🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Đồng hồ chép thẳng án Đào Viên
Vua Sở mừng công mở đại hội
Tấn Linh-công lập mưu giết Triệu
Thuẫn, dẫu không giết được, nhưng thấy Triệu Thuẫn bỏ trốn đi thì trong lòng
cũng mừng rỡ khác nào đứa học trò được rời thầy học ra, sự mừng rỡ kể sao cho
xiết, liền đem cung quyến đến ở luôn ngày đêm tại Ðào Viên, không về cung nữa. Triệu
Xuyên đang đi săn ở Tây Giao trở về, gặp Triệu Thuẫn và Triệu Sóc. Triệu Xuyên
hỏi chuyện đầu đuôi và bảo Triệu Thuẫn rằng:
– Thúc phụ chớ sang nước khác vội,
hãy đợi trong mấy ngày tôi sẽ có tin báo.
Triệu Thuẫn nói:
– Nếu vậy thì ta hãy tạm ở lại
núi Thu Dương để đợi tin nhưng nhà ngươi nên cẩn thận, chớ đẻ thêm tai vạ đấy.
Triệu Xuyên từ biệt Triệu Thuẫn
và Triệu Sóc, rồi trở về kinh thành, nghe biết Tấn Linh công chơi ở Ðào Viên, mới
giả cách vào yết kiến và xin lỗi với Linh công rằng:
– Tôi là thân thích với người có
tội, khi nào lại còn dám hầu hạ ở bên cạnh chúa công, xin chúa công cho tôi được
từ chức.
Linh công tin là thực, mới phủ dụ
Triệu Xuyên rằng:
– Triệu Thuẫn đã nhiều lần khinh
bỉ ta, ta không thể chịu được, việc này không can dự gì đến nhà ngươi, nhà
ngươi cứ yên tâm mà giữ chức.
Triệu Xuyên lạy tạ, rồi lại tâu rằng:
– Tôi thiết tưởng làm vua chỉ quý
hơn người ta là được thoả thích cả về thanh, cả về sắc mà thôi, nay chúa công dẫu
có đàn sáo chuông trống, nhưng số nội cung chưa đủ, còn lấy gì làm vui! Tề Hoàn-công
thuở xưa biết bao nhiêu phi tần, ngoại vị chánh cung, lại còn sáu bà như phu
nhân nữa, tiên quân ta là Tấn Vương-công, từ khi còn trốn ở các nước, đến đâu
cũng lấy vợ, lúc trở về nước, ngọai sáu mươi tuổi mà phi tần còn rất đông, nay
chúa công đã lập ra đài cao vườn rộng thư thế này, mà sao không sai người đi tuyển
gái đẹp về dạy múa hát để làm trò vui, chẳng cũng hay lắm ư!
Linh công nói:
– Nhà ngươi nói chính hợp ý ta!
Nay ta muốn tuyển gái đẹp trong nước thì nên sai ai được?
Triệu Xuyên nói:
– Quan đại phu là Ðồ Ngạn Giả đi
tuyển con gái, bất cứ trong thành ngoài ấp, phàm có con gái trong hai mươi tuổi
bắt phải làm sổ khai trinh, hạn trong một tháng thì về báo tin. Triệu Xuyên mượn
việc ấy để sai Ðồ Ngạn Giả đi biệt chỗ khác, rồi lại tâu với Linh công rằng:
– Ðội quân thị vệ của chúa công ở
Ðào Viên hãy còn ít lắm, tôi có tuyển được hai trăm lính tinh dùng, xin chúa
công cho sung vào làm quân thị vệ.
Linh công thuận cho, Triệu Xuyên
về dinh, tuyển hai trăm quân giáp sĩ. Bọn giáp sĩ hỏi Triệu Xuyên rằng:
– Chẳng hay tướng quân định sai
chúng tôi đi đâu?
Triệu Xuyên nói:
– Chúa công chẳng thương gì đến
dân, chỉ vui chơi ở chốn Ðào Viên, nay có sai ta tuyển bọn các ngươi vào đấy để
ngày đêm canh phòng. Bọn các ngươi đây, ai là người không vợ con nhà cửa, nay
đi vào đấy, ăn sương nằm gió, biết bao giờ xong.
Bọn giáp sĩ đều than vãn mà nói rằng:
– Ðứa vô đạo hôn quân ấy, sao
không chóng chết đi! Nếu Triệu tướng qiân (trỏ Triệu Thuẫn) còn ở nhà, tất
không có việc này.
Triệu Xuyên nói:
– Ta có một câu này muốn bàn cùng
các ngươi, chẳng biết có nên không?
Bọn giáp sĩ đều nói:
– Nếu tướng quân cứu được cho
chúng tôi thoát khỏi nông nỗi khổ sở này thì ơn tái sinh ấy bao giờ chúng tôi
quên được.
Triệu Xuyên nói:
– Chỗ Ðào Viên này không kín đáo
lắm, như chốn thâm cung. Canh hai đêm hôm nay, các ngươi xông vào trong vườn, giả
cách đòi xin ban thưởng, chờ khi ta vẫy tay áo làm hiệu thì các ngươi giết ngay
hôn quân đi, ta sẽ đón quan tướng quốc về lập vua khác, các ngươi nghĩ thế nào?
Bọn giáp sĩ đều nói:
– Chúng tôi xin vâng mệnh!
Triệu Xuyên cho bọn giáp sĩ ăn
cơm uống rượu, sai chực sẵn ở ngoài cửa Ðào Viên, rồi vào tâu với Linh công. Linh
công lên đài trong thấy bọn giáp sĩ người nào cũng tráng kiện, thì bằng lòng lắm,
bèn giữ Triệu Xuyên ở lại hầu rượu. Uống rượu đến canh hai, bỗng nghe thấy bên
ngoài có tiếng uyên náo. Linh công kinh sợ, hỏi là cớ gì. Triệu Xuyên nói:
– Ý chừng quân túc vệ xua đuổi
người đi đêm đó mà thôi, để tôi xin ra bảo họ đừng làm kinh động thánh giá.
Triệu Xuyên sai thắp đèn lồng, ở
trên đài bước xuống. Bọn giáp sĩ hai trăm người đã phá cửa vào đến nơi. Triệu
Xuyên bảo bọn giáp sĩ đứng yên cả ở dưới đài, rồi lại trở lên tâu với Linh công
rằng:
– Quân sĩ biết chúa công dự tiệc,
vậy muốn xin chúa công ban thưởng cho lộc thừa, chứ không có ý gì khác cả.
Linh công truyền cho nội thị đem
rượu ban thưởng cho quân sĩ, rồi đứng tựa bao lơn mà trông xuống. Triệu Xuyên đứng
bên cạnh, gọi to lên rằng:
– Chúa công thân hành ra đây ban
thưởng cho các ngươi, các ngươi hãy bái tạ ơn trên.
Nói xong, giơ tay áo vẫy một cái.
Quân sĩ biết là Linh công liền kéo ồ lên. Linh công sợ hãi, bảo Triệu Xuyên rằng:
– Giáp sĩ trèo lên lầu làm gì thế?
Nhà ngươi truyền cho họ xuống đi!
Triệu Xuyên nói:
– Quân sĩ nhớ quan tướng quốc là
Triệu Thuẫn, muốn xin chúa công cho đón về.
Linh công chưa kịp trả lời thì đã
bị quân giáp sĩ xúm lại đâm chém chết ngay. Thi vệ xung quanh đều bỏ chạy tán
loạn cả. Triệu Xuyên nói:
– Nay đã trừ được hôn quân rồi, các
ngươi chớ nên giết bậy một người nào, phải theo ta đi đón quan tướng quốc về
triều.
Ðồ Ngạn Giả đang đi tuyển gái đẹp
ở ngoài cõi xa, nghe báo Linh công bị giết, giật mình kinh sợ, biết là mưu kế của
Triệu Xuyên, nhưng không dám nói ra, bèn lẻn về nơi dinh phủ.
Bọn Sĩ Hội nghe tin ấy, cũng vội
vàng chạy đến Ðào Viên, nhưng chẳng thấy một người nào cả, biết là Triệu Xuyên
đã đi đón Triệu Thuẫn về.
Triệu Thuẫn về đến kinh thành, đi
thẳng vào Ðào Viên. Các quan trong triều đều hợp đông đủ cả. Triệu Thuẫn phục ở
bên cạnh thi thể Tấn Linh-công mà khóc òa lên, rất là thảm thiết, tiếng khóc
vang động đến ngoài vườn. Dân nước Tấn nghe tiếng, đều bảo nhau rằng:
– Xem thế thì biết quan tướng
quân là người trung thành. Việc này chẳng qua chỉ bởi chúa công ta gây nên tai
vạ, chứ không phải lỗi của quan tướng quốc.
Triệu Thuẫn truyền rước thi thể của
Tấn Linh-công sang chôn ở đất Khúc Ốc, rồi hợp triều thần để lập vua mới. Bấy
giờ Tấn Linh-công chưa có con trai. Triệu Thuẫn nói:
– Từ khi tiên quân ta mất đi, tôi
đã có xướng nghị rằng không nên lập vua nhỏ, vì nhiều người không thuận, mà
thành ra có việc này, bây giờ ta phải thận trọng mới được.
Sĩ Hội nói:
– Trong nước có vua lớn thì là một
điều đại phúc, quan tướng quốc dạy phải lắm!
Triệu Thuẫn nói:
– Tiên quân ta (tức là Tấn Văn-công)
ngày xưa hiện còn một người con. Lúc mới sinh ra,bà mẹ nằm mộng thấy thần nhân
giơ bàn tay đen xoa vào đứa bé, bởi vậy mới đặt là Hắc Ðiến. Ngày nay đang làm
quan ở nhà Chu, hiện đã lớn tuổi, tôi muốn đón về để lập lên làm vua.
Các quan không dám trái ý, đồng
thanh mà nói rằng:
– Quan tướng quốc nghĩ rất phải.
Triệu Thuẫn muốn gỡ cái tội giết
vua cho Triệu Xuyên, mới sai Triệu Xuyên sang nhà Chu đón công tử Hắc Ðiến về
nước Tấn. Công tử Hắc Ðiến vào triều nhà Thái miếu, rồi nối ngôi lên làm vua, tức
là Tấn Thành-công. Tấn Thành-công đã lên ngôi, giao hết quyền chính cho Triệu
Thuẫn, lại đem con gái gả cho Triệu Sóc, tức là nàng Trang Cơ. Triệu Thuẫn tâu
với Tấn Thành-công rằng:
– Mẹ tôi nguyên là con gái nước Ðịch.Bà
Triệu Cơ tôi (con gái Tấn văn công gả cho thân phụ Triệu Thuẫn là Triệu Thôi) thuở
xưa nhường cho mẹ tôi làm vợ cả, vậy nên tôi được làm đích tử, nhận chức trung
quân, nay con bà Triệu Cơ tôi là: Triệu Ðồng, Triệu Quát và Triệu Anh, đều đã lớn
tuổi cả, tôi lại xin nhường lại quyền chức ấy.
Thành công nói:
– Quan tướng quốc không phải nhường,
để ta sẽ dùng cho làm quan tất cả.
Nói xong, liền cho Triệu Ðồng, Triệu
Quát và Triều Anh làm quan đại phu. Triệu Xuyên nói riêng với Triệu Thuẫn rằng:
– Ðồ Ngạn Giả ngày trước xu nịnh
tiên quân để làm hại họ Triệu. Việc Ðào Viên này chỉ có Ðồ Ngạn Giả ra ý không
thuận, nếu không trừ bỏ người ấy đi thì họ Triệu ta cũng khò lòng mà yên được.
Triệu Thuẫn nói:
– Người ta không bắt tội nhà
ngươi thì chớ, nhà ngươi lại định bắt tội người ta hay sao! Họ Triệu ta ngày
nay chỉ nên cùng với các quan triều thần hòa mực với nhau, chớ nên gây ra những
việc thù oán.
Triệu Xuyên không dám nói đến việc
Ðồ Ngạn Giả nữa. Ðồ Ngạn Giả cũng một lòng theo ý họ Triệu để được khỏi tội. Triệu
Thuẫn vẫn lấy việc Ðào Viên làm áy náy, một hôm sang chơi sử quán, đòi lấy bản
chép của quan thái sử là Ðồng Hồ để xem Ðồng Hồ chép việc Ðào Viên ra sao. Ðồng
Hồ đem bản thảo đưa trình Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn mở ra xem, trông thấy chép rõ
ràng: “Mùa thu, tháng bảy năm Ất Sửu, Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao ở Ðào
Viên”.
Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ
nói:
– Quan thái sử lầm rồi! Ta đã chạy
ra Hà Ðông cách kinh thành hơn trăm dặm, ta có biết đâu đến việc giết vua, mà
quan thái sử lại đổ lỗi cho ta, chẳng cũng oan lắm ư!
Ðồng Hồ nói:
– Ngài làm quan tướng quốc, trốn
đi chưa khỏi địa giới nước nhà mà đã có việc giết vua này, khi ngài về lại
không trị tội quân giặc, như thế mà bảo không phải tự ngài chủ mưu, còn ai tin
được?
Triệu Thuẫn nói:
– Bây giờ có thể chữa lại được
không?
Ðồng Hồ nói:
– Ðã gọi là tín sử thì có thế nào
phải chép như thế, bởi vậy đầu tôi có thể cắt được, chứ bản thảo này thì không
thể chữa lại được.
Triệu Thuẫn thở dài than rằng:
– Thế mới biết cái quyền chép sử,
còn lớn hơn cái quyền làm tướng quốc! Tiếc thay, bấy giờ ta chưa ra khỏi địa giới,
để đến nỗi chịu tiếng xấu muôn đời, hối sao cho kịp!
Từ bấy giờ Triệu Thuẫn phụng sự Tấn
Thành-công, càng thêm kính cẩn. Triệu Xuyên cậy có công to, xin làm chức chính
khanh, Triệu Thuẫn sợ mang tiếng, không cho. Triệu Xuyên tức giận, phát ra cái
ung ở đằng lưng mà chết. Con Triệu Xuyên là Triệu Chiên xin nối giữ chức vị của
cha. Triệu Thuẫn bảo Triệu Chiên rằng:
– Ðợi khi nào nhà ngươi lập được
công trạng thì dẫu ngôi khanh tướng cũng chẳng khó gì!
Chu Khuông-vương mất. Em là Du
lên nối ngôi, tức là Chu Ðịnh-vương. Năm đầu Chu Ðịnh-vương, Sở Trang-vương đem
quân đánh đất Lục Hồn, qua sông Lạc Thủy, kéo đến địa giới nhà Chu, định dùng
uy lực áp chế thiên tử mà cùng với nhà Chu chia đôi thiên hạ. Chu Ðịnh-vương
sai quan đại phu là Vương Tôn Mẫn đến uý dụ Sở Trang-vương. Sở Trang-vương hỏi:
– Tôi nghe nói vua Ðại Vũ ngày
xưa có đúc chín cái đinh, từ nhà Hạ, nhà Thương đến nhà Chu ta vẫn truyền cho
nhau, coi là của quý, hiện nay để ở đất Lạc Dương. Chẳng hay những cái đinh ấy
hình dáng, lớn bé và nặng nhẹ thế nào, xin quan đại phu cho biết?
Vương Tôn Mẫn nói:
Vua Ðại Vũ nhà Hạ đúc nên chín
cái đinh, đến đời vua Kiệt vô đạo, mới thiên sang nhà Thương. Vua Trụ nhà
Thương bạo ngược, chín cái đinh ấy lại thiên sang nhà Chu, xem thế thì biết đời
nào có đức thì mới giữ nổi chín cái đinh ấy. Khi nhà vua Thành vương nhà Chu
tôi để chín cái đinh ấy ở Lạc Dương, đã có bói một quẻ thì biết rằng nhà Chu
tôi truyền được ba mươi đời, bảy trăm năm có lẻ, năm nay vận mệnh nhà Chu hãy
còn, nhà vua chớ nên hỏi đến đinh vội!
Sở Trang-vương hổ thẹn, từ bấy giờ
không dám có ý nom dòm nhà Chu nữa.
Lại nói chuyện quan lệnh doãn nước
Sở là Ðấu Việt Tiêu từ khi thấy Sở Thành-vương chia mất quyền chính của mình, trong
lòng oán giận, lại cậy mình là người tài giỏi và đời trước có công lao, dân
trong nước ai cũng tin phục, mới có ý muốn làm phản, thường vẫn nói rằng:
– Nhân tài nước Sở chỉ có một
mình Vĩ Giả mà thôi, còn thì chẳng đáng kể.
Khi Sở Trang-vương đi đánh Lục Hồn,
cũng lo đấu Việt Tiêu làm phản, mới bảo Vĩ Giả ở lại để giữ nước. Ðấu Việt Tiêu
thấy Sở Trang-vương đem quân đi vắng, mới quyết chí nổi loạn, định đem hết những
quân của bản tộc ra để khởi sự. Ðấu Khắc (con Ðấu Ban) không theo. Ðấu Việt
Tiêu giết chết Ðấu Khắc, rồi đem quân đến giết quan tư mã là Vĩ Giả. Con Vĩ Giả
là Vĩ Ngao đem mẹ chạy trốn sang Mộng Trạch. Ðấu Việt Tiêu ra đóng đồn ở đất
Chưng Giã để chặn đường Sở Trang-vương trở về. Sở Trang-vương nghe tin Ðấu Việt
Tiêu nổi loạn, tức khắc rút quân về nước. Về gần đến đất Chương Lạp, Ðấu Việt
Tiêu đem quân ra đối địch. Quân Sở Trang-vương trông thấy Ðấu Việt Tiêu đeo
cung cầm giáo, đi lại hăng hái ở trước trận, đều có ý sợ hãi. Sở Trang-vương nói:
– Họ Ðấu mấy đời có công với nước,
nay chẳng thà để cho Ðấu Việt Tiêu phụ ta, chớ ta không nỡ phụ Ðấu Việt Tiêu.
Nói xong, liền sai quan đại phu
là Tô Tùng sang điều đình với Ðấu Việt Tiêu, thuận cho giảng hoà và tha cho cái
tội giết quan tư mã. Ðấu Việt Tiêu nói:
– Ta xấu hổ vì phải làm chức lệnh
doãn, chứ ta có mong ân xá đâu! Có dám đánh thì đem quân tới đây!
Tô Tùng hai ba lần phủ dụ mà Ðấu
Việt Tiêu không nghe. Khi Tô Tùng về rồi, Ðấu Việt Tiêu truyền nổi hiệu trống
tiến quân sang đánh. Sở Trang-vương hỏi các tướng rằng:
– Các tướng, có ai dám đối địch với
Ðấu Việt Tiêu không?
Quan đại tướng là Nhạc Bá vâng mệnh
ra trận. Con Ðấu Việt Tiêu là Ðấu Bí Hoàng liền đem quân ra nghinh chiến. Phan
Uông trông thấy Nhạc Bá không đánh nổi Ðấu Bí Hoàng, cũng giục ngựa ra trận. Em
Ðấu Việt Tiêu là Ðấu Kỳ cũng đem quân ra giao chiến với Phan Uông. Sở
Trang-vương ngồi trên xe, cầm dùi đánh trống để đốc chiến. Ðấu Việt Tiêu lại bắn
mũi tên nữa, cắm vào cái mộc. Sở Trang-vương vội vàng truyền lịnh thu quân.
Ðấu Việt Tiêu cố sức tiến đánh, may
có hữu quân đại tướng là công tử Trắc và tả quân đại tướng là công tử Anh Tề, hai
mặt đổ lại, bấy giờ Ðấu Việt Tiêu mới lui quân. Nhạc Bá và Phan Uông nghe hiệu
cũng thu quân trở về. Về đến đất Hoàng Hử, Sở Trang-vương truyền đem hai cái
tên của Ðấu Việt Tiêu ra xem thì thấy dài gấp rưỡi cái tên khác, cánh tên bằng
lông hạc, đốc tên bằng răng báo, mũi tên sắc không biết thế nào mà kể! Các người
xung quanh trông thấy, ai cũng lắc đầu lè lưỡi, lấy làm sợ hãi, cho là mũi tên
thần. Ðêm hôm ấy, Sở Trang-vương đi tuần các dinh, nghe thấy quân sĩ chỗ nào
cũng hợp nhau bàn về mũi tê thần tiên của Ðấu Việt Tiêu, cho là khó lòng đánh nổi.
Sở Trang-vương mới lập kế sai người đặt chuyện ra mà nói với quân sĩ rằng:
– Ðời tiên quân ta là Sở Văn-vương
ngày xưa nghe nói người Nhung Nam làm tên tốt lắm, sai sứ đi hỏi, người Nhung
Nam mới đem dâng hai cái tên, gọi là “Thấu cốt phong”, vẫn để ở nhà thái miếu.
Ðấu Việt Tiêu lấy trộm được hai cái tên ấy, nhưng bắn hai phát là mất rồi, còn
sợ gì nữa! Chỉ đến ngày mai là ta đánh tan được thôi.
Bấy giờ quân sĩ mới được yên
lòng. Sở Trang-vương hạ lệnh rút quân sang nước Tùy, giả cách nói định mướn
quân các nước ở Hán Ðông về đánh Ðấu Việt Tiêu. Tô Tùng nói với công tử Trắc rằng:
– Giặc mạnh ở trước mặt mà ta lui
quân thì e hỏng việc.
Công tử Trắc nói:
– Ðấy tất là đại vương lập kế đó
thôi! Chúng ta vào yết kiến thì tự khắc biết rõ.
Ðêm hôm ấy, công tử Trắc cùng với
công tử Anh Tề vào yết kiến Trang vương. Trang vương nói:
– Ðấu Việt Tiêu mạnh thế lắm, ta
không thể địch nổi, phải dùng kế mới đánh được.
Trang vương đem mật kế bảo với
hai tướng và sai họ đem quân đi mai phục. Cả hai đều vâng mệnh đem quân đi. Gà
gáy hôm sau, Trang vương truyền cho đại binh kéo lui. Ðấu Việt Tiêu nghe tin, tức
khắc đem quân đuổi theo. Quân Trang vương cố sức đi gấp qua đất Cánh Lăng. Ðấu
Việt Tiêu cũng cố sức đuổi theo, một ngày một đêm đi hơn hai trăm dặm, đến cầu
Thanh Hà, trông thấy quân Trang vương đang thổi cơm ở bên kia cầu, lại cố sức
đuổi theo cho kịp. Khi đấu Việt Tiêu đến nơi thì quân Trang vương bỏ cả nồi
niêu mà chạy. Ðấu Việt Tiêu hạ lệnh đuổi theo, cốt ý bắt cho kỳ được Trang
vương, rồi mới được ăn cơm sáng. Quân Ðấu Việt Tiêu đang lúc mỏi mệt, lại phải
nhịn đói để cố mà tiến lên, bèn theo kịp Trang Uông. Phan Uông bảo Đấu Việt
Tiêu rằng:
– Nhà ngươi muốn bắt vua Sở thì
sao không cố mau lên một chút!
Ðấu Việt Tiêu tưởng thực mới bỏ
Phan Uông, lại cố đuổi theo sáu mươi dặm nữa, đến địa giới Thanh Sơn, gặp toán
quân của Hùng Phụ Cơ. Ðấu Việt Tiêu hỏi Hùng Phụ Cơ rằng:
– Vua Sở ở đâu?
Hùng Phụ Cơ nói:
– Vua Sở chưa đi đến đây!
Ðấu Việt Tiêu trong lòng nghi ngờ,
lại bảo Hùng Phụ Cơ rằng:
– Nhà ngươi tìm vua Sở cho thì khi
ta lên làm vua, sẽ cho nhà ngươi được quyền chính.
Hùng Phụ Cơ nói:
– Ta trông quân sĩ nhà ngươi đều
mệt mỏi cả, nên phải cho ăn no thì mới giao chiến được.
Ðấu Việt Tiêu lấy làm phải, mới
đóng quân lại để nấu cơm ăn. Quân Ðấu Việt Tiêu đang nấu cơm ăn, bỗng thấy công
tử Trắc và công tử Anh Tề hai mặt đem quân đến đánh. Quân Ðấu Việt Tiêu đói
không thể đánh được, bỏ chạy về phía nam, lui về cầu Thanh Hà thì cầu ấy đã bị
phá đổ từ bao giờ rồi. Nguyên Sở Trang-vương đã đem quân phục sẵn ở bên cầu, đợi
cho Ðấu Việt Tiêu qua cầu thì phá cầu đi để chặn lối trở về. Ðấu Việt Tiêu thấy
cầu đã bị phá gẫy, giật mình kinh sợ, truyền cho quân sĩ dò xem nước sông nông
sâu thế nào để tìm đường sang. Bỗng nghe ở bên kia sông có tiếng pháo nổ, một
toán quân Sở quát to:
– Quân Nhạc Bá đóng đây, Ðấu Việt
Tiêu mau mau xuống ngựa mà đầu hàng đi!
Ðấu Việt Tiêu giận lắm, truyền
cho quân sĩ đứng bên này sông giương cung ra bắn. Trong toán quân Nhạc Bá có một
viên tiểu tướng tài nghề bắn cung tên gọi Dưỡng Do Cơ, người ta vẫn khen là “thần
tiễn”. Dưỡng Do Cơ nói với Nhạc Bá xin cùng với Ðấu Việt Tiêu bắn, Nhạc Bá thuận
cho. Dưỡng Do Cơ đứng ở bờ sông bên này, quát to lên mà bảo Ðấu Việt Tiêu rằng:
– Mặt sông rộng nhì thế này, tên
nào mà bắn cho thấu! Tôi nghe nói quan lệnh doãn (tức là Ðấu Việt Tiêu) tài bắn
lắm, vậy tôi xin cùng với ngài bắn thi. Hai bên nên đứng giáp ở trên dịp cầu, mỗi
bên bắn ba phát, ai may thì sống.
Ðấu Việt Tiêu hỏi rằng:
– Nhà ngươi là ai?
Dưỡng Do Cơ nói:
– Tôi là tiểu tướng thuộc quân Nhạc
Bá, tên gọi Dưỡng Do Cơ.
Ðấu Việt Tiêu có ý khinh khi, mới
bảo Dưỡng Do Cơ rằng:
– Nhà ngươi muốn bắn thi thì hãy
nhường ta bắn trước ba phát.
Dưỡng Do Cơ nói:
– Ðừng nói ba phát, dẫu đến trăm
phát, tôi cũng không sợ! Ai tránh là không giỏi!
Nói xong, liền ra đứng ở trên nhịp
cầu về phía sông bên này. Ðấu Việt Tiêu đứng ở nhịp cầu bên kia, giương cung bắn
ngay một phát, tưởng rằng phát tên này bắn ra thì Dưỡng Do Cơ lộn cổ xuống sông
mà chết. Ai ngờ Dưỡng Do Cơ trông thấy mũi tên đến, tay cầm đốc cung, gạt liền
một cái, mũi tên rơi xuống dưới sông. Dưỡng Do Cơ lại quát to lên mà bảo Ðấu Việt
Tiêu rằng:
– Bắn nữa đi! Bắn nữa đi!
Ðấu Việt Tiêu lại giương cung nhắm
thẳng vào Dưỡng Do Cơ bắn luôn một phát nữa. Dưỡng Do Cơ ngồi sụp xuống thì mũi
tên ấy qua đầu mà bay đi mất. Ðấu Việt Tiêu nói:
– Nhà ngươi bảo rằng ai tránh là
không giỏi, sao lại còn ngồi sụp xuống, như vậy không phải là trượng phu.
Dưỡng Do Cơ nói:
– Quan lệnh doãn còn được bắn một
phát nữa, đến phát này thì tôi không dám tránh, nếu phát này không trúng thì
ngài phải nhường cho tôi bắn.
Ðấu Việt Tiêu nghĩ thầm:
– Nếu hắn không tránh thì phát
tên này tất phải trúng. Ðấu Việt Tiêu tức khắc giương cung ra bắn. Dưỡng Do Cơ
đứng vững hai chân, không cựa cậy chút nào, khi mũi tên tới nơi, liền há mồm thật
to, cắn chặt ngay lấy. Ðấu Việt Tiêu bắn ba phát tên cùng không trúng cả, có ý
sợ hãi, nhưng trót đã hẹn lời, cũng phải để cho Dưỡng Do Cơ bắn lại,mới bảo Dưỡng
Do Cơ rằng:
– Nay ta nhường cho nhà ngươi bắn
lại ba phát, nếu bắn không trúng bấy giờ nhà ngươi lại phải nhường ta.
Dưỡng Do Cơ cười mà bảo rằng:
– Có bao giờ mà lại đến ba phát!
Tôi chỉ bắn một phát thì quan lệnh doãn đi đời mà thôi!
Ðấu Việt Tiêu nói:
– Nhà ngươi nói khoác làm gì thế,
hãy thử bắn xem nào!
Ðấu Việt Tiêu nghĩ thầm:
– Hắn bắn phát tên này mà trúng, chẳng
kể làm chi, nhược bằng không trúng ta còn sợ nữa, tha hồ cho hắn bắn. Ai ngờ Dưỡng
Do Cơ là người bắn giỏi lắm, trăm phát trúng cả trăm, bấy giờ Dưỡng Do Cơ giả
cách giương cung ra bắn, nhưng tay vẫn giữ lấy tên. Ðấu Việt Tiêu nghe tiếng
dây cung, tưởng là tên đến, mới nghiêng mình tránh về phía tả. Dưỡng Do Cơ nói:
– Tên vẫn còn ở tay tôi, nào đã bắn
đâu! Quan lệnh doãn bảo ai tránh là không giỏi, cớ sao lại tránh?
Ðấu Việt Tiêu nói:
– Còn sợ người ta tránh sao gọi
là bắn giỏi!
Dưỡng Do Cơ lại giả cách giương
cung ra bắn. Ðấu Việt Tiêu lại tránh về phía hữu. Dưỡng Do Cơ thừa lúc Ðấu Việt
Tiêu tránh luôn tay bắn một phát nữa, Ðấu Việt Tiêu không biết tên đến, né
tránh không kịp, mũi tên xuyên qua sọ, chết ngay tại trận. Quân Ðấu Việt Tiêu
thấy chủ tướng đã chết rồi, bỏ chạy tán loạn. Công tử Trắc và công tử Anh Tề
chia đường đuổi theo, giết cho quân Ðấu Việt Tiêu thây chết như núi, máu chảy
thành sông. Con Ðấu Việt Tiêu là Ðấu Bí Hoàng trốn sang nước Tấn, sau vua Tấn
dùng làm quan đại phu, phong cho ở đất Miêu, gọi là Miêu Bí Hoàng. Sở
Trang-vương đã được toàn thắng, thu quân trở về kinh thành, bao nhiêu người họ
Ðấu, bất cứ lớn bé đều đem chém đầu cả, chỉ trừ có con Ðấu Ban là Ðấu Khắc
Hoàng hiện đang làm quan châm doãn, đương phụng mệnh Sở Trang-vương sang sứ nước
Tề. Khi Khắc Hoàng về đến nước Tống, nghe tin Ðấu Việt Tiêu nổi loạn, các người
theo hầu đều can không nên về vội, Ðấu Khắc Hoàng không nghe.
Khi Ðấu Khắc Hoàng về đến kinh
thành nước Sở, vào nói với quan tư khấu xin chịu tội và bảo rằng:
– Tổ phụ ta ngày xưa là Tử Văn đã
biết Ðấu Việt tiêu có tướng làm phản, tất đến nỗi diệt tộc, khi sắp tạ thế, có
dặn thân phụ tôi trốn sang nước khác. Thân phụ tôi nghĩ ơn nước Sở, không nơỏ bỏ
đi, thành ra bị Ðấu Việt Tiêu giết chết. Nay tôi đã cùng họ với kẻ phản nghịch,
lại không theo được lời dặn của tổ phụ tôi, vậy thì còn sống làm gì! Tôi xin chịu
tội chết!
Trang vương nghe nói bèn than rằng:
– Tử Văn ngày xưa thật là thần
nhân! Huống chi lại có công to với nước Sở, nỡ nào lại để cho tuyệt tự!
Nói xong, liền xá tội cho Ðấu Khắc
Hoàng, vẫn cho làm quan, lại cho đổi tên là Ðấu Sinh, nghĩa là đáng chết mà được
sống.
Trang vương khen Dưỡng Do Cơ có
công bắn chết Ðấu Việt Tiêu, cho làm chức xa hữu, nghe nói Ngu Khâu là người hiền,
cho quyền chức lệnh doãn. Sở Trang-vương truyền mở một tiệc đại yến ở trên tiệm
đài, triệu các quan triều thần đến dự tiệc, lại cho cả các phi tần theo đi. Trang
vương bảo triều thần rằng:
– Ta không uống rượu nghe hát, đã
sáu năm trời này, bấy giờ dẹp yên được bọn phản nhgịch rồi, ta xin cùng với các
người bày một tiệc vui gọi là thái bình yến. Phàm các quan viên văn vũ, bất cứ
to nhỏ đều được dự tiệc cả.
Các quan sụp lạy, rồi theo thứ tự
vào ngồi. Chức bào nhân (Người nhà bếp) dâng món ăn, chức thái sử (chức quan
coi việc văn hóa, nghệ thuật) tấu nhã nhạc. Khi mặt trời đã gần lặn, tiệc rượu
còn đang vui, Sở Trang-vương truyền thắp nến lên để uống rượu nữa, lại sai một
cung tần được vua yêu là Hứa Cơ, đi mời khắp các quan mỗi người một chén rượu. Các
quan đều đứng dậy để uống, bỗng có một trận gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên
điện, tắt hết cả. Các nội thị còn đang châm lửa chưa đến. Trong các quan đại
phu, có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, thò tay nắm lấy vạt
áo nàng. Hứa Cơ tay trái dứt vạt áo, tay phải nắm được giải mũ của người ấy. Giải
mũ đứt, người ấy sợ lắm, vội vàng buông tay ra, Hứa Cơ lấy được cái giải mũ, rón
rén đi đến trước mặt Trang vương, ghé tai mà tâu rằng:
– Thiếp vâng mệnh đại vương ra mời
các quan uống rượu, mà có một người vô lễ, dám nhân lúc tắt nến, nắm lấy vạt áo
thiếp, thiếp đã dứt được cái giải mũ của người ấy, xin đại vương thắp nến mà
xem xét xem.
Trang vương vội vàng truyền cho nội
thị chớ thắp nến vội và bảo các quan triều thần rằng:
– Ngày nay ta bày tiệc, mong cùng
các người mua vui, các người nên bỏ cả giải mũ đi, rồi cùng ta uống rượu thật
say. Nếu ai không dứt giải mũ thì chưa được vui lắm.
Các quan triều thần đều dứt bỏ hết
giải mũ. Bấy giờ Trang vương mới thắp nến, thàng ra không biết người nào nắm vạt
áo Hứa Cơ cả. Tiệc xong, trở về trong cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang-vương rằng:
– Thiếp nghe nói nam nữ phải có
phân biệt, huống chi lại là vua tôi. Ðại vương sai thiếp mời các quan uống rượu,
là để tỏ lòng kính trọng các quan, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại
vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa!
Trang vương cười mà bảo rằng:
– Ta bày tiệc rượu này là muốn để
các quan đều được cùng vui, bởi vậy mới sai thắp nến để uống rượu thêm. Rượu
say sinh ra chớt nhả, chẳng qua cũng là thường tình, trị tội một người mà làm
cho các quan không được vui, đó không phải là điều ta muốn!
Hứa Cơ thán phục. Về sau người ta
gọi tiệc rượu ấy là “Tuyệt anh hội” (nghĩa là hội dứt giải mũ). Một hôm, Trang
vương cùng với Ngu Khâu bàn tiệc chính trị, đêm đã khuya, mới trở về cung. Bà
phu nhân là Phàn Cơ hỏi Trang vương rằng:
– Ngày hôm nay trong triều có việc
gì mà đại vương về chậm như vậy?
Trang vương nói:
– Ta cùng vơi Ngu Khâu bàn việc, thành
ra khuya quá mà không biết.
Phàn Cơ nói:
– Ngu Khâu là người hiền ở nước Sở
ta.
Phàn Cơ nói:
– Cứ như ý thiếp thì Ngu Khâu vị
tất là người hiền.
Trang vương hỏi:
– Sao thế?
Phàn Cơ nói:
– Ngu Khâu mỗi lần cùng với đại
vương bàn việc chính trị, thường đến đêm khuya, mà chưa thấy tiến cử một người
nào cả. Cái trí của một người thì có hạn, mà số kẻ sĩ nước Sở thì vô cùng. Ngu
Khâu muốn đem cái trí của một người để che lấp tất cả kẻ sĩ trong thiên hạ sao
gọi là người giỏi được?
Trang vương khen phải. Ngày hôm
sau, đem lời Phàn Cơ thuật lại cho Ngu Khâu nghe. Ngu Khân nói:
– Vậy mà tôi chưa kịp nghĩ đến điều
đó, để tôi xin liệu ngay.
Ngu Khâu liền hỏi khắp triều thần,
xem có ai biết người hiền thì nói. Ðấu Sinh nói với Ngu Khâu rằng:
– Tôi có biết người con của Vĩ Giả
tên gọi Vi Ngao là người hiền. Vi Ngao vì tránh cái nạn Ðấu Việt Tiêu mà đi ẩn ở
Mộng Trạch, người ấy thật có tài làm tướng quốc.
Ngu Khâu vào tâu, Trang vương
nói:
– Vĩ Giả ngày xưa là người trí sĩ
thì con Vĩ Giả tất cũng không phải tầm thường, nếu nhà ngươi không nói, có lẽ
ta quên mất!
Sở Trang-vương bèn sai Ngu Khâu
cùng với Ðấu Sinh đi đến Mộng Trạch để triệu Vĩ Ngao. Nguyên Vĩ Ngao tên tự là
Tôn Thúc, bởi vậy người ta vẫn gọi là Tôn Thúc Ngao. Tôn Thúc Ngao đem mẹ đi
tránh nạn, sang ở Mộng TRạch, làm ruộng nuôi thân. Một hôm, Tôn Thúc Ngao vác
cày ra đồng, thấy ở dưới ruộng có con rắn hai đầu, giật mình kinh sợ mà nói rằng:
– Ta nghe nói con rắn hai đầu là
vật chẳng lành, ai trông thấy nó là chết, ta nguy đến nơi rồi!
Nói đoạn, lại nghĩ thầm rằng:
– Nếu ta để con rắn ấy sống thì
sau này ai trông thấy nó lại bỏ mạng, cho bằng một mình ta đành chịu mà thôi.
Tôn Thúc Ngao nghĩ vậy, mới giơ
cái cày đánh chết con rắn, chôn ở bờ ruộng, rồi trở về nhà khóc với mẹ. Bà mẹ hỏi
cớ làm sao, Tôn Thúc Ngao nói:
– Con nghe nói ai thấy con rắn
hai đầu cũng chết, nay con trông thấy, con lo rằng không sống mà nuôi mẹ được vậy
nên con khóc.
Bà mẹ nói:
– Bây giờ con rắn ở đâu?
Tôn Thúc Ngao nói:
– Con sợ người khác lại trông thấy
nữa, nên đã giết chết mà chôn đi rồi.
Bà mẹ nói:
– Người ta hễ có một niềm thiện ở
trong lòng, trời tất phù hộ cho. Nay con trông thấy con rắn hai đầu, sợ di lụy
đến người khác, giết mà chôn đi, thế là con hơn một niềm thiện nhiều lắm! Con tất
không chết mà lại được phúc nữa.
Mấy hôm sau, bọn Ngu Khâu phụng mệnh
Sở Trang-vương đến triệu Tôn Thúc Ngao. Bà mẹ mới cười mà bảo Tôn Thúc Ngao rằng:
– Ðấy là vì việc con chôn rắn mà
được phút đó!
Tôn Thúc Ngao đem mẹ theo bọn Tôn
Ngu Khâu về kinh thành nước Sở, Sở Trang-vương cùng với Tôn Thúc Ngao nói chuyện
suốt một ngày, lấy làm bằng lòng lắm, mới bảo Tôn Thúc Ngao rằng:
– Tôi mới ở chỗ thảo dã tới đây,
đại vương đã vội giao quyền chính cho, e rằng người ngoài không phục. Vậy tôi
xin theo các quan đại phu.
Trang vương nói:
– Ta đã biết tài nhà ngươi thì
nhà ngươi không nên từ chối.
Tôn Thúc Ngao hai ba lần từ chối
không, mới nhận làm chức lệnh doãn. Tôn Thúc Ngao chỉnh đốn chính trị nước Sở, lập
ra quân pháp, cho Ngu Khâu coi đạo trung quân, công tử Anh Tề coi đạo tả quân, công
tử Trắc coi đạo hữu quân, Dưỡng Do Cơ đạo hữu quảng, Khuất Ðăng coi đạo tả quảng,
hiệu lệnh rất nghiêm, nhân dân được yên ổn, lại đáp đê khơi sông để tiện việc
làm ruộng, dân nước Sở ai cũng ca tụng công đức. Triều thần thấy Trang vương
tin dùng Tôn Thúc Ngao thì lúc đầu không phục, nhưng đến lúc Tôn Thúc Ngao sửa
sang chính trị hẳn hoi rành mạch, mới tấm tắc mà khen rằng:
– Nước Sở có phúc, được người hiền
thần ấy, chẳng kém gì Tử Văn thuở xưa. Tử Văn thuở xưa làm lệnh doãn khiến cho
nước Sở được cường thịnh, nay có Tôn Thúc Ngao, khác nào như Tử Văn sống lại!
Bấy giờ Trịnh Mục công (Lan) mất,
thế tử Di lên nối ngôi, tức là Trịnh Linh-công. Công tử Tống và công tử Quy
Sinh cầm quyền chính nước Trịnh, vẫn bắt cá cả hai tay, chưa biết theo Tấn hay
theo Sở. Sở Trang-vương mới cùng với Tôn Thúc Ngao thương nghị, định đem quân
sang đánh Trịnh. Bỗng nghe tin Trịnh Linh-công bị công tử Quy Sinh giết chết. Sở
Trang-vương bảo Tôn Thúc Ngao rằng:
– Nhân việc này ta đem quân sang
đánh Trịnh, lại càng có cơ lắm!
Công tử Tống nghĩ ghen miếng ăn
Trần Linh-công quá mê sắc đẹp
Công tử Quy Sinh, tên tự là Tử-Gia.
Công tử Tống tên tự là Tử-Công, hai người đều là quý thích (họ hàng thân thích
của vua) ở nước Trịnh. Bấy giờ đang năm đầu Trịnh Linh-công, công tử Tống và
công tử Quy Sinh hẹn nhau cùng vào triều. Bỗng đâu ngón tay trỏ của công tử Tống
tự nhiên rung động. Công tử Tống mới giở ngón tay mình đang rung cho công tử
Quy Sinh xem. Công tử Quy Sinh lấy làm lạ. Công tử Tống nói:
– Bao giờ ngón tay trỏ của tôi
rung động thì thế nào ngày ấy tôi cũng được ăn một món gì lạ. Ngày trước tôi đi
sứ nước Tấn, được ăn thạch hoa ngư (cá), sau sang sứ nước Sở, được ăn thiên nga
(ngỗng), một lần được ăn hợp hoan quất (quýt), ngón tay trỏ đều báo trước, mà lần
nào cũng nghiệm cả. Chưa biết ngày hôm nay được ăn món gì đây!
Khi công tử Tống và công Quy Sinh
vào đến triều môn, thấy nội thị phụng mệnh đi gọi đồ tể gấp lắm. Công tử Tống hỏi
nội thị rằng:
– Nhà ngươi gọi đồ tể có việc gì?
Nội thị nói:
– Có người ở Hán Giang về, mua được
một con giải to lắm, nặng hơn hai trăm cân đem dâng cho chúa công. Chúa công nhận
mà thưởng cho người ấy, bây giờ buộc con giải ở dưới thềm, sai tôi đi gọi người
vào làm thịt, để định bày tiệc thết các quan đại phu.
Công tử Tống nói:
– Ðó tức là một món ăn quý lạ, ngón
tay trỏ của ta rung động quả là có nghiệm.
Khi vào đến trong triều, trông thấy
ở chân cột dưới thềm có buộc một con giải thật to, hai người cứ nhìn nhau mà cười.
Ðến lúc yết kiến Trịnh Linh Công, nét mặt hai người vẫn còn hớn hở. Trịnh Linh-công
hỏi:
– Hai người hôm nay có sự gì mà
vui mừng như vậy?
Công tử Quy Sinh nói:
– Lúc công tử Tống cùng với tôi sắp
vào triều thì ngón trỏ rung động, công tử Tống có nói: hễ ngón tay trỏ rung động
thì bao giờ cũng được ăn món gì quý lạ. Nay trông thấy dưới thềm có buộc con giải
to, chắc là thế nào chúa công ngự tiệc, cũng có gia ân đến chúng tôi, vậy nên
chúng tôi buồn cười.
Trịnh Linh-công nói đùa rằng:
– Nghiêm hay không, việc ấy còn
tùy ở ta.
Khi tan triều về, công tử Quy
Sinh bảo công tử Tống rằng:
– Miếng ngon dẫu có, nhưng nếu
chúa công triệu nhà ngươi thì làm thế nào?
Công tử Tống nói:
– Ðã bày tiệc để thết các quan, có
lẽ nào lại quên ta được!
Ðến lúc ngự tiệc, nội thị đi triệu
khắp cả các quan đại phu. Công tử Tống hớn hở vào triều trông thấy công tử Quy
Sinh. Liền cười mà bảo rằng:
– Tôi vẫn chắc rằng chúa công thế
nào cũng triệu tôi.
Ðược một lúc, các quan đều đến cả.
Trịnh Linh-công mời ngồi, rồi bảo các quan rằng:
– Thịt giải là một món ăn quý lạ,
ta không dám ăn một mình, xin cùng với các ngươi cùng uống rượu.
Các quan cùng nói:
– Chúa công có của ngon vật lạ
gì, cũng nhớ đến chúng tôi, chúng tôi biết lấy gì mà báo đền cho được.
Nhà bếp đem món thịt giải dâng
lên Trịnh Linh-công trước. Trịnh Linh-công nếm mà khen ngon,rồi sai người ban
cho các quan mỗi người một bát thịt giải và một đôi đũa ngà, mà đưa từ bàn dưới
lên đến bàn trên. Khi đưa đến bàn nhất, bàn nhì thì chỉ có một bát thịt giải, nhà
bếp bèn tâu với Linh công rằng:
– Thịt giải hết cả rồi, chỉ còn một
bát, chúa công dạy đưa cho ai?
Trịnh Linh-công nói:
-Ðưa cho Tử Gia (tức là công tử
Quy Sinh).
Nhà bếp đêm bát thịt giải đưa đến
trước mặt công tử Quy Sinh. Linh công cười rầm lên mà bảo rằng:
– Ta định ban khắp cho các ngươi
mà lại thiếu một mình Tử-công (tức là công tử Tống). Thế là số Tử Công không được
ăn thịt giải. Ngón tay trỏ sao gọi là nghiệm được.
Nguyên Linh công cố ý truyền cho
nhà bếp nấu thiếu đi một bát thịt giải đế chứng tỏ rằng ngón tay trỏ của công tử
Tống không nghiệm, cốt ý gây nên một câu chuyện cười. Ai ngờ công tử Tống đã
trót nói khoát với công tử Quy Sinh, ngày nay thấy các quan đều được ăn cả, mà
mình không được ăn, thẹn quá hóa giận, mới chạy thẳng đến trước mặt Linh công, thò
ngay tay vào bát thịt giải của Linh Công, vớt lấy một miếng cầm ăn, vừa ăn vừa
nói:
– Tôi đã được ăn rồi, có phải
ngón tay trỏ của tôi không nghiệm đâu!
Nói xong, tức khắc lui ra. Trịnh
Linh-công nổi giận, ném đũa xuống mà rằng:
– Công tử Tống vô lễ, dám khinh
ta như vậy, hay là cho nước Trịnh không có lưỡi gươm sắc chém được đầu hắn
chăng!
Bọn công tử Quy Sinh đều sụp lạy
mà tâu rằng:
– Công tử cậy tình thân thuộc, muốn
được thừa huệ chúa công, có phải dám vô lễ đâu, xin chúa công tha lỗi cho.
– Linh công hầm hầm tức giận. Các
quan đều mất vui mà tan về cả. Công tử Quy Sinh tức khắc đến nhà công tử Tống
mà bảo rằng:
– Ngày hôm nay chúa công tức giận
lắm, sáng mai công tử nên vào triều xin lỗi.
Công tử Tống nói:
– Hễ mình khinh người thì người
ta cũng khinh mình, dẫu ai cũng vậy, nay chúa công khinh tôi trước, lại còn
trách nỗi gì!
Công tử Quy Sinh nói:
– Ðã đành rằng thế, nhưng theo lễ
vua tôi thì công tử nên tạ mới phải.
Ngày hôm sau, hai người lại cùng
vào triều. Công tử Tống cũng đứng trong bạn mình mà làm lễ, nhưng không tỏ ra hối
hận sợ hãi chút nào, đến nỗi công tử Quy Sinh không an tâm mới tâu với Linh
công rằng:
– Công tử Tống sợ chúa công quở
trách, nay đến tạ tội nhưng sợ quá không nói nên lời, xin chúa công khoan dung
cho.
Trịnh Linh-công nói:
– Ta sợ có lỗi với Tử Cống chứ Tử
Cống có sợ có lỗi với ta đâu!
Nói xong, tức thì vùng vằng đứng
dậy. Khi tan triều trở về, công tử Tống mời công tử Quy Sinh đến nhà mà bảo rằng:
– Chúa công giận ta lắm, thế nào
cũng trị tội ta, chi bằng ta nổi loạn mà giết ngay chúa công đi thì mới khỏi chết
được.
Công tử Quy Sinh lấy tay bịt tai
mà bảo công tử Tống rằng:
– Chết nỗi! Giống vật mình nuôi
lâu ngày, mình còn chẳng nỡ giết, huống chi là vua một nước, sao công tử lại
nói hồ đồ như vậy!
Công tử Tống nói:
– Ta nói bỡn đó thôi, xin chớ tiết
lộ cho người khác biết.
Công tử Quy Sinh cáo từ trở về. Công
tử Tống dò biết công tử Quy Sinh cùng với em Trịnh Linh-công là công tử Khứ Tật
chơi bời thân thiết lắm, mới đặt điều nói ngay giữa triều đường rằng:
– Tử Gia (tên tự công tử Quy
Sinh) cùng với Tử Lương (tên tự công tử Khứ Tật) hai người ngày đêm bàn nhau, không
biết định làm việc gì! E rằng việc ấy rất nguy hiểm cho nước Trịnh ta!
Công tử Quy Sinh vội vàng nắm lấy
tay công tử Tống dắt đến chỗ vắng người mà bảo rằng:
-Sao công tử lại nói như vậy?
Công tử Tống nói:
– Nhà ngươi không đồng mưu với
ta, thế nào ta cũng khiến nhà ngươi chết trước ta một ngày!
Công tử Quy Sinh vốn người nhu
nhược, không dám quyết đoán, nghe lời công tử Tống nói, sợ hãi mà hỏi rằng:
– Nhà ngươi định làm thế nào?
Công tử Tống nói
-Chúa công vô đạo, xem một việc
chia thịt giải này thì đủ biết. Nếu làm xong đại sự, thì ta cùng nhà ngươi lập
công tử Tử Lương (tức là công tử Khứ Tật) lên làm vua, rồi cầu thân với Tấn mà
giữ lấy nước nhà.
Công tử Quy Sinh nghĩ ngợi hồi
lâu rồi đáp lại rằng:
– Thôi, mặc công tử muốn làm gì
thì làm, ta cũng không tiết lộ cho ai biết cả.
Công tử Tống liền tụ hợp trong
nhà, nhân khi Linh công đi làm lễ thu tế, bèn đem nhiều tiền bạc đút lót cho thị
vệ, nửa đêm lẻn vào chỗ vua ngủ ở trai cung, lấy cái bị đất đè lên mình mà giết
đi rồi nói dối là Linh công bị bệnh trúng áp. Công tử Quy Sinh biết việc ấy mà
không dám nói ra. Ngày hôm sau, công tử Quy Sinh và công tử Tống bàn nhau lập
công tử Khứ Tật lên làm vua. Công tử Khứ Tật kinh sợ, từ chối rằng:
– Tiên quân ta có tám người con. Nếu
định lập người hiền, thì tôi không có tài đức gì cả, mà định lập người nhiều tuổi
thì đã có công tử Kiên. Tôi dầu chết thì thôi, chứ không dám quá phận như vậy!
Bấy giờ công tử Quy Sinh và công
tử Tống mới lập công tử Kiên lên làm vua, tức là Trịnh Tương-công. Nguyên Trịnh
Mục-công thuở xưa có cả thảy mười ba người con. Trịnh Linh-công bị giết, Trịnh
Tướng-công nối ngôi làm vua. Còn mười một người con nữa là: 1.Công tử Khứ Tật, tên
tự là Tử Lương; 2.Công tử Hỷ, tên tự là Tử Hán; 3.Công tử Phi, tên tự là Tử Tứ;
4.Công tử Phát, tên tự là Tử Quốc; 5.Công tử Gia, tên tự là Tử Khổng; 6.Công tử
Yến, tên tự là công tử Du; 7.Công tử Phú,tên tự là Tử Ấn; 8.Công tử Phong; 9.Công
tử Vũ; 10.Công tử Nhiên; 11.Công tử Chí.
Trịnh Linh-công ghét các em hay
bè phái, chỉ sợ ngày sau sinh biến, mới bàn riêng với công tử Khứ Tật, định để
một mình Khứ Tật ở nhà, còn thì đuổi hết các em đi sang các nước khác. Công tử
Khứ Tật nói:
– Tiên quân ta thuở xưa, lúc mới
sinh ra, có ứng vào cái mộng cành lan, đó là điềm họ ta sẽ được hưng thịnh. Anh
em trong một nhà cũng ví như cái cây có cành có lá, nếu đem cắt bỏ cành lá đi
mà để cho gốc rễ trơ trọi thì chắc cái cây ấy chẳng bao lâu cũng đến khô héo. Nay
chúa công bao dung được các em thì thôi, nhược bằng không bao dung được mà phải
đuổi đi thì tôi cũng xin đi, chớ nỡ đâu một mình ở lại, mai sau còn mặt mũi nào
trông thấy tiên quân ở dưới suối vàng nữa.
Trịnh Linh-công nghe nói cảm động,
mới cho cả mười một người em đều ở lại làm quan đại phu, cùng cầm quyền chính. Công
tử Tống sai sứ giao kết với nước Tấn, để nhờ che chở cho nước Trịnh. Năm sau, Sở
Trang-vương sai công tử Anh Tề làm tướng, đem quân sang đánh Trịnh, và hỏi nước
Trịnh rằng:
– Sao nước Trịnh dám giết vua?
Nước Tấn sai Tuần Lâm Phủ đem
quân sang cứu Trịnh. Nước Sở mới rút quân về đánh nước Trần.
Năm thứ ba đời Chu Ðịnh-vương, quan
thượng khanh nuớc Tấn là Triệu Thuẫn mất, Khước Khuyết thay làm trung quân
nguyên soái nghe nói nước Trần cùng với nước Sở giảng hòa, liền tâu với Tấn
Thành-công, sai Tuân Lâm Phủ theo Tấn Thành-công, đem quân bốn nước Tống, Vệ, Trịnh,
Tào kéo sang đánh nước Trần. Tấn Thành-công đi đến nửa đường thì bị bệnh mà chết.
Tuân Lâm Phủ liền rút quân về, rồi lập thế tử Nho lân làm vua, tức là Tấn Cảnh-công.
Năm ấy Sở Trang-vương đánh Trịnh, đóng quân ở đất Liễu Phân (đất nước Trịnh). Khước
Khuyết đem quân sang cứu Trịnh, lẻn đánh quân Sở. Quân Sở bị thua, người nước
Trịnh ai cũng mừng rỡ, chỉ có một mình công tử Khứ Tật là sắc mặt lo âu. Trịnh Tương-công
lấy làm lạ liền hỏi. Công tử Khứ Tật nói:
– Nước Tấn đánh được quân Sở, chẳng
qua là gặp may mà thôi. Tôi chỉ sợ quân Sở căm tức mà lại sang đánh Trịnh, đóng
quân ở phía Bắc sông Ðĩnh Thủy. Gặp bấy giờ công tử Quy Sinh bị bệnh chết, công
tử Khứ Tật mới truy cứu cái tội nếm thịt giải khi trước, mà giết công tử Tống,
đem phanh thây ở trong triều, lại đẽo áo quan của công tử Quy Sinh và đuổi gia
quyến đi nơi khác, rồi sai sứ sang tạ tội với Sở Trang-vương rằng:
– Nước tôi có kẻ phản nghịch là
công tử Quy Sinh và công tử Tống, nay đã trị tội cả rồi, vậy chúa công tôi xin
theo vua Trần cùng sang ăn thề mà qui phụ thượng quốc.
Sở Trang-vương thuận cho, định họp
vua Trần và vua Trịnh cùng ăn thề ở đất Thần Lăng, bèn sai sứ sang ước hẹn với
vua Trần. Sứ giả ở nước Trần về, nói rằng vua Trần bị quan đại phu là Hạ Trung
Thư giết chết, trong nước đại loạn. Nguyên Trần Linh-công là con Trần Cung-công
vốn người lẳng lơ biếng nhác, không có uy nghi gì cả, lại ham mê tửu sắc, chẳng
thiết gì đến chính sự, tin dùng hai quan đại phu là Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ.
Hai người ấy đều một phường tửu sắc, bởi vậy vua tôi ý hợp tâm đầu, nói cười
đùa bỡn, rất là chớt nhả, không còn e lệ gì nữa!
Bấy giờ trong triều có một người
hiền thần là Tiết Giả, trung thực dám nói thẳng, Trần Linh-công vẫn có ý nể sợ.
Lại có quan đại phu là Hạ Ngự Thúc. Nguyên người cha Hạ Ngự Thúc là công tử Thiếu
Tây (con Trần Ðịnh-công), tên tự là Tử Hạ, bởi vậy Ngự Thúc dùng chữ Hạ làm họ,
gọi là Hạ Ngự Thúc, vẫn nối đời làm quan tư mã nước Trần, ăn lộc ở đất Châu
Lâm. Hạ Ngự Thúc lấy con gái Trịnh Mục-công làm vợ, gọi là nàng Hạ Cơ, mắt phượng
mày ngài, môi son má phấn, dáng dấp đã chẳng kém gì Ly Cơ, Tức Vĩ, lẳng lơ lại
có phần hơn Ðắc Kỷ, Văn Khương, ai trông thấy cũng phải tâm thần mê mẩn. Hạ Cơ
lại còn một câu chuyện ly kỳ nữa là: Năm mới mười lăm tuổi, nằm mộng thấy một
chàng đẹp trai, mũ ngọc áo lông, tự xưng là thượng giới thiên tiên, cùng với Hạ
Cơ giao hợp, rồi dạy Hạ Cơ những phép hấp tinh đạo khí, để thỏa thích lòng người
trong khi giao tiếp.
Khi Hạ Cơ chưa lấy chồng, đã tư
thông với anh là công tử Man (thứ huynh của Trịnh Linh-công), chưa được ba năm
thì công tử Man ốm quặt quẹo rồi chết non, sau lấy Hạ Ngự Thúc, sinh được một
người con trai tên gọi là Hạ Trưng Thư. Hạ Trưng Thư tên tự là Tử Nam, năm mười
hai tuổi thì cha là Hạ Ngự Thúc ốm chết. Hạ Cơ thường có ngoại tình, mới để Hạ
Trưng Thư ở trong thành theo thầy học tập, còn mình thì về ở đất Châu Lâm. Khổng
Ninh và Nghi Hàng phủ nguyên trước là bạn đồng liêu với Hạ Ngự Thúc, trông thấy
Hạ Cơ đẹp, vẫn có ý nom dòm. Hạ Cơ có một con thị nữ tên gọi là Hà Hoa là người
rất tinh quái, vốn đã hiểu biết tính chủ. Một hôm Khổng Ninh cùng với Hạ Trưng
Thư đi săn, nhân tiện đến Châu Lâm, rồi ở chơi ngủ lại ở đấy, Khổng Ninh chịu
phí tâm cơ, mật kết cùng Hà Hoa, tặng một cành trâm và nhờ nói hộ với chủ, bởi
thế mới cùng Hạ Cơ tư thông.
Khổng Ninh lại lấy trộm cái quần
trong bằng gấm của Hạ Cơ đem ra khoe với Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cũng thèm
thuồng, mới đem tiền của bàn mưu với Hà Hoa, để nhờ tiến dẫn hộ. Hạ Cơ xưa nay
trông thấy Nghi Hàng Phủ là người vóc dáng cao lớn, mặt mũi phương phi, cũng đã
có lòng thích, mới bảo Hà Hoa mời đến. Nghi Hàng Phủ khéo làm cho Hạ Cơ được bằng
lòng, bởi vậy được Hạ Cơ yêu hơn Khổng Ninh. Nghi Hàng Phủ bảo Hạ Cơ rằng:
– Ngày trước quý nương có cho Khổng
Ninh một cái quần gấm, nay đã có lòng yêu tôi, cũng nên cho tôi cái gì để kỷ niệm.
Hạ Cơ cười mà bảo rằng:
– Cái quần gấm ấy là hắn lấy trộm
của thiếp, chứ không phải thiếp tặng cho đâu.
Hạ Cơ lại ghé tai bảo nhỏ Nghi
Hàng Phủ rằng:
– Dẫu nằm cùng giường với nhau, nhưng
cũng có kẻ hậu người bạc chứ!
Nói xong, liền cởi cái áo cánh bằng
lụa đưa tặng Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ bằng lòng lắm, từ bấy giờ hai người lại
càng thân mật, còn Khổng Ninh thì mỗi ngày Hạ Cơ một nhạt dần. Vì Khổng Ninh
khi trước có đem cái quần gấm của Hạ Cơ khoe khoang với Nghi Hàng Phủ, sau Hàng
Phủ được cái áo cánh của Hạ Cơ, lại đem khoe với Khổng Ninh. Khổng Ninh hỏi
chuyện Hà Hoa, biết là Nghi Hàng Phủ cùng với Hạ Cơ thân mật lắm, mới sinh lòng
ghen ghét định tìm kế để phá. Khổng Ninh nghĩ thầm rằng:
– Chúa công cũng là người dâm dục,
nghe đồn Hạ Cơ đẹp, vẫn có lòng mơ ước, đã nhiều lần nói đến, chỉ tiếc rằng cờ
chẳng đến tay, chi bằng ta dắt chúa công đến, tất nhiên chúa công phải ơn ta. Vả
chúa công có bệnh hôi nách, chắc là Hạ Cơ cũng không ưa, bấy giờ ta thừa cơ mà
hưởng chung cuộc vui thú, khiến Nghi Hàng Phủ phải nhạt bớt đi một vài phần, cho
thỏa tấm lòng căm tức của ta, ấy chính là diệu kế đó!
Khổng Ninh bèn lẻn vào yết kiến
Trần Linh-công, nhân khi đàm luận, nói đến chuyện Hạ Cơ là người đẹp, thiên hạ
không ai bằng. Linh công nói:
– Ta cũng nghe đồn từ lâu, nhưng
năm nay chắc nàng đã gần bốn mươi tuổi, e rằng hoa đắc tháng ba, còn gì là xuân
nữa!
Khổng Ninh nói:
– Hạ Cơ khéo giữ nhan sắc lắm, năm
nay vẫn còn như con gái mười lăm tuổi, và am hiểu cái thuật trong phòng, giao
tiếp rất thần diệu.
Linh công bấy giờ lửa dục nổi lên
ngùn ngụt, sắc mặt đỏ bừng, bảo Khổng Ninh rằng:
– Nhà ngươi có kế gì khiến cho ta
được đi lại với Hạ Cơ thì ta không dám quên ơn.
Khổng Ninh nói:
– Hạ Cơ nhà ở Châu Lâm. Chỗ ấy
nhiều cây cối, phong cảnh rất đẹp, sáng mai chúa công giả cách ra chơi Châu
Lâm, tât thế nào Hạ Cơ cũng phải nghênh tiếp. Hạ Cơ có một con thị nữ, tên gọi
Hà Hoa, cũng khá thông thạo việc tình, để tôi xin đem ý chúa công bảo nó khéo
nói với Hạ Cơ, chắc thế nào cũng xong chuyện.
Linh công cười mà bảo rằng:
-Việc này ta tin cậy ngươi đó!
Ngày hôm sau, Trần Linh-công truyền
thẳng ngựa xe ra chơi Châu Lâm, cho quan đại phu là Khổng Ninh đi theo. Khổng
Ninh sai người đưa tin trước cho Hạ Cơ để sửa tiệc sẵn, lại tỏ ý cho con Hà Hoa
biết, bảo nó nói với Hạ Cơ. Linh công đến Châu Lâm. Hạ Cơ mặc lễ phục ra rước
vào trong nhà rồi sụp lạy mà tâu rằng:
– Con trai thiếp là Hạ Trưng Thư
đi trọ học vắng nhà, không biết chúa công tới đây, vậy nên không kịp nghênh tiếp,
xin chúa công tha lỗi.
Giọng nói thỏ thẻ như tiếng chim
oanh, nghe rất êm tai! Linh công thấy Hạ Cơ nhan sắc chẳng khác gì một vị thiên
tiên, bọn phi tần trong cung ít ai bì kịp, mới bảo Hạ Cơ rằng:
– Thôi ta miễn lễ cho quý nương, ta
nghe nói quý nương ở đây có cái vườn hoa đẹp, vậy ta muốn vào xem một chút. Hạ
Cơ nói:
– Từ khi phu quân tạ thế đi rồi, cái
vườn này bỏ hoang, không ai quét dọn, thiếp xin cáo tội trước với chúa công.
Hạ Cơ ứng đối rất lưu loát. Trần
Linh-công càng thêm có lòng yêu mến, truyền cho Hạ Cơ cởi bỏ lễ phục ra, để đưa
vào ngoạn cảnh ở vườn hoa. Hạ Cơ bỏ lễ phục ra, bên trong lại mặc có một bộ quần
áo thường rất nhã đạm, trông khác nào như đóa hoa lê ở dưới bóng trăng, chùm
mai nhị ở trong đám tuyết, ưa nhìn biết nhường nào! Hạ Cơ đưa Linh công vào chốn
hậu viên. Vườn dẫu chẳng lấy gì làm rộng lắm, nhưng có đủ hoa tươi lá lạ, cây đẹp
cỏ thơm, một dòng nước chảy quanh, mấy gian nhà thủy tạ, khoảng giữa lại có hiên
cao, tức là chỗ yến khách, hai đầu có hai dãy nhà, lối đi thông vào nội tẩm. Phía
trong nữa có một chuồng ngựa, còn về phía tây vườn có một chỗ đất bỏ không, để
làm chỗ tập bắn.
Linh công còn đang ngoạn cảnh thì
trong hiên đã bày một bàn tiệc thịnh soạn. Hạ Cơ bưng chén rượu đứng mời. Trần
Linh-công cho ngồi hầu ở bên cạnh. Hạ Cơ khiêm nhượng không dám vào ngồi. Linh
công nói:
– Có lẽ nào chủ nhân lại không ngồi!
Thôi thì hôm nay ta hãy miễn lễ vua tôi cho, cứ ngồi lại uống rượu cho vui.
Linh công truyền cho Khổng Ninh
ngồi bên hữu, Hạ Cơ ngồi bên tả. Trong khi uống rượu, Linh công cứ nhìn Hạ Cơ
chòng chọc, mắt không hề chớp. Hạ Cơ cũng liếc mắt đưa tình. Linh công nhân lúc
tửu hứng, lại càng si tình. Khổng Ninh ở bên cạnh tán tụng thêm vào, làm cho
Linh công tấm lòng phơi phới, rượu uống vào mãi mà không thấy nhiều! Mặt trời
đã lặn về tây, người nhà thắp nến, lại uống một chập nữa, Linh công say quá, nằm
gục xuống đấy mà ngủ, tiếng ngáy khè khè. Khổng Ninh bảo riêng với Hạ Cơ rằng:
– Chúa công hâm mộ nhan sắc của
quí nương, ngày nay tới đây, tìm cuộc truy hoan, quý nương chớ nên trái ý.
Hạ Cơ mỉm cười, không nói gì cả. Khổng
Ninh tức khắc truyền cho quân sĩ đều ra ngoài yên nghỉ. Hạ Cơ sửa soạn gối thêu
mền gấm, lại tắm gội sạch sẽ để chờ khi vua ngự. Bấy giờ chỉ để có thị nữ Hà
Hoa đứng hầu ở cạnh Linh công. Ðược một lúc, Linh công tỉnh rượu, mở mắt nhìn, trông
thấy Hà Hoa, liền hỏi:
– Ai đấy?
Hà Hoa quỳ xuống mà tâu rằng:
– Tiện tì tên gọi Hà Hoa, phụng mệnh
chủ mẫu cho ra đây hầu hạ chúa công.
Nói xong, liền dâng một chén nước
mai thang để giã rượu.
Trần Linh-công hỏi:
– Nước mai thang này, ai nấu mà
khéo nhỉ?
Hà Hoa nói:
– Tâu chúa công, nước mai thang
là do tiện tì nấu.
Trần Linh-công nói:
– Nhà ngươi biết nấu mai thang, vậy
thì nhà ngươi biết làm mối cho ta không?
Hà Hoa giả cách không hiểu mà đáp
rằng:
– Tiện tì đây không quen làm mối,
nhưng cũng xin hết lòng, chẳng hay chúa công để ý đến người nào?
Trần Linh-công nói:
– Ta vì chủ mẫu nhà ngươi mà ruột
gan rối loạn. Nếu nhà ngươi giúp ta được thì ta sẽ trọng thưởng.
Hà Hoa nói:
– Chủ mẫu tôi phận hèn, sợ không
đáng hầu quý nhân, nếu chúa công có lòng nghĩ đến thì tiện tì xin đưa vào. Linh
công mừng lắm, sai Hà Hoa cầm đèn lồng để dẫn lối. Ðường đi khuất khúc, rồi vào
đến phòng ngủ của Hạ Cơ. Hạ Cơ đang ngồi một mình ở dưới bóng đèn ngẩn ngơ chờ
đợi, bỗng nghe tiếng giầy, toan hỏi xem ai thì Linh công đã bước vào đến trong
cửa. Hà Hoa cầm đèn quay ra. Linh công không nói năng gì, ẵm Hạ Cơ vào màn cùng
nằm. Trong khi ân ái thấy chẳng khác gì gái tơ, Linh công lấy làm lạ, liền hỏi.
Hạ Cơ nói:
– Thiếp có phép nội thị, sau khi
sanh đẻ cũng chẳng qua chỉ ba ngày thì đã lại nguyên cũ. Linh công khen rằng:
– Ta được gặp quý nương, chẳng
khác gì được gặp thiên tiên.
Sức Linh công, đã không bằng Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ, hơi hám lại không được thơm tho, chỉ vì là ông vua một
nước, nên Hạ Cơ cũng ham lợi mà không quản ngại, chiều chuộng đủ điều trong khi
cùng giường cùng gối. Linh công thấy vậy, cho là một sự gặp gỡ ít có. Gần đến
gà gáy, Hạ Cơ giục Linh công trở dậy. Linh công nói:
– Ngày nay ta được gần gụi ái
khanh, nghĩ lại bọn phi tần, không khác gì đất bùn. Chẳng hay ái khanh có nghĩ
đến ta chút nào không?
Hạ Cơ ngờ Linh công đã biết việc
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đi lại với mình, mới nói với Linh công rằng:
– Xin nói tình thực với chúa
công, từ khi phu nhân thiếp tạ thế đi rồi, thiếp không tự chế được mình, cũng
có đi lại với người khác, nay đã được hầu hạ chúa công thì từ bây giờ trở đi, thiếp
không dám tiếp ai nữa!
Linh công nói:
– Ái khanh xưa nay giao tiếp những
ai, nên kể thực cho ta biết, can chi mà phải giấu diếm?
Hạ Cơ nói:
– Hai quân đại phu là Khổng Ninh
và Nghi Hàng Phủ vì cớ đi lại trông nom đứa con nhỏ của thiếp, thành ra có cùng
thiếp dan díu, ngoài ra không có một ai.
Linh công cười mà bảo rằng:
– Thảo nào mà Khổng Ninh cứ khen
cái tài tiếp của ái khanh. Nếu chưa trải qua sao có biết được!
Hạ Cơ nói:
– Tiện thiếp biết tội đã nhiều, xin
chúa công thứ cho.
Linh công nói:
– Khổng Ninh có cái công tiến dẫn
ái khanh, ta còn nhớ ơn, ái khanh chớ ngại. Ta chỉ ước ao được cùng ái khanh đi
lại lâu dài, còn thì mặc ái khanh, ta chẳng cấm làm gì!
Hạ Cơ nói:
– Chúa công cứ thường thường đi lại
thì có khó gì chẳng được lâu dài với nhau.
Linh công trở dậy. Hạ Cơ cởi cái
áo lót mình, mặc vào cho Trần Linh-công mà nói rằng:
– Mỗi lúc chúa công trông thấy
cái áo này cũng như trông thấy tiện thiếp.
Hà Hoa lại cầm đèn lồng đưa Linh
công theo lối cũ ra ngoài hiên. Sáng hôm sau, Hạ Cơ mời Linh công lên nhà trên
để ngự cơm sáng. Cơm xong. Khổng Ninh lại theo Linh công về triều. Các quan đều
hợp cả ở triều môn chờ đợi. Linh công truyền cho miễn triều, rồi đi thẳng vào
trong cung. Nghi Hàng Phủ nắm lấy áo Khổng Ninh, cố hỏi xem tối hôm trước Linh
công ngủ ở đâu. Khổng Ninh không thể giấu được, mới phải nói thật cả.
Nghi Hàng Phủ biết là Khổng Ninh
tiến dẫn, mới giẫm chân xuống đất mà gắt rằng:
– Món tốt như thế, sao lại nhường
cho người ta hưởng một mình!
Khổng Ninh nói:
– Chúa công lấy làm đắc ý lắm! Lần
sau thì đến phần nhà ngươi, có gì mà lo!
Hai người cười sằng sặc rồi trở về.
Ngày hôm sau, Linh công ra triều, đợi lúc quan đã tan về cả, mới gọi Khổng Ninh
đến trước mặt mà tạ ơn tiến dẫn Hạ Cơ, lại gọi Nghi Hàng Phủ vào mà hỏi rằng:
– Có ái thú như thế mà không tâu
với ta, hai người lại hưởng trước là nghĩa làm sao?
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đồng
thanh tâu rằng:
– Thần đằng quả không gì cả!
Linh công nói:
– Chính Hạ Cơ đã thú với ta như vậy,
các người lại còn giấu diếm làm gì!
Khổng Ninh nói:
– Thí dụ như một món ăn, bày tôi
phải nếm trước, nếu nếm mà không thấy ngon thì không dám tiến dâng.
Linh công cười mà bảo rằng:
– Thí dụ như món chân gấu (là món
ăn ngon nhất trong các món ăn của Trung quốc) thì nhường cho ta ăn trước cũng
được chứ sao!
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đều
bưng miệng cười, Linh công lại nói:
– Ta cùng hai người dẫu đều đều
đi lại với nàng, nhưng riêng với ta, nàng có tặng một vật để làm kỷ niệm.
Nói xong, liền vạch cái áo lót
mình cho Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ xem mà bảo rằng:
– Mỹ nhân cho ta đấy, hai người
có được không?
Khổng Ninh nói:
– Tôi cũng có!
Linh công hỏi:
– Nàng tặng nhà ngươi cái gì?
Khổng Ninh vén áo, để lộ cái quần
gấm, rồi nói với Linh công rằng:
– Hạ Cơ tặng cho tôi đấy! Chẳng
những tôi có, Nghi Hàng Phủ cũng có.
Linh công lại hỏi Nghi Hàng Phủ. Nghi
Hàng Phủ cởi cái áo cánh lụa đưa trình Linh công. Linh công bật cười mà nói rằng:
– Ba ta người nào cũng đều có một
vật tùy thân để làm tang chứng, ngày khác đi ra Châu Lâm, có thể cùng nhau mở đại
hội “liên sàng” được đấy!
Một vua và hai bày tôi, đùa bỡn
nhau ở chốn triều đường, tiếng đồn đến ngoài, làm cho một vi trung thần nghiến
răng nghiến lợi mà kêu rằng:
– Triều đình là chỗ phép tắc kỷ
cương mà nhảm nhí như vậy thì cơ mất nước đến nơi rồi!
Nói xong, liền đi thẳng vào triều
để đem lời can ngăn.
Sở Trang-vương trở lại đất Trần
Tấn Cảnh-công đem quân đánh Trịnh
Trần Linh-công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đem những đồ vật của Hạ Cơ tặng cho, đùa bỡn với nhau ở chốn triều đường. Quan đại phu là Tiết Giã nghe nói, liền vào triều để định can Linh công. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vốn sợ Tiết Giã là người chính trực, nay thấy vua không triệu mà Tiết Giã đến, biết là Tiết Giã có ý muốn đem lời can ngăn, mới cáo từ Linh công mà lui ra. Tiết Giã rảo đến trước mặt, nắm lấy vạt áo Linh công, rồi quỳ xuống mà tâu rằng:
– Tôi nghe nói vua tôi phải lễ
nghĩa, nam nữ phải có phân biệt, nay vua tôi dắt nhau đi dâm loạn, lại đem chuyện
ấy khoe khoang ở chốn triều đường, không còn một mảy may liêm sỉ nào cả. Ðó là
cái nguy cơ mất nước, xin chúa công hãy nghĩ lại.
Trần Linh-công thẹn toát mồ hôi
ra, lấy áo che mặt mà nói rằng:
– Nhà ngươi bất tất phải nói lắm,
ta đã biết hối rồi!
Tiết Giã cáo từ lui ra. Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ đứng ở ngoài cửa, trong thấy Tiết Giã hầm hầm nổi giận mà
lui ra, thì lẩn vào trong đám đông người để tránh. Tiết Giã trông thấy, gọi Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ lại mà trách rằng:
– Vua có điều thiện, bề tôi nên
bày ra, vua có điều bất thiện, bề tôi nên dấu đi. Nay hai người đã xui vua làm
điều bất thiện, mà lại còn nói ra, nhân dân ai cũng biết cả, thì còn ra thể thống
gì, sao hai ngươi không biết xấu hổ!
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ không
biết nói sao, chỉ vâng dạ và chịu lỗi. Tiết Giã đi khỏi, Khổng Ninh và Nghi
Hàng Phủ vào yết kiến Linh công, thuật lại những lời nói của Tiết Giã và tâu với
Linh công rằng:
– Từ nay trở đi, chúa công chớ đi
chơi Châu Lâm nữa!
Linh công nói:
– Vậy thì hai người có đi hay
không?
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nói:
– Tiết Giã chỉ cốt can chúa công,
chứ có việc gì đến chúng tôi. Vậy thì chúng tôi đi được, mà chúa công không nên
đi.
Linh công hăng hái nói rằng:
– Thà rằng ta mất lòng Tiết Giã,
chứ đời nào lại chịu bỏ nơi vui thú ấy!
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại
tâu rằng:
– Nếu chúa công lại đi nữa thì
không khỏi Tiết Giã làm rầy rà lôi thôi, biết làm thế nào?
Linh công nói:
– Hai người có kế gì mà khiến Tiết
Giã đừng nói nữa không?
Khổng Ninh nói:
– Nếu muốn cho Tiết Giã đừng nói
thì chỉ có một cách khiến hắn không mở miệng ra được.
Linh công cười mà nói rằng:
– Hắn có miệng thì hắn nói, ta
dùng cách gì mà khiến cho hắn không mở miệng ra được.
Nghi Hàng Phủ nói:
– Tôi hiểu câu nói của Khổng Ninh
rồi! Người ta chết thì không mở miệng ra được, sao chúa công không hạ lệnh giết
chết Tiết Giã đi thì có phải được vui thú suốt đời hay không?
Linh công nói:
– Ta giết hắn thế nào được?
Khổng Ninh nói:
– Hay là dể tôi sai một người
rình mà đâm chết hắn đi!
Linh công nói:
– Nhà ngươi cứ làm!
Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ cáo từ
lui ra, rồi bàn nhau đem tiền của thuê thích khách đứng rình ở một chỗ hẻo lánh
đợi Tiết Giã vào triều đi qua, giết chết Tiết Giã. Người nước Trần thấy vậy,
cho là Trần Linh-công sai người giết, chứ không biết rằng đó là âm mưu của Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ. Tiết Giã chết rồi, vua tôi lại càng không kiêng nể gì nữa,
lâu lâu lại rủ nhau ra chơi Châu Lâm. Trước còn giấu giếm, sau lâu ngày quen
thói, công nhiên ra chơi chẳng nghĩ gì đến tai tiếng nữa. Người nước Trần có
làm một bài thơ “Châu Lâm” để chê Linh công. Hạ Trưng Thư dần dần khôn lớn, biết
chuyện mẹ như vậy, trong lòng khác nào dao đâm, nhưng ngại vì có Trần Linh-công,
không làm thế nào được. Mỗi khi Linh công sắp ra Châu Lâm thì Trưng Thư tạo sự
đi vắng, để cho khuất mắt, còn bọn trai gái dâm loạn ấy thấy Hạ Trưng Thư đi vắng
thì lấy làm mừng.
Ngày tháng thoi đưa, Hạ Trưng Thư
đã mười tám tuổi, cao lớn đẹp đẽ, có sức khỏe, lại giỏi nghề bắn cung. Linh
công muốn lấy lòng Hạ Cơ mới cho Trưng Thư nối chức của cha làm quan tư mã, coi
giữ binh quyền. Trưng Thư tạ ơn, rồi vào bái yết Hạ Cơ. Hạ Cơ dặn rằng:
– Ðấy là ân điền của chúa công,
con nên một lòng vì nước, chớ nghĩ gì đến việc nhà.
Trưng Thư từ biệt Hạ Cơ vào triều
cung chức. Một hôm, Linh công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại ra chơi
Châu Lâm. Hạ Trưng Thư cảm ơn vua cho được làm tư mã, về nhà bày tiệc để thết
đãi. Hạ Cơ vì có con ở đấy, không dám ra hầu rượu. Trần Linh-công cùng với Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ trong khi say rượu, cười nói đùa bỡn, múa tay hoa chân. Hạ
Trưng Thư trông thấy ghét lắm mới lui vào sau bình phong để nghe xem nào thế
nào. Trần Linh-công bảo Nghi Hàng Phủ rằng:
– Hạ Trưng Thư cao lớn đẹp đẽ lắm,
trông giống nhà ngươi lắm, hay là con rơi của nhà ngươi đấy?
Nghi Hàng Phủ cười mà nói rằng:
– Hạ Trưng Thư hai mắt lau láu, rất
giống chúa công.
Khổng Ninh ở bên cạnh nói bông rằng:
– Chúa công và Nghi Hàng Phủ hãy
còn ít tuổi, sinh thế nào được hắn, tôi chắc hắn có nhiều bố lắm, dẫu mẹ hắn
cũng không nhớ được hắn là con ai nữa!
Nói xong, ba người lại vỗ tay cười
ầm lên. Hạ Trưng Thư nghe nói, hổ thẹn vô cùng, tức thì hầm hầm nổi giận, vào
khóa chặt cửa phòng của Hạ Cơ lại, rồi lẻn qua cửa ngang ra ngoài, truyền cho
quân sĩ vây kín xung quanh phủ, không được để cho Linh công cùng Khổng Ninh và
Nghi Hàng Phủ chạy thoát.
Quân sĩ vâng lệnh, vây kín quanh
phủ. Hạ Trưng Thư mình mặc nhung phục tay cầm bảo kiếm, đem một toán quân tiến
vào cửa giữa, quát to lên rằng:
– Mau mau bắt lũ dâm tặc!
Linh công đang cười nói khề khà,
chẳng biết tí gì cả. Khổng Ninh nghe tiếng, vội vàng nói với Linh công rằng:
– Nguy cấp lắm rồi!
Hạ Trưng Thư đánh lừa ta rồi! Nay
hắn đem quân vào, kêu bắt dâm tặc, ta biết chạy đường nào cho thoát?
Nghi Hàng Phủ nói:
– Cửa trước nó đã vây kín thì ta
chạy về cửa sau.
Ba người xưa nay ở nhà Hạ Cơ đã
thông thuộc cả đường lối, Linh công định chạy vào phòng Hạ Cơ, để cầu Hạ Cơ cứu
cho. Chẳng ngờ khi vào đến nơi, thấy cửa phòng đã khóa chặt, lại càng sợ hãi,
liền chạy ra sau vườn. Trưng Thư cầm kiếm đuổi theo. Linh công nhớ rằng ở bên
chuồng ngựa, có cái tường thấp, có thể nhảy qua được, mới chạy về phía chuồng
ngựa. Trưng Thư quát to lên rằng:
– Ðứa hôn quân kia, mày chạy đường
nào cho thoát!
Trưng Thư giương cung bắn ngay một
phát, nhưng không trúng. Linh công chạy vào chuồng ngựa, toan tìm chỗ ẩn thân,
chẳng may bị đàn ngựa cắn đá, vội vàng lui ra. Trưng Thư đuổi kịp, lại bắn thêm
một phát nữa, trúng vào giữa bụng, Trần Linh-công chết ở cạnh chuồng ngựa. Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ trông thấy Linh công chạy về phía đông, biết là Hạ Trưng
Thư tất nhiên đuổi theo, mới quay về phía Tây chạy vào trường tập bắn, tìm chỗ
rào thủng chui ra được, không dám về nhà nữa, rủ nhau trốn sang nước Sở. Hạ Trưng
Thư bắn chết Trần Linh-công, rồi kéo quân vào thành, nói dối là Linh công say
rượu ngộ cảm mà chết, lập thế tử Ngọ lên nối ngôi, tức là Trần Thành-công. Trần
Thành-công trong lòng căm tức Hạ Trưng Thư, nhưng sức không làm gì nổi, nên phải
ẩn nhẫn không dám nói ra. Hạ Trưng Thư cũng sợ chư hầu đem quân đến hỏi tội
mình, mới cố ép Trần Thành-công phải sang chầu nước Tấn, để vững chỗ dựa.
Lại nói chuyện sứ nước Sở phụng mệnh
Sở Trang-vương sang hẹn Trần Linh-công đến hội ở đất Thần Lăng, khi sang chưa đến
nước Trần, nghe tin có hạn, mới quay trở về, lại vừa gặp Khổng Ninh và Nghi
Hàng Phủ trốn sang nước Sở, vào yết kiến Sở Trang Vương, giấu kín những chuyện
vua tôi dâm loạn, chỉ nói việc Hạ Trưng Thư làm phản, giết Trần Linh-công, cũng
giống như sứ nước Sở về báo khi trước. Sở Trang-vương mới hợp triều thần để
thương nghị. Bấy giờ nước Sở có quan đại phu tên gọi là Khuất Vu, tên tự là Tử
Linh (con Khuất Ðăng). Khuất Vu mặt mày thanh tú, văn vũ toàn tài, chỉ phải cái
bệnh hiếu sắc, vẫn chuyên học phòng trung bí thuật của Bành tổ, mấy năm trước
sang sứ nước Trần, gặp Hạ Cơ đi chơi được thấy nhan sắc, lại nghe đồn nghề chơi
tuyệt diệu, thì trong lòng ước ao lắm. Ðến lúc nghe nói Hạ Trưng Thư làm phản,
Khuất Vu muốn nhân việc ấy để mà sang lấy Hạ Cơ, mới cố khuyên Sở Trang-vương đem
quân sang đánh Trần. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao cũng nói nên đánh.
Sở Trang-vương mới đưa một đạo hịch
sang nước Trần, nói rằng: “Hiếu thị cho nhân dân nước Trần biết, Hạ Trưng Thư
có tội giết vua, trên thần dưới người đều tức giận cả, nước Trần không đánh được,
vậy ta phải yên lặng, không được náo động”.
Người nước Trần đọc hịch, ai cũng
đổ lỗi cho Hạ Trưng Thư, muốn nhờ tay nước Sở giết đi, cho nên không muốn chống
cự quân Sở. Sở Trang-vương củng với các tướng là công tử Anh Tề, công tử Trắc
và Khuất Vu đem đại binh kéo thẳng đến kinh thành nước Trần, chẳng có ai chống
cự lại cả. Hạ Trưng Thư biết là người trong nước oán mình, bèn trốn ra Châu
Lâm. Bấy giờ Trần Thành-công còn đang ở nước Tấn chưa về. Quan đại phu là Viên
Pha (cháu bốn đời Viên Ðào Ðề) cùng với triều thần thương nghị rằng:
– Vua nước Sở đem quân sang đây,
chỉ cốt để trị tội Hạ Trưng Thư, chi bằng ta bắt gặp Hạ Trưng Thư đem nộp vua Sở
rồi xin giảng hòa.
Triều thần đều lấy làm phải. Viên
Pha liền sai con là Kiều Như đem quân tới Châu Lâm để bắt Hạ Trưng Thư. Kiều
Như chưa kịp đi thì quân nước Sở đã kéo đến dưới chân thành. Nước Trần lâu nay,
chính lệnh không ra gì, và Trần Thành-công đi vắng, không ai làm chủ, dân nước
Trần mới mở cửa thành cho quân Sở vào. Sở Trang-vương kéo quân vào hỏi bọn Viên
Pha rằng:
– Hạ Trưng Thư ở đâu?
Viên Pha nói:
– Hiện nay ở Châu Lâm.
Sở Trang-vương lại hỏi:
– Sao các quan nước Trần lại dung
túng cho Hạ Trưng Thư mà không trị tội?
Viên Pha nói:
– Không phải là chúng tôi không
muốn trị tội, nhưng thế không làm gì nổi.
Sở Trang-vương liền sai Viên Pha
đi dẫn đường rồi đem đại phu tiến sang Châu Lâm, để công tử Anh Tề đóng một
toán quân ở trong thành.Hạ Trưng Thư đang thu nhập gia tài, định đem mẹ là Hạ
Cơ trốn sang nước Trịnh, nhưng chưa kịp thì quân Sở vây kín Châu Lâm, bắt được
Hạ Trưng Thư. Sở Trang-vương không thấy Hạ Cơ đâu cả, sai tướng sĩ sục tìm thì
bắt được ở sau vườn, còn Hà Hoa không biết trốn đi đâu mất. Hạ Cơ sụp lạy trước
mặt. Sở Trang-vương mà tâu rằng:
– Thiếp chẳng may gap lúc nước
nhà biến loạn, phận liễu bồ sống chết ở trong tay đại vương, nếu đại vương rủ
lòng thương, thì xin cho thiếp được sung vào làm kẻ thị tì phục dịch.
Hạ Cơ nhan sắc đã diễm lệ, lời
nói lại trang nhã rạch ròi, Sở Trang-vương thấy vậy tâm thần mê mẩn, bảo các tướng
rằng:
– Phi Tần nước Sở ta dẫu nhiều,
nhưng được như Hạ Cơ thì rất ít, ý ta muốn đem về cung, các người nghĩ thế nào?
Khuất Vu can rằng:
– Ðại vương đem quân sang đây là
cốt để trị kẻ có tội, nếu lấy Hạ Cơ thì hoá ra một người tham sắc, sao gọi là
bá chủ được?
Trang vương:
– Tử Linh (tên tự của Khuất Vu) nói
phải lắm, ta không dám nạp vào hậu cung nữa. Nhưng người đàn bà này là một vật
quí ở thế gian, nếu để mắt ta trông thấy thì khó lòng nhịn được.
Trang vương bèn truyền cho quân
sĩ đuổi Hạ Cơ đi. Bấy giờ công tử Trắc đứng bên cạnh cũng mê nhan sắc của Hạ
Cơ, lại thấy Sở Trang-vương không dùng, mới quỳ mà tâu rằng:
– Tôi chẳng may góa vợ, xin đại
vương cho tôi lấy nàng làm vợ.
Khuất Vu lại can rằng:
– Ðại vương không nên cho.
Công tử Trắc giận lắm, nói:
– Tử Linh không bằng lòng cho ta
lấy Hạ Cơ là bởi cớ sao?
Khuất Vu nói:
– Người đàn bà ấy là một vật chẳng
lành ở trong trời đất, cứ như tôi đã biết thì công tử Man và Hạ Ngự Thúc chính
vì nó mà chết non, vua Trần và Hạ Trưng Thư vì nó mà bị giết, Khổng Ninh và
Nghi Hàng Phủ vì nó mà phải tan nát. Thiên hạ thiếu gì người có nhan sắc mà lại
đi lấy một người như thế, để di họa về sau!
Sở Trang-vương nói:
– Cứ như lời Tử Linh nói thì ta
cũng sợ lắm!
Công tử Trắc lại bảo Khuất Vu rằng:
– Nếu vậy thì tôi cũng không dám!
Nhưng người bảo đại vương, không nên lấy, và ta cũng không nên lấy, hay nhà
ngươi muốn lấy chăng?
Khuất Vu nói luôn mấy câu rằng:
– Không dám! Không dám!
Sở Trang-vương nói:
– Nếu để hắn vô chủ thì có người
tranh, ta nghe nói Tương Lão mới rồi vợ chết, âu là ta cho Tương Lão lấy làm vợ
kế.
Bấy giờ Tương Lão cũng đem quân
theo Sở Trang-vương, ở toán hậu đội. Trang vương bèn triệu đến mà gả Hạ Cơ. Hai
vợ chồng cùng nhau lạy tạ rồi lui ra.
Khuất Vu can Sở Trang-vương và
công tử Trắc không nên lấy Hạ Cơ là có ý muốn giữ phần cho mình, nay thấy Sở
Trang-vương đem gả cho Tương Lão thì nghĩ thầm rằng: “Ðáng tiếc! Ðáng tiếc!”. Nhưng
lại tự nhủ rằng:
– Tương Lão chịu nổi Hạ Cơ thế
nào được, chẳng qua cũng chỉ trong dăm sáu tháng, một năm thì Hạ Cơ cũng lại
góa chồng thôi! Bấy giờ ta sẽ định liệu.
Sở Trang-vương đóng quân ở Châu
Lâm một đêm, rồi lại trở về kinh thành nuớc Trần. Công tử Anh Tề đón vào trong
thành. Sở Trang-vương truyền đem Hạ Trưng Thư ra cửa thành mà phân thây, theo
như lối Tề Tướng công xử tội Cao Cừ Di ngày trước. Sở Trang-vương trị tội Hạ
Trưng Thư rồi, thu hết bản đồ nước Trần, lập làm một huyện của nước Sở, cho
công tử Anh Tề làm quan trấn thủ, để quản trị dân nước Trần, còn bọn Viên Pha,
đều bắt đem về nước Sở cả.
Các nước phụ thuộc vào nước Sở ở
Nam Phương nghe tin Sở Trang-vương diệt được nước Trần, đều đến triều hạ, chỉ
có quan đại phu nước Sở là Thân Thúc Thời đi sứ nước Tề chưa về (bấy giờ Tề Huệ-công
mất, thế tử Vô Giã lên nối ngôi, tức là Tề Khoảnh-công.Tề và Sở vẫn giao hiếu với
nhau, bởi vậy Sở Trang-vương mới sai Thân Thúc Thời sang viếng vua cũ và dùng
vua mới), đến lúc về, thấy Sở Trang-vương diệt được nước Trần mà không chúc mừng
câu nào cả, Sở Trang-vương sai nội thị ra trách mắng Thân Thúc Thời rằng:
– Hạ Trưng Thư vô đạo giết vua,
ta đem quân sang hỏi tội, thu được bờ cõi nước Trần, các nước phụ thuộc của ta
đều đến triều hạ cả, mà nhà ngươi chẳng nói gì đến, hay có ý cho việc ta đánh
Trần là không phải. Thân Thúc Thời đi theo sứ giả vào yết kiến để được nói hết
lời trước mặt nhà vua. Sở vương thuận cho. Thân Thúc Thời nói rằng:
– Có một người dắt trâu đi tắt
qua ruộng người ta, dẫm nát cả lúa mạ. Người chủ có ruộng giận lắm, cướp lấy
trâu. Như cái kiện ấy mà đến tai đại vương thì đại vương định xử ra làm sao?
Sở Trang-vương nói:
– Dắt trâu dẫm lúa, dẫu có tổn hại
nhưng cũng chẳng là bao, mà lại cướp lấy trâu thì chẳng cũng quá lắm ư! Nếu ta
xử cái kiện ấy thì phạt nhẹ đứa dắt trâu mà trả trâu cho nó, nhà ngươi nghĩ có
phải không?
Thân Thúc Thời nói:
– Sao đại vương xử kiện thì sáng
như thế mà xử với nước Trần lại tối như vậy! Hạ Trưng Thư giết vua, thì nó có tội,
không phải vì thế mà giết Trần đáng diệt, đại vương trị tội hắn là đủ, nay lại
diệt nước Trần thì khác nào như chuyện cướp trâu, còn mừng về nỗi gì!
Sở Trang-vương nói:
– Nhà ngươi nói phải lắm!
Thân Thúc Thời nói:
– Ðại vương đã cho lời nói tôi là
phải thì sao không bắt chước việc trả lại trâu cho người ta?
Sở Trang-vương tức khắc triệu
quan đại phu nước Trần là Viên Pha vào mà hỏi rằng:
– Hiện nay vua nước Trần ở đâu?
Viên Pha nói:
– Khi trước ở nước Tấn, bây giờ
không biết đi đâu?
Nói xong, nước mắt chảy xuống
ròng ròng. Sở Trang-vương động lòng mà bảo rằng:
– Nay ta định trả lại nước cho
nhà ngươi, mà ngươi nên tìm đón vua Trần về, rồi một lòng thần phục nước Sở ta,
chớ có quên cái ơn ấy.
Sở Trang-vương lại triệu Khổng
Ninh và Nghi Hàng Phủ, tha cho về nước để cùng giúp vua Trần. Viên Pha dẫu biết
là tai vạ nước Trần bởi tại Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nhưng ở trước mặt Sở
Trang-vương không dám nói đến, chỉ cùng nhau lạy tạ rồi lui ra. Khi bọn Viên
Pha gần ra khỏi địa giới nước Sở thì gặp Trần Thành-công ở nước Tấn về, nghe
tin nước nhà bị diệt, cũng toan sang để kêu với Sở Trang-vương.
Viên Sa thuật lại cái lòng tử tế
của Sở Trang-vương cho Trần Thành-công nghe, rồi vua tôi cùng nhau về nước. Quan
trấn thủ nước Trần là công tử Anh Tề đã tiếp được thư của Sở Trang-vương triệu
về nước, mới đem bản đồ nước Trần giao trả lại cho Trần Thành-công. Khổng Ninh
về nước chưa được một tháng, nhiều khi ban ngày trông thấy Hạ Trưng Thư đến bắt
đền mạng rồi thành ra bệnh điên cuồng, nhảy xuống ao mà chết. Ðêm hôm Khổng
Ninh chết, Nghi Hàng Phủ cũng nằm mộng thấy Trần Linh-công, Khổng Ninh và Hạ
Trưng Thư, ba người cùng đến bắt Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cũng kinh sợ mà
chết.
Công tử Anh Tề về đến nước Sở vào
yết kiến Trang vương. Trang vương nói:
– Ta đã t rả lại nước Trần rồi, sẽ
xin đền cho nhà ngươi chỗ khác.
Công tử Anh Tề xin khu ruộng ở đất
Thân và đất Lã. Trang vương toan thuận cho. Khuất Vu liền nói với Trang vương rằng:
– Ðất Thân và đất Lã là một nơi
trọng yếu, nước Sở ta dùng để chống giữ với nước Tấn, không nên đem thưởng cho
ai cả.
Sở Trang-vương mới thôi, không
cho công tử Anh Tề nữa. Ðến lúc Thân Thúc Thời cáo lão, Trang vương đem đất
Thân phong cho Khuất Vu. Khuất Vu chẳng từ chối mà nhận ngay. Công tử Anh Tề vì
thế sinh hiềm khích với Khuất Vu. Trang Vương thấy nước Trần dẫu thần phục
mình, nhưng còn nước Trịnh vẫn theo nước Tấn, mới cùng triều thần thương nghị
việc đánh Trịnh.
Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao
nói với Trang vương rằng:
– Ta đánh Trịnh thì nước Tấn tất
đến cứu, vậy mới phải đem đại binh đi mới được.
Trang vương liền cử đại binh tiến
sang đánh Trịnh. Tương Lão đi làm tiền hộ. Viên phó tướng thuộc toán quân của
Tương Lão tên là Ðường Giao xin với Tương Lão rằng:
– Trịnh là một nước nhỏ, bất tất
phải phiền đến đại binh, tôi xin đem thủ hạ một trăm người để mở đường đi trước.
Tương Lão khen mà cho đi. Ðường
Giao cố sức xông pha đi trước, quân nước Trịnh không đương nổi, vì thế mà đại
binh của Sở Trang-vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh cóng như vậy, mới khen
Tương Lão rằng:
– Ta không ngờ nhà ngươi đã già
mà còn khỏe được như thế.
Tương Lão nói:
– Ðó không phải là công tôi, nhờ
có viên phó tướng là Ðường Giao cố sức, mới được như vậy!
Trang vương triệu Ðường Giao đến,
toan trọng thưởng, Ðường Giao nói:
– Tôi chịu ơn Ðại vương to lắm,
ngày nay gọi chút báo đền có đâu lại dám lĩnh thưởng.
Trang vương ngạc nhiên mà nói rằng:
– Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà
nhà ngươi bảo chịu ơn ta?
Ðường Giao nói:
– Trong bữa tiệc “Tuyệt Anh” có
người nắm vạt áo Hứa Cơ, người ấy tức là tôi đó! Ðại vương rộng lượng tha mà
không giết, vậy nên tôi phải cố sức để báo đền.
Trang vương nói:
– May làm sao! Giả sử bấy giờ ta
thắp nến lên để trị tội người mất giải mũ vì ta thì sao bây giờ lại có người vì
ta mà cố sức như vậy!
Sở Trang-vương truyền ghi lấy
công Ðường Giao để đợi khi đánh Trịnh xong trở về thì sẽ trọng dụng. Ðường Giao
nói chuyện với mọi người rằng:
– Tội ta đáng chết mà đại vương
không giết, vậy ta cố sức để báo đền. Nay ta đã nói rõ ra rồi, chẳng lẽ ta là
người có tội mà lại đợi sau này đại vương trọng dụng hay sao?
Ðêm hôm ấy, Ðường Giao tức khắc bỏ
trốn, không biết đi đâu mất. Sở Trang-vương nghe nói khen rằng:
– Ðường Giao thật là một người giỏi!
Ðại binh nước Sở vây thành nước
Trịnh, cả thẩy mười bảy ngày. Trịnh Tương-công có lòng trông mong quân Tấn đến
cứu, không chịu giảng hòa, quân sĩ chết hại rất nhiều. Phía đông bắc thành nước
Trịnh có một chỗ lở hơn mười trượng, quân nước Sở sắp sửa trèo vào. Sở
Trang-vương nghe trong thành có tiếng khóc rầm rĩ, động lòng thương xót, truyền
cho quân sĩ hãy lui lại mười dặm. Công tử Anh Tề nói với Sở Trang-vương rằng:
– Ta nên nhân lúc thành lở mà tiến
vào, cớ sao lại lui quân?
Sở Trang-vương nói:
– Người nước Trịnh chỉ biết sợ uy
ta, chưa biết mến đức ta, nay ta lui quân là để tỏ cho nước Trịnh biết ta có
lòng nhân đức.
Trịnh Tương-công thấy nước Sở lui
quân, ngờ là nước Tấn đã đem quân đến cứu, mới chở những nơi thành lở, rồi cố sức
chống giữ. Sở Trang-vương biết là nước Trịnh không chịu đầu hàng, lại tiến quân
vây thành đến hơn ba tháng. Tướng nước Sở là Nhạc Bá phá cửa thành tiến vào. Sở
Trang-vương truyền cho quân sĩ không được nhũng nhiễu hại dân. Trịnh Tương-công
để trần vai áo, dắt đàn dê ra đón quân Sở mà tạ tội rằng:
– Tôi là kẻ ngu dại, không biết
thần phục thượng quốc, để đến nổi đại vương nổi giận phải đem quân tới nước
tôi, nay tôi biết tội đã nhiều, xin đại vương rộng lượng thương cho nước tôi
làm nước phụ thuộc, không đến nổ tuyệt duyệt, thì nước tôi được đội ơn nhiều lắm.
Công tử Anh Tề nói với Sở
Trang-vương rằng:
– Nước Trịnh cùng quá, mới chịu đầu
hàng, nếu ta tha cho thì rồi họ lại làm phản, chi bằng ta diệt hẳn đi.
Sở Trang-vương nói:
– Nếu ngày nay ta diệt nước Trịnh
mà Thân Thúc Thời hãy còn thì tất lại đem cái chuyện “cướp trâu dẫm lúa” mà cười
ta đó.
Sở Trang-vương truyền lui quân ba
mươi dặm, rồi cho nước Trịnh giảng hoà. Trịnh Tương-công thân hành đến đại dinh
quân Sở xin hội thề, và cho người em là công tử Khứ Tật sang làm con tin. Sở
Trang-vương truyền rút quân về đóng ở Diên Ðịa. Quân thám tử về báo với Sở
Trang-vương rằng:
– Nước Tấn cho Tuân Lâm phủ làm
chánh tướng, Tiên Cốc làm phó tướng, đem quân sang cứu Trịnh đã giảng hòa, ta
còn sinh sự với Tấn gì nữa, chi bằng ta giữ cho toàn quân mà về.
Có kẻ cận thần là Ngũ Sâm tâu với
Sở Trang-vương rằng:
– Quan lệnh doãn nói thế là phải!
Nước Trịnh cho sức ta không bằng Tấn, cho nên mới theo Tấn, nay quân Tấn đến mà
ta rút về thì tỏ ra rằng thật là ta không bằng Tấn. Vả nước Tấn biết Trịnh theo
Sở thì tất đánh Trịnh, vậy ta đánh Tấn để cứu Trịnh, chẳng cũng nên lắm ư!
Tôn Thúc Ngao nói với Sở
Trang-vương rằng:
– Quân nước Sở ta, năm trước sang
đánh Trần, năm nay sang đánh Trịnh, nhọc mệt lắm rồi, nếu đánh mà không mắng
thì dẫu ăn thịt Ngũ Sâm, cũng không đáng cái tội của hắn vậy.
Ngũ Sâm nói:
– Nếu đánh mà được thì quan lệnh
doãn là người vô mưu, nếu đánh không được thì thịt Ngũ Sâm này tất bị quân Tấn
ăn mất, còn đâu mà để phần người nước Sở nữa!
Sở Trang-vương liền hỏi ý tất cả
các tướng, đưa cho mỗi người một cai bút để viết vào bàn tay, ai định đánh thì
viết chữ “Ðánh”, ai định lui thì viết chữ “Lui”. Các tướng viết xong, Sở
Trang-vương sai mở bàn tay ra xem thì chỉ có bốn người viết chữ “Lui” là: Quan
trung quân nguyên soái Ngưu Khâu, quan lệnh doãn Tương Lão và hai tướng là Sai
Cưu Cơ và Bánh Danh. Còn bọn công tử Anh Tề, công tử Trắc, công tử Cốc Thần,
Khuất Ðăng, Phan Ðảng, Nhạc Bá, Dưỡng Do Cơ, Hứa Bá, Hùng Phụ Bá, và Hứa Yển
hơn hai mươi người đều viết chữ “Ðánh” cả.
Sở Trang-vương nói:
– Ngưu Khâu là bậc lão thành, nay
cùng với quan lệnh doãn hợp ý nhau, vậy thì lui quân về là phải.
Sở Trang-vương truyền đến sáng
mai thì rút quân về. Ðêm hôm ấy, Ngũ Sâm xin vào yết kiến, nói với Trang vương
rằng:
– Ðại vương sợ gì nước Tấn mà phải
bỏ nước Trịnh như vậy?
Sở Trang-vương nói:
– Nào ta có bỏ nước Trịnh bao giờ?
Ngũ Sâm nói:
– Quân Sở ta vây nước Trịnh ba
tháng mới thu phục được nước Trịnh, nay quân Tấn đến mà ta rút về, khiến cho Tấn
được công là cứu nước Trịnh, thế thì chẳng phải ta bỏ nước Trịnh là gì!
Sở Trang vướng nói:
– Quan lệnh doãn bảo ta rằng đánh
Tấn vị tất đã được, vậy nên ta phải bỏ.
Ngũ Sâm nói:
– Tôi đã tính trước cả rồi! Tuân
Lâm Phủ nước Tấn mời lên làm trung quân nguyên soái, chưa có uy tính gì để cho
người ta phục, quan phó tướng là Tiên Cốc, nguyên là con Tiên Thả Cư, cháu Tiên
Chẩn, cậy thế mấy đời có công, làm nhiều điều kiêu ngạo, còn bọn Loan, Triệu đều
mỗi người một ý, xem thế thì các tướng nước Tấn, không đồng tâm với nhau, dẫu
nhiều quân đến đâu, cũng có thể phá tan được. Vả đại vương làm vua một nước mà
phải sợ các tướng nước Tấn, để cho thiên hạ chê cười thì sao cho nước Trịnh chịu
phục.
Sở Trang-vương ngạc nhiên mà nói
rằng:
– Ta dẫu không khéo dùng quân,
cũng chẳng chịu thua các tướng nước Tấn!
Nói xong, liền sai người bảo quản
lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao cho tất cả chiến xa quay về hướng bắc mà tiến đến Quản
Thành để đợi quân Tấn đến thì đánh.
Sở Vương đuổi quân Tuân Lâm Phủ
Ưu Mạnh đóng vai Tôn Thúc Ngao
Tấn Cảnh-công cũng nghe tin Sở Trang-vương thân hành đem quân sang đánh Trịnh, mới phong Tuân Lâm Phủ làm trung quân nguyên soái, Tiên Cốc làm phó nguyên soái, để đem quân sang cứu. Khi đi đến sông Hoàng Hà, có quân thám tử báo rằng:
– Trịnh bị Sở vây, đợi mãi không
thấy quân ta đến cứu, đã hàng Sở rồi. Quân Sở đã sắp sửa rút về.
Tuân Lâm Phủ bèn triệu các tướng
vào để hội nghị. Sĩ Hội nói:
– Ðem quân đi cứu mà không kịp,
bây giờ đánh Sở cũng chẳng ra thế nào, chi bằng ta hãy rút về, sau sẽ định liệu.
Tuân Lâm Phủ khen phải, toan truyền
rút quân về. Bỗng có một viên đại tướng đứng dậy can rằng:
– Không nên! Nước Tấn ta làm được
bá chủ là vì biết bênh vực kẻ yếu, nay Trịnh đợi mãi không thấy quân ta đến cứu,
mới phải hàng nước Sở, ta đánh được nước Sở thì Trịnh tất lại về với ta. Nếu ta
bỏ Trịnh mà tránh quân Sở thì các nước nhỏ còn trông cậy vào ta nỗi gì! Nước Tấn
không làm được bá chủ nữa rồi. Nếu nguyên soái nhất định rút quân về, thì tôi
tình nguyện đem quân bản bộ của tôi ra đánh một trận.
Tuân Lâm Phủ nhìn xem ai là quan
phó nguyên soái Tiên Cốc. Tuân Lâm Phủ bảo Tiên Cốc rằng:
– Vua Sở thân hành đem quân tới
đây, binh nhiều tướng mạnh, nếu ta đem một toán quân sang đánh, khác nào như
ném thịt vào hổ đói mà thôi, phỏng có ích gì!
Tiên Cốc thét lên rằng:
– Nếu ta không đi thì sẽ có người
bảo rằng đường đường nước Tấn mà không có một người nào dám đánh, chẳng cũng xấu
hổ lắm ư! Chuyến này ta đi, dẫu chết tại trận cũng còn được tiếng là người có
chí khí!
Tiên Cốc nói xong, tức khắc lui
ra. Ði đến cửa dinh gặp anh em Triệu Ðồng và Triệu Quát. Tiên Cốc bảo Triệu Ðồng
và Triệu Quát rằng:
– Quan nguyên soái sợ nước Sở muốn
rút quân về, chỉ một mình ta quyết đem quân đi đánh.
Triệu Ðồng và Triệu Quát nói:
– Ðại trượng phu phải như thế!
Anh em tôi cũng xin đem quân bàn bộ đi theo tướng quân.
Ba người cùng nhau đem quân qua
sông Hoàng Hà. Tuân Thủ không thấy Triệu Ðồng và Triệu Quát, liền hỏi quân sĩ mới
biết hai người đã theo Tiên Cốc qua sông Hoàng Hà để đón đánh quân Sở, liền giật
mình kinh sợ, và nói với quan tư mã Hàn Quyết. Hàn Quyết vào bảo Tuân Lâm Phủ rằng:
– Nguyên soái không biết việc
Tiên Cốc qua sông Hoàng Hà hay sao? Nếu gặp quân Sở thì tất bị thua, ngài làm
nguyên soái mà để cho Tiên Cốc bị thua thì lỗi ở ngài đó!
Tuân Lâm Phủ kinh sợ hỏi kế, Hàn
Quyết nói:
– Việc đã lỡ ra như vậy, chi bằng
ta kéo cả đại binh sang đánh, nếu được thì công về ngài, nếu không được thì cả
các tướng cùng phải chịu tội, chẳng hơn là ngài chịu tội một mình hay sao?
Tuân Lâm Phủ khen phải, truyền
kéo đại binh qua sông. Tiên Cốc nghe tin, mừng mà nói rằng:
– Ta vẫn biết là nguyên soái phải
theo lời nói của ta!
Trịnh Tương-công cho người đi dò
thám, biết là quân Tấn cường thịnh lắm, chỉ sợ một mai chiến thắng thì lại trị
cái tội theo Sở, mới hợp triều thần lại để thương nghị. Quan đại phu là Hoàng
Thủ nói:
– Tôi xin sang sứ bên quân Tấn để
khuyên Tấn đánh Sở, Tấn được thì theo Tấn, Sở được thi theo Sở. Bên nào mạnh thế
thì ta theo, chứ có lo gì!
Trịnh Tương-công khen phải, rồi
sai Hoàng Thủ đi. Hoàng Thủ đến nói với quân Tấn rằng:
– Chúa công tôi mong quý quốc đến
cứu, khác nào đại hạn mong mưa. Chỉ vì xã tắc lâm nguy nên mới phải theo Sở trước
mặt chứ không phải dám phản bội thượng quốc. Nay Sở chiến thắng mà sinh kiêu, vả
lại đi lâu mỏi mệt, nếu thượng quốc đánh quân Sở thì nước Trịnh tôi cũng xin
theo.
Tiên Cốc nói:
– Ta đánh được Sở và làm cho Trịnh
phải phục, chỉ ở trận này!
Loan Thư nói:
– Người nước Trịnh hay phản phúc
lắm, ta chớ nên tin lời!
Triệu Ðồng và Triệu Quát nói:
– Người nước Trịnh xin theo ta để
cùng đánh Sở, đó là một cơ hội chớ nên bỏ! Ta nên theo lời Tiên Cốc.
Hai người nói xong, bèn không vâng
lệnh Tuân Lâm Phủ, mà lại tự tiện theo Tiên Cốc cùng với Hoàng Thủ định ước
đánh Sở, Trịnh Tương-công lại sai sứ đến quân Sở, khuyên Sở Trang-vương giao
chiến với Tấn. Quan lệnh doãn nước Sở là Tôn Thúc Ngao lo quân Tấn cường thịnh,
nói với Sở Trang-vương rằng:
– Người nước Tấn không có ý quyết
chiến, chi bằng ta cho người sang giảng hoà, giảng hoà mà không được, bấy giờ
ta sẽ giao chiến thì lỗi tại nước Tấn.
Sở Trang-vương lấy làm phải, liền
sai Sái Cưu Cư sang quân Tấn xin giảng hòa. Tuân Lâm Phủ mừng lắm, nói:
– Nếu vậy thì là phúc cả cho hai
nước!
Tiên Cốc trỏ vào mặt Thái Cưu Cư
mà mắng rằng:
– Nước người đã cướp thuộc quốc của
ta, nay lại còn sang giảng hòa! Dẫu nguyên soái ta cho hòa, ta cũng nhất định
không chịu, ta quyết đánh cho chẳng còn một mống nào trở về, khiến nước ngươi
biết tay Tiên Cốc này. Nhà ngươi nên mau mau về báo với vua Sở, liệu mà trốn
trước đi, kẻo nữa khó toàn tính mệnh đó!
Sái Cưu Cư bị Tiên Cốc sỉ mắng một
hồi, cúi đầu lui ra. Ði đến cửa dinh, lại gặp anh em Triệu Ðồng và Triệu Quát,
Triệu Ðồng và Triệu Quát giơ gươm trỏ vào mặt Sái Cưu Cư mà bảo rằng:
– Nếu mày còn sang đây lần nữa
thì ta sẽ cho mày nếm lưỡi gươm này!
Sái Cưu Cư ra khỏi dinh quân Tấn
là Triệu Chiên. Triệu Chiên giương cung vào mặt Sái Cưu Cư mà bảo rằng:
– Mày là miếng thịt ở đầu mũi tên
của ta, chẳng bao lâu ta sẽ bắt sống mày, hãy cho mày trở về báo trước cho vua
Sở mày biết.
Sái Cưu Cư trở về nói với Sở
Trang vương. Sở Trang-vương nổi giận, hỏi các tướng xem ai dám sang khiêu chiến
với quân Tấn không? Quan đại tướng là Nhạc Bá xin đi. Nhạc Bá ngồi một cái xe
tiến sang vòng quân Tấn. Gặp một bọn quân hơn mười người, Nhạc Bá bắn chết một
người, rồi quay xe trở về. Quân Tấn chia làm ba toán đuổi theo, toán đi giữa là
Bảo Quý, toán đi phía tả là Bàng Ninh, toán đi phía hữu là Bàng Cái. Nhạc Bá
hét to lên rằng:
– Ta bắn về phía tả thì trúng ngựa,
bắn về phía hữu thì trúng người, nếu bắn không trúng thì ta thua!
Nhạc Bá giương cung bắn luôn mỗi
bên một phát, phát bên tả trúng suốt ba bốn con ngựa, xe không đi được nữa,
phát bên hữu trúng Bàng Cái, còn quân sĩ thì bị thương rất nhiều. Bởi vậy toán
quân phía tả và phía hữu đều không dám theo nữa, chỉ có Bảo Quý chỉ huy toán
quân di giữa là cố sức đuổi gần đến nơi, Nhạc Bá chỉ còn có một phát tên, toan
giương cung ra bắn Bảo Quý, nhưng lại nghĩ thầm rằng:
– Nếu phát tên này ta bắn không
trúng thì tất nhiên bị hại!
Nhạc Bá còn đang nghĩ ngợi thì bỗng
có một con hươu to ở đâu chạy qua trước mặt. Nhạc Bá liền bắn chết con hươu ấy
rồi sai Nhiếp Thúc xuống xe lấy con hươu, đưa biếu Bảo Quý. Bảo Quý thấy Nhạc
Bá bắn chẳng sai phát nào, trong lòng sợ hãi, nhân thấy Nhạc Bá sai người biếu
con hươu, mới giả cách than rằng:
– Tướng nước Sở biết giữ lễ như vậy
thì ta không dám xâm phạm.
Bảo Quý quay xe trở về. Tướng nước
Tấn là Ngụy Kỳ biết Bảo Quý thả cho Nhạc Bá chạy, nổi giận mà nói rằng:
– Nước Sở có người đến khiêu chiến,
mà nước Tấn ta không ai dám sang trận địa quân Sở, tôi e rằng người nước Sở tất
cũng cười ta, vậy tôi xin sang để dò xem quân Sở mạnh yếu thế nào.
Triệu Chiên cũng nói với Tuân Lâm
Phủ rằng:
– Tôi xin cùng với Ngụy tướng
quân cùng đi.
Tuân Lâm Phủ nói:
– Khi trước Sở sang xin giảng hòa
với ta rồi mới đánh, nay các người sang quân Sở, cũng phải xin giảng hòa trước
để gọi là đáp lễ lại Sở.
Ngụy Kỳ xin vâng mệnh. Triệu
Chiên đưa Ngụy Kỳ lên xe trước mà bảo rằng:
– Tướng quân báo lại việc Sái Cưu
Cư, còn tôi xin báo lại việc Nhạc Bá.
Quan thượng quân nguyên soái là
Sĩ Hội nghe tin Triệu Chiên và Ngụy Kỳ sang trận địa quân Sở, vội vàng vào yết
kiến Tuân Lâm Phủ để can ngăn việc ấy, nhưng vào đến nơi thì hai tướng đã đi rồi.
Sĩ Hội mới nói riêng với Tuân Lâm Phủ rằng:
– Ngụy Kỳ và Triệu Chiên còn ít
tuổi nóng nảy bồng bột, không biết tùy cơ ứng biến, tất làm cho quân Sở phải tức
giận. Nếu quân Sở bất thình lình mà đến đánh thì ta làm thế nào?
Bấy giờ quan phó tướng là Khước
Khắc cũng đến nói với Tuân Lâm Phủ rằng:
– Tình ý nước Sở khó mà lường được,
ta nên phòng bị trước!
Tiên Cốc thét to lên rằng:
– Sắp sửa giao chiến, lại còn
phòng bị gì nữa!
Tuân Lâm Phủ không biết đằng nào
mà quyết đoán. Sĩ Hội lui ra, nói riêng với Khước Khắc rằng:
– Nguyên soái chẳng khác gì người
bù nhìn! Thôi chúng ta phải tự liệu lấy mới được.
Sĩ Hội nói xong, liền bảo Khước
Khắc rủ hai quan thượng quân đại phu là Củng Sóc và Hàn Xuyên đem quân bản bộ
ra phục ở trước núi Ngao Sơn. Quan Trung quân đại phu là Triệu Anh Tề cũng lo
quân Tấn thua, sai người sắp thuyền sẵn ở cửa sông Hoàng Hà đề phòng khi chạy
trốn. Ngụy Kỳ vẫn ghét Tuân Lâm Phủ, muốn làm cho Tuân Lâm Phủ mang tiếng, nên
trước mặt Tuân Lâm Phủ thì nói đến việc hoà, nhưng khi sang đến quân Sở thì lại
nói đến việc đánh. Tướng nước Sở là Phan Ðảng biết chuyện trước kia Sái Cưu Cơ
sang sứ nước Tấn, bị tướng nước Tấn sỉ nhục nay thấy Ngụy Kỳ đến, bàn tính sự
báo thù, vội vàng bước vào đại binh thì Ngụy Kỳ đã ra khỏi dinh rồi. Phan Ðảng
tức khắc giục ngựa đuổi theo, bèn toan quay lại để đối địch, bỗng thấy trông rừng
có sáu con hươu lớn, nhân nghĩ đến việc tướng nước Sở biếu hươu khi trước, liền
giương cung bắn chết một con, sai người hầu xe đem biếu Phan Ðảng mà nói rằng:
– Khi trước Nhạc tướng quân có
cho quân Tấn tôi một con hươu, nay quân Tấn tôi đáp lễ lại.
Phan Ðảng nghĩ thầm rằng:
– Quân Tấn cũng bắt chước lối cũ
của ta như vậy, nếu ta đuổi theo thì chẳng hóa ra người nước Sở ta vô lễ lắm ư!
Bèn cùng truyền quay xe trở lại. Ngụy Kỳ về đến dinh quân Tấn, nói với Tuân Lâm
Phủ rằng:
– Vua nước Sở không cho giảng
hòa, định đánh một trận để quyết thắng phụ.
Tuân Lâm Phủ hỏi:
– Triệu Chiên đâu?
Ngụy Kỳ nói:
– Tôi đi trước, hắn đi sau, thành
ra tôi không được gặp.
Tuân Lâm Phủ nói:
– Nước Sở đã không cho giảng hòa
thì Triệu Chiên tất nhiên bị hại!
Nói xong, sai Tuân Dinh đem quân
đi đón Triệu Chiên. Nguyên Triệu Chiên đang đêm đi đến trước cửa dinh quân Sở,
giải chiếu xuống đất ngồi, đem rượu ra uống, rồi sai hơn hai mươi người giả
cách nói tiếng nước Sở, lén vào trong dinh quân Sở. Quân Sở biết là giả, nắm lại
để hỏi. Người ấy rút dao đâm chết một người trong đám quân Sở. Quân Sở náo động
cả lên, đốt đuốc đuổi bắt được mấy người. Những người khác trốn thoát chạy ra,
trông thấy Triệu Chiên vẫn còn ngồi trên chiếu, thì vội vàng ôm lên xe, rồi tìm
người dong xe thì đã mắc trong đám quân Sở, không ra được rồi. Triệu Chiên phải
cầm cương ngựa lấy, ngựa đói không thể đi được.
Sở Trang-vương nghe nói có giặc
lên đến, liền thân hành đem quân ra đuổi. Quân đuổi gấp lắm, Triệu Chiên vội
vàng bỏ xe trốn vào trong rừng. Tướng nước Sở là Khuất Ðăng trông thấy cũng xuống
xe đuổi theo, Triệu Chiên cởi áo giáp và xe ngựa đem về nộp Sở Trang-vương. Sở
Trang-vương vừa toan quay xe trở về thì thấy Phan Ðảng chạy đến. Phan Ðảng trỏ
về phía bắc mà bảo Sở Trang-vương rằng:
– Trông cắt bụi bay lên thế kia
thì đại nước Tấn sắp sửa kéo đến!
Sỡ dĩ có đám cát bụi ấy là bởi có
toán quân của Tuân Dinh phụng mệnh Tuân Lâm Phủ đi đón Triệu Chiên, Phan Ðảng
trông không rõ, tưởng là đại binh quân Tấn, làm cho Sở Trang-vương sợ hãi, mặt
xám xanh lại, may gặp có toán quân của quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao kéo đến,
Sở Trang-vương mới được yên lòng. Sở Trang-vương hỏi Tôn Thúc Ngao rằng:
– Sao lệnh doãn biết có đại binh
nước Tấn sắp tới mà đem quân ra cứu ta?
Tôn Thúc Ngao nói:
– Tôi không biết có đại binh nước
Tấn, nhưng tôi sợ đại vương khinh thường xông vào quân giặc, nên tôi phải đem
quân tiếp ứng, còn đại binh ta cũng sắp tới đây bây giờ.
Sở Trang-vương ngảnh về phía bắc,
trông lại một lượt, thấy đám cát bụi cũng không thấy gì làm cao, mới bảo Tôn
Thúc Ngao rằng:
– Không phải đại binh nước Tấn.
Tôn Thúc Ngao nói:
– Nay các tướng đều đã đến cả,
xin đại vương cứ truyền lệnh tiến đánh, nếu ta đánh được một toán thì các toán
khác đều phải vỡ tan.
Sở Trang-vương liền truyền lệnh
tiến binh. Tuân Lâm Phủ cũng đem quân ra đối địch, nhưng quân Sở nhiều quá,
quân Tấn không thể nào địch nổi, tức khắc bỏ chạy tán loạn. Tuân Dinh đi đón
Triệu Chiên, không thấy đâu cả, lại gặp tường nước Sở là Hùng Phụ Cơ, hai bên
giao chiến một lúc, nhưng Tuân Dinh thấy quân Sở đông quá, cũng phải bỏ chạy, bị
Hùng Phụ Cơ bắt sống. Tướng nước Tấn là Bàng Bá đem hai con là Bàng Ninh và
Bàng Cái cùng ngồi một cái xe nhỏ để chạy trốn, đi chận không, da bàn chân trầy
ra hết. Triệu Chiên trông thấy, kêu to lên rằng:
– Ai đi xe thế kia, cứu tôi với!
Bàng Bá nghe tiếng Triệu Chiên, bảo
hai con chớ ngảnh cổ lại. Hai con không hiểu ý cha, tức thì ngảnh cổ nom lại
phía sau xem ai. Triệu Chiên trông thấy liền gọi:
– Bàng Bá cho ta lên xe với!
Hai con nói với Bàng Bá. Bàng Bá
tức giận lắm, nói:
– Ðã như vậy thì hai đứa mày nhường
chỗ cho người ta! Bàng Bá tức thì đuổi hai con xuống mà cho Triệu Chiên lên xe.
Bàng Ninh và Bàng Cái mất xe thành ra chết ở trong đám loạn quân. Tuân Lâm Phủ
và Hàn Quyết cùng một bọn tàn quân chạy men bờ sông Hoàng Hà, ngảnh lại trông
thấy Tiên Cốc bị thương ở ttrán, máu chảy đầm đià, đang xé áo chiến bào ra để
buộc. Tuân Lâm Phủ trỏ vào mặt Tiên Cốc mà bảo rằng:
– Tướng quân hăng hái lắm mà sao
cũng như thế!
Ði đến cửa sông Hoàng Hà, gặp Triệu
Quát cũng đến, Quát nói với Tuân Lâm Phủ rằng:
– Anh tôi là Triệu Anh Tề, khi
trước có sắp sẵn thuyền bè, nay đã qua sông rồi, mà chẳng bảo cho chúng ta biết,
như vậy thì còn ra nghĩa lý gì nữa!
Tuân Lâm Phủ nói:
– Những lúc nguy cấp này còn bảo
nhau sao kịp!
Triệu Quát vẫn hầm hầm tức giận,
từ bấy giờ cùng với Triệu Anh Tề thành ra hiềm khích.
Tuân Lâm Phủ nói:
– Quân ta không thể đánh nhau với
Sở được nữa, bây giờ nên mau mau nghĩ kế để qua sông.
Tuân Lâm Phủ liền sai Tiên Cốc đi
tìm thuyền, nhưng chỉ tìm được có mấy chiếc. Tuân Lâm Phủ chưa kịp qua sông thì
lại thấy có vô số quân ùn ùn chạy đến. Tuân Lâm Phủ nhìn xem quân nào thì tức
là toán quân của Triệu Sóc và Loan Như bị tướng nước Sở là công tử Trách đánh
đuổi, cùng chạy đến đây. Tuân Lâm Phủ ngảnh về phía nam, trông thấy cát bụi bay
lên ngỡ là quân Sở đuổi tới, mới sai đánh trống và hạ lệnh rằng:
– Ai sang trước thì sẽ có thưởng!
Quân sĩ tránh cướp thuyền chở,
thành ra giết hại lẫn nhau. Dưới thuyền người đã đầy rồi, mà còn nhiều người
chen nhau bước xuống đến nỗi đắm mất ba mươi chiếc thuyền. Tiên Cốc đứng ở
trong thuyền lại thét to lên rằng:
– Ðứa nào bíu vào mái chèo và mạn
thuyền thì cứ lấy dao mà chặt tay đi!
Các thuyền đều theo lệnh lấy dao
ra chặt, ngón tay rơi vào trong thuyền, khác nào hoa rụng, phải bốc từng bốc mà
ném xuống sông.Trên bờ người khóc như ri, nghe rất thê thảm! Mặt sau lại có bọn
Tuân Thủ, Triệu Ðồng, Ngụy Kỳ, Bàng Bá và Bảo Quý lục tục kéo đến. Tuân Thủ đã
xuống thuyền rồi, không trông thấy con là Tuân Dinh, sai người đứng ở trên bờ gọi
rầm lên. Có người biết là Tuân Dinh bị bắt, nói với Tuân Thủ. Tuân Thủ nói:
– Con ta đã bị bắt thì ta không
chịu về không!
Nói xong tức thì lên bờ để lại
xông vào đám quân Sở. Tuân Lâm Phủ can rằng:
– Tuân Dinh đã bị bắt thì tướng
quân đi cũng vô ích.
Tuân Thủ nói:
– Nếu tôi bắt được tướng nước Sở
thì cũng có thể đòi lại được con tôi.
Ngụy Kỳ vốn chơi thân với Tuân
Dinh, bởi vậy cũng xin theo đi. Tuân Thủ mừng lắm, đem mấy trăm quân trở lại. Quân
sĩ nhiều người vẫn kính phục Tuân Thủ, cho nên đều vui lòng theo cả, có người
đã xuống thuyền rồi, nghe nói Tuân Thủ định trở lại để tìm Tuân Dinh, cũng đều
lên bờ xin theo. Tuân Thủ là người bắn giỏi lắm, bấy giờ xông vào quân Sở,
trông thấy tướng nước Sở là Tương Lão đang đi thu thấp những xe ngựa và khí giới
của quân Tấn bỏ lại, có ngờ đâu quân Tấn thình lình kéo đến, không kịp đề
phòng, bị Tuân Thủ bắn cho một phát, ngã lăn xuống đất. Công tử Cốc Thần trông
thấy Tương Lão bị mũi tên, vội vàng đến cứu.
Ngụy Kỳ xông vào, giao chiến với
công tử Cốc Thần. Tuân Thủ lại bắn luôn phát nữa, trúng ngay vào cánh tay phải
của công tử Cốc Thần. Công tử Cốc Thần đau quá, đứng lại để nhổ mũi tên, bị ngụy
Kỳ bắt sống và lấy thêm cả cái xác của Tương Lão mang về. Tuân Thủ nói:
– Ðem công tử Cốc Thần và xác
Tương Lão này cũng đủ chuộc lại được con ta, ta nên trở về.
Nói xong, liền giục ngựa về ngay.
Khi quân Sở biết mà đuổi theo thì đã khôn gkịp.Công tử Anh Tề đem quân đuổi
đánh Sĩ Hội. Sĩ Hội vừa đánh vừa chạy, may nhờ có quân của Cung Spốc tiếp ứng,
mới chạy thoát được. Công tử Anh Tề có sức đuổi theo, lại gặp tướng nước Tấn là
Khước Khắc đem quân đến. Công tử Anh Tề thấy vậy, phải thu quân trở về. Tuân Thủ
về đến cửa sông Hoàng Hà, thấy toán quân của Tuân Lâm Phủ chưa qua sông thết,
có ý kinh sợ, may nhờ có toán quân của Triệu Anh Tề đã qua sông rồi, cho người
đem thuyền sang đón, quân Tấn mới qua được sông Hoàng Hà.
Ðại Bình quân Sở đã kéo đến Bí
Thành, Ngũ Sâm nói với Sở Trang-vương xin mau mau đuổi theo để đánh quân Tấn. Trang
vương nói:
– Nước Sở ta từ khi thua Tấn ở đất
Thành Bộc, vẫn lấy làm xấu hổ, nay được một trận này đủa rửa cái thẹn năm xưa,
nhưng hai bên rồi cũng nên giảng hòa với nhau, ta còn giết hại làm gì nữa.
Sở Trang-vương truyền đóng quân lại.
Trịnh Tương-công biết là quân Sở thắng trận, thân hành đến Bí Thành để khao thưởng
quân sĩ, đón Sở Trang-vương về đất Hành Ưng, rước vào ở trong vương cung, mở tiệc
chúc mừng. Phan Ðảng nói với Sở Trang-vương xin chất xác quân Tấn để đắp một
cái đài gọi là “Kinh quán” kỷ niệm võ công của người nước Sở. Sở Trang-vương nói:
– Ta chỉ nhờ may mà đánh được
quân Tấn, sao đáng gọi là vũ công!
Sở Trang-vương nói xong, truyền
cho quân sĩ nhặt chôn những xác người chết, lại làm văn tế thần sông Hoàng Hà,
rồi thu quân về. Khi về đến nước Sở, ban thưởng công thần, cho ngũ Sâm làm quan
đại phu. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao thở dài mà than rằng:
– Tuân Lâm Phủ là một bậc đại thần.
Việc đánh Sở này bởi tại Tiên Cốc trái lệnh, đến nỗi thua quân, nay chúa công
giết một Tiên Cốc, cũng đủ làm gương cho kể khác. Ngày xưa nước Sở giết Thành Ðắc
Thần mà Tấn Văn công mừng; nước Tấn tha Mạnh Minh mà Tấn Tương-công sợ, xin
chúa công tha tội cho Tuân Lâm Phủ, khiến được lập công về sau.
Tấn Cảnh-công theo lời, liền chém
Tiên Cốc, phục chức cho Tuân Lâm Phủ, và sai luyện tập quân mã, đợi ngày khác
đi đánh báo thù.
Quan lệnh doãn nước Sở là Tôn
Thúc Ngao ốm nặng, dặn con là Tôn An rằng:
– Ta có một tờ di biểu, khi ta chết
rồi, mày nên đem dâng đại vương. Ðại vương có cho mày làm quan thì mày chớ nhận.
Tài mày nhỏ mọn, không nên dự vào đám quan trường. Nếu đại vương có phong ấp
cho mày, mày phải từ chối, từ chối mà không được thì nên xin đất Tẩm Khâu. Tẩm
Khâu là một chỗ đất xấu, chẳng ai thèm tranh dành, hoạ may con cháu về sau mới
được hưởng cái lộc ấy.
Nói xong thì chết, Tôn An đem tờ
di biểu vào dâng Sở Trang vương. Trang vương mở ra đọc, tờ di biểu như sau:
– “Tôi vốn là kẻ khốn cùng đội ơn
đại vương cất nhắc cho làm lệnh doãn, trong mấy năm nay không có công trạng gì
đáng kể phụ lòng đại vương ủy thác, cũng lấy àm hổ thẹn. Nay nhờ uy linh của đại
vương được mệnh chung trong nhà, thật là may cho tôi! Tôi chỉ có một đứa con
ngu dốt, không thể cho làm quan được, còn cháu tôi là Viễn Bằng thì cũng có tài
năng, có thể dùng được. Nước Tấn làm bá chủ đã mấy đời, mới rồi dẫu bị thua,
nhưng chúa công chớ nên xem thường. Dân nước Sở ta khổ về việc chiến tranh đã
lâu, chúa công nên nghĩ lại mà khiến cho dân được yên nghỉ. Người ta đến lúc sắp
chết, câu hỏi thường hay hợp lẽ phải. Xin chúa công xét cho”.
Sở Trang-vương đọc xong, than rằng:
– Tôn Thúc Ngao gần chết mà vẫn
không quên việc nước. Trời làm cho Tôn Thúc Ngao chết, cũng là một sự không may
cho ta.
Trang vương nói xong thân hành đến
nhà Tôn Thúc Ngao ôm lấy áo quan mà khóc. Các quan đi theo hầu, cũng đều khóc cả.
Ngày hôm sau, Trang vương cho công tử Anh Tề làm quan lệnh doãn, và cho Viễn Bằng
làm quan châm doãn. Trang vương lại muốn cho Tôn An làm quan công chính, nhưng
Tôn An theo lời cha dặn, nhất định xin từ chối, trở về xin làm ruộng. Trang
vương có yêu một người kép hát là Mạnh Thù Nho, vẫn gọi là Ưu Mạnh. Ưu Mạnh là
người lùn, không đầy năm thước, nguyên là một người kép hát, rất giỏi lại có tài
khôi hài, được Trang vương yêu lắm. Một hôm, Ưu Mạnh ra chơi ngoài đồng, gặp
Tôn An đi kiếm củi, quẩy một gánh củi trở về. Ưu Mạnh đón mà hỏi rằng:
– Sao công tử chịu khó nhọc mà
gánh củi như vậy?
Tôn An nói:
– Cha tôi làm tướng quốc trong mấy
năm trời, không lấy một đồng tiền nào của ai, đến lúc chết chẳng còn lý gì, bởi
vậy tôi phải gánh củi.
Ưu Mạnh than rằng:
– Công tử cứ vững lòng, rồi đây
thế nào đại vương cũng triệu công tử!
Ưu Mạnh về nhà chế ra một bộ mũ
áo giống như của Tôn Thúc Ngao ngày trước, lại bắt chước dáng điệu ăn nói của
Tôn Thúc Ngao luyện tập trong ba ngày, cái gì cũng giống, thật là Tôn Thúc Ngao
sống lại! Gặp bấy giờ Sở Trang-vương ngự yến ở trong cung, triệu Ưu Mạnh vào
làm trò. Ưu Mạnh sai một người khác ra trò trước, đóng vai Sở Trang vương, làm
ra bộ tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao, còn mình thì đóng vai Tôn Thúc Ngao. Sở
Trang-vương (vai trò) trông thấy, giật mình kinh sợ mà nói rằng:
– Ô hay! Tôn Thúc Ngao hãy còn sống
à? Ta tưởng nhớ nhà ngươi lắm, nhà ngươi nên ở lại mà giúp ta!
Ưu Mạnh nói:
– Tôi đây chỉ giống Tôn Thúc Ngao
mà thôi, có phải là Tôn Thúc Ngao thật đâu!
Sở Trang-vương (vai trò) nói:
– Ta tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao mà
không được trông thấy, nay thấy nhà ngươi giống Tôn Thúc Ngao, cũng khiến cho
ta được đỡ nhớ. Ta cho nhà ngươi cứ làm tướng quốc, nhà ngươi chớ từ.
Ưu Mạnh nói:
– Đại vương tin dùng tôi như vậy,
rất hợp với sở nguyện của tôi, nhưng tôi có lão thê ở nhà, rất là từng trải
tinh đời để tôi xin về bàn với lão thê tôi, rồi mới dám vâng lệnh.
Ưu Mạnh trở vào buồng trà, một
lúc lại bước lên sàn hát mà tâu với Sở Trang-vương (vai trò) rằng:
– Vừa rồi tôi có bàn với lão thê
tôi, thì lão thê tôi khuyên tôi chớ nhận.
Sở Trang-vương (vai trò) hỏi:
– Sao vậy?
Ưu Mạnh nói:
– Lão thê tôi có đặt một bài hát
để khuyên tôi, vậy tôi xin hát.
Nói xong liền hát:
Quan tham
không nên làm, thế mà nên làm!
Quan liêm
nên làm, thế mà không nên làm!
Quan tham
không nên làm, đã tham thì tất đê hạ, mà nên làm vì con cháu được lên xe xuống
ngựa!
Quan liêm
nên làm, đã liêm thì tất cao khiết, mà không nên làm vì con cháu phải ăn đói mặc
rách!
Chàng chẳng
thấy:
Quan lệnh
doãn nước Sở ta là Tôn Thúc Ngao, lúc sống làm quan không lấy của ai một đồng
nào.
Chẳng may thất
lộc (người làm quan chết đi, người ta gọi là thất lộc, nghĩa là mất lộc, lương
bổng ) đi rồi, con cháu nghèo hèn đói khát, chỉ có cái túp chui ra chui vào…
Chàng, chàng
ôi, chàng chớ học đòi Tôn Thúc Ngao!
Quân vương
nào có nhớ công lao!
Trang vương trông thấy Ưu Mạnh lời
ăn tiếng nói, giống hệt như Tôn Thúc Ngao thuở xưa, đã động lòng thương xót,
sau nghe đến bài hát của Ư Mạnh, bỗng ứa nước mắt mà nói rằng:
– Khi nào ta dám quên công Tôn
Thúc Ngao!
Trang vương liền sai Ưu Mạnh đi
triệu Tôn An. Tôn An mặc áo rách, đi giày cỏ, vào yết kiến Trang vương. Trang
vương hỏi:
– Nhà ngươi đến nỗi cùng khốn như
thế ư?
Ưu Mạnh đứng bên cạnh, đỡ lời mà
tâu rằng:
– Nếu không cùng khốn thì đã
không tỏ được cái nhân đức của quan lệnh doãn ngày trước!
Trang vương nói:
– Tôn An khi trước đã từ chối
không muôn làm quan, nay ta nên phong cho một cái ấp lớn.
Tôn An đã cố ý xin từ chối. Trang
vương nói:
– Ta đã quyết định như thế, nhà
ngươi chớ nên từ chối.
Tôn An nói:
– Nếu đại vương nghĩ đến chút
công lao của tôi, mà muôn cho tôi được ấm no thì xin phong cho tôi ở đất Tẩm Khâu
là đủ.
Trang vương nói:
– Khi cha tôi gần mất có dặn tôi
như vậy, nếu không phong cho đất Tẩm Khâu thì tôi không dám nhận.
Trang vương theo lời. Về sau, người
ta thấy rằng Tẩm Khâu là một nơi đất xấu, không ai muốn tranh đoạt. Con cháu
Tôn Thúc Ngao cứ nối đời được hưởng lộc ấy.
Tuân Lâm Phủ nước Tấn nghe tin
Tôn Thúc Ngao chết, biết là quân Sở chưa có thể đi cứu Trịnh được, mới tâu với
vua Tấn xin đem quân đi đánh Trịnh, nhưng chỉ cướp phá biên giới nước Trịnh, rồi
thu quân trở về. Các tướng nói với Tuân Lâm Phủ xin vây kín thành nước Trịnh. Tuân
Lâm Phủ nói:
– Ta vây kín thành nước Trịnh,
cũng chưa chắc đã lấy nổi, vạn nhất nước Sở đem quân đến cứu thì lại thành ra
thêm việc, chi bằng ta hãy để cho người nước Trịnh phải sợ ta.
Trịnh Tương-công thấy vậy, quả
nhiên sợ lắm, sai sứ sang bàn mưu với nước Sở và đưa người em là công tử Chương
sang nước Sở, đổi lấy công tử Khứ Tật về về nước Trịnh để cùng cầm quyền chính
trong nước. Sở Trang-vương nói:
– Nếu nước Trịnh biết thủ tín,
thì chẳng cần gì phải giữ người làm tin.
Sở Trang-vương nói xong, liền cho
cả hai người đều về, rồi hợp các quan triều thần lại để thương nghị.
Dắt dao lẻn vào dinh quân Sở
Kết cỏ bắt được tướng nước Tần
Sở Trang-vương họp triều thần lại để thương nghị việc cùng chống quân Tấn. Công tử Trác nói với Sở Trang-vương rằng:
– Nước Tống xưa nay vẫn một lòng
theo Tấn, nay ta đem quân đi đánh Tống thì Tấn tất phải sang cứu, khi nào còn
dám tranh nước Trịnh của ta.
Sở Trang-vương nói:
– Nhà ngươi bàn dẫu phải, nhưng
ta chưa có cớ gì mà đánh Tống được. Tiên quân ta ngày xưa đánh Tống một trận ở
sông Hoằng Thủy, vua Tống bị thương chết, thế mà nước Tống cũng chịu nhịn ta; đến
khi ta hội chư hầu ở đất Quyết Lạc, vua Tống lại hết sức cung phụng nước ta. Sau
đó Tống Chiêu-công bị giết, công tử bão lên nối ngôi, nay đã mười tám năm rồi,
ta muốn đánh Tống mà chưa tìm được cớ gì cả.
Công tử Anh Tề nói:
– Khó gì điều ấy! Vua Tề đã mấy lần
Triều sính nước ta, mà ta chưa đáp lại nay ta mượn đường nước Tống để sang sứ
nước Tề, nếu Tống không cho hay là vô lễ với sứ nước ta thì sẽ gây sự mà đem
quân sang đánh.
Sở Trang-vương nói:
– Bây giờ sai ai đi sứ?
Công tử Anh Tề nói:
– Thân Vô Úy khi trước đã có theo
tiên quân ta sang hội ở đất Quyết Lạc. Người ấy nên sai đi.
Sở Trang-vương liền sai Thân Vô
Úy đi sứ nước nước Tề. Thân Vô Úy tâu với Sở Trang-vương rằng:
– Sang sứ nước Tề, tất phải đi
qua nước Tống, xin đại vương cấp cho một đạo văn thư để mượn đường.
Trang vương nói:
– Khi trước tiên quân ta hội chư
hầu ở Quyết Lạc, rồi cùng với các vua chư hầu đi săn ở Mạnh Chư, vua Tống trái
lệnh, tôi bắt người thị vệ mà giết đi, bởi vậy nước Tống oán giận tôi lắm. Nay
tôi qua nước Tống, nếu đại vương không cấp cho một đội văn thư mượn đường thì
nước Tống tất giết tôi.
Trang vương nói:
– Trong đạo văn thư gửi sang Tề,
ta để tên là Thân Chu, mà không dùng tên cũ Thân Vô Úy của nhà ngươi nữa!
Thân Vô Úy vẫn chưa chịu đi, nói
rằng:
– Tên đổi được, nhưng mặt không
thể đổi được.
Trang vương nổi giận nói:
– Nếu nước Tống giết nhà ngươi
thì ta quyết vì nhà ngươi báo thù mà đem quân diệt nước Tống.
Thân Vô Úy không dám từ chối nữa.
Ngày hôm sau đưa người con là Thân Tề vào yết kiến Trang vương mà kêu rằng:
– Tôi chết vì việc nước, xin đại
vương trông nom cho con tôi.
Trang vương nói:
– Đó là việc của ta, nhà ngươi chớ
lo ngại?
Thân Vô Úy từ giã rồi đi. Người
con là Thân Tề tiễn ra đến ngoài cõi. Thân Vô Úy dặn rằng:
– Cha đi chuyến này, tất chết ở
nước Tống, con nên tâu với đại vương báo thù cho cha, con chớ quên lời cha dặn.
Hai cha con cùng ứa nước mắt mà từ
giã với nhau. Vô Úy đi đến địa giới nước Tống. Quan trấn thủ nước Tống biết là
sứ nước Sở, đòi xem văn thư, Vô Úy nói:
– Ta phụng mệnh vua Sở, chỉ có đạo
văn thư sang sứ nước Tề, chứ không có đạo văn thư mượn đường nước Tống.
Quan trấn thủ giam giữ sứ giả là
Thân Chu, rồi sai người phi báo với Tống Văn-công. Bấy giờ Hoa Nguyên đang cầm
quyền chính với nước Tống liền tâu với Tống Văn-công rằng:
– Nước Sở là một nước cừu địch với
ta, nay sai sứ sang nước ta, mà không có văn thư mượn đường, thế là khinh ta
quá lắm, xin chúa công bắt sứ nước Sở mà giết đi.
Tống Văn-công nói:
– Ta giết sứ nước Sở thì tất nước
Sở đem quân sang đánh, biết làm thế nào?
Hoa Nguyên nói:
– Chẳng thà bị quân Sở đem quân
sang đánh, còn hơn là để cho nước Sở khinh ta, nước Sở đã khinh ta thì rồi thế
nào cũng đem quân sang đánh. Đằng nào ta cũng bị quân Sở đánh, chi bằng ta hãy
giết sứ nước Sở đi, để cho khỏi hổ thẹn.
Hoa Nguyên bèn sai người áp giải
sứ giả là Thân Chu về trong triều. Hoa Nguyên trông thấy Thân Chu thì nhận được
ngay là Thân Vô Úy, lại càng tức giận mà mắng rằng:
– Ngày trước nhà ngươi dám giết
thị vệ của tiên quân ta, nay lại đổi tên là Thân Chu toan tránh khỏi tội chết
hay sao?
Thân Vô Úy biết mình thế nào cũng
chết, mới quát to lên mà mắng rằng:
– Thằng Bão (tên Tống Văn-công) kia,
mày thông gian với tổ mẫu lại giết chết đích điệt, may mà thoát nạn, lại còn
dám vô lễ với sứ thần nước lớn. Quân Sở ta kéo sang đây thì vua tôi mày tan xác
ra như cám!
Hoa Nguyên sai cắt lưỡi Thân Chu
trước, rồi sau mới chém, lại đốt văn thư của nước Sở, đem tro ném ra ngoài
cõi.Người theo hầu Thân Chu về báo với Sở Trang vương, Sở Trang-vương đang ăn
cơm, nghe tin Thân Chu bị giết, thì ném đũa xuống chiếu, rồi đứng ngay dậy, sai
quân tư mã là công tử Trắc sửa soạn binh mã để thân hành sang đánh Tống, lại
cho Thân Tề (con Thân Chu) làm chức quân chính để theo đi đánh. Quân nước Sở
vây kín thành Thư Dương (kinh thành nước Tống), làm ra những cái thang cao bằng
mặt thành, bốn mặt đánh vào.
Hoa Nguyên cố sức chống giữ, lại
sai quân đại phu là Nhạc Anh Tề lẻn sang cáo cấp với nước Tấn. Tấn Cảnh-công
toan đem quân đi cứu. Mưu thần là Bá Tôn can rằng:
– Tuân Lâm Phủ đem đại quân đi
đánh quân Sở mà bị thua ở đất Bí Thành, ấy là lòng trời giúp cho nước Sở đó!
Nay ta đi cứu Tống, vị tất đã nên việc.
Cảnh công nói:
– Hiện bây giờ chỉ có nước Tống
là thân với ta, nếu ta không cứu thì bỏ mất nước Tống!
Tấn Cảnh-công khen phải, hỏi các
quan trong triều xem có ai dám sang sứ nước Tống. Quan đại phu là Giải Dương
xin đi. Tấn Cảnh-công nói:
– Việc này trừ phi Tử Hồ (tên tự
của Giải Dương) thì không còn ai đương nổi!
Giải Dương mặc quần áo thường dân
đi sang nước Tống, bị quân Sở bắt được, đem nộp Sở Trang vương. Sở Trang-vương nhận
biết là tướng nước Tấn, tên gọi Giải Dương, mới hỏi Giải Dương rằng:
– Nhà ngươi đến đây có việc gì?
Giải Dương nói:
– Tôi phụng mệnh chúa công tôi đến
dụ nước Tống cứ cố sức chống giữ để đợi quân cứu viện.
Sở Trang-vương nói:
– Ngày trước nhà ngươi đã bị tướng
nước ta là Vĩ Giả bắt được, ta đã không nỡ giết mà tha cho về, nay nhà ngươi lại
chui đầu vào lưới thế là nghĩa lý gì, nhà ngươi thử nói ta nghe!
Giải Dương nói:
– Tấn và Sở là cừu địch, thì tôi
bị giết là phải lắm, còn nói gì!
Trang vương khám trong mình Giải
Dương, bắt được đạo văn thư, liền mở ra xem, xem xong bảo rằng:
– Kinh thành nước Tống, chẳng qua
chỉ nay mai thì ta sẽ phá vỡ mà thôi, bây giờ nhà ngươi phải nói trái lại những
lời đã viết trong văn thư mà bảo nước Tống rằng: “Nước Tấn ta ngày nay có nhiều
việc cần kíp, không thể nào sang cứu nước Tống được, sợ để cho nước Tống phải
mong đợi mãi thì lỡ công việc, vậy chúa công tôi có sai tôi đến nói cho nước
ngươi biết!”. Như thế thì người nước Tống không còn mong đợi gì nữa, tất phải
ra hàng, nhân dân hai nước sẽ tránh khỏi được vạ chiến tranh khổ sở. Khi việc
đã thành rồi, ta sẽ trọng thưởng nhà ngươi và cho làm quan ở nước Sở ta”.
Giải Dương cúi đầu nín lặng,
không nói gì cả. Sở Trang-vương nói:
– Nếu nhà ngươi không nghe lời
thì ta sẽ chém đầu.
Giải Dương vốn không muốn nghe lời,
nhưng sợ mình chết ở trong đám quân Sở thì không có ai đem lời vua Tấn mà truyền
báo cho nước Tống biết, mới giả cách xin vâng mệnh. Sở Trang-vương để Giải
Dương đứng ở trên xe, bắt phải ra truyền báo cho người nước Tống. Giải Dương liền
gọi người nước Tống mà bảo rằng:
– Ta là sứ nước Tấn, tên gọi Giải
Dương, bị quân Sở bắt được, bảo ta dụ nước ngươi ra hàng, nhưng nước ngươi chớ
nghe, chúa công ta sắp sửa đem đại binh đến cứu đó!
Sở Trang-vương nghe tiếng, liền
sai lôi xuống mà mắng rằng:
– Nhà ngươi đã nhận với ta mà lại
bội ước thế là ngươi thất tín, chớ trách ta tàn ác.
Sở Trang-vương truyền cho vũ sĩ
đem Giải Dương ra chém. Giải Dương chẳng sợ hãi chút nào cả, thong dong mà đáp
rằng:
– Sao đại vương lại bảo là tôi thất
tín! Nếu tôi theo lời đại vương thì lại thất tín với nước Tống tôi lắm. Giả sử
nước Sở có người bề tôi nào ăn lễ của nước khác mà trái lời đại vương thì đại
vương cho là người biết thủ tín hay sao? Tôi xin chịu chết để tỏ ra rằng chữ
tín của nước Sở là ở bên ngoài chứ không ở bên trong!
Sở Trang-vương khen rằng:
– Nhà ngươi là một trung thần
không sợ chết!
Nói xong, liền tha cho về. Hoa
Nguyên nghe thấy Giải Dương nói là quân Tấn sắp sửa sang cứu, lại càng cố sức
chống cự với quân Sở. Công tử Trắc (tướng nước Sở) sai quân sĩ làm một cái chòi
cao ở phía ngoài thành nước Tống mà ở phía ngoài thành nước Tống mà ở, để dứng
trên nhìn vào trong thành, xem tình hình nước Tống. Hoa Nguyên cũng làm một cái
chòi ở phía trong thành để nhìn ra. Hai bên giữ nhau từ tháng chín năm trước đến
tháng năm năm sau, trong thành nước Tống, lương thực hết sạch cả, nhiều người bị
chết đói. Hoa Nguyên đem những lời trung nghĩa khuyên bảo kẻ dưới, người nước Tống
đều cảm động mà khóc, đổi con cho nhau mà ăn, lượm lặt xương người chết mà nấu.
Sở Trang-vương không biết làm thế
nào. Quân sĩ lại tâu rằng:
– Lương thực trong dinh, chỉ còn
bảy ngày nữa thì hết.
Sở Trang-vương nói:
– Ta không ngờ nước Tống mà đánh
khó như thế.
Nói xong, liền đứng lên trên xe để
xét xem tình hình quân sĩ nước Tống, thì thấy quân sĩ giữ thành rất nghiêm chỉnh.
Sở Trang-vương bèn thở dài, rồi triệu công tử Trắc để bàn việc rút quân về. Thân
Tề (con Thân Vô Úy) sụp lạy trước xe Sở Trang-vương, khóc mà nói rằng:
– Cha tôi liều chết để phụng mệnh
đại vương, nay đại vương lại thất tín với cha tôi hay sao!
Sở Trang-vương có ý hổ thẹn. Thân
Thúc Thời bấy giờ đang cầm cương trên xe Sở Trang-vương, mới hiến kế rằng:
– Nước Tống không chịu hàng là vì
biết chừng quân ta không ở lâu được, nếu ta truyền cho quân sĩ làm nhà ở, và cầy
ruộng để lấy thóc ăn, tỏ cho nước Tống biết là quân ta còn ở đây lâu thế thì nước
Tống tất sợ mà phải đầu hàng.
Sở Trang-vương khen phải, truyền
cho quân sĩ đi đốn gỗ làm nhà ở xung quanh thành. Trong mười người thì để năm
người vây thành, còn năm người cày ruộng, cứ mười ngày lại thay đổi nhau một lần.
Hoa Nguyên nghe thấy tin ấy, nói với Tống Văn-công rằng:
– Quân Sở không có ý rút về mà
quân Tấn cũng không thấy đến cứu, biết làm thế nào, âu là tôi xin lẻn vào dinh
quân Sở để hiếp công tử Trắc, bắt phải cho giảng hoà thì họa chăng mới được việc.
Tống Văn-công nói:
– Nước ta còn hay mất, quan hệ ở
việc này lắm, tướng quốc phải cẩn thận mới được!
Hoa Nguyên dò biết là công tử Trắc
vẫn ngủ ở trên chòi cao, lại dò biết hết cả họ tên những người thị vệ của Sở
Trang-vương. Đêm hôm ấy Hoa Nguyên thay hình đổi dạng làm người thị vệ, dòng
dây xuống thành, lẻn đến dinh quân Sở. Gặp quân Sở đang đi tuần, Hoa Nguyên hỏi
rằng:
– Quan nguyên soái có ở trên chòi
không?
Quân Sở nói:
– Có!
Hoa Nguyên lại hỏi:
– Ngài đã ngủ chưa?
Quân Sở nói:
– Mấy ngày hôm nay, ngài khó nhọc
quá, hôm nay đại vương ban cho một thẩu rượu, ngài uống xong đã đi nghỉ rồi!
Hoa Nguyên vội trèo thẳng lên
trên chòi. Quân Sở ngăn lại. Hoa Nguyên nói:
– Hôm nay đại vương có việc cơ mật,
cần phải dặn bảo quan nguyên soái, mới rồi lại có cho quan nguyên soái uống rượu,
đại vương sợ quan nguyên soái uống rượu mà ngủ quên đi mất, nên phải sai tôi đến
đây để dặn lại cho thật cặn kẽ rồi về nói ngay cho đại vương biết.
Quân Sở tưởng thực, để cho Hoa
Nguyên trèo lên. Trên chòi đèn thấp còn sáng, công tử Trắc cởi áo, nằm ngủ đã
say, Hoa Nguyên trèo ngay lên giường nắm se sẽ lấy tay lay công tử Trắc. Công tử
Trắc tỉnh dậy, bị Hoa Nguyên nắm lấy hai cánh tay. Công tử Trắc vội vàng hỏi:
– Ai thế này?
Hoa Nguyên nói sẽ mà đáp rằng:
– Nguyên soái chớ sợ! Tôi là Hoa
Nguyên nước Tống đây! Tôi phụng mệnh chúa công tôi sang đây để xin giảng hòa. Nếu
quan nguyên soái nghe lời thì hai nước cùng nhau đời đời giao hiếu, nhươc bằng
quan nguyên soái không nghe thì tôi và nguyên soái cùng chết đêm nay.
Hoa Nguyên tay trái giữ lấy công
tử Trắc, tay phải rút một con dao nhọn ở trong mình ra. Trông dưới bóng đèn, thấy
lưỡi dao sáng quắc, công tử Trắc vội vàng đáp rằng:
– Có việc thì thương lượng với
nhau, cần gì mà phải thô lỗ.
Hoa nguyên rụt lưỡi dao lại mà
xin lỗi rằng:
– Nguyên soái chớ lấy làm lạ! Vì
sự thể gấp quá, cho nên tôi phải làm như vậy.
Công tử Trắc nói:
– Tình hình nước Tống bây giờ thế
nào?
Hoa Nguyên nói:
– Chẳng nói giấu gì nguyên soái,
nước tôi đổi con cho nhau mà ăn, nhặt xương người mà nấu, cùng khốn lắm rồi!
– Tình hình nước Tống đã đến nỗi
cùng khốn quá như vậy kia à? Sao nhà ngươi lại chịu đem thực tình mà báo cho ta
biết?
Hoa Nguyên nói:
– Người quân tử thấy người ta
cùng khốn thì có lòng thương, tôi chắc quan nguyên soái là người quân tử, vậy
nên tôi không dám giấu.
Công tử Trắc nói:
– Thế thì vì cớ gì mà nước Tống
còn không chịu đầu hàng?
Hoa Nguyên nói:
– Tình hình nước tôi dẫn cùng khốn,
nhưng chí khí dân nước tôi vẫn chưa sờn, cho nên vua và dân nước tôi cố sức chống
giữ, thà rằng cùng chết với nhau, còn hơn cái nhục đầu hàng ở dưới chân thành. Nếu
quan nguyên soái có lòng thương dân mà rút quân ra ngoài ba mươi dặm, thì chúa
công tôi cũng xin một lòng thần phục quý quốc, không bao giờ dám trái lời.
Công tử Trắc nói:
– Ta cũng chẳng dấu gì nhà ngươi,
quân Sở ta cũng chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày mà nước người không đầu hàng
thì quân Sở cũng phải rút về thôi. Mới rồi, ta sai quân sĩ làm nhà ở và cày ruộng,
là lập kế khiến cho nước ngươi sợ đó mà thôi. Sáng mai ta tâu với vua Sở lui
quân ba mươi dặm, vua tôi nhà ngươi chớ có thất tín.
Hoa Nguyên nói:
– Tôi xin cùng với Nguyên soái ăn
thề, hai bên đều không sai lời nhau!
Công tử Trắc cùng Hoa Nguyên ăn
thề xong, lại xin kết nghĩa anh em. Công tử Trắc lấy một chiếc lệnh tiễn trao
cho Hoa Nguyên, dặn phải đi mau. Hoa Nguyên có chiếc lệnh tiễn ấy thì cứ công
nhiên đi thẳng đến dưới thành, làm ám hiệu cho trên thành thả dây xuống rồi kéo
lên, đi thẳng vào trong cung, đem lời công tử Trắc tâu với Tống Văn-công. Sáng
hôm sau, công tử Trắc cũng đem lời Hoa Nguyên thuật lại cho Sở Trang-vương nghe,
và tâu rằng:
– Suýt nữa thì mệnh tôi chết về
lưỡi dao của Hoa Nguyên đêm hôm qua rồi, may mà Hoa Nguyên có lòng nhân từ đem
tình hình trong nước bảo thực với tôi và xin tôi rút quân, tôi đã nhận lời rồi,
xin đại vương xuống chỉ.
Sở Trang-vương nói:
– Nước Tống cùng khốn như thế, ta
nên cố đánh cho kỳ được!
Công tử Trắc sụp lạy mà tâu rằng:
– Quân ta chỉ còn có lượng ăn
trong bảy ngày, tôi đã trót bảo thực với Hoa Nguyên rồi.
Trang vương nổi giận mà nói rằng:
– Sao nhà ngươi lại nói thực với
quân giặc?
Công tử Trắc nói:
– Một nươc Tống nhỏ mọn như vậy,
còn có người bề tôi không chịu nói dối, huống chi đường đường nước Sở ta mà lại
không có người bề tôi như thế hay sao!
Trang vương nguôi cơn giận mà bảo
rằng:
– Quan tư mã nói phải lắm!
Trang vương bèn hạ lệnh rút quân,
ra đóng ở ngoài ba mươi dặm. Thân Tề thấy Trang vương đã hạ lệnh rút quân về,
không dám ngăn trở, nhưng vật mình ôm bụng mà kêu khóc. Trang vương sai người
khuyên bảo Thân Tề rằng:
– Nhà ngươi chớ phiền! Thế nào ta
cũng làm cho tỏ được lòng hiếu của nhà ngươi!
Hoa Nguyên phụng mệnh Tống
Văn-công đến dinh quân Sở để làm tờ giao ước. Công tử Trắc theo Hoa Nguyên vào
thành nước Tống, cùng với Tống Văn-công ăn thề. Tống Văn-công sai Hoa Nguyên
đưa linh cữu Thân Chu sang trả quân Sở và sang ở lại nước Sở đế làm tin. Sở
Trang-vương rút về nước Sở, làm lễ an táng cho Thân Chu rất trọng thể. Các quan
trong triều đều đi đưa tất cả. Sở Trang-vương lại cho Thân Tề được nối chức cha
làm quan đại phu. Hoa Nguyên ở nước Sở, chơi thân với công tử Trắc và nhân đó lại
kết giao với công tử Anh Tề.
Một hôm hai người ngồi chơi với
nhau, bàn đến thời sự, công tử Anh Tề thở dài mà than rằng:
– Nay Tấn và Sở tranh nhau, binh
hoà liên miên biết bao giờ cho thiên hạ được thái bình!
Hoa Nguyên nói:
– Tôi nghĩ đang khi Tấn và Sở
tranh nhau, không bên nào chịu thua, như bây giờ nếu được một người đứng lên
nói cho hai bên giảng hòa với nhau, các nước phụ thuộc của hai bên nào thì triều
cống về bên ấy, rồi cùng nhau yên nghỉ, khiến cho nhân dân trách khỏi lầm than
khổ sở, như thế cũng chẳng may cho đời lắm ru!
Công tử Anh Tề nói:
– Việc ấy nhà ngươi có làm nổi
hay không?
Hoa Nguyên nói:
– Ta có giao du với tướng quân nước
Tấn là Loan Thư, năm trước tôi sang sứ nước Tấn, Loan Thư cũng có nói đến việc ấy,
tiếc rằng không có ai ở giữa mà liên hợp hai nước với nhau được.
Ngày hôm sau, công tử Anh Tề đem
lời Hoa Nguyên nói với công tử Trắc. Công tử Trắc nói:
– Hai nước còn chưa chán sự tranh
chiến, việc ấy đã bàn đến thế nào được.
Hoa Nguyên ở Sở đã được sáu năm
thì Tống Văn-công (Bão) chết, con là Tống Cung-công (Cố) lên nối ngôi. Hoa
Nguyên mới về nước Tống để chịu tang.
Lại nói chuyện Tấn Cảnh-công nghe
tin quân Sở vây quân Tống đã hơn một năm, mới bảo Bá Tôn rằng:
– Nước Tống cố giữ được như vậy,
cũng đã mỏi mệt lắm rồi, ta chớ nên thất tín, phải đem quân đi cứu mới được.
Tấn Cảnh-công đem quân đi cứu Tống.
Bỗng nghe báo có sứ nước Lộ đưa mật thư đến. Nguyên xưa nước Lộ tức là một giống
Xích Địch, ở tiếp giáp với nước Lê, đến đời Chu Bình-vương, vua nước Lộ đuổi
vua nước Lê mà chiếm lấy đất, từ đó mỗi ngày một cường thịnh. Bấy giờ vua nước
Lộ tên gọi Anh Nhi, lấy người chị Tấn Cảnh-công là Bá Cơ làm phu nhân. Anh Nhi
hèn yếu, quan tướng quốc là Phong Thư chuyên quyền, khi trước có Hồ Xạ Cô là
công thần nước Tấn trốn sang ở nước Lộ, Phong Thư còn e sợ, không dám hoành
hành lắm, từ lúc Hồ Xạ Cô chết rồi, Phong Thư không còn e sợ ai cả, muốn cho
vua Lộ tuyệt giao với Tấn, liền vu tội cho Bá Cơ, bảo vua nước Lộ giết đi.
Một hôm, Phong Thư cùng với vua
nước Lộ (tức là Anh Nhi) đi săn ở ngoài cõi, nhân khi uống rượu say, thi nhau bắn
chim, Phong Thư bắn sẩy tay khiến vua nước Lộ bị thương ở mắt. Phong Thư ném
cung xuống đất, cười mà nói rằng:
– Tôi bắn không trúng nên phạt một
chén rượu.
Vua nước Lộ không thể nhịn được,
nhưng liệu sức mình không làm gì nổi Phong Thư mới làm tờ mật thư đưa sang nước
Tấn, xin nước Tấn đem quân sang hỏi tội Phong Thư. Mưu thần nước Tấn là Bá Tôn
nói với Tấn Cảnh-công rằng:
– Nay ta giết Phong Thư, chiếm lấy
đất nước Lộ và cả mấy nước xung quanh nữa thì phía tây nam nước Tấn ta mỗi ngày
một mở rộng, cơ hội ấy chớ nên bỏ phí!
Tấn Cảnh-công cũng giận vua nước
Lộ về việc giết vợ là Bá Cơ (chị Tấn Cảnh-công), mới sai Tuân Lâm Phủ làm đại
tướng, Ngụy Khóa (con Ngụy Thù) làm phó tướng, đem quân đi đánh nước Lộ. Phong
Thư đem quân ra đất Khúc Lương để chống cự với quân Tấn, bị quân Tấn đánh thua,
bỏ chạy sang nước Vệ. Vệ Mục-công (Tốc) đang cùng với nước Tấn giao hiểu, liền
bắt Phong Thư đưa sang nộp quân Tấn. Tuân Lâm Phủ sai giải Phong Thư về Giáng
Đô (kinh thành nước Tấn) mà giết đi. Quân Tấn kéo thẳng vào kinh thành nước Lộ.
Vua nước Lộ là Anh Nhi ra đón. Tuân Lâm Phủ ra đón. Tuân Lâm Phủ kể tội Anh Nhi
giết oan Bá Cơ, rồi bắt đem về nước Tấn, lại mượn cớ, dân nước Lê nhớ vua cũ,
liều tìm con cháu vua nước Lê, đắp thành cho ở một chỗ, tiếng là khôi phục nước
Lê, kỳ thực là dể diệt nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi nghĩ đến nước mà thương
xót, rồi tự vẫn chết. Người nước Lộ lập đền thờ. Tấn Cảnh-công sợ Tuân Lâm Phủ
chưa đánh được nước Lộ, mới đem đại binh đóng ở Tắc Sơn để tiếp ứng.
Khi Tuân Lâm Phủ đánh được nước Lộ
rồi, đến Tắc Sơn báo tin thắng trận, mới lưu phó tướng là Ngụy Khóa ở lại nước
Lộ, để giữ lấy nước ấy. Bỗng có một toán quân kéo đến nước Lộ, hỏi ra mới biết
là đại tướng nước Tần tên gọi là Đỗ Hồi. Nguyên từ khi Tần Khang-công chết, con
là Tần Cung-công (Đạo) nối ngôi, nhân việc Triệu Xuyên sang đánh Sùng, là một
nước phụ thuộc của Tần, bởi vậy Tần mới kết giao với Phong Thư để chống nhau với
Tấn. Được bốn năm thì Tần Cung-công chết, con là Tần Hoàn-công (Vinh) lên nối
ngôi, bấy giờ, bấy giờ đang là năm thứ mười một đời Tần Hoàn-công, nghe tin nước
Tấn sang đánh Phong Thư, Tần toan đem quân đến cứu, nhưng lại nghe tin nước Tấn
đã giết Phong Thư và bắt vua nước Lộ, Tần bèn sai Đỗ Hồi đem quân sang để tranh
lấy địa giới nước Lộ.
Đỗ Hồi vốn là một người lực sĩ đã
có danh tiếng ở nước Tần, hàm răng nhọn hoắt, khóe mắt tròn xoe, tay cứng như đồng,
mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, mình cao hơn trượng, lại có sức khỏe, vẫn
thường cầm một cái búa khai sơn, nặng một trăm hai mươi cân. Nguyên Đỗ Hồi thuộc
giống Bạch Địch, khi trước đã có một lần ở Thanh My Sơn Đỗ Hồi đâm chết luôn ba
con hổ, rồi lột da đem về, Tần Hoàn-công nghe nói là người vũ dũng, cho làm xa
hữu tướng quân, lại một lần nữa, Đỗ Hồi chỉ đem ba trăm người mà phá vỡ được hơn
một vạn giặc cướp ở Xa Nga Sơn, bởi vậy uy danh mỗi ngày một lừng lẫy, thân làm
đến đại tướng.
Ngụy Khỏa thấy Đỗ Hồi đem quân đến,
tức khắc bày trận để đợi giao chiến. Đỗ Hồi tay cầm búa khai sơn, đem ba trăm
quân đến tận nơi, chém giết quân Tấn, khác nào như một vị thiên thần giáng hạ. Quân
Tấn sợ hãi, bỏ chạy tán loạn. Ngụy Khỏa vội vàng rút quân vào trại, rồi giữ thế
thủ, không dám ra đánh nữa. Đỗ Hồi đến khiêu chiến luôn trong ba ngày mà Ngụy
Khỏa nhất định không ra. Bỗng nghe báo có tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ (em Ngụy Khỏa)
đem quân đến tiếp ứng. Ngụy Kỳ nói với Ngụy Khỏa rằng:
– Chúa công sợ bọn Xích Địch kết
liên với nước Tần mà sinh biến, vậy có sai tôi đến đây để tiếp ứng.
Ngụy Khỏa thuật lại những chuyện
vũ dũng của tướng nước Tần là Đỗ Hồi cho là không ai địch nổi. Ngụy Kỳ không
tin, nói rằng:
– Làm gì đám giặc cỏ ấy! Ngày mai
tôi ra trận, thế nào cũng quyết đánh tan được!
Ngày hôm sau, Đỗ Hồi lại đến
khiêu chiến. Ngụy Kỳ tức giận, toan xông ra đánh. Ngụy Khỏa cố ý ngăn lại. Ngụy
Kỳ không nghe, đem quân ra giao chiến với Đỗ Hồi. Đỗ Hồi lại múa búa khai sơn,
tả xung hữu đột, chém chết quân Tấn. Ngụy Kỳ thua to, may nhờ có Ngụy Khỏa đem
quân ra tiếp ứng, mới về được trong trại. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa đang ngồi trong
trại, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế gì, đang mơ mơ màng màng, bỗng
nghe tiếng người ghé vào tai mà đọc ba tiếng: “Thanh Thảo bi”, đến lúc tỉnh dậy,
không hiểu là nghĩa làm sao, mà chợp mắt ngủ đi thì lại thấy như trước, bèn đem
chuyện nói với Ngụy Kỳ.
Ngụy Kỳ nói:
– Cách đây độ mười dặm, có một
cái bãi cỏ, tên gọi “Thanh Thảo bi”, hay là quân Tần sau này tất sẽ phải thua
trận ở đấy chăng, vậy tôi xin đem một toán quân đến đó mai phục sẵn, rồi anh lập
kế đem quân giặc đến, hai bên cùng đánh thì mới phá vỡ được.
Ngụy Kỳ liền đem quân đến mai phục
sẵn ở Thanh Thảo bi. Ngụy Khỏa giả cách thua chạy, dụ Đỗ Hồi đến gần Thanh Thảo
bi. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên đổ ra, cùng với Ngụy Khỏa vây chặt lấy
Đỗ Hồi. Đỗ Hồi chẳng sợ hãi chút nào cả, vẫn cầm búa khai sơn, tả xung hữu đột,
dần dần tiến đến phía Thanh Thảo bi. Bỗng thấy Đỗ Hồi mỗi bước lại ngã một cái,
khác nào như người trượt nước băng. Quân Tấn thấy vậy, reo ầm cả lên. Ngụy Khỏa
ngừng trông, thấy một ông lão già, mình mặc áo vải, chân đi giày đay, đang kết
những dây cỏ lại, để làm cho vướng chân Đỗ Hồi. Quân Đỗ Hồi thấy chủ tướng bị bắt,
đều bỏ chạy tán loạn cả, bị quân Tấn đuổi bắt, số ba trăm người chỉ trốn thoát
được độ bốn năm chục người mà thôi.
Ngụy Khỏa hỏi Đỗ Hồi rằng:
– Ngươi cậy có sức khỏe, cớ sao
cũng để bị bắt thế này?
Đỗ Hồi nói:
– Không biết hai chân ta vướng phải
vật gì mà thành ra khó cử động quá. Đó là trời hại ta, chứ không phải sức ta
không đánh nổi.
Ngụy Khỏa nghĩ lấy làm lạ. Ngụy Kỳ
nói với Ngụy Khỏa rằng:
– Đỗ Hồi đã có sức khỏe, nếu ta để
y sống thì e sẽ sinh biến.
Ngụy Khỏa nói:
– Ý ta cũng nghĩ như vậy!
Nói xong, truyền chém Đỗ Hồi, rồi
đem đầu về Tắc Sơn nộp Tấn Cảnh-công để lấy công. Đêm hôm ấy, Ngụy Kỳ nằm ngủ,
lại thấy ông lão già ngày hôm trước đến mặt vái chào mà nói rằng:
– Tướng quân có biết vì cớ gì mà
Đỗ Hồi bị bắt hay không? Vì tôi kết cỏ lại để làm cho Đỗ Hồi vướng chân mà ngã
đó.
Ngụy Khỏa kinh sợ, nói rằng:
– Tôi chưa được biết cụ bao giờ,
sao cụ lại giúp tôi như vậy, tôi biết lấy gì mà trả ơn cụ?
Ông lão già nói:
– Tôi là thân phụ nàng Tổ Cơ. Tướng
quân biết theo lời dặn sáng suốt của tiền nhân mà gả chồng cho con gái tôi, vậy
tôi cảm cái ơn ấy, đến đây để giúp tướng quân. Sau này con cháu tướng quân được
đời đời vinh hiển mãi.
Nguyên xưa thân phụ Ngụy Khỏa là
Ngụy Thù có một người thiếp yêu, tên gọi Tổ Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc lại
dặn Ngụy Khỏa rằng:
– Nếu ta ra trận mà chết đi, mày
nên cho Tổ Cơ đi lấy chồng được nơi xứng đáng, khiến Tổ Cơ có chỗ nương tựa, chớ
để cho hắn phải khổ sở thì ta dẫu chết cũng được yên lòng!
Đến lúc Ngụy Thù ốm nặng, lại dặn
Ngụy Khỏa rằng:
– Tổ Cơ là người thiếp yêu của ta.
Khi ta chết rồi, mày phải đem nàng ấy chôn theo ta, cho ta ở dưới suối vàng có
người bầu bạn.
Nói xong thì chết. Ngụy Khỏa an
táng cho cha, nhưng lại không bắt Tổ Cơ chôn theo. Ngụy Kỳ nói:
– Anh không nhớ lời cha dặn lúc gần
mất hay sao?
Ngụy Khỏa nói:
– Thân phụ ta lúc thường vẫn dặn
ta sau này gả chồng cho Tổ Cơ, đến lúc gần mất, lại dặn phải đem nàng đem chôn
theo, đó chỉ là lời dặn lúc mê hoảng mà thôi, người hiếu tử nên theo lời dặn của
cha khi còn sáng suốt, chớ theo lời trối khi lúc mê hoảng.
Về sau, Ngụy Khỏa gả Tổ Cơ cho một
nho sĩ. Vì Ngụy Khỏa có âm đức ấy, cho nên linh hồn thân phụ Tổ Cơ mới hiện lên
kết cỏ lại để báo ơn. Ngụy Khỏa thuật chuyện chiêm bao cho Ngụy Kỳ nghe. Ngụy Kỳ
lấy làm chuyện lạ lùng.
Vua tôi nước Tần nghe tin Đỗ Hồi
thua trận, đều sợ hãi mất vía. Tấn Cảnh-công thưởng cho Ngụy Khỏa đất Linh Hồ,
để làm thái ấp, lại đúc một quả chuông để ghi công thắng trận, gọi quả chuông
là “Cảnh chung”. Tấn Cảnh-công lại sai Sĩ Hội đem quân đi diệt nước Điền Thị,
nước Lưu Vu và nước thuộc Lưu Vu là nước Đạc Thần. Mấy nước ấy đều là của người
Xích Địch, từ đó đất đai Xích Địch đều thuộc về nước Tấn tất cả.
Bấy giờ nước Tấn mất mùa, trộm cướp
nổi lên như ong. Tuân Lâm Phủ dùng được một người có tài dò xét kẻ trộm, người ấy
tên gọi Khước Ưng. Khước Ưng thường ra chơi chợ, trỏ vào ai mà bảo là kẻ trộm,
đem bắt về tra hỏi thì quả nhiên là kẻ trộm thật. Tuân Lâm Phủ hỏi Khước Ưng rằng:
– Tại sao nhà ngươi lại biết được
như vậy?
Khước Ưng nói:
– Tôi trông con mắt người ấy, khi
thấy hàng hóa ở chợ thì có ý tham, thấy người ở chợ thì có ý thẹn, sao thấy tôi
tới nơi thì có ý sợ, bởi thế mà tôi biết đích là kẻ trộm.
Khước Ưng mỗi ngày bắt được mấy
chục đứa kẻ trộm, nhưng số kẻ trộm lại càng ngày càng nhiều. Quan đại phu là
Dương Thạch Chức nói với Tuân Lâm Phủ rằng:
– Nguyên soái dùng Khước Ưng để bắt
trộm, nhưng tôi e rằng kẻ trộm chưa bắt được hết mà Khước Ưng đã chết đến nơi!
Tuân Lâm Phủ giật mình kinh sợ hỏi
rằng:
– Sao thế?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét