- & -
MỘT SỐ VẦN THƠ
về
MÔN PHÁI
VỊNH XUÂN
(tài liệu lưu hành
nội bộ)
Hà Nội, tháng 6/2004
Hà Nội, tháng 6/2004
Phạm Thanh Liêm
Ở đời không có ngộ, nghi
Thì trong thiên hạ làm gì có tin? ([1])
Với người theo học Vịnh Xuân
Đôi điều lịch sử cũng cần nắm qua
Năm 40 ở nước ta
Dưới ách đô hộ của ba loại người
Giặc Tàu, giặc Nhật, giặc Tây
Cả ba cùng muốn làm thầy Việt Nam
Toàn dân trong cảnh lầm than…([2])
Được Hoa kiều Hội mời sang
Có một cao thủ, từng làm bảo kê
Phật Sơn một cõi đi về
Sách xưa để lại tự đề Tế Công ([3])
Giang hồ ngang dọc biển Đông
Mình Cụ đã đánh ngã không ít người
Tin đồn Cụ một địch mười…
Giang hồ đất Việt bao người xin theo
Chiến tranh, ly tán, hiểm nghèo
Làm trai thời loạn, xin liều kết giao
Dường như lịch sử đã trao
Vịnh Xuân do Cụ đưa vào Việt Nam. ([4])
Học trò theo Cụ khá đông
Sau rồi điểm lại được không mấy người
Thế gian vật đổi sao dời,
Năm 54, Cụ di dời vào Nam (1954) ([5])
Học trò đất Bắc lang thang
Mạnh ai nấy học một đàng phát huy ([6])
Cụ Vũ Quý ở Hải Dương
Cụ Ngô Sỹ Quý đảm đương chính quyền
Cụ Tiển sau cũng quy tiên
Cụ Phùng bảo vệ tận trên Ba Đình…
Học trò thuộc thế hệ hai
Muôn hình muôn vẻ, lắm người tài ba
Thày tôi chi phái Cụ Phùng
Được học của Cụ từ ông Định “còi” ([7])
Cũng là duyên phận phải thôi
Đến khi thày gặp Cụ ngoài 83
Tất nhiên là Cụ đã già
Thế mà khí phách vẫn như thuở nào
Học trò từ thấp đến cao
Giày đinh Cụ đá, biết bao nhân tài ([8])
Nhiều người phát sợ chạy dài...
Năm 87, Cụ băng hà (1987)
Thày tôi theo học Cụ là 4 năm
4 năm tập luyện quên đời
Thày cùng một số những người đồng môn:
Trưởng môn, anh Tuấn hãy còn ([9])
Anh Châu họa sỹ vẫn luôn đến Thày ([10])
Anh Định thân pháp rất hay ([11])
Giang hồ ca tụng bàn tay bằng vàng
Anh Sao, đệ tử cuối hàng... ([12])
Và bao cao thủ trong làng Vịnh Xuân
Anh em bạn hữu xa gần
Chỉ trong chi phái cũng gần vài trăm
Ngày Rằm tháng 11 hàng năm ([13])
Là ngày giỗ Cụ, mộ phần ở Canh...
*
* *
Là đệ tử của Vịnh Xuân
Khái niệm cơ bản rất cần hiểu sâu
Sao cho luôn ở trong đầu
Như rễ, như gốc, ngấm vào tận xương.
Trước tiên là tấn “Kiềm Dương” ([14])
Hình tượng dê núi xuống đường thật hay
Khuỵu chân, lỏng gối, đầu ngay
Thẳng lưng, lỏng bụng, thả tay hoàn toàn
Hai bàn chân đạp sang ngang
Lòng bàn chân bết lực càng xuống sâu
Giữ cho thanh thản trong đầu
Phù trên, trầm dưới nhiệm màu lạ thay…
Rồi đến tấn “Kiềm Dương xoay”
Vặn người qua lại trục quay ở mình
Tập dần đến “Kiềm Dương di”
Búng lên chân trước, phải chì chân sau
Tiếp theo tập đến Thủ Đầu ([15])
36 động tác nhiệm màu thật hay
Thu về trong một đường tay
Triền kình ra cổ, lực ngay tức thì…
Sau rồi luyện đến Mộc nhân ([16])
108 động tác hóa thân vào mình
Giang hồ nhiều trận thất kinh
Ngày xưa Cụ đã bao lần bảo kê
Nhật, Tây không thấy đường về…
*
* *
Bản năng vốn ở cơ co
Với người mới tập thường do giật mình
Tâm thần bấn loạn mất tinh
Mình tự kéo mình, bổ vào đối phương
Bị đòn, khốn khổ ai thương?
Vậy nên phải luyện trong đường quay tay
Định bộ thân thủ hàng ngày
“Kiềm Dương tự mã” hăng say luyện rèn
“Xả kỷ” song luyện một phen
Một người phát lực người kia nghe đòn
Chuyển sang lực xoắn toàn thân
Cốt sao chuyển lực được dần xuống chi
Nửa thân dưới nặng như chì
Nửa thân trên vẫn du di nhẹ nhàng
*
* *
Mạn đàm về phép “chi sao”
Còn như tiếng Việt gọi là niêm tay
Đây là một phép rất hay
Người tập không thể đôi ngày biết qua
Phải chừng 6 tháng trở ra
Sư phụ khai dụ mới là quay tay
Yêu cầu cho được ở đây
Ba khớp vai, chỏ, cổ tay nhịp nhàng
Bước này như thể sang trang
Tập luyện kỹ càng mới được bền sâu
Thời gian nhanh chậm, mau lâu
Càng lâu càng chậm, càng sâu càng dày
Ra vào như thể gió mây
Đồng nhất là một sợi dây đàn hồi
Làm sao lực cổ tay thôi
Hai bàn tay quyện đôi người giằng co...
Quay tay luôn nghĩ đến chân,
Trên phù dưới trầm mới đạt về sau
Tịnh không nghĩ ngợi trong đầu
Cổ tay niêm dính với người đồng môn
Trước sau, nặng nhẹ, vuông tròn,
Cái theo vô thức là còn về lâu.
Võ học cao thấp, nông sâu
Một đường tay gặp biết nhau tức thì
“Lai lưu khứ tống” thực thi
Người đến ta đón, người đi theo liền
Mở tâm ta nhận bạn hiền
Bám dính cuốn chặt cho liền bước đi
Cả khi định bộ lẫn di
Giữ cho tâm định mới thì cao thâm
Khi cần nhắm mắt dưỡng thần
Vòng tròn bát pháp thu dần tiểu khuyên. ([17])
Quay tay đâu chỉ lấy hình
Đều đều ru ngủ, vô tình làm sao?
Phải như gió giật, sóng trào
Lúc như bể lặng, làm sao biết chừng?
Cũng có khi đột ngột dừng
Yêu cầu người tập không ngừng giữ “niêm”
Phải người có chí thì nên
Quyết tâm mài giũa cũng liền vài năm.
Sấp ngửa là phải rõ ràng,
Treo chỏ, trầm chỏ, lại càng trì tay
Giữ khung đôi lúc rất hay
Là cơ bản gốc, hàng ngày vẫn treo
Khi nào đạt tới chữ “khuôn”,
Phá tan cái bó, trở về với không
Luyện tập hai chữ Có, Không
Vài chục năm ròng, có chí thì nên…
Đánh người trước phải đánh mình
Ra vào phù hợp vô tình sẽ cao…
*
Lời Cụ Phùng dạy, hãy còn bên tai ([18])
Cũng xin nhắc nhở cùng ai
Vịnh Xuân theo học, đường dài gian truân
Tâm định, lòng chớ phân vân
Con đường Thày đã vài phần đi qua
Thuật ư, cốt ở như ta
Dưỡng cho tâm tốt, chữ hòa là trên
Trong hòa có hóa, có công
Cứ theo ý tập lấy công làm bền
Nhất nhớ, nhì chậm, ba mềm,
Ra vào uyển chuyển làm nền mà thôi
Cứng thì phá, đẩy, kéo, lôi,
Nhẽo thì ta cứ phệt ngay tức thì
Không có gì, phóng ra đi
Nhận đòn cho ngộ đến nghi là vừa
Lực ra không thiếu không thừa
Vuông tròn, Châu Bá ngày xưa đã làm ([19])
Nâng, tỳ, vít, đẩy miên man
Phóng, chèn, chấn, chỏ, liên hoàn triển khai ([20])
Con đường luyện tập còn dài
Thực hành bát pháp, cả hai cùng làm
Sóng lên mà đẩy thuyền lên
Hai người cùng luyện lấy bền nội gia
Anh em bốn bể là nhà
Trong ngoài như một đậm đà tình thương...
Vịnh Xuân ai hiểu mới theo
Bao năm mới đạt đến điều đam mê…
Hà Nội, tháng 6/2004
Phạm Thanh Liêm
([1]) Thày tôi thường nói: “Có nghi mới có ngộ, từ ngộ mới đến tin”.
([2]) Thời kỳ Việt Nam giai đoạn 1935-1944 (trước Cách mạng tháng Tám, 1945).
([3]) Sử cho rằng Nguyễn Tế Công (Yuen Chai Wan) sinh năm 1877 tại đất Phật Sơn, là con thứ tư trong gia đình một thương gia giàu có sở hữu một xưởng làm pháo hoa trên đường Zhenbai. Thời niên thiếu ốm yếu, ông còn được gọi là Dao Pei Chai (Chai đậu mùa). Đầu những năm 1900, cha của Yuen đã mời quyền sư nổi tiếng Phúc Bảo Châu dạy Vịnh Xuân cho hai con (người em trai ông là Nguyễn Kỳ Sơn, sinh năm 1880). Sau nhiều năm luyện tập chuyên cần với Phúc Bảo Châu được một nền tảng võ công nhất định, anh em họ Yuen xin học vị võ sư Vịnh Xuân lừng danh là Phùng Tiểu Thanh (lúc này 70 tuổi). Ông Thanh đã dạy võ và được chăm sóc taị gia đình họ Yuen cho đến khi mất lúc 73 tuổi. Ở Phật Sơn, Yuen Chai Wan dạy cho một số học trò trong đó có Yiu Choi. Khoảng những năm 1930 ông được Hội Hoa Kiều mời sang dạy Vịnh Xuân ở Việt Nam. Đầu tiên ông đến Hải Phòng, sau chuyển về Hà Nội. Ông làm quản gia cho một gia đình Hoa kiều, định cư ở phố Hàng Buồm.Tại đây, ông đã truyền dạy Vịnh Xuân cho nhiều Hoa kiều và người Việt. Ông được biết đến với tên tiếng Việt là Nguyễn Tế Công. Đến năm 1954, ông vào miền Nam Việt Nam và thu nhận thêm một số học trò nữa. Tôn sư Nguyễn Tế Công mất năm 1960, thọ 84 tuổi.
Em trai ông (Nguyễn Kỳ Sơn) ở lại đất Phật Sơn, sau đó đã có những trao đổi võ học với các đại cao thủ của Vịnh Xuân thời đó như Lương Tán, Trần Hoa Thuận và Ngô Trọng Tố. Ông đã dành nhiều thời gian trau dồi và phát triển các kỹ năng và triết lý của Vịnh Xuân. Mặc dù làm luật sư ở Phật Sơn, Nguyễn Kỳ Sơn dành phần lớn thời gian để tập luyện Vịnh Xuân mà ông yêu thích và tụ tập với bạn bè, nhiều người trong số họ gọi ông bằng cái tên “Chú Năm” hay “Già Năm”. Nguyễn Kỳ Sơn không nhận dạy trong nhiều năm nhưng sau đó ông đã nhận Sum Nung (từng là học trò của Cheung Bo) là học trò. Ông cũng dạy Vịnh Xuân cho người bạn, Wong Jing (từng học với Lai Ying hay Jiu Chao).
([4]) Có thể cho rằng Tôn sư Tế Công là vị Tổ sư của môn phái Vịnh Xuân ở Việt Nam (tên đầu tiên của môn phái được dùng là Thiếu lâm Vịnh Xuân Phật gia).
([5]) Theo lời thày tôi được nghe kể lại từ Cụ Phùng, năm 1954 Cụ Tế Công cùng gia đình bác sỹ Việt Hương di cư vào Nam, vài năm sau Cụ mất tại khu Hoa Kiều Sài Gòn.
([6]) Học trò thế hệ Vịnh Xuân đầu tiên ở Việt Nam (theo bức ảnh họa sỹ Đỗ Tuấn còn lưu lại được) gồm: Cụ Trần Văn Phùng (còn gọi là Độc Nhỡn Long, 1900-1987), Cụ Nghi ( - ), Cụ Lâm ( - ), bác sỹ Việt Hương ( - ), Cụ Trần Thúc Tiển (1912-1980) hậu duệ là bác sĩ Nguyễn Mạnh Nhâm, anh Sinh (Trần Thiết Côn), anh Lễ, anh Nội (Nguyễn Ngọc Nội), Cụ Vũ Bá Quý (còn gọi là cụ Quý Hải Dương, hậu duệ là anh Nguyên/anh Mỹ, chi phái Vũ gia thân pháp), Cụ Ngô Sỹ Quý (còn gọi là cụ Quý Cầu Giấy, hậu duệ là bác sĩ Hoàng Quốc Toàn, chi phái Ngô Gia Hoàng pháp), anh Trần Hậu Tuấn, và một số người ở Nam Việt Nam như Cụ Nguyễn Duy Hải/Hồ Hải Long (1917-1988), Cụ Lục Vĩnh Khai và những người khác như võ sư Trình Nam Anh, Trình Nam Giao…
([7]) Anh Định “còi” - Trịnh Quốc Định (1958-2012) là sư huynh của thày tôi, theo học Vịnh Xuân của Cụ Phùng trước thày tôi chừng 5 năm, và là người đã dẫn thày tôi lên học Cụ Phùng. Anh Định đã mất vào hồi 07h10 phút ngày 19 tháng 12 năm 2012 (tức ngày mùng 7 tháng Mười Một năm Nhâm Thìn).
([8]) Thày tôi thường hay kể, Cụ Phùng hay đi giày Cosaghin của Nga trong khi luyện cùng học trò, và học trò thường xuyên bị Cụ dẫm, đá vào chân, làm nhiều người sợ không dám theo học.
([9]) Họa sỹ Đỗ Tuấn, hiện là Trưởng môn Vịnh Xuân chi phái Cụ Phùng, hiện có mở lò dạy Vịnh Xuân ở đường Bạch Đằng, Phúc Xá, Hà Nội.
([10]) Vợ chồng anh Châu họa sỹ (Mai Ánh Châu), là bạn đồng môn với thày Lợi (1956- 2007). Anh Châu đã mất cuối năm 2007.
([11]) Anh Định “còi” (Trịnh Quốc Định) có thời được giới Vịnh Xuân Hà Nội tôn danh là người có “đôi bàn tay vàng”.
([12]) Anh Thái Bá Sao (1960- ), được coi là đệ tử cuối cùng của Cụ Phùng. Anh cũng là người được anh Định dẫn lên học Cụ Phùng. Nghe đồn khi Cụ mất (năm 1987), anh đã khóc 3 ngày 3 đêm ở mộ Cụ (anh Lợi kể).
([13]) Ngày 15 tháng 11 năm 1987 (Âm lịch) là ngày giỗ của Cụ Trần Văn Phùng. Các thế hệ học trò hàng năm vào ngày này vẫn đến thắp hương tại mộ Cụ, hiện được an táng tại quê nhà, làng Canh (Lai Xá), huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.
([14]) Tấn Kiềm Dương là bộ tấn căn bản của Vịnh Xuân.
([15]) Bài Thủ Đầu Quyền (hay còn gọi là Tiểu Niệm Đầu) là bài quyền cơ bản của Vịnh Xuân.
([16]) Bài Mộc nhân thủ với 108 động tác đánh cây gỗ động chôn xuống đất, điểm khác với Vịnh Xuân Hồng Công đánh Mộc bảng thủ hay treo trên giá đỡ.
([17]) Như lời Thày dạy, vòng tròn quay tay có 3 vòng: Đại khuyên, Trung khuyên và Tiểu khuyên.
([18]) Đây là câu Cụ Phùng thường nói với học trò khi luyện tập.
([19]) Châu Bá Thông, một nhân vật trong truyện Chưởng của Kim Dung, với thuật tách tay vuông, tay tròn.
([20]) 8 thủ pháp căn bản của Vịnh Xuân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét