai ông (Nguyễn Kỳ Sơn) ở lại đất Phật Sơn, sau đó đã có những trao đổi võ học với các đại cao thủ của Vịnh Xuân thời đó như Lương Tán, Trần Hoa Thuận và Ngô Trọng Tố. Ông đã dành nhiều thời gian trau dồi và phát triển các kỹ năng và triết lý của Vịnh Xuân. Mặc dù làm luật sư ở Phật Sơn, Nguyễn Kỳ Sơn dành phần lớn thời gian để tập luyện Vịnh Xuân mà ông yêu thích và tụ tập với bạn bè, nhiều người trong số họ gọi ông bằng cái tên “Chú Năm” hay “Già Năm”. Nguyễn Kỳ Sơn không nhận dạy trong nhiều năm nhưng sau đó ông đã nhận Sum Nung (từng là học trò của Cheung Bo) là học trò. Ông cũng dạy Vịnh Xuân cho người bạn, Wong Jing (từng học với Lai Ying hay Jiu Chao).
([4]) Có thể cho rằng Tôn sư Tế Công là vị Tổ sư của môn phái Vịnh Xuân ở Việt Nam (tên đầu tiên của môn phái được dùng là Thiếu lâm Vịnh Xuân Phật gia).
([5]) Theo lời thày tôi được nghe kể lại từ Cụ Phùng, năm 1954 Cụ Tế Công cùng gia đình bác sỹ Việt Hương di cư vào Nam, vài năm sau Cụ mất tại khu Hoa Kiều Sài Gòn.
([6]) Học trò thế hệ Vịnh Xuân đầu tiên ở Việt Nam (theo bức ảnh họa sỹ Đỗ Tuấn còn lưu lại được) gồm: Cụ Trần Văn Phùng (còn gọi là Độc Nhỡn Long, 1900-1987), Cụ Nghi ( - ), Cụ Lâm ( - ), bác sỹ Việt Hương ( - ), Cụ Trần Thúc Tiển (1912-1980) hậu duệ là bác sĩ Nguyễn Mạnh Nhâm, anh Sinh (Trần Thiết Côn), anh Lễ, anh Nội (Nguyễn Ngọc Nội), Cụ Vũ Bá Quý (còn gọi là cụ Quý Hải Dương, hậu duệ là anh Nguyên/anh Mỹ, chi phái Vũ gia thân pháp), Cụ Ngô Sỹ Quý (còn gọi là cụ Quý Cầu Giấy, hậu duệ là bác sĩ Hoàng Quốc Toàn, chi phái Ngô Gia Hoàng pháp), anh Trần Hậu Tuấn, và một số người ở Nam Việt Nam như Cụ Nguyễn Duy Hải/Hồ Hải Long (1917-1988), Cụ Lục Vĩnh Khai và những người khác như võ sư Trình Nam Anh, Trình Nam Giao…
([7]) Anh Định “còi” - Trịnh Quốc Định (1958-2012) là sư huynh của thày tôi, theo học Vịnh Xuân của Cụ Phùng trước thày tôi chừng 5 năm, và là người đã dẫn thày tôi lên học Cụ Phùng. Anh Định đã mất vào hồi 07h10 phút ngày 19 tháng 12 năm 2012 (tức ngày mùng 7 tháng Mười Một năm Nhâm Thìn).
([8]) Thày tôi thường hay kể, Cụ Phùng hay đi giày Cosaghin của Nga trong khi luyện cùng học trò, và học trò thường xuyên bị Cụ dẫm, đá vào chân, làm nhiều người sợ không dám theo học.
([9]) Họa sỹ Đỗ Tuấn, hiện là Trưởng môn Vịnh Xuân chi phái Cụ Phùng, hiện có mở lò dạy Vịnh Xuân ở đường Bạch Đằng, Phúc Xá, Hà Nội.
([10]) Vợ chồng anh Châu họa sỹ (Mai Ánh Châu), là bạn đồng môn với thày Lợi (1956- 2007). Anh Châu đã mất cuối năm 2007.
([11]) Anh Định “còi” (Trịnh Quốc Định) có thời được giới Vịnh Xuân Hà Nội tôn danh là người có “đôi bàn tay vàng”.
([12]) Anh Thái Bá Sao (1960- ), được coi là đệ tử cuối cùng của Cụ Phùng. Anh cũng là người được anh Định dẫn lên học Cụ Phùng. Nghe đồn khi Cụ mất (năm 1987), anh đã khóc 3 ngày 3 đêm ở mộ Cụ (anh Lợi kể).
([13]) Ngày 15 tháng 11 năm 1987 (Âm lịch) là ngày giỗ của Cụ Trần Văn Phùng. Các thế hệ học trò hàng năm vào ngày này vẫn đến thắp hương tại mộ Cụ, hiện được an táng tại quê nhà, làng Canh (Lai Xá), huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.
([14]) Tấn Kiềm Dương là bộ tấn căn bản của Vịnh Xuân.
([15]) Bài Thủ Đầu Quyền (hay còn gọi là Tiểu Niệm Đầu) là bài quyền cơ bản của Vịnh Xuân.
([16]) Bài Mộc nhân thủ với 108 động tác đánh cây gỗ động chôn xuống đất, điểm khác với Vịnh Xuân Hồng Công đánh Mộc bảng thủ hay treo trên giá đỡ.
([17]) Như lời Thày dạy, vòng tròn quay tay có 3 vòng: Đại khuyên, Trung khuyên và Tiểu khuyên.
([18]) Đây là câu Cụ Phùng thường nói với học trò khi luyện tập.
([19]) Châu Bá Thông, một nhân vật trong truyện Chưởng của Kim Dung, với thuật tách tay vuông, tay tròn.
([20]) 8 thủ pháp căn bản của Vịnh Xuân.

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2023

Ngày về

Cho con trai:

Thôi thế là đời an bài
Ngày mai thôi đến ngày mai, cha về
Chả còn những buổi chiều quê
Chả còn vương vấn lời thề của ai

Chợ tàn héo hắt giêng hai
Phận người âu đến ngày mai, đủ rồi
Đành rằng nước mắt chảy xuôi
Cuộc đời này vẫn cuộc đời của con

Mới hay sông cạn bể mòn
Mấy ai lấy được thời gian để dành
Với cha việc ấy cũng đành
Phận mình cha biết loanh quanh được rồi

Thương người cũng thế mà thôi
Có ai đi tiếc một đời phù hoa

Cha về với mẹ của cha
Mà con quen gọi là bà của con
Một mai con sẽ lớn khôn
Rồi thời gian sẽ cho con thành người

Cha về, thương nhớ dần nguôi
Đời con con nhớ kiếp người qua nhanh
Rồi con cũng sẽ trưởng thành
Thời gian con sẽ thành ông thành bà

Cuộc đời rồi cũng sẽ qua
Lòng trần rồi cũng một nhà thiện tai
Ước ao con ạ, an bài
Những lời cha dặn, ngày mai cha về

Ru đời một kiếp lê thê...

Gửi mẹ kính yêu:

Mẹ già kịp đến thăm con
Gió mưa lạnh lẽo một mình đạp xe
Thương con tai nạn mà què
Một đường quan lộ ai dè, dở dang...

Dòng đời một chuyến xe tang
Thời gian kịp tính ra ngàn ngày quên
Đời người canh mộng triền miên
Đêm tàn mới biết chiều quên lại chiều

Dòng đời rặt tiếng cuốc kêu
Nợ đời kịp trả, còn nhiều không đây
Cuộc đời tỉnh cũng như say
Lòng người hỏi mấy ai hay được lòng

Bao lần tin cứ tưởng xong
Bao ngày con cứ mải mong ngày về
Mà đời thì cứ lê thê
Tháng Ngâu rồi lại Tết về, giêng hai

Con còn tin một ngày mai
Thu tàn đông úa đào phai mặc lòng
Thôi đành duyên phận cho xong
Chuyện đời con cũng chẳng mong điều gì

Cũng là một chuyến ở đi
Buồn vui âu cũng chỉ vì thời gian
Có bao nhiêu việc định làm
Giờ không còn kịp, sao tàn mẹ ơi...

Ngày mai ngày mẹ về rồi
Biết bao giờ mẹ lại ngồi cùng con ?
Thời gian sao cứ mỏi mòn
Người sao chỉ biết còn con một mình
Khi nào hết chuyện mưu sinh
Người đời đặt mẹ con mình cạnh nhau

Và ngày ấy đến bao lâu ?

Hai hàng mộ xếp cạnh nhau
Con nằm bên mẹ gối đầu, mẹ ơi
Ai người than khóc cho tôi
Để tôi lại thấy mẹ ngồi thân thương?

Ăn vạ đời

Này Hồng, này Thúy, này Thao
Này Na, này Mận, này Đào, này Xoan
Này Bích Diệp, này Hồng Loan
Ngày tôi lành bệnh, em sang kiếp nào ?

Ước gì đời nói : - chả sao
Ngày xưa - chả nhớ, khi nào - chả quên
Ước ngày xin chuyển thành đêm
Ước tình vô phúc tìm quên cuộc tình
Ước sao mình chẳng là mình
Người xinh làm vốn, em tin đồng tiền.

Thương đời có một gã điên
Vô duyên ngồi khóc, bắt đền thế gian

Què rồi, cho hết lang thang…

Hà Nội, đi làm tháng 9/2006

Dặn con

        Tặng con trai thân yêu

Hôm nay con biết giúp cha
Nâng cha ngồi dậy, gọi bà ăn cơm
Năm tuổi đầu, có ai hơn
Thương cha con khóc, con buồn vì cha
Loanh quanh con muốn ở nhà
Không đi mẫu giáo, sợ cha một mình…

Con ơi, câu chuyện vô tình
Phận cha cha chịu, tội mình cha mang
Nhiều đêm mơ kiếp lang thang
Xót xa trăm nỗi, đa mang cuộc đời
Nhân gian bao chuyện khóc cười
Lòng cha phiền muộn, đầy vơi thế nào?

Đời dài mà ngắn con ơi
Ba mươi tám tuổi ông Trời phạt cha
Bỗng dưng nằm liệt ở nhà
Bỗng dưng ngồi đếm người ra kẻ vào
Cũng may chửa đến nỗi nào
Hơn ba tháng, cũng là bao nỗi niềm
Thương con đau ốm liên miên
Mẹ con chẳng khỏe lại thêm nhọc nhằn…

Cầm lòng cha lại ăn năn
Cầu mong con lớn, cho bằng thế gian
Còn bao việc sẽ phải làm
Đời cha không kịp, dở dang chẳng đành

Cây có gốc mới nảy cành
Ước mong con sẽ thành danh với đời
Quên đi câu chuyện khóc cười
Sống bao dung giữa tình người bao dung…

Cha về, hai chữ: sắc, không…

Hà Nội, những ngày dưỡng bệnh, tháng 6/2006

Chuyện của Giời

Gió mang ta đến xứ người
Mây gieo oan trái của đời sang em
Mưa tuôn rát mặt cửa Thiền
Dông sang bên ấy tìm quên một người
Sấm làm căn bệnh của đời
Chớp như tiềm thức một thời xa xưa…

Một đời đau đáu gió đưa
Mây giăng giăng hết, bao giờ mưa tan ?
Dông đi rũ sạch đại ngàn
Sấm về với chớp, lan man chuyện đời…

Nắng lên làm mắt bão thôi
Heo may Đông Bắc, kịp mời trầu cau ?

Hà Nội, những ngày dưỡng bệnh, tháng 6/2006



Phận nghèo

Chồng chết, chị thương hạt gạo
Bốn tháng lúa non trổ đòng
Quê nghèo một vụ
Ba phần người, bảy phần ngợm héo hon

Hai mươi năm
Lặng lẽ tang chồng
Quên thời con gái
Mặc miệng thế gian cười, oan trái
Chị về với tháng năm

Cháu nội chưa mọc răng
Khăn gói gió mưa đi tìm kẻ chợ
Bấm đốt cố mươi mùa làm Osin nữa
Đặng vui về với cháu con
Một kiếp nghèo,
        duyên chị
                biết ai hơn ?

Hà Nội, đêm 22/2/2006

Mơ về thôn Vĩ

Huyền ơi, giá em ở đây
Huyền ơi, ta ước kiếp này quên em
Đêm suông, trăng có hơn đèn ?
Ta thương thương quá, rồi tin cuộc đời
Lan ban câu chuyện khóc cười
Xa em xa quá, lại ngồi thương em
Ru tình, ru lại từng đêm
Vô thường, quen lạ, lạ quen kiếp người

Huyền ơi, anh nhận ra rồi
Thế gian tin chuyện dở hơi, chúng mình…

Hà Nội, đêm 22/2/2006


Phận người

Cuộc đời, ta tạm chia ba
Chót qua hai chặng, gọi là rong chơi
Tin yêu xin trả lại người
Đam mê, ta trọn một đời đam mê
Thương người ươm tận sơn khê
Bao giờ ta ngộ lời thề trong ta ?
Loanh quanh thấy một tuổi già
Chiêm bao nốt một phần ba phận người
Chót tin, ôm chuyện đã rồi
Chót thương, xin nguyện phần đời đi qua
Thương rằng, ta lại là ta…

Giá đừng, em hẹn mùa xuân
Giá đừng, ta cứ bâng khuâng chuyện người
Không dưng gieo nợ cho đời
Thương ai, tin cả một lời trăng hoa
Xót thân em, phận thật thà
Ta buồn, thương, giận, mẹ cha cuộc đời…

Chiều 20/2/2006, Hà Nội

Viết gì

Viết gì
Bạn ta bảo, viết gì
Hai mươi năm rồi, có lẻ
Ngóng thời gian, quên mất cả xuân về
Dòng đời, sao vẫn lê thê
Tìm người, một thoáng đi về, còn ai?

Vẫn tin rằng, một mai
Khi sao rơi, trăng còn không
Trời rộng
Vu vơ khóc, vu vơ cười
Trong mộng
Thương người, thương quá
Thế nhân ơi
Biết khi nào, tin đến, nhói tim tôi?
Chót vương lời,
        đau đáu,
                đến khôn nguôi…

Chiều 20/2/2006, Hà Nội

Lòng nhân

Năm lại qua đi
Khôn dại, giả chân
Thảng thốt tìm mình
Gió ùa qua cửa lạnh
Đâu rồi
        câu chuyện
                mùa xuân ?

Nước mắt vô tình
        xin cầu chút lòng nhân
Thương về nơi xa kia
Tô thị ngóng chồng diệu vợi
Giá cứ hồn nhiên như thuở xưa
Khi hoàng hôn
        ai về mà đợi
Cố nhân vui ?

Một nửa thiếu vô cùng
Một nửa khóc em tôi
Gánh hàng xưa
        men con đê làng về chợ
Rau cháo qua mùa
        mong con mình đủ bữa

Có biết đâu đời tin chuyện gió trăng
Có biết chăng người xin một chốn ăn năn
Cầm lòng,
        câu chuyện
                trăm năm…

Chiều 20/2/2006, Hà Nội

Nhớ

Nhớ ai nhớ quá thế này
Nhớ ai kín cả một ngày nhớ ai
Đành rằng đêm hết đến mai
Người đi chẳng để một vài lời tin
Nhân gian, cánh nhạn trông tìm
Ngóng qua lời bạn, nhắn tin vào tình

Mộng lòng tâm sự người ơi
Tìm đâu cho được con tôi bây giờ ?

(2009)

Không đề

Hôm qua chợt nhớ đến hôm kia
Lòng không thương quá một câu thề
Mẹ cha thói đời ăn ở bạc
Dẫu rằng thôi vậy, ngẫm mà ghê

Vợ già con dại kiếp đa mang
Cái tuổi đem duyên đến sắp hàng
Chợt qua ngày tháng mà trông lại
Chẳng biết yêu em đến nhỡ nhàng

(Còn nữa)