Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2023

Lịch sử kinh Dịch (C7 - Mã hóa Hậu thiên

CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


7. Hà Đồ và Lạc Thư. Mã hóa Hậu Thiên


Theo chúng tôi, có thể có quá trình song song: ông cha ta đã làm ra Hậu Thiên, sau đó mã hóa nó bằng Hà Đồ; hoặc đã nghĩ ra Hà Đồ trước sau đó đặt các quái vào cho đúng với Hà Đồ bằng logic nào đó và đúng với các điều kiện khác; hoặc họ vừa nghĩ đồ hình Hậu Thiên vừa nghĩ ra Hà Đồ và sau bao nhiêu lần thử đi thử lại họ đã nhận kết quả là Hậu Thiên+Hà Đồ liên hệ hỗ tương với nhau và thỏa các điều kiện khác. Dù là đi từ hướng nào, nếu ta tìm ra được các chứng cứ thì ta có thể kết luận Hạ Đồ và Hậu Thiên là công trình sáng tạo của cư dân Việt cổ. Nhưng dù thế nào chăng thì người xưa thấy được Hà Đồ thoả mãn mọi điều kiện để mã hoá Hậu Thiên Bát Quái. Nên họ dùng Hà đồ để số hoá Hậu Thiên.

Chúng ta biết rằng, dân Việt ta đếm theo hệ thập phân, số 10 không ít lần được thể hiện trên trống đồng Việt Nam:

10 con nai trong trống đồng Ngọc Lũ:

Ông sao 10 cánh trong trống đồng Đặc Giáo:

Trong trống đồng Đông Sơn 3:

10 chim bay xung quanh trong trống đồng Hữu Chung:

Vậy số 10 có ý nghĩa to lớn đối với người Việt cổ. Và hiển nhiên 10 số đầu tiên được coi như là những linh số. Đến đây, ta đặt điều kiện và giải từng phần:

a. Bát quái có 8 cạnh. Vậy làm sao biễu diễn nó bằng 10 số. Hai số 5 và 10 cũng tương đối dễ giải quyết vì chúng tượng trưng cho Trời hay Thái cực. Vì hai lẽ: 15 là số dương, 15 mod 8=7 là Càn, 15 có thể biểu diễn thành quái 3 lớp mỗi lớp có 5 cũng cho ra Càn. Vậy số 5 và số 10 nằm trong để biễu diễn cho mặt trời. Còn lại 8 số.

b. Biểu diễn trùng quái. Cách tốt nhất là biễu diễn thành 4 cụm, mỗi cụm có hai số.

c. Theo nguyên tắc trong Nòng có Nọc, trong Nọc có Nòng. Đồng thời phải giống Thái Cực: 10-5=5. Vậy các cặp số sẽ là: 1-6, 2-7, 3-8, 4-9. Ngoài ra, bốn cụm số đầu được biểu diễn để giải Bát Quái, mà bát quái lại có cân bằng Nòng Nọc nên các cụm ngoài phải có 4 Nòng v 4 Nọc. Đồng thời tổng các Nòng và Nọc phải bằng nhau. Và các cụm số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 thoả mãn: 1+3+7+9=20=2+4+6+8.

d. Khảm đầu tiên và ở phía Bắc: Như vậy cụm 1-6 nằm ở phía Bắc.

e. Điều kiện chữ S (giống Tiên Thiên nhưng lại là S của Trùng Quái)

Đến đây sẽ có hai cách giải quyết:

Hướng 1: Cho là người ta chưa phát hiện ra Hậu Thiên. Thuần túy toán học và đúng chữ S linh thiêng: Theo lượng số thì rõ ràng trong Tiên Thiên chữ S đi từ lớn đến nhỏ. Nhưng trên ngôn ngữ Nòng nọc thì nó đi từ Nọc lớn nhất (Càn) sang Nọc nhỏ nhất (Chấn), chuyển tiếp qua Nòng nhỏ nhất (Tốn) và đi về Nòng lớn nhất (Khôn). Vậy để chữ S có tính đối xứng tuyệt đối thì Nòng nhỏ nhất phải đối xứng với Nọc nhỏ nhất. Từ đó có thể thấy chỉ có thể vẽ như sau:

Như vậy, ta chỉ có thể vẽ bốn cụm số đó theo đồ hình Hà đồ truyền thống. Tiếp đó, theo nguyên tắc Nọc ở lại Nòng đi theo chiều chuẩn (chú ý chiều chuẩn người Việt cổ đã biết rồi qua những chiêm nghiện thiên văn). Vậy được đồ hình sau:

Sau đó (tức là khi người ta phát hiện ra Hậu Thiên rồi. Ở đây, ý của tôi là có thể người ta phát hiện ra Hà đồ trước Hậu thiên), người ta thử lại Cụm 1-6: pv1=Khảm suy ra lượng của pv 6 sẽ là: 2+5=7=Càn. Cụm 3-8: pv3=Chấn, vậy lượng ở pv 8 là=4+5=9 mod 8=1=Cấn. Cụm 9-4: pv9=Tốn=3=11 mod 8, suy ra pv 4=11-5=6=Đoài. Cụm 7-2: pv 7=Ly=5, suy ra pv 2=5-5=0=Khôn. Như vậy, Hà đồ vẽ trên thỏa mãn chính xác các điều kiện.

Hướng 2: Đã phát hiện ra Hậu thiên. Đất Nước chủ tế vận động. Vậy thì 1 là phương vị của Khảm và 2 la phương vị của Khôn. Nên nhớ trong Hà đồ chưa biến thể thì 2 vẫn nằm đối với 1. Như vậy, ta có cụm 7-2 ở Nam. Tiếp tục ta xét như trên thấy Cấn-Chấn có tương quan 8-3. Vậy phía Đông sẽ là cụm 8-3. Phía Tây hiển nhiên cụm còn lại đồng thời thỏa mãn tính lượng.

Cho phép chúng tôi không khẳng định là người Việt cổ phát hiện ra cái gì trước. Điều quan trọng là chúng ta phải chứng minh, người Việt cổ sáng tạo ra cả Hà đồ lẫn Hậu thiên. Và dù đồ hình nào có trước đi chăng nữa, hai đồ hình này hợp với nhau hoàn toàn.

Chứng minh tính tương đương giữa Hà đồ và Hậu thiên cũng với các điều kiện trên:

Từ Hà đồ suy ra Hậu thiên:
Với nguyên tắc Khảm đầu tiên và F1,8 thì từ Hà đồ ta có thể có hai Bát quái: Ly-Khôn-Chấn-Cấn-Khảm-Càn-Tốn-Đoài và Ly-Khôn-Đoài-Tốn-Khảm-Càn-Cấn-Chấn. Tuy nhiên, vì đồ hình sau không thoả mãn chữ S thiêng liêng nên chỉ còn một Hậu thiên Bát quái Âu Lạc.

Từ Hậu thiên suy ra Hà đồ:
Khảm chủ tế, ký hiệu 1 vậy Càn phía bên hữu của 1 bằng 7, như vậy Càn được ký hiệu bằng 6. Vậy bên Chấn Cấn chỉ còn cách ký hiệu là 3 và 8. Như vậy, có hai nghiệm theo ngược chiều kim đồng hồ sau: (1-6) (9-4) (7-2) (3-8) (Hà Đồ) và (1-6) (7-2) (9-4) (3-8) (Lạc thư). Tuy nhiên nếu xét chiều đi của Nòng Nọc thì Lạc thư không có hình chữ S thiêng liêng. Suy ra chỉ có Hà đồ thoả mãn điều kiện.

Như trên, chúng tôi đã khẳng định để mã hóa bằng logic số học thì Lạc thư đóng vai trò tương đương với Hà đồ. Thế nhưng, cần phải nhận rõ thấy ưu điểm của Hà đồ đối với Lạc thư:

a. Hà đồ chứa 4 cặp số Nòng-Nọc chỉ rõ triết lý trong Nòng có Nọc trong Nọc có Nòng.
b. Hà đồ chứa 4 cặp số có Nòng và Nọc chồng lên nhau chỉ rõ sự liên quan đến trùng quái.
c. Hà đồ có chiều đi trùng khớp với chữ S thiêng liêng (Khi vẽ đường S của Hà đồ, chúng tôi chợt nghĩ: có lẽ các cặp số này đã gợi ý cho người xưa vẽ nên Thái cực đồ một cách tuyệt vời thế).

Cũng có thể, người xưa biểu thị Hậu thiên bằng Lạc thư theo ý nghĩa lượng số mà thôi. Đồng thời họ nghĩ tính chất ma phương của Lạc Thư mang một màu sắc thần linh. Vậy, gắn Lạc thư vào Hậu thiên chỉ có ý nghĩa thần thánh hóa Hậu thiên chứ không có nghĩa logic toán học. Vì thế mà khi người Trung Hoa nghĩ nát óc không ra đồ hình chuẩn, họ đành phải gượng ép giải mã bằng cách Lão Âm với Lão Dương.

Tuy nhiên, muốn gì thì muốn, anh phải chìa con át chủ bài ra. Phải chứng minh các điều sau:

a. Trong các cổ vật của Việt Nam có ghi Hà đồ.
b. Có cho ta thấy Hà đồ liên hệ đến Hậu thiên.
c. Có câu mẹ tròn con vuông (dĩ nhiên là của người Việt Nam ta, không hiểu vì sao người Trung Hoa lại lấy đó để gọi Hà đồ là tròn mà Lạc thư là vuông rồi họ lý luận loanh quanh để ra cái đồ hình quái dị). Tôi cho rằng Hà đồ có 4 cặp số, có ý sắp xếp lại theo hình vuông 8 ô. Và mẹ là ai? Chúng tôi luôn luôn dẫn chứng từ logic đến các triết lý tôn giáo chứng tỏ Mẹ là Thái Cực. Dạng của nó là Thái cực đồ hình tròn, nên nói Hà đồ có dạng hình vuông cũng vô cùng hợp lý. Từ đây, hãy chứng minh có tròn có vuông trong các cổ vật của Việt Nam ta.

d. Có chứng cứ của số to ôm lấy số nhỏ.

Vâng, chúng tôi sẽ chứng minh tất cả các điều kiện trên một cách trọn vẹn. Xin cho phép chúng tôi đề cập đến Hà đồ trước.

Lịch sử kinh Dịch (C7 - Xây dựng lại Hậu thiên)

 CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


6. Xây dựng lại Hậu thiên Bát quái

Trong chương 3 và chương 4, chúng tôi giới hạn trong các điều kiện: nhóm F1,8, Khảm-Bắc và logic số học đơn giản Hà đồ, và tìm ra được hai đồ hình trong 40320 bát quái thỏa mãn. Đó là:


Và:


Nhưng đây là hai đồ hình ta suy luận khi đã biết các dữ kiện. Điều quan trọng là chúng ta thử đặt mình vào điều kiện của tiền nhân chúng ta thời xa xưa và thử xem các cụ đã đặt điều kiện gì để tìm ra Hậu thiên. Là những người nghiên cứu khoa học, chúng ta không thể nào cho rằng các cụ có thể làm ra được ngay một đồ hình có thể thỏa các điều kiện cơ bản. Có thể có những chắt lọc và loại bỏ nào đó. Và qua thời gian thử nghiệm người xưa đã tìm ra đồ hình thỏa mãn tất cả các điều kiện. Chúng ta không nên tính từ Hà Đồ vì giả sử Hà đồ là đồ hình mã hóa Hậu thiên (logic d) thì nó được suy từ Hậu thiên. Vậy ta thử đặt điều kiện để tìm ra Hậu thiên Bát quái xem sao:

a. Nguyên tắc F1,8 - nguyên tắc tổng các lượng số của các quái bằng 7 (số của Càn-tượng trưng cho Thái cực). Dù là đồ hình gì đi chăng nữa nhưng các nguyên tắc vận hành của nó phải giống Tiên thiên. Điều này thực tế đã ghi trong rất nhiều hệ thống triết học và tôn giáo cổ xưa. Trong Sáng Thế Ký [31] có viết: “Và Chúa nói: ta sáng tạo con người theo dạng của ta và hình của ta”. Phật Như Lai [32] cũng thường nói: “Ta với chúng sanh không gì khác biệt. Ta là Phật đã thành còn các ngươi là Phật sẽ thành”. Lão Tử trong Đạo Đức Kinh [33] có viết: “Vạn vật có nguồn gốc; nguồn gốc đó là mẹ của vạn vật (Đạo)” (chương 52), “Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, đạo bắt chước tự nhiên” (chương 25). Vì thế hai cực đối đầu nhau qua tâm, mà tâm chính là Thái cực, là Trời, của đồ hình phải có tính phủ định nhau triệt để giống như con của Thái cực là Hai nghi Nòng Nọc mâu thuẫn nhau vậy. Ta có 384 đồ hình. Chắc với người rành nhị phân và số học đơn giản cũng tính được điều này.

b. Thêm Khảm-Ly là Bắc-Nam: Triết học trọng Nước của người Việt xưa. Điều kiện (a) và (b) có 48 đồ hình thỏa mãn.

c. Nguyên tắc S: tức là nguyên tắc S giống Tiên thiên hay giống Thái cực đồ. Cũng giải thích như trên

d. Trùng quái: Như trên chúng tôi đã phân tích, tuy lưỡng nghi là những nguyên tử đầu tiên xây nên Tiên thiên Bát quái, đến lượt Hậu thiên thì các quái của Tiên thiên là nguyên tử để hình thành vũ trụ Hậu thiên. Nhưng về nguyên tắc bát quái (quan niệm người xưa về tám hướng) nên Hậu thiên cũng phải có dạng Bát Quái. Nếu ta cứ trùng quái Tiên thiên và sắp xếp chúng theo nguyên lý lượng giảm dần thì ta nhận được đồ hình 64 quái. Nhưng đồ hình này chẳng qua là Tiên thiên Bát quái với quy mô lớn hơn mà thôi. Vậy, làm thế nào để được bát quái Hậu thiên mang ý nghĩa trùng quái? Vẫn có cách, nếu như chúng ta chú ý điều sau: 64 trùng quái chỉ có 8 trùng quái bất dịch [34] (có nghĩa quay trùng quái 180 độ vẫn nhận được chính nó).


Ta thấy có bốn trùng quái Thuần Càn, Thuần Khôn, Thuần Khảm và Thuần Ly là gồm hai quái giống nhau chồng lên. Còn các quái khác được chồng lên nhau qua hai cặp: Đoài Tốn, Chấn-Cấn [35]

Trùng quái thứ 2 do Tốn chồng lên Đoài
Trùng quái thứ tư do Cấn chồng lên Chấn
Trùng quái thứ 5 do Đoài chồng lên Tốn 
Trùng quái thứ 7 do Chấn chồng lên Cấn

Vậy để có chữ S đi từ Nọc nhất đến Nòng nhất, chúng ta đặt ra phương pháp dựng Trùng Quái từ Bát đơn quái: 1-Nếu trong bát quái, đường S đi đến gặp quái bất dịch thì chồng thêm một quái giống nó lên trên, 2-Nếu đi đến gặp quái không đối xứng thì chồng nó với quái tiếp theo vào nhau, từ 2- ta phải có thêm nguyên tắc 3 nữa hai quái không đối xứng gần nhau phải có thể đổi cho nhau qua phép đối xứng tâm

Phương pháp này tuyệt đối đúng theo luận giải toán học bởi vì nếu từ Bát đơn quái mà để biểu thị Trùng quái thì chỉ có cách đó mà thôi. Lý luận này đúng đắn còn được chứng minh bởi việc các Dịch gia ngày nay hay gọi Thuần Khảm (trùng quái) bằng Khảm (đơn quái). Cách gọi này có từ xa xưa và rõ ràng người ta ngụ ý gọi Khảm thời Hậu thiên tức đã có nghĩa Thuần Khảm. Và Khảm ở trong Hậu thiên Bát quái có dáng dấp của Thuần Khảm trùng quái. Ngược lại nếu từ phương pháp này, ta có thể suy ra được một bát quái duy nhất (trong 40320 bát quái) thì điều này lại là bằng chứng cho tính đúng đắn của các phương pháp đặt ra (Các nhà khoa học thực nghiệm cũng hay thực hiện theo cách này).

Từ bốn nguyên tắc này, để dựng bát quái thỏa mãn nguyên tắc trùng quái và chữ S, ta nhận được bốn bát quái sau:

Chữ S Trùng quái đi từ Thuần Càn - Phong Trạch Trung Phu - Thuần Ly---Thuần Khảm - Lôi Sơn Tiểu Quá - Thuần Khôn [36].


Chữ S Trùng quái đi từ Thuần Càn - Thuần Ly - Sơn Lôi Di--- Trạch Phong Đại Quá - Thuần Khảm - Thuần Khôn:


Hai đồ hình sau bị loại ngay lập tức cũng theo nguyên tắc số học. Ta thấy Thuần Càn=63 qua Thuần Ly=45 lệch đến 18, thế nhưng từ Thuần Ly=45 qua Di=33 chỉ lệch 12. Đặt Di theo Đông Nam hay Chính Đông đều không thể được.


Như vậy còn hai hình trước. Cả hai hình dạng chữ S Thuần Càn-Trung Phu-Thuần Ly----Thuần Khảm-Tiểu Quá-Thuần Khôn đều có thể giải thích theo những nguyên tắc khá hợp lý. Trong trường hợp 1, ta giải thích vì trùng quái nằm giữa hai quái nên quái đến trước nằm dưới quái đến sau nằm trên theo chiều chuẩn của vận động. Trong trường hợp 2, vì quái đã thành hình nên kết hợp chỉ có thể lấy quái trước chồng lên quái sau mới đúng quy luật đi của chiều chuẩn. Quái trước bay đến quái sau, chứ không hề ngược lại. Quý vị nên nhớ, khác với Tiên Thiên dẫn từ Tứ Tượng bằng cách hợp từ Nghi và Tượng nên ta mới có những luật lệ khác nhau. Còn vì đây đã là quái rồi thì cách giải thích nào cũng có vẻ hợp lý. Thế nhưng, thật ra cả khi phân tích Tiên Thiên qua Tứ Tượng lẫn khi phân tích Trùng Quái (như khi phân tích để loại hai hình trên), nguyên tắc quán triệt nhất vẫn là nguyên tắc lượng số. Hai cách giải thích trên chỉ là cảm tính và cách giải thích bằng lượng số là chính xác nhất. Và cha ông ta ngay từ đầu cũng quán triệt nguyên tắc lượng số (ví dụ ký hiệu Tiên Thiên bắt buộc phải 3-3---4-4). Ta phân tích đồ hình trùng quái từ hai bát quái trên, Trùng quái chính xác về lượng phải đi như thế này:


Có nghĩa: 63-51=12=2x(51-45) và 18-12=6=1/2(12-0). Như vậy để làm đúng việc dựng chữ S trùng quái thì trùng quái Trung Phu và Tiểu quá phải có nền móng ở quái sau. Vậy quái sau trong bát quái Hậu Thiên sẽ là Đoài và Cấn, chứ không phải ngược lại:


Vậy đi từ 4 nguyên tắc trên, chúng ta có thể đi ngược thời gian, đặt mình vào vị trí người xưa và chúng ta rút ra, dù cho là ta hay ngày xưa, cũng dễ dàng qua lý luận số học đơn giản tìm ra một đồ hình thỏa mãn duy nhất.


hay chính xác hơn là đồ hình này với ngụ ý trùng quái sau:


Đồ hình này đã cho ta thấy ngay hệ quả của nó là Trời Đất tách đôi. Câu Trời Đất tách đôi được quán triệt cả về triết lý, hình dáng lẫn số lượng. Triết lý: Các quái làm nên các Trùng quái ở dưới đối đầu trực tiếp với các quái làm nên trùng quái bên trên. Hình dáng: nhìn hình trên ta thấy quá rõ ràng. Còn lượng số: Mỗi bên đều có tổng số của các quái bằng 14.

Nhưng dù đồ hình nào đi chăng nữa, thì việc quan trọng khi chúng ta muốn nói nó do người Việt làm ra, chúng ta phải chứng minh được chính người Việt đã để lại đâu đó đồ hình này. Trong phần xây dựng Hậu Thiên từ logic này, chúng ta thấy có vài vấn đề cần chứng minh là:

a. Chứng minh Trọng Nước: Tôi đã nói ở các phần trên. Nhưng có đồ hình trên trống đồng còn chỉ rõ hẳn trục Khảm-Ly. Chúng tôi dẫn ra sau.

b. Chứng minh người xưa có chia trục Trời-Đất.

c. Chứng minh có Trùng Quái. Cái này tôi đã chứng minh ở chương trên.

d. Chứng minh từ bát quái (8 quái) mà trên đồ hình Hậu Thiên phải có ám chỉ 6 Trùng Quái.

e. Và chung quy phải chứng minh được đồ hình (Hậu Thiên Bát Quái đúng đắn) chúng ta vừa suy luận ra là của người Việt Nam xưa.

f. Một chứng minh nhỏ nữa là chứng minh việc hai quái trong Hậu Thiên được chồng lên nhau.

Lịch sử kinh Dịch (C7 - Phân bố của Hà đồ)

CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


5. Lý luận sự phân bố của Hà Đồ


Đồ hình Hà Đồ có dạng sau:


Vậy làm sao từ nó có thể sắp xếp thành hình dẫn dưới. Nếu Hà Đồ phân bố được như hình dưới, thì chúng ta lại có thêm bằng chứng xác đáng khẳng định Hà Đồ là mã số của Hậu Thiên Bát Quái. Liệu có bằng chứng phi vật thể hay vật thể nào để l‎‎ý giải cách phân bố như thế chăng? Tuy nhiên, chúng tôi cũng lưu ‎ý qu‎ý vị độc giả rằng, không phải vì không có bằng chứng cụ thể nào về cách phân bố của Hà Đồ trong ma trận 3x3 mà chúng ta có thể khẳng định Hậu Thiên Bát Quái không phải người Âu Lạc làm ra. Vì rằng, để đến Hậu Thiên Bát Quái người Việt cổ đã tiếp cận bằng lối khác. Hà đồ có thể là mã số của Hậu Thiên Bát Quái hay không không quan trọng. Chúng ta còn thấy ngay cả chuyện Hà Đồ nếu được sắp xếp lại theo nguyên tắc Nọc ở lại Nòng ra đi cùng hướng với chiều chuẩn hoàn toàn ứng với Hậu Thiên Bát Quái (Âu Lạc hay là bát quái được suy luận từ Toán học thuần túy như các phần dưới chúng tôi sẽ trình bày cụ thể) cũng là thành công lớn rồi.


Thực ra, bằng logic chúng ta có thể lý luận vấn đề này được qua chiều chuẩn của vận động. Vận động vũ trụ được chi phối bởi Thái Cực (số 1 lớn nhất) thuộc Nọc, và đại diện của nó là Trời - Càn cũng thuộc Nọc, nên trong chiều vận động thành tố Nọc đóng vai trò chỉ đạo. Như vậy, ở tại chính cung nào đó của Hà Đồ số Lẻ là số chỉ đạo nên nó đứng yên và số chẵn là số phụ nên phải ra đi theo hướng của chiều chuẩn.

Vậy có bằng chứng vật thể hoặc phi vật thể nào nói lên điều này. Xin mời quý vị cùng chúng tôi đọc lại đoạn trích dưới đây trong bài Y phục thời Hùng Vương của tác giả Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh:

Hình ảnh mà người viết trình bày với quí vị ở dưới đây được chép lại từ tạp chí Heritage số tháng 9/ 10 năm 1996 của Cục Hàng không Việt Nam . Hoàn toàn không có sử dụng kỹ thuật vi tính để lật ngược lại bức tranh. Quí vị có thể kiểm chứng điều này qua tay phải của một số nhân vật cùng đứng trong tranh.


Chắc chắn quí vị nhận ra ngay: đây chính là hình nhân vật trong các trò múa rối nước, một nghệ thuật dân gian độc đáo của người Lạc Việt. Quí vị cũng thấy vạt áo của nhân vật rối nước này ở phía bên “tả”(trái). Đến đây, vấn đề được đặt ra tiếp tục là:

Căn cứ vào đâu để những nghệ nhân rối nước truyền thống tạc hình nhân vật có vạt áo bên “tả” này? Hiện tượng các con rối nước có vạt áo bên trái là một sự ngẫu nhiên hay xuất phát từ một thực tế đă tồn tại từ cội nguồn văn hóa đă sản sinh ra nó?

Khi đã hàng ngàn năm trôi qua, chúng ta quen nhìn vạt áo cài bên “hữu”, thì vạt áo bên “tả” của hình rối nước liên hệ gì với câu của Khổng tử trong sách Luận ngữ:

Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải cài vạt áo bên tả và búi tóc như người Man di”.

Những nhân vật rối nước lưu truyền trong dân gian, phải chăng đă phản ánh thực tế y phục sinh hoạt của thời kỳ Hùng Vương. Rất tiếc! Những con rối nước cài vạt áo bên trái ngày nay rất hiếm gặp. Người ta đă hiện đại hoá nó bằng cách tạo cho nó một cái vạt áo bên phải. Nhưng cũng may mắn thay! Đây không phải bằng chứng duy nhất cho y phục dân tộc thời Hùng Vương. Xin quí vị tiếp tục xem hình dưới đây:

Y phục dân tộc Dao ở Phú Thọ:

Trích từ bài “Cạy cửa tìm nhau” - Ngọc Vinh & Lương Ngọc An

(Báo Tuổi Trẻ ra thứ 7 ngày 08/06/2002 ).

Tất nhiên tác giả bài báo này không có nhã ý nhằm giới thiệu y phục dân tộc Dao và giúp minh chứng cho luận điểm của người viết. Dân tộc Dao là một dân tộc có nền văn hóa lâu đời tồn tại trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Bởi vậy; y phục dân tộc này cũng còn giữ được những nét văn hoá cổ truyền của nước Văn Lang xưa:

Trên y phục của cặp vợ chồng ở hình trên, quí vị cũng nhận thấy người đàn ông áo vạt đưa sang bên trái, người phụ nữ vạt đưa sang bên phải.

Dân tộc Dao sống trong vùng rừng núi hẻo lánh; cho nên ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán. Do đó; hiện tượng cài vạt áo bên trái của người đàn ông thuộc dân tộc này còn lại đến nay; cùng với các tư liệu đă trình bày ở trên cho thấy: Đó là những chứng cứ khoa học thật sự - với những tiêu chí khoa học rõ ràng là:

"Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu nó lý giải một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó; có tính khách quan; tính hệ thống tính quy luật và có khả năng tiên tri.”


Tóm tắt đoạn trích có thể thấy một tư tưởng triết lý đã đi sâu vào trong văn hoá dân tộc. Tư tưởng này đã phổ biến ăn sâu vào nếp suy nghĩ của nhân dân. Đó là câu Nam tả Nữ hữu. Phải có một tác động, một nền móng triết lý sâu sắc thì trong dân gian mới hình thành một khẩu ngữ đặc biệt vậy. Chúng ta xét Hà Đồ dựa trên ba luận đoán sau: 1. Hà Đồ do người Việt làm ra. 2. Hà Đồ dùng để số hoá Hậu Thiên. 3. Trống đồng là những kinh văn Dịch. Lúc này chúng chỉ mới là luận đoán (luận đoán thứ ba chỉ được chứng minh đến thời Tiên Thiên), ở các phần sau cả ba luận đoán này được chứng minh hoàn toàn. Vậy, ta cứ tạm thời cho các luận đoán này đúng. Nếu vậy, chúng ta hằng thấy trên trống đồng ở giữa bao giờ cũng có vẽ mặt trời-đại diện của Thái Cực ở thời vũ trụ thành hình. Như thế Hà Đồ cũng vậy. Bên trong Hà Đồ cũng ngầm chứa Trời (tuy không vẽ ra nhưng có ngầm chứa). Ngoài ra bên trong Hà Đồ có vật thể có Nòng có Nọc và tổng số bằng 15. 15=3x5 hay=Càn. 15=1(mod 14) là Nọc lớn nhất (chú ý 14 là số chỉ Hậu Thiên Bát Quái, sẽ dẫn sau) và cuối cùng 15=7 (mod 8)=Càn. Dẫn giải thế nào thì trung ương Hà Đồ vẫn là Nọc lớn nhất. Vậy, hoàn toàn logic khi cho rằng tất cả các vật tồn tại trong vũ trụ đều có khuynh hướng quay về Trời, vế Thái Cực (Đây cũng chính là triết lý phản phục của Kinh Dịch). Như thế quý vị xem tiếp hình vẽ dưới đây:


Xét chuyện tả hữu cũng phụ thuộc vào chiều quán chiếu. Người đứng từ trong ra thì thấy trong một cụm số (ví dụ cụm 1-6) thì Nọc đứng bên phải và Nòng bên trái. Nhưng người đứng ngoài lại thấy Nọc đứng bên trái, Nòng đứng bên phải. Thật ra đây chính là cách quán chiếu chủ quan tương đối. Có cách quán chiếu khác khách quan và tuyệt đối, không phụ thuộc vào chủ quan của người quán chiếu đó là cách quán chiếu ngay trong hệ quy chiếu của đối tượng được xét. Tức là quán theo cách phân bố của hai người này trong hệ quán chiếu qua lại nhau của họ. Như trên ta thấy, vạn vật đều quay mặt về trời. Vậy Nọc đứng bên trái của Nòng và Nòng đứng bên phải của Nọc. Như thế quan điểm Nòng phải Nọc trái đã được luận dẫn từ cách phân bố Hà Đồ (Các phần dưới chúng tôi cũng chứng minh được muốn biểu diễn Hậu Thiên chỉ có thể có một đồ hình như Hà Đồ mà thôi). Và bằng chứng văn hoá “Nam tả nữ hữu” này ngược lại đóng vai trò chứng lý cho suy luận “Nọc chủ đạo, đứng lại và Nòng phải di chuyển theo chiều chuẩn”. Chúng ta hãy xem xét tính chuẩn xác của lý luận trên qua sơ đồ mô tả sau:


Từ trên lại xuất hiện thêm một nghi án Kinh Dịch vô cùng quan trọng:

- Theo logic của chúng tôi, thì người xưa làm ra Hậu Thiên Bát Quái sau đó nghĩ cách làm sao đó để mã hoá Hậu Thiên. Họ sẽ tìm một đồ hình thứ nhất mang ý nghĩa trùng quái, thứ hai có thể từ đó bằng logic số học đơn giản để suy ra Hậu Thiên, thứ ba có mang hình chữ S thiêng liêng. Với ba điều kiện này thì bắt buộc họ phải tìm ra đồ hình duy nhất (chúng tôi sẽ chứng minh ở phần sau). Bởi vì các cụm số trừ 1-6 bất di bất dịch vì lý do sùng bái Nước, còn ba cụm số còn lại có thể hoán chuyển. Ví dụ theo logic số học thì bốn cụm số sau cũng suy luận ra Hậu Thiên: Bắc: 1-6, Tây: 2-7, Nam: 4-9 và Đông: 3-8. Thế nhưng, vẫn tìm ra đồ hình mã hoá duy nhất. Ngoài ra nếu nói Nam tả Nữ hữu ta phải liên tưởng đến ngay một cặp quyến luyến không tách rời nhau. Và cũng ngụ ý sự sắp xếp tương xứng giữa hai vật thể trong cặp đó. Chính vì thế ngay câu Nam tả Nữ Hữu chỉ có thể ngụ ý Hà Đồ, tức là ngụ ý có sự sắp xếp tương xứng giữa hai số ngay trong cặp số đó. Nếu các số đã được đi như Lạc Thư thì câu Nam Tả Nữ hữu hiển nhiên không có mang một ý nghĩa nào. Vì các con số chẵn và lẻ của Lạc thư được xếp xen kẻ nhau thì chuyện tả hữu làm sao có thể suy xét được.

- Theo logic của Kinh Dịch Trung Hoa thì từ Lạc thư mà dẫn ra Hậu thiên.


Tại sao có cách phân bố như vậy? Và sao nó lại được phân bố đúng theo cách của Hà đồ khi cần phải phân ra để suy luận Hậu thiên. Quý vị có thể nói thì chỉ có một đồ hình như vậy thôi. Xin thưa rằng, trong các sách Dịch của Trung Hoa, hay chính xác hơn trong các cổ vật Trung Hoa chưa hề có nói đến chiều chuẩn. Vậy, chiều chuẩn không đặt ra và với điều kiện cố định 1 vào phương Bắc cộng thêm tổng các số của các hàng phải bằng 15 thì có đến hai đồ hình. Ngoài đồ hình trên còn có đồ hình nữa:


Vậy, khi chọn lấy một đồ hình để tìm ra Hậu thiên Bát quái (mà Hậu thiên Bát quái lại là trọng tâm của Kinh Dịch) thì cũng phải có cách giải thích hữu lý nào đó. Nếu không có cách giải thích đó mà Lạc Thư lại hao hao giống Hà Đồ (cả về hình dáng lẫn cái nguyên lý hình thành là Nam tả Nữ hữu; nguyên lý mà người Trung Hoa, trong Luận ngữ [30] có viết, không hề thích thú) thì ta có thể suy ra điều gì? Vâng, chỉ có thể suy ra vật cống Hà đồ đã được giải nghĩa cho người Trung Hoa rõ và họ thấy Lạc thư (cái mà ai ai cũng có thể làm ra được) hao hao giống Hà đồ nên họ nghĩ rằng Lạc thư cũng có chứa tư tưởng Dịch. Và vì thế nhằm nhu cầu hạ thấp giá trị Hà đồ họ đã dùng Lạc thư để làm một tiên đề tối quan trọng trong Kinh Dịch - tiên đề chỉ vũ trụ đã hình thành (vũ trụ mà bây giờ chúng ta đang sống trong nó và là một thành phần của nó). Tuy nhiên, vì không hiểu mức tương xứng về Toán học tuyệt đối của Hà đồ với Hậu thiên nên người Trung Hoa đương nhiên mắc phải những sai lầm trầm trọng.

Dĩ nhiên, tất cả lý luận có giá trị khi và chỉ khi chúng ta chứng minh được Hà đồ đã được người Việt cổ xây dựng nên. Phần sau quý vị sẽ có chứng minh này.

Lịch sử kinh Dịch (C7 - Trùng quái)

CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


4. Trùng quái


Phần 4, chương 6 và phần 2 ở trên, chúng tôi đã chứng minh cho quí vị độc giả rằng, người Việt cổ chúng ta đã biết lấy các tổ hợp hai, ba và sáu lớp những con nòng nọc. Thật ra khó có thể nói và cũng chưa có những chứng cứ cụ thể cho việc lấy tổ hợp 4, 5 hay lớn hơn 6 lớp của hai Nghi. Cũng như không có chứng minh ngược lại. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng, người xưa đã biết lấy tổ hợp bao nhiêu lớp cũng được. Quan trọng khi khắc lên các cổ vật tối cần thiết nhất là họ cần những tổ hợp nào. Nói đến Kinh Dịch (hay Diệc) thì nhu cầu cần thiết chỉ là 2, 3 và 6 lớp mà thôi.

Tại sao không đặt các quái là do trùng tượng? Nếu trùng tượng thì ta được 16 quái. Nhưng có lẽ người xưa có một quan niệm bất di bất dịch về bốn phương tám hướng. Như vậy, mỗi phương mỗi hướng phải có một ký hiệu riêng biệt. Từ quan niệm về vũ trụ đã thành như vậy thì họ cũng nghĩ Mẹ của vũ trụ cũng có những tính chất đó. Và họ đã dựng nên Tiên thiên Bát quái có tám quái riêng biệt ở tám hướng. Hay nói cách khác Tiên thiên đã được hình thần từ 8 phần tử có khả năng họat động riêng biệt.

Từ cơ sở lý luận đó, người ta cho rằng vũ trụ được hình thành do sự cọ sát của các quái này. Hay nói cách khác Hậu thiên hình thành và mang tính chất của hai lớp quái chồng lên nhau. Tuy nhiên, vì Mẹ vũ trụ là Bát Quái nên con của nó cũng là bát quái nhưng phải có ẩn chứa tư tưởng trùng quái trong đó. Đây có lẽ là lời giải thích hợp lý vì sao Hậu thiên Bát quái có liên hệ mật thiết đến Trùng quái.

Có một trống đồng ám chỉ đến việc trùng quái. Và nguyên tắc xây dựng Hậu thiên là trùng hai quái điên đảo tạo thành quái bất dịch. Đó là trống đồng Phú Xuyên:


Nhìn tranh vẽ này thật ra chúng tôi thấy sự bất cân xứng một cách quá đáng. Nhưng vẫn với câu hỏi: “những nghệ nhân làm nên những trống đồng đẹp lại có thể vẽ sai đến thô thiển vậy chăng?”. Ngoài ra, cũng nên nhớ việc đúc trống đồng rất khó nên việc lên khuôn cần phải có sự cẩn trọng cần thiết. Họ không thể sai lầm thô thiển đến vậy được: Hai chiều chim đã bay ngược nhau, còn một chiều lại có hai chim đối đầu nhau. Vậy thì tất cả những chi tiết này được diễn tả cho ý đồ nào đó. Trước tiên, một vòng có ba chim bay cùng hướng và một chiều có hai chim bay cùng hướng gần nhau. Điều này người ta muốn diễn tả chữ S. Ba chim+ba chim=6 tượng trưng cho 6 trùng quái thời Hậu thiên. Ngoài ra, ý người nghệ nhân còn muốn cho chúng ta thấy việc thành lập Hậu thiên Bát quái nhờ có sự chồng lên nhau của hai quái điên đảo dịch với quái trước (theo chiều chuẩn bay đến chồng lên quái sau). Như vậy hai con chim quay vào nhau chỉ đúng ví trí các quái chồng lên nhau. Phần sau, chúng tôi sẽ trình bày điều này. Các quái điên đảo dịch đều nằm một đầu cạnh chỗ cắt chữ S. Tuy nhiên, để biểu diễn trùng quái của cặp quái điên đảo có thể vẽ con chim giữa vòng bên trái xoay về hướng ngược lại. Điều này cũng không thể được, lúc đó con chim giữa đã cắt luôn mạch bay của ba con, khác với trường hợp của trống đồng, con chim xoay lại không cắt mạch bay của nhóm chim bởi vì có 2 chim/3chim cạnh nhau bay cùng hướng. Đó là phương pháp khá thông minh của nghệ nhân để diễn tả tư tưởng Hậu thiên Bát quái.

Lịch sử kinh Dịch (C7 - Số 18)

CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


3. Số 18 kỳ lạ


Ngoài 18 ngàn năm Bàn Cổ, 18 đời Hùng Vương, 18 thước cao của ngựa ông Gióng, chúng ta còn có thể thấy sự sùng bái số 18 của ông cha ta qua đoạn trích dưới đây trong sách đã dẫn của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo:

Truyền thuyết "Trăm Trứng" của người Mường (kể lại trong sử thi "Đẻ Đất Đẻ Nước" ) nói: 50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.

Qua hai truyền thuyết trên, chúng ta lưu ý đến con số 18. Các sách sử cổ của ta như Việt Nam thế chí, Đại Việt Sử lược, Đại Việt Sử ký Toàn thư...và ngọc phả Hùng Vương hiện lưu trử tại đền Hùng đều nói đến con số 18 đời vua Hùng. Truyền thuyết và phong tục cổ truyền của dân gian ta nhiều lần nhắc tới con số 18: Truyện Bánh chưng bánh giầy kể rằng vào cuối đời vua Hùng thứ 6, vua đã truyền ngôi, khônng phải cho con cả mà là cho con trai thứ 18, tên là Lang Chiêu, người đã làm được và đem dâng vua hai thứ bánh ngon lành và ngụ nhiều ý nghĩa.

Truyện Ông Gióng ghi lại chi tiết: người anh hùng làng Gióng bảo sứ giả của vua Hùng đúc cho ngựa sắt cao 18 thước, với ngựa này Dóng sẽ đi dẹp giặc.

Truyền thuyết về vua Thục An Dương Vương và thành Cổ Loa cho biết vòng trong cùng của thành có 18 u hoả hồi.

Trong tục rước nõn nường phổ biến ở khá nhiều địa phương vùng trung du và miền đồng bằng Bắc Bộ, dân gian xưa mang đi trong đám rước 18 cái nõn và 18 nường (là những vật tượng trưng có ý nghĩa phồn thực).

Con số 18 được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều trường hợp khác nhau chắc có một vị trí quan trọng trong thế giới quan của người Việt cổ.

Tìm hiểu các trống đồng Đông Sơn, lại thấy thêm một điểm đặc sắc. Đếm kỹ số lượng chim trong các vành chim bay - loại chim được nhiều nhà nghiên cứu xem là vật tổ của người Việt cổ - thì mỗi vành có đúng 18 chim! Một điều rất lý thú nữa là: ở vành chim trên mặt trống sông Đà tìm được trong một bản Mường thuộc tỉnh Hoà Bình, lúc đầu nghệ nhân sơ ý nên chỉ chia vành ra 17 cung bằng nhau, khi khắc trên khuôn đúc đến hình chim thứ 16 thì chỉ còn lại có một đoạn, vì vậy bắt buộc nghệ nhân phải khắc hai hình chim vào đoạn cuối cùng này cho đủ số 18 chim (nếu không làm như vậy thì vành chỉ đủ chỗ cho 17 chim thôi).

Thật ra, không có gì kỳ dị cả! Số 18 được sinh ra là do triết lý trọng Nước, triết lý hài hòa, giao hưởng giữa Đất và Nước của dân tộc ta. Không phải vô cớ các cư dân chuyên trồng trọt lại hay nhắc nhở nhau câu Nhất nước, nhì phân (hay nói cách khác là làm cho Đất màu mỡ hoặc Đất tốt), tam cần, tứ giống. Một lần nữa chúng tôi xin nhắc quý vị, ông cha ta đã hiểu tường tận nhị phân. Các con số được vẽ lại qua nhị nguyên Nòng Nọc có thể cho ta sáng tỏ vấn đề này. Dưới đây là hai con số 16 và 18 qua hệ nhị phân.


Số 18 đổi qua hệ nhị phân:

-          18 chia 2 được 9, dư 0;

-          9 chia 2 được 4, dư 1;

-          4 chia 2 được 2, dư 0,

-          2 chia 2 được 1, dư 0;

-          1 chia 2 được 0, dư 1.

Số 18 đổi qua hệ nhị phân là 010 010

(là quẻ thuần Khảm).

Số 16 đổi qua hệ nhị phân:

-          16 chia 2 được 8, dư 0;

-          8 chia 2 được 4, dư 0;

-          4 chia 2 được 2, dư 0,

-          2 chia 2 được 1, dư 0;

-          1 chia 2 được 0, dư 1.

Số 16 đổi qua hệ nhị phân là 010 000

(là quẻ Thủy Địa Tỷ).


Trong rất nhiều trống đồng ví dụ như Ngọc Lũ và Sông Đà (những trống đồng mà trình độ mã hoá đã đạt được đến độ tuyệt mỹ) có khắc họa hai số 18-16 với nhau. Nhìn cách phân tích nhị phân của hai số này ta cũng có thể thấy người xưa yêu Nước đến thế nào. Và hai số 18, 16 đó một lần nữa chứng minh cho logic luận số chúng tôi đã đưa ra. Tức là người xưa đã biết trùng quái Thuần Khảm có số 18 (logic luận b). Và cũng như đối với số 16, dân tộc ta gọi nơi mình sinh sống là đất nước cũng hữu lý vì chính Đất và Nước mà quan trọng là Nước (vì nếu viết lại nó theo các vạch Âm Dương bây giờ Nước nằm ở dưới và khi đọc thì lại đọc từ trên xuống : Đất Nước) chính là đại diện cho Hậu Thiên của hai nghi Trời và Đất. Phần dưới sẽ dẫn chứng minh điều này từ Hà Đồ. Như vậy, sự kiện người Việt cổ nói Đất Nước là một bằng chứng xác minh họ biết Kinh Dịch. Và sự kiện họ tạo ra vòng 18-16 là bằng chứng xác đáng thứ hai chứng tỏ họ am hiểu kinh Dịch.

Trở lại Trống Đồng Sông Đà, chúng tôi không cho rằng, những cư dân đã khắc họa rất tinh xảo và rất đối xứng lại có thể làm một sai lầm đến như ông Lê Văn Hảo nhận xét. Trong khi sự đúc trống là cả một vấn đề khó khăn (trong bài viết của tác giả Lê Văn Hảo cũng nói lên điều này), và có lẽ sự đúc trống là một sự kiện trọng đại lúc bấy giờ. Nó cần có sự hiện diện của lãnh chúa và các thầy cúng. Bởi vậy người nghệ nhân không thể khinh suất như vậy. Toàn bộ sự bất cân xứng của đồ họa trên trống Sông Đà là để mã hóa cho sự việc khác. Không ngoại lệ với cả hai con chim trên. Số 18 tràn đầy cả vòng trống, còn số 16 được chứa trong nó. Vòng tròn uyên nguyên 18-16 đã hiện diện trên nhiều trống đồng Việt Nam; chúng tôi sẽ chứng minh ở các phần sau. Đó là một sự nhấn mạnh thêm triết lý: Nước là chủ tế của Hậu Thiên và sự vận động của vũ trụ là bản giao hưởng hài hòa (chữ S) giữa hai chiều vận động Đất và Nước. Vì lẽ này mà người xưa gọi lãnh thổ nơi mình sống là Đất Nước và cũng có thể gọi đơn giản là Nước. Việc vẽ bất cân xứng trên nhằm ám chỉ cho người chiêm ngưỡng nó một điều: Trống này được khắc họa đồ hình Hậu thiên - diễn tả sự thành hủy của vũ trụ.

Tuy nhiên, có nhiều họa đồ trên trống đồng lại vẽ cả 18 con chim. Cũng hoàn toàn không sai logic Nước chủ tế và Đất Nước chỉ thị vận hành. Số 18 nhiều nơi trên trống đồng được viết như sau để đối với số 15=Càn:

Trống đồng Hữu Chung 3:


Càn được viết thành 3 lớp mỗi lớp có 5 là Nọc. Còn Khôn được viết thành 3 lớp, mỗi lớp có 6 là Nòng. Như vậy ẩn chứa trong số 18 là Khôn-Đất, nhưng phải qua suy luận cấp 2. Nên sự hài hòa Đất và Nước vẫn được tôn trọng.

Vậy vẽ 18 hay vẽ 18-16 chẳng qua là nguyên tắc mã hoá của từng nghệ nhân, nhưng tư tưởng "Khảm chủ tế và vận động vũ trụ chính là bản giao hưởng hài hoà của Đất và Nước" luôn luôn hiện din.


Lịch sử kinh Dịch (C7 - Khảm bắt đầu)

CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


2. Khảm bắt đầu


Trong Kinh Dịch Trung Hoa có giải thích đầu tiên có Thủy, sau đó phải có Hỏa để cân bằng. Đọc xong, chúng ta cảm thấy ngơ ngẩn ngẩn ngơ. Sao lại thế? Sao lại độp ngay một câu ỡm ờ như vậy?. Không đến từ đâu cả. Vậy ít ra dân tộc Hoa yêu Nước lắm chăng? Nếu yêu Nước thì phải có những họa đồ, tranh vẽ (dĩ nhiên cổ xưa) cho thấy người Hoa tôn vinh Nước.

Chúng tôi không phải là nhà sử học, không phải là nhà khảo cổ, cũng không có điều kiện nghiên cứu DNA nên không dám bàn luận về việc dân tộc ta đã từng sống trong những vùng lãnh thổ nào. Nhưng chúng tôi cũng nhận thấy, Đất Nước ta từ xưa đến nay đều nằm trong những vùng châu thổ của hệ thống sông ngòi chằng chịt. Chính trong truyền thuyết đã nói chúng ta là con Rồng cháu Tiên mà. Bố chúng ta là thủy thần sống dưới Nước. Trong trống đồng và các cổ vật, người Việt cổ đã không ít lần khắc họa linh vật của mình. Con giao long được khắc họa khắp nơi trên nhiều dụng cụ.

Trong quyển Hành Trình Về Thời Ðại Hùng Vương dựng nước” của học giả Lê Văn Hảo có rất nhiều hình ảnh về trống đồng và các cổ vật nói lên tinh thần trọng nước, trong đó có nhiều đồ hình khắc học con giao long.

Trên thạp Đào Thịnh:


Ở Ninh Bình:


Trên giáo Đông Sơn:


Trên rìu núi Voi:


Trên trống đồng Hòa Bình:


Trên trống đồng Phú Xuyên:


Có hai truyền thuyết có vẻ nghịch nhau: đó là chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh [29] và chuyện Cóc kiện Trời. Nhưng nghĩ ra, cư dân vùng lúa nước đúng là vừa sợ nước và vừa cần nước. Nước như một thần linh vừa cần thiết, đáng yêu; vừa có tính đỏng đảnh, giận dữ bất thường làm con người hoảng sợ. Vì thế nên họ coi trọng Nước cũng không khác như coi trọng Trời vậy.

Chúng ta hay gọi Tổ quốc là Đất Nước. Xem ra Đất quan trọng hơn Nước. Nhưng mà không, chúng ta còn gọi Tổ quốc mà không cần Đất. Từ cổ đến kim đã không ít trang anh hùng hào kiệt ngẩng cao đầu nói: Nước Nam ta. Rồi như câu cửa miệng : “truyền thống đấu tranh dựng nước giữ nước”. Hóa ra, nước có một ý nghĩa sinh tồn đối với dân tộc ta. Hay nói cách khác, dựng được nước (thủy lợi) thì Nước phát triển và giữ được nước (bảo vệ các công trình thủy lợi - Bị chiếm nguồn nước thì coi như đất nước bị tuyệt diệt; Khác với truyền thống quan niệm Trung Hoa, cứ đốt Thái Miếu là coi như Nước (quỏ jia) mất - chính là giữ cho Nước được trường tồn vậy. Điều này cho thấy, người Việt ta đã xem nước như một “bản thể” thiêng liêng nhất của vũ trụ (hồi sau, hồi khi đã hình thành vũ trụ, hành tinh, tinh tú), bản thể số một.

Nhưng điều đó cũng chưa chắc làm cho người xưa đặt Khảm lên đầu. Vì có bao nhiêu linh vật, người Việt yêu thương và kính bái mà họ không đặt lên làm ngôi chủ trong Hậu Thiên của Kinh Dịch? Khảm trong Kinh Dịch phải được đặt vào ngôi chủ tọa vì Khảm chính là cái nôi đã nuôi nấng nòng và nọc-con của Thái Cực (cũng bằng sự quan sát tự nhiên chứ không phải suy đoán hồ đồ). Chính vì thế, ngôi vị chủ tọa của Bát quái Hậu thiên (mô tả việc sinh thành hủy của vạn vật khi vũ trụ đã hoàn thành) phải là Khảm. Đối xứng với Khảm tự nhiên chính là Ly do hệ quả F1,8-hệ quả sự vận động vũ trụ phải giống sự vận hành Thái cực đồ. Bởi thế, Khảm-Ly được đặt ở trục Bắc-Nam là do triết lý trọng nước của dân tộc Việt.

Ở bất cứ tang trống nào, cư dân Việt cổ cũng có khắc hình thuyền chứng minh cho cuộc sống sông nước:

Trống đồng Ngọc Lũ:


Trống đồng Hoàng Hà:


Hay như trong trống đồng Sông Đà, nghệ nhân xưa đã tôn vinh Nước-Khảm một cách đặc biệt. Ông đã đưa nó và trung tâm vũ trụ (trung tâm trống song song với Mặt Trời).


Số 26 tượng trưng cho Nòng, ở giữa bao giờ cũng là Mặt Trời (vòng tròn có cánh) là Nọc lớn nhất. Dưới là 18 tượng trưng cho Nòng. Vậy quái nhận được là nòng-nọc-nòng==Khảm. Ở đây rõ ràng đã lồng tư tưởng triết học thật sâu xa. Tượng Mặt Trời ở giữa làm chủ tế điều hòa cho vận động, mà vận động của muôn vật phải tuân theo vận động của Thái Cực. Nói đúng hơn Tượng Mặt Trời (Càn) là chủ tế của Tiên thiên. Còn Khảm là chủ tế của Hậu thiên, nó lan tỏa, bao trùm toàn bộ vũ trụ đã thành hình. (Phần dưới chúng tôi sẽ chứng minh trống sông Đà là đồ hình của Hậu thiên). Quả là một ngẫu nhiên lý thú khi khoa học bây giờ đã đưa ra kết luận Nước chính là nguyên nhân của sự sống.

Lịch sử kinh Dịch (C7 - Các đốm xoáy)

CHƯƠNG 7. TRỐNG ĐỒNG - NHỮNG KINH VĂN DỊCH TRÁC TUYỆT. HẬU THIÊN


1. Các đốm xoáy kỳ lạ.


Hình Thái cực đồ trên do chúng tôi cắt ra từ trang “Đàn Lợn” của làng tranh Đông Hồ [28]:


Chúng tôi đưa những đốm xoáy này vào phần Hậu Thiên vì rõ ràng nó liên quan đến Hà đồ và thời Hậu Thiên. Và các đốm xoáy trên mình mấy con heo con đã làm rõ một nghi án quan trọng của Dịch. Nó giải quyết vấn đề tại sao người ta đã vẽ những đốm xoáy lên da một con vật dưới nước. Các đốm xoáy làm nên Hà Đồ trên bức tranh Long Mã quán chiếu lại với các đốm xoáy trên mình các con heo con cho ta thấy ‎ý nghĩa thật sự của Hà Đồ. Đó là đồ hình chỉ thời Hậu Thiên và một đồ hình tối quan trọng của thuyết Âm Dương-Ngũ Hành.

Con Long Mã là con gì thì chưa ai thấy phải không quý vị? Kể cả ngài Phục Hy. Nhưng đốm xoáy lại có thật. Trên đầu mỗi người đầu có không 1 thì 2. Trên lưng các con thú cũng có. Nhưng đốm xoáy gợi cho ta là cái vòng xoắn do một đám lông làm nên trên một mặt da của con vật nào đó. Chưa ai thấy đốm xoáy nào trên các con vật dưới nước cả (có thể có con vật nào đó sống dưới nước có lông, như con Gấu trắng Bắc Cực chẳng hạn, tuy nhiên đốm xoáy của con vật dưới nước cũng rất hạn hữu). Ta thấy các con vật sau: cóc, rùa, cá sấu…đều được người xưa (người xưa ở đây là người Viêt cổ) cho là linh vật. Theo nhiều nhà khảo cổ và học giả, con rồng được tưởng tượng ra từ cá sấu (người ta đã thi vị hóa, mỹ hóa con cá sấu lên để nó thành con Rồng. Người phương Tây cũng hay gọi một giống tắc kè lớn là dragon. Tắc kè cũng cùng bộ bò sát và có hình vóc giống cá sấu. Người phương Đông thì cho rằng Rồng ở dưới nước vì thế chúng ta có thể suy ra người Á Châu xưa tưởng tượng ra Rồng từ con cá sấu). Trong các động vật này, ta thấy chúng có điểm chung là da vằn vện, các hình trên da của chúng có thể gợi cho người xưa thấy những chòm sao, những vì tinh tú. Nhưng chúng không có lông!!!


Vậy, khi giải mã câu chuyện Phục Hy-Long Mã chính là chuyện có người tặng cho vua chúa Trung Hoa bức đồ hình được vẽ trên da cá sấu, chúng ta còn thiếu một mắc xích- đó là xoáy. Vì sao vẽ xoáy trên da cá sấu? Người Trung Hoa hoàn toàn không thể lý giải được điều này và thậm chí họ không thấy mặt mũi những cái xoáy đó hình thù thế nào. Họ chỉ biết “xoáy” là “xoáy” qua chuyện kể chứ chưa hề mục kích nó. Quý vị độc giả nhìn hình trên có thấy điều gì lạ lùng chăng? Có liên tưởng đến cái gì chăng?

Thứ nhất, chúng ta liên tưởng ngay đến cái câu của Kinh Dịch: ngài Phục Hy nhìn những đốm xoáy trên mình con Long Mã được xếp như Hà Đồ mà vạch nên hai vạch Âm Dương. Trên mình các con heo con đều có như thế. Lạ lùng nhất đây cũng xoáy, kia cũng xoáy. Lại lấy so sánh một cách khập khiễng con heo đời thường đối với con Long mã linh thiêng thì chúng ta sẽ nhận được suy luận logic nào? Tư tưởng Dịch đã ăn sâu và đi vào tận hang cùng ngõ hẻm của cuộc sống dân Việt (về sau vì thời gian lệ thuộc lâu dài, nên người ta hầu hết quên cái triết lý chứa đựng trong nó. Nhưng cách vẽ thì vì cha truyền con nối nên người sau vẫn tiếp bước người trước vẽ như thế) và Dịch học không có gì huyền bí cả. Còn liên quan đến Dịch trong sách Trung Hoa từ cổ chí kim cũng chỉ có mấy cái xoáy trên lưng con Long mã mà thôi. Vậy nếu như có một logic luận thông suốt từ đầu đến cuối để chứng minh được người Việt đã làm ra Kinh Dịch qua hai lưỡng thể Nòng Nọc thì mấy đốm xoáy trên lưng mấy con heo nhỏ nhoi này cũng là bằng chứng lớn lao cho việc người Trung Hoa không làm ra Dịch từ nguyên thuỷ. Chúng ta có thể hình dung theo mô hình logic sau:


Thứ hai, tất nhiên chúng tôi không cho rằng người ta không vẽ được các đốm xoáy trên lưng con Long Mã, hay đúng hơn là trên tấm da cá sấu. Họ vẽ được và hệ quả là có một tấm như thế được tặng cho ông Phục Hy. Thế nhưng, vẽ trái khoáy các đốm xoáy trên lưng một con ở dưới nước thì phải có lý do của nó. Mà lý do đó nằm trong chính nội dung của đốm xoáy (có nghĩa đốm xoáy phải chứa thông điệp dịch, hay ít ra có dính dáng đến dịch). Theo như trên đã viết thì người Trung Hoa chỉ viết lại đốm xoáy đó như là một chi tiết của câu chuyện hơn là hiểu chúng có liên quan thật sự đến Dịch. Còn nhìn hình đàn heo trên quý vị có thể nhận ra (tuy không chi tiết về số như Hà Đồ) rõ ràng các đốm xoáy có dính dáng đến Dịch. Và không phải dính dáng bình thường mà nó còn cụ thể chỉ rõ mắc xích độc đáo (mắc xích này trong câu chuyện Long Mã cũng mơ hồ đề cập đến. Tuy nhiên, người Trung Hoa lại hiểu sai đồ hình Hà Đồ dính dáng đến Tiên Thiên-khi vũ trụ chưa thành. Chúng tôi trong các phần tiếp theo sẽ chứng minh Hà đồ dính dáng đến Hậu Thiên-vũ trụ đã thành hình. Và điều này hoàn toàn hợp với thông điệp mà bức tranh Đàn Lợn nói chung hay những đốm xoáy nói riêng muốn chuyển tải.). Đó là mắc xích: Tiên Thiên sinh ra Hậu Thiên với Ngũ hành và biểu diễn (hay mã hóa) bằng Hà Đồ. Từ hình trên, quý vị có thể dễ dàng nhận được một suy luận như sau: người xưa làm ra Tiên Thiên Bát Quái ngộ ra chữ S-đường chia Thái Cực ra hai nghi nằm giống như hai con Nòng Nọc xoắn vào nhau. Hai nghi này tuy đối kháng nhau nhưng là hai phần xây dựng nên một thể thống nhất-Thái cực. Và ở đây người ta đã vẽ Thái cực một cách rõ ràng trên hình heo mẹ. Tức Thái cực mà hiện thân bằng đồ hình số của nó là Tiên Thiên Bát Quái là Mẹ của vũ trụ. Có năm heo con-chúng ta thấy ngay là có năm loại hình thể của thời Hậu Thiên-đó là tư tưởng ngũ hành. Ở trong mình mỗi con heo con đều có hai xoáy, vâng chính ở đây ta nhận được giải thích vì sao xoáy có liên quan đến dịch. Mà có cần uyên thâm gì đâu (không cần uyên thâm, nhưng người làm Dịch từ đầu đến cuối mới thấy không uyên thâm thật sự), người xưa đã nghĩ ra một triết lý giản đơn: các hành thể của Thái Cực được sinh ra từ Thái cực nó phải mang hình dáng giống Thái Cực đồng thời cũng có những điểm đặc biệt chỉ thế hệ Hậu Thiên. Và người ta nhận thấy trên lưng heo, đầu người hay nhiều chỗ có lông khác của thú vật có những đốm xoáy na ná giống Thái Cực (khác nhau là không chia nghi rõ ràng), nên họ nghĩ chính xác xoáy tức là hình đại diện của Thái Cực của thời Hậu Thiên, quan sát thấy nó được ghi dấu trên nhiều cơ thể thú vật; đặc biệt đối với người(loài vật linh thiêng-có tư duy duy nhất) thì xoáy nằm trên đầu (chỗ thiêng liêng nhất) và hầu như chỉ có 1 cho tất cả mọi người. Chính vì thế mà hình đàn lợn trên đã cho chúng ta thấy vì sao xoáy có dính dáng đến Dịch. Tuy nhiên, quý vị cần phải phân biệt rõ ràng để thấy thêm tranh đàn lợn này cũng chỉ ra nguồn gốc kinh Dịch là của người Việt. Vấn đề ở chỗ có thể có người nói từ những lý luận trên đây thì nếu người Trung Hoa cũng lý luận như vậy và họ cũng nhận được mối liên quan giữa xoáy và Dịch!!! Xin thưa, không thể nào. Không, không và không thể. Cũng đơn giản thôi, vì các xoáy đó chỉ giống cái Thái Cực của người Việt Nam chứ không hề giống Thái cực có chua hai vòng tròn của người Trung Hoa. Dù có tưởng tượng phong phú đến đâu. Vậy họ có giải thích bằng cách nào cũng không được. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai, câu chuyện Long Mã chưa hề cho thấy tương quan khăng khít bằng hình tượng giữa xoáy và Thái Cực. Trong hình đàn lợn nhận ra rõ ràng tương quan giữa chúng vời nhau: nếu heo mẹ có hai hình Thái Cực thì mỗi heo con cũng có hai hình xoáy. Đấy là chúng tôi chưa kể đến việc quan niệm vô cùng sai lầm của người Trung Hoa về vai trò của Hà Đồ.

Thứ ba, chúng tôi có cảm giác các đốm xoáy của các con heo con không vẽ để cho có vẽ. Họ hoàn toàn không vẽ chỉ vì thuần túy cho nó giống Thái Cực. Tuy các xoáy được vẽ không thể hiện rõ ràng về số như Hà Đồ, nhưng các triết lý Dịch thì lại cao hơn. Mỗi con heo được vẽ (bên một phía của thân-vì là tranh để nhìn nên chúng tôi nghĩ tất cả các chi tiết cần vẽ phải được vẽ trên phía có thể nhìn thấy được) hai xoáy. Hai xoáy có chiều đi ngược nhau. Như vậy, có thể đây chỉ thị một xoáy mang tính Nọc một xoáy mang tính Nòng. Xoáy ở gần ngực (tức phía đầu) có chiều như của Thái Cực, còn xoáy gần đuôi có chiều ngược lại.Rõ ràng đây không phải ngẫu nhiên. Xoáy có chiều như Thái Cực là Nọc được đặt về phía thiêng liêng của con vật, đó là đầu. Còn xoáy Nòng-ngược chiều Thái Cực đặt về phía ngược lại. Lại thấy heo mẹ mang hai hình Thái Cực rõ ràng còn các con của nó các hình vòng tròn gần giống Thái Cực, nhưng không phải Thái Cực. Điều này, rõ ràng cho thấy sự liên hệ mẫu tử giữa Thái Cực và vũ trụ đã hình thành. Vũ trụ có những vận hành giống Thái Cực nhưng cũng có những đặc điểm riêng của nó. Một trong những đặc điểm đó chính là trong thời Hậu Thiên sẽ có quá trình phân cực và quá trình phân hành. Con heo mẹ cả hai hình giống nhau chỉ ra chỉ có một loại Thái Cực và hai nghi của nó không riêng rẽ tách rời mà tạo thành thể thống nhất. Còn các con con đều có hai vòng xoáy ngược chiều nhau chỉ rõ triết lý: người xưa cho rằng đến thời vũ trụ thành hình thì sự phân nghi đã đến mức sâu xa hơn. Hay nói cách khác, họ muốn chỉ rõ trong thời Tiên Thiên tức lúc vũ trụ chỉ là một Thái Cực duy nhất, hai nghi Nòng và Nọc chuyển động trong một động cơ thống nhất. Đến thời Hậu Thiên các sản phẩm của hai nghi này đã được phân ra riêng rẽ với vận động có chiều nhất định; nếu giống chiều của Thái Cực thì vật đó có tính Nọc còn ngược lại là tính Nòng. Các con heo được vẽ (hay pha màu) không giống nhau cho ta thấy ý tưởng: Các vật được sinh ra đời Hậu Thiên từ hai khí nguyên là Nòng và Nọc nhưng chung quy nằm vào năm thể chất mà ngày nay người ta gọi là Ngũ Hành. Như vậy, đây là triết lý phân cực và phân hành khá rõ ràng. Và hình đàn lợn có xoáy ứng với những xoáy của câu chuyện Phục Hy cũng chứng tỏ cho chúng ta thấy thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã được dựng nên đã lâu. Ý của tôi muốn nói: tranh đàn heo có các đốm xoáy và câu chuyện Phục Hy đã tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về lịch sử của Âm Dương Ngũ Hành. Lịch sử đó nói lên một điều: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành được dựng nên ngay đúng thời người ta làm nên Hà Đồ. Hay nói cách khác, phát hiện ra Hà Đồ ứng với Hậu Thiên người ta cũng phát hiện ra tính Ngũ Hành tương tác của thời vũ trụ đã thành hình. Đây là bằng chứng khoa học (tuy chỉ dựa trên mỗi các di sản phi vật thể) quan trọng để đập đổ những lý luận cho rằng chỉ có thuyết Âm Dương riêng hay Ngũ Hành riêng. Chúng tôi cho rằng tất cả những vấn đề của Dịch liên quan đến Ngũ Hành có thể được phát hiện ra sau Âm Dương, Bát Quái và Trùng Quái nhưng tiên đề đầu tiên: vũ trụ có 5 thể chất đã được phát hiện ngay từ thời người ta phát minh ra Hậu Thiên Bát Quái. Người ta đã nhầm lẫn khi cho rằng các chi tiết của các môn dính dáng đến Ngũ Hành được đưa vào sau nên Thuyết Ngũ hành có sau và riêng rẽ với thuyết Âm Dương. Thực ra triết lý hai nguyên khí và năm chất thể đã có ngay trong những ngày đầu tiên làm ra Dịch-bằng chứng sâu sắc nhất là các xoáy và Hà Đồ (5 cặp số). Quan trọng hơn triết lý này không hề xa vời, không hề khó hiểu, nó đã dính chặt vào con người mỗi chúng ta. Đó cũng chính là khẳng định mà chúng tôi đã có lần đề cập đến trong chương 4. Nếu như xem mắt là cửa sổ của tư duy thì bộ phận nào được mắt quan sát rõ ràng nhất, kỹ lưởng nhất? Đó là đôi bàn tay của con người. Của người Việt cổ, của tôi và của qu‎ý vị. Hai bàn tay tuy giống nhau về hình nhưng lại trái ngược nhau. Chúng không đồng nhất được. Và mỗi bàn tay lại có 5 ngón. Đánh số 1-5 từ ngón út đến ngón cái một bàn tay, và 6-10 cũng từ ngón út đến ngón cái của bàn tay còn lại. Chắp hai tay vào nhau ta nhận được 5 cặp số chẵn-lẻ như Hà Đồ. Vậy triết lý hai nguyên khí và năm chất thể hoàn toàn hợp với quan sát-theo cách nói của Ngài Khổng là “gần thì lấy thân mình”. Chân lý bao giờ cũng đơn giản.


Thứ tư, thật ra phân tích ba điểm trên của bức tranh chúng ta cũng rút ra nhiều điều quan trọng rồi. Thế nhưng, chúng tôi vẫn lưu ý quý vị độc giả, chúng ta không cần phải tưởng tượng thâm sâu nào(chỉ cần tưởng tượng trong các đốm xoáy có chứa các vòng tròn như hình dưới) cũng thấy hình Đàn Lợn đã chỉ rõ mối quan hệ giữa Hà Đồ với Hậu Thiên và Hà Đồ với Ngũ Hành. Tất cả đều liên quan đến thời vũ trụ đã hình thành. Có 5 con như thế và nếu dùng số 1 đến 10 để biểu diễn 10 xoáy này thì chắc chúng ta không nhận gì khác ngoài Hà Đồ. Mà cũng dùng đúng luật chẵn-Nòng và lẻ Nọc. Mỗi con heo con đều chứa một cặp xoáy Nòng-Nọc. Chúng tôi sẽ có những phân tích sâu hơn về màu của các con heo này trong các bài khác. Ở đây chỉ lưu ý quý vị một điểm rất nhỏ (tuy nhỏ nhưng cũng rất quan trọng) là trong bốn heo con chỉ có một con duy nhất mang hai xoáy màu đỏ. Một con duy nhất quý vị ạ. Chúng tôi cho điều đó quan trọng bởi vì điều này hợp với logic trống đồng. Nếu ta coi màu đỏ tượng trưng cho tính động, tính nóng của khí Nọc thì ta thấy lúc Thái Cực sinh ra Vũ trụ: phía ngoài của vũ trụ đã mang nhiều tính Hậu Thiên (tức là tính Nòng càng ra xa tâm thì phần Đất hay Nòng nhiều hơn Trời-Nọc) nhưng bên trong tâm Vũ trụ vẫn chứa nguyên lõi Nọc đại diện cho Thái Cực. Cái lõi đó trong trống đồng được vẽ hình mặt trời (tôi đã phân tích vẽ mặt trời là đúng lý vì logic Trời=Càn =7 (số chủ đạo vì tổng các số của hai quái đối diện bằng 7) hay có thể là 15 vì 15 mod 8=7=Càn=Trời), còn trong tranh đàn heo thì được vẽ hai xoáy màu đỏ trên lưng một con heo duy nhất. Và cả logic trong trống đồng lẫn logic trong tranh dân gian “Đàn lợn” đều hợp tư tưởng Hà Đồ-số vòng tròn ở trong là 15. Đây là bằng chứng cho mối liên hệ giữa các di sản văn hóa Việt Nam cả vật thể lẫn phi vật thể với Kinh Dịch. Và mối quan hệ này càng sáng tỏ hơn ở các phần sau.

Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2023

Lịch sử kinh Dịch (C6 - Chú thích)

CHƯƠNG 6. BÍ MẬT KỲ VĨ CỦA CÁC CỔ VẬT VIỆT NAM. TIÊN THIÊN


Chú thích:


[22] : Kinh Diệc. Có nhiều học giả cho rằng từ Việt xuất phát từ việc người Việt cổ đã nghĩ họ là giống chim diệc (bây giờ là một loài cò). Chim Diệc ngày xưa có thể là một loài chim trĩ rất đẹp. Và hình của chúng được khắc nhiều trên trống đồng và lông của chúng được người Việt cổ lấy làm trang phục hay trang sức. Vì thế, bản văn gói gọn triết lý dân Diệc gọi là Kinh Diệc, sau này du nhập vào Trung Hoa, người Trung Quốc gọi trại lại là kinh Dịch. Có người còn cho Kinh là đất Kinh nơi khởi thủy của dòng giống Lạc Việt vì thế triết lý của người Việt có tên là Kinh Diệc (đất Kinh người Diệc).

[23] : “Con Cóc là cậu ông Trời”. Xem trong http://www.webtretho.com/w/index.php?nID=978

[24] : Thần Nông. Người Trung Hoa cho rằng Thần Nông là một trong Ngũ Đế [Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hiệu (Đế Nghiêu) và Chuyên Húc (Đế Thuấn)] của họ. Tuy nhiên, Thần Nông có ngữ pháp tiếng Việt; nếu theo ngữ pháp tiếng Trung thì phải là Nông Thần. Người Việt Nam lại cho Thần Nông là thủy tổ của họ, dưới đây là một đoạn huyền sử trong Tuyển tập văn chương nhi đồng của Doãn Quốc Sỹ được đăng trên http://www.ducavn.com/: Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ), gặp một nàng tiên lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.

Kinh Dương Vương xuống thủy phủ, cưới con gái vua Động Đình là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm tức là Lạc Long Quân.

[25] : Đoạn này được trích ra từ sách “Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ”, Lê Trọng Khánh, Viện Văn hoá xuất bản, 1986.

[26] : Aristotle (384-322BC). Triết gia Hy lạp thời cổ đại.

[27] : Nicolaus Copernicus (19/02/1473---24/05/1543). Nhà thiên văn học Ba Lan. Ông có công trình nghiên cứu về sự chuyển động của các thiên thể “Về sự quay chuyển của các thiên thể”. Ông là người đầu tiên cho rằng, Trái đất quay quanh Mặt trời.

Lịch sử kinh Dịch (C6 - Thái cực đồ)

CHƯƠNG 6. BÍ MẬT KỲ VĨ CỦA CÁC CỔ VẬT VIỆT NAM. TIÊN THIÊN


9. Thái cực đồ - Mẹ vũ trụ


Trong các sách Dịch Trung Hoa hoàn toàn không có đề cập đến vấn đề S, và cũng như các nghi án khác của Kinh Dịch, Thái cực đồ cứ như từ trên trời rơi xuống. Nó không được rút ra từ tiền đề nào cả và cũng không hợp với những tiền đề đó.

Chúng tôi từ ban đầu đã cố theo một quy trình nhất định nhằm phục hồi lại quá trình sáng tạo của người xưa. Và bây giờ cũng vậy, chúng ta hãy đặt mình vào vị trí các cụ xem sao. Với một điều kiện các cụ rất rành hệ nhị phân và số học sơ khởi (tức là biết đếm, biết lấy mod). Ta thử đặt điều kiện để xây dựng Thái cực đồ:

a. Thái cực là Mẹ vũ trụ, và hai tiền đề đầu tiên Nòng và Nọc là con của Thái cực.

b. Hai nghi của Thái cực được chia bằng một đường chữ S.

c. Đường chia làm sao đó để ít nhiều thỏa mãn tỷ lệ của các quái. Không có quái nào toàn Nọc (Dương) hay toàn Nòng (Âm) để thỏa quy luật trong Nòng có Nọc và trong Nọc có Nòng.

Người Việt cổ từ những điều kiện này đã xây dựng nên Thái cực đồ như sau:

Điều kiện a và b thỏa mãn hoàn hảo. Thái cực mang hình dáng của hai con Nòng Nọc xoắn vào nhau. Còn về lượng thì sao? Ta lại vẽ bốn đường như đã phân tích ở phần nghi án Thái cực đồ:

Ở đây có chút lệch lạc: Tốn có vẻ phần Nọc lớn hơn của Chấn. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ nếu vẽ cẩn thận thì cũng nhận được như ý. Nhưng như vậy cũng đã là bước tiến rất lớn so với Thái cực đồ Trung Hoa. Đồng thời, chúng tôi cũng khẳng định muốn vẽ được đồ hình có tính cân xứng lượng của các quái thì chúng ta luôn nhận được hình tương tự như trên (như hai con nòng nọc xoắn vào nhau).

Như vậy, người Việt cổ đã cố gắng xây dựng nên đồ hình mang dáng dấp của nòng nọc và thỏa lượng số của các quái.

Đến đây, chúng tôi xin kết thúc phần Tiên thiên. Nhưng có lẽ quý độc giả nghĩ rằng những lý luận trên làm sao khẳng định Kinh Dịch là của người Âu Lạc được. Vâng đúng thế. Chúng tôi đồng ý là như vậy. Từ các đồ hình trên thì chưa thể bảo Kinh Dịch là của người Âu Lạc. Nhưng khi đặt ra thuyết gì đó, thì người ta kiểm nghiệm chúng (theo logic đặt ra sẵn) và bắt buộc phải tìm bằng chứng để chứng minh cho từng khoảng nhất định. Ở trên chúng tôi đưa ra logic và tìm bằng chứng cho đến thời Tiên thiên. Và chương 7 sẽ cùng với phần Tiên thiên này tạo ra một chuỗi bằng chứng rất xác đáng để khẳng định logic luận trên của chúng tôi đúng. Ngoài ra, dưới đây chúng tôi còn dẫn ra cách nào theo toán học để làm được Hậu thiên Bát quái (người xưa làm như thế và chúng ta cũng phục hồi nó đúng như thế vì rằng toán học nói 2+2=4 cho tất cả các thời đại, niên đại khác nhau của nhân loại). Và lạ kỳ thay, tất cả những bằng chứng chúng tôi sẽ dẫn dưới đây lại trùng khớp với những suy luận toán học….

Lịch sử kinh Dịch (C6 - Chữ S và chiều quay)

CHƯƠNG 6. BÍ MẬT KỲ VĨ CỦA CÁC CỔ VẬT VIỆT NAM. TIÊN THIÊN


8. Chữ S và chiều quay hai Nghi Nòng-Nọc


Chuyện xây dựng chữ S cũng hoàn toàn tự nhiên. Khi vẽ được Tiên thiên rồi thì người xưa đơn giản theo số mà tính. Nối các quái có số từ lớn xuống nhỏ xem sao. Nối xong, ta nhận ngay chữ S. Đâu việc gì phải chua thêm số 1,2,3,4,5,6,7,8 như Kinh Dịch Trung Hoa bây giờ. Về nguyên tắc không sai, nhưng điều này lại là một chứng cớ người Trung Hoa không quan tâm đến số của quái mà quan tâm đến độ số và vì thế họ có những sai lầm chết người khi xây dựng Hậu thiên Bát quái. Điều này là chứng cớ copy, repair and past but not clearly understand của người Trung Hoa.

Đó là chữ S ta suy luận theo logic. Liệu người xưa có vẽ chúng bao giờ chưa? Khi phân Tiên thiên bằng chữ S, người xưa thấy Mẹ của vũ trụ là hai nghi đối đầu nhau, ôm xoắn vào nhau tạo ra thế cân bằng, hài hòa và uyển chuyển vô cùng. Mà nói đến chuyện hai cực xoắn vào nhau thì họ nghĩ đến gì trước. Đến những cái cần phải nghĩ đầu tiên chứ sao! Chẳng phải câu "Gần thì lấy thân minh.." của ngài Khổng, các Dịch gia đã coi như khẩu quyết thánh thần sao? Người Việt (Diệc) cổ cũng không ít lần khắc họa lên nó.

Nắp thạp Đào Thịnh:

Hay rõ ràng hơn là ở các cổ vật này:

Hay hình cá trên bình đồng Bái Thượng:

Có thể quý độc giả cho rằng quá gượng ép khi lấy các hình các cặp người, cặp cá ra để vẽ nên hình S của Kinh Dịch. Các cặp đó thì có gì hay ho. Bất cứ dân tộc nào trên thế giới đều để lại những cổ vật như thế. Thì có gì mà dính dáng đến Dịch?!. Vâng, đúng thế! Chúng tôi đưa ra chúng với dụng ý chứng tỏ, dân tộc Việt đã rất chú trọng đến tính hài hòa, tính giao hưởng và cân bằng của thiên nhiên. Đó là quy luật của Trời Đất, của vũ trụ hay của Đạo, Thái cực.

Dưới đây là chữ S dính dáng đến Kinh Dịch (Diệc). Đây là chữ S của Hậu thiên. Nhưng vì Hậu thiên tuy có khác Tiên thiên nhưng vận hành chúng phải tuân theo quy luật của Mẹ vũ trụ, của Tiên thiên, nên chữ S của Hậu thiên cũng là của Tiên thiên.

Trống đồng Đông Sơn 1:





Tại sao lại chỉ có 3 người dắt tay đi? Có một lý do: triết lý đó là sự đối xứng của các đỉnh điểm đối đầu. Ví dụ, Tiên Thiên bát quái Càn bắt đầu cho nghi Nọc thì, Tốn gần Càn bắt đầu cho nghi Nòng. Hay trong trường hợp cá thì Đuôi bắt đầu ở cá tả thì đuôi cũng phải bắt đầu ở cá hữu. Chính vì thế, hai người quay vào nhau tạo thế cân bằng. Có thể vẽ theo chiều này hay chiều khác nhưng cũng nhận được chữ S như nhau. Ngoài ra còn có ý đồ mã hóa Hậu thiên nữa, chúng tôi sẽ trình bày sau.



Chữ S còn được biểu diễn trên trống đồng Phú Xuyên. Một lần nữa cũng diễn tả về Hậu thiên (nhưng chữ S thì giống nhau). Ở đây, chỉ phân tích vấn đề Tiên thiên, nên chúng tôi xin mới các bạn qua chương 7 phần Hậu thiên để giải thích thêm vì sao nghệ nhân lại khắc hoạ một cách ngộ nghĩnh như vậy (lưu ý, đúc trống đồng không phải là đơn giản). Tất cả những ngộ nghĩnh như ta nhìn thấyở trống đồng Phú Xuyên đều mang một ý nghĩa quan trọng.

Từ đây, ta thấy khi dựng nên Tiên thiên người Việt ta ngộ ra chữ S - chính là sự hài hòa, sự giao thoa. Đó chính là sự rung cảm, quyến luyến, không thể tách rời nhau của hai nghi Nọc, Nòng và tuy là hai nghi đối lập nhau, một chuyển động theo chiều chuẩn, một ngược chiều chuẩn nhưng lại là hai bộ phận không thể chia cắt của bộ máy vận động vũ trụ. Và họ nhờ đó hình dung ra cách vẽ Thái cực đồ.

Xin lưu ý quý vị, các chữ S về nguyên tắc hai đường ở ngoài phải như trên chúng tôi đã vẽ, nhưng đường cắt trong, chúng tôi vẽ hơi tuỳ tiện. Bởi vì chữ S đúng nhất chính là chữ S của Thái cực đồ trong tranh Đông Hồ.