Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

Đông Chu liệt quốc (Hồi thứ 51 - 55)

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

Hồi thứ 51.
Đồng hồ chép thẳng án Đào Viên
Vua Sở mừng công mở đại hội

Tấn Linh-công lập mưu giết Triệu Thuẫn, dẫu không giết được, nhưng thấy Triệu Thuẫn bỏ trốn đi thì trong lòng cũng mừng rỡ khác nào đứa học trò được rời thầy học ra, sự mừng rỡ kể sao cho xiết, liền đem cung quyến đến ở luôn ngày đêm tại Ðào Viên, không về cung nữa. Triệu Xuyên đang đi săn ở Tây Giao trở về, gặp Triệu Thuẫn và Triệu Sóc. Triệu Xuyên hỏi chuyện đầu đuôi và bảo Triệu Thuẫn rằng:

– Thúc phụ chớ sang nước khác vội, hãy đợi trong mấy ngày tôi sẽ có tin báo.

Triệu Thuẫn nói:

– Nếu vậy thì ta hãy tạm ở lại núi Thu Dương để đợi tin nhưng nhà ngươi nên cẩn thận, chớ đẻ thêm tai vạ đấy.

Triệu Xuyên từ biệt Triệu Thuẫn và Triệu Sóc, rồi trở về kinh thành, nghe biết Tấn Linh công chơi ở Ðào Viên, mới giả cách vào yết kiến và xin lỗi với Linh công rằng:

– Tôi là thân thích với người có tội, khi nào lại còn dám hầu hạ ở bên cạnh chúa công, xin chúa công cho tôi được từ chức.

Linh công tin là thực, mới phủ dụ Triệu Xuyên rằng:

– Triệu Thuẫn đã nhiều lần khinh bỉ ta, ta không thể chịu được, việc này không can dự gì đến nhà ngươi, nhà ngươi cứ yên tâm mà giữ chức.

Triệu Xuyên lạy tạ, rồi lại tâu rằng:

– Tôi thiết tưởng làm vua chỉ quý hơn người ta là được thoả thích cả về thanh, cả về sắc mà thôi, nay chúa công dẫu có đàn sáo chuông trống, nhưng số nội cung chưa đủ, còn lấy gì làm vui! Tề Hoàn-công thuở xưa biết bao nhiêu phi tần, ngoại vị chánh cung, lại còn sáu bà như phu nhân nữa, tiên quân ta là Tấn Vương-công, từ khi còn trốn ở các nước, đến đâu cũng lấy vợ, lúc trở về nước, ngọai sáu mươi tuổi mà phi tần còn rất đông, nay chúa công đã lập ra đài cao vườn rộng thư thế này, mà sao không sai người đi tuyển gái đẹp về dạy múa hát để làm trò vui, chẳng cũng hay lắm ư!

Linh công nói:

– Nhà ngươi nói chính hợp ý ta! Nay ta muốn tuyển gái đẹp trong nước thì nên sai ai được?

Triệu Xuyên nói:

– Quan đại phu là Ðồ Ngạn Giả đi tuyển con gái, bất cứ trong thành ngoài ấp, phàm có con gái trong hai mươi tuổi bắt phải làm sổ khai trinh, hạn trong một tháng thì về báo tin. Triệu Xuyên mượn việc ấy để sai Ðồ Ngạn Giả đi biệt chỗ khác, rồi lại tâu với Linh công rằng:

– Ðội quân thị vệ của chúa công ở Ðào Viên hãy còn ít lắm, tôi có tuyển được hai trăm lính tinh dùng, xin chúa công cho sung vào làm quân thị vệ.

Linh công thuận cho, Triệu Xuyên về dinh, tuyển hai trăm quân giáp sĩ. Bọn giáp sĩ hỏi Triệu Xuyên rằng:

– Chẳng hay tướng quân định sai chúng tôi đi đâu?

Triệu Xuyên nói:

– Chúa công chẳng thương gì đến dân, chỉ vui chơi ở chốn Ðào Viên, nay có sai ta tuyển bọn các ngươi vào đấy để ngày đêm canh phòng. Bọn các ngươi đây, ai là người không vợ con nhà cửa, nay đi vào đấy, ăn sương nằm gió, biết bao giờ xong.

Bọn giáp sĩ đều than vãn mà nói rằng:

– Ðứa vô đạo hôn quân ấy, sao không chóng chết đi! Nếu Triệu tướng qiân (trỏ Triệu Thuẫn) còn ở nhà, tất không có việc này.

Triệu Xuyên nói:

– Ta có một câu này muốn bàn cùng các ngươi, chẳng biết có nên không?

Bọn giáp sĩ đều nói:

– Nếu tướng quân cứu được cho chúng tôi thoát khỏi nông nỗi khổ sở này thì ơn tái sinh ấy bao giờ chúng tôi quên được.

Triệu Xuyên nói:

– Chỗ Ðào Viên này không kín đáo lắm, như chốn thâm cung. Canh hai đêm hôm nay, các ngươi xông vào trong vườn, giả cách đòi xin ban thưởng, chờ khi ta vẫy tay áo làm hiệu thì các ngươi giết ngay hôn quân đi, ta sẽ đón quan tướng quốc về lập vua khác, các ngươi nghĩ thế nào?

Bọn giáp sĩ đều nói:

– Chúng tôi xin vâng mệnh!

Triệu Xuyên cho bọn giáp sĩ ăn cơm uống rượu, sai chực sẵn ở ngoài cửa Ðào Viên, rồi vào tâu với Linh công. Linh công lên đài trong thấy bọn giáp sĩ người nào cũng tráng kiện, thì bằng lòng lắm, bèn giữ Triệu Xuyên ở lại hầu rượu. Uống rượu đến canh hai, bỗng nghe thấy bên ngoài có tiếng uyên náo. Linh công kinh sợ, hỏi là cớ gì. Triệu Xuyên nói:

– Ý chừng quân túc vệ xua đuổi người đi đêm đó mà thôi, để tôi xin ra bảo họ đừng làm kinh động thánh giá.

Triệu Xuyên sai thắp đèn lồng, ở trên đài bước xuống. Bọn giáp sĩ hai trăm người đã phá cửa vào đến nơi. Triệu Xuyên bảo bọn giáp sĩ đứng yên cả ở dưới đài, rồi lại trở lên tâu với Linh công rằng:

– Quân sĩ biết chúa công dự tiệc, vậy muốn xin chúa công ban thưởng cho lộc thừa, chứ không có ý gì khác cả.

Linh công truyền cho nội thị đem rượu ban thưởng cho quân sĩ, rồi đứng tựa bao lơn mà trông xuống. Triệu Xuyên đứng bên cạnh, gọi to lên rằng:

– Chúa công thân hành ra đây ban thưởng cho các ngươi, các ngươi hãy bái tạ ơn trên.

Nói xong, giơ tay áo vẫy một cái. Quân sĩ biết là Linh công liền kéo ồ lên. Linh công sợ hãi, bảo Triệu Xuyên rằng:

– Giáp sĩ trèo lên lầu làm gì thế? Nhà ngươi truyền cho họ xuống đi!

Triệu Xuyên nói:

– Quân sĩ nhớ quan tướng quốc là Triệu Thuẫn, muốn xin chúa công cho đón về.

Linh công chưa kịp trả lời thì đã bị quân giáp sĩ xúm lại đâm chém chết ngay. Thi vệ xung quanh đều bỏ chạy tán loạn cả. Triệu Xuyên nói:

– Nay đã trừ được hôn quân rồi, các ngươi chớ nên giết bậy một người nào, phải theo ta đi đón quan tướng quốc về triều.

Ðồ Ngạn Giả đang đi tuyển gái đẹp ở ngoài cõi xa, nghe báo Linh công bị giết, giật mình kinh sợ, biết là mưu kế của Triệu Xuyên, nhưng không dám nói ra, bèn lẻn về nơi dinh phủ.

Bọn Sĩ Hội nghe tin ấy, cũng vội vàng chạy đến Ðào Viên, nhưng chẳng thấy một người nào cả, biết là Triệu Xuyên đã đi đón Triệu Thuẫn về.

Triệu Thuẫn về đến kinh thành, đi thẳng vào Ðào Viên. Các quan trong triều đều hợp đông đủ cả. Triệu Thuẫn phục ở bên cạnh thi thể Tấn Linh-công mà khóc òa lên, rất là thảm thiết, tiếng khóc vang động đến ngoài vườn. Dân nước Tấn nghe tiếng, đều bảo nhau rằng:

– Xem thế thì biết quan tướng quân là người trung thành. Việc này chẳng qua chỉ bởi chúa công ta gây nên tai vạ, chứ không phải lỗi của quan tướng quốc.

Triệu Thuẫn truyền rước thi thể của Tấn Linh-công sang chôn ở đất Khúc Ốc, rồi hợp triều thần để lập vua mới. Bấy giờ Tấn Linh-công chưa có con trai. Triệu Thuẫn nói:

– Từ khi tiên quân ta mất đi, tôi đã có xướng nghị rằng không nên lập vua nhỏ, vì nhiều người không thuận, mà thành ra có việc này, bây giờ ta phải thận trọng mới được.

Sĩ Hội nói:

– Trong nước có vua lớn thì là một điều đại phúc, quan tướng quốc dạy phải lắm!

Triệu Thuẫn nói:

– Tiên quân ta (tức là Tấn Văn-công) ngày xưa hiện còn một người con. Lúc mới sinh ra,bà mẹ nằm mộng thấy thần nhân giơ bàn tay đen xoa vào đứa bé, bởi vậy mới đặt là Hắc Ðiến. Ngày nay đang làm quan ở nhà Chu, hiện đã lớn tuổi, tôi muốn đón về để lập lên làm vua.

Các quan không dám trái ý, đồng thanh mà nói rằng:

– Quan tướng quốc nghĩ rất phải.

Triệu Thuẫn muốn gỡ cái tội giết vua cho Triệu Xuyên, mới sai Triệu Xuyên sang nhà Chu đón công tử Hắc Ðiến về nước Tấn. Công tử Hắc Ðiến vào triều nhà Thái miếu, rồi nối ngôi lên làm vua, tức là Tấn Thành-công. Tấn Thành-công đã lên ngôi, giao hết quyền chính cho Triệu Thuẫn, lại đem con gái gả cho Triệu Sóc, tức là nàng Trang Cơ. Triệu Thuẫn tâu với Tấn Thành-công rằng:

– Mẹ tôi nguyên là con gái nước Ðịch.Bà Triệu Cơ tôi (con gái Tấn văn công gả cho thân phụ Triệu Thuẫn là Triệu Thôi) thuở xưa nhường cho mẹ tôi làm vợ cả, vậy nên tôi được làm đích tử, nhận chức trung quân, nay con bà Triệu Cơ tôi là: Triệu Ðồng, Triệu Quát và Triệu Anh, đều đã lớn tuổi cả, tôi lại xin nhường lại quyền chức ấy.

Thành công nói:

– Quan tướng quốc không phải nhường, để ta sẽ dùng cho làm quan tất cả.

Nói xong, liền cho Triệu Ðồng, Triệu Quát và Triều Anh làm quan đại phu. Triệu Xuyên nói riêng với Triệu Thuẫn rằng:

– Ðồ Ngạn Giả ngày trước xu nịnh tiên quân để làm hại họ Triệu. Việc Ðào Viên này chỉ có Ðồ Ngạn Giả ra ý không thuận, nếu không trừ bỏ người ấy đi thì họ Triệu ta cũng khò lòng mà yên được.

Triệu Thuẫn nói:

– Người ta không bắt tội nhà ngươi thì chớ, nhà ngươi lại định bắt tội người ta hay sao! Họ Triệu ta ngày nay chỉ nên cùng với các quan triều thần hòa mực với nhau, chớ nên gây ra những việc thù oán.

Triệu Xuyên không dám nói đến việc Ðồ Ngạn Giả nữa. Ðồ Ngạn Giả cũng một lòng theo ý họ Triệu để được khỏi tội. Triệu Thuẫn vẫn lấy việc Ðào Viên làm áy náy, một hôm sang chơi sử quán, đòi lấy bản chép của quan thái sử là Ðồng Hồ để xem Ðồng Hồ chép việc Ðào Viên ra sao. Ðồng Hồ đem bản thảo đưa trình Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn mở ra xem, trông thấy chép rõ ràng: “Mùa thu, tháng bảy năm Ất Sửu, Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao ở Ðào Viên”.

Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ nói:

– Quan thái sử lầm rồi! Ta đã chạy ra Hà Ðông cách kinh thành hơn trăm dặm, ta có biết đâu đến việc giết vua, mà quan thái sử lại đổ lỗi cho ta, chẳng cũng oan lắm ư!

Ðồng Hồ nói:

– Ngài làm quan tướng quốc, trốn đi chưa khỏi địa giới nước nhà mà đã có việc giết vua này, khi ngài về lại không trị tội quân giặc, như thế mà bảo không phải tự ngài chủ mưu, còn ai tin được?

Triệu Thuẫn nói:

– Bây giờ có thể chữa lại được không?

Ðồng Hồ nói:

– Ðã gọi là tín sử thì có thế nào phải chép như thế, bởi vậy đầu tôi có thể cắt được, chứ bản thảo này thì không thể chữa lại được.

Triệu Thuẫn thở dài than rằng:

– Thế mới biết cái quyền chép sử, còn lớn hơn cái quyền làm tướng quốc! Tiếc thay, bấy giờ ta chưa ra khỏi địa giới, để đến nỗi chịu tiếng xấu muôn đời, hối sao cho kịp!

Từ bấy giờ Triệu Thuẫn phụng sự Tấn Thành-công, càng thêm kính cẩn. Triệu Xuyên cậy có công to, xin làm chức chính khanh, Triệu Thuẫn sợ mang tiếng, không cho. Triệu Xuyên tức giận, phát ra cái ung ở đằng lưng mà chết. Con Triệu Xuyên là Triệu Chiên xin nối giữ chức vị của cha. Triệu Thuẫn bảo Triệu Chiên rằng:

– Ðợi khi nào nhà ngươi lập được công trạng thì dẫu ngôi khanh tướng cũng chẳng khó gì!

Chu Khuông-vương mất. Em là Du lên nối ngôi, tức là Chu Ðịnh-vương. Năm đầu Chu Ðịnh-vương, Sở Trang-vương đem quân đánh đất Lục Hồn, qua sông Lạc Thủy, kéo đến địa giới nhà Chu, định dùng uy lực áp chế thiên tử mà cùng với nhà Chu chia đôi thiên hạ. Chu Ðịnh-vương sai quan đại phu là Vương Tôn Mẫn đến uý dụ Sở Trang-vương. Sở Trang-vương hỏi:

– Tôi nghe nói vua Ðại Vũ ngày xưa có đúc chín cái đinh, từ nhà Hạ, nhà Thương đến nhà Chu ta vẫn truyền cho nhau, coi là của quý, hiện nay để ở đất Lạc Dương. Chẳng hay những cái đinh ấy hình dáng, lớn bé và nặng nhẹ thế nào, xin quan đại phu cho biết?

Vương Tôn Mẫn nói:

Vua Ðại Vũ nhà Hạ đúc nên chín cái đinh, đến đời vua Kiệt vô đạo, mới thiên sang nhà Thương. Vua Trụ nhà Thương bạo ngược, chín cái đinh ấy lại thiên sang nhà Chu, xem thế thì biết đời nào có đức thì mới giữ nổi chín cái đinh ấy. Khi nhà vua Thành vương nhà Chu tôi để chín cái đinh ấy ở Lạc Dương, đã có bói một quẻ thì biết rằng nhà Chu tôi truyền được ba mươi đời, bảy trăm năm có lẻ, năm nay vận mệnh nhà Chu hãy còn, nhà vua chớ nên hỏi đến đinh vội!

Sở Trang-vương hổ thẹn, từ bấy giờ không dám có ý nom dòm nhà Chu nữa.

Lại nói chuyện quan lệnh doãn nước Sở là Ðấu Việt Tiêu từ khi thấy Sở Thành-vương chia mất quyền chính của mình, trong lòng oán giận, lại cậy mình là người tài giỏi và đời trước có công lao, dân trong nước ai cũng tin phục, mới có ý muốn làm phản, thường vẫn nói rằng:

– Nhân tài nước Sở chỉ có một mình Vĩ Giả mà thôi, còn thì chẳng đáng kể.

Khi Sở Trang-vương đi đánh Lục Hồn, cũng lo đấu Việt Tiêu làm phản, mới bảo Vĩ Giả ở lại để giữ nước. Ðấu Việt Tiêu thấy Sở Trang-vương đem quân đi vắng, mới quyết chí nổi loạn, định đem hết những quân của bản tộc ra để khởi sự. Ðấu Khắc (con Ðấu Ban) không theo. Ðấu Việt Tiêu giết chết Ðấu Khắc, rồi đem quân đến giết quan tư mã là Vĩ Giả. Con Vĩ Giả là Vĩ Ngao đem mẹ chạy trốn sang Mộng Trạch. Ðấu Việt Tiêu ra đóng đồn ở đất Chưng Giã để chặn đường Sở Trang-vương trở về. Sở Trang-vương nghe tin Ðấu Việt Tiêu nổi loạn, tức khắc rút quân về nước. Về gần đến đất Chương Lạp, Ðấu Việt Tiêu đem quân ra đối địch. Quân Sở Trang-vương trông thấy Ðấu Việt Tiêu đeo cung cầm giáo, đi lại hăng hái ở trước trận, đều có ý sợ hãi. Sở Trang-vương nói:

– Họ Ðấu mấy đời có công với nước, nay chẳng thà để cho Ðấu Việt Tiêu phụ ta, chớ ta không nỡ phụ Ðấu Việt Tiêu.

Nói xong, liền sai quan đại phu là Tô Tùng sang điều đình với Ðấu Việt Tiêu, thuận cho giảng hoà và tha cho cái tội giết quan tư mã. Ðấu Việt Tiêu nói:

– Ta xấu hổ vì phải làm chức lệnh doãn, chứ ta có mong ân xá đâu! Có dám đánh thì đem quân tới đây!

Tô Tùng hai ba lần phủ dụ mà Ðấu Việt Tiêu không nghe. Khi Tô Tùng về rồi, Ðấu Việt Tiêu truyền nổi hiệu trống tiến quân sang đánh. Sở Trang-vương hỏi các tướng rằng:

– Các tướng, có ai dám đối địch với Ðấu Việt Tiêu không?

Quan đại tướng là Nhạc Bá vâng mệnh ra trận. Con Ðấu Việt Tiêu là Ðấu Bí Hoàng liền đem quân ra nghinh chiến. Phan Uông trông thấy Nhạc Bá không đánh nổi Ðấu Bí Hoàng, cũng giục ngựa ra trận. Em Ðấu Việt Tiêu là Ðấu Kỳ cũng đem quân ra giao chiến với Phan Uông. Sở Trang-vương ngồi trên xe, cầm dùi đánh trống để đốc chiến. Ðấu Việt Tiêu lại bắn mũi tên nữa, cắm vào cái mộc. Sở Trang-vương vội vàng truyền lịnh thu quân.

Ðấu Việt Tiêu cố sức tiến đánh, may có hữu quân đại tướng là công tử Trắc và tả quân đại tướng là công tử Anh Tề, hai mặt đổ lại, bấy giờ Ðấu Việt Tiêu mới lui quân. Nhạc Bá và Phan Uông nghe hiệu cũng thu quân trở về. Về đến đất Hoàng Hử, Sở Trang-vương truyền đem hai cái tên của Ðấu Việt Tiêu ra xem thì thấy dài gấp rưỡi cái tên khác, cánh tên bằng lông hạc, đốc tên bằng răng báo, mũi tên sắc không biết thế nào mà kể! Các người xung quanh trông thấy, ai cũng lắc đầu lè lưỡi, lấy làm sợ hãi, cho là mũi tên thần. Ðêm hôm ấy, Sở Trang-vương đi tuần các dinh, nghe thấy quân sĩ chỗ nào cũng hợp nhau bàn về mũi tê thần tiên của Ðấu Việt Tiêu, cho là khó lòng đánh nổi. Sở Trang-vương mới lập kế sai người đặt chuyện ra mà nói với quân sĩ rằng:

– Ðời tiên quân ta là Sở Văn-vương ngày xưa nghe nói người Nhung Nam làm tên tốt lắm, sai sứ đi hỏi, người Nhung Nam mới đem dâng hai cái tên, gọi là “Thấu cốt phong”, vẫn để ở nhà thái miếu. Ðấu Việt Tiêu lấy trộm được hai cái tên ấy, nhưng bắn hai phát là mất rồi, còn sợ gì nữa! Chỉ đến ngày mai là ta đánh tan được thôi.

Bấy giờ quân sĩ mới được yên lòng. Sở Trang-vương hạ lệnh rút quân sang nước Tùy, giả cách nói định mướn quân các nước ở Hán Ðông về đánh Ðấu Việt Tiêu. Tô Tùng nói với công tử Trắc rằng:

– Giặc mạnh ở trước mặt mà ta lui quân thì e hỏng việc.

Công tử Trắc nói:

– Ðấy tất là đại vương lập kế đó thôi! Chúng ta vào yết kiến thì tự khắc biết rõ.

Ðêm hôm ấy, công tử Trắc cùng với công tử Anh Tề vào yết kiến Trang vương. Trang vương nói:

– Ðấu Việt Tiêu mạnh thế lắm, ta không thể địch nổi, phải dùng kế mới đánh được.

Trang vương đem mật kế bảo với hai tướng và sai họ đem quân đi mai phục. Cả hai đều vâng mệnh đem quân đi. Gà gáy hôm sau, Trang vương truyền cho đại binh kéo lui. Ðấu Việt Tiêu nghe tin, tức khắc đem quân đuổi theo. Quân Trang vương cố sức đi gấp qua đất Cánh Lăng. Ðấu Việt Tiêu cũng cố sức đuổi theo, một ngày một đêm đi hơn hai trăm dặm, đến cầu Thanh Hà, trông thấy quân Trang vương đang thổi cơm ở bên kia cầu, lại cố sức đuổi theo cho kịp. Khi đấu Việt Tiêu đến nơi thì quân Trang vương bỏ cả nồi niêu mà chạy. Ðấu Việt Tiêu hạ lệnh đuổi theo, cốt ý bắt cho kỳ được Trang vương, rồi mới được ăn cơm sáng. Quân Ðấu Việt Tiêu đang lúc mỏi mệt, lại phải nhịn đói để cố mà tiến lên, bèn theo kịp Trang Uông. Phan Uông bảo Đấu Việt Tiêu rằng:

– Nhà ngươi muốn bắt vua Sở thì sao không cố mau lên một chút!

Ðấu Việt Tiêu tưởng thực mới bỏ Phan Uông, lại cố đuổi theo sáu mươi dặm nữa, đến địa giới Thanh Sơn, gặp toán quân của Hùng Phụ Cơ. Ðấu Việt Tiêu hỏi Hùng Phụ Cơ rằng:

– Vua Sở ở đâu?

Hùng Phụ Cơ nói:

– Vua Sở chưa đi đến đây!

Ðấu Việt Tiêu trong lòng nghi ngờ, lại bảo Hùng Phụ Cơ rằng:

– Nhà ngươi tìm vua Sở cho thì khi ta lên làm vua, sẽ cho nhà ngươi được quyền chính.

Hùng Phụ Cơ nói:

– Ta trông quân sĩ nhà ngươi đều mệt mỏi cả, nên phải cho ăn no thì mới giao chiến được.

Ðấu Việt Tiêu lấy làm phải, mới đóng quân lại để nấu cơm ăn. Quân Ðấu Việt Tiêu đang nấu cơm ăn, bỗng thấy công tử Trắc và công tử Anh Tề hai mặt đem quân đến đánh. Quân Ðấu Việt Tiêu đói không thể đánh được, bỏ chạy về phía nam, lui về cầu Thanh Hà thì cầu ấy đã bị phá đổ từ bao giờ rồi. Nguyên Sở Trang-vương đã đem quân phục sẵn ở bên cầu, đợi cho Ðấu Việt Tiêu qua cầu thì phá cầu đi để chặn lối trở về. Ðấu Việt Tiêu thấy cầu đã bị phá gẫy, giật mình kinh sợ, truyền cho quân sĩ dò xem nước sông nông sâu thế nào để tìm đường sang. Bỗng nghe ở bên kia sông có tiếng pháo nổ, một toán quân Sở quát to:

– Quân Nhạc Bá đóng đây, Ðấu Việt Tiêu mau mau xuống ngựa mà đầu hàng đi!

Ðấu Việt Tiêu giận lắm, truyền cho quân sĩ đứng bên này sông giương cung ra bắn. Trong toán quân Nhạc Bá có một viên tiểu tướng tài nghề bắn cung tên gọi Dưỡng Do Cơ, người ta vẫn khen là “thần tiễn”. Dưỡng Do Cơ nói với Nhạc Bá xin cùng với Ðấu Việt Tiêu bắn, Nhạc Bá thuận cho. Dưỡng Do Cơ đứng ở bờ sông bên này, quát to lên mà bảo Ðấu Việt Tiêu rằng:

– Mặt sông rộng nhì thế này, tên nào mà bắn cho thấu! Tôi nghe nói quan lệnh doãn (tức là Ðấu Việt Tiêu) tài bắn lắm, vậy tôi xin cùng với ngài bắn thi. Hai bên nên đứng giáp ở trên dịp cầu, mỗi bên bắn ba phát, ai may thì sống.

Ðấu Việt Tiêu hỏi rằng:

– Nhà ngươi là ai?

Dưỡng Do Cơ nói:

– Tôi là tiểu tướng thuộc quân Nhạc Bá, tên gọi Dưỡng Do Cơ.

Ðấu Việt Tiêu có ý khinh khi, mới bảo Dưỡng Do Cơ rằng:

– Nhà ngươi muốn bắn thi thì hãy nhường ta bắn trước ba phát.

Dưỡng Do Cơ nói:

– Ðừng nói ba phát, dẫu đến trăm phát, tôi cũng không sợ! Ai tránh là không giỏi!

Nói xong, liền ra đứng ở trên nhịp cầu về phía sông bên này. Ðấu Việt Tiêu đứng ở nhịp cầu bên kia, giương cung bắn ngay một phát, tưởng rằng phát tên này bắn ra thì Dưỡng Do Cơ lộn cổ xuống sông mà chết. Ai ngờ Dưỡng Do Cơ trông thấy mũi tên đến, tay cầm đốc cung, gạt liền một cái, mũi tên rơi xuống dưới sông. Dưỡng Do Cơ lại quát to lên mà bảo Ðấu Việt Tiêu rằng:

– Bắn nữa đi! Bắn nữa đi!

Ðấu Việt Tiêu lại giương cung nhắm thẳng vào Dưỡng Do Cơ bắn luôn một phát nữa. Dưỡng Do Cơ ngồi sụp xuống thì mũi tên ấy qua đầu mà bay đi mất. Ðấu Việt Tiêu nói:

– Nhà ngươi bảo rằng ai tránh là không giỏi, sao lại còn ngồi sụp xuống, như vậy không phải là trượng phu.

Dưỡng Do Cơ nói:

– Quan lệnh doãn còn được bắn một phát nữa, đến phát này thì tôi không dám tránh, nếu phát này không trúng thì ngài phải nhường cho tôi bắn.

Ðấu Việt Tiêu nghĩ thầm:

– Nếu hắn không tránh thì phát tên này tất phải trúng. Ðấu Việt Tiêu tức khắc giương cung ra bắn. Dưỡng Do Cơ đứng vững hai chân, không cựa cậy chút nào, khi mũi tên tới nơi, liền há mồm thật to, cắn chặt ngay lấy. Ðấu Việt Tiêu bắn ba phát tên cùng không trúng cả, có ý sợ hãi, nhưng trót đã hẹn lời, cũng phải để cho Dưỡng Do Cơ bắn lại,mới bảo Dưỡng Do Cơ rằng:

– Nay ta nhường cho nhà ngươi bắn lại ba phát, nếu bắn không trúng bấy giờ nhà ngươi lại phải nhường ta.

Dưỡng Do Cơ cười mà bảo rằng:

– Có bao giờ mà lại đến ba phát! Tôi chỉ bắn một phát thì quan lệnh doãn đi đời mà thôi!

Ðấu Việt Tiêu nói:

– Nhà ngươi nói khoác làm gì thế, hãy thử bắn xem nào!

Ðấu Việt Tiêu nghĩ thầm:

– Hắn bắn phát tên này mà trúng, chẳng kể làm chi, nhược bằng không trúng ta còn sợ nữa, tha hồ cho hắn bắn. Ai ngờ Dưỡng Do Cơ là người bắn giỏi lắm, trăm phát trúng cả trăm, bấy giờ Dưỡng Do Cơ giả cách giương cung ra bắn, nhưng tay vẫn giữ lấy tên. Ðấu Việt Tiêu nghe tiếng dây cung, tưởng là tên đến, mới nghiêng mình tránh về phía tả. Dưỡng Do Cơ nói:

– Tên vẫn còn ở tay tôi, nào đã bắn đâu! Quan lệnh doãn bảo ai tránh là không giỏi, cớ sao lại tránh?

Ðấu Việt Tiêu nói:

– Còn sợ người ta tránh sao gọi là bắn giỏi!

Dưỡng Do Cơ lại giả cách giương cung ra bắn. Ðấu Việt Tiêu lại tránh về phía hữu. Dưỡng Do Cơ thừa lúc Ðấu Việt Tiêu tránh luôn tay bắn một phát nữa, Ðấu Việt Tiêu không biết tên đến, né tránh không kịp, mũi tên xuyên qua sọ, chết ngay tại trận. Quân Ðấu Việt Tiêu thấy chủ tướng đã chết rồi, bỏ chạy tán loạn. Công tử Trắc và công tử Anh Tề chia đường đuổi theo, giết cho quân Ðấu Việt Tiêu thây chết như núi, máu chảy thành sông. Con Ðấu Việt Tiêu là Ðấu Bí Hoàng trốn sang nước Tấn, sau vua Tấn dùng làm quan đại phu, phong cho ở đất Miêu, gọi là Miêu Bí Hoàng. Sở Trang-vương đã được toàn thắng, thu quân trở về kinh thành, bao nhiêu người họ Ðấu, bất cứ lớn bé đều đem chém đầu cả, chỉ trừ có con Ðấu Ban là Ðấu Khắc Hoàng hiện đang làm quan châm doãn, đương phụng mệnh Sở Trang-vương sang sứ nước Tề. Khi Khắc Hoàng về đến nước Tống, nghe tin Ðấu Việt Tiêu nổi loạn, các người theo hầu đều can không nên về vội, Ðấu Khắc Hoàng không nghe.

Khi Ðấu Khắc Hoàng về đến kinh thành nước Sở, vào nói với quan tư khấu xin chịu tội và bảo rằng:

– Tổ phụ ta ngày xưa là Tử Văn đã biết Ðấu Việt tiêu có tướng làm phản, tất đến nỗi diệt tộc, khi sắp tạ thế, có dặn thân phụ tôi trốn sang nước khác. Thân phụ tôi nghĩ ơn nước Sở, không nơỏ bỏ đi, thành ra bị Ðấu Việt Tiêu giết chết. Nay tôi đã cùng họ với kẻ phản nghịch, lại không theo được lời dặn của tổ phụ tôi, vậy thì còn sống làm gì! Tôi xin chịu tội chết!

Trang vương nghe nói bèn than rằng:

– Tử Văn ngày xưa thật là thần nhân! Huống chi lại có công to với nước Sở, nỡ nào lại để cho tuyệt tự!

Nói xong, liền xá tội cho Ðấu Khắc Hoàng, vẫn cho làm quan, lại cho đổi tên là Ðấu Sinh, nghĩa là đáng chết mà được sống.

Trang vương khen Dưỡng Do Cơ có công bắn chết Ðấu Việt Tiêu, cho làm chức xa hữu, nghe nói Ngu Khâu là người hiền, cho quyền chức lệnh doãn. Sở Trang-vương truyền mở một tiệc đại yến ở trên tiệm đài, triệu các quan triều thần đến dự tiệc, lại cho cả các phi tần theo đi. Trang vương bảo triều thần rằng:

– Ta không uống rượu nghe hát, đã sáu năm trời này, bấy giờ dẹp yên được bọn phản nhgịch rồi, ta xin cùng với các người bày một tiệc vui gọi là thái bình yến. Phàm các quan viên văn vũ, bất cứ to nhỏ đều được dự tiệc cả.

Các quan sụp lạy, rồi theo thứ tự vào ngồi. Chức bào nhân (Người nhà bếp) dâng món ăn, chức thái sử (chức quan coi việc văn hóa, nghệ thuật) tấu nhã nhạc. Khi mặt trời đã gần lặn, tiệc rượu còn đang vui, Sở Trang-vương truyền thắp nến lên để uống rượu nữa, lại sai một cung tần được vua yêu là Hứa Cơ, đi mời khắp các quan mỗi người một chén rượu. Các quan đều đứng dậy để uống, bỗng có một trận gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện, tắt hết cả. Các nội thị còn đang châm lửa chưa đến. Trong các quan đại phu, có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, thò tay nắm lấy vạt áo nàng. Hứa Cơ tay trái dứt vạt áo, tay phải nắm được giải mũ của người ấy. Giải mũ đứt, người ấy sợ lắm, vội vàng buông tay ra, Hứa Cơ lấy được cái giải mũ, rón rén đi đến trước mặt Trang vương, ghé tai mà tâu rằng:

– Thiếp vâng mệnh đại vương ra mời các quan uống rượu, mà có một người vô lễ, dám nhân lúc tắt nến, nắm lấy vạt áo thiếp, thiếp đã dứt được cái giải mũ của người ấy, xin đại vương thắp nến mà xem xét xem.

Trang vương vội vàng truyền cho nội thị chớ thắp nến vội và bảo các quan triều thần rằng:

– Ngày nay ta bày tiệc, mong cùng các người mua vui, các người nên bỏ cả giải mũ đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không dứt giải mũ thì chưa được vui lắm.

Các quan triều thần đều dứt bỏ hết giải mũ. Bấy giờ Trang vương mới thắp nến, thàng ra không biết người nào nắm vạt áo Hứa Cơ cả. Tiệc xong, trở về trong cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang-vương rằng:

– Thiếp nghe nói nam nữ phải có phân biệt, huống chi lại là vua tôi. Ðại vương sai thiếp mời các quan uống rượu, là để tỏ lòng kính trọng các quan, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa!

Trang vương cười mà bảo rằng:

– Ta bày tiệc rượu này là muốn để các quan đều được cùng vui, bởi vậy mới sai thắp nến để uống rượu thêm. Rượu say sinh ra chớt nhả, chẳng qua cũng là thường tình, trị tội một người mà làm cho các quan không được vui, đó không phải là điều ta muốn!

Hứa Cơ thán phục. Về sau người ta gọi tiệc rượu ấy là “Tuyệt anh hội” (nghĩa là hội dứt giải mũ). Một hôm, Trang vương cùng với Ngu Khâu bàn tiệc chính trị, đêm đã khuya, mới trở về cung. Bà phu nhân là Phàn Cơ hỏi Trang vương rằng:

– Ngày hôm nay trong triều có việc gì mà đại vương về chậm như vậy?

Trang vương nói:

– Ta cùng vơi Ngu Khâu bàn việc, thành ra khuya quá mà không biết.

Phàn Cơ nói:

– Ngu Khâu là người hiền ở nước Sở ta.

Phàn Cơ nói:

– Cứ như ý thiếp thì Ngu Khâu vị tất là người hiền.

Trang vương hỏi:

– Sao thế?

Phàn Cơ nói:

– Ngu Khâu mỗi lần cùng với đại vương bàn việc chính trị, thường đến đêm khuya, mà chưa thấy tiến cử một người nào cả. Cái trí của một người thì có hạn, mà số kẻ sĩ nước Sở thì vô cùng. Ngu Khâu muốn đem cái trí của một người để che lấp tất cả kẻ sĩ trong thiên hạ sao gọi là người giỏi được?

Trang vương khen phải. Ngày hôm sau, đem lời Phàn Cơ thuật lại cho Ngu Khâu nghe. Ngu Khân nói:

– Vậy mà tôi chưa kịp nghĩ đến điều đó, để tôi xin liệu ngay.

Ngu Khâu liền hỏi khắp triều thần, xem có ai biết người hiền thì nói. Ðấu Sinh nói với Ngu Khâu rằng:

– Tôi có biết người con của Vĩ Giả tên gọi Vi Ngao là người hiền. Vi Ngao vì tránh cái nạn Ðấu Việt Tiêu mà đi ẩn ở Mộng Trạch, người ấy thật có tài làm tướng quốc.

Ngu Khâu vào tâu, Trang vương nói:

– Vĩ Giả ngày xưa là người trí sĩ thì con Vĩ Giả tất cũng không phải tầm thường, nếu nhà ngươi không nói, có lẽ ta quên mất!

Sở Trang-vương bèn sai Ngu Khâu cùng với Ðấu Sinh đi đến Mộng Trạch để triệu Vĩ Ngao. Nguyên Vĩ Ngao tên tự là Tôn Thúc, bởi vậy người ta vẫn gọi là Tôn Thúc Ngao. Tôn Thúc Ngao đem mẹ đi tránh nạn, sang ở Mộng TRạch, làm ruộng nuôi thân. Một hôm, Tôn Thúc Ngao vác cày ra đồng, thấy ở dưới ruộng có con rắn hai đầu, giật mình kinh sợ mà nói rằng:

– Ta nghe nói con rắn hai đầu là vật chẳng lành, ai trông thấy nó là chết, ta nguy đến nơi rồi!

Nói đoạn, lại nghĩ thầm rằng:

– Nếu ta để con rắn ấy sống thì sau này ai trông thấy nó lại bỏ mạng, cho bằng một mình ta đành chịu mà thôi.

Tôn Thúc Ngao nghĩ vậy, mới giơ cái cày đánh chết con rắn, chôn ở bờ ruộng, rồi trở về nhà khóc với mẹ. Bà mẹ hỏi cớ làm sao, Tôn Thúc Ngao nói:

– Con nghe nói ai thấy con rắn hai đầu cũng chết, nay con trông thấy, con lo rằng không sống mà nuôi mẹ được vậy nên con khóc.

Bà mẹ nói:

– Bây giờ con rắn ở đâu?

Tôn Thúc Ngao nói:

– Con sợ người khác lại trông thấy nữa, nên đã giết chết mà chôn đi rồi.

Bà mẹ nói:

– Người ta hễ có một niềm thiện ở trong lòng, trời tất phù hộ cho. Nay con trông thấy con rắn hai đầu, sợ di lụy đến người khác, giết mà chôn đi, thế là con hơn một niềm thiện nhiều lắm! Con tất không chết mà lại được phúc nữa.

Mấy hôm sau, bọn Ngu Khâu phụng mệnh Sở Trang-vương đến triệu Tôn Thúc Ngao. Bà mẹ mới cười mà bảo Tôn Thúc Ngao rằng:

– Ðấy là vì việc con chôn rắn mà được phút đó!

Tôn Thúc Ngao đem mẹ theo bọn Tôn Ngu Khâu về kinh thành nước Sở, Sở Trang-vương cùng với Tôn Thúc Ngao nói chuyện suốt một ngày, lấy làm bằng lòng lắm, mới bảo Tôn Thúc Ngao rằng:

– Tôi mới ở chỗ thảo dã tới đây, đại vương đã vội giao quyền chính cho, e rằng người ngoài không phục. Vậy tôi xin theo các quan đại phu.

Trang vương nói:

– Ta đã biết tài nhà ngươi thì nhà ngươi không nên từ chối.

Tôn Thúc Ngao hai ba lần từ chối không, mới nhận làm chức lệnh doãn. Tôn Thúc Ngao chỉnh đốn chính trị nước Sở, lập ra quân pháp, cho Ngu Khâu coi đạo trung quân, công tử Anh Tề coi đạo tả quân, công tử Trắc coi đạo hữu quân, Dưỡng Do Cơ đạo hữu quảng, Khuất Ðăng coi đạo tả quảng, hiệu lệnh rất nghiêm, nhân dân được yên ổn, lại đáp đê khơi sông để tiện việc làm ruộng, dân nước Sở ai cũng ca tụng công đức. Triều thần thấy Trang vương tin dùng Tôn Thúc Ngao thì lúc đầu không phục, nhưng đến lúc Tôn Thúc Ngao sửa sang chính trị hẳn hoi rành mạch, mới tấm tắc mà khen rằng:

– Nước Sở có phúc, được người hiền thần ấy, chẳng kém gì Tử Văn thuở xưa. Tử Văn thuở xưa làm lệnh doãn khiến cho nước Sở được cường thịnh, nay có Tôn Thúc Ngao, khác nào như Tử Văn sống lại!

Bấy giờ Trịnh Mục công (Lan) mất, thế tử Di lên nối ngôi, tức là Trịnh Linh-công. Công tử Tống và công tử Quy Sinh cầm quyền chính nước Trịnh, vẫn bắt cá cả hai tay, chưa biết theo Tấn hay theo Sở. Sở Trang-vương mới cùng với Tôn Thúc Ngao thương nghị, định đem quân sang đánh Trịnh. Bỗng nghe tin Trịnh Linh-công bị công tử Quy Sinh giết chết. Sở Trang-vương bảo Tôn Thúc Ngao rằng:

– Nhân việc này ta đem quân sang đánh Trịnh, lại càng có cơ lắm!

------------------------------------------------


Hồi thứ 52.
Công tử Tống nghĩ ghen miếng ăn
Trần Linh-công quá mê sắc đẹp

Công tử Quy Sinh, tên tự là Tử-Gia. Công tử Tống tên tự là Tử-Công, hai người đều là quý thích (họ hàng thân thích của vua) ở nước Trịnh. Bấy giờ đang năm đầu Trịnh Linh-công, công tử Tống và công tử Quy Sinh hẹn nhau cùng vào triều. Bỗng đâu ngón tay trỏ của công tử Tống tự nhiên rung động. Công tử Tống mới giở ngón tay mình đang rung cho công tử Quy Sinh xem. Công tử Quy Sinh lấy làm lạ. Công tử Tống nói:

– Bao giờ ngón tay trỏ của tôi rung động thì thế nào ngày ấy tôi cũng được ăn một món gì lạ. Ngày trước tôi đi sứ nước Tấn, được ăn thạch hoa ngư (cá), sau sang sứ nước Sở, được ăn thiên nga (ngỗng), một lần được ăn hợp hoan quất (quýt), ngón tay trỏ đều báo trước, mà lần nào cũng nghiệm cả. Chưa biết ngày hôm nay được ăn món gì đây!

Khi công tử Tống và công Quy Sinh vào đến triều môn, thấy nội thị phụng mệnh đi gọi đồ tể gấp lắm. Công tử Tống hỏi nội thị rằng:

– Nhà ngươi gọi đồ tể có việc gì?

Nội thị nói:

– Có người ở Hán Giang về, mua được một con giải to lắm, nặng hơn hai trăm cân đem dâng cho chúa công. Chúa công nhận mà thưởng cho người ấy, bây giờ buộc con giải ở dưới thềm, sai tôi đi gọi người vào làm thịt, để định bày tiệc thết các quan đại phu.

Công tử Tống nói:

– Ðó tức là một món ăn quý lạ, ngón tay trỏ của ta rung động quả là có nghiệm.

Khi vào đến trong triều, trông thấy ở chân cột dưới thềm có buộc một con giải thật to, hai người cứ nhìn nhau mà cười. Ðến lúc yết kiến Trịnh Linh Công, nét mặt hai người vẫn còn hớn hở. Trịnh Linh-công hỏi:

– Hai người hôm nay có sự gì mà vui mừng như vậy?

Công tử Quy Sinh nói:

– Lúc công tử Tống cùng với tôi sắp vào triều thì ngón trỏ rung động, công tử Tống có nói: hễ ngón tay trỏ rung động thì bao giờ cũng được ăn món gì quý lạ. Nay trông thấy dưới thềm có buộc con giải to, chắc là thế nào chúa công ngự tiệc, cũng có gia ân đến chúng tôi, vậy nên chúng tôi buồn cười.

Trịnh Linh-công nói đùa rằng:

– Nghiêm hay không, việc ấy còn tùy ở ta.

Khi tan triều về, công tử Quy Sinh bảo công tử Tống rằng:

– Miếng ngon dẫu có, nhưng nếu chúa công triệu nhà ngươi thì làm thế nào?

Công tử Tống nói:

– Ðã bày tiệc để thết các quan, có lẽ nào lại quên ta được!

Ðến lúc ngự tiệc, nội thị đi triệu khắp cả các quan đại phu. Công tử Tống hớn hở vào triều trông thấy công tử Quy Sinh. Liền cười mà bảo rằng:

– Tôi vẫn chắc rằng chúa công thế nào cũng triệu tôi.

Ðược một lúc, các quan đều đến cả. Trịnh Linh-công mời ngồi, rồi bảo các quan rằng:

– Thịt giải là một món ăn quý lạ, ta không dám ăn một mình, xin cùng với các ngươi cùng uống rượu.

Các quan cùng nói:

– Chúa công có của ngon vật lạ gì, cũng nhớ đến chúng tôi, chúng tôi biết lấy gì mà báo đền cho được.

Nhà bếp đem món thịt giải dâng lên Trịnh Linh-công trước. Trịnh Linh-công nếm mà khen ngon,rồi sai người ban cho các quan mỗi người một bát thịt giải và một đôi đũa ngà, mà đưa từ bàn dưới lên đến bàn trên. Khi đưa đến bàn nhất, bàn nhì thì chỉ có một bát thịt giải, nhà bếp bèn tâu với Linh công rằng:

– Thịt giải hết cả rồi, chỉ còn một bát, chúa công dạy đưa cho ai?

Trịnh Linh-công nói:

-Ðưa cho Tử Gia (tức là công tử Quy Sinh).

Nhà bếp đêm bát thịt giải đưa đến trước mặt công tử Quy Sinh. Linh công cười rầm lên mà bảo rằng:

– Ta định ban khắp cho các ngươi mà lại thiếu một mình Tử-công (tức là công tử Tống). Thế là số Tử Công không được ăn thịt giải. Ngón tay trỏ sao gọi là nghiệm được.

Nguyên Linh công cố ý truyền cho nhà bếp nấu thiếu đi một bát thịt giải đế chứng tỏ rằng ngón tay trỏ của công tử Tống không nghiệm, cốt ý gây nên một câu chuyện cười. Ai ngờ công tử Tống đã trót nói khoát với công tử Quy Sinh, ngày nay thấy các quan đều được ăn cả, mà mình không được ăn, thẹn quá hóa giận, mới chạy thẳng đến trước mặt Linh công, thò ngay tay vào bát thịt giải của Linh Công, vớt lấy một miếng cầm ăn, vừa ăn vừa nói:

– Tôi đã được ăn rồi, có phải ngón tay trỏ của tôi không nghiệm đâu!

Nói xong, tức khắc lui ra. Trịnh Linh-công nổi giận, ném đũa xuống mà rằng:

– Công tử Tống vô lễ, dám khinh ta như vậy, hay là cho nước Trịnh không có lưỡi gươm sắc chém được đầu hắn chăng!

Bọn công tử Quy Sinh đều sụp lạy mà tâu rằng:

– Công tử cậy tình thân thuộc, muốn được thừa huệ chúa công, có phải dám vô lễ đâu, xin chúa công tha lỗi cho.

– Linh công hầm hầm tức giận. Các quan đều mất vui mà tan về cả. Công tử Quy Sinh tức khắc đến nhà công tử Tống mà bảo rằng:

– Ngày hôm nay chúa công tức giận lắm, sáng mai công tử nên vào triều xin lỗi.

Công tử Tống nói:

– Hễ mình khinh người thì người ta cũng khinh mình, dẫu ai cũng vậy, nay chúa công khinh tôi trước, lại còn trách nỗi gì!

Công tử Quy Sinh nói:

– Ðã đành rằng thế, nhưng theo lễ vua tôi thì công tử nên tạ mới phải.

Ngày hôm sau, hai người lại cùng vào triều. Công tử Tống cũng đứng trong bạn mình mà làm lễ, nhưng không tỏ ra hối hận sợ hãi chút nào, đến nỗi công tử Quy Sinh không an tâm mới tâu với Linh công rằng:

– Công tử Tống sợ chúa công quở trách, nay đến tạ tội nhưng sợ quá không nói nên lời, xin chúa công khoan dung cho.

Trịnh Linh-công nói:

– Ta sợ có lỗi với Tử Cống chứ Tử Cống có sợ có lỗi với ta đâu!

Nói xong, tức thì vùng vằng đứng dậy. Khi tan triều trở về, công tử Tống mời công tử Quy Sinh đến nhà mà bảo rằng:

– Chúa công giận ta lắm, thế nào cũng trị tội ta, chi bằng ta nổi loạn mà giết ngay chúa công đi thì mới khỏi chết được.

Công tử Quy Sinh lấy tay bịt tai mà bảo công tử Tống rằng:

– Chết nỗi! Giống vật mình nuôi lâu ngày, mình còn chẳng nỡ giết, huống chi là vua một nước, sao công tử lại nói hồ đồ như vậy!

Công tử Tống nói:

– Ta nói bỡn đó thôi, xin chớ tiết lộ cho người khác biết.

Công tử Quy Sinh cáo từ trở về. Công tử Tống dò biết công tử Quy Sinh cùng với em Trịnh Linh-công là công tử Khứ Tật chơi bời thân thiết lắm, mới đặt điều nói ngay giữa triều đường rằng:

– Tử Gia (tên tự công tử Quy Sinh) cùng với Tử Lương (tên tự công tử Khứ Tật) hai người ngày đêm bàn nhau, không biết định làm việc gì! E rằng việc ấy rất nguy hiểm cho nước Trịnh ta!

Công tử Quy Sinh vội vàng nắm lấy tay công tử Tống dắt đến chỗ vắng người mà bảo rằng:

-Sao công tử lại nói như vậy?

Công tử Tống nói:

– Nhà ngươi không đồng mưu với ta, thế nào ta cũng khiến nhà ngươi chết trước ta một ngày!

Công tử Quy Sinh vốn người nhu nhược, không dám quyết đoán, nghe lời công tử Tống nói, sợ hãi mà hỏi rằng:

– Nhà ngươi định làm thế nào?

Công tử Tống nói

-Chúa công vô đạo, xem một việc chia thịt giải này thì đủ biết. Nếu làm xong đại sự, thì ta cùng nhà ngươi lập công tử Tử Lương (tức là công tử Khứ Tật) lên làm vua, rồi cầu thân với Tấn mà giữ lấy nước nhà.

Công tử Quy Sinh nghĩ ngợi hồi lâu rồi đáp lại rằng:

– Thôi, mặc công tử muốn làm gì thì làm, ta cũng không tiết lộ cho ai biết cả.

Công tử Tống liền tụ hợp trong nhà, nhân khi Linh công đi làm lễ thu tế, bèn đem nhiều tiền bạc đút lót cho thị vệ, nửa đêm lẻn vào chỗ vua ngủ ở trai cung, lấy cái bị đất đè lên mình mà giết đi rồi nói dối là Linh công bị bệnh trúng áp. Công tử Quy Sinh biết việc ấy mà không dám nói ra. Ngày hôm sau, công tử Quy Sinh và công tử Tống bàn nhau lập công tử Khứ Tật lên làm vua. Công tử Khứ Tật kinh sợ, từ chối rằng:

– Tiên quân ta có tám người con. Nếu định lập người hiền, thì tôi không có tài đức gì cả, mà định lập người nhiều tuổi thì đã có công tử Kiên. Tôi dầu chết thì thôi, chứ không dám quá phận như vậy!

Bấy giờ công tử Quy Sinh và công tử Tống mới lập công tử Kiên lên làm vua, tức là Trịnh Tương-công. Nguyên Trịnh Mục-công thuở xưa có cả thảy mười ba người con. Trịnh Linh-công bị giết, Trịnh Tướng-công nối ngôi làm vua. Còn mười một người con nữa là: 1.Công tử Khứ Tật, tên tự là Tử Lương; 2.Công tử Hỷ, tên tự là Tử Hán; 3.Công tử Phi, tên tự là Tử Tứ; 4.Công tử Phát, tên tự là Tử Quốc; 5.Công tử Gia, tên tự là Tử Khổng; 6.Công tử Yến, tên tự là công tử Du; 7.Công tử Phú,tên tự là Tử Ấn; 8.Công tử Phong; 9.Công tử Vũ; 10.Công tử Nhiên; 11.Công tử Chí.

Trịnh Linh-công ghét các em hay bè phái, chỉ sợ ngày sau sinh biến, mới bàn riêng với công tử Khứ Tật, định để một mình Khứ Tật ở nhà, còn thì đuổi hết các em đi sang các nước khác. Công tử Khứ Tật nói:

– Tiên quân ta thuở xưa, lúc mới sinh ra, có ứng vào cái mộng cành lan, đó là điềm họ ta sẽ được hưng thịnh. Anh em trong một nhà cũng ví như cái cây có cành có lá, nếu đem cắt bỏ cành lá đi mà để cho gốc rễ trơ trọi thì chắc cái cây ấy chẳng bao lâu cũng đến khô héo. Nay chúa công bao dung được các em thì thôi, nhược bằng không bao dung được mà phải đuổi đi thì tôi cũng xin đi, chớ nỡ đâu một mình ở lại, mai sau còn mặt mũi nào trông thấy tiên quân ở dưới suối vàng nữa.

Trịnh Linh-công nghe nói cảm động, mới cho cả mười một người em đều ở lại làm quan đại phu, cùng cầm quyền chính. Công tử Tống sai sứ giao kết với nước Tấn, để nhờ che chở cho nước Trịnh. Năm sau, Sở Trang-vương sai công tử Anh Tề làm tướng, đem quân sang đánh Trịnh, và hỏi nước Trịnh rằng:

– Sao nước Trịnh dám giết vua?

Nước Tấn sai Tuần Lâm Phủ đem quân sang cứu Trịnh. Nước Sở mới rút quân về đánh nước Trần.

Năm thứ ba đời Chu Ðịnh-vương, quan thượng khanh nuớc Tấn là Triệu Thuẫn mất, Khước Khuyết thay làm trung quân nguyên soái nghe nói nước Trần cùng với nước Sở giảng hòa, liền tâu với Tấn Thành-công, sai Tuân Lâm Phủ theo Tấn Thành-công, đem quân bốn nước Tống, Vệ, Trịnh, Tào kéo sang đánh nước Trần. Tấn Thành-công đi đến nửa đường thì bị bệnh mà chết. Tuân Lâm Phủ liền rút quân về, rồi lập thế tử Nho lân làm vua, tức là Tấn Cảnh-công. Năm ấy Sở Trang-vương đánh Trịnh, đóng quân ở đất Liễu Phân (đất nước Trịnh). Khước Khuyết đem quân sang cứu Trịnh, lẻn đánh quân Sở. Quân Sở bị thua, người nước Trịnh ai cũng mừng rỡ, chỉ có một mình công tử Khứ Tật là sắc mặt lo âu. Trịnh Tương-công lấy làm lạ liền hỏi. Công tử Khứ Tật nói:

– Nước Tấn đánh được quân Sở, chẳng qua là gặp may mà thôi. Tôi chỉ sợ quân Sở căm tức mà lại sang đánh Trịnh, đóng quân ở phía Bắc sông Ðĩnh Thủy. Gặp bấy giờ công tử Quy Sinh bị bệnh chết, công tử Khứ Tật mới truy cứu cái tội nếm thịt giải khi trước, mà giết công tử Tống, đem phanh thây ở trong triều, lại đẽo áo quan của công tử Quy Sinh và đuổi gia quyến đi nơi khác, rồi sai sứ sang tạ tội với Sở Trang-vương rằng:

– Nước tôi có kẻ phản nghịch là công tử Quy Sinh và công tử Tống, nay đã trị tội cả rồi, vậy chúa công tôi xin theo vua Trần cùng sang ăn thề mà qui phụ thượng quốc.

Sở Trang-vương thuận cho, định họp vua Trần và vua Trịnh cùng ăn thề ở đất Thần Lăng, bèn sai sứ sang ước hẹn với vua Trần. Sứ giả ở nước Trần về, nói rằng vua Trần bị quan đại phu là Hạ Trung Thư giết chết, trong nước đại loạn. Nguyên Trần Linh-công là con Trần Cung-công vốn người lẳng lơ biếng nhác, không có uy nghi gì cả, lại ham mê tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính sự, tin dùng hai quan đại phu là Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ. Hai người ấy đều một phường tửu sắc, bởi vậy vua tôi ý hợp tâm đầu, nói cười đùa bỡn, rất là chớt nhả, không còn e lệ gì nữa!

Bấy giờ trong triều có một người hiền thần là Tiết Giả, trung thực dám nói thẳng, Trần Linh-công vẫn có ý nể sợ. Lại có quan đại phu là Hạ Ngự Thúc. Nguyên người cha Hạ Ngự Thúc là công tử Thiếu Tây (con Trần Ðịnh-công), tên tự là Tử Hạ, bởi vậy Ngự Thúc dùng chữ Hạ làm họ, gọi là Hạ Ngự Thúc, vẫn nối đời làm quan tư mã nước Trần, ăn lộc ở đất Châu Lâm. Hạ Ngự Thúc lấy con gái Trịnh Mục-công làm vợ, gọi là nàng Hạ Cơ, mắt phượng mày ngài, môi son má phấn, dáng dấp đã chẳng kém gì Ly Cơ, Tức Vĩ, lẳng lơ lại có phần hơn Ðắc Kỷ, Văn Khương, ai trông thấy cũng phải tâm thần mê mẩn. Hạ Cơ lại còn một câu chuyện ly kỳ nữa là: Năm mới mười lăm tuổi, nằm mộng thấy một chàng đẹp trai, mũ ngọc áo lông, tự xưng là thượng giới thiên tiên, cùng với Hạ Cơ giao hợp, rồi dạy Hạ Cơ những phép hấp tinh đạo khí, để thỏa thích lòng người trong khi giao tiếp.

Khi Hạ Cơ chưa lấy chồng, đã tư thông với anh là công tử Man (thứ huynh của Trịnh Linh-công), chưa được ba năm thì công tử Man ốm quặt quẹo rồi chết non, sau lấy Hạ Ngự Thúc, sinh được một người con trai tên gọi là Hạ Trưng Thư. Hạ Trưng Thư tên tự là Tử Nam, năm mười hai tuổi thì cha là Hạ Ngự Thúc ốm chết. Hạ Cơ thường có ngoại tình, mới để Hạ Trưng Thư ở trong thành theo thầy học tập, còn mình thì về ở đất Châu Lâm. Khổng Ninh và Nghi Hàng phủ nguyên trước là bạn đồng liêu với Hạ Ngự Thúc, trông thấy Hạ Cơ đẹp, vẫn có ý nom dòm. Hạ Cơ có một con thị nữ tên gọi là Hà Hoa là người rất tinh quái, vốn đã hiểu biết tính chủ. Một hôm Khổng Ninh cùng với Hạ Trưng Thư đi săn, nhân tiện đến Châu Lâm, rồi ở chơi ngủ lại ở đấy, Khổng Ninh chịu phí tâm cơ, mật kết cùng Hà Hoa, tặng một cành trâm và nhờ nói hộ với chủ, bởi thế mới cùng Hạ Cơ tư thông.

Khổng Ninh lại lấy trộm cái quần trong bằng gấm của Hạ Cơ đem ra khoe với Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cũng thèm thuồng, mới đem tiền của bàn mưu với Hà Hoa, để nhờ tiến dẫn hộ. Hạ Cơ xưa nay trông thấy Nghi Hàng Phủ là người vóc dáng cao lớn, mặt mũi phương phi, cũng đã có lòng thích, mới bảo Hà Hoa mời đến. Nghi Hàng Phủ khéo làm cho Hạ Cơ được bằng lòng, bởi vậy được Hạ Cơ yêu hơn Khổng Ninh. Nghi Hàng Phủ bảo Hạ Cơ rằng:

– Ngày trước quý nương có cho Khổng Ninh một cái quần gấm, nay đã có lòng yêu tôi, cũng nên cho tôi cái gì để kỷ niệm.

Hạ Cơ cười mà bảo rằng:

– Cái quần gấm ấy là hắn lấy trộm của thiếp, chứ không phải thiếp tặng cho đâu.

Hạ Cơ lại ghé tai bảo nhỏ Nghi Hàng Phủ rằng:

– Dẫu nằm cùng giường với nhau, nhưng cũng có kẻ hậu người bạc chứ!

Nói xong, liền cởi cái áo cánh bằng lụa đưa tặng Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ bằng lòng lắm, từ bấy giờ hai người lại càng thân mật, còn Khổng Ninh thì mỗi ngày Hạ Cơ một nhạt dần. Vì Khổng Ninh khi trước có đem cái quần gấm của Hạ Cơ khoe khoang với Nghi Hàng Phủ, sau Hàng Phủ được cái áo cánh của Hạ Cơ, lại đem khoe với Khổng Ninh. Khổng Ninh hỏi chuyện Hà Hoa, biết là Nghi Hàng Phủ cùng với Hạ Cơ thân mật lắm, mới sinh lòng ghen ghét định tìm kế để phá. Khổng Ninh nghĩ thầm rằng:

– Chúa công cũng là người dâm dục, nghe đồn Hạ Cơ đẹp, vẫn có lòng mơ ước, đã nhiều lần nói đến, chỉ tiếc rằng cờ chẳng đến tay, chi bằng ta dắt chúa công đến, tất nhiên chúa công phải ơn ta. Vả chúa công có bệnh hôi nách, chắc là Hạ Cơ cũng không ưa, bấy giờ ta thừa cơ mà hưởng chung cuộc vui thú, khiến Nghi Hàng Phủ phải nhạt bớt đi một vài phần, cho thỏa tấm lòng căm tức của ta, ấy chính là diệu kế đó!

Khổng Ninh bèn lẻn vào yết kiến Trần Linh-công, nhân khi đàm luận, nói đến chuyện Hạ Cơ là người đẹp, thiên hạ không ai bằng. Linh công nói:

– Ta cũng nghe đồn từ lâu, nhưng năm nay chắc nàng đã gần bốn mươi tuổi, e rằng hoa đắc tháng ba, còn gì là xuân nữa!

Khổng Ninh nói:

– Hạ Cơ khéo giữ nhan sắc lắm, năm nay vẫn còn như con gái mười lăm tuổi, và am hiểu cái thuật trong phòng, giao tiếp rất thần diệu.

Linh công bấy giờ lửa dục nổi lên ngùn ngụt, sắc mặt đỏ bừng, bảo Khổng Ninh rằng:

– Nhà ngươi có kế gì khiến cho ta được đi lại với Hạ Cơ thì ta không dám quên ơn.

Khổng Ninh nói:

– Hạ Cơ nhà ở Châu Lâm. Chỗ ấy nhiều cây cối, phong cảnh rất đẹp, sáng mai chúa công giả cách ra chơi Châu Lâm, tât thế nào Hạ Cơ cũng phải nghênh tiếp. Hạ Cơ có một con thị nữ, tên gọi Hà Hoa, cũng khá thông thạo việc tình, để tôi xin đem ý chúa công bảo nó khéo nói với Hạ Cơ, chắc thế nào cũng xong chuyện.

Linh công cười mà bảo rằng:

-Việc này ta tin cậy ngươi đó!

Ngày hôm sau, Trần Linh-công truyền thẳng ngựa xe ra chơi Châu Lâm, cho quan đại phu là Khổng Ninh đi theo. Khổng Ninh sai người đưa tin trước cho Hạ Cơ để sửa tiệc sẵn, lại tỏ ý cho con Hà Hoa biết, bảo nó nói với Hạ Cơ. Linh công đến Châu Lâm. Hạ Cơ mặc lễ phục ra rước vào trong nhà rồi sụp lạy mà tâu rằng:

– Con trai thiếp là Hạ Trưng Thư đi trọ học vắng nhà, không biết chúa công tới đây, vậy nên không kịp nghênh tiếp, xin chúa công tha lỗi.

Giọng nói thỏ thẻ như tiếng chim oanh, nghe rất êm tai! Linh công thấy Hạ Cơ nhan sắc chẳng khác gì một vị thiên tiên, bọn phi tần trong cung ít ai bì kịp, mới bảo Hạ Cơ rằng:

– Thôi ta miễn lễ cho quý nương, ta nghe nói quý nương ở đây có cái vườn hoa đẹp, vậy ta muốn vào xem một chút. Hạ Cơ nói:

– Từ khi phu quân tạ thế đi rồi, cái vườn này bỏ hoang, không ai quét dọn, thiếp xin cáo tội trước với chúa công.

Hạ Cơ ứng đối rất lưu loát. Trần Linh-công càng thêm có lòng yêu mến, truyền cho Hạ Cơ cởi bỏ lễ phục ra, để đưa vào ngoạn cảnh ở vườn hoa. Hạ Cơ bỏ lễ phục ra, bên trong lại mặc có một bộ quần áo thường rất nhã đạm, trông khác nào như đóa hoa lê ở dưới bóng trăng, chùm mai nhị ở trong đám tuyết, ưa nhìn biết nhường nào! Hạ Cơ đưa Linh công vào chốn hậu viên. Vườn dẫu chẳng lấy gì làm rộng lắm, nhưng có đủ hoa tươi lá lạ, cây đẹp cỏ thơm, một dòng nước chảy quanh, mấy gian nhà thủy tạ, khoảng giữa lại có hiên cao, tức là chỗ yến khách, hai đầu có hai dãy nhà, lối đi thông vào nội tẩm. Phía trong nữa có một chuồng ngựa, còn về phía tây vườn có một chỗ đất bỏ không, để làm chỗ tập bắn.

Linh công còn đang ngoạn cảnh thì trong hiên đã bày một bàn tiệc thịnh soạn. Hạ Cơ bưng chén rượu đứng mời. Trần Linh-công cho ngồi hầu ở bên cạnh. Hạ Cơ khiêm nhượng không dám vào ngồi. Linh công nói:

– Có lẽ nào chủ nhân lại không ngồi! Thôi thì hôm nay ta hãy miễn lễ vua tôi cho, cứ ngồi lại uống rượu cho vui.

Linh công truyền cho Khổng Ninh ngồi bên hữu, Hạ Cơ ngồi bên tả. Trong khi uống rượu, Linh công cứ nhìn Hạ Cơ chòng chọc, mắt không hề chớp. Hạ Cơ cũng liếc mắt đưa tình. Linh công nhân lúc tửu hứng, lại càng si tình. Khổng Ninh ở bên cạnh tán tụng thêm vào, làm cho Linh công tấm lòng phơi phới, rượu uống vào mãi mà không thấy nhiều! Mặt trời đã lặn về tây, người nhà thắp nến, lại uống một chập nữa, Linh công say quá, nằm gục xuống đấy mà ngủ, tiếng ngáy khè khè. Khổng Ninh bảo riêng với Hạ Cơ rằng:

– Chúa công hâm mộ nhan sắc của quí nương, ngày nay tới đây, tìm cuộc truy hoan, quý nương chớ nên trái ý.

Hạ Cơ mỉm cười, không nói gì cả. Khổng Ninh tức khắc truyền cho quân sĩ đều ra ngoài yên nghỉ. Hạ Cơ sửa soạn gối thêu mền gấm, lại tắm gội sạch sẽ để chờ khi vua ngự. Bấy giờ chỉ để có thị nữ Hà Hoa đứng hầu ở cạnh Linh công. Ðược một lúc, Linh công tỉnh rượu, mở mắt nhìn, trông thấy Hà Hoa, liền hỏi:

– Ai đấy?

Hà Hoa quỳ xuống mà tâu rằng:

– Tiện tì tên gọi Hà Hoa, phụng mệnh chủ mẫu cho ra đây hầu hạ chúa công.

Nói xong, liền dâng một chén nước mai thang để giã rượu.

Trần Linh-công hỏi:

– Nước mai thang này, ai nấu mà khéo nhỉ?

Hà Hoa nói:

– Tâu chúa công, nước mai thang là do tiện tì nấu.

Trần Linh-công nói:

– Nhà ngươi biết nấu mai thang, vậy thì nhà ngươi biết làm mối cho ta không?

Hà Hoa giả cách không hiểu mà đáp rằng:

– Tiện tì đây không quen làm mối, nhưng cũng xin hết lòng, chẳng hay chúa công để ý đến người nào?

Trần Linh-công nói:

– Ta vì chủ mẫu nhà ngươi mà ruột gan rối loạn. Nếu nhà ngươi giúp ta được thì ta sẽ trọng thưởng.

Hà Hoa nói:

– Chủ mẫu tôi phận hèn, sợ không đáng hầu quý nhân, nếu chúa công có lòng nghĩ đến thì tiện tì xin đưa vào. Linh công mừng lắm, sai Hà Hoa cầm đèn lồng để dẫn lối. Ðường đi khuất khúc, rồi vào đến phòng ngủ của Hạ Cơ. Hạ Cơ đang ngồi một mình ở dưới bóng đèn ngẩn ngơ chờ đợi, bỗng nghe tiếng giầy, toan hỏi xem ai thì Linh công đã bước vào đến trong cửa. Hà Hoa cầm đèn quay ra. Linh công không nói năng gì, ẵm Hạ Cơ vào màn cùng nằm. Trong khi ân ái thấy chẳng khác gì gái tơ, Linh công lấy làm lạ, liền hỏi. Hạ Cơ nói:

– Thiếp có phép nội thị, sau khi sanh đẻ cũng chẳng qua chỉ ba ngày thì đã lại nguyên cũ. Linh công khen rằng:

– Ta được gặp quý nương, chẳng khác gì được gặp thiên tiên.

Sức Linh công, đã không bằng Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, hơi hám lại không được thơm tho, chỉ vì là ông vua một nước, nên Hạ Cơ cũng ham lợi mà không quản ngại, chiều chuộng đủ điều trong khi cùng giường cùng gối. Linh công thấy vậy, cho là một sự gặp gỡ ít có. Gần đến gà gáy, Hạ Cơ giục Linh công trở dậy. Linh công nói:

– Ngày nay ta được gần gụi ái khanh, nghĩ lại bọn phi tần, không khác gì đất bùn. Chẳng hay ái khanh có nghĩ đến ta chút nào không?

Hạ Cơ ngờ Linh công đã biết việc Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đi lại với mình, mới nói với Linh công rằng:

– Xin nói tình thực với chúa công, từ khi phu nhân thiếp tạ thế đi rồi, thiếp không tự chế được mình, cũng có đi lại với người khác, nay đã được hầu hạ chúa công thì từ bây giờ trở đi, thiếp không dám tiếp ai nữa!

Linh công nói:

– Ái khanh xưa nay giao tiếp những ai, nên kể thực cho ta biết, can chi mà phải giấu diếm?

Hạ Cơ nói:

– Hai quân đại phu là Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vì cớ đi lại trông nom đứa con nhỏ của thiếp, thành ra có cùng thiếp dan díu, ngoài ra không có một ai.

Linh công cười mà bảo rằng:

– Thảo nào mà Khổng Ninh cứ khen cái tài tiếp của ái khanh. Nếu chưa trải qua sao có biết được!

Hạ Cơ nói:

– Tiện thiếp biết tội đã nhiều, xin chúa công thứ cho.

Linh công nói:

– Khổng Ninh có cái công tiến dẫn ái khanh, ta còn nhớ ơn, ái khanh chớ ngại. Ta chỉ ước ao được cùng ái khanh đi lại lâu dài, còn thì mặc ái khanh, ta chẳng cấm làm gì!

Hạ Cơ nói:

– Chúa công cứ thường thường đi lại thì có khó gì chẳng được lâu dài với nhau.

Linh công trở dậy. Hạ Cơ cởi cái áo lót mình, mặc vào cho Trần Linh-công mà nói rằng:

– Mỗi lúc chúa công trông thấy cái áo này cũng như trông thấy tiện thiếp.

Hà Hoa lại cầm đèn lồng đưa Linh công theo lối cũ ra ngoài hiên. Sáng hôm sau, Hạ Cơ mời Linh công lên nhà trên để ngự cơm sáng. Cơm xong. Khổng Ninh lại theo Linh công về triều. Các quan đều hợp cả ở triều môn chờ đợi. Linh công truyền cho miễn triều, rồi đi thẳng vào trong cung. Nghi Hàng Phủ nắm lấy áo Khổng Ninh, cố hỏi xem tối hôm trước Linh công ngủ ở đâu. Khổng Ninh không thể giấu được, mới phải nói thật cả.

Nghi Hàng Phủ biết là Khổng Ninh tiến dẫn, mới giẫm chân xuống đất mà gắt rằng:

– Món tốt như thế, sao lại nhường cho người ta hưởng một mình!

Khổng Ninh nói:

– Chúa công lấy làm đắc ý lắm! Lần sau thì đến phần nhà ngươi, có gì mà lo!

Hai người cười sằng sặc rồi trở về. Ngày hôm sau, Linh công ra triều, đợi lúc quan đã tan về cả, mới gọi Khổng Ninh đến trước mặt mà tạ ơn tiến dẫn Hạ Cơ, lại gọi Nghi Hàng Phủ vào mà hỏi rằng:

– Có ái thú như thế mà không tâu với ta, hai người lại hưởng trước là nghĩa làm sao?

Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đồng thanh tâu rằng:

– Thần đằng quả không gì cả!

Linh công nói:

– Chính Hạ Cơ đã thú với ta như vậy, các người lại còn giấu diếm làm gì!

Khổng Ninh nói:

– Thí dụ như một món ăn, bày tôi phải nếm trước, nếu nếm mà không thấy ngon thì không dám tiến dâng.

Linh công cười mà bảo rằng:

– Thí dụ như món chân gấu (là món ăn ngon nhất trong các món ăn của Trung quốc) thì nhường cho ta ăn trước cũng được chứ sao!

Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đều bưng miệng cười, Linh công lại nói:

– Ta cùng hai người dẫu đều đều đi lại với nàng, nhưng riêng với ta, nàng có tặng một vật để làm kỷ niệm.

Nói xong, liền vạch cái áo lót mình cho Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ xem mà bảo rằng:

– Mỹ nhân cho ta đấy, hai người có được không?

Khổng Ninh nói:

– Tôi cũng có!

Linh công hỏi:

– Nàng tặng nhà ngươi cái gì?

Khổng Ninh vén áo, để lộ cái quần gấm, rồi nói với Linh công rằng:

– Hạ Cơ tặng cho tôi đấy! Chẳng những tôi có, Nghi Hàng Phủ cũng có.

Linh công lại hỏi Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cởi cái áo cánh lụa đưa trình Linh công. Linh công bật cười mà nói rằng:

– Ba ta người nào cũng đều có một vật tùy thân để làm tang chứng, ngày khác đi ra Châu Lâm, có thể cùng nhau mở đại hội “liên sàng” được đấy!

Một vua và hai bày tôi, đùa bỡn nhau ở chốn triều đường, tiếng đồn đến ngoài, làm cho một vi trung thần nghiến răng nghiến lợi mà kêu rằng:

– Triều đình là chỗ phép tắc kỷ cương mà nhảm nhí như vậy thì cơ mất nước đến nơi rồi!

Nói xong, liền đi thẳng vào triều để đem lời can ngăn.

---------------------------------------------

Hồi thứ 53.
Sở Trang-vương trở lại đất Trần
Tấn Cảnh-công đem quân đánh Trịnh

Trần Linh-công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đem những đồ vật của Hạ Cơ tặng cho, đùa bỡn với nhau ở chốn triều đường. Quan đại phu là Tiết Giã nghe nói, liền vào triều để định can Linh công. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vốn sợ Tiết Giã là người chính trực, nay thấy vua không triệu mà Tiết Giã đến, biết là Tiết Giã có ý muốn đem lời can ngăn, mới cáo từ Linh công mà lui ra. Tiết Giã rảo đến trước mặt, nắm lấy vạt áo Linh công, rồi quỳ xuống mà tâu rằng:

– Tôi nghe nói vua tôi phải lễ nghĩa, nam nữ phải có phân biệt, nay vua tôi dắt nhau đi dâm loạn, lại đem chuyện ấy khoe khoang ở chốn triều đường, không còn một mảy may liêm sỉ nào cả. Ðó là cái nguy cơ mất nước, xin chúa công hãy nghĩ lại.

Trần Linh-công thẹn toát mồ hôi ra, lấy áo che mặt mà nói rằng:

– Nhà ngươi bất tất phải nói lắm, ta đã biết hối rồi!

Tiết Giã cáo từ lui ra. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đứng ở ngoài cửa, trong thấy Tiết Giã hầm hầm nổi giận mà lui ra, thì lẩn vào trong đám đông người để tránh. Tiết Giã trông thấy, gọi Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại mà trách rằng:

– Vua có điều thiện, bề tôi nên bày ra, vua có điều bất thiện, bề tôi nên dấu đi. Nay hai người đã xui vua làm điều bất thiện, mà lại còn nói ra, nhân dân ai cũng biết cả, thì còn ra thể thống gì, sao hai ngươi không biết xấu hổ!

Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ không biết nói sao, chỉ vâng dạ và chịu lỗi. Tiết Giã đi khỏi, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vào yết kiến Linh công, thuật lại những lời nói của Tiết Giã và tâu với Linh công rằng:

– Từ nay trở đi, chúa công chớ đi chơi Châu Lâm nữa!

Linh công nói:

– Vậy thì hai người có đi hay không?

Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nói:

– Tiết Giã chỉ cốt can chúa công, chứ có việc gì đến chúng tôi. Vậy thì chúng tôi đi được, mà chúa công không nên đi.

Linh công hăng hái nói rằng:

– Thà rằng ta mất lòng Tiết Giã, chứ đời nào lại chịu bỏ nơi vui thú ấy!

Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại tâu rằng:

– Nếu chúa công lại đi nữa thì không khỏi Tiết Giã làm rầy rà lôi thôi, biết làm thế nào?

Linh công nói:

– Hai người có kế gì mà khiến Tiết Giã đừng nói nữa không?

Khổng Ninh nói:

– Nếu muốn cho Tiết Giã đừng nói thì chỉ có một cách khiến hắn không mở miệng ra được.

Linh công cười mà nói rằng:

– Hắn có miệng thì hắn nói, ta dùng cách gì mà khiến cho hắn không mở miệng ra được.

Nghi Hàng Phủ nói:

– Tôi hiểu câu nói của Khổng Ninh rồi! Người ta chết thì không mở miệng ra được, sao chúa công không hạ lệnh giết chết Tiết Giã đi thì có phải được vui thú suốt đời hay không?

Linh công nói:

– Ta giết hắn thế nào được?

Khổng Ninh nói:

– Hay là dể tôi sai một người rình mà đâm chết hắn đi!

Linh công nói:

– Nhà ngươi cứ làm!

Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ cáo từ lui ra, rồi bàn nhau đem tiền của thuê thích khách đứng rình ở một chỗ hẻo lánh đợi Tiết Giã vào triều đi qua, giết chết Tiết Giã. Người nước Trần thấy vậy, cho là Trần Linh-công sai người giết, chứ không biết rằng đó là âm mưu của Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ. Tiết Giã chết rồi, vua tôi lại càng không kiêng nể gì nữa, lâu lâu lại rủ nhau ra chơi Châu Lâm. Trước còn giấu giếm, sau lâu ngày quen thói, công nhiên ra chơi chẳng nghĩ gì đến tai tiếng nữa. Người nước Trần có làm một bài thơ “Châu Lâm” để chê Linh công. Hạ Trưng Thư dần dần khôn lớn, biết chuyện mẹ như vậy, trong lòng khác nào dao đâm, nhưng ngại vì có Trần Linh-công, không làm thế nào được. Mỗi khi Linh công sắp ra Châu Lâm thì Trưng Thư tạo sự đi vắng, để cho khuất mắt, còn bọn trai gái dâm loạn ấy thấy Hạ Trưng Thư đi vắng thì lấy làm mừng.

Ngày tháng thoi đưa, Hạ Trưng Thư đã mười tám tuổi, cao lớn đẹp đẽ, có sức khỏe, lại giỏi nghề bắn cung. Linh công muốn lấy lòng Hạ Cơ mới cho Trưng Thư nối chức của cha làm quan tư mã, coi giữ binh quyền. Trưng Thư tạ ơn, rồi vào bái yết Hạ Cơ. Hạ Cơ dặn rằng:

– Ðấy là ân điền của chúa công, con nên một lòng vì nước, chớ nghĩ gì đến việc nhà.

Trưng Thư từ biệt Hạ Cơ vào triều cung chức. Một hôm, Linh công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại ra chơi Châu Lâm. Hạ Trưng Thư cảm ơn vua cho được làm tư mã, về nhà bày tiệc để thết đãi. Hạ Cơ vì có con ở đấy, không dám ra hầu rượu. Trần Linh-công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ trong khi say rượu, cười nói đùa bỡn, múa tay hoa chân. Hạ Trưng Thư trông thấy ghét lắm mới lui vào sau bình phong để nghe xem nào thế nào. Trần Linh-công bảo Nghi Hàng Phủ rằng:

– Hạ Trưng Thư cao lớn đẹp đẽ lắm, trông giống nhà ngươi lắm, hay là con rơi của nhà ngươi đấy?

Nghi Hàng Phủ cười mà nói rằng:

– Hạ Trưng Thư hai mắt lau láu, rất giống chúa công.

Khổng Ninh ở bên cạnh nói bông rằng:

– Chúa công và Nghi Hàng Phủ hãy còn ít tuổi, sinh thế nào được hắn, tôi chắc hắn có nhiều bố lắm, dẫu mẹ hắn cũng không nhớ được hắn là con ai nữa!

Nói xong, ba người lại vỗ tay cười ầm lên. Hạ Trưng Thư nghe nói, hổ thẹn vô cùng, tức thì hầm hầm nổi giận, vào khóa chặt cửa phòng của Hạ Cơ lại, rồi lẻn qua cửa ngang ra ngoài, truyền cho quân sĩ vây kín xung quanh phủ, không được để cho Linh công cùng Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ chạy thoát.

Quân sĩ vâng lệnh, vây kín quanh phủ. Hạ Trưng Thư mình mặc nhung phục tay cầm bảo kiếm, đem một toán quân tiến vào cửa giữa, quát to lên rằng:

– Mau mau bắt lũ dâm tặc!

Linh công đang cười nói khề khà, chẳng biết tí gì cả. Khổng Ninh nghe tiếng, vội vàng nói với Linh công rằng:

– Nguy cấp lắm rồi!

Hạ Trưng Thư đánh lừa ta rồi! Nay hắn đem quân vào, kêu bắt dâm tặc, ta biết chạy đường nào cho thoát?

Nghi Hàng Phủ nói:

– Cửa trước nó đã vây kín thì ta chạy về cửa sau.

Ba người xưa nay ở nhà Hạ Cơ đã thông thuộc cả đường lối, Linh công định chạy vào phòng Hạ Cơ, để cầu Hạ Cơ cứu cho. Chẳng ngờ khi vào đến nơi, thấy cửa phòng đã khóa chặt, lại càng sợ hãi, liền chạy ra sau vườn. Trưng Thư cầm kiếm đuổi theo. Linh công nhớ rằng ở bên chuồng ngựa, có cái tường thấp, có thể nhảy qua được, mới chạy về phía chuồng ngựa. Trưng Thư quát to lên rằng:

– Ðứa hôn quân kia, mày chạy đường nào cho thoát!

Trưng Thư giương cung bắn ngay một phát, nhưng không trúng. Linh công chạy vào chuồng ngựa, toan tìm chỗ ẩn thân, chẳng may bị đàn ngựa cắn đá, vội vàng lui ra. Trưng Thư đuổi kịp, lại bắn thêm một phát nữa, trúng vào giữa bụng, Trần Linh-công chết ở cạnh chuồng ngựa. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ trông thấy Linh công chạy về phía đông, biết là Hạ Trưng Thư tất nhiên đuổi theo, mới quay về phía Tây chạy vào trường tập bắn, tìm chỗ rào thủng chui ra được, không dám về nhà nữa, rủ nhau trốn sang nước Sở. Hạ Trưng Thư bắn chết Trần Linh-công, rồi kéo quân vào thành, nói dối là Linh công say rượu ngộ cảm mà chết, lập thế tử Ngọ lên nối ngôi, tức là Trần Thành-công. Trần Thành-công trong lòng căm tức Hạ Trưng Thư, nhưng sức không làm gì nổi, nên phải ẩn nhẫn không dám nói ra. Hạ Trưng Thư cũng sợ chư hầu đem quân đến hỏi tội mình, mới cố ép Trần Thành-công phải sang chầu nước Tấn, để vững chỗ dựa.

Lại nói chuyện sứ nước Sở phụng mệnh Sở Trang-vương sang hẹn Trần Linh-công đến hội ở đất Thần Lăng, khi sang chưa đến nước Trần, nghe tin có hạn, mới quay trở về, lại vừa gặp Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ trốn sang nước Sở, vào yết kiến Sở Trang Vương, giấu kín những chuyện vua tôi dâm loạn, chỉ nói việc Hạ Trưng Thư làm phản, giết Trần Linh-công, cũng giống như sứ nước Sở về báo khi trước. Sở Trang-vương mới hợp triều thần để thương nghị. Bấy giờ nước Sở có quan đại phu tên gọi là Khuất Vu, tên tự là Tử Linh (con Khuất Ðăng). Khuất Vu mặt mày thanh tú, văn vũ toàn tài, chỉ phải cái bệnh hiếu sắc, vẫn chuyên học phòng trung bí thuật của Bành tổ, mấy năm trước sang sứ nước Trần, gặp Hạ Cơ đi chơi được thấy nhan sắc, lại nghe đồn nghề chơi tuyệt diệu, thì trong lòng ước ao lắm. Ðến lúc nghe nói Hạ Trưng Thư làm phản, Khuất Vu muốn nhân việc ấy để mà sang lấy Hạ Cơ, mới cố khuyên Sở Trang-vương đem quân sang đánh Trần. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao cũng nói nên đánh.

Sở Trang-vương mới đưa một đạo hịch sang nước Trần, nói rằng: “Hiếu thị cho nhân dân nước Trần biết, Hạ Trưng Thư có tội giết vua, trên thần dưới người đều tức giận cả, nước Trần không đánh được, vậy ta phải yên lặng, không được náo động”.

Người nước Trần đọc hịch, ai cũng đổ lỗi cho Hạ Trưng Thư, muốn nhờ tay nước Sở giết đi, cho nên không muốn chống cự quân Sở. Sở Trang-vương củng với các tướng là công tử Anh Tề, công tử Trắc và Khuất Vu đem đại binh kéo thẳng đến kinh thành nước Trần, chẳng có ai chống cự lại cả. Hạ Trưng Thư biết là người trong nước oán mình, bèn trốn ra Châu Lâm. Bấy giờ Trần Thành-công còn đang ở nước Tấn chưa về. Quan đại phu là Viên Pha (cháu bốn đời Viên Ðào Ðề) cùng với triều thần thương nghị rằng:

– Vua nước Sở đem quân sang đây, chỉ cốt để trị tội Hạ Trưng Thư, chi bằng ta bắt gặp Hạ Trưng Thư đem nộp vua Sở rồi xin giảng hòa.

Triều thần đều lấy làm phải. Viên Pha liền sai con là Kiều Như đem quân tới Châu Lâm để bắt Hạ Trưng Thư. Kiều Như chưa kịp đi thì quân nước Sở đã kéo đến dưới chân thành. Nước Trần lâu nay, chính lệnh không ra gì, và Trần Thành-công đi vắng, không ai làm chủ, dân nước Trần mới mở cửa thành cho quân Sở vào. Sở Trang-vương kéo quân vào hỏi bọn Viên Pha rằng:

– Hạ Trưng Thư ở đâu?

Viên Pha nói:

– Hiện nay ở Châu Lâm.

Sở Trang-vương lại hỏi:

– Sao các quan nước Trần lại dung túng cho Hạ Trưng Thư mà không trị tội?

Viên Pha nói:

– Không phải là chúng tôi không muốn trị tội, nhưng thế không làm gì nổi.

Sở Trang-vương liền sai Viên Pha đi dẫn đường rồi đem đại phu tiến sang Châu Lâm, để công tử Anh Tề đóng một toán quân ở trong thành.Hạ Trưng Thư đang thu nhập gia tài, định đem mẹ là Hạ Cơ trốn sang nước Trịnh, nhưng chưa kịp thì quân Sở vây kín Châu Lâm, bắt được Hạ Trưng Thư. Sở Trang-vương không thấy Hạ Cơ đâu cả, sai tướng sĩ sục tìm thì bắt được ở sau vườn, còn Hà Hoa không biết trốn đi đâu mất. Hạ Cơ sụp lạy trước mặt. Sở Trang-vương mà tâu rằng:

– Thiếp chẳng may gap lúc nước nhà biến loạn, phận liễu bồ sống chết ở trong tay đại vương, nếu đại vương rủ lòng thương, thì xin cho thiếp được sung vào làm kẻ thị tì phục dịch.

Hạ Cơ nhan sắc đã diễm lệ, lời nói lại trang nhã rạch ròi, Sở Trang-vương thấy vậy tâm thần mê mẩn, bảo các tướng rằng:

– Phi Tần nước Sở ta dẫu nhiều, nhưng được như Hạ Cơ thì rất ít, ý ta muốn đem về cung, các người nghĩ thế nào?

Khuất Vu can rằng:

– Ðại vương đem quân sang đây là cốt để trị kẻ có tội, nếu lấy Hạ Cơ thì hoá ra một người tham sắc, sao gọi là bá chủ được?

Trang vương:

– Tử Linh (tên tự của Khuất Vu) nói phải lắm, ta không dám nạp vào hậu cung nữa. Nhưng người đàn bà này là một vật quí ở thế gian, nếu để mắt ta trông thấy thì khó lòng nhịn được.

Trang vương bèn truyền cho quân sĩ đuổi Hạ Cơ đi. Bấy giờ công tử Trắc đứng bên cạnh cũng mê nhan sắc của Hạ Cơ, lại thấy Sở Trang-vương không dùng, mới quỳ mà tâu rằng:

– Tôi chẳng may góa vợ, xin đại vương cho tôi lấy nàng làm vợ.

Khuất Vu lại can rằng:

– Ðại vương không nên cho.

Công tử Trắc giận lắm, nói:

– Tử Linh không bằng lòng cho ta lấy Hạ Cơ là bởi cớ sao?

Khuất Vu nói:

– Người đàn bà ấy là một vật chẳng lành ở trong trời đất, cứ như tôi đã biết thì công tử Man và Hạ Ngự Thúc chính vì nó mà chết non, vua Trần và Hạ Trưng Thư vì nó mà bị giết, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vì nó mà phải tan nát. Thiên hạ thiếu gì người có nhan sắc mà lại đi lấy một người như thế, để di họa về sau!

Sở Trang-vương nói:

– Cứ như lời Tử Linh nói thì ta cũng sợ lắm!

Công tử Trắc lại bảo Khuất Vu rằng:

– Nếu vậy thì tôi cũng không dám! Nhưng người bảo đại vương, không nên lấy, và ta cũng không nên lấy, hay nhà ngươi muốn lấy chăng?

Khuất Vu nói luôn mấy câu rằng:

– Không dám! Không dám!

Sở Trang-vương nói:

– Nếu để hắn vô chủ thì có người tranh, ta nghe nói Tương Lão mới rồi vợ chết, âu là ta cho Tương Lão lấy làm vợ kế.

Bấy giờ Tương Lão cũng đem quân theo Sở Trang-vương, ở toán hậu đội. Trang vương bèn triệu đến mà gả Hạ Cơ. Hai vợ chồng cùng nhau lạy tạ rồi lui ra.

Khuất Vu can Sở Trang-vương và công tử Trắc không nên lấy Hạ Cơ là có ý muốn giữ phần cho mình, nay thấy Sở Trang-vương đem gả cho Tương Lão thì nghĩ thầm rằng: “Ðáng tiếc! Ðáng tiếc!”. Nhưng lại tự nhủ rằng:

– Tương Lão chịu nổi Hạ Cơ thế nào được, chẳng qua cũng chỉ trong dăm sáu tháng, một năm thì Hạ Cơ cũng lại góa chồng thôi! Bấy giờ ta sẽ định liệu.

Sở Trang-vương đóng quân ở Châu Lâm một đêm, rồi lại trở về kinh thành nuớc Trần. Công tử Anh Tề đón vào trong thành. Sở Trang-vương truyền đem Hạ Trưng Thư ra cửa thành mà phân thây, theo như lối Tề Tướng công xử tội Cao Cừ Di ngày trước. Sở Trang-vương trị tội Hạ Trưng Thư rồi, thu hết bản đồ nước Trần, lập làm một huyện của nước Sở, cho công tử Anh Tề làm quan trấn thủ, để quản trị dân nước Trần, còn bọn Viên Pha, đều bắt đem về nước Sở cả.

Các nước phụ thuộc vào nước Sở ở Nam Phương nghe tin Sở Trang-vương diệt được nước Trần, đều đến triều hạ, chỉ có quan đại phu nước Sở là Thân Thúc Thời đi sứ nước Tề chưa về (bấy giờ Tề Huệ-công mất, thế tử Vô Giã lên nối ngôi, tức là Tề Khoảnh-công.Tề và Sở vẫn giao hiếu với nhau, bởi vậy Sở Trang-vương mới sai Thân Thúc Thời sang viếng vua cũ và dùng vua mới), đến lúc về, thấy Sở Trang-vương diệt được nước Trần mà không chúc mừng câu nào cả, Sở Trang-vương sai nội thị ra trách mắng Thân Thúc Thời rằng:

– Hạ Trưng Thư vô đạo giết vua, ta đem quân sang hỏi tội, thu được bờ cõi nước Trần, các nước phụ thuộc của ta đều đến triều hạ cả, mà nhà ngươi chẳng nói gì đến, hay có ý cho việc ta đánh Trần là không phải. Thân Thúc Thời đi theo sứ giả vào yết kiến để được nói hết lời trước mặt nhà vua. Sở vương thuận cho. Thân Thúc Thời nói rằng:

– Có một người dắt trâu đi tắt qua ruộng người ta, dẫm nát cả lúa mạ. Người chủ có ruộng giận lắm, cướp lấy trâu. Như cái kiện ấy mà đến tai đại vương thì đại vương định xử ra làm sao?

Sở Trang-vương nói:

– Dắt trâu dẫm lúa, dẫu có tổn hại nhưng cũng chẳng là bao, mà lại cướp lấy trâu thì chẳng cũng quá lắm ư! Nếu ta xử cái kiện ấy thì phạt nhẹ đứa dắt trâu mà trả trâu cho nó, nhà ngươi nghĩ có phải không?

Thân Thúc Thời nói:

– Sao đại vương xử kiện thì sáng như thế mà xử với nước Trần lại tối như vậy! Hạ Trưng Thư giết vua, thì nó có tội, không phải vì thế mà giết Trần đáng diệt, đại vương trị tội hắn là đủ, nay lại diệt nước Trần thì khác nào như chuyện cướp trâu, còn mừng về nỗi gì!

Sở Trang-vương nói:

– Nhà ngươi nói phải lắm!

Thân Thúc Thời nói:

– Ðại vương đã cho lời nói tôi là phải thì sao không bắt chước việc trả lại trâu cho người ta?

Sở Trang-vương tức khắc triệu quan đại phu nước Trần là Viên Pha vào mà hỏi rằng:

– Hiện nay vua nước Trần ở đâu?

Viên Pha nói:

– Khi trước ở nước Tấn, bây giờ không biết đi đâu?

Nói xong, nước mắt chảy xuống ròng ròng. Sở Trang-vương động lòng mà bảo rằng:

– Nay ta định trả lại nước cho nhà ngươi, mà ngươi nên tìm đón vua Trần về, rồi một lòng thần phục nước Sở ta, chớ có quên cái ơn ấy.

Sở Trang-vương lại triệu Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, tha cho về nước để cùng giúp vua Trần. Viên Pha dẫu biết là tai vạ nước Trần bởi tại Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nhưng ở trước mặt Sở Trang-vương không dám nói đến, chỉ cùng nhau lạy tạ rồi lui ra. Khi bọn Viên Pha gần ra khỏi địa giới nước Sở thì gặp Trần Thành-công ở nước Tấn về, nghe tin nước nhà bị diệt, cũng toan sang để kêu với Sở Trang-vương.

Viên Sa thuật lại cái lòng tử tế của Sở Trang-vương cho Trần Thành-công nghe, rồi vua tôi cùng nhau về nước. Quan trấn thủ nước Trần là công tử Anh Tề đã tiếp được thư của Sở Trang-vương triệu về nước, mới đem bản đồ nước Trần giao trả lại cho Trần Thành-công. Khổng Ninh về nước chưa được một tháng, nhiều khi ban ngày trông thấy Hạ Trưng Thư đến bắt đền mạng rồi thành ra bệnh điên cuồng, nhảy xuống ao mà chết. Ðêm hôm Khổng Ninh chết, Nghi Hàng Phủ cũng nằm mộng thấy Trần Linh-công, Khổng Ninh và Hạ Trưng Thư, ba người cùng đến bắt Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cũng kinh sợ mà chết.

Công tử Anh Tề về đến nước Sở vào yết kiến Trang vương. Trang vương nói:

– Ta đã t rả lại nước Trần rồi, sẽ xin đền cho nhà ngươi chỗ khác.

Công tử Anh Tề xin khu ruộng ở đất Thân và đất Lã. Trang vương toan thuận cho. Khuất Vu liền nói với Trang vương rằng:

– Ðất Thân và đất Lã là một nơi trọng yếu, nước Sở ta dùng để chống giữ với nước Tấn, không nên đem thưởng cho ai cả.

Sở Trang-vương mới thôi, không cho công tử Anh Tề nữa. Ðến lúc Thân Thúc Thời cáo lão, Trang vương đem đất Thân phong cho Khuất Vu. Khuất Vu chẳng từ chối mà nhận ngay. Công tử Anh Tề vì thế sinh hiềm khích với Khuất Vu. Trang Vương thấy nước Trần dẫu thần phục mình, nhưng còn nước Trịnh vẫn theo nước Tấn, mới cùng triều thần thương nghị việc đánh Trịnh.

Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao nói với Trang vương rằng:

– Ta đánh Trịnh thì nước Tấn tất đến cứu, vậy mới phải đem đại binh đi mới được.

Trang vương liền cử đại binh tiến sang đánh Trịnh. Tương Lão đi làm tiền hộ. Viên phó tướng thuộc toán quân của Tương Lão tên là Ðường Giao xin với Tương Lão rằng:

– Trịnh là một nước nhỏ, bất tất phải phiền đến đại binh, tôi xin đem thủ hạ một trăm người để mở đường đi trước.

Tương Lão khen mà cho đi. Ðường Giao cố sức xông pha đi trước, quân nước Trịnh không đương nổi, vì thế mà đại binh của Sở Trang-vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh cóng như vậy, mới khen Tương Lão rằng:

– Ta không ngờ nhà ngươi đã già mà còn khỏe được như thế.

Tương Lão nói:

– Ðó không phải là công tôi, nhờ có viên phó tướng là Ðường Giao cố sức, mới được như vậy!

Trang vương triệu Ðường Giao đến, toan trọng thưởng, Ðường Giao nói:

– Tôi chịu ơn Ðại vương to lắm, ngày nay gọi chút báo đền có đâu lại dám lĩnh thưởng.

Trang vương ngạc nhiên mà nói rằng:

– Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo chịu ơn ta?

Ðường Giao nói:

– Trong bữa tiệc “Tuyệt Anh” có người nắm vạt áo Hứa Cơ, người ấy tức là tôi đó! Ðại vương rộng lượng tha mà không giết, vậy nên tôi phải cố sức để báo đền.

Trang vương nói:

– May làm sao! Giả sử bấy giờ ta thắp nến lên để trị tội người mất giải mũ vì ta thì sao bây giờ lại có người vì ta mà cố sức như vậy!

Sở Trang-vương truyền ghi lấy công Ðường Giao để đợi khi đánh Trịnh xong trở về thì sẽ trọng dụng. Ðường Giao nói chuyện với mọi người rằng:

– Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy ta cố sức để báo đền. Nay ta đã nói rõ ra rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà lại đợi sau này đại vương trọng dụng hay sao?

Ðêm hôm ấy, Ðường Giao tức khắc bỏ trốn, không biết đi đâu mất. Sở Trang-vương nghe nói khen rằng:

– Ðường Giao thật là một người giỏi!

Ðại binh nước Sở vây thành nước Trịnh, cả thẩy mười bảy ngày. Trịnh Tương-công có lòng trông mong quân Tấn đến cứu, không chịu giảng hòa, quân sĩ chết hại rất nhiều. Phía đông bắc thành nước Trịnh có một chỗ lở hơn mười trượng, quân nước Sở sắp sửa trèo vào. Sở Trang-vương nghe trong thành có tiếng khóc rầm rĩ, động lòng thương xót, truyền cho quân sĩ hãy lui lại mười dặm. Công tử Anh Tề nói với Sở Trang-vương rằng:

– Ta nên nhân lúc thành lở mà tiến vào, cớ sao lại lui quân?

Sở Trang-vương nói:

– Người nước Trịnh chỉ biết sợ uy ta, chưa biết mến đức ta, nay ta lui quân là để tỏ cho nước Trịnh biết ta có lòng nhân đức.

Trịnh Tương-công thấy nước Sở lui quân, ngờ là nước Tấn đã đem quân đến cứu, mới chở những nơi thành lở, rồi cố sức chống giữ. Sở Trang-vương biết là nước Trịnh không chịu đầu hàng, lại tiến quân vây thành đến hơn ba tháng. Tướng nước Sở là Nhạc Bá phá cửa thành tiến vào. Sở Trang-vương truyền cho quân sĩ không được nhũng nhiễu hại dân. Trịnh Tương-công để trần vai áo, dắt đàn dê ra đón quân Sở mà tạ tội rằng:

– Tôi là kẻ ngu dại, không biết thần phục thượng quốc, để đến nổi đại vương nổi giận phải đem quân tới nước tôi, nay tôi biết tội đã nhiều, xin đại vương rộng lượng thương cho nước tôi làm nước phụ thuộc, không đến nổ tuyệt duyệt, thì nước tôi được đội ơn nhiều lắm.

Công tử Anh Tề nói với Sở Trang-vương rằng:

– Nước Trịnh cùng quá, mới chịu đầu hàng, nếu ta tha cho thì rồi họ lại làm phản, chi bằng ta diệt hẳn đi.

Sở Trang-vương nói:

– Nếu ngày nay ta diệt nước Trịnh mà Thân Thúc Thời hãy còn thì tất lại đem cái chuyện “cướp trâu dẫm lúa” mà cười ta đó.

Sở Trang-vương truyền lui quân ba mươi dặm, rồi cho nước Trịnh giảng hoà. Trịnh Tương-công thân hành đến đại dinh quân Sở xin hội thề, và cho người em là công tử Khứ Tật sang làm con tin. Sở Trang-vương truyền rút quân về đóng ở Diên Ðịa. Quân thám tử về báo với Sở Trang-vương rằng:

– Nước Tấn cho Tuân Lâm phủ làm chánh tướng, Tiên Cốc làm phó tướng, đem quân sang cứu Trịnh đã giảng hòa, ta còn sinh sự với Tấn gì nữa, chi bằng ta giữ cho toàn quân mà về.

Có kẻ cận thần là Ngũ Sâm tâu với Sở Trang-vương rằng:

– Quan lệnh doãn nói thế là phải! Nước Trịnh cho sức ta không bằng Tấn, cho nên mới theo Tấn, nay quân Tấn đến mà ta rút về thì tỏ ra rằng thật là ta không bằng Tấn. Vả nước Tấn biết Trịnh theo Sở thì tất đánh Trịnh, vậy ta đánh Tấn để cứu Trịnh, chẳng cũng nên lắm ư!

Tôn Thúc Ngao nói với Sở Trang-vương rằng:

– Quân nước Sở ta, năm trước sang đánh Trần, năm nay sang đánh Trịnh, nhọc mệt lắm rồi, nếu đánh mà không mắng thì dẫu ăn thịt Ngũ Sâm, cũng không đáng cái tội của hắn vậy.

Ngũ Sâm nói:

– Nếu đánh mà được thì quan lệnh doãn là người vô mưu, nếu đánh không được thì thịt Ngũ Sâm này tất bị quân Tấn ăn mất, còn đâu mà để phần người nước Sở nữa!

Sở Trang-vương liền hỏi ý tất cả các tướng, đưa cho mỗi người một cai bút để viết vào bàn tay, ai định đánh thì viết chữ “Ðánh”, ai định lui thì viết chữ “Lui”. Các tướng viết xong, Sở Trang-vương sai mở bàn tay ra xem thì chỉ có bốn người viết chữ “Lui” là: Quan trung quân nguyên soái Ngưu Khâu, quan lệnh doãn Tương Lão và hai tướng là Sai Cưu Cơ và Bánh Danh. Còn bọn công tử Anh Tề, công tử Trắc, công tử Cốc Thần, Khuất Ðăng, Phan Ðảng, Nhạc Bá, Dưỡng Do Cơ, Hứa Bá, Hùng Phụ Bá, và Hứa Yển hơn hai mươi người đều viết chữ “Ðánh” cả.

Sở Trang-vương nói:

– Ngưu Khâu là bậc lão thành, nay cùng với quan lệnh doãn hợp ý nhau, vậy thì lui quân về là phải.

Sở Trang-vương truyền đến sáng mai thì rút quân về. Ðêm hôm ấy, Ngũ Sâm xin vào yết kiến, nói với Trang vương rằng:

– Ðại vương sợ gì nước Tấn mà phải bỏ nước Trịnh như vậy?

Sở Trang-vương nói:

– Nào ta có bỏ nước Trịnh bao giờ?

Ngũ Sâm nói:

– Quân Sở ta vây nước Trịnh ba tháng mới thu phục được nước Trịnh, nay quân Tấn đến mà ta rút về, khiến cho Tấn được công là cứu nước Trịnh, thế thì chẳng phải ta bỏ nước Trịnh là gì!

Sở Trang vướng nói:

– Quan lệnh doãn bảo ta rằng đánh Tấn vị tất đã được, vậy nên ta phải bỏ.

Ngũ Sâm nói:

– Tôi đã tính trước cả rồi! Tuân Lâm Phủ nước Tấn mời lên làm trung quân nguyên soái, chưa có uy tính gì để cho người ta phục, quan phó tướng là Tiên Cốc, nguyên là con Tiên Thả Cư, cháu Tiên Chẩn, cậy thế mấy đời có công, làm nhiều điều kiêu ngạo, còn bọn Loan, Triệu đều mỗi người một ý, xem thế thì các tướng nước Tấn, không đồng tâm với nhau, dẫu nhiều quân đến đâu, cũng có thể phá tan được. Vả đại vương làm vua một nước mà phải sợ các tướng nước Tấn, để cho thiên hạ chê cười thì sao cho nước Trịnh chịu phục.

Sở Trang-vương ngạc nhiên mà nói rằng:

– Ta dẫu không khéo dùng quân, cũng chẳng chịu thua các tướng nước Tấn!

Nói xong, liền sai người bảo quản lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao cho tất cả chiến xa quay về hướng bắc mà tiến đến Quản Thành để đợi quân Tấn đến thì đánh.

-------------------------------------------------

Hồi thứ 54.
Sở Vương đuổi quân Tuân Lâm Phủ
Ưu Mạnh đóng vai Tôn Thúc Ngao

Tấn Cảnh-công cũng nghe tin Sở Trang-vương thân hành đem quân sang đánh Trịnh, mới phong Tuân Lâm Phủ làm trung quân nguyên soái, Tiên Cốc làm phó nguyên soái, để đem quân sang cứu. Khi đi đến sông Hoàng Hà, có quân thám tử báo rằng:

– Trịnh bị Sở vây, đợi mãi không thấy quân ta đến cứu, đã hàng Sở rồi. Quân Sở đã sắp sửa rút về.

Tuân Lâm Phủ bèn triệu các tướng vào để hội nghị. Sĩ Hội nói:

– Ðem quân đi cứu mà không kịp, bây giờ đánh Sở cũng chẳng ra thế nào, chi bằng ta hãy rút về, sau sẽ định liệu.

Tuân Lâm Phủ khen phải, toan truyền rút quân về. Bỗng có một viên đại tướng đứng dậy can rằng:

– Không nên! Nước Tấn ta làm được bá chủ là vì biết bênh vực kẻ yếu, nay Trịnh đợi mãi không thấy quân ta đến cứu, mới phải hàng nước Sở, ta đánh được nước Sở thì Trịnh tất lại về với ta. Nếu ta bỏ Trịnh mà tránh quân Sở thì các nước nhỏ còn trông cậy vào ta nỗi gì! Nước Tấn không làm được bá chủ nữa rồi. Nếu nguyên soái nhất định rút quân về, thì tôi tình nguyện đem quân bản bộ của tôi ra đánh một trận.

Tuân Lâm Phủ nhìn xem ai là quan phó nguyên soái Tiên Cốc. Tuân Lâm Phủ bảo Tiên Cốc rằng:

– Vua Sở thân hành đem quân tới đây, binh nhiều tướng mạnh, nếu ta đem một toán quân sang đánh, khác nào như ném thịt vào hổ đói mà thôi, phỏng có ích gì!

Tiên Cốc thét lên rằng:

– Nếu ta không đi thì sẽ có người bảo rằng đường đường nước Tấn mà không có một người nào dám đánh, chẳng cũng xấu hổ lắm ư! Chuyến này ta đi, dẫu chết tại trận cũng còn được tiếng là người có chí khí!

Tiên Cốc nói xong, tức khắc lui ra. Ði đến cửa dinh gặp anh em Triệu Ðồng và Triệu Quát. Tiên Cốc bảo Triệu Ðồng và Triệu Quát rằng:

– Quan nguyên soái sợ nước Sở muốn rút quân về, chỉ một mình ta quyết đem quân đi đánh.

Triệu Ðồng và Triệu Quát nói:

– Ðại trượng phu phải như thế! Anh em tôi cũng xin đem quân bàn bộ đi theo tướng quân.

Ba người cùng nhau đem quân qua sông Hoàng Hà. Tuân Thủ không thấy Triệu Ðồng và Triệu Quát, liền hỏi quân sĩ mới biết hai người đã theo Tiên Cốc qua sông Hoàng Hà để đón đánh quân Sở, liền giật mình kinh sợ, và nói với quan tư mã Hàn Quyết. Hàn Quyết vào bảo Tuân Lâm Phủ rằng:

– Nguyên soái không biết việc Tiên Cốc qua sông Hoàng Hà hay sao? Nếu gặp quân Sở thì tất bị thua, ngài làm nguyên soái mà để cho Tiên Cốc bị thua thì lỗi ở ngài đó!

Tuân Lâm Phủ kinh sợ hỏi kế, Hàn Quyết nói:

– Việc đã lỡ ra như vậy, chi bằng ta kéo cả đại binh sang đánh, nếu được thì công về ngài, nếu không được thì cả các tướng cùng phải chịu tội, chẳng hơn là ngài chịu tội một mình hay sao?

Tuân Lâm Phủ khen phải, truyền kéo đại binh qua sông. Tiên Cốc nghe tin, mừng mà nói rằng:

– Ta vẫn biết là nguyên soái phải theo lời nói của ta!

Trịnh Tương-công cho người đi dò thám, biết là quân Tấn cường thịnh lắm, chỉ sợ một mai chiến thắng thì lại trị cái tội theo Sở, mới hợp triều thần lại để thương nghị. Quan đại phu là Hoàng Thủ nói:

– Tôi xin sang sứ bên quân Tấn để khuyên Tấn đánh Sở, Tấn được thì theo Tấn, Sở được thi theo Sở. Bên nào mạnh thế thì ta theo, chứ có lo gì!

Trịnh Tương-công khen phải, rồi sai Hoàng Thủ đi. Hoàng Thủ đến nói với quân Tấn rằng:

– Chúa công tôi mong quý quốc đến cứu, khác nào đại hạn mong mưa. Chỉ vì xã tắc lâm nguy nên mới phải theo Sở trước mặt chứ không phải dám phản bội thượng quốc. Nay Sở chiến thắng mà sinh kiêu, vả lại đi lâu mỏi mệt, nếu thượng quốc đánh quân Sở thì nước Trịnh tôi cũng xin theo.

Tiên Cốc nói:

– Ta đánh được Sở và làm cho Trịnh phải phục, chỉ ở trận này!

Loan Thư nói:

– Người nước Trịnh hay phản phúc lắm, ta chớ nên tin lời!

Triệu Ðồng và Triệu Quát nói:

– Người nước Trịnh xin theo ta để cùng đánh Sở, đó là một cơ hội chớ nên bỏ! Ta nên theo lời Tiên Cốc.

Hai người nói xong, bèn không vâng lệnh Tuân Lâm Phủ, mà lại tự tiện theo Tiên Cốc cùng với Hoàng Thủ định ước đánh Sở, Trịnh Tương-công lại sai sứ đến quân Sở, khuyên Sở Trang-vương giao chiến với Tấn. Quan lệnh doãn nước Sở là Tôn Thúc Ngao lo quân Tấn cường thịnh, nói với Sở Trang-vương rằng:

– Người nước Tấn không có ý quyết chiến, chi bằng ta cho người sang giảng hoà, giảng hoà mà không được, bấy giờ ta sẽ giao chiến thì lỗi tại nước Tấn.

Sở Trang-vương lấy làm phải, liền sai Sái Cưu Cư sang quân Tấn xin giảng hòa. Tuân Lâm Phủ mừng lắm, nói:

– Nếu vậy thì là phúc cả cho hai nước!

Tiên Cốc trỏ vào mặt Thái Cưu Cư mà mắng rằng:

– Nước người đã cướp thuộc quốc của ta, nay lại còn sang giảng hòa! Dẫu nguyên soái ta cho hòa, ta cũng nhất định không chịu, ta quyết đánh cho chẳng còn một mống nào trở về, khiến nước ngươi biết tay Tiên Cốc này. Nhà ngươi nên mau mau về báo với vua Sở, liệu mà trốn trước đi, kẻo nữa khó toàn tính mệnh đó!

Sái Cưu Cư bị Tiên Cốc sỉ mắng một hồi, cúi đầu lui ra. Ði đến cửa dinh, lại gặp anh em Triệu Ðồng và Triệu Quát, Triệu Ðồng và Triệu Quát giơ gươm trỏ vào mặt Sái Cưu Cư mà bảo rằng:

– Nếu mày còn sang đây lần nữa thì ta sẽ cho mày nếm lưỡi gươm này!

Sái Cưu Cư ra khỏi dinh quân Tấn là Triệu Chiên. Triệu Chiên giương cung vào mặt Sái Cưu Cư mà bảo rằng:

– Mày là miếng thịt ở đầu mũi tên của ta, chẳng bao lâu ta sẽ bắt sống mày, hãy cho mày trở về báo trước cho vua Sở mày biết.

Sái Cưu Cư trở về nói với Sở Trang vương. Sở Trang-vương nổi giận, hỏi các tướng xem ai dám sang khiêu chiến với quân Tấn không? Quan đại tướng là Nhạc Bá xin đi. Nhạc Bá ngồi một cái xe tiến sang vòng quân Tấn. Gặp một bọn quân hơn mười người, Nhạc Bá bắn chết một người, rồi quay xe trở về. Quân Tấn chia làm ba toán đuổi theo, toán đi giữa là Bảo Quý, toán đi phía tả là Bàng Ninh, toán đi phía hữu là Bàng Cái. Nhạc Bá hét to lên rằng:

– Ta bắn về phía tả thì trúng ngựa, bắn về phía hữu thì trúng người, nếu bắn không trúng thì ta thua!

Nhạc Bá giương cung bắn luôn mỗi bên một phát, phát bên tả trúng suốt ba bốn con ngựa, xe không đi được nữa, phát bên hữu trúng Bàng Cái, còn quân sĩ thì bị thương rất nhiều. Bởi vậy toán quân phía tả và phía hữu đều không dám theo nữa, chỉ có Bảo Quý chỉ huy toán quân di giữa là cố sức đuổi gần đến nơi, Nhạc Bá chỉ còn có một phát tên, toan giương cung ra bắn Bảo Quý, nhưng lại nghĩ thầm rằng:

– Nếu phát tên này ta bắn không trúng thì tất nhiên bị hại!

Nhạc Bá còn đang nghĩ ngợi thì bỗng có một con hươu to ở đâu chạy qua trước mặt. Nhạc Bá liền bắn chết con hươu ấy rồi sai Nhiếp Thúc xuống xe lấy con hươu, đưa biếu Bảo Quý. Bảo Quý thấy Nhạc Bá bắn chẳng sai phát nào, trong lòng sợ hãi, nhân thấy Nhạc Bá sai người biếu con hươu, mới giả cách than rằng:

– Tướng nước Sở biết giữ lễ như vậy thì ta không dám xâm phạm.

Bảo Quý quay xe trở về. Tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ biết Bảo Quý thả cho Nhạc Bá chạy, nổi giận mà nói rằng:

– Nước Sở có người đến khiêu chiến, mà nước Tấn ta không ai dám sang trận địa quân Sở, tôi e rằng người nước Sở tất cũng cười ta, vậy tôi xin sang để dò xem quân Sở mạnh yếu thế nào.

Triệu Chiên cũng nói với Tuân Lâm Phủ rằng:

– Tôi xin cùng với Ngụy tướng quân cùng đi.

Tuân Lâm Phủ nói:

– Khi trước Sở sang xin giảng hòa với ta rồi mới đánh, nay các người sang quân Sở, cũng phải xin giảng hòa trước để gọi là đáp lễ lại Sở.

Ngụy Kỳ xin vâng mệnh. Triệu Chiên đưa Ngụy Kỳ lên xe trước mà bảo rằng:

– Tướng quân báo lại việc Sái Cưu Cư, còn tôi xin báo lại việc Nhạc Bá.

Quan thượng quân nguyên soái là Sĩ Hội nghe tin Triệu Chiên và Ngụy Kỳ sang trận địa quân Sở, vội vàng vào yết kiến Tuân Lâm Phủ để can ngăn việc ấy, nhưng vào đến nơi thì hai tướng đã đi rồi. Sĩ Hội mới nói riêng với Tuân Lâm Phủ rằng:

– Ngụy Kỳ và Triệu Chiên còn ít tuổi nóng nảy bồng bột, không biết tùy cơ ứng biến, tất làm cho quân Sở phải tức giận. Nếu quân Sở bất thình lình mà đến đánh thì ta làm thế nào?

Bấy giờ quan phó tướng là Khước Khắc cũng đến nói với Tuân Lâm Phủ rằng:

– Tình ý nước Sở khó mà lường được, ta nên phòng bị trước!

Tiên Cốc thét to lên rằng:

– Sắp sửa giao chiến, lại còn phòng bị gì nữa!

Tuân Lâm Phủ không biết đằng nào mà quyết đoán. Sĩ Hội lui ra, nói riêng với Khước Khắc rằng:

– Nguyên soái chẳng khác gì người bù nhìn! Thôi chúng ta phải tự liệu lấy mới được.

Sĩ Hội nói xong, liền bảo Khước Khắc rủ hai quan thượng quân đại phu là Củng Sóc và Hàn Xuyên đem quân bản bộ ra phục ở trước núi Ngao Sơn. Quan Trung quân đại phu là Triệu Anh Tề cũng lo quân Tấn thua, sai người sắp thuyền sẵn ở cửa sông Hoàng Hà đề phòng khi chạy trốn. Ngụy Kỳ vẫn ghét Tuân Lâm Phủ, muốn làm cho Tuân Lâm Phủ mang tiếng, nên trước mặt Tuân Lâm Phủ thì nói đến việc hoà, nhưng khi sang đến quân Sở thì lại nói đến việc đánh. Tướng nước Sở là Phan Ðảng biết chuyện trước kia Sái Cưu Cơ sang sứ nước Tấn, bị tướng nước Tấn sỉ nhục nay thấy Ngụy Kỳ đến, bàn tính sự báo thù, vội vàng bước vào đại binh thì Ngụy Kỳ đã ra khỏi dinh rồi. Phan Ðảng tức khắc giục ngựa đuổi theo, bèn toan quay lại để đối địch, bỗng thấy trông rừng có sáu con hươu lớn, nhân nghĩ đến việc tướng nước Sở biếu hươu khi trước, liền giương cung bắn chết một con, sai người hầu xe đem biếu Phan Ðảng mà nói rằng:

– Khi trước Nhạc tướng quân có cho quân Tấn tôi một con hươu, nay quân Tấn tôi đáp lễ lại.

Phan Ðảng nghĩ thầm rằng:

– Quân Tấn cũng bắt chước lối cũ của ta như vậy, nếu ta đuổi theo thì chẳng hóa ra người nước Sở ta vô lễ lắm ư! Bèn cùng truyền quay xe trở lại. Ngụy Kỳ về đến dinh quân Tấn, nói với Tuân Lâm Phủ rằng:

– Vua nước Sở không cho giảng hòa, định đánh một trận để quyết thắng phụ.

Tuân Lâm Phủ hỏi:

– Triệu Chiên đâu?

Ngụy Kỳ nói:

– Tôi đi trước, hắn đi sau, thành ra tôi không được gặp.

Tuân Lâm Phủ nói:

– Nước Sở đã không cho giảng hòa thì Triệu Chiên tất nhiên bị hại!

Nói xong, sai Tuân Dinh đem quân đi đón Triệu Chiên. Nguyên Triệu Chiên đang đêm đi đến trước cửa dinh quân Sở, giải chiếu xuống đất ngồi, đem rượu ra uống, rồi sai hơn hai mươi người giả cách nói tiếng nước Sở, lén vào trong dinh quân Sở. Quân Sở biết là giả, nắm lại để hỏi. Người ấy rút dao đâm chết một người trong đám quân Sở. Quân Sở náo động cả lên, đốt đuốc đuổi bắt được mấy người. Những người khác trốn thoát chạy ra, trông thấy Triệu Chiên vẫn còn ngồi trên chiếu, thì vội vàng ôm lên xe, rồi tìm người dong xe thì đã mắc trong đám quân Sở, không ra được rồi. Triệu Chiên phải cầm cương ngựa lấy, ngựa đói không thể đi được.

Sở Trang-vương nghe nói có giặc lên đến, liền thân hành đem quân ra đuổi. Quân đuổi gấp lắm, Triệu Chiên vội vàng bỏ xe trốn vào trong rừng. Tướng nước Sở là Khuất Ðăng trông thấy cũng xuống xe đuổi theo, Triệu Chiên cởi áo giáp và xe ngựa đem về nộp Sở Trang-vương. Sở Trang-vương vừa toan quay xe trở về thì thấy Phan Ðảng chạy đến. Phan Ðảng trỏ về phía bắc mà bảo Sở Trang-vương rằng:

– Trông cắt bụi bay lên thế kia thì đại nước Tấn sắp sửa kéo đến!

Sỡ dĩ có đám cát bụi ấy là bởi có toán quân của Tuân Dinh phụng mệnh Tuân Lâm Phủ đi đón Triệu Chiên, Phan Ðảng trông không rõ, tưởng là đại binh quân Tấn, làm cho Sở Trang-vương sợ hãi, mặt xám xanh lại, may gặp có toán quân của quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao kéo đến, Sở Trang-vương mới được yên lòng. Sở Trang-vương hỏi Tôn Thúc Ngao rằng:

– Sao lệnh doãn biết có đại binh nước Tấn sắp tới mà đem quân ra cứu ta?

Tôn Thúc Ngao nói:

– Tôi không biết có đại binh nước Tấn, nhưng tôi sợ đại vương khinh thường xông vào quân giặc, nên tôi phải đem quân tiếp ứng, còn đại binh ta cũng sắp tới đây bây giờ.

Sở Trang-vương ngảnh về phía bắc, trông lại một lượt, thấy đám cát bụi cũng không thấy gì làm cao, mới bảo Tôn Thúc Ngao rằng:

– Không phải đại binh nước Tấn.

Tôn Thúc Ngao nói:

– Nay các tướng đều đã đến cả, xin đại vương cứ truyền lệnh tiến đánh, nếu ta đánh được một toán thì các toán khác đều phải vỡ tan.

Sở Trang-vương liền truyền lệnh tiến binh. Tuân Lâm Phủ cũng đem quân ra đối địch, nhưng quân Sở nhiều quá, quân Tấn không thể nào địch nổi, tức khắc bỏ chạy tán loạn. Tuân Dinh đi đón Triệu Chiên, không thấy đâu cả, lại gặp tường nước Sở là Hùng Phụ Cơ, hai bên giao chiến một lúc, nhưng Tuân Dinh thấy quân Sở đông quá, cũng phải bỏ chạy, bị Hùng Phụ Cơ bắt sống. Tướng nước Tấn là Bàng Bá đem hai con là Bàng Ninh và Bàng Cái cùng ngồi một cái xe nhỏ để chạy trốn, đi chận không, da bàn chân trầy ra hết. Triệu Chiên trông thấy, kêu to lên rằng:

– Ai đi xe thế kia, cứu tôi với!

Bàng Bá nghe tiếng Triệu Chiên, bảo hai con chớ ngảnh cổ lại. Hai con không hiểu ý cha, tức thì ngảnh cổ nom lại phía sau xem ai. Triệu Chiên trông thấy liền gọi:

– Bàng Bá cho ta lên xe với!

Hai con nói với Bàng Bá. Bàng Bá tức giận lắm, nói:

– Ðã như vậy thì hai đứa mày nhường chỗ cho người ta! Bàng Bá tức thì đuổi hai con xuống mà cho Triệu Chiên lên xe. Bàng Ninh và Bàng Cái mất xe thành ra chết ở trong đám loạn quân. Tuân Lâm Phủ và Hàn Quyết cùng một bọn tàn quân chạy men bờ sông Hoàng Hà, ngảnh lại trông thấy Tiên Cốc bị thương ở ttrán, máu chảy đầm đià, đang xé áo chiến bào ra để buộc. Tuân Lâm Phủ trỏ vào mặt Tiên Cốc mà bảo rằng:

– Tướng quân hăng hái lắm mà sao cũng như thế!

Ði đến cửa sông Hoàng Hà, gặp Triệu Quát cũng đến, Quát nói với Tuân Lâm Phủ rằng:

– Anh tôi là Triệu Anh Tề, khi trước có sắp sẵn thuyền bè, nay đã qua sông rồi, mà chẳng bảo cho chúng ta biết, như vậy thì còn ra nghĩa lý gì nữa!

Tuân Lâm Phủ nói:

– Những lúc nguy cấp này còn bảo nhau sao kịp!

Triệu Quát vẫn hầm hầm tức giận, từ bấy giờ cùng với Triệu Anh Tề thành ra hiềm khích.

Tuân Lâm Phủ nói:

– Quân ta không thể đánh nhau với Sở được nữa, bây giờ nên mau mau nghĩ kế để qua sông.

Tuân Lâm Phủ liền sai Tiên Cốc đi tìm thuyền, nhưng chỉ tìm được có mấy chiếc. Tuân Lâm Phủ chưa kịp qua sông thì lại thấy có vô số quân ùn ùn chạy đến. Tuân Lâm Phủ nhìn xem quân nào thì tức là toán quân của Triệu Sóc và Loan Như bị tướng nước Sở là công tử Trách đánh đuổi, cùng chạy đến đây. Tuân Lâm Phủ ngảnh về phía nam, trông thấy cát bụi bay lên ngỡ là quân Sở đuổi tới, mới sai đánh trống và hạ lệnh rằng:

– Ai sang trước thì sẽ có thưởng!

Quân sĩ tránh cướp thuyền chở, thành ra giết hại lẫn nhau. Dưới thuyền người đã đầy rồi, mà còn nhiều người chen nhau bước xuống đến nỗi đắm mất ba mươi chiếc thuyền. Tiên Cốc đứng ở trong thuyền lại thét to lên rằng:

– Ðứa nào bíu vào mái chèo và mạn thuyền thì cứ lấy dao mà chặt tay đi!

Các thuyền đều theo lệnh lấy dao ra chặt, ngón tay rơi vào trong thuyền, khác nào hoa rụng, phải bốc từng bốc mà ném xuống sông.Trên bờ người khóc như ri, nghe rất thê thảm! Mặt sau lại có bọn Tuân Thủ, Triệu Ðồng, Ngụy Kỳ, Bàng Bá và Bảo Quý lục tục kéo đến. Tuân Thủ đã xuống thuyền rồi, không trông thấy con là Tuân Dinh, sai người đứng ở trên bờ gọi rầm lên. Có người biết là Tuân Dinh bị bắt, nói với Tuân Thủ. Tuân Thủ nói:

– Con ta đã bị bắt thì ta không chịu về không!

Nói xong tức thì lên bờ để lại xông vào đám quân Sở. Tuân Lâm Phủ can rằng:

– Tuân Dinh đã bị bắt thì tướng quân đi cũng vô ích.

Tuân Thủ nói:

– Nếu tôi bắt được tướng nước Sở thì cũng có thể đòi lại được con tôi.

Ngụy Kỳ vốn chơi thân với Tuân Dinh, bởi vậy cũng xin theo đi. Tuân Thủ mừng lắm, đem mấy trăm quân trở lại. Quân sĩ nhiều người vẫn kính phục Tuân Thủ, cho nên đều vui lòng theo cả, có người đã xuống thuyền rồi, nghe nói Tuân Thủ định trở lại để tìm Tuân Dinh, cũng đều lên bờ xin theo. Tuân Thủ là người bắn giỏi lắm, bấy giờ xông vào quân Sở, trông thấy tướng nước Sở là Tương Lão đang đi thu thấp những xe ngựa và khí giới của quân Tấn bỏ lại, có ngờ đâu quân Tấn thình lình kéo đến, không kịp đề phòng, bị Tuân Thủ bắn cho một phát, ngã lăn xuống đất. Công tử Cốc Thần trông thấy Tương Lão bị mũi tên, vội vàng đến cứu.

Ngụy Kỳ xông vào, giao chiến với công tử Cốc Thần. Tuân Thủ lại bắn luôn phát nữa, trúng ngay vào cánh tay phải của công tử Cốc Thần. Công tử Cốc Thần đau quá, đứng lại để nhổ mũi tên, bị ngụy Kỳ bắt sống và lấy thêm cả cái xác của Tương Lão mang về. Tuân Thủ nói:

– Ðem công tử Cốc Thần và xác Tương Lão này cũng đủ chuộc lại được con ta, ta nên trở về.

Nói xong, liền giục ngựa về ngay. Khi quân Sở biết mà đuổi theo thì đã khôn gkịp.Công tử Anh Tề đem quân đuổi đánh Sĩ Hội. Sĩ Hội vừa đánh vừa chạy, may nhờ có quân của Cung Spốc tiếp ứng, mới chạy thoát được. Công tử Anh Tề có sức đuổi theo, lại gặp tướng nước Tấn là Khước Khắc đem quân đến. Công tử Anh Tề thấy vậy, phải thu quân trở về. Tuân Thủ về đến cửa sông Hoàng Hà, thấy toán quân của Tuân Lâm Phủ chưa qua sông thết, có ý kinh sợ, may nhờ có toán quân của Triệu Anh Tề đã qua sông rồi, cho người đem thuyền sang đón, quân Tấn mới qua được sông Hoàng Hà.

Ðại Bình quân Sở đã kéo đến Bí Thành, Ngũ Sâm nói với Sở Trang-vương xin mau mau đuổi theo để đánh quân Tấn. Trang vương nói:

– Nước Sở ta từ khi thua Tấn ở đất Thành Bộc, vẫn lấy làm xấu hổ, nay được một trận này đủa rửa cái thẹn năm xưa, nhưng hai bên rồi cũng nên giảng hòa với nhau, ta còn giết hại làm gì nữa.

Sở Trang-vương truyền đóng quân lại. Trịnh Tương-công biết là quân Sở thắng trận, thân hành đến Bí Thành để khao thưởng quân sĩ, đón Sở Trang-vương về đất Hành Ưng, rước vào ở trong vương cung, mở tiệc chúc mừng. Phan Ðảng nói với Sở Trang-vương xin chất xác quân Tấn để đắp một cái đài gọi là “Kinh quán” kỷ niệm võ công của người nước Sở. Sở Trang-vương nói:

– Ta chỉ nhờ may mà đánh được quân Tấn, sao đáng gọi là vũ công!

Sở Trang-vương nói xong, truyền cho quân sĩ nhặt chôn những xác người chết, lại làm văn tế thần sông Hoàng Hà, rồi thu quân về. Khi về đến nước Sở, ban thưởng công thần, cho ngũ Sâm làm quan đại phu. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao thở dài mà than rằng:

– Tuân Lâm Phủ là một bậc đại thần. Việc đánh Sở này bởi tại Tiên Cốc trái lệnh, đến nỗi thua quân, nay chúa công giết một Tiên Cốc, cũng đủ làm gương cho kể khác. Ngày xưa nước Sở giết Thành Ðắc Thần mà Tấn Văn công mừng; nước Tấn tha Mạnh Minh mà Tấn Tương-công sợ, xin chúa công tha tội cho Tuân Lâm Phủ, khiến được lập công về sau.

Tấn Cảnh-công theo lời, liền chém Tiên Cốc, phục chức cho Tuân Lâm Phủ, và sai luyện tập quân mã, đợi ngày khác đi đánh báo thù.

Quan lệnh doãn nước Sở là Tôn Thúc Ngao ốm nặng, dặn con là Tôn An rằng:

– Ta có một tờ di biểu, khi ta chết rồi, mày nên đem dâng đại vương. Ðại vương có cho mày làm quan thì mày chớ nhận. Tài mày nhỏ mọn, không nên dự vào đám quan trường. Nếu đại vương có phong ấp cho mày, mày phải từ chối, từ chối mà không được thì nên xin đất Tẩm Khâu. Tẩm Khâu là một chỗ đất xấu, chẳng ai thèm tranh dành, hoạ may con cháu về sau mới được hưởng cái lộc ấy.

Nói xong thì chết, Tôn An đem tờ di biểu vào dâng Sở Trang vương. Trang vương mở ra đọc, tờ di biểu như sau:

– “Tôi vốn là kẻ khốn cùng đội ơn đại vương cất nhắc cho làm lệnh doãn, trong mấy năm nay không có công trạng gì đáng kể phụ lòng đại vương ủy thác, cũng lấy àm hổ thẹn. Nay nhờ uy linh của đại vương được mệnh chung trong nhà, thật là may cho tôi! Tôi chỉ có một đứa con ngu dốt, không thể cho làm quan được, còn cháu tôi là Viễn Bằng thì cũng có tài năng, có thể dùng được. Nước Tấn làm bá chủ đã mấy đời, mới rồi dẫu bị thua, nhưng chúa công chớ nên xem thường. Dân nước Sở ta khổ về việc chiến tranh đã lâu, chúa công nên nghĩ lại mà khiến cho dân được yên nghỉ. Người ta đến lúc sắp chết, câu hỏi thường hay hợp lẽ phải. Xin chúa công xét cho”.

Sở Trang-vương đọc xong, than rằng:

– Tôn Thúc Ngao gần chết mà vẫn không quên việc nước. Trời làm cho Tôn Thúc Ngao chết, cũng là một sự không may cho ta.

Trang vương nói xong thân hành đến nhà Tôn Thúc Ngao ôm lấy áo quan mà khóc. Các quan đi theo hầu, cũng đều khóc cả. Ngày hôm sau, Trang vương cho công tử Anh Tề làm quan lệnh doãn, và cho Viễn Bằng làm quan châm doãn. Trang vương lại muốn cho Tôn An làm quan công chính, nhưng Tôn An theo lời cha dặn, nhất định xin từ chối, trở về xin làm ruộng. Trang vương có yêu một người kép hát là Mạnh Thù Nho, vẫn gọi là Ưu Mạnh. Ưu Mạnh là người lùn, không đầy năm thước, nguyên là một người kép hát, rất giỏi lại có tài khôi hài, được Trang vương yêu lắm. Một hôm, Ưu Mạnh ra chơi ngoài đồng, gặp Tôn An đi kiếm củi, quẩy một gánh củi trở về. Ưu Mạnh đón mà hỏi rằng:

– Sao công tử chịu khó nhọc mà gánh củi như vậy?

Tôn An nói:

– Cha tôi làm tướng quốc trong mấy năm trời, không lấy một đồng tiền nào của ai, đến lúc chết chẳng còn lý gì, bởi vậy tôi phải gánh củi.

Ưu Mạnh than rằng:

– Công tử cứ vững lòng, rồi đây thế nào đại vương cũng triệu công tử!

Ưu Mạnh về nhà chế ra một bộ mũ áo giống như của Tôn Thúc Ngao ngày trước, lại bắt chước dáng điệu ăn nói của Tôn Thúc Ngao luyện tập trong ba ngày, cái gì cũng giống, thật là Tôn Thúc Ngao sống lại! Gặp bấy giờ Sở Trang-vương ngự yến ở trong cung, triệu Ưu Mạnh vào làm trò. Ưu Mạnh sai một người khác ra trò trước, đóng vai Sở Trang vương, làm ra bộ tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao, còn mình thì đóng vai Tôn Thúc Ngao. Sở Trang-vương (vai trò) trông thấy, giật mình kinh sợ mà nói rằng:

– Ô hay! Tôn Thúc Ngao hãy còn sống à? Ta tưởng nhớ nhà ngươi lắm, nhà ngươi nên ở lại mà giúp ta!

Ưu Mạnh nói:

– Tôi đây chỉ giống Tôn Thúc Ngao mà thôi, có phải là Tôn Thúc Ngao thật đâu!

Sở Trang-vương (vai trò) nói:

– Ta tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao mà không được trông thấy, nay thấy nhà ngươi giống Tôn Thúc Ngao, cũng khiến cho ta được đỡ nhớ. Ta cho nhà ngươi cứ làm tướng quốc, nhà ngươi chớ từ.

Ưu Mạnh nói:

– Đại vương tin dùng tôi như vậy, rất hợp với sở nguyện của tôi, nhưng tôi có lão thê ở nhà, rất là từng trải tinh đời để tôi xin về bàn với lão thê tôi, rồi mới dám vâng lệnh.

Ưu Mạnh trở vào buồng trà, một lúc lại bước lên sàn hát mà tâu với Sở Trang-vương (vai trò) rằng:

– Vừa rồi tôi có bàn với lão thê tôi, thì lão thê tôi khuyên tôi chớ nhận.

Sở Trang-vương (vai trò) hỏi:

– Sao vậy?

Ưu Mạnh nói:

– Lão thê tôi có đặt một bài hát để khuyên tôi, vậy tôi xin hát.

Nói xong liền hát:

Quan tham không nên làm, thế mà nên làm!

Quan liêm nên làm, thế mà không nên làm!

Quan tham không nên làm, đã tham thì tất đê hạ, mà nên làm vì con cháu được lên xe xuống ngựa!

Quan liêm nên làm, đã liêm thì tất cao khiết, mà không nên làm vì con cháu phải ăn đói mặc rách!

Chàng chẳng thấy:

Quan lệnh doãn nước Sở ta là Tôn Thúc Ngao, lúc sống làm quan không lấy của ai một đồng nào.

Chẳng may thất lộc (người làm quan chết đi, người ta gọi là thất lộc, nghĩa là mất lộc, lương bổng ) đi rồi, con cháu nghèo hèn đói khát, chỉ có cái túp chui ra chui vào…

Chàng, chàng ôi, chàng chớ học đòi Tôn Thúc Ngao!

Quân vương nào có nhớ công lao!

Trang vương trông thấy Ưu Mạnh lời ăn tiếng nói, giống hệt như Tôn Thúc Ngao thuở xưa, đã động lòng thương xót, sau nghe đến bài hát của Ư Mạnh, bỗng ứa nước mắt mà nói rằng:

– Khi nào ta dám quên công Tôn Thúc Ngao!

Trang vương liền sai Ưu Mạnh đi triệu Tôn An. Tôn An mặc áo rách, đi giày cỏ, vào yết kiến Trang vương. Trang vương hỏi:

– Nhà ngươi đến nỗi cùng khốn như thế ư?

Ưu Mạnh đứng bên cạnh, đỡ lời mà tâu rằng:

– Nếu không cùng khốn thì đã không tỏ được cái nhân đức của quan lệnh doãn ngày trước!

Trang vương nói:

– Tôn An khi trước đã từ chối không muôn làm quan, nay ta nên phong cho một cái ấp lớn.

Tôn An đã cố ý xin từ chối. Trang vương nói:

– Ta đã quyết định như thế, nhà ngươi chớ nên từ chối.

Tôn An nói:

– Nếu đại vương nghĩ đến chút công lao của tôi, mà muôn cho tôi được ấm no thì xin phong cho tôi ở đất Tẩm Khâu là đủ.

Trang vương nói:

– Khi cha tôi gần mất có dặn tôi như vậy, nếu không phong cho đất Tẩm Khâu thì tôi không dám nhận.

Trang vương theo lời. Về sau, người ta thấy rằng Tẩm Khâu là một nơi đất xấu, không ai muốn tranh đoạt. Con cháu Tôn Thúc Ngao cứ nối đời được hưởng lộc ấy.

Tuân Lâm Phủ nước Tấn nghe tin Tôn Thúc Ngao chết, biết là quân Sở chưa có thể đi cứu Trịnh được, mới tâu với vua Tấn xin đem quân đi đánh Trịnh, nhưng chỉ cướp phá biên giới nước Trịnh, rồi thu quân trở về. Các tướng nói với Tuân Lâm Phủ xin vây kín thành nước Trịnh. Tuân Lâm Phủ nói:

– Ta vây kín thành nước Trịnh, cũng chưa chắc đã lấy nổi, vạn nhất nước Sở đem quân đến cứu thì lại thành ra thêm việc, chi bằng ta hãy để cho người nước Trịnh phải sợ ta.

Trịnh Tương-công thấy vậy, quả nhiên sợ lắm, sai sứ sang bàn mưu với nước Sở và đưa người em là công tử Chương sang nước Sở, đổi lấy công tử Khứ Tật về về nước Trịnh để cùng cầm quyền chính trong nước. Sở Trang-vương nói:

– Nếu nước Trịnh biết thủ tín, thì chẳng cần gì phải giữ người làm tin.

Sở Trang-vương nói xong, liền cho cả hai người đều về, rồi hợp các quan triều thần lại để thương nghị.

-----------------------------------------------

Hồi thứ 55.
Dắt dao lẻn vào dinh quân Sở
Kết cỏ bắt được tướng nước Tần

Sở Trang-vương họp triều thần lại để thương nghị việc cùng chống quân Tấn. Công tử Trác nói với Sở Trang-vương rằng:

– Nước Tống xưa nay vẫn một lòng theo Tấn, nay ta đem quân đi đánh Tống thì Tấn tất phải sang cứu, khi nào còn dám tranh nước Trịnh của ta.

Sở Trang-vương nói:

– Nhà ngươi bàn dẫu phải, nhưng ta chưa có cớ gì mà đánh Tống được. Tiên quân ta ngày xưa đánh Tống một trận ở sông Hoằng Thủy, vua Tống bị thương chết, thế mà nước Tống cũng chịu nhịn ta; đến khi ta hội chư hầu ở đất Quyết Lạc, vua Tống lại hết sức cung phụng nước ta. Sau đó Tống Chiêu-công bị giết, công tử bão lên nối ngôi, nay đã mười tám năm rồi, ta muốn đánh Tống mà chưa tìm được cớ gì cả.

Công tử Anh Tề nói:

– Khó gì điều ấy! Vua Tề đã mấy lần Triều sính nước ta, mà ta chưa đáp lại nay ta mượn đường nước Tống để sang sứ nước Tề, nếu Tống không cho hay là vô lễ với sứ nước ta thì sẽ gây sự mà đem quân sang đánh.

Sở Trang-vương nói:

– Bây giờ sai ai đi sứ?

Công tử Anh Tề nói:

– Thân Vô Úy khi trước đã có theo tiên quân ta sang hội ở đất Quyết Lạc. Người ấy nên sai đi.

Sở Trang-vương liền sai Thân Vô Úy đi sứ nước nước Tề. Thân Vô Úy tâu với Sở Trang-vương rằng:

– Sang sứ nước Tề, tất phải đi qua nước Tống, xin đại vương cấp cho một đạo văn thư để mượn đường.

Trang vương nói:

– Khi trước tiên quân ta hội chư hầu ở Quyết Lạc, rồi cùng với các vua chư hầu đi săn ở Mạnh Chư, vua Tống trái lệnh, tôi bắt người thị vệ mà giết đi, bởi vậy nước Tống oán giận tôi lắm. Nay tôi qua nước Tống, nếu đại vương không cấp cho một đội văn thư mượn đường thì nước Tống tất giết tôi.

Trang vương nói:

– Trong đạo văn thư gửi sang Tề, ta để tên là Thân Chu, mà không dùng tên cũ Thân Vô Úy của nhà ngươi nữa!

Thân Vô Úy vẫn chưa chịu đi, nói rằng:

– Tên đổi được, nhưng mặt không thể đổi được.

Trang vương nổi giận nói:

– Nếu nước Tống giết nhà ngươi thì ta quyết vì nhà ngươi báo thù mà đem quân diệt nước Tống.

Thân Vô Úy không dám từ chối nữa. Ngày hôm sau đưa người con là Thân Tề vào yết kiến Trang vương mà kêu rằng:

– Tôi chết vì việc nước, xin đại vương trông nom cho con tôi.

Trang vương nói:

– Đó là việc của ta, nhà ngươi chớ lo ngại?

Thân Vô Úy từ giã rồi đi. Người con là Thân Tề tiễn ra đến ngoài cõi. Thân Vô Úy dặn rằng:

– Cha đi chuyến này, tất chết ở nước Tống, con nên tâu với đại vương báo thù cho cha, con chớ quên lời cha dặn.

Hai cha con cùng ứa nước mắt mà từ giã với nhau. Vô Úy đi đến địa giới nước Tống. Quan trấn thủ nước Tống biết là sứ nước Sở, đòi xem văn thư, Vô Úy nói:

– Ta phụng mệnh vua Sở, chỉ có đạo văn thư sang sứ nước Tề, chứ không có đạo văn thư mượn đường nước Tống.

Quan trấn thủ giam giữ sứ giả là Thân Chu, rồi sai người phi báo với Tống Văn-công. Bấy giờ Hoa Nguyên đang cầm quyền chính với nước Tống liền tâu với Tống Văn-công rằng:

– Nước Sở là một nước cừu địch với ta, nay sai sứ sang nước ta, mà không có văn thư mượn đường, thế là khinh ta quá lắm, xin chúa công bắt sứ nước Sở mà giết đi.

Tống Văn-công nói:

– Ta giết sứ nước Sở thì tất nước Sở đem quân sang đánh, biết làm thế nào?

Hoa Nguyên nói:

– Chẳng thà bị quân Sở đem quân sang đánh, còn hơn là để cho nước Sở khinh ta, nước Sở đã khinh ta thì rồi thế nào cũng đem quân sang đánh. Đằng nào ta cũng bị quân Sở đánh, chi bằng ta hãy giết sứ nước Sở đi, để cho khỏi hổ thẹn.

Hoa Nguyên bèn sai người áp giải sứ giả là Thân Chu về trong triều. Hoa Nguyên trông thấy Thân Chu thì nhận được ngay là Thân Vô Úy, lại càng tức giận mà mắng rằng:

– Ngày trước nhà ngươi dám giết thị vệ của tiên quân ta, nay lại đổi tên là Thân Chu toan tránh khỏi tội chết hay sao?

Thân Vô Úy biết mình thế nào cũng chết, mới quát to lên mà mắng rằng:

– Thằng Bão (tên Tống Văn-công) kia, mày thông gian với tổ mẫu lại giết chết đích điệt, may mà thoát nạn, lại còn dám vô lễ với sứ thần nước lớn. Quân Sở ta kéo sang đây thì vua tôi mày tan xác ra như cám!

Hoa Nguyên sai cắt lưỡi Thân Chu trước, rồi sau mới chém, lại đốt văn thư của nước Sở, đem tro ném ra ngoài cõi.Người theo hầu Thân Chu về báo với Sở Trang vương, Sở Trang-vương đang ăn cơm, nghe tin Thân Chu bị giết, thì ném đũa xuống chiếu, rồi đứng ngay dậy, sai quân tư mã là công tử Trắc sửa soạn binh mã để thân hành sang đánh Tống, lại cho Thân Tề (con Thân Chu) làm chức quân chính để theo đi đánh. Quân nước Sở vây kín thành Thư Dương (kinh thành nước Tống), làm ra những cái thang cao bằng mặt thành, bốn mặt đánh vào.

Hoa Nguyên cố sức chống giữ, lại sai quân đại phu là Nhạc Anh Tề lẻn sang cáo cấp với nước Tấn. Tấn Cảnh-công toan đem quân đi cứu. Mưu thần là Bá Tôn can rằng:

– Tuân Lâm Phủ đem đại quân đi đánh quân Sở mà bị thua ở đất Bí Thành, ấy là lòng trời giúp cho nước Sở đó! Nay ta đi cứu Tống, vị tất đã nên việc.

Cảnh công nói:

– Hiện bây giờ chỉ có nước Tống là thân với ta, nếu ta không cứu thì bỏ mất nước Tống!

Tấn Cảnh-công khen phải, hỏi các quan trong triều xem có ai dám sang sứ nước Tống. Quan đại phu là Giải Dương xin đi. Tấn Cảnh-công nói:

– Việc này trừ phi Tử Hồ (tên tự của Giải Dương) thì không còn ai đương nổi!

Giải Dương mặc quần áo thường dân đi sang nước Tống, bị quân Sở bắt được, đem nộp Sở Trang vương. Sở Trang-vương nhận biết là tướng nước Tấn, tên gọi Giải Dương, mới hỏi Giải Dương rằng:

– Nhà ngươi đến đây có việc gì?

Giải Dương nói:

– Tôi phụng mệnh chúa công tôi đến dụ nước Tống cứ cố sức chống giữ để đợi quân cứu viện.

Sở Trang-vương nói:

– Ngày trước nhà ngươi đã bị tướng nước ta là Vĩ Giả bắt được, ta đã không nỡ giết mà tha cho về, nay nhà ngươi lại chui đầu vào lưới thế là nghĩa lý gì, nhà ngươi thử nói ta nghe!

Giải Dương nói:

– Tấn và Sở là cừu địch, thì tôi bị giết là phải lắm, còn nói gì!

Trang vương khám trong mình Giải Dương, bắt được đạo văn thư, liền mở ra xem, xem xong bảo rằng:

– Kinh thành nước Tống, chẳng qua chỉ nay mai thì ta sẽ phá vỡ mà thôi, bây giờ nhà ngươi phải nói trái lại những lời đã viết trong văn thư mà bảo nước Tống rằng: “Nước Tấn ta ngày nay có nhiều việc cần kíp, không thể nào sang cứu nước Tống được, sợ để cho nước Tống phải mong đợi mãi thì lỡ công việc, vậy chúa công tôi có sai tôi đến nói cho nước ngươi biết!”. Như thế thì người nước Tống không còn mong đợi gì nữa, tất phải ra hàng, nhân dân hai nước sẽ tránh khỏi được vạ chiến tranh khổ sở. Khi việc đã thành rồi, ta sẽ trọng thưởng nhà ngươi và cho làm quan ở nước Sở ta”.

Giải Dương cúi đầu nín lặng, không nói gì cả. Sở Trang-vương nói:

– Nếu nhà ngươi không nghe lời thì ta sẽ chém đầu.

Giải Dương vốn không muốn nghe lời, nhưng sợ mình chết ở trong đám quân Sở thì không có ai đem lời vua Tấn mà truyền báo cho nước Tống biết, mới giả cách xin vâng mệnh. Sở Trang-vương để Giải Dương đứng ở trên xe, bắt phải ra truyền báo cho người nước Tống. Giải Dương liền gọi người nước Tống mà bảo rằng:

– Ta là sứ nước Tấn, tên gọi Giải Dương, bị quân Sở bắt được, bảo ta dụ nước ngươi ra hàng, nhưng nước ngươi chớ nghe, chúa công ta sắp sửa đem đại binh đến cứu đó!

Sở Trang-vương nghe tiếng, liền sai lôi xuống mà mắng rằng:

– Nhà ngươi đã nhận với ta mà lại bội ước thế là ngươi thất tín, chớ trách ta tàn ác.

Sở Trang-vương truyền cho vũ sĩ đem Giải Dương ra chém. Giải Dương chẳng sợ hãi chút nào cả, thong dong mà đáp rằng:

– Sao đại vương lại bảo là tôi thất tín! Nếu tôi theo lời đại vương thì lại thất tín với nước Tống tôi lắm. Giả sử nước Sở có người bề tôi nào ăn lễ của nước khác mà trái lời đại vương thì đại vương cho là người biết thủ tín hay sao? Tôi xin chịu chết để tỏ ra rằng chữ tín của nước Sở là ở bên ngoài chứ không ở bên trong!

Sở Trang-vương khen rằng:

– Nhà ngươi là một trung thần không sợ chết!

Nói xong, liền tha cho về. Hoa Nguyên nghe thấy Giải Dương nói là quân Tấn sắp sửa sang cứu, lại càng cố sức chống cự với quân Sở. Công tử Trắc (tướng nước Sở) sai quân sĩ làm một cái chòi cao ở phía ngoài thành nước Tống mà ở phía ngoài thành nước Tống mà ở, để dứng trên nhìn vào trong thành, xem tình hình nước Tống. Hoa Nguyên cũng làm một cái chòi ở phía trong thành để nhìn ra. Hai bên giữ nhau từ tháng chín năm trước đến tháng năm năm sau, trong thành nước Tống, lương thực hết sạch cả, nhiều người bị chết đói. Hoa Nguyên đem những lời trung nghĩa khuyên bảo kẻ dưới, người nước Tống đều cảm động mà khóc, đổi con cho nhau mà ăn, lượm lặt xương người chết mà nấu.

Sở Trang-vương không biết làm thế nào. Quân sĩ lại tâu rằng:

– Lương thực trong dinh, chỉ còn bảy ngày nữa thì hết.

Sở Trang-vương nói:

– Ta không ngờ nước Tống mà đánh khó như thế.

Nói xong, liền đứng lên trên xe để xét xem tình hình quân sĩ nước Tống, thì thấy quân sĩ giữ thành rất nghiêm chỉnh. Sở Trang-vương bèn thở dài, rồi triệu công tử Trắc để bàn việc rút quân về. Thân Tề (con Thân Vô Úy) sụp lạy trước xe Sở Trang-vương, khóc mà nói rằng:

– Cha tôi liều chết để phụng mệnh đại vương, nay đại vương lại thất tín với cha tôi hay sao!

Sở Trang-vương có ý hổ thẹn. Thân Thúc Thời bấy giờ đang cầm cương trên xe Sở Trang-vương, mới hiến kế rằng:

– Nước Tống không chịu hàng là vì biết chừng quân ta không ở lâu được, nếu ta truyền cho quân sĩ làm nhà ở, và cầy ruộng để lấy thóc ăn, tỏ cho nước Tống biết là quân ta còn ở đây lâu thế thì nước Tống tất sợ mà phải đầu hàng.

Sở Trang-vương khen phải, truyền cho quân sĩ đi đốn gỗ làm nhà ở xung quanh thành. Trong mười người thì để năm người vây thành, còn năm người cày ruộng, cứ mười ngày lại thay đổi nhau một lần. Hoa Nguyên nghe thấy tin ấy, nói với Tống Văn-công rằng:

– Quân Sở không có ý rút về mà quân Tấn cũng không thấy đến cứu, biết làm thế nào, âu là tôi xin lẻn vào dinh quân Sở để hiếp công tử Trắc, bắt phải cho giảng hoà thì họa chăng mới được việc.

Tống Văn-công nói:

– Nước ta còn hay mất, quan hệ ở việc này lắm, tướng quốc phải cẩn thận mới được!

Hoa Nguyên dò biết là công tử Trắc vẫn ngủ ở trên chòi cao, lại dò biết hết cả họ tên những người thị vệ của Sở Trang-vương. Đêm hôm ấy Hoa Nguyên thay hình đổi dạng làm người thị vệ, dòng dây xuống thành, lẻn đến dinh quân Sở. Gặp quân Sở đang đi tuần, Hoa Nguyên hỏi rằng:

– Quan nguyên soái có ở trên chòi không?

Quân Sở nói:

– Có!

Hoa Nguyên lại hỏi:

– Ngài đã ngủ chưa?

Quân Sở nói:

– Mấy ngày hôm nay, ngài khó nhọc quá, hôm nay đại vương ban cho một thẩu rượu, ngài uống xong đã đi nghỉ rồi!

Hoa Nguyên vội trèo thẳng lên trên chòi. Quân Sở ngăn lại. Hoa Nguyên nói:

– Hôm nay đại vương có việc cơ mật, cần phải dặn bảo quan nguyên soái, mới rồi lại có cho quan nguyên soái uống rượu, đại vương sợ quan nguyên soái uống rượu mà ngủ quên đi mất, nên phải sai tôi đến đây để dặn lại cho thật cặn kẽ rồi về nói ngay cho đại vương biết.

Quân Sở tưởng thực, để cho Hoa Nguyên trèo lên. Trên chòi đèn thấp còn sáng, công tử Trắc cởi áo, nằm ngủ đã say, Hoa Nguyên trèo ngay lên giường nắm se sẽ lấy tay lay công tử Trắc. Công tử Trắc tỉnh dậy, bị Hoa Nguyên nắm lấy hai cánh tay. Công tử Trắc vội vàng hỏi:

– Ai thế này?

Hoa Nguyên nói sẽ mà đáp rằng:

– Nguyên soái chớ sợ! Tôi là Hoa Nguyên nước Tống đây! Tôi phụng mệnh chúa công tôi sang đây để xin giảng hòa. Nếu quan nguyên soái nghe lời thì hai nước cùng nhau đời đời giao hiếu, nhươc bằng quan nguyên soái không nghe thì tôi và nguyên soái cùng chết đêm nay.

Hoa Nguyên tay trái giữ lấy công tử Trắc, tay phải rút một con dao nhọn ở trong mình ra. Trông dưới bóng đèn, thấy lưỡi dao sáng quắc, công tử Trắc vội vàng đáp rằng:

– Có việc thì thương lượng với nhau, cần gì mà phải thô lỗ.

Hoa nguyên rụt lưỡi dao lại mà xin lỗi rằng:

– Nguyên soái chớ lấy làm lạ! Vì sự thể gấp quá, cho nên tôi phải làm như vậy.

Công tử Trắc nói:

– Tình hình nước Tống bây giờ thế nào?

Hoa Nguyên nói:

– Chẳng nói giấu gì nguyên soái, nước tôi đổi con cho nhau mà ăn, nhặt xương người mà nấu, cùng khốn lắm rồi!

– Tình hình nước Tống đã đến nỗi cùng khốn quá như vậy kia à? Sao nhà ngươi lại chịu đem thực tình mà báo cho ta biết?

Hoa Nguyên nói:

– Người quân tử thấy người ta cùng khốn thì có lòng thương, tôi chắc quan nguyên soái là người quân tử, vậy nên tôi không dám giấu.

Công tử Trắc nói:

– Thế thì vì cớ gì mà nước Tống còn không chịu đầu hàng?

Hoa Nguyên nói:

– Tình hình nước tôi dẫn cùng khốn, nhưng chí khí dân nước tôi vẫn chưa sờn, cho nên vua và dân nước tôi cố sức chống giữ, thà rằng cùng chết với nhau, còn hơn cái nhục đầu hàng ở dưới chân thành. Nếu quan nguyên soái có lòng thương dân mà rút quân ra ngoài ba mươi dặm, thì chúa công tôi cũng xin một lòng thần phục quý quốc, không bao giờ dám trái lời.

Công tử Trắc nói:

– Ta cũng chẳng dấu gì nhà ngươi, quân Sở ta cũng chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày mà nước người không đầu hàng thì quân Sở cũng phải rút về thôi. Mới rồi, ta sai quân sĩ làm nhà ở và cày ruộng, là lập kế khiến cho nước ngươi sợ đó mà thôi. Sáng mai ta tâu với vua Sở lui quân ba mươi dặm, vua tôi nhà ngươi chớ có thất tín.

Hoa Nguyên nói:

– Tôi xin cùng với Nguyên soái ăn thề, hai bên đều không sai lời nhau!

Công tử Trắc cùng Hoa Nguyên ăn thề xong, lại xin kết nghĩa anh em. Công tử Trắc lấy một chiếc lệnh tiễn trao cho Hoa Nguyên, dặn phải đi mau. Hoa Nguyên có chiếc lệnh tiễn ấy thì cứ công nhiên đi thẳng đến dưới thành, làm ám hiệu cho trên thành thả dây xuống rồi kéo lên, đi thẳng vào trong cung, đem lời công tử Trắc tâu với Tống Văn-công. Sáng hôm sau, công tử Trắc cũng đem lời Hoa Nguyên thuật lại cho Sở Trang-vương nghe, và tâu rằng:

– Suýt nữa thì mệnh tôi chết về lưỡi dao của Hoa Nguyên đêm hôm qua rồi, may mà Hoa Nguyên có lòng nhân từ đem tình hình trong nước bảo thực với tôi và xin tôi rút quân, tôi đã nhận lời rồi, xin đại vương xuống chỉ.

Sở Trang-vương nói:

– Nước Tống cùng khốn như thế, ta nên cố đánh cho kỳ được!

Công tử Trắc sụp lạy mà tâu rằng:

– Quân ta chỉ còn có lượng ăn trong bảy ngày, tôi đã trót bảo thực với Hoa Nguyên rồi.

Trang vương nổi giận mà nói rằng:

– Sao nhà ngươi lại nói thực với quân giặc?

Công tử Trắc nói:

– Một nươc Tống nhỏ mọn như vậy, còn có người bề tôi không chịu nói dối, huống chi đường đường nước Sở ta mà lại không có người bề tôi như thế hay sao!

Trang vương nguôi cơn giận mà bảo rằng:

– Quan tư mã nói phải lắm!

Trang vương bèn hạ lệnh rút quân, ra đóng ở ngoài ba mươi dặm. Thân Tề thấy Trang vương đã hạ lệnh rút quân về, không dám ngăn trở, nhưng vật mình ôm bụng mà kêu khóc. Trang vương sai người khuyên bảo Thân Tề rằng:

– Nhà ngươi chớ phiền! Thế nào ta cũng làm cho tỏ được lòng hiếu của nhà ngươi!

Hoa Nguyên phụng mệnh Tống Văn-công đến dinh quân Sở để làm tờ giao ước. Công tử Trắc theo Hoa Nguyên vào thành nước Tống, cùng với Tống Văn-công ăn thề. Tống Văn-công sai Hoa Nguyên đưa linh cữu Thân Chu sang trả quân Sở và sang ở lại nước Sở đế làm tin. Sở Trang-vương rút về nước Sở, làm lễ an táng cho Thân Chu rất trọng thể. Các quan trong triều đều đi đưa tất cả. Sở Trang-vương lại cho Thân Tề được nối chức cha làm quan đại phu. Hoa Nguyên ở nước Sở, chơi thân với công tử Trắc và nhân đó lại kết giao với công tử Anh Tề.

Một hôm hai người ngồi chơi với nhau, bàn đến thời sự, công tử Anh Tề thở dài mà than rằng:

– Nay Tấn và Sở tranh nhau, binh hoà liên miên biết bao giờ cho thiên hạ được thái bình!

Hoa Nguyên nói:

– Tôi nghĩ đang khi Tấn và Sở tranh nhau, không bên nào chịu thua, như bây giờ nếu được một người đứng lên nói cho hai bên giảng hòa với nhau, các nước phụ thuộc của hai bên nào thì triều cống về bên ấy, rồi cùng nhau yên nghỉ, khiến cho nhân dân trách khỏi lầm than khổ sở, như thế cũng chẳng may cho đời lắm ru!

Công tử Anh Tề nói:

– Việc ấy nhà ngươi có làm nổi hay không?

Hoa Nguyên nói:

– Ta có giao du với tướng quân nước Tấn là Loan Thư, năm trước tôi sang sứ nước Tấn, Loan Thư cũng có nói đến việc ấy, tiếc rằng không có ai ở giữa mà liên hợp hai nước với nhau được.

Ngày hôm sau, công tử Anh Tề đem lời Hoa Nguyên nói với công tử Trắc. Công tử Trắc nói:

– Hai nước còn chưa chán sự tranh chiến, việc ấy đã bàn đến thế nào được.

Hoa Nguyên ở Sở đã được sáu năm thì Tống Văn-công (Bão) chết, con là Tống Cung-công (Cố) lên nối ngôi. Hoa Nguyên mới về nước Tống để chịu tang.

Lại nói chuyện Tấn Cảnh-công nghe tin quân Sở vây quân Tống đã hơn một năm, mới bảo Bá Tôn rằng:

– Nước Tống cố giữ được như vậy, cũng đã mỏi mệt lắm rồi, ta chớ nên thất tín, phải đem quân đi cứu mới được.

Tấn Cảnh-công đem quân đi cứu Tống. Bỗng nghe báo có sứ nước Lộ đưa mật thư đến. Nguyên xưa nước Lộ tức là một giống Xích Địch, ở tiếp giáp với nước Lê, đến đời Chu Bình-vương, vua nước Lộ đuổi vua nước Lê mà chiếm lấy đất, từ đó mỗi ngày một cường thịnh. Bấy giờ vua nước Lộ tên gọi Anh Nhi, lấy người chị Tấn Cảnh-công là Bá Cơ làm phu nhân. Anh Nhi hèn yếu, quan tướng quốc là Phong Thư chuyên quyền, khi trước có Hồ Xạ Cô là công thần nước Tấn trốn sang ở nước Lộ, Phong Thư còn e sợ, không dám hoành hành lắm, từ lúc Hồ Xạ Cô chết rồi, Phong Thư không còn e sợ ai cả, muốn cho vua Lộ tuyệt giao với Tấn, liền vu tội cho Bá Cơ, bảo vua nước Lộ giết đi.

Một hôm, Phong Thư cùng với vua nước Lộ (tức là Anh Nhi) đi săn ở ngoài cõi, nhân khi uống rượu say, thi nhau bắn chim, Phong Thư bắn sẩy tay khiến vua nước Lộ bị thương ở mắt. Phong Thư ném cung xuống đất, cười mà nói rằng:

– Tôi bắn không trúng nên phạt một chén rượu.

Vua nước Lộ không thể nhịn được, nhưng liệu sức mình không làm gì nổi Phong Thư mới làm tờ mật thư đưa sang nước Tấn, xin nước Tấn đem quân sang hỏi tội Phong Thư. Mưu thần nước Tấn là Bá Tôn nói với Tấn Cảnh-công rằng:

– Nay ta giết Phong Thư, chiếm lấy đất nước Lộ và cả mấy nước xung quanh nữa thì phía tây nam nước Tấn ta mỗi ngày một mở rộng, cơ hội ấy chớ nên bỏ phí!

Tấn Cảnh-công cũng giận vua nước Lộ về việc giết vợ là Bá Cơ (chị Tấn Cảnh-công), mới sai Tuân Lâm Phủ làm đại tướng, Ngụy Khóa (con Ngụy Thù) làm phó tướng, đem quân đi đánh nước Lộ. Phong Thư đem quân ra đất Khúc Lương để chống cự với quân Tấn, bị quân Tấn đánh thua, bỏ chạy sang nước Vệ. Vệ Mục-công (Tốc) đang cùng với nước Tấn giao hiểu, liền bắt Phong Thư đưa sang nộp quân Tấn. Tuân Lâm Phủ sai giải Phong Thư về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) mà giết đi. Quân Tấn kéo thẳng vào kinh thành nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi ra đón. Tuân Lâm Phủ ra đón. Tuân Lâm Phủ kể tội Anh Nhi giết oan Bá Cơ, rồi bắt đem về nước Tấn, lại mượn cớ, dân nước Lê nhớ vua cũ, liều tìm con cháu vua nước Lê, đắp thành cho ở một chỗ, tiếng là khôi phục nước Lê, kỳ thực là dể diệt nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi nghĩ đến nước mà thương xót, rồi tự vẫn chết. Người nước Lộ lập đền thờ. Tấn Cảnh-công sợ Tuân Lâm Phủ chưa đánh được nước Lộ, mới đem đại binh đóng ở Tắc Sơn để tiếp ứng.

Khi Tuân Lâm Phủ đánh được nước Lộ rồi, đến Tắc Sơn báo tin thắng trận, mới lưu phó tướng là Ngụy Khóa ở lại nước Lộ, để giữ lấy nước ấy. Bỗng có một toán quân kéo đến nước Lộ, hỏi ra mới biết là đại tướng nước Tần tên gọi là Đỗ Hồi. Nguyên từ khi Tần Khang-công chết, con là Tần Cung-công (Đạo) nối ngôi, nhân việc Triệu Xuyên sang đánh Sùng, là một nước phụ thuộc của Tần, bởi vậy Tần mới kết giao với Phong Thư để chống nhau với Tấn. Được bốn năm thì Tần Cung-công chết, con là Tần Hoàn-công (Vinh) lên nối ngôi, bấy giờ, bấy giờ đang là năm thứ mười một đời Tần Hoàn-công, nghe tin nước Tấn sang đánh Phong Thư, Tần toan đem quân đến cứu, nhưng lại nghe tin nước Tấn đã giết Phong Thư và bắt vua nước Lộ, Tần bèn sai Đỗ Hồi đem quân sang để tranh lấy địa giới nước Lộ.

Đỗ Hồi vốn là một người lực sĩ đã có danh tiếng ở nước Tần, hàm răng nhọn hoắt, khóe mắt tròn xoe, tay cứng như đồng, mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, mình cao hơn trượng, lại có sức khỏe, vẫn thường cầm một cái búa khai sơn, nặng một trăm hai mươi cân. Nguyên Đỗ Hồi thuộc giống Bạch Địch, khi trước đã có một lần ở Thanh My Sơn Đỗ Hồi đâm chết luôn ba con hổ, rồi lột da đem về, Tần Hoàn-công nghe nói là người vũ dũng, cho làm xa hữu tướng quân, lại một lần nữa, Đỗ Hồi chỉ đem ba trăm người mà phá vỡ được hơn một vạn giặc cướp ở Xa Nga Sơn, bởi vậy uy danh mỗi ngày một lừng lẫy, thân làm đến đại tướng.

Ngụy Khỏa thấy Đỗ Hồi đem quân đến, tức khắc bày trận để đợi giao chiến. Đỗ Hồi tay cầm búa khai sơn, đem ba trăm quân đến tận nơi, chém giết quân Tấn, khác nào như một vị thiên thần giáng hạ. Quân Tấn sợ hãi, bỏ chạy tán loạn. Ngụy Khỏa vội vàng rút quân vào trại, rồi giữ thế thủ, không dám ra đánh nữa. Đỗ Hồi đến khiêu chiến luôn trong ba ngày mà Ngụy Khỏa nhất định không ra. Bỗng nghe báo có tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ (em Ngụy Khỏa) đem quân đến tiếp ứng. Ngụy Kỳ nói với Ngụy Khỏa rằng:

– Chúa công sợ bọn Xích Địch kết liên với nước Tần mà sinh biến, vậy có sai tôi đến đây để tiếp ứng.

Ngụy Khỏa thuật lại những chuyện vũ dũng của tướng nước Tần là Đỗ Hồi cho là không ai địch nổi. Ngụy Kỳ không tin, nói rằng:

– Làm gì đám giặc cỏ ấy! Ngày mai tôi ra trận, thế nào cũng quyết đánh tan được!

Ngày hôm sau, Đỗ Hồi lại đến khiêu chiến. Ngụy Kỳ tức giận, toan xông ra đánh. Ngụy Khỏa cố ý ngăn lại. Ngụy Kỳ không nghe, đem quân ra giao chiến với Đỗ Hồi. Đỗ Hồi lại múa búa khai sơn, tả xung hữu đột, chém chết quân Tấn. Ngụy Kỳ thua to, may nhờ có Ngụy Khỏa đem quân ra tiếp ứng, mới về được trong trại. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa đang ngồi trong trại, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế gì, đang mơ mơ màng màng, bỗng nghe tiếng người ghé vào tai mà đọc ba tiếng: “Thanh Thảo bi”, đến lúc tỉnh dậy, không hiểu là nghĩa làm sao, mà chợp mắt ngủ đi thì lại thấy như trước, bèn đem chuyện nói với Ngụy Kỳ.

Ngụy Kỳ nói:

– Cách đây độ mười dặm, có một cái bãi cỏ, tên gọi “Thanh Thảo bi”, hay là quân Tần sau này tất sẽ phải thua trận ở đấy chăng, vậy tôi xin đem một toán quân đến đó mai phục sẵn, rồi anh lập kế đem quân giặc đến, hai bên cùng đánh thì mới phá vỡ được.

Ngụy Kỳ liền đem quân đến mai phục sẵn ở Thanh Thảo bi. Ngụy Khỏa giả cách thua chạy, dụ Đỗ Hồi đến gần Thanh Thảo bi. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên đổ ra, cùng với Ngụy Khỏa vây chặt lấy Đỗ Hồi. Đỗ Hồi chẳng sợ hãi chút nào cả, vẫn cầm búa khai sơn, tả xung hữu đột, dần dần tiến đến phía Thanh Thảo bi. Bỗng thấy Đỗ Hồi mỗi bước lại ngã một cái, khác nào như người trượt nước băng. Quân Tấn thấy vậy, reo ầm cả lên. Ngụy Khỏa ngừng trông, thấy một ông lão già, mình mặc áo vải, chân đi giày đay, đang kết những dây cỏ lại, để làm cho vướng chân Đỗ Hồi. Quân Đỗ Hồi thấy chủ tướng bị bắt, đều bỏ chạy tán loạn cả, bị quân Tấn đuổi bắt, số ba trăm người chỉ trốn thoát được độ bốn năm chục người mà thôi.

Ngụy Khỏa hỏi Đỗ Hồi rằng:

– Ngươi cậy có sức khỏe, cớ sao cũng để bị bắt thế này?

Đỗ Hồi nói:

– Không biết hai chân ta vướng phải vật gì mà thành ra khó cử động quá. Đó là trời hại ta, chứ không phải sức ta không đánh nổi.

Ngụy Khỏa nghĩ lấy làm lạ. Ngụy Kỳ nói với Ngụy Khỏa rằng:

– Đỗ Hồi đã có sức khỏe, nếu ta để y sống thì e sẽ sinh biến.

Ngụy Khỏa nói:

– Ý ta cũng nghĩ như vậy!

Nói xong, truyền chém Đỗ Hồi, rồi đem đầu về Tắc Sơn nộp Tấn Cảnh-công để lấy công. Đêm hôm ấy, Ngụy Kỳ nằm ngủ, lại thấy ông lão già ngày hôm trước đến mặt vái chào mà nói rằng:

– Tướng quân có biết vì cớ gì mà Đỗ Hồi bị bắt hay không? Vì tôi kết cỏ lại để làm cho Đỗ Hồi vướng chân mà ngã đó.

Ngụy Khỏa kinh sợ, nói rằng:

– Tôi chưa được biết cụ bao giờ, sao cụ lại giúp tôi như vậy, tôi biết lấy gì mà trả ơn cụ?

Ông lão già nói:

– Tôi là thân phụ nàng Tổ Cơ. Tướng quân biết theo lời dặn sáng suốt của tiền nhân mà gả chồng cho con gái tôi, vậy tôi cảm cái ơn ấy, đến đây để giúp tướng quân. Sau này con cháu tướng quân được đời đời vinh hiển mãi.

Nguyên xưa thân phụ Ngụy Khỏa là Ngụy Thù có một người thiếp yêu, tên gọi Tổ Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc lại dặn Ngụy Khỏa rằng:

– Nếu ta ra trận mà chết đi, mày nên cho Tổ Cơ đi lấy chồng được nơi xứng đáng, khiến Tổ Cơ có chỗ nương tựa, chớ để cho hắn phải khổ sở thì ta dẫu chết cũng được yên lòng!

Đến lúc Ngụy Thù ốm nặng, lại dặn Ngụy Khỏa rằng:

– Tổ Cơ là người thiếp yêu của ta. Khi ta chết rồi, mày phải đem nàng ấy chôn theo ta, cho ta ở dưới suối vàng có người bầu bạn.

Nói xong thì chết. Ngụy Khỏa an táng cho cha, nhưng lại không bắt Tổ Cơ chôn theo. Ngụy Kỳ nói:

– Anh không nhớ lời cha dặn lúc gần mất hay sao?

Ngụy Khỏa nói:

– Thân phụ ta lúc thường vẫn dặn ta sau này gả chồng cho Tổ Cơ, đến lúc gần mất, lại dặn phải đem nàng đem chôn theo, đó chỉ là lời dặn lúc mê hoảng mà thôi, người hiếu tử nên theo lời dặn của cha khi còn sáng suốt, chớ theo lời trối khi lúc mê hoảng.

Về sau, Ngụy Khỏa gả Tổ Cơ cho một nho sĩ. Vì Ngụy Khỏa có âm đức ấy, cho nên linh hồn thân phụ Tổ Cơ mới hiện lên kết cỏ lại để báo ơn. Ngụy Khỏa thuật chuyện chiêm bao cho Ngụy Kỳ nghe. Ngụy Kỳ lấy làm chuyện lạ lùng.

Vua tôi nước Tần nghe tin Đỗ Hồi thua trận, đều sợ hãi mất vía. Tấn Cảnh-công thưởng cho Ngụy Khỏa đất Linh Hồ, để làm thái ấp, lại đúc một quả chuông để ghi công thắng trận, gọi quả chuông là “Cảnh chung”. Tấn Cảnh-công lại sai Sĩ Hội đem quân đi diệt nước Điền Thị, nước Lưu Vu và nước thuộc Lưu Vu là nước Đạc Thần. Mấy nước ấy đều là của người Xích Địch, từ đó đất đai Xích Địch đều thuộc về nước Tấn tất cả.

Bấy giờ nước Tấn mất mùa, trộm cướp nổi lên như ong. Tuân Lâm Phủ dùng được một người có tài dò xét kẻ trộm, người ấy tên gọi Khước Ưng. Khước Ưng thường ra chơi chợ, trỏ vào ai mà bảo là kẻ trộm, đem bắt về tra hỏi thì quả nhiên là kẻ trộm thật. Tuân Lâm Phủ hỏi Khước Ưng rằng:

– Tại sao nhà ngươi lại biết được như vậy?

Khước Ưng nói:

– Tôi trông con mắt người ấy, khi thấy hàng hóa ở chợ thì có ý tham, thấy người ở chợ thì có ý thẹn, sao thấy tôi tới nơi thì có ý sợ, bởi thế mà tôi biết đích là kẻ trộm.

Khước Ưng mỗi ngày bắt được mấy chục đứa kẻ trộm, nhưng số kẻ trộm lại càng ngày càng nhiều. Quan đại phu là Dương Thạch Chức nói với Tuân Lâm Phủ rằng:

– Nguyên soái dùng Khước Ưng để bắt trộm, nhưng tôi e rằng kẻ trộm chưa bắt được hết mà Khước Ưng đã chết đến nơi!

Tuân Lâm Phủ giật mình kinh sợ hỏi rằng:

– Sao thế?

---------------------------


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét