Thứ Năm, 17 tháng 12, 2020

HOANG VẮNG NỖI NIỀM

Những tháng năm mưu sinh ở Dalat gã có vương vấn vài mối tình, tuy không quá sâu nặng nhưng cũng đủ để tìm về kỷ niệm. H, nhân vật chính của câu chuyện cũng là một trong số những kỷ niệm của gã những ngày đầu bước chân về xứ sở sương mù.

Chia tay Sài gòn hoa lệ vào giữa 1992 gã như người mất hồn. Đà Lạt đón gã là cơn mưa chiều tê tái, đất trời như cám cho cái cảnh của lòng gã khi đó. Những ngày đầu, gã nhớ Sài gòn như điên như dại, đặc biệt là những buổi chiều buồn, gã như thấy N. ngồi cô đơn bên quán vắng, rồi hàng đêm gã mơ thấy nàng hiện về, nàng và gã cùng bên nhau trong giáo đường Thiên Chúa ngày nào. Những kỷ niệm cứ ùa về, mà ai, ai có thể hiểu mà chứng cho lòng gã khi đó? không ai ngoài Chúa. Nhưng gã đã thề với N. và thề với lòng mình, nên cuối cùng, vẫn chỉ là những ngày dài cô đơn trong một không gian u buồn, hoàn cảnh lại càng thêm não nuột. Chưa khi nào gã ghét mưa Dalat như thời kỳ ấy, ghét cay ghét đắng.

Công việc cứ cuốn dần đi theo thời gian. Gã loay hoay trốn chạy tình yêu bằng những việc làm thường nhật ban ngày, để rồi hằng đêm lại quay quắt tìm về kỷ niệm. Nàng ở đâu, đang làm gì, chiều nghỉ cuối tuần nàng có còn đi lễ nhà thờ, rồi có còn nhớ đến gã không. Trả lời gã là... mưa, mùa mưa Dalat trắng trời ẩm ướt và lạnh lẽo, làm con người trở nên chây ỳ với cảm xúc. Cây đàn guitar ẩm mốc, nhiều khi chỉ làm cồn cào thêm nỗi nhớ. Nàng vẫn biệt vô âm tín, một tương lai vô vọng với số không tròn trĩnh. Chợt nhớ lời thơ của Đặng Đình Hưng nổi tiếng:
Tôi lại đi
Dưới cái nong hình dáng lưng tôi
Một bảng đen trước mặt
Một vòng phấn dưới chân
Dính dính...
(Đ.Đ.H, Bến lạ)
Đùng một cái, H. lặn lội từ Bà Rịa lên thăm gã.

H. kém gã 2 tuổi, là con thứ trong gia đình 3 anh chị em. Người anh cả tên Q. kém gã 1 tuổi, còn cậu em út gã không còn nhớ tên (hình như là M thì phải) tuổi Giáp Dần. Bố mẹ H. là giáo viên cấp 3, quê vùng bán sơn địa Gia Viễn Ninh Bình với núi đá vôi và ruộng đồng chiêm trũng. Cả hai bố mẹ H. cùng dạy học với thân phụ gã thời kỳ Phù Yên Sơn La rồi Nghĩa Lộ từ trước khi ông làm lãnh đạo quản lý (thân phụ gã làm hiệu trưởng trường cấp ba Phù Yên rồi trưởng phòng giáo dục một số huyện thuộc địa phận Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ... ngày ấy). Sau 1975 hai ông bà xin về quê dạy học, sau vất vả quá mới liên hệ nhờ thân phụ gã giúp cho xin chuyển vào Bà Rịa. Hai ông bà đưa cả gia đình di cư vào Bà Rịa-Vũng Tàu từ ngày ấy. Một điều thú vị là hai ông bà có cái tên vô cùng ấn tượng và dễ nhớ, liên quan đến một tích cổ bên Tàu, về mối tình của Trụ vương và nàng Đát Kỷ.

H. là cô nuôi dạy trẻ mặc dù tốt nghiệp cao đẳng hay đại học về chuyên ngành giáo dục. Những năm đầu 1990, hoà cùng làn sóng di dân vào Nam, gia đình bố mẹ nàng được Phòng giáo dục của tỉnh cấp cho căn nhà cấp 4 trong khuôn viên nhà thờ Đa Minh, khu vực sát Bãi Trước. Cả gia đình nàng đều là những con chiên ngoan đạo của Chúa. Nhà bố mẹ ở Vũng Tàu nhưng nàng lại dạy học ở một trường mầm non mãi tận Bà Rịa, thành thử nàng có cuộc sống độc lập, chỉ tuần về thăm bố mẹ một lần và đi nhà thờ.

Lần ấy trường mầm non tổ chức kỳ nghỉ hè cho cán bộ công nhân viên ở Dalat, cũng có thể do tác động của ông bà Trụ-Kỷ bố mẹ nàng, không hiểu bằng cách nào mà nàng tìm được nơi gã ở, một căn biệt thự cũ của Pháp nằm ở khu Chi Lăng, gần trường võ bị Dalat sau là trường lục quân II, cách trung tâm Dalat chừng 5 cây số, gã mới chỉ về tá túc được đôi ngày theo phân công của Đoàn 601. Chiều muộn hôm ấy, nhóm thực địa của gã hối hả chuẩn bị hành trang cho đợt thực địa cuối mùa vì mùa mưa Dalat sắp sửa bắt đầu với những cơn mưa đầu mùa thoáng chốc. Chiều hôm ấy, đang trong phòng làm việc, mấy công nhân sang nhắn tin, có một cô gái lên tìm gã. Vứt hết cả công việc, gã tức tốc bổ về nhà, thì ra là H. Gã ngỡ ngàng. Từ Bà Rịa xa xôi, nàng một mình lặn lội lên đây tìm gã làm gì? Gã băn khoăn hỏi nàng. Ông bạn cùng phòng tế nhị biến đi đằng nào để gã và nàng tự nhiên trò chuyện.

Nàng nhanh nhẹn hối hả chuẩn bị bữa cơm chiều hôm đó (lạ thật, số phận luôn sắp đặt cho gã gặp những người phụ nữ tháo vát (!). Nàng kể cho gã nghe về cuộc sống yên bình của mình nơi Bà Rịa an vui bên đàn trẻ nhỏ, lại khéo léo tranh thủ hỏi han và tìm hiểu cuộc sống của gã những ngày đầu đặt chân về xứ núi. Song lòng gã khi đó đang hoang vắng màu chiều tím Sào gòn, nào đâu còn tâm trạng gì hơn, mặc dù trước đây qua đôi lần gặp mặt giữa nàng và gã có khá nhiều điểm tương đồng về nhìn nhận cuộc sống. Gã trả lời nàng qua quít, bóng gió xa gần về nghề địa chất với kiếp số lang thang vô định, tha hương nay đây mai đó. Là người tinh ý, gã hiểu nàng nhận ra điều gã muốn nói. Cả hai tiếp tục chắp nối thời gian bằng những câu chuyện rời rạc, không đầu không đũa.

Cuộc sống của nàng đơn giản quanh môi trường mô phạm, mà gã thì giời đày, bạc phếch những mảnh tình dang dở khi đó, nào có xứng gì. Gã sợ một ngày kia rồi sẽ làm khổ nàng, hay là sẽ làm mất đi những tình cảm thánh thiện mà nàng dành cho gã.

Cơm tối xong khá muộn, nàng chia tay gã về lại nhà nghỉ ở khu vực trung tâm thành phố. Gã lấy cớ chuẩn bị cho ngày hôm sau đi thực địa nên chỉ tiễn nàng một đoạn dọc theo con đường nhỏ ra trường võ bị. Đi trong mưa lạnh, nàng chủ động nắm bàn tay lạnh giá của gã khi ấy... Gã hiểu nàng muốn nhắn nhủ nhiều điều. Nhưng gã sợ. Thật vậy, quả thực là gã sợ, cuộc tình cũ đi qua với bao xót xa ám ảnh, nay tình mới dở dang, mà kết cục rồi đâu có hơn gì. Như con chim bị tên sợ làn mây cong, gã sợ mình không kiểm soát được việc hành xử, ngộ nhỡ có bề gì thì vô cùng thất thố với nàng, rồi biết ăn nói thế nào với bố mẹ nàng. Tình cảm của gã dành cho nàng lúc ấy, chỉ như một người anh không hơn (mà nàng, khổ nỗi lại hoàn toàn không muốn vậy).

Đến cuối con đường mòn, gã và nàng chia tay nhau. Dõi theo bóng nàng liêu xiêu, một mình đi về trong mưa lạnh, gã không khỏi chạnh lòng. Gã không muốn làm kẻ lợi dụng, nên gã đã xử sự, dẫu có vô tình nhưng cũng là để nàng hiểu, gã không muốn mang đến những khổ đau cho nàng. Nhiều khi gã tự hỏi, sao cuộc đời cứ đẩy gã đến những hoàn cảnh trớ trêu là vậy. Chắc sau rồi nàng cũng hiểu, thời gian gã và nàng biết về nhau chưa nhiều, gã chưa có tình cảm với nàng. Khi nàng đi rồi và sau này nghĩ lại, gã vẫn cứ băn khoăn tự trách mình sao lần ấy không đưa nàng về tận khách sạn, để sau rồi lại tự an ủi, thôi đành là duyên chưa hợp. Về sau nàng và gã cũng thư từ cho nhau một vài lần, những lời hão huyền của gã rồi cũng nhạt phai theo năm tháng, cuộc sống vô tình là vậy.

Thời gian sau này khi đã chuyển qua nghiệp dầu khí, về lại với phố biển Vũng Tàu, gã có đôi lần viếng thăm bố mẹ nàng. Trụ vương rất quý gã, lần nào ông cụ cũng bảo: “Cái H. về đây nó hay nhắc đến mày. Chúng mày xem thế nào để tao còn mời ông bạn tao vào Vũng Tàu uống rượu”.

Gã chỉ cười trừ “Đời cháu còn lông bông lắm bác ạ, nghề địa chất nay đây mai đó chỉ làm khổ mọi người thôi ạ”.

Ông cười hiền lành “Tao biết rồi, mày còn ngại ngùng. Thôi đất lành chim đậu con ạ. Hà Nội đất chật người đông khó sống lắm. Thằng em mày đã là bác sĩ rồi, nó sống ở Thủ đô, nghề Y lập nghiệp ở đâu cũng được. Còn mày dân địa chất, nên ở Vũng Tàu là hợp con ạ. Đi giàn về bờ cứ đến đây với tao uống rượu”. Phải nói là ông có tầm nhìn chiến lược khi khuyên gã lập nghiệp ở Vũng Tàu là mảnh đất của ngành dầu khí non trẻ. Song lòng gã khi ấy, dùng dằng giữa Sài gòn và Hà Nội với những mối quan hệ mới (sẽ có dịp kể với mọi người vào những mẩu chuyện tiếp theo), vì vậy, thời gian ở Vũng Tàu của gã khi ấy chỉ là những buổi sớm hối hả check-in ra giàn, một vài buổi uống rượu cùng ông, những chiều dài lang thang một mình ngắm hoàng hôn ngoài Bãi Trước hay bình yên trong giáo đường Thiên chúa, còn lại là sấp ngửa lúc Sài gòn khi Dalat.

Sau này khi đã ổn định gia đình, những chuyến công tác làm việc với Vietsovpetro vẫn cho gã nhiều cơ hội về thăm lại Vũng Tàu. Thi thoảng gã vẫn lang thang một mình dọc Bãi Trước, chắp nhặt lại mảnh hành trang xưa cũ những khi ký ức năm xưa tìm về. Nhà thờ Đa Minh không còn nữa, chính sách đổi đất lấy cơ sở hạ tầng của tỉnh đã làm nên một con đường ven biển Vũng Tàu thơ mộng, song với gã chẳng còn nét hoang sơ như ngày nào gã lần đầu tìm đến nhà nàng. Một phố biển Vũng Tàu của thế kỷ XXI, như trong một bài thơ gần đây gã đã viết:
MUỘN

Vũng Tàu giờ khác em ơi
Vũng Tàu xơ xác hơn hồi quen em
Chiều buồn. Bãi Trước gọi tên
Loanh quanh mấy iẻm quê miền Vĩnh Long
Dật dờ ra mũi Nghinh Phong
Lao xao hàng quán, phần đông Thái Bình
Từ độ ô nhiễm mưu sinh
Thuyền về Bến Đá, Bến Đình lưa thưa
Vòng về Bãi Dứa trời mưa
Nhà hàng, khách sạn bảo thừa vẫn xây
Thương đời, Phật phải giang tay
Em còn kỷ niệm những ngày Bạch Dinh?
Lời ngày xưa vẫn đinh ninh
Nên ngày nay hoá chúng mình khác xưa
Đêm qua trời bỗng đổ mưa
Hai lăm năm chẵn. Tôi vừa quên em.
(HN, chiều thu nóng kinh, 27/8/2016)
Giờ đây khi tuổi tác đã qua kỳ tri thiên mệnh, gã mới hiểu phần nào về duyên và phận. Nàng và gã được duyên đến với nhau song chưa đủ phận. Ngày ấy nếu duyên đủ hợp và gã bằng lòng với đời thì số phận gã có lẽ cũng đã an bài bình yên nơi phố biển, như mối chung tình của Trụ vương dành cho nàng Đát Kỷ, như tình yêu chân phương của bố mẹ nàng. Mà thôi, cuộc đời này không bao giờ có từ “nếu”, xin hãy để cho kỷ niệm mãi luôn là những điều tốt đẹp nhất, chí ít là những gì Thiên Chúa an lành đã ban tặng cho chúng ta, cho nàng, và cho cả gã. 

Chỉ vậy thôi không hơn./.

(Hà Nội, đêm 10/4/2019)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét