Tần Mục-công phù lập Trùng Nhĩ
Hồ Mao và Hồ Yển theo công tử Trùng Nhĩ ở nước Tần, nghe tin phụ thân là Hồ Đột bị Tấn Hoài-công giết, liền vật mình than khóc.
Triệu Thôi nói:
- Người đã chết rồi, không thể sống lại được, dẫu thương cũng vô ích, chỉ bằng ta vào yết kiến công tử để bàn về việc phục quốc.
Hồ Mao và Hồ Yển gạt nước mắt, cùng với Triệu Thôi vào yết kiến Trùng Nhĩ, đem việc Hồ Đột bị hại nói với Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ bảo Hồ Mao và Hồ Yển rằng:
- Hai ngươi chớ có lo phiền, chờ khi ta về nước, sẽ báo thù cho hai ngươi.
Nói xong, liền đem việc nước Tấn vào nói với Tần Mục-công.
Mục-công nói:
- Ấy là cơ hội trời muốn cho công tử trở về nước Tấn đó, công tử chớ nên bỏ hoài? Tôi xin hết lòng giúp công tử.
Triệu Thôi đỡ lời Trùng Nhĩ mà nói với Mục-công rằng:
- Nhà vua có lòng giúp thì xin giúp ngay cho, nếu để cho thế tử Ngữ (Tấn Hoài-công) đã cải nguyên cáo miếu rồi, thì cái phần vua tôi đã định, cũng hơi khó một chút.
Tần Mục-công khen phải, Trùng Nhĩ cáo từ về công quán. Bỗng nghe báo có người nước Tấn xin vào yết kiến để nói việc cơ mật. Trùng Nhĩ cho vào, hỏi họ tên là gì? Người ấy sụp lạy mà nói rằng:
- Tôi là con quan đại phu nước Tấn là Loan Chi, tên gọi là Loan Thuẫn. Cha tôi thấy tân quân (Tấn Hoài-công) bây giờ tính đa nghi mà lại tàn nhẫn, hay chém giết lắm, dân trong nước đều có lòng oán, vậy mới sai tôi sang đây báo tin cho công tử biết, nếu công tử đem quân về đánh thì cha tôi xin làm nội ứng.
Trùng Nhĩ mừng lắm, đính ước với Loan Thuẫn, hẹn đến đầu năm sau thì về. Loan Thuẫn cáo từ trở về nước Tấn. Trùng Nhĩ khấn Trời, rồi đem cỏ thi ra bói, bói được hào lục quẻ "Thái ", liền gọi Hồ Yển vào đoán. Hồ Yển nói:
- Quẻ này là một quẻ thượng cát, công tử về nước chẳng những được nối ngôi, lại có cơ làm bá chủ chư hầu nữa.
Trùng Nhĩ đem chuyện Loan Thuẫn bảo cho Hồ Yển biết. Hồ Yển nói:
- Sáng mai công tử nên vào nói với vua Tần mượn quân về nước, chớ chậm trễ nữa.
Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ vào yết kiến Tần Mục-công. Mục-công không đợi Trùng Nhĩ phải nói, liền bảo Trùng Nhĩ rằng:
- Tôi đã biết công tử đang nóng lòng phục quốc, để tôi xin thân hành đem quân đưa công tử về.
Trùng Nhĩ tạ ơn lui ra. Phi Báo nghe tin Tần Mục-công sắp đem quân đưa Trùng Nhĩ về nước, mới xin làm tiên phong. Mục-công thuận cho. Tháng chạp năm ấy, Mục-công bày một tiệc rượu ở Cửu Long sơn để thết đãi Trùng Nhĩ và bọn Triệu Thôi, tặng cho mỗi người một đôi bạch bích, rồi cử đại binh đưa Trùng Nhĩ về nước Tấn.
Thế tử Doanh nước Tần cũng có lòng kính mến Trùng Nhĩ lắm, đi tiễn chân đến sông Vị Dương, mới từ biệt trở về. Đại binh nước Tần kéo đến bờ sông Hoàng Hà, Tần Mục-công truyền bày tiệc cùng với Trùng Nhĩ uống rượu, rồi ân cần dặn Trùng Nhĩ rằng:
- Khi công tử về nước, xin chớ quên vợ chồng tôi.
Nói xong, liền chia một nửa quân, sai công tử Chí và Phi Báo đưa Trùng Nhĩ sang sông Hoàng Hà còn mình thì đóng quân ở Hà Tây để chờ tin.
Bấy giờ Hồ Thúc là người theo hầu Trùng Nhĩ, từ khi đi trốn đến giờ, vẫn chuyên giữ việc hành lý, vì đã trải nhiều phen khổ sở, đói khát ở nước Tào, nước Vệ, nên tính rất căn cơ. Hồ Thúc bèn thu thập bao nhiêu chiếu nát, màn rách đều xếp xuống thuyền cả; đến những đồ cơm rượu còn thừa, Hồ Thúc cũng vẫn coi như của quý, đem cả xuống thuyền. Trùng Nhĩ trông thấy, bật cười mà bảo rằng:
- Ngày nay ta sắp về làm vua nước Tấn, thiếu gì đồ châu báu, còn dùng chi đến những vật hư nát ấy!
Nói xong, liền sai người đem quẳng bỏ ở trên bờ sông, không để một thứ gì lại. Hồ Yển bèn thở dài mà than rằng:
- Công tử chưa được phú quý mà đã quên lúc bần tiện, mai sau có mới nới cũ, coi lũ chúng ta khác nào những vật hư nát ấy, chẳng cũng uổng cái công chúng ta khó nhọc trong mười chín năm trời ru! Chi bằng ta nhân lúc công tử chưa qua sông này mà bỏ đi, họa may ngày khác công tử còn có lòng nghĩ đến!
Hồ Yển bèn đem một đôi ngọc bích trắng của Tần Mục-công tặng khi trước, quỳ dâng Trùng Nhĩ mà nói rằng:
- Nay công tử qua sông Hoàng Hà này tức là đã đến địa giới nước Tấn, trong thì có bầy tôi nước Tấn, ngoài thì có các tướng nước Tần giúp đỡ, ngôi vua nước Tấn chắc hẳn phải về tay công tử, dẫu có tôi đi theo, cũng không ích gì. Tôi xin ở lại nước Tần để làm một người ngoại thần của công tử.
Trùng Nhĩ giật mình kinh sợ mà hỏi rằng:
- Ta đang muốn cùng các ngươi cùng hưởng phú quý, sao nhà ngươi lại nói như vậy?
Hồ Yển nói:
- Tôi tự xét mình có ba tội, nên không dám theo.
Trùng Nhĩ hỏi:
- Ba tội là những tội gì?
Hớ Yển nói:
- Tôi theo giúp công tử mà để cho công tử phải khốn ở đất Ngũ Lộc, thế là một tội; để cho công tử bị vua Tào và vua Vệ khinh bỉ, thế là hai tội; khi ở nước Tề, dám nhân lúc công tử say rượu mà đem công tử đi để cho công tử phải tức giận, thế là ba tội. Ngày trước công tử còn ở nước ngoài, nên tôi không dám từ chối, nay công tứ đã về đến đây xin công tử cho tôi được ở lại nước Tần, vì tôi theo hầu trong bấy nhiêu năm, sức vóc đã suy yếu lắm rồi, khác nào như những đồ chiếu nát, màn rách, không thể dùng được nữa?
Trùng Nhĩ ứa nước mắt mà nói rằng:
- Nhà ngươi trách ta, thế là phải lắm, ta xin chịu lỗi?
Nói xong, liền sai Hồ Thúc thu nhặt lấy tất cả những vật đã bỏ đi trước. Trùng Nhĩ lại ngảnh mặt xuống sông Hoàng Hà mà thề rằng:
- Nếu ta về nước mà quên công ơn các ngươi, không cùng hưởng phú quý thì xin trời tru đất diệt!
Thề xong, lại cầm một viên bạch bích ném xuống sông Hoàng Hà mà nói rằng:
- Xin có thần Hà Bá chứng minh cho!
Bấy giờ Giới Tử Thôi ngồi ở chiếc thuyền bên cạnh, nghe thấy Trùng Nhĩ thề với Hồ Yển, liền cười mà nói rằng:
- Công tử về được nước, chẳng qua là tự ý Trời, Hồ Yển lại toan nhận lấy làm công mình hay sao? Nay ta phải ở cùng triều với những người tham phú quý như thế, ta cũng xấu hổ lắm!
Từ bấy giờ Giới Tử Thôi có ý muốn đi ẩn.
Trùng Nhĩ qua sông Hoàng Hà, đi đến đất Lịnh Hồ, quan trấn thủ ở đất Lịnh Hồ là Đặng Hồn đem quân ra chống giữ bị Phi Báo chém chết. Các quan trấn thủ khác đều xin hàng cả. Tấn Hoài-công nghe báo, giật mình kinh sợ, sai Lã Di Xanh làm chánh tướng, Khước Nhuế làm phó tướng, đem quân ra đóng ở đất Lư Liễu, để chống cự với quân nước Tần. Công tử Chí nước Tần liền viết một bức thư thay lời Tần Mục-công, rồi sai người đưa cho Lã Di Xanh và Khước Nhuế.
Trong thư đại lược nói rằng:
- Vua Tần tôi làm ơn cho nước Tấn nhiều lắm, mà cha con vua Tấn bây giờ lại đem lòng phụ ơn, coi nước Tần tôi như cừu địch; công tử Trùng Nhĩ là người hiền, dân nước Tấn đều quy phục cả, ấy là lòng trời muốn cho làm vua nước Tấn đó. Nay tôi cử đại binh đóng ở trên sông Hoàng Hà, sai công tử Chi đưa Trùng Nhĩ về làm vua, nếu nhà ngươi biết nhân dịp này mà làm nội ứng thì sẽ tránh khỏi tai vạ về sau?
Lã Di Xanh và Khước Nhuế xem xong bức thư, ngẩn người ra một lúc, không biết nói thế nào được. Muốn chống cự lại thì sợ quân nước Tần thế mạnh không thể địch nổi, muốn làm nội ứng để đón Trùng Nhĩ về làm vua thì lại sợ Trùng Nhĩ nhớ thù cũ mà giết mình để đền mạng cho Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ chăng, bởi vậy cứ ngần ngại mãi. Sau mới nghĩ được một kế, liền viết thư trả lời công tử Chí.
Trong thư đại lược nói rằng:
- Chúng tôi nay tự xét rằng đối với công tử là người có tội, vậy nên không dám bãi binh, nhưng bổn tâm chúng tôi thật vốn muốn tôn phù công tử, nếu chúng tôi được cùng với các quan theo hầu công tử ngày nay cùng thề rằng sau này quyết không làm hại lẫn nhau, bấy giờ chúng tôi sẽ xin vâng mệnh.
Công tử Chí đọc bức thư trả lời, biết là Lã Di Xanh và Khước Nhuế bèn sai người đón vào, hai người bày tỏ tâm sự cho công tử Chí biết, và nói rằng:
- Chúng tôi vẫn muốn làm nội ứng, nhưng sợ công tử Trùng Nhĩ không có lòng bao dung cho, vậy phải xin ăn thề.
Công tử Chí nói:
- Nếu ông tạm lui quân về phía Tây Bắc, thì tôi sẽ nói lại với công tử Trùng Nhĩ mà cho ông được ăn thề.
Lã Di Xanh và Khước Nhuế vâng lời, liền rút quân về đóng ở đất Châu Thành. Công tử Chí đem lời Lã Di Xanh và Khước Nhuế nói với công tử Trùng Nhĩ. Công tử Trùng Nhĩ sai Hồ Yển và công tử Chí đến đất Châu Thành hội thề với Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Thề xong, Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người theo Hồ Yển đi nghênh tiếp Trùng Nhĩ đến đất Châu Thành.
Tấn Hoài-công chờ mãi, không thấy tin tức Lã Di Xanh và Khước Nhuế, mới sai Bột Đề đi đốc chiến. Bột Đề đi đến nửa đường, nghe tin Lã Di Xanh và Khước Nhuế rút quân về đất Châu Thành cùng với Hồ Yển và công tử Chí giảng hòa, định đón Trùng Nhĩ về làm vua, thì vội vàng về báo tin cho Tấn Hoài-công biết. Tấn Hoài-công giật mình kinh sợ, liền triệu các quan triều thần vào để thương nghị. Các quan triều thần xưa nay vẫn mến phục Trùng Nhĩ, lại thấy Tấn Hoài-công chỉ tín dùng Lã Di Xanh và Khước Nhuế nên cũng có ý chán. Nay thấy Lã Di Xanh và Khước Nhuế đã làm phản rồi, họ mới bảo nhau người thì cáo ốm, người thì cáo bận việc nhà không vào dự hội. Tấn Hoài-công thở dài mà than rằng:
- Chẳng ngờ chỉ vì ta bỏ trốn về để mếch lòng nước Tần, mà đến nỗi thế này?
Bột Đề nói:
- Nay các quan tnều thần cùng tư ước với nhau để đón vua mới, thế thì chúa công phải tránh đi mới được. Tôi xin theo hầu chúa công mà trốn sang đất Cao Lương.
Tấn Hoài-công nghe lời, cùng với Bột Đề đi trốn. Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người đón công tử Trùng Nhĩ về rồi sụp lạy xin lỗi.
Trùng Nhĩ lấy lời ngọt ngào phủ dụ. Bọn Triệu Thôi cũng cùng với Lã Di xanh và Khước Nhuế bày tỏ tâm phúc, không nghi ky điều gì cả.
Lã Di Xanh và Khước Nhuế yên lòng, mời công tử Trùng Nhĩ vào đất Khúc ốc. Các quan triều thần rủ nhau đến đất Khúc ốc để nghênh tiếp rồi rước Trùng Nhĩ về kinh thành. Công tử Trùng Nhĩ lên nối ngôi, tức là Tấn Văn-công.
Tấn Văn-công từ năm bốn mươi ba tuổi trốn sang nước Địch, năm năm mươi nhăm tuổi sang ở nước Tề, năm sáu mươi mốt tuổi sang ở nước Tần, đến bây giờ phục quốc lên làm vua thì đã sáu mươi hai tuổi. Tấn Văn-công khi đã lên làm vua rồi, bèn mật sai người sang đất Cao Lương để giết Tấn Hoài-công. Tấn Hoài-công lên làm vua từ tháng chín năm trước đến tháng hai năm sau thì bị giết, tất cả mới được có sáu tháng. Bột Đề thấy Tấn Hoài-công bị giết, lại trốn về nước Tấn.
Tấn Văn-công bày tiệc để thết đãi quan tướng nước Tần là công tử Chí, và khao thưởng quân sĩ. Phi Báo sụp lạy Tấn Văn-công, xin phép cải táng cho cha là Phi Trịnh Phủ. Tấn Văn-công thuận cho, rồi muốn giữ Phi Báo ở lại triều để dùng, nhưng Phi Báo chối từ nói rằng:
- Tôi đã trót sang làm quan với Tần thì không dám bỏ mà về với chúa công.
Phi Báo cáo từ Tấn Văn-công, rồi cùng với công tử Chí trở về đất Hà Tây, báo tin cho Tần Mục-công biết, Tần Mục-công liền rút quân về nước.
Lã Di Xanh và Khước Nhuế dẫu sợ thế nước Tần, phải đón Trùng Nhĩ về nối ngôi, nhưng trong lòng vẫn nghi ky, lại xấu hổ với bọn Triệu Thôi, mới bàn nhau làm phản, cùng nhau lập mưu đốt cung để giết Trùng Nhĩ, rồi lập một vị công tử khác; ngặt vì khắp trong triều bây giờ không biết mưu với ai được, chỉ có Bột Đề là một kẻ cừu địch với Tấn Văn-công khi trước là có thể cùng bàn được thôi, liền sai người đi gọi Bột Đề.
Bột Đề thấy Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người gọi, vội vàng đến ngay. Lã Di Xanh và Khước Nhuế đem việc đốt cung nói với Bột Đề, Bột Đề bằng lòng và nhận lời, nhưng trong lòng không cho làm phải, nghĩ thầm một mình rằng:
- Ngày trước ta phụng mệnh Tấn Hiến-công và Tấn Huệ-công đi giết Trùng Nhĩ, chẳng qua là lúc bấy giờ ta chỉ biết một lòng vì chủ mà thôi. Nay Tấn Hoài-công đã chết rồi, Trùng Nhĩ lên nối ngôi, nước Tấn mới được yên ổn; nếu ta lại làm những việc đại nghịch bất đạo ấy thì chẳng những rằng chưa chắc ta đã làm gì nổi Trùng Nhĩ là người có Trời giúp, mà giả sử ta có giết được Trùng Nhĩ nữa thì các người theo hầu Trùng Nhĩ cũng vị tất đã để cho ta yên, chi bằng ta đem cáo giác việc này ra, thì lại là một con đường tiến thân cho ta được đây.
Bột Đề lại nghĩ thầm:
- Mình là người có tội, vào gọi cửa cung sao được!
Bột Đề nghĩ vậy rồi đêm hôm ấy đến yết kiến Hồ Yển. Hồ Yển trông thấy Bột Đề, giật mình kinh sợ mà hỏi rằng:
- Nhà ngươi đối với chúa công ta là người có tội to lắm, sao không tìm đường trốn tránh cho xa, mà lại đang đêm tới đây để làm gì?
Bột Đề nói:
- Tôi đến đây là có ý muốn xin vào yết kiến chúa công nhờ quốc cữu tiến dẫn cho.
Hồ Yển nói:
- Nhà ngươi vào yết kiến chúa công thì thật là dẫn thân vào chỗ chết!
Bột Đề nói:
- Tôi có một việc cơ mật, muốn vào tâu với chúa công để cứu lấy tính mệnh người trong nước.
Hồ Yển liền đưa Bột Đề đến cửa cung, rồi gọi cửa vào trước, đem việc Bột Đề xin vào yết kiến nói với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công nói:
- Bột Đề còn có việc gì mà bảo là cứu được tính mệnh người trong nước, chẳng qua là hắn ta sợ để nhờ quốc cữu tiến dẫn đó mà thôi!
Hồ Yển nói:
- Chúa công nay mới lên nối ngôi, cũng nên bỏ điều hiềm khích cũ mà cầu lời nói thẳng mới phải, xin chúa công cứ cho vào.
Tấn Văn-công có ý ngần ngừ, liền bảo nội thị truyền mắng Bột Đề rằng:
- Ngày trước nhà ngươi chém đứt vạt áo của ta, cái áo ấy hãy còn đó, ta trông thấy lúc nào vẫn còn rùng mình; Sau nhà ngươi lại phụng mệnh Huệ-công sang nước Địch để giết ta, may mà lòng trời giúp ta, nhà ngươi không thể giết nổi. Nay ta về nước, nhà ngươi còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa! Thôi thì nhà ngươi nên tìm đường trốn tránh cho xa, kẻo ta bắt mà trị tội đó.
Bột Đề cười khanh khách mà đáp rằng:
- Chúa công ở nước ngoài lưu lạc trong mười chín năm trời mà còn chưa hiểu thấu được thế sự hay sao! Hiến công ngày xưa là thân phụ của chúa công, mà Huệ-công cũng là thân đệ của chúa công đó, thế mà cha muốn giết con, em muốn giết anh, huống chi là Bột Đề này. Bột Đề này là một đứa tiểu thần, bấy giờ chỉ biết có Hiến công và Huệ-công mà thôi, nào đã biết chúa công là ai. Ngày xưa Quản Di Ngô vì Công tử Củ mà bắn trúng vao vòng đai của Tề Hoàn-công, thế mà Tề Hoàn-công còn dùng Quản Di Ngô để nêu được nghiệp bá; nếu Tề Hoàn-công cũng nghĩ như bụng chúa công ngày nay thì dễ thường phảl báo cái thù bắn trúng vòng đai, mà bỏ sự nghiệp bá chủ hay sao? Nay chúa công không cho tôi vào yết kiến, tôi cũng chẳng tổn hại gì, chỉ e tôi đã đi rồi thì cái tai vạ của chúa công cũng sắp đến nơi đấy!
Nội thị vào nói lại với Tấn Văn-công. Hồ Yển nói:
- Bột Đề tới đây, tất có biết được chuyện gì mà muốn nói, xin chúa công cứ cho vào.
Tấn Văn-công bèn cho triệu Bột Đề vào. Bột Đề vào đến trong cung, không xin lỗi những việc trước, chỉ sụp lạy hai lạy, rồi nói:
- Tôi xin chúc mừng chúa công!
Tấn Văn-công nói:
- Ta lên nối ngôi đã lâu, bây giờ nhà ngươi mới đến chúc mừng, chẳng cũng chậm lắm ru?
Bột Đề nói:
- Chúa công lên nối ngôi, cũng chưa đủ chúc mừng, nay gặp Bột Đề này mới giữ vững được ngôi ấy, vậy tôi xin chúc mừng chúa công.
Tấn Văn-công lấy làm lạ, đuổi hết người xung quanh đi rồi hỏi Bột Đề. Bột Đề bèn đem việc Lã Di Xanh và Khước Nhuế mưu làm phản kể lại một lượt, rồi nói với Tấn Văn-công rằng:
- Chúa công nên tức khắc cùng với quốc cữu (Hồ Yển) trốn sang nước Tần, rồi đem quân Tần về thì mới có thể dẹp yên được cái loạn này. Tôi xin ở nhà để làm nội ứng mà giết Lã Di Xanh và Khước Nhuế.
Hồ Yển nói:
- Việc đã cấp bách, tôi xin theo chúa công đi, còn công việc trong nước, đã có Triệu Thôi lo liệu.
Tấn Văn-công lại dặn Bột Đề rằng:
- Nhà ngươi nên cố sức, sau này ta sẽ trọng thưởng.
Bột Đề cáo từ lui ra. Tấn Văn-công cùng với Hồ Yển bàn định, gọi mấy người nội thị tâm phúc vào, dặn báo các công việc, và cấm không được tiết lộ ra cho ai biết. Canh năm đêm hôm ấy, Tấn Văn-công giả cách cảm hàn đau bụng, sai một nội thị nhỏ cầm đèn đưa ra nhà xí, rồi theo cửa sau, cùng với Hồ Yển lên xe trốn sang nước Tần.
Sáng hôm sau, trong cung có tin truyền ra là Tấn Văn-công ốm mệt, các quan bèn kéo đến hỏi thăm, nhưng đều không được vào. Người nội thị canh cửa nói:
- Đêm hôm qua chúa công bị cảm hàn, có truyền cho chúng tôi nói với các quan biết rằng mấy hôm nữa sẽ ra tiếp kiến.
Các quan đều tưởng là Tấn Văn-công ốm thật. Lã Di Xanh và Khước Nhuế nghe nói Tấn Văn-công có bệnh, trong lòng mừng thầm mà nói rằng:
- Thế mới thật trời giúp cho ta giết Trùng Nhĩ?
Tấn Văn-công cùng với Hồ Yển đi đến địa giới nước Tần, sai người đưa mật thư sang cho Tần Mục-công, ước đến hội nhau ở đất Vương Thành. Tần Mục-công nghe nói Tấn Văn-công giả dạng thường dân trốn sang nước Tần, biết là nước Tấn có biến loạn, mới giả cách đi săn, rồi đến đất Vương Thành hội nhau với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công đem việc Lã Di Xanh và Khước Nhuế âm mưu làm phản nói cho Tần Mục-công nghe. Tần Mục-công cười mà nói rằng:
- Ý trời đã định, Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm gì nổi! Tôi chắc rằng bọn Triệu Thôi ở nhà tất dẹp tan đám giặc ấy, nhà vua chớ ngại!
Nói xong, liến sai Công Tôn Chi đem quân ra đóng ở cửa sông Hoàng Hà để nghe ngóng tin tức. Tấn Văn-công hãy ở tạm đất Vương Thành.
Bột Đề sợ Lã Di Xanh và Khước Nhuế có ý nghi, mới giả cách đến nhà Khước Nhuế để bàn định mưu kế, rồi cùng với Lã Di Xanh vào đốt cung và chực giết Trùng Nhĩ, nhưng không thấy Trùng Nhĩ đâu cả, mới sợ hãi đem nhau đi trốn. Bọn Triệu Thôi tưởng là trong cung phát hỏa vội vàng đem quân vào cứu, mãi đến sáng rõ mới biết là Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm phản. Mọi người lại tìm không thấy Tấn Văn-công, nên đều giật mình kinh sợ, sau hỏi bọn nội thị mới biết là Tấn Văn-công đã đi đâu mất từ mấy hôm trước rồi. Triệu Thôi nói:
- Việc này hỏi đến Hồ quốc cữu thì mới biết rõ được.
Hồ Mao nói:
- Em tôi là Hồ Yển, vào cung từ mấy hôm trước mà đến nay cũng chưa thấy về, tôi chắc hắn đi theo chúa công đó? Ý chừng chúa công biết cái mưu của Lã Di Xanh và Khước Nhuế, nên mới phòng bị trước như vậy. Nay chúng ta chỉ nên sửa sang lại các nơi cung điện, để đợi chúa công về.
Ngụy Thù nói:
- Bọn phản nghịch định đốt cung mà giết chúa công, tội thật đáng chết, nay dẫu chúng chạy trốn, chắc cũng chưa xa, để tôi xin đem quân đi đuổi bắt.
Triệu Thôi nói:
- Hai đứa phản nghịch ấy dẫu trốn đi, chẳng bao lâu rồi cũng bắt được, nay chúa công đi vắng, ta không nên động binh.
Lã Di Xanh và Khước Nhuế nghe tin Tấn Văn-công chưa chết, sợ các quan đại phu cử binh đuổi theo, mới định trốn sang nước ngoài, nhưng chưa biết đến nước nào cho tiện. Bột Đề lại đánh lừa rằng:
- Vua nước Tấn lập hay là bỏ, đều tự ý nước Tần cả, vả chăng hai ngài cùng với vua Tần cũng có quen biết từ trước, nay hai ngài cứ sang đầu với vua Tần, nói dối là trong cung thất hỏa, Trùng Nhĩ đã chết cháy rồi, và xin đón công tử Ung về làm vua. Khi công tử Ung đã về nối ngôi thì Trùng Nhĩ dẫu sống cũng khó lòng mà tranh lại nổi.
Lã Di Xanh nói:
- Vua Tần khi trước đã cùng ta hội thề ở đất Vương Thành, nay ta nên sang đầu, nhưng chẳng biết vua Tần có lòng dung nạp hay không?
Bột Đề nói:
- Để tôi sang trước nói xem thế nào, nếu vua Tần không nghe, bấy giờ ta sẽ liệu kế.
Bột Đề đi đến cửa sông Hoàng Hà, nghe tin Công Tôn Chi đóng quân ở bên kia sông, liền đem sự tình đầu đuổi kể lại cho Công Tôn Chi biết. Công Tôn Chi nói:
- Bọn phản nghịch đã sang xin hàng, như vậy ta nên dụ mà giết.
Nói xong, liền viết một bức thư giao Bột Đề cầm đưa cho Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Trong thư đại lược nói rằng:
- Khi Trùng Nhĩ về nước, có nói với chúa công tôi xin nộp đất, vậy nên chúa công tôi sai đóng quân ở đây đế đợi cắm địa giới, sợ lại như Tấn Hiếu-công ngày trước; nay nghe tin Trùng Nhĩ bị chết cháy, mà hai ngài lợi có ý muốn đón công tử Ung, chúa công tôi cũng bằng lòng lắm, xin hai ngài nên mau mau sang ngay đế cùng bàn định".
Lã Di Xanh và Khước Nhuế tiếp được thư, vui mừng đi ngay.
Khi đến đất Hà Tây, Công Tôn Chi ra nghênh tiếp, rồi bày tiệc để thết đãi Lã Di Xanh và Khước Nhuế vững dạ không nghi ngại gì cả. Công Tôn Chi sai người phi báo cho Tần Mục-công, để Tần Mục-công đến ở Vương Thành trước. Lã Di Xanh và Khước Nhuế chơi bời ba ngày, rồi nói với Công Tôn Chi xin vào yết kiến Tần Mục-công. Công Tôn Chi nói:
- Chúa công tôi hiện đang ở đất Vương Thành, mời hai ngài qua đấy để cùng hội một thể; còn quân sĩ xin cho đóng lại đây, chờ khi hai ngài trở về, bấy giờ sẽ kéo sang nước Tấn. Lã Di Xanh và Khước Nhuế nghe lời, theo Công Tôn Chi sang đất Vương Thành; khi đến đất Vương Thành, Bột Đề cùng Công Tôn Chi vào thành trước, yết kiến Tần Mục-công. Tần Mục-công sai Phi Báo ra đón Lã Di Xanh và Khước Nhuế rồi bảo Tấn Văn-công nấp sẵn ở phía sau bức bình phong. Lã Di Xanh và Khước Nhuế vào yết kiến Tần Mục-công, nói với Tần Mục-công xin lập công tử Ung.
Tần Mục-công nói:
- Công tử Ung hiện đã ở đây rồi.
Lã Di Xanh và Khước Nhuế đồng thanh nói rằng:
- Nếu vậy xin cho chúng tôi được yết kiến vua mới.
Tần Mục-công gọi:
- Vua mới đâu, xin mời ra đây?
Bỗng thấy phía sau bình phong có mợt vị quý nhân từ từ bước ra. Lã Di Xanh và Khước Nhuế ngẩng mặt lên nhìn xem ai thì là Tấn Văn-công Trùng Nhĩ. Lã Di Xanh và Khước Nhuế giật mình kinh sợ, chẳng còn hồn vía nào cả, sụp lạy xin lỗi. Tần Mục-công mời Tấn Văn-công cùng ngồi. Tấn Văn-công mắng Lã Di Xanh và Khước Nhuế rằng:
- Mấy đứa nghịch tặc kia, ta có xử tệ gì với chúng mày mà chúng mày làm phản, nếu không có Bột Đề cáo giác cho ta biết mà tránh đi, thì ngày nay ta đã ra tro rồi!
Bấy giờ Lã Di Xanh và Khước Nhuế mới biết là Bột Đề làm phản mình, liền nói với Tấn Văn-công rằng:
- Bột Đề đã cùng với chúng tôi ăn thề, xin chúa công chớ tha tội cho y.
Tấn Văn-công cười mà nói rằng:
- Nếu Bột Đề không cùng với ngươi ăn thề thì sao biết hết được âm mưu của các ngươi như vậy!
Nói xong, liền truyền cho võ sĩ đem Lã Di Xanh và Khước Nhuế ra chém, lại sai Bột Đề đi giám sát. Được một lúc, vũ sĩ đem đầu Lã Di Xanh và Khước Nhuế nộp ở dưới thềm. Tấn Văn-công sai Bột Đề đem đầu Lã Di Xanh và Khước Nhuế đến đất Hà Tây để phủ dụ quân sĩ, lại báo tin về cho người trong nước biết. Triệu Thôi cùng các quan đại phu vội vàng đem xa giá đi đón tiếp Tấn Văn-công.
Công tử Đái tham sắc làm càn
Tấn Văn-công đã giết được Lã Di Xanh và Khước Nhuế rồi, đứng dậy tạ ơn Tần Mục-công, và xin lấy lễ phu nhân đón nàng Hoài Doanh về nước. Tần Mục-công nói:
- Tiện nữ khi trước đã thất thân với công tử Ngữ rồi, có đâu lại dám đương cái lễ tôn quý ấy?
Tấn Văn-công nói:
- Nước tôi cùng quý quốc giao hiếu đã mấy đời nay, nếu không dùng lễ phu nhân thì sao làm chủ được việc tôn tự, xin nhà vua chớ nên từ chối.
Tần Mục-công mừng lắm, liền cho Tấn Văn-công làm lễ đón Hoài Doanh về nước. Khi về đến nước Tấn, Tấn Văn-công lập Hoài Doanh làm phu nhân. Tấn Văn-công nghĩ đến việc Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm phản, có lòng tức giận, muốn giết hết vây cánh của hai người. Triệu Thôi can rằng:
- Huệ-công và Hoài công ngày xưa vì nghiêm khắc quá mà bị người ta oán, nay chúa công phải khoan dung mới được.
Tấn Văn-công nghe lời, hạ lệnh đại xá cho bọn vây cánh Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Bọn này dẫu thấy Tấn Văn-công đã đại xá cho nhưng trong lòng không được yên, thường phao ra những tin đồn nhảm. Tấn Văn-công thấy vậy, vẫn có ý lo.
Một hôm, mới mờ mờ sáng, có kẻ tiểu lại là Đầu Tu xin vào yết kiến. Tấn Văn-công đang xõa tóc gội đầu, nghe báo có Đầu Tu đến, nổi giận nói rằng:
- Người ấy khi trước lấy trộm tiền bạc của ta, khiến cho ta thiếu thốn phải ăn xin ở nước Tào và nước Vệ, bây giờ còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa?
Nói xong, liến sai nội thị đuổi ra. Đầu Tu nói:
- Có phải chúa công đang gội đầu đó không?
Nội thị giật mình kinh sợ, nói:
- Tại sao nhà ngươi lại biết?
Đầu Tu nói:
- Người ta lúc gội đầu thì cúi đầu cong mình, vì vậy quả tim phải úp xuống; mà quả tim đã lộn ngược như thế thì lời nói ra tất cũng điên đảo, bời thế mà không cho ta vào yết kiến. Ngày trước chúa công dung thứ cho Bột Đề, mà thoát được cái nạn Lã Di Xanh và Khước Nhuế, bây giờ lại không dung thứ Đầu Tu này được hay sao! Đầu Tu đến đây tất là có kế sách giữ yên được nước Tấn, nếu chúa công không cho vào yết kiến thì Đầu Tu từ đây sẽ xin trốn đi!
Nội thị vội vàng vào tâu với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công nói:
- Đó là điều lỗi của ta!
Nói xong, liền đội mũ mặc áo chỉnh tề, rồi cho Đầu Tu vào yết kiến. Đầu Tu vào, sụp lạy xin lỗi, rồi nói với Tấn Văn-công rằng:
- Chúa công có biết bọn vây cánh của Lã Di Xanh và Khước Nhuế bao nhiêu người không?
Tấn Văn-công cau mày đáp rằng:
- Nhiều lắm!
Đầu Tu nói:
- Bọn ấy tự nghĩ mình tội to, dẫu chúa công đã có lệnh đại xá rồi, nhưng vẫn đem lòng nghi ngại, chúa công nên nghĩ cách nào khiến chúng được yên tâm.
Tấn Văn-công nói:
- Muốn chúng yên tâm thì dùng cách gì được?
Đầu Tu nói:
- Ngày trước tôi lấy trộm tiền bạc của chúa công, khiến chúa công bị cơ khổ; tội của tôi, người trong nước ai cũng biết cả, nay chúa công đi chơi, nên dùng tôi làm một người đánh xe, để người trong nước đều trông thấy biết là chúa công không nghĩ đếu điều thù oán cũ. Như vậy còn ai đem lòng nghi ngại nữa!
Tấn Văn-công khen phải, rồi mượn cớ đi ra tuần thành, dùng Đầu Tu làm người đánh xe. Những vây cánh của Lã Di Xanh và Khước Nhuế trông thấy, đều thì thào bảo nhau:
- Đầu Tu ngày trước lấy tiền bạc của chúa công, mà nay chúa công còn dung thứ, huống chi là người khác!
Từ bấy giờ không còn những tin đồn nhảm nữa. Tấn Văn-công từ khi còn làm công tử, đã lấy hai vợ: người vợ thứ nhất là Từ Doanh, chết đi; người thứ hai là Bức Cật, sinh được một trai tên là Hoan, và một gái tên là Bá Cơ, sau Bức Cật chết ở đất Bồ. Lúc Tấn Văn-công đi trốn, hai con là Hoan và Bá Cơ đều bỏ ở đất Bồ cả; bấy giờ Đầu Tu lại nhận lấy mà gửi nhà Toại thị (người đất Bồ) nuôi hộ. Một hôm, Đầu Tu đem việc ấy nói với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công giật mình mà hỏi rằng:
- Ta tưởng hai đứa bé đã chết trong loạn lạc từ lâu rồi! Sao đến bây giờ nhà ngươi mới nói?
Đầu Tu nói:
- Chúa công chu du các nước, đến đâu lấy vợ ở đấy, sinh hạ cũng được nhiều con; công tử Hoan dẫu còn sống, nào biết chúa công có còn thương đến hay không? Bởi vậy tôi chưa dám nói vội.
Tấn Văn-công nói:
- Nếu nhà ngươi không nói thì thành ra ta mang tiếng là người bất từ.
Nói xong, liền sai Đầu Tu đến đất Bồ, trọng thưởng cho Toại-thị, rồi đón công tử Hoan và Bá Cơ về, để cho nàng Hoài Doanh nhận làm con. Lại lập công tử Hoan làm thế tử và đem Bá Cơ gả cho Triệu Thôi, gọi là Triệu Cơ.
Vua nước Địch nghe tin Tấn Văn-công đã về nối ngôi, sai sứ đến chúc mừng, và đưa nàng Quý Ngỗi về nước Tấn. Tấn Văn-công hỏi Quý Ngỗi đã bao nhiêu tuổi. Quý Ngỗi nói:
- Cách biệt trong tám năm nay, bây giờ thiếp đã ba mươi hai tuổi rồi!
Tấn Văn-công nói bỡn rằng:
- Còn may mà xa cách chưa đến hai mươi nhăm năm.
Tề Hiếu-công cũng sai người đưa nàng Khương-thị về nước Tấn.
Tấn Văn-công tạ ơn Khương-thị. Khương-thị nói:
- Thiếp không phải là không muốn cảnh vợ chồng sum họp, nhưng sở dĩ bấy giờ thiếp muốn cho chúa công ra đi, chính là mong có ngày hôm nay đó.
Tấn Văn-công đem những điều đức hạnh của Quý Ngỗi và Khương-thị thuật lại cho Hoài Doanh nghe. Hoài Doanh cũng ngợi khen mãi, rồi xin nhường lại ngôi phu nhân. Bấy giờ Tấn Văn-công định lại ngôi bậc ở trong cung: đặt Khương-thị làm phu nhân; thứ hai đến Quý Ngỗi; thứ ba mới đến Hoài Doanh. Triệu Cơ (tức là nàng Bá Cơ, con gái Tấn Văn-công) nghe tin Quý Ngỗi về, cũng khuyên chồng là Triệu Thôi cho người đi đón mẹ con nàng Thúc Ngỗi. Triệu Thôi từ chối nói:
- Chúa công đã gả nàng cho ta, có đâu tôi còn dám nghĩ đến vợ con ở nước Địch.
Triệu Cơ nói:
- Câu nói bạc đức ấy, thiếp không muốn nghe đâu! Thiếp dẫu là con chúa công thật, nhưng Thúc Ngỗi lấy trước, và đã có con, lẽ nào phu quân lại yêu mới bỏ cũ cho đành?
Triệu Thôi ngoài miệng dẫu bảo nghe lời nhưng trong lòng cũng chưa nhất quyết. Triệu Cơ liền vào cung, tâu với Tấn Văn-công rằng:
- Xin phụ thân bảo Triệu tướng quân đón nàng Thúc Ngỗi về, kẻo để cho con mang tiếng là người bất hiền.
Tấn Văn-công sai người sang nước Địch đón mẹ con Thúc Ngỗi về. Triệu Cơ xin nhường Thúc Ngỗi làm vợ cả. Triệu Thôi nhất định không nghe. Tnệu Cơ nói:
- Người ta hơn tuổi mà lấy trước, thiếp ít tuổi mà lại lấy sau. Và thiếp nghe nói con nàng tên là Thuẫn, năm nay đã trưởng thành mà lại có tài vậy thiếp nên nhường là phải; nếu phu quân không nghe thì thiếp xin về cung.
Triệu Thôi bất đắc dĩ lại đem lời nói của Triệu Cơ tâu với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công nói:
- Con gái ta biết nhường như thế là phải?
Nói xong, liền truyền gọi mẹ con Thúc Ngỗi vào triều, rồi cho Thúc Ngỗi làm vợ cả Triệu Thôi. Thúc Ngỗi cũng cố ý xin từ chối. Tấn Văn-công giảng giải mãi, nói đó là ý muốn của Triệu Cơ, Thúc Ngỗi mới chịu nhận. Bấy giờ Triệu Thuẫn mới mười bảy tuổi, mà học hành thông thái, lại giỏi nghề cưỡi ngựa bắn cung. Triệu Thôi lấy làm yêu lắm. Sau Triệu Cơ cũng sinh được ba con là Triệu Đồng, Triệu Quát và Triệu Anh, nhưng tài giỏi đều không bằng Triệu Thuẫn.
Tấn Văn-công ban thưởng cho những người có công phục quốc, chia ra làm ba hạng: một là những người tòng vong; hai là những người tống khoản; ba là những người nghênh hàng. Trong ba hạng ấy lại tùy theo người nào có công khó nhọc nhiều hay ít mà chia hơn kém: những người tòng vong thì Triệu Thôi và Hồ Yển đứng đầu; những người tống khoản thì Loan Chi và Khước Tần đứng đầu; những người nghênh hàng thì Khước Bộ Dương và Hàn Giản đứng đầu.
Tấn Văn-công lại đem năm đôi ngọc bích ban cho Hồ Yển, để đền lại viên ngọc bích ném xuống sông Hoàng Hà khi trước. Lại nghĩ đến Hồ Đột bị chết oan, truyến lập miếu ở núi Mã Yên để thờ, đổi tên núi ấy là núi Hồ Đột. Tấn Văn-công ban thưởng công thần xong, lại ra một tờ chiếu treo ở cửa thành nói rằng: "Nếu người nào có công lao mà chưa được dự thưởng thì cho phép cứ tự nói ra".
Hồ Thúc nói với Tấn Văn-công rằng:
- Tôi theo chúa công, từ khi còn ở đất Bồ, cho đếu khi chu du khắp các nước, lúc nào tôi cũng hầu hạ ở bên cạnh, nay chúa công thưởng công cho những người tòng vong mà không nhớ đến tôi, chẳng hay tôi có tội gì?
Tấn Văn-công nói:
- Trong bọn tòng vong: người nào lấy điều nhân nghĩa mà khuyên bảo ta thì là công đầu; người nào vì ta mà bàn mưu lập kế thì là công thứ hai; người nào xông pha mũi tên hòn đạn để giữ gìn cho ta thì là công thứ ba; còn những người nào chỉ có công theo hầu khó nhọc mà thôi thì lại ở dưới nữa. Vậy nên ta thưởng cho ba hạng trên trước rồi sẽ đến lần nhà ngươi.
Hồ Thúc thẹn mà lui ra. Tấn Văn-công truyền đem vàng lụa trong kho ban thưởng cho tất cả các tôi tớ hầu hạ, ai cũng lấy làm bằng lòng. Chi có Ngụy Thù và Điên Hiệt cậy mình vũ dũng, thấy Triệu Thôi và Hồ Yển đều là văn thần, chỉ biết làm việc tư lệnh văn thư mà lại được trọng thưởng hơn mình, có ý không phục, thường vẫn kêu ca oán giận. Tấn Văn-công nể hai người có công lao, vậy nên không nói đến.
Giới Tử Thôi cũng là một người trong bọn tòng vong, nhưng tính khí điềm đạm, từ khi mới về đến sông Hoàng Hà, thấy Hồ Yển có ý khoe công, đã lấy làm khinh bỉ, không muốn ở lẫn với bọn ấy; đến lúc Tấn Văn-công lên nối ngôi, Giới Tử Thôi chỉ vào chúc mừng một lần đầu, rồi cáo ốm về nhà, yên phận nghèo khổ, vẫn đi khâu giày thuê để lấy tiền nuôi mẹ già. Khi Tấn Văn-công ban thưởng công thần, không thấy Giới Tử Thôi, cũng quên đi mất, không hỏi đến.
Người láng giềng của Giới Tử Thôi là Giải Trương, thấy Giới Tử Thôi không được thưởng, có ý không bằng lòng; lại thấy trên cửa thành có yết một tờ chiếu nói: "Nếu người nào có công lao mà chưa được dự thưởng thì cho phép cứ tự nói ra" bèn vội vàng gọi cửa, báo tin cho Giới Tử Thôi biết. Giới Tử Thôi chỉ mỉm cười mà không nói gì cả. Bà mẹ ở dưới bếp nghe tiếng, bảo Giới Tử Thôi rằng:
- Mày khó nhọc trong mười chín năm trời, đã từng cắt thịt đùi để dâng chúa công, sao bây giờ mày không nói ra mà lĩnh thưởng, họa may được một vài chung thóc, chẳng côn hơn đi khâu giày thuê hay sao!
Giới Tử Thôi nói:
- Các con Hiến công, cả thảy chín người, chỉ có chúa công là hiền hơn cả. Huệ-công và Hoài công không có đức, vậy nên trời truất ngôi mà để cho chúa công. Các người theo hầu, không biết ý trời, dám tự nhận là công mình, con nghĩ lấy làm xấu hổ lắm, chẳng thà đi khâu giày mà ăn còn hơn?
Bà mẹ nói:
- Mày dẫu không muốn làm quan, cũng nên vào yết kiến một lần, để khỏi uổng cái công lao cắt thịt đùi ngày trước.
Giới Tử Thôi nói:
- Con đã không muốn làm quan thì còn vào yết kiến làm gì!
Bà mẹ nói:
- Con làm được một người liêm sỉ, có lẽ nào ta lại không làm được bà mẹ người liêm sỉ hay sao! Vậy thì mẹ con ta tìm nơi rừng núi mà ẩn thân, chớ nên ở chỗ này.
Glới Tử Thôi mừng lắm, nói:
- Con vẫn yêu chỗ Miên Thượng là một nơi núi cao hang sâu, nay con xin đem mẹ đến ở đấy.
Nói xong, liền cõng bà mẹ đến đất Miên Thượng, làm nhà trong hang mà ở. Láng giềng hàng xóm không ai biết là Giới Tử Thôi đi đâu cả, chỉ một mình Giải Trương biết mà thôi. Giải Trương bèn viết một bức thư, đang đêm đem đến treo ở cửa triều. Sáng hôm sau, có một cận thần bắt được, đem vào dâng Tấn Văn-công. Tấn Văn-công mở ra đọc. Trong thư nói:
- Có một con rồng, khi còn hoạn nạn cô thế, đàn rắn đi theo, chu du thiên hạ. Rồng không có ăn, một rắn cắt đùi, nay rồng trở về đã được yên sở. Đàn rắn theo vào, đều sung sướng cả, chỉ có một con, chẳng ai hỏi đến!
Tấn Văn-công đọc xong, giật mình nói rằng:
- Đây là Giới Tử Thôi oán giận ta đó. Khi trước ta qua nước Vệ không có ăn, Giới Tử Thôi cắt thịt đùi để dâng ta, nay ta ban thưởng công thần mà quên mất Giới Tử Thôi, ấy là một điều lỗi của ta vậy.
Bèn sai người đi triệu Giới Tử Thôi. Khi người ấy đến nơi thì thấy Giới Tử thôi đã đi mất rồi. Tấn Văn-công truyền bắt những người láng giềng, để hỏi xem Giới Tử thôi đi đâu; ai biết chỉ dẫn thì thưởng cho làm quan. Giải Trương bèn tâu với Tấn Văn-công rằng:
- Bức thư ấy không phải là của Giới Tử Thôi, chính là của tôi làm thay đó! Giới Tử Thôi không muốn cầu thưởng, đã cõng mẹ vào ẩn ở trong hang núi ở đất Miên Thượng, vậy nên tôi viết bức thư ấy để nhắc chúa công nhớ đến Giới Tử Thôi đó.
Tấn Văn-công nói:
- Nếu không có bức thư ấy thì có lẽ ta quên mất cái công của Giới Tử Thôi.
Nói xong, liền cho Giải Trương làm chức hạ đại phu; lại bắt Giải Trương đưa đường cho mình vảo Miên Thượng để tìm Giới Tử Thôi. Khi vào đến nơi thì chỉ thấy núi xanh rừng rậm, nước chảy mây bay, tiếng chim chiu chít, vách đá dội vang, mà chẳng thấy tông tích Giới Tử Thôi đâu cả. Quân sĩ tìm được mấy người làm ruộng gần đấy, Tấn Văn-công gọi đến trước mặt mà hỏi. Người làm ruộng nói:
- Mấy hôm trước, chúng tôi có trông thấy một người cõng một bà cụ già ngồi nghỉ ở núi này, vốc nước suối cho bà cụ uống; xong lại cõng bà cụ trèo lên trên núi, rồi sau không biết đi đâu!
Tấn Văn-công truyền đỗ xe ở dưới chân núi, sai người đi tìm kiếm các nơi. Trong mấy ngày trời, chẳng thấy Giới Tử Thôi đâu cả.
Tấn Văn-công có sắc giận trên mặt, bảo Giải Trương rằng:
- Sao Giới Tử Thôi giận ta đến thế? Ta nghe nói Tử Thôi là người chí hiếu, nếu ta đốt khu rừng này đi thì y tất phải cõng mẹ chạy ra.
Ngụy Thù nói:
- Trong bọn tòng vong, nhiều người có công lao, há phải một mình Giới Tử Thôi đâu! Nay Giới Tử Thôi cố tình đi ẩn, khiến chúa công phải khó nhọc, đợi khi nào hắn tránh lửa mà chạy ra đây, tôi sẽ làm cho hắn phải xấu hổ.
Nói xong, truyền cho quân sĩ phóng hỏa đốt cả mấy phía rừng. Lửa to gió mạnh, khu rừng cháy lan đến mấy dặm, trong ba ngày mới tắt; nhưng Giới Tử Thôi nhất định không ra, hai mẹ con ôm nhau, chết ở dưới gốc cây liễu. Quan sĩ tìm được đống xương, Tấn Văn-công trông thấy thì động lòng mà ứa nước mắt, bèn truyền cho quân sĩ đem chôn ở chân núi, rồi lập miếu thờ, bao nhiêu ruộng xung quanh núi đều để làm tự điền cả, đổi tên núi gọi là Giới Sơn. Ngày hôm đất rừng, đang là tiết thanh minh mồng ba tháng ba. Sau người trong nước nhớ đến Giới Tử Thôi chết cháy, nên đến ngày hôm ấy không nỡ đốt lửa, phải làm sẵn lương khô để ăn, gọi là tiết 'hàn thực" nghĩa là ngày hôm ấy cấm lửa, chỉ ăn đồ nguội. Tiết hàn thực, nhà nào cũng cắm cành liễu ở ngoài cửa, để chiêu hồn Giới Tử Thôi, cũng có nhà làm cỗ và đốt giấy để cúng tế.
Tấn Văn-công đã ban thưởng cho công thần rồi, lại chỉnh đốn các việc chính trị trong nước, thu dùng những người có đức có tài, cứu giúp những người nghèo khổ, từ bấy giờ trong nước mỗi ngày một cường thịnh. Chu Tương-vương sai quan thái tế là Chu Công Khổng và quan nội sứ là Thúc Hưng đến gia phong, Tấn Văn-công tiếp đãi một cách long trọng khác thường. Thúc Hưng về tâu với Chu Tương-vương rằng:
- Tấn hầu tất làm bá chủ các nước chư hầu, ta phải thân thiện với Tấn mới được.
Từ đó Chu Tương-vương sơ với nước Tề mà thân với nước Tấn.
Bấy giờ Trịnh Văn-công cậy thế nước Sở để hà hiếp các nước yếu, thấy vua nước Hoạt thần phục nước Vệ mà không thần phục nước Trịnh, liẻn đem quân đi đánh nước Hoạt. Vua nước Hoạt sợ hãi, phải xin giảng hòa. Nước Trịnh mới rút quân về. Khi nước Tnnh đã rút quân về rồi, vua nước Hoạt trở lại thần phục nước Vệ như trước, nhất định không theo Trịnh. Trịnh Văn-công giận lắm, sai công tử Sĩ Tiết làm chánh tướng, Đỗ Dũ Di làm phó tướng, lại cử đại binh sang đánh nước Hoạt.
Vệ Văn-công bấy giờ đang thân mật với thiên tử nhà Chu liễn đem việc Trịnh Văn-công đánh nước Hoạt vào tâu với Chu Tương-vương. Chu Tương-vương sai quan đại phu là Du Ty Bá đến nước Trịnh mà giảng giải hộ cho nước Hoạt.
Trịnh Văn-công nổi giận, nói:
- Trịnh và Vệ có khác gì nhau, sao thiên tử nhà Chu lại trọng nước Vệ mà khinh nước Trịnh thế!
Trịnh Văn-công liền bắt Du Ty Bá giam lại một chỗ, để đợi khi đách tan nước Hoạt rồi, bấy giờ sẽ tha. Du Ty Bá bị bắt, những người theo hầu trốn về báo tin cho Chu Tương-vương biết. Chu Tương-vương nổi giận mắng rằng:
- Trịnh-hầu khinh trẫm quá lắm, trẫm tất phải báo thù. Nói xong liền hỏi các quan trong triều rằng:
- Có ai dám vì trẫm mà đến hỏi tội Trịnh-hầu hay không?
Hai quan đại phu là Đồi Thúc và Đào Tử nói với Tương-vương rằng:
- Nước Trịnh từ khi đánh được tiên vương ta ngày xưa càng không sợ hãi gì cả, nay lại cậy thế nước Sở, dám bắt cả sứ thần của thiên tử. Nay ta đem binh hỏi tội, chưa chắc thắng nổi. Tôi thiết tưởng nên mượn quân nước Địch thì mới đánh được Trịnh.
Quan đại phu là Phú Thần can rằng:
- Không nên! Trịnh-hầu dẫu vô đạo, nhưng là nước thân thuộc với ta, tổ tiên ngày xưa cũng có công với nhà Chu ta nhiều lắm; còn nước Địch là một nước rợ mọi không thân thuộc gì, ta quyết không nên mượn quân nước Địch.
Đồi Thúc và Đào Từ nói:
- Vua Vũ vương ta ngày xưa đi đánh nhà Thương, các nước rợ mọi đều đến giúp cả, cứ gì phải nước cùng họ mới được.
Tương-vương khen phải, rồi sai Đồi Thúc và Đào Tử sang bảo vua nước Địch cử binh đi đánh Trịnh. Vua nước địch vâng mệnh, rồi giả cách đi săn, lẻn vào địa giới nước Trịnh, chiếm cứ lấy đất lịch Thành, rồi sai sứ theo Đồi Thúc và Đào Tử sang nhà Chu để báo tin thắng trận. Tương-vương nói:
- Nước Địch có công với trẫm, nay nhân hoàng hậu mới mất, trẫm muốn lấy con gái nước Địch, các ngươi nghĩ thế nào?
Đồi Thúc và Đào Tử nói:
- Tôi nghe nói người nước Địch có câu hát rằng: “Thúc Ngỗi trước và Thúc Ngỗi sau, nhan sắc rực rỡ như ngọc châu, ý nói nước Địch có hai người con gái đều tên gọi Thúc Ngỗi, mà nhan sắc đều tuyệt vời cả. Thúc Ngỗi trước là con gái nước Cao Như, đã gả cho vua nước Tấn rồi; còn Thúc Ngỗi sau là con gái vua nước Địch, hiện nay vẫn chưa lấy chồng, xin nhà vua cho sang hỏi”.
Tương-vương mừng lắm, lại sai Đồi Thúc và Đào Tử sang nước Địch hỏi Thúc Ngỗi. Vua nước Địch sai người đưa Thúc Ngỗi đến. Chu Tương-vương muốn lập làm hoàng hậu. Phú Thần lại can rằng:
- Nước Địch có công thì nhà vua nên ban thưởng, chứ lập con gái nước Địch làm hoàng hậu thì còn ra thể thống nào nữa! Tôi e rằng nước Địch tất có lòng dòm dõ.
Tương-vương không nghe, liền lập Thúc Ngỗi làm hoàng hậu.
Ngỗi-hậu (tức là Thúc Ngỗi) có nhan sắc, nhưng không có đức hạnh, khi ở Địch vẫn thích nghề cưỡi ngựa bắn cung, thường theo vua nước Địch đi săn, ngày nào cũng cùng với các tướng sĩ rong chơi, không câu nệ gì; nay làm hoàng hậu nhà Chu, Ngỗi-hậu cả ngày ở trong cung, không được đi đến đâu, lấy làm khó chịu, một hôm nói với Tương-vương rằng:
- Thiếp từ thuở bé vẫn tập nghề cưỡi ngựa bắn cung, thân phụ thiếp cũng không cấm đoán gì cả, nay thiếp ở trong cung, lâu ngày không đi đến đâu, sinh ra đau ốm. Sao thiên tử không đi săn, để thiếp theo hầu.
Tương-vương đang yêu Ngỗi-hậu, nàng nói gì cũng nghe lời, liền sai quan thái sử chọn ngày để đi săn ở núi Bấc Khâu. Tương-vương muốn cho Ngỗi-hậu được vui lòng, mới hạ lệnh treo giải thưởng cho những người săn được nhiều cầm thú.
Các vương tử, vương tôn nghe lệnh, đều đua nhau đi đuổi bắn các giống cầm thú để lĩnh thưởng. Trong bọn lĩnh thưởng có một người giỏi bắn, săn được nhiều hơn cả là vương tử Đái.
Vương tử Đái mặt mũi khôi ngô, hình dong tuấn tú, trông rõ là một bậc quý nhân, tức là thứ đệ của Chu Tương-vương, ngườ trong nước đều gọi là Thái thúc. Năm trước vương tử Đái đã lập mưu muốn tranh ngôi, nhưng không làm xong; lại đi triệu quân Sơn Nhung về đánh nhà Chu, đến lúc việc tiết lộ ra, sợ tội trốn sang nước Tề. Sau bà Huệ-hậu hai ba lần nói với Tương vương, xin tha tội cho. Phú Thần cũng khuyên Tương-vương nên lấy lòng nhân từ mà xử với anh em.
Bởi vậy Tương-vương bất đắc dĩ lại cho Triệu Đái về. Bấy giờ trong bọn đi săn, vương tử Đái được lĩnh phần thưởng thứ nhất, Ngỗi-hậu trông thấy, đem lòng yêu dấu, lại nói với Tương-vương rằng:
Hôm nay trời hãy còn sớm, xin thiên tử cho thiếp đi săn bắn chơi một lúc, để cho gân cốt được khỏe mạnh.
Chu Tương-vương nghe lời, liền truyền cho quân sĩ sửa soạn các đồ săn bắn để Ngỗi-hậu đi săn. Ngỗi-hậu cởi áo gấm dài ra, để lộ một cái áo cánh ngắn đã mặc sẵn, rồi khoác thêm một áo giáp nhẹ, mình đeo túi tên, tay cầm súng đỏ, trông thật xinh đẹp. Tương-vương trông thấy cũng phải thích ý mà tủm tỉm cười. Quân sĩ sắp xe để Ngỗi-hậu đi. Ngỗi-hậu nói với Tương-vương rằng:
- Đi xe không tiện bằng cưỡi ngựa, các thị nữ ở nước Địch theo hầu thiếp sang đây, đều biết cưỡi ngựa cả, xin thiên tử cho thiếp cưỡi ngựa một phen.
Tương-vương truyền chọn các con ngựa tốt đem đến cho Ngỗi-hậu và các thị nữ cưỡi. Ngỗi-hậu sắp sửa lên ngựa, Tương-vương lại ngăn lại mà bảo rằng:
- Khoan đã! Để trẫm chọn xem trong các vương tử có người nào cưỡi ngựa giỏi, cho đi theo hộ vệ hoàng hậu.
Vương tử Đái xin đi. Các thị nữ đều cưỡi ngựa xúm xít chung quanh Ngỗi-hậu đi, một bọn trước, còn vương tử Đái cưỡi ngựa theo sau.
Đi được một quãng, vương tử Đái giục ngựa lên trước, theo kịp Ngỗi-hậu, rồi hai người cùng thi tài phóng ngựa vòng qua sườn núi. Khi hai người đi đều nhau, Ngỗi-hậu dừng cương lại mà khen vương tử Đái rằng:
- Vương tử thật là một bậc kỳ tài! Thiếp nghe tiếng đã lâu, bây giờ mới đưọc giáp mặt.
Vương tử Đái ngồi trên mình ngựa cũng cúi đầu mà đáp lại rằng:
- Tôi cũng mới học cưỡi ngựa, còn kém hoàng hậu muôn phần!
Ngỗi-hậu nói:
- Sáng mai vương tử nên vào cung bà Huệ-hậu, để vấn an, rồi thiếp sẽ nói chuyện.
Nói chưa dứt lời thì bọn thị nữ đã cưỡi ngựa đến, Ngỗi-hậu liếc mắt đưa tình nhìn vương tử Đái. Vương tử Đái se sẽ gật đầu, rồi quay ngựa lùi lại. Vừa lúc bấy giờ ở chân núi có một đàn hươu nai chạy ra.
Vương tử Đái bắn luôn hai phát, được một hươu, một nai. Ngỗi-hậu cũng bắn trúng một hươu. Mọi người đều vỗ tay reo mừng.
Ngỗi-hậu quay ngựa trở về. Tương-vương ra đón. Ngỗi-hậu đem con hươu dâng nộp tương vương. Vương tử Đái cũng dâng nộp một hươu và một nai. Tương-vương bằng lòng, thu quân trở về, rồi ban yến cho các quan triều thần, rất là vui vẻ.
Ngày hôm sau, Vương tử Đái vào cung Huệ-hậu, giả cách vấn an, đã trông thấy Ngỗi-hậu ở đấy rồi. Ngỗi-hậu đem tiền bạc đút lót tất cả các cung nhân, cấm không được nói hở cho ai biết, rồi ngay hôm đó cùng với vương tử Đái tư thông ở trong một phòng riêng. Hai bên cùng nhau quyến luyến, khi từ giã ra về, Ngỗi-hậu lại dặn vương tử Đái rằng:
- Thỉnh thoảng vương tử vào cung thăm thiếp nhé!
Vương tử Đái nói:
- Tôi chỉ sợ thiên tử sinh nghi thì làm thế nào?
Ngỗi-hậu nói:
- Thiếp có thể che chở được, vương tử chớ ngại.
Các cung nhân đều biết chuyện cả, chỉ vì vương tử Đái là con yêu của Huệ-hậu và việc này cũng quan hệ đến thể thống, vậy nên không ai dám nói ra. Huệ-hậu cũng biết vậy, lại dặn các cung nhân không được nói. Các cung nhân được nhiều tiền thưởng đều có ý che chở cho vương tử Đái, bởi vậy vương tử Đái ngày nào cũng ở trong cung, suốt đêm đến sáng, mà Tương-vương vẫn không biết gì cả.
Trong bọn cung nữ có một người tên gọi Tiểu Đông, nhan sắc cũng khá, mà lại hiểu âm luật. Một hôm, vương tử Đái đang cùng với Ngỗi-hậu uống rượu, sai Tiểu Đông thổi ống ngọc tiêu, vương tử Đái lại theo nhịp mà hát; đến lúc vương tử Đái rượu say, có ý lả lơi, giơ tay nắm lấy áo Tiểu Đông để trêu ghẹo. Tiểu Đông sợ hãi, cởi áo bỏ chạy.
Vương tử Đái giận lắm, rút gươm đuổi theo, toan giết Tiểu Đông. Tiểu Đông vội vàng chạy đến cung Tương-vương, kể hết những chuyện vương tử Đái tư thông với Ngỗi-hậu. Tương-vương tức khắc cầm thanh bảo kiếm để đi giết vương tử Đái.
Chu Tương-vương trốn sang nước khác
Tấn Văn-công thu phục lòng dân
Nhưng nhà vua bỗng nghĩ:
- Vương tử Đái là con yêu của thái hậu (tức là Huệ-hậu) nếu ta giết đi người ngoài không biết, tất cho ta là người bất hiếu. Và vương tử Đái võ nghệ giỏi lắm, vị tất ta đã giết nổi, chi bằng hãy chịu nhịn đợi đến sáng mai, xét được sự thực, bấy giờ sẽ trị tội Ngỗi-hậu, tự khắc vương tử Đái xấu hổ mà phải trốn đi nước khác.
Tương-vương thở dài một tiếng rồi ném thanh bảo kiếm xuống đất lại trở về cung, sai nội thị đi dò thám xem tình hình vương tử Đái ra sao. Nội thị về bảo rằng:
- Vương tử Đái biết Tiểu Đông vào báo với thiên tử, vậy đã tức khắc trốn đi rồi.
Tương-vương nói:
- Ra vào cửa cung, không có bẩm mệnh, đó cũng là tại trẫm không phòng bị từ trước.
Sáng hôm sau, Tương-vương truyền bắt các thị nữ trong cung ra để tra hỏi thì người nào cũng chối cả. Sau gọi Tiểu Đông ra đối chứng, bấy giờ các thì nữ mới thú nhận, đem tình hình trước sau nói hết với Tương vương. Tương-vương truyền bắt Ngỗi-hậu giam vào lãnh cung, khóa chặt cửa lại, chỉ cho khoét một lỗ thủng để đưa cơm nước mà thôi. Vương tử Đái sợ tội, trốn sang nước Địch. Huệ-hậu lo phiền, từ bấy giờ cũng thành bệnh ốm. Đồi Thúc và Đào Tử nghe thấy Ngỗi-hậu bị truất, giật mình kinh sợ mà nói rằng:
- Ngày trước hai ta phụng mệnh thiên tử sang mượn quân nước Địch để đánh nước Trịnh, sau hai ta lại phụng mệnh thiên tử sang xin cưới Ngỗi-hậu, nay Ngỗi-hậu bị truất, tất nhiên vua Địch có ý căm tức. Vả vương tử Đái trốn sang nước Địch, tất nhiên cũng kiếm chuyện để xui giục vua Địch, một mai vua Địch đem quân sang hỏi tội thì hai ta biết nói làm sao?
Hai người tức khắc đánh xe đi theo vương tử Đái, để bày mưu lập kế sang nói với vua nước Địch. Khi đi đến nước Địch, Đồi Thúc và Đảo Tử vào trước nói với vua nước Địch rằng:
- Ngày trước nước tôi vì vương tử Đái mà sang thỉnh hôn, thiên tử nghe nói Thúc Ngỗi là người đẹp mới chiếm lấy rồi lập làm hoàng hậu. Nhân một hôm Thúc Ngỗi đến thăm thái hậu (tức là Huệ-hậu) gặp vương tử Đái, vương tử Đái bèn nói lại chuyện cũ, bị lũ cung nhân đặt điều gièm pha với thiên tử, thiên tử chẳng nghĩ đến cái công khó nhọc quý quốc đánh Trịnh khi trước mà đem hoàng hậu giam vào lãnh cung, rồi đuổi vương tử Đái đi, như thế thật là một người phụ bạc. Xin quý quốc đem quân sang đánh, mà lập vương tử Đái lên làm vua để cứu lấy hoàng hậu.
Vua nước Địch tin lời, liền hỏi:
- Vương tử Đái bây giờ ở đâu?
Đồi Thúc và Đào Tử nói:
- Hiện nay đang ở ngoài cõi.
Vua nước Địch sai đón vào, rồi cho quan đại tướng là Xích Đinh cùng với Đồi Thúc và Đào Tử đem quân giúp vương tử Đái về đánh nhà Chu. Chu Tương-vương nghe tin quân nước Địch đến đánh, sai quan đại phu là Đàm Bá đem việc vương tử Đái làm loạn nói với Xích Đinh. Xích Đinh chém chết Đàm Bá, rời thần đường tiến sang nhà Chu.
Chu Tương-vương nổi giận, sai quan khanh sĩ là Nguyên Bá Quán làm chánh tướng, Mao Vệ làm phó tướng đem lên ra đối địch.
Nguyên Bá Quán biết quân nước Địch mạnh hơn, không thể đánh nổi, mới bày cho quân sĩ lập kế cố thủ, không ra nghênh chiến. Xích Đinh giận lắm, liền lập kế làm một cái chòi cao ở Thủy Vân sơn, trên cắm cờ hiệu thiên tử, cho một người ăn mặc giả làm vương tử Đái, ngồi uống rượu ở trên chòi, và bắt các thị nữ múa hát. Lại sai Đồi Thúc và Đào Tử, mỗi người đem một nghìn quân phục sẵn ở sườn núi, đợi khi quân nhà Chu đến thì nghe hiệu súng nổ đổ ra mà đánh. Lại sai con là Xích Phong Tử đem năm trăm quân đến cửa dinh Nguyên Bá Quán khiêu chiến, rồi giả cách thua chạy để dụ đến Thúy Vân sơn.
Khi Xích Phong Tử đem năm trăm quân đến khiêu chiến, Nguyên Bá Quán thấy quân ít, toan đổ ra đánh, Mao Vệ can rằng:
- Nước Địch hay gian dối lắm, ta nên cẩn thận, chớ ra đánh vội, hãy đợi cho khi nào quân giặc mỏi mệt, bấy giờ sẽ đánh.
Trưa hôm ấy, quân Địch giả cách mỏi mệt, xuống ngựa ngồi la liệt ở dưới đất, cũng có kẻ lại nằm nhoài ra nữa, vừa nằm vừa xỉ mắng Nguyên Bá Quán là người hèn nhát. Nguyên Bá Quán tức giận, đem quân ra cùng với Xích Phong Tử giao chiến. Đánh chưa được mười hợp, Xích Phong Tử giả cách thua chạy. Nguyên Bá Quán đuổi theo.
Khi đến gần Thúy Vân sơn, Nguyên Bá Quán trông thấy vương tử Đái đang uống rượu ở trên chòi, xung quanh có kéo cờ cắm tàn rất là rực rỡ, liền nổi giận mắng rằng:
- Đứa nghịch tặc kia tất chết về tay ta!
Nói xong, tức khắc xông lên để đánh. Bỗng nghe tiếng súng nổ, quân giặc ở hai bên sườn núi đổ ra: phía tả có Đồi Thúc, phía hữu có Đào Tử, cùng đánh áp lại. Nguyên Bá Quán biết là trúng kế, vội vàng cởi áo bào ra, rồi lẩn vào trong đám loạn quân chạy trốn. Trong đám loạn quân có người hỏi Nguyên Bá Quán rằng:
- Tướng quân ơi? Chạy đi đường nào bây giờ?
Đồi Thúc nghe tiếng, biết là có Nguyên Bá Quán ở đây, vội vàng cố sức đuổi theo, bắt được hơn ba mươi người, Nguyên Bá Quán cũng bị bắt. Mao Vệ nghe tin Nguyên Bá Quán thua trận, tức khắc cho người về phi báo với Chu Tương-vương để Xin thêm quân tiếp viện. Đồi Thúc đem Nguyên Bá Quán vệ nộp vương tử Đái. Vương tử Đái truyền giam lại một chỗ, Đồi Thúc nói:
- Nay Nguyên Bá Quán đã bị bắt, Mao Vệ tất sợ mất vía, nếu đêm nay ta dùng kế hỏa công đem quân tiến đánh thì thế nào cũng bắt được Mao Vệ.
Vương tử Đái khen phải, rồi nói với Xích Đinh. Đêm ấy Xích Đinh đem quân đến đốt phá dinh Mao Vệ. Đồi Thúc và Đào Tử cũng đem quân xông vào. Mao Vệ biết sức không địch nổi, vội vàng mở cửa sau chạy trên. Đi được một quãng, lại gặp quân vương tử Đái. Vương tử Đái quát to lên rằng:
- Mao Vệ! Mày chạy đường nào cho thoát?
Nói xong liền cầm giáo đâm chết Mao Vệ. Quân nước Địch toàn thắng rồi vây kín kinh thành nhà Chu. Chu Tương-vương nghe tin Nguyên Bá Quán và Mao Vệ bi bắt, bảo Phú Thần rằng:
- Cũng bởi trẫm không nghe lời nhà ngươi, mà nên nỗi này!
Phú Thần nói:
- Nay quân địch khí thế hung tợn lắm, xin thiên tử hãy tạm tránh đi, chắc thế nào chư hầu cũng có kẻ vì công nghĩa mà đem quân ảo trừ quân giặc.
Chu Công Khổng nói:
- Tôi thiết tưởng đem hết quân sĩ ra, còn có thể cố đánh một trận nữa, can gì phải bỏ mà đi.
Thiệu Công Quá nói:
- Như tôi thiển nghĩ việc này là bởi Ngỗi-hậu gây nên, xin thiên tử trị tội mà giết đi, rồi cố thủ để đợi quân chư hầu đến, thế là vẹn toàn.
Tương-vương thở dài mà than rằng:
- Vì trẫm bất minh, để gây nên tai vạ! Nay thái hậu (tức là Huệ-hậu) đang ốm nặng, trẫm hãy tạm tránh đi để cho yên việc, rồi tùy ý chư hầu.
Tương-vương lại báo Chu Công Khổng và Thiệu Công Quá rằng:
- Vương tử Đái đem quân về đây là chỉ vì Ngỗi-hậu mà thôi, nhưng nếu vương tử Đái chiếm lấy Ngỗi-hậu, tất sợ người trong nước chê cười, chắc không dám ở chốn kinh thành, thế thì trẫm cũng sẽ lại về được, hai ngươi cứ vững dạ.
Chu Công Không và Thiệu Công Quá sụp lạy xin vâng mệnh, Tương-vương hỏi Phú Thần rằng:
- Địa giới nhà Chu ta, chỉ tiếp giáp ba nước là Trịnh, Vệ và Trần, nay trẫm nên sang nước nào?
Phú Thần nói:
- Vệ và Trần đều là nước yếu cả, chi bằng ta sang nước Trịnh là hơn.
Tương-vương nói:
- Ngày trước trẫm đã mượn quân nước địch sang đánh nước Trịnh, chẳng lẽ Trịnh lại không oán trẫm hay sao?
Phú Thần nói:
- Tôi khuyên nhà vua sang nước Trịnh, chính vì việc ấy đó! Vì rằng tiên tổ nước Trịnh vẫn có công với nhà Chu ta, thì con cháu tất cũng không quên nhà Chu ta được. Mới rồi, nhà vua mượn quân nước Địch sang đánh nước Trịnh, nước Trịnh dẫu có ý không bằng lòng, nhưng vẫn ngày đêm mong cho nước Địch làm phản nhà Chu, để tỏ mình là một nước không trái đạo với thiên tử. Bây giờ nhà vua sang Trịnh thì Trịnh tất vui lòng mà nghênh tiếp, còn oán nỗi gì!
Tương-vương mới quyết định trốn sang nước Trịnh. Phú Thần lại nói:
- Nay nhà vua trốn đi, giả sử quân Địch cố sức đuổi theo thì biết làm thế nào, để tôi xin đem hết bà con thân thuộc ra mà ngăn cản quân Địch mới được.
Phú Thần gọi hết con em họ hàng được vài trăm người, đem ra đánh nhau với quân Địch. Tương-vương cùng với bọn Gián Sư Phủ và Tạ Yên Phủ hơn mười người, thẳng đường trốn sang nước Trịnh. Phú Thần đánh nhau với Xích Đinh, giết được quân nước Địch nhiều lắm.
Phú cũng bị trọng thương, lại gặp Đồi Thúc và Đào Tử đến. Đồi Thúc vả Đào Tử bảo Phú Thần rằng:
- Trước kia nhà ngươi lấy lời nói trung mà can thiên tử, điều ấy thiên hạ đều biết cả, vậy thì ngày nay nhà ngươi cũng không cần phải chết để tỏ lòng trung của mình nữa.
Phú Thần nói:
- Ngày trước ta can, mà thiên tử không nghe, nên đến nỗi như thế này! Nếu bây giờ ta không cố sức chết mà đánh thì thiên tử tất cho ta là không thực lòng.
Nói xong, lại cố đánh một phen, sức kiệt mà chết tại trận. Con em họ hàng cũng chết hơn ba trăm người. Phú Thần chết rồi, quân nước Địch mới biết là Chu Tương-vương đã mở cửa thành đi trốn. Khi quân nước Địch tới nơi thì cửa thành bị đóng. Vương tử Đái truyền giải Nguyên Bá Quán đến, bắt gọi mở cửa thành. Chu Công Khổng và Thiệu Công Quá đứng ở trên mặt thành bảo vương tử Đái rằng:
- Chúng tôi vẫn muốn mở cửa thành ra đón, sợ quân nước Địch tiến vào cướp phá, vậy nên không dám.
Vương tử Đái nói với Xích Đinh, xin cho quân nước Địch đóng ở ngoài thành, rồi sau sẽ đem tiền bạc ở trong kho ra để khao thưởng.
Xích Đinh thuận cho. Vương tử Đái tiến vào kinh thành, trước hết đến ngay lãnh cung thả Ngỗi-hậu ra, rồi sau vào yết kiến Huệ-hậu. Huệ-hậu đang ốm, trông thấy vương tử Đái, mừng quá cười sặc lên mà chết. Vương tử Đái không làm ma vội, còn vào cung để tự tình với Ngỗi-hậu, lại đi tìm Tiểu Đông để giết. Tiểu Đông sợ tội, đã đâm đầu xuống giếng mà chết rồi!
Ngày hôm sau, vương tử Đái mạo xưng có di mệnh của Huệ-hậu, lên ngôi thiên tử, và lập Ngỗi-hậu làm hoàng hậu. Lại đem tiền bạc trong kho ra khao thưởng cho quân nước Địch, rồi cất tang Huệ-hậu. Người nhà Chu nhân chuyện này có đặt thành một bài hát để chế nhạo vương tử Đái. Đái nghe thấy bài hát, biết là lòng dân không phục, sợ sinh biến loạn, mới đem Ngỗi-hậu dời sang ở đất Ôn Ấp, rỗi sửa sang cung thất để ngày đêm cùng với Ngỗi-hậu vui chơi, còn bao nhiêu việc chính trị, giao cho Chu Công Khổng và Thiệu Công Quá tất cả.
Vương tử Đái tiếng là làm thiên tử, nhưng không cùng với thần dân tiếp kiến bao giờ. Nguyên Bá Quán thừa cơ trốn về Nguyên thành. Chu Tương-vương đi đến Dĩ Thành, ở đấy nhiều trúc mà không có nhà công quán, người ta gọi là Trúc Xuyên. Tương-vương hỏi thăm, biết là đã đến địa giới nước Trịnh, mới vào ngủ nhờ trong cái nhà tranh của một kẻ nông phu là Phong thị. Phong thị hỏi:
- Chẳng hay ngài là quan chức gì?
Tương-vương nói:
- Trẫm là thiên tử nhà Chu, vì trong nước có giặc, nên phải tránh nạn đến đây.
Phong thị giật mình kinh sợ, sụp lạy xin lỗi mà rằng:
- Em hai tôi đêm qua nằm mộng thấy ánh mặt trời đã chiếu vào trong nhà, quả nhiên hôm nay có quý nhân đến!
Nói xong, liền sai người em đi giết gà thổi xôi để dâng lên vua.
Tương-vương không biết đấy là em Phong thị, mới hỏi:
- Người ấy là ai thế?
Phong thị nói:
- Đấy là người em khác mẹ với tôi vẫn cùng ở đây với tôi, để phụng dưỡng mẹ già.
Tương-vương thở dài mà than rằng:
- Anh em nhà ngươi là nhà làm ruộng mà cùng nhau hòa thuận được như thế? Trẫm làm thiên tử mà lại bị người em cùng mẹ cư xử chẳng ra gì; trẫm không bằng kẻ nông phu nhiều lắm!
Tương-vương nói xong, buồn lòng mà ứa nước mắt. Quan đại phu là Tả Yên Phủ nói:
- Ngày xưa Chu công là bậc đại thánh mà trong anh em cũng còn bất hòa với nhau, vậy xin nhà vua chớ thương tâm, nên mau mau truyền hịch đi bảo các nước chư hầu biết.
Tương-vương bèn viết thư, sai người đi bảo với các nước: Tề, Tắng, Trần, Trịnh và Vệ. Trong thư đại lược nói rằng:
- Trẫm nay không có đức, để đến nỗi em ruột là vương tử Đái nổi loạn, phải tránh sang đất Dĩ Thành thuộc thuộc Trịnh. vậy xin bố cáo cho các nước được biết?
Giản Sư Phủ nói:
- Các nước ngày nay, chỉ có Tần và Tấn là muốn làm bá chủ; nước Tần có bọn Kiển Thúc và Bách Lý Hề; nước Tấn có bọn Triệu Thôi và Hồ Yển, bọn này tất biết khuyên vua nước mình làm những việc công nghĩa, còn các nước khác thì không trông cậy gì được!
Tương-vương liền sai Giản Sư Phủ sang bảo nước Tấn, và Tả Yên Phủ sang báo nước Tần. Trịnh Văn-công nghe tin Chu Tương-vương tránh sang Dĩ Thành, cười mà nói rằng:
- Ngày nay thiên tử mới biết nước Địch không bằng nước Trịnh.
Nói xong, tức khắc sai người sang Dĩ Thành dựng nhà công quán để rước Chu Tương-vương vào ở rồi vào yết kiến vấn an Chu Tương-vương. Bao nhiêu phẩm vật khí dụng, cần dùng cho nhà vua, nước Trịnh đều cung cấp đầy đủ cả. Chu Tương-vương trông thấy Trịnh Văn-công, có ý thẹn. Các nước Lỗ vả Tống cũng đều sai sứ đến vấn an và dâng các vật phẩm; chỉ có Vệ Văn-công không đến.
Quan đại phu nước Lỗ là Tang Văn Trọng nghe nói Vệ Văn-công không đến, bèn thở dài mà than rằng:
- Vua nước Vệ sắp đến ngày chết. Chư hầu phải biết có thiên tử, cũng như cây phải có gốc, nước phải có nguồn; cây không gốc tất héo, nước không nguồn tất khô, tài nào mà không chết!
Đến năm sau, Vệ Văn-công chết, thế tử Thịnh lên nối ngôi, tức là Vệ Thành-công, quả đúng như lời nói của Tang Văn Trọng.
Giản Sư Phủ phụng mệnh Chu Tương-vương sang bảo Tấn Văn-công, Tấn Văn-công hỏi Hồ Yển. Hồ Yển nói:
- Tề Hoàn-công ngày xưa, làm nên được sự nghiệp bá chủ, là vì biết giúp thiên tử nhà Chu; nay thiên tử nhà Chu có nạn, nếu nước Tấn ta không giúp thì nước Tần tất giúp. Nước Tần đã giúp thì sự nghiệp bá chủ về tay nước Tần mất!
Tấn Văn-công sai Quách Yển bói một quẻ. Quách Yển bói được quẻ tốt, Tấn Văn-công liền cử đại binh đi gúp thiên tử nhà Chu. Khi Tấn Văn-công sắp đi, lại nghe tin Tần Mục-công cũng đã cử đại binh đi giúp nhà Chu, hiện đang đóng quân ở trên sông Hoàng Hà. Hồ Yển nói:
- Vua nước Tần vẫn có chí muốn giúp thiên tử nhà Chu, nay còn đóng quân ở trên sông Hoàng Hà là chỉ vì chưa có lối nào mà đi qua các nước Đông Di được. Bây giờ chúa công nên sai người sang bảo các nước Đông Di để xin mượn đường rồi lại sai người sang bảo vua nước Tần rằng nước Tấn ta đây cử đại binh đi rồi, thế thì quân nước Tần tất phải rút về.
Tấn Văn-công khen phải, một mặt sai Hồ Xạ Cô đem vàng bạc sang lễ các nước Đông Di để xin mượn đường; còn một mặt sai Tư Thần đến trên sông Hoàng Hà nói với Tần Mục-công. Tư Thần phụng mệnh Tấn Văn-công vào nói với Tần Mục-công rằng:
- Thiên tử tránh nạn ở ngoài, quý quốc lấy làm lo thì chúa công tôi cũng lấy làm lo. Hiện nay chúa công tôi đã xin cử đại binh để thay quý quốc vào giúp thiên tử, không dám phiền đến quý quốc phải đi xa xôi khó nhọc làm gì?
Tần Mục-công nói:
- Ta sợ rằng Tấn hầu mới lập, chưa đủ quân để giúp thiên tử, vậy phải vội vàng đến đây, nay Tấn hầu đã cử đại binh đi giúp thiên tử thì ta đây chỉ việc Ngỗi yên mà chờ đợi tin mừng.
Kiền Thúc và Bách Lý Hề đều nói:
- Việc này là một việc đại nghĩa, vua nước Tấn sợ chúa công chia mất cái danh dự ấy, nên sai người đến nói để làm ngăn trở quân ta, chi bằng ta cứ tiến binh cùng với nước Tấn cùng giúp thiên tử Tần Mục-công nói:
- Ta cũng biết việc này là một việc hay, nhưng quân ta không tiện đường đi, chỉ ngại rằng các nước Đông Di đem lòng ngăn trở. Nay Tấn hầu mới lên ngôi, nếu không có công trạng gì thì sao giữ yên được nước; thôi thì ta nhường cho Tấn hầu.
Nói xong, liền sai công tử Chí theo Tả Yên Phủ đến Dĩ Thành để thăm Chu Tương-vương, rồi lại rút quân về nước Tần. Tư Thần đem tin Tần Mục-công lui quân về báo với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công truyền tiến binh đến đất Dương Phàn. Quan trấn thủ ở đất Dương Phàn ra ngoài cõi nghênh tiếp. Tấn Văn-công sai bọn Khước Tần đem quân vây đất ôn ấp; lại sai bọn Triệu Thôi sang Dĩ Thành đón Chu Tương-vương trở về kinh thành. Chu Công Khổng và Thiệu Công Quá mở cửa thành đón Tương-vương vào.
Người đất ôn ấp nghe tin Chu Tương-vương đã trở về kinh thành, liền họp nhau lại giết chết Đồi Thúc và Đào Tử, rồi mở toang cửa thành để đón quân nước Tấn vào. Vương tử Đái vội vàng đem Ngỗi-hậu lên xe, tìm đường trốn sang nước Địch, nhưng quân sĩ đóng cửa lại, không cho ra. Vương tử Đái rút gươm chém chết mấy người.
Ngụy Thù vừa đi đến, quát to lên rằng:
- Thằng nghịch tặc kia, mày định chạy đi đằng nào?
Vương tử Đái nói:
- Nhà ngươi tha cho ta trốn, ngày khác ta xin đến ơn.
Ngụy Thù nói:
- Hỏi thiên tử có tha cho nhà ngươi, thì ta sẽ nới tay?
Vương tử Đái nổi giận, rút gươm ra đâm. Ngụy Thù liền nhảy ngay lên xe, chém chết vương tử Đái. Quân sĩ bắt được Ngỗi-hậu, đem đến nộp Ngụy Thù. Ngụy Thù nói:
- Nó là một đứa dâm phụ, còn để làm gì!
Nói xong, truyền cho quân sĩ bốn phía cùng giương cung một lúc mà bắn chết Ngỗi-hậu. Ngụy Thù đem hai cái xác vương tử Đái và Ngỗi-hậu đến nộp Khước Tần. Khước Tần nói:
- Sao ông bắt được, lại không đóng cũi đem nộp, để thiên tử trị tội?
Ngụy Thù nói:
- Thiên tử tránh cái tiếng giết em, vậy mới mượn tay nước Tấn ta, thế thì ta giết ngay đi là hay lắm.
Khước Tần truyền đem chôn hai cái xác ấy, rồi sai người đến đất Dương Phàn để báo tin cho Tấn Văn-công biết. Tấn Văn-công nghe tin vương tử Đái và Ngỗi-hậu đã bị giết rồi, liền vào kinh thành yết kiến Chu Tương-vương để báo tin thắng trận. Chu Tương-vương bày tiệc thết đãi, lại đem vàng lụa ra tạ ơn. Tấn Văn-công sụp lạy mà nói rằng:
- Trùng Nhĩ này không dám nhận vàng lụa, chỉ xin nhà vua gia ơn cho lúc chết được an táng theo lễ toại đạo thì Trùng Nhĩ này lấy làm đội ơn vô cùng.
Chu Tương-vương nói:
- Tiên vương ngày xưa đặt ra lễ phân biệt trên dưới, chỉ quan hệ ở những lúc sinh tử ấy, trẫm không dám vì ơn riêng mà bỏ phép công; nay thúc phụ có công lớn, trẫm không dám quên, trẫm xin đem đất Ôn, đất Nguyên, đất Dương Phàn và đất Toàn Mao để gia phong cho thúc phụ.
Tấn Văn-công cáo từ lui ra. Dân nhà Chu già trẻ lớn bé kéo nhau đi xem mặt Tấn Văn-công, đứng chật ních cả đường cái, đều thì thào bảo nhau rằng:
- Ngày nay lại thấy có Tề Hoàn-công?
Tấn Văn-công sai Ngụy Thù đến nhận địa giới đất Dương Phàn, sai Điên Thiệt đến nhận địa giới đất Toàn Mao, sai Loan Chi đến nhận địa giới đất Ôn, còn đất Nguyên thì Văn-công thân hành đến để nhận.
Bởi vì đất Nguyên là phong ấp của Nguyên Bá Quán; Nguyên Bá Quán vì cớ đánh giặc bị thua, nên vua nhà Chu đòi lại mà thưởng cho Tấn Văn-công, Tấn Văn-công sợ Nguyên Bá Quán không chịu, vậy phải thân hành đem quân đến. Điên Thiệt đến Toàn Mao, Loan Chi đến đất Ôn. Quan trấn thủ ở đất Toàn Mao và đất Ôn đều mở cửa thành ra nghênh tiếp. Còn Ngụy Thù đến đất Dương Phàn thì quan trấn thủ ở đấy là Xương Cát bảo những người dưới rằng:
- Nhà Chu còn được bao nhiêu đất mà gia phong cho nước Tấn nhiều như vậy? Ta với Tấn hầu cùng là bề tôi nhà Chu, sao ta chịu phục?
Nói xong, liền đem quân lên mặt thành để chống giữ. Ngụy Thù giận lắm, vây kín cả bốn mặt thành, rồi hạ lệnh rằng:
- Nếu không chịu hàng thì giết sạch cả!
Xương Cát đứng trên mặt thành trả lời rằng:
- Đất Dương Phàn này là chỗ kinh kỳ, dân trong thành phần nhiều là họ hàng thân thích của thiên tử nhà Chu. Quý quốc cũng là bề tôi nhà Chu, sao lại tàn nhẫn đến thế?
Ngụy Thù nghe lời, trong lòng cảm động, sai người báo với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công bèn viết một bức thư đưa cho Xương Cát.
Trong thư đại lược nói rằng:
- Đất này là của thiên tử gia phong cho, nên tôi không dám trái mệnh, nếu tướng quân nghĩ đến họ hàng thân thích của thiên tử mà muốn đem dân đi nơi khác thì tôi cũng xin tùy ý tướng quân?
Tấn Văn-công lại sai người đến bảo Ngụy Thù hãy hoãn binh, không nên đánh vội. Xương Cát tiếp được thư, liền truyền cho dân trong thành rằng:
- Ai muốn về nhà Chu thì đi, ai muốn theo nước Tấn thì ở.
Dân trong thành xin đi đến quá nửa. Xương Cát dời số dân ấy đến đất Chi Thôn. Ngụy Thù vào nhận lấy địa giới đất Dương Phàn.
Tấn Văn-công và Triệu Thôi đem quân đến đất Nguyên, Nguyên Bá Quán nói dối những người dưới rằng:
- Quân nước Tấn vây đất Dương Phàn, đem dân ở đây giết sạch. Dân đất Nguyên sợ hãi, quyết chí chống lại quân nước Tấn.
Quân nước Tấn bổ vây, Triệu Thôi bảo Tấn Văn-công rằng:
- Dân không phục nước Tấn ta là vì nước Tấn ta chưa có điều gì tín nghĩa cả; Nay chúa công nên giữ lấy tín nghĩa thì không đợi phải đánh mà tự khắc dân phục.
Tấn Văn-công nói:
- Muốn giữ tín nghĩa thì phải làm thế nào?
Triệu Thôi nói:
- Xin chúa công hạ lệnh cho quân sĩ, mỗi người phải giữ lương ăn trong ba ngày, nếu ba ngày không hạ được thành Nguyên thì giải vây về nước.
Tấn Văn-công theo lời. Đến ngày thứ ba quân sĩ bảo rằng:
- Còn ngày hôm nay nữa thì hết lương ăn.
Tấn Văn-công chẳng nói gì cả. Đến đêm hôm ấy, dân Nguyên trèo qua thành ra nói với Tấn Văn-công rằng:
- Chúng tôi đã hỏi tin, biết là dân Dương Phàn không bị giết bao giờ; vậy đến ngày mai, chúng tôi xin mở thành để đón chúa công.
Tấn Văn-công nói:
- Hôm trước ta đây có hẹn trong ba ngày, nếu không đánh được đất Nguyên thì tức khắc giải vây rút về; hôm nay đã là ba ngày rồi thì sáng mai thế nào ta cũng rút quân.
Quân sĩ đều can rằng:
- Dân đất Nguyên đã định đến ngày mai mở cửa thảnh để đón chúa công vào thì chúa công nên tạm lưu lại một ngày nữa, dẫu có hết lương xin cho người sang Dương Phàn lấy, cũng chẳng xa gì!
Văn-công nói:
- Tín nghĩa là một điều quý, ta đã hạ lệnh, hạn trong ba ngày, ai lại không biết, nếu nay lại tạm lưu một ngày nữa thì là người thất tín, dẫu có được đất Nguyên, cũng không ích gì!
Sáng sớm hôm sau, Tấn Văn-công liền truyền giải vây rút quân về nước.
Dân đất Nguyên bảo nhau rằng:
- Tân hầu không thất tín thật là một ông vua có đức. Và những người dòng dây trèo xuống thành để đi theo vua Tấn cứ liên tiếp nối nhau mãi không hết. Nguyên Bá Quán không thể nào ngăn cấm được nữa, cũng phải mở cửa thành xin hàng. Quân nước Tấn đi đã được ba mươi dặm, dân đất Nguyên theo kịp; Nguyên Bá Quán cũng viết thư đến xin hàng. Tấn Văn-công truyền đóng quân lại một chỗ, rồi một mình đi xe vào thẳng trong thành. Dân trong thành thấy Tấn Văn-công đều vui mừng nhảy múa. Tấn Văn-công đãi Nguyên Bá Quán theo lễ khanh sĩ, cho ở đất Hà Bắc, lại sai Triệu Thôi làm quan trấn thủ ở đất Nguyên, kiêm lĩnh đất Dương Phàn và Khước Tần làm trấn thủ ở đất ôn, kiêm lĩnh đất Toàn Mao. Tấn Văn-công từ khi cử đại binh đi giúp thiên tử nhà Chu, và giữ tín nghĩa với dân đất Nguyên, mới có cớ làm được bá chủ.
Tề Hiếu-công bấy giờ đang có ý muốn làm bá chủ, vẫn định dùng binh lực mà khôi phục lại sự nghiệp của Tề Hoàn-công thuở trước, mới họp các quan đại phu lại mà hỏi rằng:
- Đang đời tiên quân ta là Hoàn-công ngày xưa, năm nảo cũng đánh Đông dẹp Bắc; nay ta cứ ngồi yên một chỗ, khác nào như người nằm trong vỏ ốc, không biết bên ngoài có việc chi cả, ta lấy làm xấu hổ. lắm! Ta còn nhớ năm trước vua nước Lỗ định giúp Vô Khuy mà chống cự với ta, ta chưa báo được cái thù ấy, nay nước Lỗ phía Bắc kết giao với Vệ, phía Nam kết giao với Sở, giả sử đem quân sang đánh ta thì ta lấy gì định lại cho nổi? Bây giờ nước Lỗ đang gặp năm mất mùa, ta muốn thừa cơ mà đánh trước đi, các ngươi nghĩ thế nào?
Quan trường khanh là Cao Hổ nói:
- Nước Lỗ đang có nhiều nước giúp, ta đánh vị tất đã nổi.
Tề Hiếu-công nói:
- Ta hãy thử sang đánh để xem chư hầu có đồng lòng với nước Lỗ hay không?
Tề Hiếu-công liền cử binh sang xâm phạm phía Bắc nước Lỗ, quân sĩ phi báo với Lỗ Hi-công. Quan đại phu là Tang Tôn Thần nói với Lỗ Hi-công rằng:
- Quân Tề sang đánh ta là có ý muốn báo thù, ta vị tất đã chống lại nổi, xin chúa công sai sứ ra từ tạ là hơn.
Lỗ Hi-công nói:
- Biết ai là người khéo ứng đối mà sai đi bây giờ?
Tang Tôn Thần nói:
- Tôi xin cử một người là con quan tư không Vô Hại đời trước, tên gọi Triển Hoạch, tên tự là Tử Cầm, làm quan sĩ sư, được phong ở Liễu Hạ, người ấy văn nhã ôn hòa, biết nhiều nghĩa lý, chỉ vì làm quan không hợp thói đời, nên mới từ chức bỏ về, nếu sai người ấy làm sứ thần ra nói với vua Tề thì vua Tề tất phải kính trọng.
Lỗ Hi-công nói:
- Ta cũng có nghe tiếng người ấy, chẳng hay bây giờ ở đâu?
Tang Tôn Thần nói:
- Hiện nay vẫn ở Liễu Hạ.
Lỗ Hi-công sai người đến triệu Triển Hoạch. Triển Hoạch cáo ốm không đi được. Tang Tôn Thần nói:
- Triển Hoạch có người em tên gọi Triển Hỉ, dẫu quan chức còn nhỏ nhưng cũng có tài ứng đối nay sai Triển Hỉ đến nhà Triển Hoạch mà hỏi xem nên dùng cách nào để ứng đối với vua nước Tề.
Lỗ Hi-công nghe lời. Triển Hỉ đến Liễu Hạ, vào yết kiến Triển Hoạch, thuật lại chủ ý của Lỗ Hi-công. Triển Hoạch nói:
- Vua Tề đem quân sang đánh ta là có ý muốn nối sự nghiệp Tề Hoàn-công ngày trước, nhưng không biết rằng muốn làm bá chủ thì trước hết phải đón phù thiên tử nhà Chu. Nay ta đem di mệnh của tiên vương ngày xưa mà trách vua Tề thì thiếu gì cách nói.
Triển Hỉ về nói với Lỗ Hi-công rằng:
- Tôi đã hỏi được cách để ứng đối với vua Tề rồi.
Lỗ Hi-công đã sắp sẵn lễ vật để sai Triển Hỉ đi thương thuyết với Tề. Triển Hỉ đi đến phía Nam sông Vấn, gặp tiền đội quân nước Tề, bèn xin với tướng tiên phong là Thôi Yến, đến yết kiến Tề Hiếu-công. Thôi Yến đưa Triển Hỉ nói với Tề Hiếu-công rằng:
- Chúa công tôi nghe tin xa giá nhà vua sắp sang qua địa giới nước tôi, vậy sai tôi đưa lễ vật sang kính biếu tướng sĩ nhà vua.
Tề Hiếu-công nói:
- Người nước Lỗ nghe tin ta đem quân sang đánh, có sợ hãi hay không?
Triển Hỉ cười mà đáp rằng:
- Bọn tiểu nhân thì cũng có người sự hãi, chứ những người quân tử thì không ai sợ hãi chút nào cả.
Tề Hiếu-công nói:
- Nước nhà ngươi, quan văn thì không có ai trí mưu như Thi Bá; quan vũ thì không có ai vũ dũng như Tào Quệ; Vả nước nhà ngươi đang gặp năm mất mùa, ngoài đồng không có cây cỏ nào được xanh tốt, thế thì còn cậy vào đâu mà chẳng sợ hãi?
Triển Hỉ nói:
- Nước tôi không chắc cậy vào điều gì cả, chỉ chắc cậy vào di mệnh của tiên vương mà thôi; tiên vương nhà Chu ngày xưa phong Thái công ở nước Tề, phong tiên quân tôi là Bá Cầm ở nước Lỗ, khiến hai nước cắt máu mà thề với nhau rằng: “Con cháu sau đời đời cùng giúp nhà Chu, chớ có làm hại lẫn nhau”. Lời thề ấy còn giao cho quan thái sử cất đi. Tề Hoàn-công làm nên bá chủ, cũng vì biết hội chư hầu ở đất Kha để cùng nhau giúp thiên tử. Nay nhà vua lên ngôi đã được chín năm, người nước tôi vẫn mong nhà vua lại sửa sang bá nghiệp của Tề Hoàn-công thuở trước. Bằng nay bỏ di mệnh của tiên vương, trái lời thề của Thái công, để đến nỗi không giữ được bá nghiệp của Tề Hoàn-công thuở xưa thì tôi dám chắc rằng nhà vua tất không như thế. Bởi vậy mà nước tôi không lấy gì làm sợ hãi”.
Tề Hiếu-công nói:
- Nhà ngươi về nói với Lỗ hầu, ta xin cùng với nước Lỗ giao hảo, không dùng binh nữa.
Nói xong, liền rút quân về. Triển Hỉ về nói với Lỗ Hi-công. Tang Tôn Thần nói:
- Quân Tề dẫu lui, nhưng có ý khinh ta, tôi xin cùng với Trọng Toại mượn quân nước Sở để đánh nước Tề.
Lỗ Hi-công lấy làm phải, liền sai Trọng Toại làm chánh. Tang Tôn Thần làm phó, đi sứ nước Sở. Tang Tôn Thần có quen nhau với tướng nước Sở là Thành Đắc Thần, mới nhờ Thành Đắc Thần nói với Sở Thành-vương rằng:
- Nước Tề bội ước ở đất Lộc Thượng, nước Tống giao chiến ở sông Hoàng Thủy, đều là cừu địch với nước Sở cả. Nếu đại vương muốn đem quân hỏi tội hai nước ấy thì nước tôi xin đem quân làm tiên phong.
Sở Thành-vương mừng lắm, liền sai Thành Đắc Thần làm chánh tướng, Thúc Hầu làm phó tướng, đem quân sang đánh Tề, chiếm lấy đất Dương Cực, lấy đất ấy mà phong cho con Tề Hoàn-công là công tử Ung và sai Thúc Hầu đóng đồn ở đấy để làm thanh viện cho nước Lỗ. Thành Đắc Thần thắng trận, thu quân về triều. Quan lệnh doãn là Tử Văn, bấy giờ tuổi đã già rồi, xin nhường quyền chính lại cho Thành Đắc Thần. Sở Thành-vương nói:
- Ta giận nước Tống, hơn giận nước Tề; Thành Đắc Thần đã vì ta đánh nước Tề rồi, nhà ngươi nên vì ta đánh nước Tống, để báo thù cho nước Trịnh, sau khi đánh được Tống rồi, bấy giờ nhà ngươi sẽ từ chức.
Tử Văn nói:
- Tài trí tôi kém Thành Đắc Thần xa lắm, xin đại vương cho Thành Đắc Thần thay tôi, tất có thể giúp đại vương đánh Tống được.
Sở Thành-vương nói:
- Nước Tống đang thần phục nước Tấn, nay ta đánh Tống thì nước Tấn tất cứu, nếu không phải tay nhà ngươi thì sao địch nổi Tấn và Tống được, nhà ngươi nên vì ta mà giúp việc ấy.
Nói xong, liền sai Tử Văn ra duyệt binh ở đất Khuê (đất nước Sở) để tuyên thị quân pháp. Tử Văn muốn làm tỏ tài trí của Thành Đắc Thần, nên hôm duyệt binh, chỉ làm qua loa xong việc mà thôi, cả buổi sáng chẳng phạt một người nào. Sở Thành-vương nói:
- Nhà ngươi ra duyệt binh mà không phạt một người nào thì sao cho có uy được?
Tử Văn nói:
- Tôi ngày nay đã già yếu lắm rồi, nếu đại vương muốn lập uy thì tất phải dùng Thành Đắc Thần mới được.
Sở Thành-vương liền sai Thành Đắc Thần ra duyệt binh ở đất Vi (đất nước Sở). Thành Đắc Thần ra duyệt binh, hiệu lệnh rất nghiêm, kẻ nào trái phép, đều trị tội cả. Trong một ngày hôm ấy, bảy người bị đánh và ba người bị xâu tai. Sở Thành-vương mừng lắm, nói:
- Thành Đắc Thần thật là có tài làm tướng.
Tử Văn lại xin nhường quyền chính cho Thành Đắc Thần. Sở Thành-vương nghe lời, liền cho Thành đắc Thần làm lệnh doãn, kiêm giữ chức nguyên soái. Các quan triều thần đều đến nhà Tử Văn để chúc mừng về việc tiến cử Thành Đắc Thần, chỉ có quan đại phu là Vi Lã Thần nhân ốm không đến. Tử Văn bày tiệc để thết đãi. Khi việc đã được nửa chừng, có người vào báo với Tử Văn rằng:
- Có một cậu bé con ở ngoài cửa xin vào yết kiến.
Tử Văn cho vào. Cậu bé khi vào đến nơi, chắp tay cúi đầu để chào rồi đi đến chỗ cuối chiếu mà ngồi. Trong khi ngồi ăn thì cậu bé có ý không coi ai ra gì. Người ta nhìn kỹ mới biết là con trai Vi Lã Thần, tên gọi Vi Giả, mới mười ba tuổi. Tử Văn lấy làm lạ, hỏi rằng:
- Ta tiến cử cho nước được một đại tướng, các quan triều thần đều chúc mừng cả, sao nhà ngươi lại không chúc mừng?
Vi Giả nói:
- Các ngài cho là một việc nên mừng, tôi thiết tưởng là một việc nên lo!
Tử Văn nổi giận mà hỏi rằng:
- Tại sao nhà ngươi lại bảo là một việc nên lo?
Vi Giả nói:
- Thành Đắc Thần là một người vũ dũng mà không có tài quyết đoán, chỉ có thể dùng trong việc chiến tranh mà thôi, chứ giao cả quyền chính cho thì tất có ngày sinh hại. Tục ngữ có câu rằng: "Cứng quá thì gãy" tức là Thành Đắc Thần ngày nay đó? Ngài tiến cử một người có thể làm hỏng việc nước, còn mừng nỗi gì! Nếu sau này người đó không làm hỏng việc nước thì bấy giờ tôi sẽ mừng, cũng chưa lấy gì làm muộn kia mà?
Các quan đều nói rằng:
- Đứa bé con ấy nói càn, chả nên nghe làm gì!
Vi Giả cười rầm lên mà lui ra. Các quan triều thần đều tan về cả. Ngày hôm sau, Sở Thành-vương cho Thành Đắc Thần làm thống tướng, cử đại binh cùng với quân Trần, Sái, Trịnh và Hứa cùng sang đánh Tống, vây đất Mân Ấp. Tống Thành-công sai quan tư mã là Công Tôn Cố sang cáo cấp với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công họp các quan triều thần lại để thương nghị. Tiên Chẩn nói:
- Hiện nay nước Sở hoành hành thiên hạ là nước mạnh hơn cả. Sở lại có ơn riêng với chúa công. Nay nước Sở đánh Tề và Tống, sinh sự ở trung nguyên, ấy là lòng trời xui khiến để chúa công nêu được cái danh tiếng là cứu kẻ hên yếu; sự nghiệp bá chủ, cũng bởi ở một việc này!
Tấn Văn-công nói:
- Ta muốn cứu nước Tề và nước Tống thì nên làm thế nào?
Hồ Yến nói:
- Nay Sở đang kết thân với Tào và Vệ, mà hai nước ấy lại đều là cừu địch với chúa công; nếu chúa công đem quân đi đánh Tào và Vệ thì tất Sở phải sang cứu, mà không quấy nhiễu nước Tề và nước Tống được nữa.
Tấn Văn-công khen phải, liền đem mưu ấy bảo Công Tôn Cố về nói trước với Tống Thành-công, để Tống Thành-công cứ vững lòng mà chống giữ với quân Sở. Công Tôn Cố Vâng mệnh trở về Tống. Tấn Văn-công lo ít quân, bàn với Triệu Thôi.
Triệu Thôi nói:
- Vua Vũ công ta ngày xưa ở đất Khúc ốc, mới có một đạo quân, đến đời Hiến công thêm lên hai đạo, mà mở rộng bờ cõi kể hàng nghìn dặm, huống chi nước Tấn ta ngày nay, đã có ba đạo quân. Ngặt vì một điều dân chưa biết lễ nghĩa, khó hợp mà dễ tan, nay chúa công nên duyệt binh, để khiến cho dân biết thân yêu người trên, mới có thể dùng quân đi đánh các nước được.
Tấn Văn-công nói:
- Đã có ba đạo quân thì cần phải có một quan nguyên soái, bây giờ biết dùng ai cho được?
Triệu Thôi nói:
- Người làm tướng, có vũ dũng chẳng bằng có trí mưu, có trí mưu không bằng có học thức. Nay chúa công muốn tìm người có vũ dũng và trí mưu thì chẳng thiếu gì, nếu muốn tìm người có học thức thì tôi chỉ biết có một mình Khước Cốc mà thôi. Khước Cốc năm nay đã ngoài năm mươi tuổi, mà vẫn còn chăm học lắm. Đã chăm học tất biết trọng nghĩa; đã trọng nghĩa tất biết thương dân; biết thương dân thì mới có thể làm đại tướng mà đem quân đi đánh giặc được.
Tấn Văn-công khen phải, liền sai người triệu Khước Cốc, phong cho làm nguyên soái. Khước Cốc chối từ không nhận. Tấn Văn-công nói:
- Ta đã biết tài của nhà ngươi thì nhà ngươi không nên từ chối.
Tấn Văn-công cố ép mãi, Khước Cốc mời chịu nhận. Tấn Văn-công sai chọn ngày ra duyệt binh ở đất Bị Lư, chia quân làm ba đạo: Trung quân, thượng quân và hạ quân, sai Khước Cốc làm chánh tướng ở đạo trung quân, mà lấy Khước Tần làm phó tướng, lại sai Hồ Yển làm chánh tướng ở đạo thượng quân. Hồ Yến chối từ mà nói rằng:
- Có anh tôi là Hồ Mao ở đấy, khi nào tôi là em, lại dám ở trên.
Tấn Văn-công liền cho Hồ Mao làm chánh tướng ở đạo thượng quân, mà lấy Hồ Yến làm phó tướng. Lại sai Triệu Thôi làm chánh tướng ở đạo hạ quân. Triệu Thôi cũng từ chối. Tấn Văn-công liền cho Loan Chi lâm chánh tướng ở hạ quân, mà lấy Tiên Chẩn làm phó tướng.
Khước Cốc trèo lên tướng đài để tuyên bá hiệu lệnh, các tướng đều tin phục cả. Bỗng có một trận gió to, làm gây lá cờ đại tướng. Các tướng đều giật mình kinh sợ. Khước Cốc bảo các tướng rằng:
- Gây lá cờ soái là cái triệu ứng vào chủ tướng, vậy ta chẳng được cùng với các người đồng sự bao lâu nữa, nhưng chúa công ta tất làm nên được bá nghiệp.
Các tướng đều hỏi tại sao. Khước Cốc chỉ cười mà không trả lời.
Đầu năm sau, Tấn Văn-công bàn mưu với Khước Cốc để định đi đánh Tào và Vệ. Khước cốc nói:
- Tôi đã bàn định với Tiên Chẩn rồi; nếu ta chia ra để đánh Tào và Vệ thì không địch nổi với quân Sở được. Nay ta nên mượn đường nước Vệ để sang đánh Tào, tất nhiên nước Vệ không nghe, vì nước Vệ đang giao hiếu với nước Tào, khi ấy ta sẽ đem quân qua sông Hoàng Hà, lẻn sang đánh nước Vệ. Đánh nước Vệ rồi, ta sẽ thừa thế mà kéo sang nước Tào; vua nước Tào vốn không được lòng dân, lại thấy nước Vệ thua mà sợ uy ta, thì tất ta phá vỡ được Tào.
Tấn Văn-công mừng lắm, nói:
- Nhà ngươi thật là một tướng quân có học thức!
Tấn Văn-công sai người sang mượn đường nước Vệ để đi đánh nước Tào. Quan đại phu nước Vệ là Nguyên Huyền nói với Vệ Thành-công rằng:
- Khi trước vua Tấn còn đi trốn, có qua nước ta, bấy giờ tiên quân ta không nghênh tiếp; nay sai người sang mượn đường để đánh Tào, nếu chúa công không nghe thì nước Tấn tất đánh nước Vệ ta trước.
Vệ Thành-công nói:
- Ta cùng với Tào cùng thần phục Sở, nếu ta để cho Tấn mượn đường đánh Tào thì e rằng chưa được lòng Tấn mà đã mua oán với Sở. Nước Tấn giận thì ta còn trông cậy có nước Sở, chứ nước Sở giận thì ta biết trông cậy vào đâu?
Vệ Thành-công không cho nước Tấn mượn đường. Sứ nước Tấn về báo với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công nói:
- Quả nhiên như lời bàn của quan nguyên soái.
Tấn Văn-công bèn đem quân ra sông Hoàng Hà, kéo thẳng đến đất Ngũ Lộc (đất nước Vệ). Tấn Văn-công nói:
- Chỗ này là chỗ ngày trước Giới Tử Thôi cắt thịt đùi cho ta ăn đây?
Nói xong mủi lòng mà ứa nước mắt. Các tướng đều cảm động và than thở. Ngụy Thù nói:
- Chúng ta nên đánh lấy thành này ấp kia để rửa cái sỉ nhục năm xưa cho nhà vua, cần gì mà phải thở than?
Tiên Chẩn nói với Tấn Văn-công rằng:
- Ngụy Thù nói phải lắm! Xin chúa công cho tôi đem quân đi đánh thành Ngũ Lộc.
Ngụy Thù nói với Tiên Chẩn rằng:
- Để tôi giúp ông một tay.
Hai người lên xe ra đi.
Tiên Chẩn sai quân sĩ đem cờ đỏ cắm hết mọi nơi cao ở trong rừng núi. Ngụy Thù nói:
- Tôi thiết tưởng binh pháp nên phải bí mật mới được. Nay lại cắm cờ như vậy, khiến quân giặc biết trước mà phòng bị, chẳng hay là chú ý thế nào?
Tiên Chẩn nói:
- Nước Vệ vốn thần phục nước Tề, bây giờ đổi ý mà theo nước Sở, người trong nước vẫn không thuận, chỉ sợ Trung quốc ta đem quân đến đánh. Nay chúa công ta muốn nối sự nghiệp bá chủ của Tề Hoàn-công thuở xưa thì phải thị uy trước mới được.
Dân thành Ngũ Lộc trông thấy cờ nước Tấn cắm khắp mọi nơi, chẳng biết quân Tấn nhiều hay ít, đều hoảng hốt trốn chạy cả, quan trấn thủ cũng không tài nào cấm nổi. Khi Tiên Chẩn kéo quân đến, không có ai chống giữ, liền chiếm ngay được thành Ngũ Lộc, rồi sai người báo tin cho Tấn Văn-công. Tấn Văn-công mừng lắm, bảo Hồ Yển rằng:
- Ngày xưa quốc cữu thấy đứa nông phu cho ta viên đất, bảo là cái triệu được đất, câu nói ấy đến bây giờ mới nghiệm!
Nói xong, liền cho một viên lão tướng là Khước Bộ Dương làm quan trấn thủ ở thành Ngu Lộc; còn đại binh thì tiến lên đóng đất Vu Địa (đất nước Vệ). Quan nguyên soái là Khước Cốc bỗng nhiên bị ốm. Tấn Văn-công thân hành đến thăm. Khước Cốc nói:
- Tôi cảm ân tri ngộ của chúa công, vẫn định cố công ra sức để báo đền, nhưng mệnh trời có hạn, đã ứng vào cái triệu gẫy cờ ngày trước, vậy tôi xin có một lời để hiến chúa công.
Tấn Văn-công nói:
- Khanh muốn nói câu gì, ta cũng xin vâng lời.
Khước Cốc nói:
- Nay chúa công đánh Tào và Vệ, chẳng qua cũng là muốn kiềm chế nước Sở, nhưng muốn kiềm chế nước Sở thì tất phải kết liên với nước Tề và nước Tần. Nước Tề đang ghét Sở tất muốn kết liên với ta; nếu nhà vua sai sứ sang nước Tề thì chắc là Tề hầu sẽ đem quân đến, như thế thì Tào và Vệ sợ mà phải xin hòa, bấy giờ ta sẽ dụ được nước Tần, ấy là cái kế sách hay nhất để kiềm chế nước Sở đó!
Tấn Văn-công khen phải, liền sai sứ sang giao hiếu với Tề, xin hai nước cùng kết liên với nhau để chống Sở. Bấy giờ Tề Hiến công đã mất rồi, người trong nước lập em là Phan lên nối ngôi, tức là Tề Chiêu-công Tề Chiêu-công mới lên nối ngôi, vì cớ nước Sở chiếm lấy đất Cốc, chính đang muốn kết liên với Tấn để chống với Sở, mới thân hành sang Vu Địa hội với Tấn Văn-công. Vệ Thành-công thấy quân nước Tấn chiếm được đất Ngư Lộc, vội vàng sai Ninh Du (con Ninh Tốc) đến nói với Tấn Văn-công xin giảng hòa. Tấn Văn-công nói:
- Nước Vệ đã không cho ta mượn đường, nay sợ mà xin giảng hòa thì không là thực lòng, phen này ta quyết đem quân vào phá tan đất Sở Khâu? (kinh thành nước Vệ).
Ninh Du về nói với Vệ Thành công. Bấy giờ trong thành Sở Khâu thường vẫn huyên truyền là quân Tấn sắp đến, một buổi chiều năm lần kinh sợ, Ninh Du bảo Vệ Thành-công rằng:
- Nước Tấn đang tức giận ta lắm, mà người nước ta lại sợ hãi, xin chúa công hãy tạm tránh đi; nước Tấn biết chúa công đã đi, tất không đến đánh đất Sở Khâu nữa bấy giờ ta sẽ xin giảng hòa với Tấn để yên nước nhà.
Vệ Thành-công thở dài mà than rằng:
- Tiên quân ta không may mà đã thất lễ với Tấn hầu; nay ta lại không minh, không cho nước Tấn mượn đường, đến nỗi di hại cho người trong nước, ta cũng chằng còn mặt mũi nào mà ở đây được nữa!
Vệ Thành-công sai quan đại phu là Nguyên Huyền cùng với em là Thúc Vũ giữ lấy quyền chính trong nước, còn mình thì tránh ra ở đất Tương Ngưu; một mặt lại sai quan đại phu là Tôn Viêm sang cầu cứu nước Sở.
Quan nguyên soái nước Tấn là Khước Cốc đau nặng rồi mất.
Tấn Văn-công thương xót vô cùng, sai người đưa linh cữu về nước Tấn để an táng, rồi cho Tiên Chẩn thăng chức nguyên soái, vì có cái công lấy được thành Ngư Lộc; lại cho Tư Thần thay Tiên Chẩn làm phó tướng đạo hạ quân. Tấn Văn-công muốn diệt nước Vệ, Tiên Chẩn can rằng:
- Tề và Tống bị nước Sở ức chế, nên ta mới đem quân đi cứu, nay chưa cứu được Tề và Tống mà đã diệt nước Vệ, thế thì không phải là cái đạo bá chủ cứu giúp những nước hèn yếu; huống chi vua Vệ đã trốn đi nơi khác rồi, chi bằng ta đem quân sang vây nước Tào.
Tấn Văn-công nghe lời, đem quân sang vây nước Tào, Tào Cung-công họp các quan triều thần lại để thương nghị. Quan đại phu là Hi Phụ Cơ nói:
- Vua nước Tấn đem quân tới đây là báo cái thù ngày xưa chúa công khinh bỉ, đến tận nơi mà xem xương sườn, tất trong lòng tức giận lắm, ta không thể lấy sức mà địch nổi. Dám xin chúa công cho phép tôi đi sứ để giảng hòa với Tấn, mà cứu cho dân trong nước khỏi khổ sở.
Tào Cung-công nói:
- Tấn đã không cho Vệ giảng hòa, khi nào lại cho ta giảng hòa?
Quan đại phu là Vu Lang nói với Tào Cung-công rằng:
- Tôi nghe khi trước vua Tấn qua nước ta, Hi Phụ Cơ có mời về nhà để thết đãi, nay lại xin đi sứ để giảng hòa, tất là có ý muốn bán nước, xin chúa công chớ nghe. Chúa công nên chém Hi Phụ Cơ trước, rồi tôi sẽ có mưu kế lui được quân Tấn.
Tào Cung-công nói:
- Hi Phụ Cơ bàn việc nước mà bất trung, đáng lẽ phải chịu tội chết, nhưng ta nghĩ hắn là một thế thần, vậy hãy dung thứ cho mà cách chức đuổi về.
Hi Phụ Cơ lạy tạ về nhà, từ bấy giờ đóng cửa không đi đến đâu cả. Tào Cung-công hỏi Vu Lang rằng:
- Bây giờ nhà ngươi có mưu kế gì lùi được quân Tấn không?
Vu Lang nói:
- Vua nước Tấn vừa thắng một trận, tất là kiêu căng, tôi xin làm một tờ mật thư ước với vua Tấn rằng đêm hôm nay sẽ mở cửa thành ra hàng, rồi phục binh sẵn chờ khi vua Tấn vào thì sập cửa thành xuống, rồi phục binh xúm lại mà bắn, không lo quân Tấn không tan tành ư!
Tào Cung-công theo kế ấy, Vu Lang đưa thư cho Tấn Văn-công xin làm nội ứng. Tấn Văn-công tiếp được thư, toan tiến quân vào thành nước Tào. Tiên Chẩn nói:
- Nước Tào cũng chưa thiệt hại gì mấy mà đã xin hàng, chắc đâu không phải là dối, để tôi xin thử xem.
Nói xong, liền chọn một người mặt đẹp râu dài, đội mũ mặc áo giả làm vua Tấn để tiến vào thành nước Tào. Bột Đề tình nguyện làm người đánh xe. Đêm hôm ấy, trên mặt thành Tào đều cắm cờ hàng, cửa thành lại mở toang; quân Tấn chưa vào được một nửa, bỗng thấy cửa thành đóng sập lại, tên ở bốn phía bắn ra như mưa, Bột Đề và hơn hai trăm người đều chết sạch cả. Tấn Văn-công năm trước đi qua nước Tào cũng nhiều kẻ biết mặt, nhưng trong lúc đang rối tinh, chẳng ai phân biệt được thật hay là giả, vẫn tưởng là Tấn Văn-công chết rồi, mãi đến sáng rõ, mới biết là Tấn Văn-công giả. Quân Tấn còn nhiều người chưa vào cửa thành, trốn về báo với Tấn Văn-công. Tấn Văn-công nổi giận, thúc quân đánh thật gấp. Vu Lang lại hiến kế với Tào Cung-công rằng:
- Chúa công nên đem những quân Tấn ta bắn chết vừa rồi, căng xác lên trên mặt thành khiến cho quân Tấn trông thấy phải khiếp sợ, sinh lòng chán nản, ta cố kéo dài được mấy ngày nữa thì nước Sở tất đem quân đến cứu.
Tào Cung-công nghe lời, Quân Tấn trông thấy trên mặt thành nước Tào có căng xác người Tấn, đều đem lòng căm tức. Tấn Văn-công bảo Tiên Chẩn rằng:
- Giả sử quân ta thấy vậy mà sinh biếng thì biết làm thế nào?
Tiên Chẩn nói:
- Phần mộ nước Tào, nay đều chôn ở ngoài phía cửa Tây cả, ta nên chia lấy một nửa quân, đến đóng ở đấy, giả cách sắp sửa khai quật những phần mộ ấy, để làm cho dân trong thành phải sợ, sợ thì tất loạn, bấy giờ ta sẽ thừa cơ tiến đánh.
Tấn Văn-công khen phải, truyền cho quân sĩ nói phao lên rằng sắp sửa khai quật phần mộ của người nước Tào. Rồi sai Hồ Mao và Hồ Yển đem quân đến đóng ở ngoài cửa Tây, sắp sẵn thuổng cuốc để đợi đến giờ Ngọ hôm sau thì đào. Quân nước Tào nghe tin ấy, đều sợ hãi rối rít cả lên. Tào Cung-công sai người trèo lên mặt thành nói với quân Tấn xin tha cho, đừng khai quật phần mộ, lần này tình nguyện thật bụng đầu hàng. Tiên Chẩn cũng sai người trả lời rằng:
- Nước ngươi đánh lừa để giết quân ta, lại căng xác ở trên mặt thành, vậy nên quân ta tức giận, nhất định khai quật phần mộ nước ngươi để báo thù. Bây giờ nước ngươi nên đem xác quân ta khâm liệm tử tế mà đưa giả, thì ta sẽ rút quân trở về.
Người nước Tào trả lời rằng:
- Đã như vậy thì xin khoan hạn cho trong ba ngày!
Tiên Chẩn nói:
- Nếu trong ba ngày mà không đem giả, ta sẽ làm nhục đến tổ tiên nhà các ngươi.
Tào Cung-công quả nhiên đem những xác quân Tấn ở trên mặt thành xuống, khâm liệm tử tế để rồi xe ra trả quân Tấn. Tiên Chẩn mật sai Hồ Mao, Hồ Yến, Loan Chi và Tư Thần chia làm bốn đạo quân để mai phục sẵn, đợi khi nào người nước Tào mờ cửa thành đưa những thi thể quân Tấn ra, bấy giờ sẽ tiến vào mà đánh. Đến ngày thứ tư Tiên Chẩn sai người đứng dưới chân thành quát to lên rằng:
- Ngày hôm nay có trao trả thi thể quân ta hay không?
Người nước Tào ở trên mặt thành trả lời rằng:
- Xin quí quốc lui quân ra ngoài năm dặm, nước tôi sẽ giao trả.
Tiên Chẩn nói với Tấn Văn-công, xin lui quân ra ngoài năm dặm. Khi người nước Tào đang xe những thi thể quân Tấn ra thì các đạo phục binh của quân Tấn thừa cơ tiến vào. Tào Cung-công đang đứng trên mặt thành. Ngụy Thù đứng trên xe nhảy một cái lên đến thành xỉa vào giữa bụng rồi đem trói lại. Vu Lang trèo qua thành trốn chạy, lại bị Điên Thiệt chém chết. Tấn Văn-công cùng các tướng vào thành lên ngồi ở trên nhà lầu. Ngụy Thù giải Tào Cung-công đến nộp, Điên Thiệt thì dâng trình thủ cấp Vu Lang. Tấn Văn-công truyền đem sĩ tịch của nước Tào ra xem, thấy những người làm quan đến chức đại phu kể hàng ba trăm người đều chiếu họ tên bắt hết cả, không sót một người nào nhưng không thấy tên Hi Phụ Cơ. Có người nói với Tấn Văn-công rằng:
- Hi Phụ Cơ vì có khuyên vua Tào giảng hòa với Tấn, đã bị vua Tào cách chức rồi!
Tấn Văn-công kể tội Tào Cung-công rằng:
- Cả nước người có một người bề tôi hiền mà ngươi không biết dùng, chỉ dùng một lũ tiểu nhân, tài nào mà không mất nước.
Nói xong, liền sai đem giam lại một chỗ để chờ khi đánh được Sở rồi, sau sẽ phân xử; còn ba trăm người đang có quyền thế bấy giờ đều bị giết cả, lại tịch thu gia tài họ đem thưởng cho quân sĩ.
Tấn Văn-công lại hạ lệnh cho quân sĩ, không cho ai được xâm phạm đến nhà Hi Phụ Cơ và xung quanh một xóm Hi Phụ Cơ ở, rồi chia quân làm hai đạo, một đạo đóng ở trong thành nước Tào, còn một đạo theo Tấn Văn-công trở về đại dinh.
Ngụy Thù và Điên Thiệt vẫn cậy nhiều công trạng, hay có ý kiêu ngạo, nay thấy Tấn Văn-công trọng đãi Hi Phụ Cơ như vậy, Ngụy Thù tức giận mà bảo Điên Thiệt rằng:
- Chúng ta đi theo chúa công đánh nước Tào, bắt vua chém tướng, biết bao nhiêu là công trạng, mà không thấy chúa công nói gì đến; Hi Phụ Cơ chẳng qua chỉ thết đãi được một bữa cơm, ân huệ đáng là bao nhiêu, mà chúa công trọng đại quá, thật là không được công bằng.
Điên Thiệt nói:
- Người ấy nếu chịu làm quan thì tất chúa công ta trọng dụng, khi ấy bọn ta sẽ bị hắn đè nén, chi bằng ta cho một mớ lửa vào nhà hắn, cho hắn chết đi để khỏi di hại về sau; dẫu chúa công có biết đi nữa, cũng chẳng giết chúng ta được mà sợ.
Ngụy Thù lấy làm phải, rồi hai người cùng nhau uống rượu.
Đêm hôm ấy họ đem quân đến vây nhà Hi Phụ Cơ phóng hỏa đốt nhà, lửa cháy ngất trời. Ngụy Thù đang say rượu, cậy có sức khỏe, trèo lên trên cái chòi cửa, chạy đi chạy lại để dò tìm Hi Phụ Cơ mà giết đi. Ai ngờ mấy cái cột chòi ở phía dưới đã bị lửa cháy, gãy mà đổ ra, Ngụy Thù ở trên chòi ngã lăn xuống đất, cái cột cháy ấy đè ngay lên ngực. Ngụy Thù hộc máu miệng ra, vội vàng trèo qua nóc nhà để chạy, suýt nữa thì chết cháy. Ra đến ngoài Ngụy Thù đau quá, chỉ nằm bẹp xuống đất, không thể đi được. Điên Thiệt trông thấy liền cởi áo đắp cho, rồi vực lên xe đem về. Hồ Yến và Tư Thần ở trong thành trông thấy ngọn lửa tưởng có binh biến, vội vàng dẫn quân đến, thấy nhà Hi Phụ Cơ cháy liền truyền quân sĩ cứu chữa, thì nhà đã cháy gần hết rồi. Hi Phụ Cơ đem mấy người nhà đi chữa cháy, bị khói xông vào mắt, ngã lăn xuống đất, bất tỉnh nhân sự. Vợ Hi Phụ Cơ ẵm một đứa con mới lên năm tuổi, tên là Hi Lộc chạy ra sau vườn, đứng nép ở dưới ao, mới được thoát nạn. Còn mấy tên người nhà đều bị chết cháy cả.
Xung quanh một vùng gần đấy, cả thảy cháy đến hơn ba chục nóc nhà. Hồ Yển và Tư Thần dò xét, biết là Ngụy Thù và Điên Thiệt phóng hỏa, giật mình kinh sợ, vội vàng sai người đến đại dinh để báo với Tấn Văn-công. Đại dinh đóng xa năm dặm, đêm thấy ngọn lửa, chưa hiểu là chuyện gì. Sáng hôm sau, Tấn Văn-công tiếp được thư của Hồ Yến và Tư Thần mới biết rõ đầu đuôi, liền thân hành đến để thăm Hi Phụ Cơ. Hi Phụ Cơ giương mắt nhìn Tấn Văn-công, rồi dần dần nhắm mắt lại mà chết. Tấn Văn-công thương xót vô cùng. Vợ Hi Phụ Cơ ẵm Hi Lộc sụp lạy ở dưới đất, vừa lạy vừa khóc. Tấn Văn-công cũng ứa nước mắt mà bảo rằng:
- Hiền tẩu chớ lo phiền, đã có tôi trông nom cho, không ngại gì cả.
Nói xong, tức khắc phong cho Hi Lộc ngay còn ở trên tay mẹ làm chức đại phu; lại chu cấp cho vàng lụa nhiều lắm, để tống táng Hi Phụ Cơ, rồi đem vợ con Hi Phụ Cơ sang ở nước Tấn, chờ khi vua Tào quy thuận rồi, bấy giờ sẽ cho về. Sau Hi Lộc làm quan đại phu ở nước Tào. Tấn Văn-công muốn chém Ngụy Thù và Điên Thiệt. Triệu Thôi nói:
- Hai người ấy ngày xưa đi tòng vong, khó nhọc trong mười chín năm trời, mới đây lại có công trạng lớn, chúa công nên dung thứ cho.
Tấn Văn-công nổi giận mà nói rằng:
- Ta sở dĩ thủ tín với dân được nhờ có pháp luật. Bề tôi không theo pháp luật thì sao gọi là bề tôi? Vua không thi hành pháp luật với bề tôi được thì sao gọi là vua? Vua chẳng ra vua, bề tôi chẳng ra bề tôi thì sao giữ được nước? Các quan đại phu có công với ta thì nhiều lắm, nếu đều làm trái pháp luật cả thì từ nay trở đi, ta còn thi hành pháp luật gì được nữa!
Triệu Thôi nói:
- Chúa công nói phải lắm? Nhưng Ngụy Thù là người vũ dũng, các tướng không ai bằng, giết cũng đáng tiếc; xin chúa công giết một mình Điên Thiệt, cũng đủ làm gương cho kẻ khác, cần gì mà phải giết cả Ngụy Thù.
Tấn Văn-công nói:
- Ta nghe Ngụy Thù bi thương ở ngực không dậy được, chẳng bao lâu cũng chết, còn tiếc gì mà chẳng trị tội để giữ cho pháp luật được nghiêm minh.
Triệu Thôi nói:
- Tôi xin phụng mệnh đến hỏi xem, nếu bệnh Ngụy Thù quả đã nguy thì chúa công hãy trị tội, nhược bằng còn mạnh thì nên lưu một viên hổ tướng ấy để dùng về sau.
Tấn Văn-công gật đầu, liền sai Tuân Lâm Phủ đi đòi Điên Thiệt, và sai Triệu Thôi đến thăm bệnh Ngụy Thù.
Hồi thứ 40.
Tiên Chẩn lập
kế lừa Đắc Thần
Tấn Sở giao
binh tại Thành Bộc
Triệu Thôi phụng mệnh Tấn Văn-công đến thăm bệnh Ngụy Thù. Bấy giờ Ngụy Thù còn vết thương nặng ở ngực, vẫn nằm trên giường, chưa trở dậy được, nghe báo có quan đến thăm, liền hỏi người nhà rằng:
- Cả thảy có mấy người đến?
Người nhà nói:
- Chỉ có một mình quan tư mã là Triệu Thôi.
Ngụy Thù nói:
- Hắn định đến dò xem ta có sống được hay không, nếu bệnh không sống được thì tất đem ta ra để trị tội đây.
Nói xong, liền sai người nhà lấy lụa bó kín ngực lại, để ra tiếp kiến Triệu Thôi. Người nhà nói:
- Tướng quân đau nặng lắm, không nên cử động vội.
Ngụy Thù quát to nên rằng:
- Bệnh ta không đến nỗi chết, các người chớ nói càn!
Nói xong, liền đứng dậy, mũ áo chỉnh tề, ra tiếp kiến Triệu Thôi. Triệu Thôi hỏi:
- Nghe nói tướng quân bị thương nặng lắm, chúa công có sai tôi đến hỏi thăm.
Ngụy Thù nói:
- Bởi có quân mệnh, nên tôi phải miễn cưỡng ra đây. Tôi cũng tự biết tội mình là đáng chết, nhưng may mà chúa công ân xá cho thì cái thân sống thừa này xin hết sức để báo đáp.
Ngụy Thù lại nhảy lên mấy lần, để tỏ cho Triệu Thôi biết là sức mình còn mạnh.
Triệu Thôi nói:
- Tướng quân cứ yên lòng mà chăm thuốc men cho chóng khỏi, rồi tôi xin tâu lại với chúa công.
Triệu Thôi về tâu với Tấn Văn-công rằng:
- Ngụy Thù dẫu bị thương, nhưng gân sức còn mạnh lắm. Vả lại vẫn biết giữ phép làm tôi, nếu chúa công tha cho y thì sau này tất cũng dùng được việc.
Tấn Văn-công nói:
- Nếu tha mà không trái với pháp luật thì ta có muốn giết làm gì!
Được một lúc, Tuân Lâm Phủ đưa Điên Thiệt đến, Tấn Văn-công mắng rằng:
- Vì cớ gì nhà ngươi dám đốt nhà Hi Phụ Cơ?
Điên Thiệt nói:
- Giới Tử Thôi cắt thịt đùi để dâng chúa công mà cũng bị chết cháy, huống chi là Hi Phụ Cơ chi dâng có một bữa cơm! Tôi đốt nhà Hi Phụ Cơ như vậy, là muốn cho Hi Phụ Cơ được phối hưởng ở đền thờ Giới Tử Thôi đó thôi!
Tấn Văn-công nổi giận, nói:
- Giới Tử Thôi chết cháy, có phải là lỗi tại ta đâu.
Nói xong, bèn ngảnh lại hỏi Triệu Thôi rằng:
- Điên Thiệt dám làm việc trái phép đốt nhà Hi Phụ Cơ, thì nên bắt tội gì?
Triệu Thôi nói:
- Cứ theo pháp luật thì đáng tội chết.
Tấn Văn-công truyền đem Điên Thiệt ra chém, để làm lễ tế Hi Phụ Cơ, rồi bêu đầu ở cửa Bắc, yết thị rằng:
- Từ nay ai làm trái phép thì nom vào đây!
Tấn Văn-công lại hỏi Triệu Thôi rằng:
- Ngụy Thù cùng đi với Điên Thiệt mà không biết can ngăn nay nên bắt tội gì?
Triệu Thôi nói:
- Nên cách chức Ngụy Thù, vả bắt phải lập công chuộc tội.
Tấn Văn-công bèn cách chức Ngụy Thù, cho Chu Chi Kiều thay vào.
Các tướng sĩ thấy vậy, đều bảo nhau rằng:
- Ngụy Thù và Điên Hiện có công tòng vong khó nhọc trong mười chín năm trời, nay làm trái phép mà cũng người thì bị giết, người thì bị cách chức, huống chi là kẻ khác? Thế mới thật là phép nước không riêng ai cả, chúng ta nên cẩn thận mới được!
Lại nói chuyện Sở Thành-vương đi đánh Tống, chiếm được đất Mân Ấp, đang đem quân vây đất Hoài Dương, định làm cho nước Tống khốn quẫn phải xin hàng, bỗng nghe báo có sứ thần nước Vệ là Tôn Viêm đến cáo cấp. Sở Thành-vương triệu vào hỏi, Tôn Viêm báo cho Sở Thành-vương biết chuyện nước Tấn đã chiếm mất đất Ngũ Lộc, vua nước Vệ phải chạy ra ở đất Tương Ngưu, và nếu nước Sở không đem quân đến cứu thì thành Sở Khâu cũng khó lòng mà giữ nổi. Sở Thành-vương liền chia quân ra làm hai đạo, cho Thành Đắc Thần cùng các vua chư hầu ở lại vây Tống, còn mình thì đem quân đi cứu Vệ. Các vua chư hầu cũng đều lo trong nước có biến, cáo từ về cả, mỗi người cho một viên đại tướng ở lại:
- Tướng nước Trần là Viên Tuyển, tướng nước Sái là công tử An, tướng nước Trịnh là Thạch Quỳ, tướng nước Hứa là Bách Trù, đều phải theo lệnh tướng nước Sở là Thành Đắc Thần cả.
Sở Thành-vương đi đến nửa đường, nghe tin quân Tấn đã kéo sang đánh Tào, toan sang cứu Tào thì lại nghe tin quân Tấn đã phá vỡ nước Tào, vua Tào đã bị bắt rồi. Sở Thành-vương giật mình sợ hãi mà nói rằng:
- Nước Tấn dùng quân sao mà thần tốc như vậy?
Sở Thành-vương liền đóng quân lại ở Thân Thành, sai người sang đất Cốc gọi công tử Ung và Dịch Nha về, rồi đem đất Cốc giao trả nước Tề, mà cùng với Tề giảng hòa. Lại sai người sang Tống, rút quân của Thành đắc Thần về, và báo Thành Đắc Thần rằng:
- Vua nước Tấn lưu lạc ở các nước ngoài mười chín năm trời, nay tuổi ngoại sáu mươi mới về làm vua nước Tấn, từng trải gian hiểm, am hiểu tình dân, chẳng qua cũng là lòng trời xui khiến, để làm cho nước Tấn được cường thịnh, ta khó lòng mà địch nổi, chi bằng ta hãy chịu nhường.
Thành Đắc Thần cậy tài, nghe Sở Thành-vương nói lấy làm căm tức bảo các tướng chư hầu rằng:
- Quân ta chẳng bao lâu nữa thì phá vỡ kinh thành nước Tống, can gì mà bỏ! Đấu Việt Tiêu cũng cho là phải. Thành Đắc Thần sai Đấu Việt Tiêu đến nói với Sở Thành-vương rằng:
- Xin chờ lại ít lâu để phá vỡ nước Tống, bấy giờ sẽ rút quân trở về nhược bằng có gặp quân Tấn thì xin cố hết sức để thắng, nếu đánh không được xin chịu tội chết.
Sở Thành-vương sai người gọi Tử Văn đến mả hỏi rằng:
- Ta cho người triệu Thành Đắc Thần về, mà Thành Đắc Thần cố ý xin đánh, nhà ngươi nghĩ thế nào?
Tử Văn nói:
- Nước Tấn đem quân cứu Tống là muốn làm bá chủ, nhưng Tấn làm bá chủ thì nước Sở không lợi. Nay chỉ có Sở là đối địch nổi với Tấn, nếu Sở nhường Tấn thì Tấn là bá chủ. Vả Tào và Vệ xưa nay vẫn giao hiếu với ta, thấy ta nhường Tấn, thì rồi tất cũng theo Tấn. Bây giờ chúa công hãy cho Thành Đắc Thần đóng quân ở đấy để khiến Tào và Vệ đều được vững lòng, chẳng cũng nên lắm ru! Nhưng chúa công nên dặn Thành Đắc Thần phải cẩn thận, chớ nên khinh thường mà đánh nhau với Tấn; nếu bất đắc dĩ thì cùng Tấn giảng hòa để chia nhau Nam Bắc, còn không đến nỗi mất thể diện.
Sở Thành-vương theo lời, dặn Đấu Việt Tiêu về bảo Thành Đắc Thần rằng:
- Chớ có khinh thường mả đánh nhau với Tấn, nếu có thể giảng hòa thì nên giảng hòa.
Thành Đắc Thần được Đấu Việt Tiêu truyền lại lời dặn, mừng thầm Sở Thành-vương không bắt rút quân ngay, liền ngày đêm đánh Tống rất gấp. Tống Thành-công lúc trước thấy Công Tôn Cố về nói rằng vua Tấn sắp đem quân đi đánh Tào và Vệ để giải vây cho Tống, liền cố sức chống giữ. Sau thấy Thành Đắc Thần đánh gấp lắm, cũng có ý lo sợ. Quan đại phu là Môn Doãn Ban nói với Tống Thành-công rằng:
- Vua Tấn chỉ biết đem quân đi đánh Tào và Vệ để cứu Tống, mà không biết rằng quân Sở vẫn đánh Tống gấp như thế này. Tôi xin liều chết trèo qua thành ra mà đến nói với vua Tấn.
Tống Thành-công nói:
- Mình cầu người ta đến hai lần, mà chỉ nói miệng không thì sao cho phải! Nói xong cho người kê biên những đỗ bảo ngọc trong kho, làm thành sổ sách để đem dâng Tấn Văn-công, hẹn khi nào lui được quân Sở rồi thì chiếu theo sổ sách mà đệ nạp. Môn Doãn Ban xin cho một người nữa đi theo. Thành công cho Hoa Tú Lão cùng đi. Hai người từ biệt Tống hầu, rồi trèo qua thành lên ra, tìm đến đại dinh Tấn Văn-công. Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão vào yết kiến Tấn Văn-công, khóc mà nói rằng:
- Chúa công tôi sai chúng tôi đem nộp quyển sổ có biên những lễ vật nhỏ mọn này để dâng quý quốc, xin quý quốc thương tình mà đến cứu cho.
Tấn Văn-công bảo Tiên Chẩn rằng:
- Việc nước Tống gấp lắm, nếu không đi cứu thì còn chi là Tống, mà nếu đi cứu thì tất phải đánh nhau với Sở. Ngày trước Khước Cực đã bàn với ta rằng: "Tất phải hợp sức với Tề và Tần thì mới kiềm chế nổi Sở. Nay Sở giảng hòa với Tề, trả lại đất Cốc cho Tề, còn Tần thì lại không có hiềm khích gì với Sở cả, ta biết làm thế nào?”
Tiên Chẩn nói:
- Tôi có một kế, khiến cho Tề và Tần tự khắc phải đem quân đánh Sở.
Tấn Văn-công mừng lắm, hỏi:
- Nhà ngươi có kế gì mà thần diệu như vậy?
Tiên Chẩn nói:
- Nước Tống lễ ta, kể cũng là hậu, nhưng ta nhận lễ rồi mới đi cứu thì sao gọi là nghĩa? Chi bằng ta từ chối đi và bảo Tống đem những đồ lễ vật ấy mà chia biếu Tề và Tần, để Tế và Tần nói hộ với nước Sở. Khi Tề và Tần sai sứ đến nói với Sở mà Sở không theo, bấy giờ tất nhiên Tề và Tần phải sinh lòng hiềm khích với Sở.
Tấn Văn-công nói:
- Giả sử Tề và Tần nói mà Sở nghe thì tất Tề và Tần phải bắt Tống thần phục Sở, ta còn ích gì?
Tiên Chẩn nói:
- Tôi lại có một kế, khiến cho Sở không theo lời Tề và Tần được.
Tấn Văn-công nói:
- Kế gì?
Tiên Chẩn nói:
- Sở yêu Tào và Vệ mà ghét Tống. Nay ta đã đuổi vua nước Vệ, bắt vua nước Tào thì đất đai hai nước ấy đều ở trong tay ta. Mà hai nước ấy lại tiếp giáp với Tống, vậy nếu ta đem đất đai hai nước ấy mà cho Tống thì Sở lại càng ghét Tống lắm; Tề và Tần nói hộ, chắc Sở cũng không nghe nào! Khi bấy giờ Tề và Tần thương Tống mà giận Sở, tài nào không phải kết liên với nước Tấn ta.
Tấn Văn-công vỗ tay khen phải, rồi bảo Môn Doãn Ban kê biên các thứ bảo ngọc, làm thành hai quyển sổ để đem biếu Tề và Tần, sai Môn Doãn Ban đi sứ Tần, Hoa Tú Lão đi sứ Tề, lại dặn hai người cách thương thuyết với Tần và Tề sao cho khẩn thiết.
Hoa Tú Lão đến nước Tề, nói với Tề Chiêu-công rằng:
- Tấn và Sở nay đang kình địch với nhau, cái nạn binh đao ấy tất phải nhờ quý quốc mới phân giải được. Nếu quý quốc có lòng giúp cho nước tôi giữ gìn được xã tắc thì là không những không dám tiếc các thứ bảo ngọc của tiên triều mà từ nay trở đi, xin mỗi năm một lần cống hiến, không bao giờ dám thôi.
Tề Chiêu-công hỏi rằng:
- Hiện bây giờ vua Sở đóng ở đâu?
Hoa Tú Lão nói:
- Vua Sở cũng muốn giải vây cho nước tôi, đã rút quân về đóng ở Thân thành rồi, chỉ vì quan lệnh doãn nước Sở là Thành Đắc Thần mới lên cầm quyền chính, muốn lập công mà không chịu rút quân.
Tề Chiêu-công nói:
- Vua Sở ngày trước lấy đất Cốc của ta, nay lại giao trả mà cùng ta giảng hòa, vậy thì vua Sở cũng không có ý tham muốn; còn Thành Đắc Thần không chịu rút quân, để ta sai sứ đến nói giúp cho.
Tề Chiêu-công liền sai Thôi Yến sang nước Tống để nói với Thành Đắc Thần.
Môn Doãn Ban đến nước Tần, công nói với Tần Mục-công như lời Hoa Tú Lão. Tần Mục-công công sai công tử Chí đến nói với Thành Đắc Thần.
Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão lại trở về đại dinh Tấn Văn-công. Tấn Văn-công bảo Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão rằng:
- Ta đã diệt được nước Tào và nước Vệ, bao nhiêu những ruộng đất tiếp giáp nước Tấn, ta xin để biếu nước Tống.
Nói xong, liền sai Hồ Yến đưa Môn Doãn Ban đi nhận lấy ruộng ở đất nước Vệ, và Tư Thần đưa Hoa Tú Lão đi nhận lấy ruộng ở đất nước Tào. Các quan trấn thủ nước Tào và nước Vệ đều bị đuổi cả. Thôi Yến (sứ nước Tề) và công tử Chí (sứ nước Tần) đang thương thuyết với Thành Đắc Thần xin cho nước Tống được giảng hòa, bỗng thấy các quan trấn thủ nước Tào và nước Vệ kéo nhau đến nói với Thành Đắc thần rằng:
- Quan đại phu nước Tống là Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão cậy thế nước Tấn đem quân sang chiếm lấy ruộng đất của nước chúng tôi.
Thành Đắc Thần nổi giận, bảo Thôi Yến và công tử Chí rằng:
- Người nước Tống ức hiếp nước Tào và nước Vệ như vậy, sao các ngài lại xin cho nước Tống giảng hòa, việc ấy tôi không dám vâng mệnh.
Thôi Yến và công tử Chí chán quá, tức khắc cáo lui về. Tấn Văn-công nghe tin Thành Đắc Thần không theo lời Thôi Yến và công tử Chí, liền sai người đón đường mời Thôi Yến và công tử Chí về chốn đại dinh rồi bày tiệc để thết đãi mà phân trần rằng:
- Thành Đắc Thần kiêu ngạo vô lễ, nay sắp sửa giao chiến với nước Tấn tôi, xin hai quý quốc đem quân đến giúp cho.
Thôi Yến và công tử Chí nhận lời, rồi cáo từ về nước. Thành Đắc Thần họp các tướng sĩ lại mà thề rằng:
- Nếu ta không lấy lại được nước Tào và nước Vệ thì dẫu chết cũng không chịu lui quân.
Tướng nước Sở là Uyển Xuân nói với Thành Đắc Thần rằng:
- Tôi có một kế khiến không phái đánh mà tự khắc lấy lại được nước Tào và nước Vệ.
Thành Đắc Thần hỏi:
- Nhà ngươi có kế gì?
Uyển Xuân nói:
- Nước Tấn đuổi vua Vệ, bắt vua Tào, đều là vì nước Tống cả; nay nguyên soái nên sai sứ đến nói với vua Tấn xin giảng hòa, hễ nước Tấn trả lại đất nước Tào và nước Vệ thì ta cũng giải vây cho nước Tống. Hai bên cùng rút quân trở về, chẳng cũng hay lắm ru!
Thành Đắc Thần nói:
- Giả sử nước Tấn không nghe thì làm thế nào?
Uyển Xuân nói:
- Nguyên soái nên bảo rõ cho người nước Tống biết ràng ta sắp thương thuyết để giảng hòa với Tấn mà giải vây cho Tống, vì nước Tống đang mong được giải vây, khác nào như một kẻ bị treo ngược mà mong người đến cởi; nếu vua Tấn không nghe lời thì chẳng những hai nước Tào và Vệ Oán Tấn, mà Tống cũng oán Tấn nữa. Bấy giờ ta họp ba nước oán Tấn mà đánh Tấn thì ta tất phải được.
Thành Đắc Thần nói:
- Nay ai là người dám sang thương thuyết với quân Tấn?
Uyển Xuân nói:
- Nếu nguyên soái sai tôi thì tôi xin vâng mệnh.
Thành Đắc Thần liền hoãn binh không đánh Tống vội, rồi sai Uyển Xuân sang thương thuyết với Tấn Văn-công. Uyển Xuân đến đại dinh quân Tấn, vào nói với Tấn Văn-công rằng:
- Kẻ ngoại thần của nhà vua là Thành Đắc Thần có lời kính tỏ với nhà vua rằng: Tào và Vệ đối với nước Sở tôi, khác nào như Tống đối với quý quốc Nếu quý quốc trả lại đất cho Tào và Vệ thì nước tôi cũng xin giải vây cho Tống, hai bên cùng giảng hòa với nhau để dân chúng khỏi phải lầm than khổ sở.
Uyển Xuân nói chưa dứt lời thì Hồ Yến đứng ở bên cạnh, hầm hầm giận mà mắng rằng:
- Thành Đắc Thần nói vô lý quá? Định bỏ một nước Tống chưa lấy được mà đòi hai nước (Tào và Vệ) của Tấn đã lấy được rồi, thì sao cho phải!
Tiên Chẩn vội vàng giẫm vào chân Hồ Yến để làm hiệu, và nói với Uyển Xuân rằng:
- Kể ra thì tội nước Tào và nước Vệ cộng không đến nỗi đáng phải tuyệt diệt, chúa công tôi vẫn muốn bảo toàn cho. Xin hãy tạm nghi lại ở hậu dinh, để chúa công tôi thương nghị xem nên thế nào cho phải.
Loan Chi liền đưa Uyển Xuân vào nghỉ ở hậu dinh. Hồ Yến hỏi Tiên Chẩn rằng:
- Nguyên soái định nghe lời Uyển Xuân hay sao?
Tiên Chẩn nói:
- Lời xin của Uyển Xuân không nên nghe mà cũng không nên không nghe.
Hồ Yến nói:
- Tại sao thế?
Tiên Chẩn nói:
- Uyển Xuân đến đây là bởi mưu kế của Thành Đắc Thần, muốn mua ơn với Tống mà đổ oán cho nước Tấn ta đó. Ta không nghe thì Tào, Vệ và Tống đều oán ta cả, mà ta nghe thì nước Sở được ơn, chi bằng ta giảng hòa riêng với Tào và Vệ, để chia rẽ cánh ấy ra lại bắt giam Uyển Xuân, làm cho Thành Đắc Thần phải tức giận mà đem quân sang đánh ta, tự khắc giải vây được cho nước Tống. Nếu không dùng kế ấy thì tôi e rằng Thành Đắc Thần giảng hòa riêng với Tống, tất nhiên Tống lại về bè với Sở mà bỏ ta.
Tấn Văn-công nói với Tiên Chẩn rằng:
- Nguyên soái nghĩ phải lắm! Nhưng ngày trước ta có chịu ơn vua Sở, mà nay lại bắt giam sứ thần nước Sở thì còn ra thế nào?
Loan Chi nói:
- Sở ăn cướp nước nhỏ, khinh rẻ nước lớn, đó là một điều sỉ nhục cho Trung nguyên. Nay chúa công không muốn làm bá chủ thì thôi, nếu muốn làm bá chủ thì đó cũng là điều sỉ nhục của chúa công. Việc gì mà phải băn khoăn vì một cái ơn riêng nhỏ mọn!
Tấn Văn-công khen phải, liền sai Loan Chi bắt giam Uyển Xuân ở đất Ngũ Lộc, giao cho quan trấn thủ ở đấy là Khước Bộ Dương phải coi giữ cẩn thận. Còn bao nhiêu những người theo hầu Uyển Xuân đều đuổi về cả, để chúng truyền lại cho Thành Đắc Thần biết rằng:
- Uyển Xuân vô lễ đã bị nước Tấn bắt giam rồi, đợi khi nào bắt được lệnh doãn, sẽ giết một thể.
Các người theo hầu Uyển Xuân đều len lét cúi đầu chạy về. Tấn Văn-công bắt giam Uyển Xuân rồi, lại sai người bảo Tào Cung-công rằng:
- Chúa công tôi không phải là vì một điếu hiềm nhỏ ngày xưa mà bẻ lỗi nhà vua đâu, chẳng qua chỉ vì nhà vua thần phục nước Sở đó mà thôi. Nay nhà vua sai người đưa thư sang tuyệt giao với Sở thì chúa công tôi tức khắc trả lại nước Tào cho nhà vua.
Tào Cung-công nóng lòng được tha, liền viết ngay một bức thư đưa sang cho Thành Đắc Thần. Thư rằng: “Tôi sợ rằng xã tắc nước tôi sụp đổ. nhân dân khó tránh cái nạn chết chóc cho nên bất đắc dĩ phải thần phục nước Tấn, mà không thể phụng sự quý quốc được nữa. Nếu quý quốc trừ được nước Tấn, để gia yên cho nước tôi, thì có đâu nước tôi lại dám hai lòng”.
Tấn Văn-công lại sai người đến đất Tương Ngưu, hứa với Vệ Thành-công nếu tuyệt giao với Sở thì trả lại nước Vệ cho. Vệ Thành-công mừng lắm. Quan đại phu nước Vệ là Ninh Du can rằng:
- Đó là cái kế phản gián của nước Tấn, chúa công chớ nên theo.
Vệ Thành-công không nghe lời Ninh Du, liền đưa thư cho Thành Đắc Thần, đại ý chừng nói như Tào Cung công. Thành Đắc Thần nghe tin Uyển Xuân bị bắt, thì gào thét mắng chửi ầm ỹ lên, nói rằng:
- Trùng Nhĩ, mày là một thằng lão tặc, trời đánh không chết! Khi trước trốn sang nước ta, khác nào như con cá nằm trên mặt thớt, nay về làm vua, lại dám bắt giam sứ thần nước ta, để phen này ta thân hành đến nói rõ cho mày biết.
Thành Đắc Thần đang hầm hầm nổi giận, bỗng có quân báo rằng:
- Nước Tào và nước Vệ có thư đệ trình nguyên soái.
Thành Đắc Thần nghĩ thầm rằng:
- Tào và Vệ đang lúc khốn khổ này, còn có việc gì mà đưa thư cho ta nữa. Hay là có do thám được tình hình nước Tấn mà định bảo riêng ta điều gì chăng, ấy là trời giúp cho ta được thành công đó.
Nói xong, mở thư ra xem, mới biết là thư Tào và Vệ tuyệt giao với Sở lại càng căm tức vô cùng, bèn quát to lên rằng:
- Hai bức thư này chính là đứa lão tặc kia bắt người ta phải viết đây! Thằng lão tặc! Thằng lão tặc! Bây giờ, không phải là mày thì là ta, nhất định trong hai người phải có một người chết!
Đấu Việt Tiêu nói:
- Đại vương đã có dặn nguyên soái không nên đánh nhau với Tấn, nếu nguyên soái muốn đánh, phải tâu với đại vương mới được. Vả Tề và Tần căm tức nguyên soái không nghe lời giải vây cho Tống, tất nhiên ngày nay đem quân giúp Tấn, vậy thì nước ta dẫu có Trần, Sái, Trịnh và Hứa giúp vào, nhưng địch lại với Tề và Tần sao nổi? Nguyên soái nên tâu với đại vương, xin thêm quân rồi sẽ đi đánh.
Thành Đắc Thần nói:
- Nhà ngươi đi hộ ta, nên phải nhanh chóng mới được!
Đấu Việt Tiêu phụng mệnh Thành Đắc Thần đến đất Thân ấp nói với Sở Thành-vương xin thêm quân. Sở Thành-vương nổi giận, nói:
- Ta đã dặn rằng chớ nên khinh thường đánh nhau với Tấn, nay Thành Đắc Thần lại cố xin ra đánh, phỏng có chắc được hay không?
Đấu Việt Tiêu nói:
- Thành Đắc Thần đã có nói: nếu đánh không được, xin chịu tội chết.
Sở Thành-vương vẫn không bằng lòng, chỉ sai Đấu Nghi Thân đem bốn nghìn quân giúp Thành Đắc Thần mà thôi.
Con Thành Đắc Thần là Thành Đại Tâm cũng xin đem quân đi đánh, Sở Thành-vương thuận cho. Đấu Nghi Thân cùng với Đấu Việt Tiêu đem quân đến nước Tống. Thành đắc Thần trông thấy quân ít, lại càng tức giận nói rằng:
- Dẫu không thêm quân, ta lại không thắng Tấn được à?
Nói xong, họp quân bốn nước chư hầu cùng đi đánh Tấn. Tấn Văn-công họp các tướng lại để thương nghị. Tiên Chẩn nói:
- Nước Sở từ khi đánh Tề vây Tống đến nay, quân sĩ đều đã mỏi mệt cả, ta nên đem quân đánh ngay, chớ để mất cơ hội ấy.
Hồ Yến nói:
- Ngày trước chúa công ở trước mặt vua Sở, đâu có hẹn một câu rằng: “Ngày khác gặp nhau ở trung Nguyên thì xin tránh quân Sở ba xá”, nếu nay đem quân ra đánh, chẳng hóa ra thất tín với Sở lắm ru!
Các tướng nghe lời Hồ Yến đều không bằng lòng mà nói rằng:
- Chúa công ta là vua một nước, mà phải rút quân tránh một viên tướng nước Sở thì nhục biết dường nào! Không nên! Không nên!
Hồ Yến nói:
- Cái ơn của vua nước Sở, ta không nên quên, nay ta rút quân tránh đi, thế nghĩa là tránh nước Sở, chứ không phải tránh Thành Đắc Thần.
Các tướng lại nói:
- Nếu ta lui mà quân Sở đuổi theo thì làm thế nào?
Hồ Yến nói:
- Nếu ta lui mà quân Sở đuổi theo thì trái tại quân Sở, bấy giờ ta sẽ đánh.
Tấn Văn-công nói:
- Hồ Yến nói phải lắm?
Tấn Văn-công truyền lui quân ra ngoài ba xá, đóng ở đất Thành Lộc. Tề Hiếu-công sai người con Quyết Ý Trọng là Quắc Quy Phủ làm chánh tướng, Thôi Yến làm phó tướng. Tần Mục-công cũng sai người con thứ là công tử Mẫn làm chánh tướng, Kiến Bính làm phó tướng, cùng đem quân sang đất Thành Bộc để giúp Tấn đánh Sở. Tống Thành-công thấy quân Sở giải vây rồi, cũng sai quan tư mã là Công Tôn Cố sang tạ ơn Tấn Văn-công và giúp việc đánh Sở.
Quân Sở thấy quân Tấn lui ra ngoài ba xá, đều có ý mừng rỡ.
Đấu Bột nói:
- Vua Tấn đã chịu rút quân tránh chúng ta thì cũng vẻ vang cho ta lắm rồi, chi bằng ta nhân thế mà thu quân về, dẫu không công cũng được khỏi tội.
Thành Đắc Thần nói:
- Ta đã xin thêm quân, nếu không đánh một trận, còn ra thế nào! Nay quân Tấn lui về là có ý nhát sợ, ta nên mau mau đuổi theo mới được.
Các tướng nước Tấn nói với Tiên Chẩn rằng:
- Quân Sở ngắm xem địa thế để lập đồn trại, lả có ý muốn thủ hiểm, ta nên đem quân đánh ngay.
Tiên Chẩn nói:
- Thành Đắc Thần đến đây là muốn cùng quân ta giao chiến, chứ không phải muốn thủ hiểm đâu.
Tấn Văn-công cũng có ý nghi ngờ, không muốn đánh nhau với Sở.
Hồ Yến nói:
- Sự thế ngày nay, ta đánh Sở mà thắng thì làm được bá chủ chư hầu. Nếu đánh không thắng thì ta rút quân về mà giữ thế thủ, nước Sở cũng chẳng làm gì ta nổi.
Tấn Văn-công cũng chưa kiên quyết, đêm hôm ấy nằm mộng thấy hình như trong khi mình còn đi trốn, đang ở nước Sở, cùng với vua nước Sở đùa bỡn đánh tay nhau, nhưng yếu sức bị thua, ngã ngửa xuống dưới đất; vua Sở nằm đè lên trên mình, đánh vào đầu chảy cả óc rồi hút lấy óc, đến lúc tỉnh dậy, lấy làm sợ lắm. Bấy giờ Hồ Yến cùng ngủ ở trong màn, Tấn Văn-công gọi dậy, kể chuyện cho nghe và bảo rằng:
- Cứ như cái mộng này thì ta đánh Sở không được, ta bị Sở hút lấy óc, chắc là điềm xấu.
Hồ Yến nghe nói, liền chúc mừng rằng:
- Đó là cái điềm rất tốt! Chúa công tất đánh được quân Sở.
Tấn Văn-công nói:
- Sao lại bảo là rất tốt?
Hồ Yến nói:
- Chúa công nằm ngửa thì được ánh sáng mặt trời chiếu vào. Vua Sở nằm trên mình, nghĩa là phục xuống đất mà chịu tội. Óc là một vật mềm nhũn, vua Sở hút óc chúa công, nghĩa là phải mềm nhũn mà thần phục chúa công đó, xem thế thì tất chúa công đánh được quân Sở.
Tấn Văn-công nghe nói, không nghi ngờ gì nữa. Trời vừa sáng, quân lại vào báo rằng nước Sở cho người đến hạ chiến thư. Tấn Văn-công mở xem. Thư rằng:
- Quân Sở tôi muốn cùng với quân Tấn làm trò, xin nhà vua ở trên xe mà xem. Thành Đắc Thần nay cũng được ghé mắt một chút.
Hồ Yến nói:
- Chinh chiến là một việc quan hệ mà dám nói là làm trò, kẻ kia không cẩn trọng như vậy thì tài nào mà khỏi thua.
Tấn Văn-công sai Loan Chi viết thư đáp lại. Thư rằng:
- Tôi còn nhớ ơn vua nước Sở, bởi vậy phải rút quân lui ba xá, không dám cùng với nguyên soái đối địch. Nay nguyên soái muốn xem quân hai bên, có đâu tôi lại không vâng lời. Sáng ngày mai xin ra tiếp kiến.
Sứ nước Sở về rồi, Tiên Chẩn điểm duyệt quân sĩ cả thảy hơn năm vạn người, ấy là chưa kể đến quân Tề và quân Tần đến giúp. Tấn Văn-công trèo lên gò cao đứng xem trông thấy quân sĩ tiến thoái rất có thứ tự bằng lòng mà khen rằng:
- Đó là theo phép của Khước Cốc ngày xưa. Như thế có thể đối địch với quân Sở được.
Nói xong, liền sai đốn cây ở trên rừng xuống để làm các thứ chiến cụ. Tiên Chẩn truyền lệnh cho các hàng tướng sĩ:
- Hồ Mao và Hồ Yến đem toán thượng quân, cùng với phó tướng nước Tần là Kiển Bính tiến vào tả đội quân Sở, giao chiến với Đấu Nghi Thân. Loan Chi và Tư Thần đem toán hạ quân, cùng với phó tướng nước Tề là Thôi Yến, tiến vào hữu đội quân Sở, giao chiến với Đấu Bột.
Tiên Chẩn đã dặn bảo các tướng đủ các mưu kế; còn mình thì cùng với Khước Tần và Kỳ Mãn đem toán trung quân để đối địch với Thành Đắc Thần. Tiên Chẩn lại sai Thân Lâm Phủ và Sĩ Hội, mỗi người đem năm nghìn quân, chia làm hai cánh để phòng khi tiếp ứng; lại sai Quốc Quý Phủ (chánh tướng nước Tề) và công tử Mẫu (chánh tướng nước Tấn) đem quân đi phục sẵn ở phía sau quân Sở, để đợi khi quân Sở thua chạy thì xông vào mà chiếm cứ lấy đồn trại.
Bấy giờ Ngụy Thù đã khỏi vết thương ở ngực rồi, tình nguyện xin làm tiên phong.
Tiên Chẩn nói:
- Tôi đã sẵn có ý định nhờ lão tướng quân một việc: Từ đây đi về phía nam, đến đất Không Tang, là chỗ tiếp giáp với nước Sở, lão tướng quân nên đem quân phục sẵn ở đấy, đợi khi quân Sở thua chạy trở về thì đổ ra mà bắt.
Ngụy Thù mừng rỡ, vâng mệnh đi ngay. Bọn Triệu Thôi cùng với các quan văn vũ theo Tấn Văn-công lên đứng ở trên núi để xem trận. Tấn Văn-công lại sai Chu Chi Kiểu sửa soạn thuyền bè sẵn ở sông Nam Hà để đợi khi lấy được các xe lương thực của nước Sở thì vận tải đem về.
Sáng sớm hôm sau, quân Tấn cùng với quân Sở đều bày trận ở dưới chân núi Hữu Sản. Loan Chi nghe tin hữu đội nước Sở dùng quân Trần và quân Sái làm tiên phong, thì mừng thầm mà nói:
- Khi trước nguyên soái đã mật bảo ta rằng quân Trần và quân Sái nhút nhát mà dễ loạn; ta đánh tan quân Trần và quân Sái thì tự khắc hữu đội nước Sở phải thua.
Loan Chi sai Kiển Bính ra đánh. Viên Tuyển nước Trần và công tử An nước Sái tranh nhau lập công, xin với Đấu Bột để ra nghênh chiến. Chưa kịp nghênh chiến thì bỗng thấy quân Tấn kéo lui, Viên Tuyển và công tử An giục quân đuổi theo. Đuổi được một quãng, nghe có pháo nổ, quân mai phục của Tư Thần đổ ra đón đánh. Ngựa kéo xe của quân Tư Thần đều đội lốt da hổ cả. Ngựa nước Sở trông thấy, ngỡ là hổ thật, sợ hãi lồng chạy, xông cả vào hữu đội quân Sở, không gì có thể kìm hãm được nữa, thành ra quân Sở bị chết hại không biết bao nhiêu mà kể.
Loan Chi liền sai quân sĩ, giả làm quân Trần, cầm cờ hiệu nước Trần và nước Sái chạy đến phi báo với Thành Đắc Thần, nói hữu đội quân Sở đã thắng trận rồi, nên mu mau tiến binh, để đuổi quân Tấn. Thành Đắc Thần đứng trên xe trông thấy quân Tấn chạy toán loạn, cát bụi bay mù cả trời, không biết đó là kế của quân Tấn, mừng mà nói rằng:
- Toán hạ quân của Tấn đã thua thật rồi!
Thành Đắc Thần bèn truyền lệnh cho tả đội tiến binh. Đấu Nghi Thân trông thấy lá cờ đại của quân Tấn bay phấp phới, liền xông lại đánh. Hồ Yến đem quân ra nghênh chiến. Đánh được mấy hợp, bỗng thấy đằng sau quân Tấn đại loạn, Hồ Yến vội vàng bỏ chạy, lá cờ đại cũng thấy rút lui về phía sau. Đấu Nghi Thân ngỡ là quân Tấn tan vỡ, vội vàng giục tướng nước Trịnh và tướng nước Hứa, cùng nhau đuổi theo. Đuổi được một quãng, bỗng nghe tiếng trống vang lừng, Tiên Chẩn và Khước Tần đem quân đổ ra đánh chặn ngang, cắt đứt quân Sở ra làm hai đoạn. Hồ Mao, Hồ Yến đang chạy, cũng quay lại, hai bên đánh thốc vào. Quân Trịnh và quân Hứa sợ hãi bỏ chạy, Đấu Nghi Thân không sao cản lại được nữa, lại gặp tướng nước Tề là Thôi Yến đem quân đến đánh, Đấu Nghi Thân bỏ cả khí giới, lẩn mình trong đám bộ binh trườn vào trong núi mà trốn.
Nguyên toán hạ quân của nước Tấn giả cách thua chạy, cát bụi mù trời, là vì Loan Chi đã cho đốn các cây ở trên núi buộc vào sau xe mà kéo lê đi, Hồ Mao lại sai cho dựng cột cờ đại lên xe rồi kéo mà chạy, cố làm ra vẻ loạn quân, đó đều là mưu Tiên Chẩn đã định sẵn từ trước để lừa quân Sở.
Thành Đắc Thần chưa biết là trúng kế, vẫn tưởng tả đội và hữu đội đều thắng trận cả, lại sai con trai là Thành Đại Tâm đem quân ra tiếp chiến. Kỳ Man khi trước vâng mệnh Tiên Chẩn, chỉ giữ vững trận thế, không chịu đem quân ra đánh, bấy giờ thấy quân Sở nổi trống ra trận, Kỳ Man không thể nhịn được, sai người đi dò xem tướng nước Sở là ai. Quân sĩ về báo rằng:
- Tướng nước Sở mới mười lăm tuổi.
Kỳ Man nói:
- Một đứa trẻ con như vậy còn có võ nghệ gì! Ta quyết đem quân bắt sống.
Nói xong, tức khắc truyền nổi trống đem quân trận, cùng với Thành Đại Tâm giao chiến, đánh nhau hơn hai mươi hợp, chưa phân được thua. Đấu Việt Tiêu trông thấy Thành Đại Tâm đánh mãi không được, liền đứng ở trên xe, giương cung bắn một phát tên, trúng ngay vào dải mũ Kỳ Man. Kỳ Man giật mình kinh sợ, vội vàng lui về, nhưng e náo động đại quân, phải vòng quanh ra phía sau trận mà trốn chạy. Đấu Việt Tiêu quát to lên rằng:
- Viên tướng thua chạy ấy không cần đuổi làm chi, phải mau mau đánh vào trong quân để bắt lấy nguyên soái nước Tấn là Tiên Chẩn!
---------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét