Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

Đông Chu liệt quốc (Hồi thứ 61 - 65)

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

Hồi thứ 61.
Tấn Điệu-công cử binh đánh Sở
Tôn Lâm Phủ nổi loạn đuổi vua

Quân Tấn và quân chư hầu vây thành Bức Dương trong hai mươi bốn ngày mà chưa phá vỡ, bỗng trời mưa to lắm, mặt đất bị nước ngập sâu ba thước, Tuân Yển và Sĩ Mang lo sợ, vào nói với Tuân Dinh rằng:

– Chúng tôi vẫn tưởng là thành nhỏ dễ đánh, ai ngờ vây mãi không phá được, mà trời lại mưa to; nay đang mùa hạ, lại là mùa nước lên, sông Bào ở phía tây, sông Tiết ở phía đong, sông Khoách ở phía đông bắc, ba sông ấy đều nhau với sông Tứ, vạn nhất trời mưa mãi, nước mấy sông ấy tràn đến thì khó lòng mà thu quân được, chi bằng ta tạm rút về, rồi sau sẽ liệu.

Tuân Dinh nổi giận, cầm cái ghế đang ngồi, ném xuống trước mặt Tuân Yển và Sĩ Mang mà mắng rằng:

– Ta vẫn bảo thành ấy dẫu nhỏ mà vững bền lắm, chưa dễ phá nổi, các ngươi dám tự quyết là đánh được; khi ở trước mặt chúa công, các ngươi cố ý xin đi đánh, khiến cho ta phải đem quân tới đây. Nay đánh mãi không được, vừa gặp trời mưa, đã muốn rút quân về; các ngươi muốn đến đây thì dễ, chứ muốn rút về thì khó, ta hạn cho bảy ngày nữa, nếu không phá vỡ thành Bức Dương thì sẽ chiếu theo quân pháp mà chém đầu. Muốn tốt thì đi đi cho mau chớ đến đây nữa!

Tuân Yển và Sĩ Mang sợ hãi, xám xanh cả mặt, vâng vâng dạ dạ, luôn mồm mà lui ra, bảo các tướng bộ thuộc của mình rằng:

– Quan nguyên soái nghiêm hạn trong bảy ngày nữa, nếu không phá vỡ thành Bức Dương thì chém đầu chúng ta, nay ta cũng nghiêm hạn cho các ngươi, nếu trong sáu ngày nữa mà không phá vỡ được thành cũng chém đầu các ngươi trước rồi ta sẽ tự tử để giữ lấy quân pháp.

Các tướng đều sợ hãi nhìn nhau. Tuân Yển và Sĩ Mang nói:

– Quân pháp không phải là nói đùa, chúng ta phải xông pha tên đạn, ngày đêm đánh riết, có tiến mà không thoái!

Nói xong, sai người ước với quân nước Lỗ, nuớc Tào và nước Châu cùng nhau ra sức. Bấy giờ thế nước đã hơi lui, Tuân Yển và Sĩ Mang thúc quân tiến đánh: tên đạn ở trên mặt thành bắn xuống như mưa, mà Tuân Yển và Sĩ Mang nhất định không đánh. Đến ngày thứ năm, trong thành hết cả tên đạn. Tuân Yển mới bắc thang trèo lên, Sĩ mang cũng lên theo, quân tướng các nước đều lục tục kéo nhau lên cả. Văn Ban tiếp chiến trong các ngõ hẻm, kiệt sức mà chết. Tuân Dinh vào thành, vua Bức Dương đem thần thuộc ra xin hàng.

Lúc bấy giờ Tấn Điệu-công lo không đánh được thành Bức Dương, lại đem hai nghìn tinh binh đến để trợ chiến. Khi đi đến đất Sở Khâu (đất nước Vệ), nghe tin Tuân Dinh đã hạ được thành Bức Dương rồi, liền sai sứ đến nước Tống, đem thành Bức Dương phong cho quan đại phu nước Tống là Hướng Thú. Hướng Thú cùng với Tống Bình công thân hành đến đất Sở Khâu, yết kiến Tấn Điệu-công. Hướng Thú chối từ không dám nhận phong. Tấn Điệu-công liền giả đất cho Tống Bình công. Tuân Dinh thuật lại sự dũng cảm của ba tướng nước Lỗ, Tấn Điệu-công ban xe và áo cho mỗi người. Các tướng nước Lỗ lạy tạ, rồi thu quân về. Tấn Điệu-công trách vua Bức Dương về tội khi trước giúp Sở, giáng làm thứ nhân, lại chọn một người trong họ của vua Bức Dương cho ở đất Hoắc Thành để giữ lấy việc cúng tế.

Mùa thu năm ấy, Tuân Hội tạ thế, Tấn Điệu-công thấy Ngụy Giáng là người biết giữ phép, bèn nhấc lên chức tân quân phó tướng; cho Trương Lão thay Ngụy Giáng làm chức tư mã.

Mùa đông năm ấy, đạo quân thứ hai của Tấn lại sang đánh Trịnh, đóng đồn ở đất Ngưu Thủ (đất nước Trịnh) và đất Hổ Lao, vừa lúc ấy, người nước Trịnh là Uý Chỉ nổi loạn, giết công tử Phi, công tử Phát và công tử Triệt ở Tây cung. Con công tử Phi là công tôn Hạ (tên tự là Tử Tây) và con công tử Phát là công tôn Kiều (tên tự là Tử Sản) đều đem bọn vũ sĩ trong nhà đi đánh Uý Chỉ. Uý Chỉ chạy về Bắc cung. Công tôn Mại cũng đem quân đuổi đánh, giết chết được Uý Chỉ, rồi lập công tử Gia làm thượng khanh. Loan Áp nói với Tuân Dinh rằng:

– Ta nên nhân lúc nước Trịnh có loạn mà tiến đánh ngay thì tất có thể phá được.

Tuân Dinh nói:

– Nhân lúc người ta có loạn mà đánh là bất nghĩa.

Tuân Dinh truyền hoãn binh không đánh vội. Quan thượng khanh nước Trịnh là công tử Gia xin giảng hoà. Tuân Dinh thuận cho. Đến lúc công tử Trịnh nước Sở đem quân cứu Trịnh thì quân Tấn đã rút về rồi. Nước Trịnh lại cùng với nước Sở giảng hoà. Năm sau, Tấn Điệu-công lại cho đạo quân thứ ba sang đánh Trịnh. Toán quân của Hướng Thú nước Tống kéo đến cửa đông. Quan thượng khanh nước Vệ là Tôn Lâm Phủ cũng đem quân đóng ở phía bắc. Quan hạ quan nguyên soái nước Tấn là Triệu Vũ đem quân đóng ở phía tây. Tuân Dinh đem đại binh tự đất Bắc Lâm kéo qua phía tây, tiến đến cửa nam, rồi sai người ước với các toán quân cùng vây nước Trịnh. Trịnh Giản-công sợ lắm, lại xin giảng hoà. Tuân Dinh thuận cho, rồi lui quân về địa giới nước Tống. Trịnh Giản-công thân hành đến khoao thưởng quân sĩ, cùng với Tuân Dinh hội thề. Sở Cung-vương giận lắm, sai công tử Trịnh sang mượn quân Tần để về đánh Trịnh.

Bấy giờ vì Sở Cung-vương phu nhân là em gái Tần Cảnh-công (con Tần Hoàn-công) nên hai nước có tình thân gia với nhau, Tần Cảnh-công bèn sai đại tướng là Doanh Thiêm đem quân sang giúp nước Sở. Sở Cung-vương đem đại binh thẳng đường tiến sang Huỳnh Dương và nói quả quyết rằng:

– Lần này không diệt được nước Trịnh thì không chịu rút quân về.

Trịnh Giản-công từ khi giảng hoà với Tấn, biết chắc rằng thế nào Sở cũng lại đem binh sang đánh, mới họp triều thần lại để thương nghi.

Các quan đại phu đều nói:

– Hiện nay thế lực nước Tấn cường thịnh, nước Sở không bằng, nhưng quân Tấn đi thì mua mà đến thì chậm, cho nên hai nước chưa gặp được nhau để quyết một trận trống mái, thành ra cứ tranh nhau mãi; nếu quân Tấn chịu giúp ta thực sự mà đánh Sở thì quân Sở tự biết sức kém mà phải tránh xa, bấy giờ ta có thể một lòng theo Tấn được.

Công tôn Xá Chi hiến kế rằng:

– Ta muốn cho Tấn thực sự giúp ta thì phải làm cho Tấn tức giận, mà muốn làm cho Tấn tức giận thì không gì bằng đánh Tống. Nay Tống đang giao hiếu với Tấn, vậy ta buổi sớm đánh Tống thì buổi chiều quân Tấn tất sang đánh ta. Quân Tấn đến mau được, quân Sở không đến mau được, bấy giờ ta sẽ có cớ mà nói với quân Sở.

Các quan đại phu đều khen phải. Trong khi đang họi nghị thì có người báo tin nước Sở sang mượn quân nước Tần. Công tôn Xá Chi mừng mà nói rằng:

– Đó là lòng trời khiến cho ta theo Tấn!

Các quan đại phu đều không hiểu ý. Công tôn Xá Chi nói:

– Sở và Tấn cùng sang đánh thì nước Trịnh ta chịu thế nào nổi, chi bằng ta sai người ra nghênh tiếp vua Sở, rồi xui sang đánh Tống. Một là tránh khỏi cái hại quân Sở, hai là làm cho quân Tấn tức giận mà đến mau, có phải là được cả đôi đường không.

Trịnh Giản-công theo kế ấy, liền sai công tôn Xá Chi đi nghênh tiếp quân Sở. công tôn Xá Chi qua sông Dĩnh, đi chưa được một xá thì gặp quân Sở. Xá Chi sụp lạy trước xe Cung vương. Cung vương cau mày quắc mắt mà hỏi rằng:

– Nước Trịnh ngươi phản phúc không thường, ta định đem quân đến hỏi tội, nay nhà ngươi tới đây là có ý gì?

Công tôn Xá Chi nói:

– Chúa công tôi vẫn mến cái đức của đại vương, vẫn sợ cái uy của đại vương muốn suốt đời nương tựa ở dưới bóng đại vương, không bao giờ dám hai lòng; ngặt vì nước Tấn bạo ngược, cùng với nước Tống xâm nhiễu nước tôi. Chúa công tôi sợ nước nhà tàn phá bất đắc dĩ phải giảng hoà để quân Tấn lui về, khi quân Tấn đã lui rồi thì nước tôi lại là một nước phụ thuộc của đại vương. Chúa công tôi sợ đại vương không thấu cái nông nổi ấy, vậy phải sai tôi đến đây để giải bày tâm sự nếu đại vương sang hỏi tội nước Tống thì chúa công tôi xin đi làm tiên phong.

Sở Cung-vương đổi giận làm lành mà bảo rằng:

– Nếu vua Trịnh muốn theo ta đánh Tống thì còn nói gì nữa!

Công tôn Xá Chi nói:

– Khi tôi tới đây thì chúa công đã sửa soạn quân sĩ để chực đón đại vương ở phía đông bờ cõi rồi!

Sở Cung-vương nói:

– Đã đành rằng thế, nhưng quân Tần hẹn ta hội ở đất Huỳnh Dương, ta phải đợi quân Tần mới được.

Công tôn Xá Chi nói:

– Nước Tần xa cách, tất phải qua Tấn và Chu mới sang đến nước tôi, đại vương sai sứ đi ngăn lại, cũng có thể kịp; cứ như uy linh đại vương và thế lực quân Sở thì cần gì phải mượn đến quân Tần!

Sở Cung-vương bằng lòng, liền sai sứ đi từ tạ quân Tần, rồi cùng với công tôn Xá Chi đi về phía đông. Đi đến đất Hữu Sầm thì thấy Trịnh Giản-công đã đem quân ra nghênh tiếp, liền cùng nhau sang đánh Tống, cướp phá một phen, rồi rút quân về. Tống Bình công sai Hướng Thú sang cáo cấp với nước Tấn, và kể chuyện nước Trịnh hợp quân với nước Sở. Quả nhiên Tấn Điệu-công nổi giận, lại truyền cho đạo quân thứ nhất tiến sang đánh Trịnh. Tuân Dinh bàn rằng:

– Nước Sở phỉ sang mượn quân nước Tần là vì nước Sở trong mấy năm nay chỉ những đi lại mà không thể chịu được sự lao khổ; lần này sang đánh, ta nên tỏ cho nước Trịnh biết sự cường thịnh của ta thì tự khắc nước Trịnh không dám theo Sở nữa!

Điệu-công khen phải, liền hội họp các nước: Tống, Lỗ, Vệ, Tề, Tào, Cử, Châu, Đằng, Tiết, Kỷ và Tiểu Châu cùng đem quân sang đánh Trịnh, diễu quân ở phía đông nước Trịnh, bắt được quân dân nước Trịnh rất nhiều. Trịnh Giản-công bảo công tôn Xá Chi rằng:

– Nhà ngươi muốn làm cho nước Tấn tức giận, đem quân đến ngay, nay quả nhiên quân Tống đến thật, nhà ngươi tính thế nào?

Công tôn Xá Chi nói:

– Tôi xin một mặt sai người giảng hoà với Tấn, một mặt sai người cầu cứu với Sở. Quân Sở đến thì tất phải giao chiến với Tấn, bấy giờ ta chọn nước nào thắng thì theo; nếu quân Sở không đến thì ta giảng hoà với Tấn rồi đem vàng ngọc làm lễ đút cho Tấn, để Tấn giúp ta thực sự thì còn lo gì nước Sở nữa!

Trịnh Giản-công khen phải, liền sai quan đại phu là Bá Biền sang giảng hoà với quân Tấn, và sai công tôn Lương Tiêu cùng quan thái tể là Thạch Sước sang nói với Sở Cung-vương rằng:

– Hiện nay nước Tấn lại đem quân mười một nước chư hầu đến đánh nước tôi, chúng tôi khó lòng mà giữ nổi. Nếu đại vương lấy binh lực mà thị uy với nước Tấn thì đó là sở nguyện của chúng tôi. Nếu không thì xã tắc chúng tôi lâm nguy, chúng tôi không còn có cách gì hơn là xin hoà với Tấn, xin đại vương mở lòng thương mà tha thứ cho chúng tôi.

Sở Cung-vương nổi giận, gọi công tử Trinh đến để hỏi kế.

Công tử Trinh nói:

– Quân ta mới rút về, chưa được nghỉ ngoi, đã đi thế nào được? Chi bằng ta hãy nhương nước Trịnh cho Tấn, lo gì không có ngày lấy lại.

Sở Cung-vương vẫn chưa nguôi cơn giận, truyền giam công tôn Lương Tiêu và Thạch Sước lại, không cho về nước. Tấn Điệu-công đóng quân ở đất Tiêu Ngư, sứ nước Trịnh là Bá Biền xin vào yết kiến. Tấn Điệu-công cho vào, rồi lên tiếng nạt nộ mà hỏi rằng:

– Nước ngươi chỉ mượn việc giảng hoà mà nói dối ta đã nhiều lần rồi! lần này lại còn muốn dùng kế hoãn binh hay sao!

Bá Biền sụp lạy mà nói rằng:

– Chúa công tôi hiện đã sai sứ sang tuyệt giao với quân Sở có đâu dám hai lòng!

Tấn Điệu-công nói:

– Ta đem lòng thành tín mà đãi ngươi, nếu nước còn phản phúc nữa thì chẳng những một mình ta tức giận mà các nước chư hầu cùng tức giận cả. Thôi thì nhà ngươi hãy về mà bàn lại với vua Trịnh xem đã.

Bá Biền lại nói:

– Chúa công tôi thành kính mà sai tôi tới đây, thật là muốn một lòng thần phục nhà vua, xin nhà vua chớ nghi ngại.

Tấn Điệu-công nói:

– Nếu vậy thì vua Trịnh phải cùng ta hội thề!

Liền sai quan tân quân nguyên soái là Triệu Vũ cùng với Bá Biền vào thành để hội thề với Trịnh Giản-công. Trịnh Giản-công xin thân hành đến dinh Tấn để cùng với các nước chư hầu hội thề. Tấn Điệu-công nói:

– Nếu vua Trịnh có lòng thành tín thì tự khắc quỉ thần chứng giám, hà tất phải thề một lần nữa!

Tấn Điệu-công truyền tha hết quân dân nước Trịnh bị bắt, và nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm một chút gì của Trịnh, lại truyền cho toán quân ở Hổ Lao rút về hết, để cho quân Trịnh giữ lấy cửa ải. Chư hầu đều can rằng:

– Chưa có thể tin được nước Trịnh, nếu họ lại đem lòng phản phúc thì ta lại cho quân sang đóng ở Hổ Lao, chẳng cũng thêm khó một lần nữa sao?

Tấn Điệu-công nói:

– Lâu nay binh hoả liên miên, tướng sĩ các nước khó nhọc ở nơi chiến trường. Bây giờ ta muốn đem lòng thành tín mà đãi nước Trịnh, ta đã không phụ nước Trịnh thì lẽ nào nước Trịnh lại nỡ phụ ta!

Nói xong, liền bảo Trịnh Giản-công rằng:

– Ta biết nước Trịnh cũng khổ sở về cuộc binh đao, nay ta muốn cùng nước Trịnh yên nghỉ; từ nay trở đi, theo Tấn hay theo Sở là tuỳ ý nước Trịnh, ta cũng không cưỡng.

Trịnh Giản-công cảm động, ứa nước mắt mà nói rằng:

– Nhà vua thành tín như vậy, đến giống cầm thú cũng phải cảm kích, huống chi tôi cũng còn là loài người, lẽ nào dám phụ bạc quên ơn. Tôi còn ăn ở hai lòng thì xin quỉ thần tru diệt!

Trịnh Giản-công cáo từ lui ra. Ngày hôm sau, Trịnh Giản-công sai công tôn Xá Chi đem ba người nhạc sư, mười sáu người nữ nhạc, ba mươi sáu cái chuông và cái khánh, ba mươi người nữ công, cùng các thứ binh xa, đến dâng Tấn Điệu-công. Tấn Điệu-công nhận, rồi đem tám người nữ nhạc, mười hai cái chuông thửơng cho Ngụy Giáng mà bảo rằng:

– Nhà ngươi khuyên ta giảng hoà với các nước Sơn Nhung, để chỉnh đốn trung nguyên, nay chư hầu hoà mục với ta, như âm nhạc hoà hài, vậy ta xin cùng nhà ngươi hưởng nhạc.

Tấn Điệu-công lại đem một phần binh xa thưởng cho Tuân Dinh và bảo rằng:

– Nhà ngươi khuyên ta chia quân để làm cho Sở phải khốn quẫn; nay nước Trịnh chịu thần phục ta, cũng là công của nhà ngươi.

Ngụy Giáng và Tuân Dinh đều từ chối mà nói rằng:

– Đó là nhờ uy linh của chú công, và công lao của chư hầu, chúng tôi có tài lực gì!

Tấn Điệu-công nói:

– Nếu không có hai ngươi thì sao ta được như thế này, hai ngươi chớ từ chối.

Ngụy Giáng và Tuân Dih cùng lạy tạ, chư hầu đều rút quân về nước. Tấn Điệu-công lại sai người sang sứ các nước để tạ lại công khó nhọc đem quân đi giúp. Các nước đều bằng lòng. Từ bấy giờ nước Trịnh một lòng theo Tấn. Lúc bấy giờ Tần Cảnh-công đánh Tấn để cứu Trịnh, thắng một trận ở đất Lịch, sau nghe tin nước Trịnh đã đầu hàng nước Tấn, liền rút quân về.

Năm sau, vua nước Ngô là Thọ Mộng ốm nặng, gọi bốn con trai là: Chư Phàn, Dư Sai, Di Muội và Quý Trát đến bên cạnh giường nằm mà bảo rằng:

– Trong bốn anh em mày, chỉ có Quý Trát được lên làm vua mà giữ lấy cơ nghiệp, ai trái mệnh ta, là bất hiếu đó.

Vua nước Ngô nói xong thì chết. Chư Phàn nhường ngôi cho Trát và nói:

– Đó là ta theo ý muốn của thân phụ chúng ta đó!

Quý Trát nói:

– Khi phụ thân hãy còn, em đã cố từ ngôi thế tử, huống chi nay phụ thân đã mất rồi, em lại nhận lấy ngôi vua hay sao! nếu anh cố nhường thì em xin trốn sang nước khác.

Chư Phàn bất đắc dĩ phải lên nối ngôi. Tấn Điệu-công sai sứ sang nước Ngô để viếng tang vua cũ và chúc mừng vua mới. Qua năm sau tướng nước Tấn là Tuân Dinh, Lỗ Phường, và Ngụy Tướng đều ốm chết cả. Tấn Điệu-công lại luyện quân ở Miêu Sơn, muốn cho Sĩ Mang làm trung quân nguyên soái. Sĩ Mang từ chối mà nói rằng:

– Bá Du (tên tự của Tuân Yển) còn nhiều tuổi hơn tôi, tôi xin nhường Bá Du.

Tấn Điệu-công liền cho Tuân Yển được thay Tuân Dinh làm trung quân nguyên soái, Sĩ Mang làm trung quân phó tướng; lại muốn cất nhắc Hàn Khởi lên chức thượng quán nguyên soái. Hàn Khởi nói:

– Triệu Vũ giỏi hơn tôi, tôi xin nhường Triệu Vũ.

Tấn Điệu-công liền cho Triệu Vũ thay Tuân Yển làm thượng quân nguyên soái; Hàn Khởi làm thượng quân phó tướng. Loan Áp vẫn làm hạ quân nguyên soái như cũ, Ngụy Giáng làm hạ quân phó tướng. Còn đạo tân quân chưa có ai làm nguyên soái. Tấn Điệu-công nói:

– Chẳng thà để ngôi không mà đợi người giỏi, còn hơn dùng những người không xứng chức!

Bèn truyền cho quân lại đem quan, lính, xe cộ của đạo tàn quân mà nhập vào đạo hạ quân. Các quan đại phu đều nói:

– Chúa công ta dùng người, thật là thận trọng!

Từ bấy giờ ai cũng cố giữ chức phận, không dám trễ biếng. Nước Tấn lại cường thịnh, nối được bá nghiệp của Tấn Văn-công và Tấn Tương công thuở xưa. Sau Tấn Điệu-công lại bỏ bớt đạo tàn quân, chỉ còn ba đạo (thượng quân, trung quân và hạ quân) để giữ đúng lễ chư hầu.

Năm ấy Sở Cung-vương (Thẩm) chết, thế tử Chiêu lên nối ngôi, tức là Sở Khanh-vương. Vua nước Ngô là Chư Phàn sai quan đại tướng là công tử Đảng đem quân đi đánh Sở. Tướng nước Sở là Dưỡng Do Cơ đem quân ra nghênh chiến, bắn chết công tử Đảng. Quân nước Ngô bị thua rút về. Chư Phàn sai sứ sag cáo cấp với Tấn Điệu-công. Tấn Điệu-công hội chư hầu ở Hướng Địa để thương nghị. Quan đại phu nước Tấn là Dương Thiệt Bật (con thứ Dương Thiệt Chức) nói với Tấn Điệu-công rằng:

– Nước Ngô nhân khi nước Sở có tang đem quân sang đánh thì thua là phải, can gì mà giúp; còn Tần là một nước láng giềng với ta, và cùng ta có tình thân gia, khi trước lại theo Sở cứu Trịnh, đánh bại quân ta ở Lịch Địa, việc ấy nên báo thù. Nếu ta đánh được quân Tần thì thế lực nước Sở phải suy kém đi.

Tấn Điệu-công khen phải, liền sai Tuân Yển đem quân cùng với chư hầu đi đánh Tần, còn mình thì đóng quân ở ngoài cõi để đợi tin tức. Tần Cảnh-công nghe nói quân Tấn sắp đến thì sai người đem mấy bì thuốc độc bỏ chìm ở thượng lưu sông Kinh Thủy. Quan đại phu nước Lỗ là Thúc Tôn Báo cùng với quân nước Cử sang đò trước, nhiều người uống phải nước sông, đều trúng độc mà chết. Các toán quân khác không ai dám sang đò nữa. Quan đại phu nước Trịnh là công tôn Kiền đem quân tiến sang, Bắc Cung Quát theo sau, từ bấy giờ các toán quân đều kéo nhau sang cả, đóng đồn ở Vực Lâm. Quan trung quân nguyên soái nước Tấn là Tuân Yển truyền lệnh cho các quân rằng: “Gà gáy thì xuất quân, cứ theo đầu ngựa ta quay về phía nào thì đi phía ấy”. Quan hạ quân nguyên sóai là Loan Áp vốn không phục Tuân Yển, nghe thấy truyền lệnh như vậy, nổi giận mà rằng:

– Việc quân phải có nhiều người tham gia ý kiến mà dầu nếu Tuân Yển có độc đoán thì cũng phải nói rõ cho người ta biết cách tiến thoái như thế nào, có lẽ nào tất cả mọi người ta biết cách tiến thoái như thế nào, có lẽ nào tất cả mọi người trong ba đạo quân mà chỉ nom về đầu ngựa của một người! đây ta cũng là hạ quân nguyên soái, đầu ngựa ta chỉ muốn quay về phái đông.

Loan Áp liền đem quân bộ thuộc rút về phía đong. Quan hạ quân phó tướng là Ngụy Giáng nói:

– Chức phận ta là phải theo quan nguyên soái của ta, không theo lệnh Tuân Yền được!

Nguỵ Gíang cũng theo Loan Áp mà rút quân về, Tuân Yển nói:

– Ta truyền lệnh không rõ, đó là lỗi của ta, nay các tướng đã không theo lệnh thì còn Thành-công làm sao được!

Nói đọan truyền cho các nước đều rút quân về cả. Nước Tấn cũng rút quân về. Bấy giờ Loan Hàm làm chức nhung hữu ở đạo hạ quân, nhất định không chịu, bảo người con Phạm Mang (tức là Sĩ Mang) là Phạm Ưởng rằng:

– Ngày nay ta chỉ cốt sang báo thù nước Tần, nếu không Thành-công thì thật là xấu hổ. Hai anh em ta (Loan Hàm là em Loan Áp) lẽ nào lại cùng rút quân về, nhà ngươi có dám cùng ta sang đánh quân Tần hay không?

Phạm Ưởng nói:

– Nhà ngươi còn biết nghĩ đến điều quốc sĩ, sao ta lại không theo.

Phạm Ưởng cùng với Loan Hàm đem quân sang đánh quân Tần. Tần Cảnh-công đang sai người đi do thám xem tình hình quân Tấn thế nào, bỗng thấy có một toán quân tiến đến, Tần Cảnh-công sai công tử Vô Địa đem quân ra nghênh chiến. Loan Hàm và Phạm Ưởng hai người cùng cố sức tiến đánh, giết được quân Tần nhiều lắm. Quân Tần sợ hãi, đã toan bỏ chạy, nhưng trông thấy toán quân của Loan Áp và Phạm Ưởng không có quân tiếp ứng, liền nổi hiệu trống rồi đem quân vây kín xung quanh. Phạm Ưởng bảo Loan Hàm rằng:

– Quân Tân thế mạnh lắm, ta không thể đương nổi!

Loan Hàm không nghe, lại gặp có đại binh của tướng nước Tần là Doanh Thiềm kéo đến, Loan Hàm lại cố sức xung đột, một tay giết chết được mấy người nữa, rồi bị luôn bảy mũi tên mà chết. Phạm Ưởng cố sức phá vòng vây chạy thóat. Loan Áp trông thấy Phạm Ưởng về một mình, liền hỏi:

– Em ta đâu?

Phạm Ưởng nói:

– Đã mắc nạn ở trong đám quân Tần rồi.

Loan Áp nổi giận, cầm giáo đâm Phạm Ưởng, Phạm Ưởng không dám chống lại, ù té bỏ chạy, Loan Áp đuổi theo. Thân phụ Phạm Ưởng là Phạm Mang ngăn Loan Áp lại mà bảo rằng:

– Sao hiền tế lại quá giận như vậy!

Loan Áp vẫn còn hầm hầm nổi giận, quát to lên mà đáp rằng:

– Con ông rủ em tôi cùng sang đánh quân Tần, nay em tôi chết trận mà con ông sống về, thế có phải là con ông giết em tôi hay không? ông chịu đuổi nó đi, tôi còn có thể tha thứ được, nếu không thì tôi tất phải giết nó để đền mạng cho em tôi!

Phạm Mang nói:

– Việc đó ta không được biết, âu là để ta đuổi nó đi!

Phạm Ưởng nghe nói, liền bỏ trốn sang nước Tần, đem sự tình đầu đuôi thuật lại cho Tần Cảnh-công nghe. Tần Cảnh-công mừng lắm, đãi Phạm Ưởng theo lễ thượng khanh. Một hôm, Tần Cảnh-công hỏi Phạm Ưởng rằng:

– Vua Tấn là người thế nào?

Phạm Ưởng nói:

– Là một ông vua hiền biết nguời và có tài dùng người.

Tần Cảnh-công lại hỏi:

– Các quan đại phu nước Tân, ai giỏi hơn cả?

Phạm Ưởng nói:

– Triệu Vũ, Ngụy Giáng, Dương Thiệt Bật, Trương Lão, Kỳ Ngọ và cha tôi là Phạm Mang đều là những bậc tài gỉoi cả; còn các quan công khanh khác, cũng đều biết giữ phép, làm trọn chức phận của mình, tôi không dám khinh xuất mà ban hết được.

Tần Cảnh-công lại hỏi:

– Thế thì trong các quan đại phu nước Tấn, người nào có cơ suy vong trước?

Phạm Ưởng nói:

– Họ Loan có cơ suy vong truớc.

Tần Cảnh-công nói:

– Ý chừng vì cớ xa xỉ có phải không?

Phạm Ưởng nói:

– Loan Áp dẫu xa xỉ cũng chưa việc gì, đến đời con là Loan Doanh thì tất không tránh khỏi nạn được!

Tần Cảnh-công nói:

– Tại sao?

Phạm Ưởng nói:

– Loan Thư ngày xưa thương dân trọng sĩ, lòng người ai cũng yêu mến, bởi vậy dẫu có việc giết vua mà trong nước không ai nói đến, vì nhờ có ân đức cũ; nay Loan Áp chế đi, đến đời Loan Doanh thì ân đức của Loan Thư đã hết rồi, Loan Doanh lại là người không có nhân chính, tài nào giữ cho khỏi suy vong được!

Tần Cảnh-công khen rằng:

– Nhà ngươi thật là một người hiểu lễ lắm!

Tần Cảnh-công nhân có Phạm Ưởng, liền giao kết với Phạm Mang, rồi sai người sang giảng hoà với nước Tấn và xin cho Phạm Ưởng được phục chức. Tấn Điệu-công thuận cho. Phạm Ưởng về nước Tấn, Điệu-công cho cùng Loan Doanh đều làm quan công tộc đại phu, và bảo Loan Áp không được báo thù oán Phạm Ưởng nữa. Từ bấy giờ Tần và Tấn lại giảng hoà với nhau. Năm ấy Loan Áp chết, con là Loan Doanh thay làm hạ quân phó tướng.

Lại nói chuyện Vệ Hiến-công tên là Hãn, thay cha là Vệ Đinh-công, lên nối ngôi vua, trong khi có tang mà không tỏ vẻ thương xót chút nào. Bà đích mẫu Vệ Hiến-công thấy vậy, biết là Hiến công không thể làm vua được, vẫn thường đem lời khuyên bảo, mà Vệ Hiến-công không nghe. Đến lúc hết tang, Vệ Hiến-công lại càng phóng túng lắm, chỉ tin dùng đứa du nịnh, và ham mê chơi bời, chẳng thiết gì đến chính sự cả. Vệ Đinh-công ngày xưa có người em cùng mẹ là công tử Hắc Bối, vẫn cậy thế chuyên quyền; con công tử Hắc Bối là công tôn Phiếu lại nối tước của cha là quan đại phu, cũng là một người có quyền lược. Quan thượng khanh là Tôn Lâm Phủ, quan á khanh là Ninh Thực thấy Vệ Hiến-công vô đạo, bèn cùng với công tôn Phiếu kết giao. Tôn Lâm Phủ lại mật kết với nước Tấn để làm ngoại viện, và đem những đồ bảo ngọc thiên vào Thích Địa, (ấp ăn lộc của Tôn Lâm Phủ), cho vợ con về ở đấy. Vệ Hiến-công nghi Tôn Lâm Phủ có ý làm phản, mà chưa dám nói ra. Một hôm, Vệ Hiến-công hẹn Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực cùng đến ăn cơm trưa, Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực mặc triều phục đứng đợi ở ngoài cửa cung từ sáng đến trưa mà không thấy lệnh truyền cho vào; ở trong cung cũng không thấy có một người nào đi ra cả.

Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực sinh nghi. Trời đã xế chiều, hai người vừa đói vừa nhọc, mới cùng nhau gõ cửa xin vào yết kiến. Nội thị nói:

– Chúa công đang tập bắn ở sau vườn. Hai ngài muốn yết kiến thì mời hai ngài vào đấy.

Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực nổi giận, nhưng cũng cố nhịn đói mà vào thẳng sao vườn, trông thấy Vệ Hiến-công đang đội cái mũ da (thứ mũ dùng để đi săn) cùng với xạ sư là công tôn Đinh thi bắn. Vệ Hiến-công trông thấy Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực đến trước mặt, không bỏ mũ da xuống, lại đeo cung vào nách mà hỏi rằng:

– Hai ngươi hôm nay đến đây có việc gì?

Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực đồng thanh đáp:

– Chúng tôi thấy chúa công hẹn cho ăn cơm trưa, chầu chực đến giờ, bụng đã đói lắm, không dám trái lệnh, vậy phải vào đây.

Vệ Hiến-công nói:

– Ta ham bắn quá, thành ra quên mất, thôi thì hai ngươi hãy lui về, để đến hôm khác!

Vệ Hiến-công nói xong thì vừa có đàn chim bay qua, vừa bay vừa kêu, Vệ Hiến-công bảo công tôn Đinh rằng:

– Ta cùng nhà ngươi bắn thi đàn chim này!

Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực hổ thẹn lui ra. Tôn Lâm Phủ nói riêng với Ninh Thực rằng:

– Chúa công không biết kính trọng các quan đại thần, chúng ta sau này khó lòng mà khỏi bị hại, biết làm thế nào?

Ninh Thực nói:

– Chúa công vô đạo thì chỉ hại thân mà thôi, chứ hại chúng ta thế nào nổi?

Tôn Lâm Phủ nói:

– Ta muốn lập công tôn Phiếu lên làm vua, nhà ngươi nghĩ thế nào?

Ninh Thực nói:

– Việc ấy rất phải! Ta cùng nhà ngươi sẽ liệu thế mà làm.

Hai người từ biệt nhau rồi về. Tôn Lâm Phủ về nhà ăn cơm xong, ngay đêm hôm ấy sai người sang Thích Địa gọi bọn gia thần là Dữu Công Sai và Doãn Công Đà sửa soạn quân mã để định nổi loạn; lại sai con trưởng là Tôn Khoái vào yết kiến Vệ Hiến-công, để dò xét ý tứ. Tôn Khoái vào tâu với Vệ Hiến-công rằng:

– Cha tôi là Tôn Lâm Phủ bị cảm phong, phải về dưỡng bệnh ở bến sông Hà, xin chúa công tha thứ cho.

Vệ Hiến-công cười mà bảo rằng:

– Cha ngươi chỉ vì đói quá mà thành bệnh đó thôi, nay ta không dám để cho nhà ngươi lại đóai nữa!

Nói xong truyền nội thị đem rượu ra cho Tôn Khoái uống, lại gọi nhạc công ra để hát. Quan thái sư tâu với Vệ Hiến-công rằng:

– Chẳng hay chúa công dạy hát bài gì?

Vệ Hiến-công nói:

– Có chương cuối cùng trong thơ “Xảo ngôn”, thật hợp với thời sự ngày nay, nhà ngươi hát bài ấy.

Quan thái sư tâu rằng:

– Bài thơ ấy ý không được hay, tôi thiết tưởng trong khi tiệc vui, không nên hát đến.

Có một nhạc công là Sư Tào nói át đi rằng:

– Chúa công dạy hát bài gì thì cứ hát bài ấy, can gì lại nói lôi thôi!

Nguyên Sư Tào gẩy đàn cầm hay lắm, Vệ Hiến-công sai dạy một người thiếp yêu. Người thiếp yêu không nghe lời dạy bị Sư Tào đánh cho mười roi. Người ấy bèn vào mách với Vệ Hiến-công. Vệ Hiến-công đánh Sư Tào ba trăm roi ở trước mặt người thiếp yêu, bởi vậy Sư Tào căm tức, bấy giờ biết bài thơ ấy không hay, mà cố ý muốn hát, để làm cho Tôn Khoái phải tức giận. Sư Tào liền cất giọng hát rằng:

“Kẻ kia là ai,
Ở bến sông Hà;
Không tài lực gì,
Mà muốn nổi loạn”.

Chủ ý Vệ Hiến-công là nhân thấy Tôn Lâm Phủ ở bến sông Hà có ý muốn nổi loạn, vậy nên định mượn câu hát, khiến cho Tôn Lâm Phủ phải sợ. Tôn Khoái nghe câu hát, trong lòng áy náy, xin cáo từ lui ra. Vệ Hiến-công nói:

– Bài hát của Sư Tào, vừa rồi ngươi về nên thuật lại cho cha ngươi biết; cha ngươi dẫu ở xa, nhưng có điều gì, đây ta cũng biết cả, nên phải cẩn thận mà giữ gìn bệnh thể.

Tôn Khoái sụp lạy lui ra, về nói chuyện lại với Tôn Lâm Phủ. Tôn Lâm Phủ nói:

– Chúa công ghét ta đã quá lắm, chẳng lẽ ta cứ ngồi mà chịu chết hay sao! nay có Cừ Viên (tên tự là Bá Ngọc, làm quân đại phu nước Vệ) là người gỉoi, nếu người ấy chịu đồng mưu với ta thì làm gì mà chẳng xong việc!

Tôn Lâm Phủ lẻn đến yét kiến Cừ Viên mà bảo rằng:

– Chúa công vô đạo, nhà ngươi cũng đã biết, ta chỉ e rằng có ngày mất nước thì làm thế nào?

Cừ Viên nói:

– Bề tôi thờ vua, điều gì can được thì can, điều gì không can đuợc thì đành bỏ mà đi, còn điều khác tôi không dám biết!

Tôn Lâm Phủ liệu chừng không thể lay động Cừ Viên được, mới cáo từ trở về. Ngay ngày hôm ấy, Cừ Viên bỏ trốn sang nước Lỗ. Tôn Lâm Phủ họp quân ở Khâu Cung, sắp sửa đánh Vệ Hiến-công. Vệ Hiến-công sợ, sai người đến Khâu Cung giảng hoà với Tôn Lâm Phủ. Tôn Lâm Phủ bắt người ấy giết đi, Vệ Hiến-công sai người rình xem Ninh Thực làm gì thì thấy Ninh Thực đang sắp quân để tiếp ứng cho Tôn Lâm Phủ. Vệ Hiến-công lại sai người gọi Bắc Cung Quát. Bắc Cung Quát cáo ốm không đến. Công tôn Đinh nói với Vệ Hiến-công rằng:

– Bây giờ việc đã nguy cấp, nên mau mau trốn sang nước khác, còn có ngày lại trở về được.

Vệ Hiến-công liền đem một toán quân mở cửa đông, định thẳng đương trốn sang nước Tề. Công tôn Đinh mang cung tên đi theo. Tôn Khoái và Tôn Gia (con thứ của Tôn Lâm Phủ) đuổi theo đến Hà Trạch, đánh giết một trận, toán quan của Vệ Hiến-công bỏ chạy tán loạn cả, chỉ còn độ hơn mười người mà thôi; may nhờ có công tôn Đinh bắn gỉoi lắm, không sai một phát nào, người nào đến gần, đều bị tên mà chết, bởi vậy mới bảo toàn cho Vệ Hiến-công chạy thóat được.

Tôn Khoái và Tôn Gia không dám đuổi theo nữa, quay trở về, vừa đi được ba dặm thì thấy Dữu Công Sai và Doãn Công Đà đem quân đến, nói là vâng lệnh Tôn Lâm Phủ đi đuổi bắt Vệ Hiến-công. Tôn Khoái và Tôn Gia nói:

– Có một người bắn gỉoi lắm, các tướng phải phòng bị mới được!

Dữu Công Sai nói:

– Người ấy chắc là thầy ta, tên gọi công tôn Đinh đó!

(Nguyên Doãn Công Đà học nghề bắn với Dữu Công Sai, Dữu Công Sai lại họ nghề bắn với công tôn Đinh, ba người cùng một môn phái, cho nên đều biết tài nhau cả ).

Doãn Công Đà nói:

– Hôn quân đi cũng chưa xa, ta hãy cố đuổi theo.

Bèn đuổi theo mười lăm dặm nữa thì vừa kịp Vệ Hiến-công. Người dong xe của Vệ Hiến-công bị thương, công tôn Đinh phải cầm cương xe cho Vệ Hiến-công, Công tôn Đinh ngoảnh lại, trông thấy Dữu Công Sai ở đằng xa, mới bảo Vệ Hiến-công rằng:

– Người đuổi theo ấy là học trò của tôi đó. Có lẽ nào học trò lại hại thầy, chúa công chớ ngại!

Công tôn Đinh dừng xe lại để đợi. Dữu Công Sai đi đến nơi, ngảnh lại bảo Doãn Công Đà rằng:

– Thật là thầy ta rồi!

Nói xong, liền xuống xe sụp lạy. Công tôn Đinh chào lại, rồi vẫy tay bảo đi. Dữu Công Sai trèo lên xe mà nói rằng:

– Công việc ngày nay, người nào cũng vì chủ mà làm. Nếu ta bắn thì là bội thầy, mà không bắn thì bội chủ; nay ta có một cách khiến cho trọn vẹn được cả đôi đàng!

Dữu Công Sai liền cầm cái tên gõ xuống bánh xe, bẻ đầu mũi nhọn đi, rồi nói to lên rằng:

– Xin thấy chớ sợ!

Dữu Công Sai nói xong, bắn luôn bốn phát tên: phát trước trúng vào cái thức (cái chắn ngang ở trước mặt), phát sau trúng vào cái chẩn (cái chắn ngang ở sau lưng), còn hai phát nữa trúng vào hai bên tả hữu, chỉ trừ có Vệ Hiến-công và công tôn Đinh ngồi ở giữa xe là không can gì! Dữu Công Sai bắn xong, tức khắc quay xe trở về. Công tôn Đinh cũng giục ngựa tiến đi mau. Doãn Công Đà lúc trước trông thấy Vệ Hiến-công đã toan giương cung ra bắn, nhưng vì có Dữu Công Sai là thầy mình ở đấy vậy phải nhường thầy. Khi về đến nửa đường, có ý hối lại, mới bảo Dữu Công Sai rằng:

– Thầy cùng với công tôn Đinh là nghĩa thầy trò, vậy phải dụng tình như thế, còn tôi đã cách đi một từng rồi, thế thì ơn thầy chưa trọng bằng mệnh chủ, nếu không cố cho Thành-công thì chẳng hóa bội chủ lắm sao!

Dữu Công Sai nói:

– Thầy ta (trỏ công tôn Đinh) bắn giỏi lắm, không kém gì Dưỡng Do Cơ, nhà ngươi không địch nổi đâu, khéo chẳng có mất mạng!

Doãn Công Đà không tin lời Dữu Công Sai, lại quay đi đuổi theo Vệ Hiến-công.

----------------------------------------------

Hồi thứ 62.
Chư hầu đem quân vây Tề quốc
Vua Tấn lập kế đuổi Loan Doanh

Doãn công Đà không tin lời Dữu Công Sai, quay lại đuổi theo Vệ Hiến-công, được hơn hai mươi dặm thì kịp. Công tôn Đinh hỏi rằng:

– Nhà ngươi theo ta để làm gì?

Dõan công Đà nói:

– Thầy ta là Dữu công Sai, cùng với nhà ngươi có tình thầy trò; ta đây dẫu là học trò thầy ta, nhưng chưa hề có học nhà ngươi một ngày nào cả, vậy thì ta coi nhà ngươi khác nào người qua đường, lẽ nào ta lại vì người qua đường mà bỏ công nghĩa hay sao!

Công tôn Đinh nói:

– Nhà ngươi đã học nghề bắn của Dữu công Sai thì cũng nên biết cái nghề ấy tự đâu mà ra! làm người chớ nên quên gốc, mau mau trở về kẻo mất cả lòng tử tế đi!

Doãn công Đà không nghe lời, giương cung ra bắn Công tôn Đinh. Công tôn Đinh chẳng sợ hãi chút nào, sẽ đưa dây cương cho Vệ Hiến-công, rồi chờ mũi tên đến, giơ tay bắt lấy, lại để vào cung mà bắn trả lại Doãn công Đà. Doãn công Đà nghiêng mình tránh thì mũi tên trúng ngay vào cánh tay tả, vội vàng bỏ chạy. Công tôn Đinh lại bắn thêm một phát nữa. Doãn công Đà chết ngay. Quân sĩ sợ hãi, bỏ xe chạy trốn.

Vệ Hiến-công bảo công tôn Đinh rằng:

– Nếu không nhờ có mũi tên thần của nhà ngươi thi tính mệnh ta còn gì!

Công tôn Đinh lại cầm dây cương giục ngựa đi mau. Đi được hơn mười dặm, lại thấy phía sau có một toán quân kéo đến, Vệ Hiến-công nói:

– Lại có quân đuổi theo thì làm thế nào?

Khi toán quân ấy đi gần đến nơi thì hóa ra quân của người em cùng mẹ với Vệ Hiến-công là công tử Chuyên cố theo để hộ giá. Vệ Hiến-công mới yên lòng, liền cùng nhau chạy sang nước Tề. Tề Linh-công cho ở Lai Thành. Tôn Lâm Phủ đã đuổi Vệ Hiến-công rồi, mới bàn nhau với Ninh Thực, lập công tôn Phiếu lên nối ngôi, tức là Vệ Thương-công. Tôn Lâm Phủ lại sai người báo tin cho Tấn Điệu-công biết. Tấn Điệu-công hỏi Tuân Yển rằng:

– Nước Vệ đuổi vua họ lập vua kia là không phải đạo, ta nên xử trí như thế nào?

Tuân Yển nói:

– Vua Vệ vô đạo, chư hầu ai cũng biết, nay quân dân nước Vệ đều bằng lòng lập công tử Phiếu, âu là ta cứ để mặc thì hơn.

Tấn Điệu-công theo lời. Tề Linh-công nghe tin Tấn Điệu-công không trị tội đuổi vua của Ninh Thực nước Vệ, liền thở dài mà nói rằng:

– Vua Tấn đã có ý lười biếng rồi! ta không nhân dịp này mà tranh lấy nghiệp bá thì còn đợi đến bao giờ!

Tề Linh-công đem quân sang cướp phá ấp thành của nước Lỗ. Nguyên Tề Linh-công lấy con gái nước Lỗ là Nhân Cơ làm phu nhân, không có con; người thiếp là Dung Cơ, sinh được một con tên là Quang, Tề Linh-công lập làm thế tử. Sau Tề Linh-công lại có một người thiếp yêu là Nhưng Tử cũng không có con, em gái Nhung Tử là Trọng Tử, sinh được một người con tên là Nha. Nhung Tử nhận Nha làm con mình. Tề Linh-công lại có người vợ khác nữa sinh ra công tử Chử Cữu, nhưng Tề Linh-công không có lòng yêu. Nhung Tử cậy thế Tề Linh-công yêu, đòi lập Nha làm thế tử. Tề Linh-công thuận cho. Trọng Tử can rằng:

– Chúa công lập Quang làm thế tử, kể đã lâu ngày! thế tử Quang lại đã nhiều lần dự hội với chư hầu, nay tự nhiên vô cớ mà bỏ đi thì e rằng người trong nước không phục, sau không hối lại được nữa!

Tề Linh-công nói:

– Bỏ hay lập là quyền ở ta, ai dám không phục!

Tề Linh-công sai thế tử Quang đem quân ra trấn thủ ở Tức Mặc. Thế tử Quang vừa đi xong thì Tề Linh-công truyền lệnh bỏ thế tử Quang mà lập Nha làm thế tử; lại cho quan thượng khanh là Cao Hậu (con Cao Quốc) làm thái phó, và kẻ tự nhân (họan quan) là Túc Sa Vệ làm thiếu phó để dạy thế tử Nha. Lỗ Tương-công nghe tin thế tử Quang bị bỏ, thì sai sứ sang hỏi xem vì cớ gì. Tề Linh-công không thể trả lời được, lại lo nước Lỗ giúp thế tử Quang mà tranh nhau với thế tử Nha, liền đem quân đánh Lỗ, có ý muốn doạ nước Lỗ, rồi sau sẽ giết thế tử Quang. Lỗ Tương-công sai người sang cáo cấp với Tấn Điệu-công nhưng gặp lúc Tấn Điệu-công ốm nặng, không sang cứu Lỗ được. Cuối năm ấy Tấn Điệu-công mất, thế tử Bưu lên nối ngôi tức là Tấn Bình-công. Lỗ Tương-công lại sai sứ sang viếng tang và cáo cấp với Tấn Bình-công. Tuân Yển nói với Tấn Bình-công rằng:

– Đợi sang mùa xuân, ta sẽ đại hội chư hầu, nếu nước Tề không đến, bấy giờ sẽ đem quân đi đánh, cũng chưa lấy gì làm chậm.

Năm sau, Tấn Bình-công đại hội chư hầu ở đất Khứu Lương. Tề Linh-công không đến, cho quan đại phu là Cao Hậu đi thay. Tuân Yển nổi giận, toan bắt giam Cao Hậu. Cao Hậu trốn về, lại đem quân cướp phá ấp Phường của nước Lỗ, giết quan trấn thủ ở ấp Phường là Tang Niên. Thúc Tôn Báo nước Lỗ lại sang nước Tấn cầu cứu. Tấn Bình-công liền sai Tuân Yển họp quân các nước cùng sang đánh Tề. Tuân Yển vừa điểm duyệt quân mã xong, đêm hôm ấy nằm mộng thấy một sứ giả mình mặc áo vàng, tay cầm một cuốn văn thư, đến bắt Tuân Yển đi đối chứng. Tuân Yển đi theo sứ giả. Đi đến một nơi dinh toà to lớn, trên có đấng vương giả ngồi, mũ cao áo dài, sứ giả liền bảo Tuân Yển quỳ xuống ở dưới sân. Tuân Yển trông thấy những người cùng quì với mình là: Tấn Lệ-công, Loan Thư, Trình Hoạt, Tư Đồng, Trường Ngư Kiểu và một bọn người nhà của ba người họ Khước. Tuân Yển lấy làm quái lạ, lại nghe thấy bọn Tư Đồng cùng với ba người họ Khước cãi lý nhau lâu lắm, nhưng nghe không được rõ. Được một lúc thì thấy ngục tốt giải bọn ấy đi chỗ khác, chỉ còn có bốn người ở lại là: Tấn Lệ-công, Loan Thư, Trình Hoạt, và Tuân Yển mà thôi. Tấn Lệ-công kể hết sự tình đầu đuôi trong khi bị giết. Loan Thư cãi rằng: “Việc ấy tự Trình Hoạt hạ thủ!” Trình Hoạt nói: “Việc ấy chủ mưu tự Loan Thư, tôi chẳng qua phụng mệnh mà làm, sao lại đổ tội cho tôi được!” Đấng vương giả ở trên điện giáng chỉ rằng: “Lúc bấy giờ Loan Thư cầm quyền chính, nên trị tội thủ ác, làm cho trong năm năm nữa thì con cháu phải tuyệt diệt”. Tấn Lệ-công có vẻ tức giận mà rằng: “Việc ấy cũng bởi tay Tuân Yển, sao Tuân Yển lại được vô tội?” Nói đoạn đứng dậy, cầm giáo đánh vào đầu Tuân Yển. Tuân Yển thấy đầu mình rơi xuống trước mặt, vội vàng lấy tay nhặt đầu, quì xuống mà đặt lên cổ, rồi chạy ra ngoài cửa điện. Tuân Yển đang chạy thì gặp người thầy đồng ở đất Ngạch Dương tên gọi Linh Cao.

Linh Cao bảo Tuân Yển rằng: “Sao đầu nhà ngươi lại lệch đi như thế kia?” Nói đoạn Linh Cao bèn lấy tay sửa lại. Tuân Yển đau quá, sực tỉnh dậy, thành ra một giấc chiêm bao, nghĩ thầm lấy làm lạ. Ngày hôm sau, Tuân Yển vào triều, quả nhiên lại gặp Linh Cao ở giữa đường. Tuân Yển cho Linh Cao lên ngồi cùng xe, rồi kể chuyện chiêm bao cho nghe. Linh Cao nói:

– Thế là oan gia có báo, sắp chết đến nơi!

Tuân Yển nói:

– Nay ta sang đánh Tề, phỏng có kịp hay không?

Linh Cao nói:

– Còn có thể đánh được nước Tề!

Tuân Yển nói:

– Nếu đánh được Tề thì dẫu chết cũng thoả!

Tuân Yển liền hội quân chư hầu cùng sang đánh Tề. Cả thảy có mười hai đạo quân là: 1. Tấn, 2. Tống, 3. Lỗ, 4. Vệ, 5. Trịnh, 6. Tào, 7. Cử, 8. Châu, 9. Đằng, 10. Tiết, 11. Kỷ, 12. Tiểu Châu.

Tề Linh-công sai quan thượng khanh là Cao Hậu giúp thế tử Nha giữ nước, còn mình thì đem đại binh ra đóng ở thành Bình Âm. Phía nam thành Bình Âm có cái trạm phòng thủ, có cổng. Tề Linh-công sai Kỳ Qui Phủ đào một dãy hào sâu ở ngoài cổng, bề ngang bề rộng đều một dặm, rồi tuyển quân tinh nhuệ ra phòng giữ ở đấy. Tự nhân Túc Sa Vệ nói với Tề Linh-công rằng:

– Quân mười hai nước, vị tất đã đồng tâm được, ta nên nhân lúc mới đến mà ra đánh ngay, phá được một đạo thì các đạo đều sợ mất vía cả; nếu không đánh thì phải tìm nơi hiểm yếu mà giữ, chứ chắc gì ở một dãy hào phía ngoài cửa trạm. Tề Linh-công nói:

– Một dãy hào sâu như thế, có họa bay thì mới sang được!

Tuân Yển nghe nói quân Tề đào hào để giữ, thì cười mà nói rằng:

– Quân Tề sợ ta rồi, tất không dám giao chiến, ta nên dùng kế mà phá vỡ!

Bèn truyền cho quân Lỗ, Vệ đi đường Tu Câu; quân Châu, Củ đi đường Thành Dương, đều qua đất Lang Gia mà tiến vào, còn mình thì đem đại binh qua đất Bình Âm, hẹn nhau cùng hội tại dưới thành Lâm Tri (kinh thành nước Tề). Bốn nước (Lỗ, Vệ, Châu, Cử) đều phụng mệnh đem quân đi. Tuân Yển lại sai quan tư mã là Trương Quân Thần (con Trương Lão) đi cắm cờ ở các nơi rừng núi, bó cỏ làm hình người, rồi mặc áo giáp vào, đặt ngồi trên xe, và đem cành cây buộc ở sau xe, khiến cho khi xe đi thì cát bụi bay mù cả lên, để làm nghi binh. Tuân Yển truyền cho quân sĩ, xe nào cũng phải chất đầy gỗ đá, và mỗi người lại mang thêm một bì đất; khi đến cửa trạm, bao nhiêu gỗ đá trong xe đều đem ném cả xuống hào, lại bỏ mấy vạn cái bì đất xuống đấy nữa, để lấp bằng như mặt đất. Quân Tấn kéo ồ cả sang. Quân Tề không thể đương nổi, chết hại rất nhiều. Kỳ Qui Phủ xuýt nữa bị quân Tấn bắt, phải bỏ trốn vào trong thành Bình Âm, tâu với Tề Linh công. Tề Linh-công kinh sợ, mới trèo lên núi Vu Sơn đứng xem thì thấy ở trong rừng, chỗ nào cũng có cờ cắm, giật mình mà nói rằng:

– Quân chư hầu sao nhiều như vậy, âu là ta phải bỏ chạy.

Tề Linh-công mới hỏi các tướng xem ai dám đi đoạn cuối, Túc Sa Vệ nói:

– Tôi xin đem một toán quân đi sau cùng, chúa công chớ lo ngại!

Tề Linh-công mừng lắm. Bỗng có hai viên tướng tâu rằng:

– Đường đường một nước Tề ta, không có người dũng sĩ nào, lại phải dùng đến kẻ tự nhân (trỏ Túc Sa Vệ) đi đoạn cuối hay sao! các nước người ta sẽ cười cho! hai chúng tôi xin để cho Túc Sa Vệ đi trước.

Hai viên tướng ấy tức là Thực Xước và Quách Tối, vốn là hai tay dũng sĩ, sức địch muôn người. Tề Linh-công nói:

– Nếu được hai tướng quân đi sau cho thì ta còn lo gì nữa!

Túc Sa Vệ thấy Tề Linh-công không dùng mình thì hổ thẹn muôn phần, bất đắc dĩ phải theo Tề Linh-công đi trước. Đi được hơn hai mươi dặm, đến Thạch Môn sơn là một nơi hiểm yếu, hai bên đều núi đá cả, chỉ có một lối đi ở giữa, Túc Sa Vệ căm tức Thực Xước và Quách Tối, có ý muốn làm hại, mới đợi cho quân Tề đi hết, rồi đem hơn ba mươi cỗ ngựa, giết chết cả đi mà bỏ lấp ở ngang đường, lại đem mấy cỗ xe lớn, cũng bỏ ở đấy. Thực Xước và Quách Tối lững thững đem quân đi sau, khi đến Thạch Môn sơn, thấy ngựa chết và xe lổng chổng giữa đường, không đi qua được mới bảo nhau rằng:

– Đây tất là Túc Sa Vệ căm thù hai ta mà làm ra thế này đây!

Hai người vội vàng truyền cho quân sĩ khiêng những xác ngựa và xe ấy bỏ đi chỗ khác, nhưng đường hẹp khó khiêng, thành ra tốn nhiều công lắm, mãi không đi được. Tướng nước Tấn là Châu Xước đem quân đuổi tới. Thực Xước vừa toan quay xe lại để nghênh chiến thì Châu Xước bắn ngay một phát tên, trúng vả vai bên tả Thực Xước. Quách Tối giương cung toan bắn Châu Xước. Thực Xước lấy ta gạt đi không cho bắn. Châu Xước thấy vậy, cũng không bắn nữa. Thực Xước không sợ hãi gì cả, giơ tay rút mũi tên ra mà hỏi Châu Xước rằng:

– Nhà ngươi là ai mà bắn trúng được vai Thực Xước này, cũng đáng khen cho là người giỏi! xin nói rõ họ tên?

Châu Xước nói:

– Tướng quân nói dẫu phải, nhưng người nào vì chủ người ấy, thế tất phải như vậy. Nếu tướng quân chịu đầu hàng đi thì tôi có thể bảo toàn được cho tướng quân.

Thực Xước nói:

– Có quả thật như vậy không?

Châu Xước nói:

– Tướng quân không tin thì tôi xin thề: “Nếu tôi không bảo toàn được cho tướng quân, thì tôi xin chết theo tướng quân”.

Thực Xước nói:

– Tính mệnh Quách Tối, tôi cũng trao cho tướng quân đó!

Thực Xước cùng với Quách Tối và quân sĩ đều xin đầu hàng cả. Châu Xước đem Thực Xước và Quách Tối về nộp Tuân Yển, lại nói cho Tuân Yển biết hai tướng là người tài giỏi nên dùng. Tuân Yển truyền giam lại để đợi khi thu quân về sẽ định liệu. Đại binh nước Tấn qua thành Bình Âm, thẳng đường tiến vào kinh thành nước Tề. Quân Lỗ, Vệ, Châu, Cử cũng đều đến cả, vây kín bốn mặt thành Lâm Tri đốt phá nhiều nơi. Tề Linh-công sợ hãi, mở cửa đông ra chạy. Cao Hậu nghe nói, vội vàng chạy theo, rút gươm cắt dây cương xe đi rồi khóc mà can rằng:

– Quân các nước dẫu hăng hái, nhưng đi xa như vậy, tất sẽ sinh biến, chẳng bao lâu rồi cũng phải rút về. Nay chúa công bỏ đi thì kinh thành không thể giữ nổi, xin chúa công hãy ở lại mười ngày nữa, nếu lực cùng quá, bấy giờ sẽ chạy, cũng chưa lấy gì làm chậm.

Tề Linh-công mới ở lại, không bỏ chạy nữa. Cao Hậu đốc suất quân dân hết sức chống giữ. Quân các nước vây thành, đến ngày thứ sáu, bỗng có sứ nước Trịnh đem một phong thư của quan đại phu nước Trịnh là công tôn Xá Chi và công tôn Hạ đến phi báo với Trịnh Giản-công, nói có việc cơ mật khẩn yếu. Trịnh Giản-công mở ra xem, đại lược nói rằng:

“Tôi là công tôn Xá Chi và công tôn Hạ phụng mệnh chúa công, cùng với Tử Khổng (tức là công tử Gia) giữ nước, chẳng ngờ Tử Khổng có lòng phản nghịch, tư thông với Sở, toan làm nội ứng để cho quân Sở vào đánh Trịnh. Hiện nay quân Sở đã đóng ở đất Ngư Lăng, chẳng bao lâu sẽ kéo đến, việc nguy cấp lắm, vậy xin chúa công tức khắc rút quân về mà cứu lấy nước nhà”.

Trịnh Giản-công sợ lắm, đem ngay bức thư ấy vào trình Tấn Bình-công, Tấn Bình-công triệu Tuân Yển đến để thương nghi. Tuân Yển nói:

– Quân ta thẳng đường kéo vào Lâm Tri, đang muốn thừa cơ phá vỡ nước Tề, nay nước Tề chưa phá vỡ được, mà nước Trịnh lại có quân Sở đến đánh; nếu để cho Trịnh mất nước thì lỗi tại ta, chi bằng ta hãy rút quân về cứu Trịnh. Lần này ta dẫu không phá vỡ được nước Tề, nhưng vua Tề chắc cũng kinh sợ, từ sau không dám xâm phạm nước Lỗ nữa!

Tấn Bình-công khen phải, liền rút quân về. Trịnh Giản-công cáo từ Tấn Bình-công rồi xin về nước. Tấn Bình-công thấy quân Sở lại sang đánh Trịnh, thì lấy làm lo, khi về đến đất Chúc A, cùng với các vua chư hầu uống rượu, dáng không được vui vẻ. Quan thái sư coi việc âm nhạc, là Sư Khoáng tâu với Tấn Bình-công rằng:

– Tôi xin dùng âm luật mà bói xem tốt xấu thế nào.

Sư Khoáng liền thổ sáo, hát khúc nam phong, thấy có nhiều tiếng nghiêm ngặt, sát phạt; lại hát khúc bắc phong, thì thấy êm ái dễ nghe. Sư Khoáng nói:

– Khúc nam phong (nước Sở ở về phương nam) không mạnh thì quân Sở chẳng những vô công mà lại sắp có tai vạ, chỉ trong ba ngày nữa, ta sẽ biết tin.

Sư Khoáng, tên tự là Tử Giã, là một học giả thông minh bậc nhất ở nước Tấn, lúc bé học âm luật, thường bực mình về nỗi không được chuyên, mới phàn nàn rằng:

– Nghề không tinh là tại lòng không chuyên nhất, lòng không chuyên nhất là tại con mắt hay nhìn.

Liền lấy lá ngải đốt mù mắt đi, để chuyên tâm về nghệ thuật, bởi vậy tinh thông âm luật lắm, có thể biết khí hậu biến hóa, âm dương lên xuống, sự lành dữ trong việc trời việc người, trong tiếng chim tiếng gió. Bây giờ Sư Khoáng làm quan thái sư ở nuớc Tấn, coi về việc nhạc. Tấn Bình-công tin yêu lắm, hành quân ở đâu cũng đem đi theo. Bình công nghe Sư Khoáng nói vậy, liền đóng quân lại rồi sai người đi dò thám tin tức quân Sở. Chưa được ba ngày, có quan đại phu nước Trịnh là công tôn Mại đến báo tin quân Sở đã lui rồi. Bình công lấy làm lạ, liền hỏi kỹ đầu đuôi. Công tôn Mại nói:

– Nước Sở, từ khi Tử Canh (tức là công tử Ngọ) thay Tử Mang (tức là công tử Trinh) làm lệnh doãn, muốn báo thù đời trước, mới lập mưu đánh Trịnh. Công tử Gia (nước Trịnh) tư thông với Sở, hẹn khi quân Sở đến thì giả cách nghênh chiến để đem quân ra đón. May nhờ có công tôn Xá Chi và công tôn Hạ biết mưu ấy, đem quân giữ thành, rồi nghiêm cấm những kẻ ra vào; công tử Gia không dám ra đón quân Sở. Tử Canh đem quân qua sông Dinh, không thấy công tử Gia ra đón, liền đóng đồn ở dưới núi Ngư Sĩ, gặp trời mưa tuyết, mấy ngày không thôi, trong dinh nước sâu hơn thước, quân sĩ đều tìm chỗ cao để ẩn mưa, rét quá, chết rất nhiều, ai cũng có lòng oán. Tử Canh bất đắc dĩ phải rút quân về. Nay chúa công tôi đã trị tội giết chết công tử Gia rồi, sợ phiền đến quân các nước, vậy có sai tôi đi đến đây, để tâu với nhà vua.

Tấn Bình-công mừng lắm, nói:

– Từ Giã (tên tự Sư Khoáng) thật là thánh về âm luật!

Tấn Bình-công truyền cho chư hầu rút quân về. Tuân Yển về đến nữa đường, bỗng nhiên trên đầu nảy ra một cái ung, đau không thể chịu được, mới ở lại đất Chước Ung. Được hai tháng thì cái ung ấy vỡ, rồi lòi mắt ra mà chết. Thực Xước và Quách Tối nhân dịp Tuân Yển chết, phá cũi mà ra, trống về nước Tề, Phạm Mang và con Tuân Yển là Tuân Ngô đưa linh cữu Tuân Yển về nước Tấn, Tấn Bình-công cho Phạm Mang thay Tuân Yển làm trung quân nguyên soái và cho Tuân Ngô thay Phạm Mang làm trung quân phó tướng. Tháng năm năm ấy, Tề Linh-công ốm nặng, quan đại phu là Thôi Trữ bàn mưu với Khánh Phong, sai người đem xe đón thế tử Quang ở Tức Mặc về.

Khánh Phong đang đêm đem quân gọi cửa nhà quan thái phó là Cao Hậu. Cao Hậu mở cửa ra đón. Khánh Phong bắt giết đi. Thế tử Quang và Thôi Trữ vào cung, giết nàng Nhung Tử (mẹ nuôi thế tử Nha), lại giết cả thế tử Nha. Tề Linh-công nghe tin kinh sợ, hộc máu ra mà chết. Thế tử Quang lên nối ngôi, tức là Tề Trang-công. Tự nhân là Túc Sa Vệ đem gia quyến chạy sang ở Cao Đường. Tề Trang-công sai Khánh Phong đem quân đi đuổi. Túc Sa Vệ chiếm cứ Cao Đường mà chống cự lại. Tề Trang-công đem đại binh đến vây, đã hơn một tháng mà chưa phá vỡ được. Công Lũ người Cao Đường vốn có dũng lực, Túc Sa Vệ dùng để giữ cửa đông. Công Lũ biết Túc Sa Vệ không làm nên việc được, mới đứng trên mặt thành bắn một lá thư xuống, ước với Tề Trang-công, xin đến nửa đêm hôm ấy thì làm nội ứng cho quân Tề trèo qua phía đông bắc vào thành. Tề Trang-công có ý không tin, Thực Xước và Quách Tối nói với Tề Trang-công rằng:

– Việc ấy hai chúng tôi xin đi, để báo lại cái thù Túc Sa Vệ làm hại hai chúng tôi ở Thạch Môn khi trước.

Tề Trang-công nói:

– Các ngươi đi trước, phải cẩn thận mới được, rồi ta sẽ đem quân tiếp ứng.

Thực Xước và Quách Tối đem quân tới phía đông bắc chờ đến nửa đêm, bỗng thấy ở trên mặt thành có dòng mấy cái thừng xuống. Thực Xước và Quách Tối cùng quân sĩ bíu thừng leo lên. Công Lũ đưa vào bắt Túc Sa Vệ. Quách Tối mở cửa thành cho quân Tề kéo ồ vào. Trong thành náo động, chém giết lẫn nhau, ước độ một trống canh mới thôi. Tề Trang-công vào thành. Công Lũ và Thực Xước trói Túc Sa Vệ giải đến trước mặt Tề Trang-công. Tề Trang-công xỉ mắng Túc Sa Vệ rằng:

– Ta có phụ bạc gì mày, mà mày lại giúp công tử Nha để hại ta, nay công tử Nha còn đâu! mày đã giúp công tử Nha thì cho xuống âm phủ mà giúp một thể!

Túc Sa Vệ cúi đầu không nói gì cả. Tề Trang-công truyền đem Túc Sa Vệ ra chém, lấy thịt ướp, chia cho các quan mỗi người một ít; lại cho Công Lũ trấn thủ Cao Đường, rồi rút quân trở về.

Quan thượng khanh nước Tấn là Phạm Mang vì lần trước đánh Tề chưa được Thành-công, lại tâu với Tấn Bình-công, xin đem quân sang đánh. Khi kéo quân đén sông Hoàng Hà, nghe tin Tề Linh-công mất, bảo quân sĩ rằng:

– Nước Tề mới có tang mà ta đem quân sang đánh là bất nhân!

Nói xong, liền đem quân về. Quan đại phu nước Tề là Án Anh nói với Tề Trang-công rằng:

– Nước Tấn thấy ta có tang mà không sang đánh, nếu ta bội Tấn thì là bất nghĩa, chi bằng ta cùng Tấn giảng hoà, khiến cho hai nước khỏi sự binh đao khổ sở là hơn.

Án Anh tên tự là Bình Trọng, mình cao không đầy năm thước, vốn là hiền sĩ bậc nhất ở nước Tề. Tề Trang-công cũng sợ quân Tấn lại đến đánh, mới nghe lời Án Anh, sai nguời sang tạ tội với nước Tấn. Tấn Bình-công đại hội chư hầu ở đất Thiền Uyên, cùng với Tề Trang-công làm lễ ăn thề, từ bấy giờ hai nước giảng hoà với nhau.

Lại nói chuyện quan hạ quân phó tướng là Loan Doanh, tức là con Loan Áp. Loan Áp là con rể Phạm Mang. Con gái Phạm Mang gả cho Loan Áp tên gọi nàng Loan Kỳ. Bấy giờ họ Loan kể từ Loan Tân, Loan Thành, Loan Chi, Loan Thũẫn, Loan Thư, Loan Áp cho đến Loan Doanh, cả thảy bảy đời cùng làm khanh tướng, quyền Quý không ai bằng, các văn vũ trong triều, nửa là môn hạ, nửa là thân thuộc. Loan Doanh lại là người biết khiêm kính, phóng tiền kết khách, vậy nên bọn dũng sĩ cảm tử như Châu Xước, Hình Khoái, Hoàng Uyên, và Cơ Di đều về với Loan Doanh cả, lai có Đốc Nhung là một người vũ dũng, sức mạnh nổi mấy nghìn cân, tay cầm hai kích, đâm đâu trúng đấy, không ai địch nổi, lúc nào cũng theo hầu ở bên mình Loan Doanh. Còn bọn gia thần của Loang Doanh như: Hạnh Du và Châu Tân (em Châu Xước) và những kẻ bôn tẩu dâng công thì không biết mấy mà kể. Khi Loan Áp chết thì vợ là nàng Loan Kỳ mới bốn mươi tuổi, chưa dứt hẳn được lòng dục, mỗi khi Châu Tân vào phủ để trình bẩm với Loan Doanh việc gì thì nàng Loan Kỳ lại đứng đằng sau bình phong dòm ra. Thấy Châu Tân là người đẹp trai, Loan Kỳ liền sai một thị nữ ngỏ ý, rồi cùng Châu Tân tư thông với nhau. Loan Kỳ lại đem những qúy vật trong nhà tặng cho Châu Tân. Khi Loan Doanh theo Tấn Bình-công đi đánh Tề, Châu Tân công nhien ngủ ở trong phủ, không còn sợ hãi gì nữa. Loan Doanh về, nghe biết chuyện ấy, nhưng ngại vì thể diện thân mẫu mình, mới mượn việc khác để trừng trị những quân sĩ canh cửa, nghiêm cấm bọn gia thần, không cho được tự do ra vào trong phủ nữa. Nàng Loan Kỳ bấy giờ một là thẹn quá hóa giận, hai là tình dục khôn cầm, ba là sợ Loan Doanh làm hại đến tính mệnh Châu Tân, nhân khi về mừng sinh nhật cha là Phạm Mang liền nói với cha rằng:

– Loan Doanh sắp nổi loạn, biết làm thế nào?

Phạm Mang hỏi:

– Đầu đuôi thế nào con kể cho ta biết?

Loan Kỳ nói:

– Loan Doanh thường vẫn nói: “Phạm Ưởng giết chú ta (trỏ Loan Hàm), cha ta khi trước đuổi đi, sau lại cho về nước, đã khỏi tội chết, lại được làm quan, họ Phạm mỗi ngày một thịnh thì họ Loan mỗi ngày một suy, ta thề không đội trời chung với họ Phạm”. Bởi vậy Loan Doanh thường vẫn ngày đem cùng với bọn Trí Khởi, Dương Thiệt Hổ tụ họp ở trong nhà, bàn mưu muốn đuổi hết các quan đại phu đi để lập bè cánh mình. Vì nó sợ con tiết lộ việc ấy, nên truyền quân sĩ canh cửa, cấm con, không cho về thăm nhà. Hôm nay may mà con về được chứ ngày khác vị tất đã lại đuợc trông thấy thân phụ, vì tình cha con, con xin nói thật.

Bấy giờ Phạm Ưởng đứng bên cạnh cũng nói thêm vào:

– Con cũng có nghe nói như vậy, nay việc đã quả nhiên! vậy cánh nó nhiều lắm, ta phải phòng bị trước mới được.

Một con trai và một con gái, cùng nói như nhau, tài nào mà Phạm Mang chẳng phải tin lời. Phạm Mang liền mật tâu với Tấn Bình-công, xin đuổi họ Loan, Tấn Bình-công hỏi riêng quan đại phu là Dương Tất, Dương Tất vốn ghét họ Loan mà yêu họ Phạm, mới nói với Tấn Bình-công rằng:

– Loan Thư ngày xưa chính vì giết vua Lệ Công ta mà được truyền đời cho đến Loan Doanh, nay chúa công trừ họ Loan, để tỏ rõ tội thí nghịch của y, thì thật là một đìều đại phúc cho nước nhà.

Tấn Bình-công nói:

– Loan Thư có cái tiếng lập tiên quân ta, còn tội trạng Loan Doanh thì chưa được rõ, làm thế nào mà trừ được?

Dương Tất nói:

– Loan Thư mượn tiếng lập tiên quân ta để che tội ác của mình. Tiên quân ta quên cái thù chung mà nhớ cái ơn riêng, nay chúa công lại ngơ đi thì càng hại to lắm! nếu tội trạng của Loan Doanh chưa rõ thì ta nên trừ bỏ những vây cánh mà xá tội cho hắn, đợi khi hắn mưu sự nổi loạn, bấy giờ ta sẽ trị.

Tấn Bình-công khen phải, triệu Phạm Mang vào cung để ban về việc trừ cánh họ Loan. Phạm Mang nói:

– Loan Doanh ở nhà mà mình trừ bỏ vây cánh hắn thì khác nào như giục hắn nổi loạn, chi bằng chúa công sai hắn đi đắp thành ở Trứ ấp. Hắn đã đi rôi thì bọn hắn không có ai làm chủ, mới có thể trừ được!

Tấn Bình-công khen phải, liền sai Loan Doanh đi đắp thành ở Trứ ấp. Khi Loan Doanh sắp đi, người trong cánh Loan Doanh là Cơ Di can rằng:

– Họ Loan ta nhiều người oán lắm, hẳn ngài cũng đã biết. Việc đắp thành này không phải là việc gấp, can gì phải sai đến ngài, âu là ngài thử chối từ, dò xem ý chúa công ra sao mà phòng bị.

Loan Doanh nói:

– Mệnh vua, sao ta lại chối từ! ta có tội thì dẫu chết cũng không nên tránh; nhược bằng không có tội thì người trong nước đều có lòng thương ta, ai hại ta nổi!

Loan Doanh liền sai Đốc Nhung dong xe, thẳng đường tiến sang Trứ ấp. Loan Doanh đi được ba ngày, Tấn Bình-công ra coi triều, bảo các quan đại phu rằng:

– Xưa kia Loan Thư phạm tội thí nghịch mà không bị trừng phạt, nay con cháu đầy trong triều, ta lấy làm xấu hổ lắm, các quan nghĩ thế nào?

Các quan đại phu đồng thanh mà đáp rằng:

– Nên đuổi họ Loan đi!

Tấn Bình-công truyền đem tội trạng Loan Doanh yết thị ở cửa thàn, rồi sai Dương Tất đem quân đi đuổi Loan Doanh. Bao nhiêu vây cánh, thân thuộc trong nước đều bị đuổi cả. Loan Nhạc và Loan Phường đem người nhà cùng với Châu Xước, Hình Khoái đi theo Loan Doanh. Còn bọn Dương Thiệt Hổ thì đi sau, khi ra đến cửa thành thì cửa thành đã đóng chặt rồi, lại nghe tin quan quân đang đi tìm bắt phe phái họ Loan, mới tụ họp người nhà, định đến đêm hôm ấy thì nổi loạn, phá cửa đông mà ra. Họ Triệu có người môn khách tên là Chương Giám ở cạnh nhà Dương Thiệt Hổ, nghe được mưu ấy, đến báo với họ Triệu. Họ Triệu sang nói với Phạm Mang. Phạm Mang liền sai con là Phạm Ưởng đem ba trăm quân đến vây nhà Dương Thiệt Hổ.

-------------------------------------------

Hồi thứ 63.
Kỳ Hề ra sức cứu Dương Thiệt
Phạm Ưởng lập kế giết Ngụy Thư

Cơ Di đang ở trong nhà Dương Thiệt Hổ, đợi Hoàn Uyên đến để định nửa đêm hôm ấy thì nổi loạn; chẳng ngờ Phạm Ưởng đem quân vây nhà Dương Thiệt Hổ ở mặt ngoài, cho nên không dám tụ tập nữa, đều bỏ đi cả. Dương Thiệt Hổ bắc thang trèo lên mặt tường hỏi Phạm Ưởng rằng:

– Tiểu tướng quân đem quân tới đây có việc gì?

Phạm Ưởng nói:

– Nhà ngươi xưa nay vẫn về phe với Loan Doanh, nay lại định mưu phá vỡ cửa thành để ra tiếp ứng cho Loan Doanh, đó tức là tội phản nghịch, ta phụng mệnh chúa công đến đây để bắt nhà ngươi.

Dương Thiệt Hổ nói:

– Ta có thế bao giờ! việc này tự ai nói ra?

Phạm Ưởng liền gọi Chương Giám đến truớc mặt để làm chứng. Dương Thiệt Hổ vốn người khỏe lắm, lấy tay cạy một viên đá trên mặt tường, ném trúng Chương Giám vỡ đầu ra. Phạm Ưởng giận lắm, truyền quân sĩ phóng hỏa đốt nhà. Dương Thiệt Hổ vội vàng nói với Cơ Di rằng:

– Chúng ta chẳng thà liều chết, còn hơn ngồi yên để chịu trói.

Nói đoạn bèn cầm kích xông ra trước. Cơ Di cầm kiếm theo sau. Hai người vừa hò hét om sòm vừa xông qua đám lửa mà ra. Phạm Ưởng nhận được mặt hai người trong ánh lửa bèn truyền cho quân sĩ bắn dồn vào. Hai người bị tên ngã xuống, quân sĩ dùng câu liêm loi ra thì đã gần chết rồi, liền trói lại mà để lên xe. Lúc bấy giờ, quan trung quân phó tướng là Tuân Ngô cũng đem quân đi tiếp ứng. Đi đến nửa đường thì gặp Hoàng Uyên, Hoàng Uyên cũng bị Tuân Ngô bắt được. Bấy giờ Phạm Ưởng và Tuân Ngô hợp quân làm một, rồi giải Dương Thiệt Hổ, Cơ Di và Hoàng Uyên đến nộp quan trung quân nguyên soái là Phạm Mang. Phạm Mang nói:

– Cánh họ Loan còn nhiều, chỉ bắt có ba người này thì chưa trừ hết được.

Phạm Mang bèn chia quân đi tầm nã các nơi. Trong thành Giáng Đô đêm hôm ấy xiết bao huyên náo. Khi trời sáng rõ. Phạm Mang bắt được Trí Khởi, Tịch Yển và Châu Tân; Tuân Ngô bắt được bọn Trung Hàng Hỉ, Tân Du, Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều giải đến triều môn để đợi lệnh Tấn Bình-công.

Lại nói chuyện Dương Thịêt Xích, tên tự là Bá Hoa, Dương Thiệt Bật, tên tự là Thúc Hướng, cùng với Dương Thiệt Hổ dẫu đều là con Dương Thiệt Chức cả, nhưng Dương Thiệt Hổ là con người thứ mẫu sinh ra. Mẹ Dương Thiệt Hổ nguyên trước là thị tì của vợ Dương Thiệt Chức, rất có nhan sắc. Dương Thiệt Chức muốn lấy, nhưng vợ Dương Thiệt Chức không cho. Bấy giờ Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều đã lớn tuổi, can mẹ không nên ghen. Người mẹ cười mà bảo rằng:

– Ta có phải là người ghen đâu: nhưng ta nghe nói đẹp lắm thì hại nhiều, chỗ núi cao vực thẳm thường hay sinh ra giống long xà. Ta e rằng lúc đã sinh ra giống long xà thì lại làm tai vạ cho chúng bay về sau đó.

Bọn Dương Thiệt Xích cố ý nói mãi, mẹ mới cho Dương Thiệt Chức lấy, sau sinh ra Dương Thiệt Hổ.

Khi Dương Thiệt Hổ lớn lên, mặt đẹp như mẹ mà có sức khỏe lạ thường, Loan Doanh yêu lắm. Bởi Dương Thiệt Hổ là người thân của Loan Doanh, thành ra Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều bị bắt cả. Quan đại phu là Nhạc Vương Phụ, tên tự là Phúc Ngư, vốn là người tin yêu của Tấn Bình-công, xưa nay nghe tiếng anh em Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật là người giỏi, vẫn muốn kết giao mà chưa được, bấy giờ thấy nói hai người bị bắt, mới vội vàng vào triều, thì vừa gặp Dương Thiệt Bật, Nhạc Vương Phụ bèn vái chào và lấy lời an ủi rằng:

– Nhà ngươi chớ lo! ta vào yết kiến chúa công thế nào cũng cố sức xin cho nhà ngươi.

Dương Thiệt Bật nín lặng, không đáp. Nhạc Vương Phụ có ý thẹn. Dương Thiệt Xích nghe nói, liền trách mắng Dương Thiệt Bật rằng:

– Anh em ta ngày nay mà chết thì họ Dương Thiệt không còn một ai nữa! Nhạc Vương Phụ nay đang được chúa công tin yêu, nói gì nghe đấy, nếu nhờ hắn nói dùm một tiếng, may ra có được tha chăng, cớ sao em lại nín lặng, để mích lòng nguời ta như vậy?

Dương Thiệt Bật cười mà nói rằng:

– Người ta sống chết đã có số mệnh. Nếu lòng trời giúp ta thì trông nhờ vào quan lão đại phu họ Kỳ (tức là Kỳ Hề) chứ Nhạc Vương Phụ làm gì được!

Dương Thiệt Xích nói:

– Nhạc Vương Phụ lúc nào cũng hầu liền bên cạnh chúa công, sao em lại bảo rằng không làm gì được? còn quan lão đại phu họ Kỳ đã cáo lão về rồi, em lại bảo rằng có thể nhờ người ấy, ta thật lòng không hiểu ra làm sao!

Dương Thiệt Bật nói:

– Nhạc Vương Phụ chẳng qua chỉ là người du nịnh mà thôi, chúa công bảo phải thì rằng phải, bảo trái thì rằng trái; còn như quan lão đại phu họ Kỳ, thấy ai là bậc hiền tài thì bất cứ kẻ thù hay người thân, cũng đều tiến cử lên chúa công cả, lẽ nào lại bỏ sót họ Dương ta!

Lát sau, Tấn Bình-công ra ngự triều. Phạm Mang đem những tên người bị bắt trong cánh họ Loan, mà tâu lên. Tấn Bình-công trông thấy tên mấy anh em Dương Thiệt Xích, cũng có ý nghĩ, mới hỏi Nhạc Vương Phụ rằng:

– Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật có dự gì đến âm mưu của Dương Thiệt Hổ không?

Nhạc Vương Phụ vẫn căm về việc Dương Thiệt Bật không thèm nói với mình, mới tâu với Tấn Bình-công rằng:

– Còn ai thân hơn anh em, lẽ nào lại không biết.

Tấn Bình-công bèn truyền đem giam cả bọn vào ngục, để giao cho quan tư khấu nghị tội.

Bấy giờ Kỳ Hề đã cáo lão về ở đất Kỳ, con là Kỳ Ngọ là bạn đồng liêu với Dương Thiệt Xích liền sai người phi báo cho cha biết, để Kỳ Hề viết thư đưa về cho Phạm Mang mà xin tha cho Dương Thiệt Xích. Hỳ Hề nghe tin, giật mình nói:

– Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều là người giỏi ở nước Tấn ta, nay có việc oan lạ lùng thế này, ta nên thân hành đi cứu.

Kỳ Hề liền tức khắc đi xe tới khinh thành, không đến nhà Kỳ Ngo, mà đi thẳng vào yết kiến Phạm Mang. Phạm Mang nói:

– Quan đại phu già yếu mà chịu dầm sương dãi gió tới đây, tất muốn chỉ báo tôi điều gì chăng?

Kỳ Hề nói:

– Tôi vì việc mất còn của xã tắc mà tới đây, chứ không phải việc gì khác!

Phạm Mang kinh sợ mà bảo rằng:

– Chẳng hay việc gì khiến cho lão đại phu phải phiền lòng như vậy?

Kỳ Hề nói:

– Người hiền tài là chỗ dựa của xã tắc. Dương Thiệt Chức khi trước có công với nước Tấn ta, còn Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bất đều nối được nghiệp cha, nay chỉ vì một người con thứ không ra gì mà giết tất cả, chẳng phải đáng tiếc lắm sao? Ngày xưa Khước Nhuế phảnh nghịch mà con là Khước Khuyết vẫn được quan. Cha con tội cũng còn không liên can với nhau nữa là anh em! nhà ngươi đem một lòng thù riêng mà giết hại kẻ vô tội, ta lấy làm nguy cho nước Tấn lắm!

Phạm Mang vội vàng đứng dậy xin lỗi mà rằng:

– Quan lão đại phu dạy phải lắm! nhưng chúa công còn chưa nguôi cơn giận, xin quan lão đại phu cùng tôi vào triều để tâu với chúa công.

Phạm Mang bèn cùng Kỳ Hề lên xe vào triều, tâu với Tấn Bình-công rằng:

– Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật không giống tính Dương Thiệt Hổ, tất không dự biết đến việc họ Loan. Vả lại công lao của Dương Thiệt Chức thuở xưa, chúa công chớ nen vội quên!

Tấn Bình-công tỉnh ngộ, tuyên chỉ tha cho Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật, lại cho phục hồi nguyên chức, còn Trí Khởi, Trung Hàng Hỉ, Tịch Yển, Châu Tân và Tân Du đều phải giáng làm thứ nhân; chỉ có Dương Thiệt Hổ, Cơ Di và Hoàng Uyên phải xử tử mà thôi. Dương Thiệt Xich và Dương Thiệt Bật được tha, vào triều lạy tạ; khi trở về, Dương Thiệt Xích bảo Dương Thiệt Bật rằng:

– Ta nên đến tạ ơn quan lão đại phu họ Kỳ.

Dương Thiệt Bật nói:

– Quan lão đại phu họ Kỳ vì nước nhà mà nói, có phải vì riêng ta đâu, cần gì mà phải tạ!

Nói xong, liền lên xe về nhà. Dương Thiệt Xích không đành lòng, thân hành đến nhà Kỳ Ngọ, để xin yết kiến Kỳ Hề. Kỳ Ngọ nói:

– Thân phụ tôi vào yết kiến chúa công, rồi trở về đất Kỳ ngay, có ở lại đây đâu!

Dương Thiệt Xích nói:

– Quan lão đại phu họ Kỳ vốn không nghĩ gì đến sự làm ơn cho ta. Thế mới biết kiến thức của ta lại không bằng Dương Thiệt Bật!

Châu Tân từ khi bị cách chức, lại vẫn đi lại với nàng Loan Kỳ. Phạm Mang nghe biết việc ấy, sai kẻ lực sĩ đến tận nhà đâm chết Châu Tân.

Quan trấn thủ đất Khúc Ốc tên gọi Tư Ngọ, nguyên trước là môn khách của Loan Thư, khi Loan Doanh đi qua Khúc Ốc, Tư Ngọ cung cấp rất trọng hậu. Loan Doanh nói đến việc đắp thành ở Trứ ấp. Tư Ngọ hẹn xin đem quân ở Khúc Ốc sang giúp. Loan Doanh ở lại Khúc Ốc trong ba ngày. Bọn Loan Nhạc đến báo tin, nói Dương Tất đã đem quân đuổi theo. Đốc Nhung là người dong xe của Loan Doanh nói:

– Nếu Dương Tất đến đây thì ta chống cự lại, vị tất đã làm gì ta nổi!

Châu Xước và Hình Khoái nói:

– Chính vì sợ ân chủ thiếu người, nên chúng tôi đã đến đây để giúp ân chủ đó.

Loan Doanh nói:

– Ta có tội gì đâu, chẳng qua họ thù óan mà vu tội cho ta, nếu ta chống cự thì kẻ thù lại có cớ mà nói, chi bằng ta trốn đi, đợi khi chúa công xét lại.

Tư Ngọ cũng nói không nên chống cự. Loan Doanh vội vàng từ biệt Tư Ngọ, rồi trốn sang nước Sở. Khi Dương Tất đem quân đến Trứ ấp, người trứ ấp nói với Dương Tất rằng:

– Loan Doanh chưa tới đây, mới đến Khúc Ốc, đã bỏ trốn rồi.

Dương Tất lại thu quân về, trong khi đi đường, tuyên bố tội trạng của họ Loan.

Dân nước Tấn đều biết họ Loan là công thần, và Loan Doanh là người quảng đại bác ái, cho nên ai cũng thương xót. Phạm Mang nói với Tấn Bình-công nghiêm cấm họ Loan, không cho đi theo Loan Doanh, ai theo thì bắt tội chết. Kẻ gia thần của Loan Doanh là Tân Du nghe tin Loan Doanh ở nước SỞ, liền đem mấy xe gia tài đi theo. Ra đến cửa thành, bị quân sĩ bắt được, đem nộp Tấn Bình-công. Tấn Bình-công hỏi Tân Du rằng:

– Ta đã có lệnh nghiêm cấm, sao nhà ngươi dám trái?

Tân Du sụp lạy mà nói rằng:

– Tôi ngu dốt không hiểu việc chúa công cấm theo họ Loan có ý nghĩa gì?

Tấn Bình-công nói:

– Theo họ Loan tức là vô quân, nên ta cấm.

Tân Du nói:

– Nếu cấm kẻ vô quân thì tôi tất là khỏi chết! tôi nghe nói mình làm tôi người nào thì người ấy tức là vua mình; ông cha nhà tôi đã ba đời làm tôi họ Loan thì họ Loan tức là vua của tôi, chính vì tôi không dám quên vua, cho nên theo họ Loan, cớ sao lại cấm? Vả Loan Doanh dẫu có tội, chúa công chỉ đuổi đi mà không nỡ giết, cũng là nghĩ đến cái công lao đời trước của họ Loan, mà muốn bảo toàn cho Loan Doanh; nay Loan Doanh bơ vơ ở nơi đất khách, đồ dùng không có, áo mặc không đủ, nếu một mai vì thế mà chết đi, thì có phải cái nhân đức của chúa công không được trọn vẹn không? Tôi đi chuyến này là muốn giữ cho hết cái trung nghĩa của tôi, mà hoàn thành được cái nhân đức của chúa công đó!

Tấn Bình-công bằng lòng mà bảo rằng:

– Nhà ngươi nên ở lại đây với ta, ta sẽ đem cái lộc của họ Loan mà cho nhà ngươi.

Tân Du nói:

– Thôi đã có nói họ Loan là vua của tôi, nếu tôi bỏ vua ấy mà theo vua khác thì sao cấm được những kẻ vô quân! chúa công giữ tôi thì tôi xin chết.

Tấn Bình-công nói:

– Thôi thì ta cũng nghe lời mà cho nhà nguơi đi, để nhà ngươi giữ được cái chí ấy.

Tân Du lạy tạ, rồi đem mấy xe gia tài, ngang nhiên thẳng cửa thành mà đi ra. Loan Doanh ở địa giới nước Sở, đã được mấy tháng, toan vào Sính Đô để yết kiến vua Sở, bỗng nghĩ rằng ông cha mình mấy đời giúp Tấn là thế thù của nước Sở, nếu vua Sở không dung thì làm thế nào; lại toan đi sang nước Tề, chỉ vì tiền lưng hết cả, không thể đi được, may gặp Tân Du đem mấy xe gia tài đến, bấy giờ Loan Doanh mới sửa soạn để đi sang nước Tề. Tề Trang-công từ khi thua trận ở trận Bình Âm, lấy làm xấu hổ, muốn thu dùng những kẻ dũng sĩ, đặt ra một đội gọi là “dũng nước”, cho ăn lộc bằng các quan đại phu, tìm những người nào mang nổi nghìn cân, bắn trúng quan bảy lần áo giáp cho sung vào đội ấy. Trước đã có Thực Xước và Quách Tối, sau lại được bọn Gia Cử, Bính Cư, công tôn Ngao, Phong Cụ, Tác Phủ, Tướng Doãn và Lâu Yên, cả thảy chín người. Tề Trang-công ngày nào cũng triệu vào cung cùng bắn bia hoặc đấu kiếm mua vui.

Một hôm, Tề Trang-công ngự triều, nghe báo có quan đại phu nước Tấn là Loan Doanh bị đuổi, trốn sang nước Tề, liền mừng mà nói rằng:

– Ta vẫn muốn báo thù nước Tấn, nay có Loan Doanh đến thì thật là được việc cho ta!

Nói đoạn toan sai người đi nghênh tiếp Loan Doanh. Quan đại phu là Án Anh can rằng:

– Không nên! nước nhỏ thờ nước lớn, nên phải giữ điều tín. Ta mới cùng nước Tấn ăn thề mà nay lại dung nạp Loan Doanh, nếu người nước Tấn đến trách thì ta biết nói thế nào?

Tề Trang-công cười to lên mà nói rằng:

– Nhà ngươi nói thế là sai lắm! nước Tề ta cùng nước Tấn ngang hàng với nhau, sao lại gọi là lớn và nhỏ? ngày trước ta chịu thề với Tấn, chẳng qua chỉ vì sự nguy cấp trong một thời mà thôi, chứ lẽ nào lại chịu thần phục nước Tấn mãi như Lỗ, Vệ, Tào, và Châu?

Tề Trang-công bèn không nghe lời Án Anh, sai người đi đón Loan Doanh vào triều. Loan Doanh sụp lạy, vừa khóc vừa kể hết những nông nổi bị đuổi. Tề Trang-công nói:

– Nhà ngươi chớ lo! ta sẽ giúp cho nhà ngươi được về nước Tấn.

Loan Doanh lạy tạ. Tề Trang-công bày tiệc thết đãi. Trong khi ăn tiệc, Châu Xước và Hình Khoái đứng hầu ở bên cạnh Loan Doanh, Tề Trang-công trông thấy Châu Xước và Hình Khoái hình vóc cao lớn, liền hỏi họ tên. Hai người nói thực cả. Tề Trang-công nói:

– Trận đánh ở Bình Âm khi trước, bắt được Thực Xước và Quách Tối của ta, có phải là hai người đó không?

Châu Xước và Hình Khoái sụp lạy tạ tội. Tề Trang-công nói:

– Ta mến tiếng các ngươi đã lâu lắm.

Nói xong truyền dọn cơm rượu cho hai người ăn uống. Lại bảo Loan Doanh rằng:

– Ta muốn phiền nhà ngươi một điều, nhà ngươi chớ nên từ chối.

Loan Doanh nói:

– Nếu chúa công có cần dùng điều gì thì dẫu xương óc chúng tôi, chúng tôi cũng không dám tiếc.

Tề Trang-công nói:

– Ta không dám phiền gì cả, chỉ xin mượn hai người dũng sĩ để làm bạn với ta.

Loan Doanh không dám từ chối, phải nhận lời ngay, rồi lên xe, mặt buồn rười rượi, than thầm rằng: may mà vua Tề chưa trông thấy Đốc Nhung, chẳng có thì cũng chiếm mất mà thôi.

Tề Trang-công cho Châu Xước và Hình Khoái sung vào cuối hàng dũng tước, Châu Xước và Hình Khoái có ý không phục. Một hôm Châu Xước và Hình Khoái cùng với Thực Xước và Quách Tối đứng hầu bên cạnh Tề Trang côg. Châu Xước và Hình Khoái giả cách ngạc nhiên trỏ vào mặt Thực Xước và Quách Tối mà bảo rằng:

– Hai ngươi là tù nhân nước ta, sao lại được đến đây?

Quách Tối nói:

– Ngày trước chúng ta bị Túc Sa Vệ đánh lừa, chứ không như các ngươi phải theo người ta đi trốn.

Châu Xước giận lắm, nói:

– Mày như con rận ở trong miệng ta, lại còn dám cựa quậy hay sao!

Thực Xước cũng nổi giận nói:

– Ngày nay mày ở nước ta, tức là miếng thịt ở trong mâm cơm của ta đó!

Hình Khoái nói:

– Các ngươi đã không bằng lòng với ta thì ta lại xin về với chủ cũ.

Quách Tối nói:

– Đường đường nước Tề ta, lẽ nào cứ phải nhờ đến hai ngươi mới được hay sao!

Bốn người lớn tiếng cãi nhau, mặt đỏ bừng bừng, tay mó chuôi gươm, toan sự đánh nhau. Tề Trang-công dùng lời nói ngọt để khuyên can, và đem rượu cho uống, lại bảo Châu Xước và Hình Khoái rằng:

– Ta vẫn biết hai ngươi không chịu ở dưới người!

Tề Trang-công bèn chia đội dũng tước làm hai ban: 1. Hữu ban là Long tước thì Châu Xước và Hình Khoái đứng đầu, lại chọn được người nước Tề là Lư Bồ Quý và Vương Hà thuộc về ban ấy; 2. Tả ban là Hổ tước, thì Thực Xước và Quách Tối đứng đầu, bọn Giá Cử thuộc về ban ấy. Các người được dự vào trog hai ban ấy đều lấy làm vinh hạnh, chỉ có Châu Xước và Hình Khoái, Thực Xước và Quách Tối, bốn người ấy là không hoà thuận với nhau mà thôi.

Bấy giờ Thôi Trữ và Quách Phong có công lập Tề Trang-công, đều được làm thượng khanh, cầm quyền chính trong nước. Tề Trang-công thường vẫn đến nhà hai người để uống rượu mua vui, hoặc bắn bia đấu kiếm, không còn phân biệt vua tôi nữa. Vợ cả Thôi Trữ sinh được hai con là Thôi Thành và Thôi Cương; cách mấy năm sau thì người vợ ấy chết, Thôi Trữ lại kết duyên với em gái Đông Quách Yển. Em gái Đông Quách Yển nguyên trước là vợ Đường Công, vẫn gọi là nàng Đường Khương, sinh được một con, tên gọi Đường Vô Cữu. Khi Đường Công chết, Thôi Trữ đến viếng ta, trông thấy Đường Khương có nhan sắc, mới nói với Đông Quách Yển xin cưới làm vợ kế, cũng sinh được một con, tên gọi Thôi Minh.

Thôi Trữ yêu nàng Đường Khương lắm, liền dùng Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu làm gia thần, đem con nhỏ là Thôi Minh uỷ thác cho hai người, lại bảo nàng Đường Khương rằng:

– Đợi khi nào Thôi Minh khôn lớn, sẽ lập làm đích tử.

Một hôm, Tề Trang-công uống rượu ở nhà Thôi Trữ. Thôi Trữ sai Đường Khương ra mời rượu. Tề Trang-công trông thấy Đường Khương nhan sắc, liền đút nhiều tiền cho Đông Quách Yển, để tư thông với nàng Đường Khương. Thôi Trữ dần dần biết chuyện, hỏi Đường Khương. Nàng nói:

– Thật có như vậy! kẻ kia cậy thế là vua một nước mà bắt thiếp thì thiếp cự lại thế nào được!

Thôi Trữ nói:

– Vậy thì sao nàng không nói với ta?

Đường Khương nói:

– Thiếp tự nghĩ mình có tội, nên không dám nói.

Thôi Trữ nín lặng hồi lâu, rồi nói:

– Việc ấy không can dự gì đến nàng!

Từ bấy giờ Thôi Trữ có ý muốn giết Tề Trang-công.

Vua nước Ngô là Chư Phàn sai người sang nước Tấn cầu hôn. Tấn Bình-công gả con gái cho. Tề Trang-công bàn với Thôi Trữ rằng:

– Ta muốn giúp Loan Doanh trở về nước Tấn mà chưa được dịp nào, nghe nói quan trấn thủ ở Khúc Ốc là người thân với Loan Doanh, nay ta muốn mượn việc tống dắng mà đưa Loan Doanh về Khúc Ốc, khiến Loan Doanh nổi lên đánh nước Tấn, phỏng có nên chăng?

Thôi Trữ đang căm tức Tề Trang-công, muốn cho Tề Trang-công kết oán với Tấn, đợi khi nước Tấn đem quân sang đánh thì đổ lỗi cho Tề Trang-công mà giết đi, để du nịnh nước Tấn. Nay Tề Trang-công lại muốn giúp Loan Doanh, chính là trúng phải kế ấy. Thôi Trữ liền nói với Tề Trang-công rằng:

– Người Khúc Ốc có lòng với họ Loan, nhưng vị tất đã làm gì nổi, chúa công nên đem một toán quan đi tiếp ứng, giả cách nói sang đánh Vệ, rồi cùng với Loan Doanh hai mặt đánh ập vào, mới có thể phá vỡ được nước Tấn.

Tề Trang-công khen phải, rồi đem mưu ấy nói với Loan Doanh. Loan Doanh mừng lắm. Gia thần của Loan Doanh là Tân Du can rằng:

– Tôi theo ngài tới đây, là để tận trung với ngài, vậy thì tôi cũng muốn ngài tận trung với vua Tấn.

Loan Doanh nói:

– Nhưng vua Tấn không nhận ta là bề tôi thì biết làm thế nào?

Tân Du nói:

– Ngày xưa vua Trụ giam Văn-vương ở ngục Dữu Lý, mà Văn-vương vẫn một lòng thần phục vua Trụ; nay vua Tấn chẳng nghĩ đến công lao họ Loan ta trước mà đuổi ngài, khiến ngài phải lưu lạc ở nước ngoài, ai là người không thương xót. Nếu ngài làm điều bất trung thì trong khoảng trời đất, còn ai dung ngài nữa!

Loan Doanh không nghe. Tân Du khóc mà nói rằng:

– Nếu vậy thì ngài đi chuyến này, thế nào cũng chết, tôi xin chết để tiễn chân ngài.

Tân Du nói xong, liền rút gươm đâm cổ mà chết. Tề Trang-công chọn một người con gái trong họ để làm dắng nữ, sai quan đại phu là Tích Quy Phủ đưa sang nước Tấn, rồi dùng nhiều xe kín, để Loan Doanh và thân thuộc ngồi ở trong xe, đưa đến Khúc Ốc. Châu Xước và Hình Khoái xin theo Loan Doanh. Tề Trang-công sợ Châu Xước và Hình Khoái về nước Tấn mất, mới sai Thực Xước và Quách Tối đi thay, lại dặn Thực Xước và Quách Tối rằng:

– Hai ngươi theo quan tướng quân họ Loan cũng tức như là theo ta!

Khi đến Khúc Ốc, bọn Loan Doanh lén vào trong thành, đang đêm gọi cửa nhà quan trấn thủ ở đấy là Tư Ngọ, Tư Ngọ kinh sợ không biết việc gì. Khi mở cửa ra, trông thấy Loan Doanh, liền giật mình hỏi rằng:

– Sao ngài lại đến đây được?

Loan Doanh nói:

– Xin vào nhà kín để nói chuyện.

Tư Ngọ liền mời vào trong nhà kín. Loan Doanh cầm lấy tay Tư Ngọ, muốn nói mà chưa nói, bất giác nước mắt chảy xuống ròng ròng. Tư Ngọ nói:

– Ngài có việc gì, xin cứ nói cho biết, chớ nên thương khóc như vậy!

Loan Doanh liền gạt nước mắt mà nói rằng:

– Tôi chỉ vì các nhà họ Phạm, họ Triệu thù oán nhau mà đến nổi phải lưu lạc nước ngoài, nay vua Tề thương tôi là người vô tội, đưa tôi tới đây, mà quân Tề cũng sắp sửa đến sau. Nếu nhà ngươi chịu đem quân Khúc Ốc vào đánh Giáng Đô thì quân Tề đánh mặt ngoài, chúng ta đánh mặt trong, chắc là phải vỡ. Bấy giờ ta sẽ bắt những kẻ thù với ta mà giết chết đi, rồi phụng mệnh vua Tấn để giảng hoà với Tề. Họ Loan mà nổi lên được, chỉ cốt ở một việc này thôi.

Tư Ngọ nói:

– Thế nước Tấn đang mạnh, các nhà họ Phạm và họ Triệu vẫn hoà thuận với nhau, tôi sợ chưa làm gì nổi, lại thêm hại cho mình.

Loan Doanh nói:

– Ta có kẻ dũng sĩ là Đốc Nhung, một người có thể đương nổi được một toán quân. Vả Thực Xước và Quách Tối đều là những kiện tướng ở nước Tề bây giờ; còn Loan Nhạc và Loan Phường cũng đều sức khỏe bắn gỉoi, như thế thì nước Tấn dẫu mạnh cũng chẳng sợ gì! ngày xưa ta giúp Ngụy Giáng ở đạo hạ quân, cháu hắn là Ngụy Thư có nhờ vả điều gi, ta vẫn săn sóc cho cả, hắn vẫn muốn báo ơn ta; nếu được họ Ngụy làm nội ứng thì mười phần xong được đến tám chín. Vạn nhất việc không thành mà phải chết, ta cũng được thoả lòng!

Tư Ngọ nói:

– Đợi ngày mai, tôi dò xem lòng người thế nào, mới có thể làm được.

Bọn Loan Doanh cùng nhau ẩn trong nhà kín. Ngày hôm sau, Tư Ngọ giả cách nói nằm mộng thấy Cung thế tử (tức là Thân Sinh), rồi sửa lễ vào nhà thờ Cung thế tử để tế. Tế xong, mời tất cả các quan thuộc đến uống rượu. Loan Doanh phục sẵn ở sau bình phong. Rượu được ba tuần thì âm nhạc nổi lên. Tư Ngọ liền gạt đi mà rằng:

– Ngày xưa Cung thế tử bị oan, bây giờ chúng ta nỡ nào ngồi mà nghe nhạc được!

Mọi người nghe nói, đều có ý cảm động. Tư Ngọ lại nói:

– Bề tôi cũng như là con. Nay họ Loan mấy đời có công to, mà cả triều cố ý dèm pha, để đến nỗi phải đuổi, thì có gì khác Cung thế tử?

Mọi người đều nói:

– Việc ấy cả nước ai cũng bất bình! chẳng hay chàng nhụ tử họ Loan còn có thể về nước được không?

Tư Ngọ nói:

– Giả sử nhụ tử họ Loan bây giờ đã về ở đây thì các người định xử ra làm sao?

Mọi người đều nói:

– Nếu được chàng nhụ tử họ Loan làm chủ thì chúng tôi xin hết sức, dẫu chết cũng đành lòng!

Trong bọn ngồi đấy, có nhiều người chảy nước mắt. Tư Ngọ nói:

– Các ngươi chớ phiền! chàng nhụ tử họ Loan hiện ở đây rồi!

Tư Ngọ vừa nói xong thì Loan Doanh ở phía sau bình phong đi ra, vái chào mọi người. Mọi người đều sụp lạy. Loan Doanh thuật lại đầu đuôi vì cớ gì mà về được nước Tấn, lại nói với mọi người rằng:

– Nếu được trở về Giáng Đô thì dẫu chết cũng thoả lòng!

Mọi người đều hớn hở xin theo. Ngày hôm ấy, uống rượu rất vui rồi tan. Đến hôm sau, Loan Doanh viết một tờ mật thư, nhờ người lái buôn tại Khúc Ốc đưa đến cho Ngụy Thư ở Giáng Đô. Ngụy Thư cũng thấy việc họ Triệu và họ Phạm làm tàn ác quá, khi tiếp được mật thư của Loan Doanh, liền viết thư trả lời rằng:

– “Chúng tôi vẫn mặc sẵn áo giáp ở trong mình để đợi. Khi nào quân Khúc Ốc đến, xin ra nghênh tiếp “.

Loan Doanh được tin mừng lắm. Tư Ngọ kiểm điểm giáp binh ở Khúc Ốc cả thảy được hai trăm hai mươi binh xa rồi giao cho Loan Doanh. Bè cánh họ Loan, người nào tráng kiện đều xin theo cả, chỉ có người già yếu mới chịu ở lại Khúc Ốc. Đốc Nhung làm tiên phong, Thực Xước và Loan Nhạc ở bên hữu. Quách Tối và Loan Phường ở bên tả. Đêm hôm ấy thẳng đường tiến về Giáng Đô. Khúc Ốc và Giáng Đô chỉ cách nhau có sáu mươi dặm, quân Loan Doanh đi một đêm đến nơi ngay, rồi phá lần thành ngoài mà vào, tiến thẳng đến cửa nam, người Giáng Đô không ai biết gì cả. Quân sĩ canh giữ ở cửa thành, không kịp phòng bị, chỉ một giờ là bị Đốc Nhung phá vỡ. Quân Loan Doanh kéo ồ vào thành, như vào một nơi không có người ở.

Bấy giờ Phạm Mang ở nhà, vừa ăn bữa sáng xong, bỗng thấy Nhạc Vương Phụ hoảng hốt chạy đến, báo việc Loan Doanh đã vào cửa nam. Phạm Mang giật mình kinh sợ, liền gọi con là Phạm Ưởng đem quân ra chống cự. Nhạc Vương Phụ nói:

– Việc đã nguy cấp lắm! ta nên đưa chúa công chạy vào Cố Cung thì mới có thể giữ vững được.

Phạm Mang lo rằng trong nước có người làm nội ứng cho họ Loan. Nhạc Vương Phụ nói:

– Các quan đại phu đều ghét họ Loan cả, chỉ đáng lo có một mình họ Ngụy mà thôi; nếu ta phụng mệnh chúa công đi triệu ngay đến đây thì còn có thể giữ được.

Phạm Mang khen phải, liền sai Phạm Ưởng phụng mệnh đến triệu Ngụy Thư. Nhạc Vương Phụ nói:

– Việc chưa rõ thế nào, hãy nên kín tiếng mới được!

Bấy giờ Tấn Bình-công đang có tang, Phạm Mang và Nhạc Vương Phụ đều mặc áo giáp ở trong, rồi phủ đồ tang phục ở ngoài, trùm kín đầu lại, đi thẳng vào cung, tâu với Tấn Bình-công, rồi đưa Tấn Bình-công chạy vào Cố Cung. Phạm Ưởng đến nhà Ngụy Thư, trông thấy quân sĩ ở nhà Ngụy Thư đã đứng sắp hàng cả ở ngòai cửa, Ngụy Thư mặc đồ nhung phục ngồi trên xe, toan đi đoán Loan Doanh. Phạm Ưởng chạy ngay đến trước mặt bảo Ngụy Thư rằng:

– Họ Loan nổi loạn, nay chúa công ở Cố Cung, cha tôi và các quan đại thần đều họp ở đấy cả, có sai tôi đến đây đón ngài.

Nguỵ Thư chưa kịp trả lời, Phạm Ưởng nhảy ngay lên xe tay phải cầm gươm, tay trái nắm lấy đai Ngụy Thư, làm cho Ngụy Thư kinh sợ không biết nói thế nào được nữa, rồi Phạm Ưởng truyền cho người dong xe đi mau. Người dong xe hỏi đi về phía nào, Phạm Ưởng quát to lên rằng:

– Đi sang Cố Cung!

Xe Ngụy Thư liền đi thẳng sang Cố Cung.

---------------------------------------------------

Hồi thứ 64.
Loan Doanh diệt tộc thành Khúc Ốc
Kỷ Lương tử chiến cửa Thả Vu

Phạm Mang dẫu sai con là Phạm Ưởng đi triệu Ngụy Thư, nhưng chưa biết hay dở thế nào, trong lòng áy náy không yên, mới trèo lên mặt thành để trông, thấy Phạm Ưởng và Ngụy Thư cùng ngồi một xe ở phía xa đi đến, liền mừng mà nói rằng:

– Thế là họ Loan thật là cô thế, chẳng làm gì nổi!

Nói xong, truyền mở cửa cung đóng vào. Ngụy Thư trông thấy Phạm Mang thì mặt lộ vẻ hoang mang. Phạm Mang cầm lấy tay mà bảo rằng:

– Người ngoài không hiểu rõ, bảo là tướng quân tư thông với họ Loan, nhưng tôi đây vẫn biết tướng quân không phải là người như thế. Nếu tướng quân giúp sức với tôi mà diệt họ Loan, thì tôi xin đem đất Khúc Ốc đền công cho tướng quân.

Bấy giờ Ngụy Thư đã vào tròng của Phạm Mang rồi, bất đắc dĩ phải vân mệnh, cùng vào yết kiến Tấn Bình-công để bàn mưu dẹp giặc. Được một lúc thì Triệu Vũ, Tuân Ngô, Trí Sóc, Hàn Vô Kỵ (con trưởng Hàn Quyết), Hàn Khởi (con thứ hai của Hàn Quyết), Kỳ Ngọ, Dương Thiệt Xích, Dương Thiệt Bật và Trương Mạnh Địch đều lục tục đến cả. Mỗi người lại đem theo một toán quân, thanh thế rất mạnh! Cố Cung có hai cửa. Phạm Mang sai Triệu Vũ và Tuân Ngô giữ cửa nam; anh em Hàn Vô Kỵ giữ cửa bắc, còn bọn Kỳ Ngọ thì đi tuần bốn mặt. Hai cha con Phạm Mang và Phạm Ưởng cứ ở liền bên cạnh Tấn Bình-công. Loan Doanh tiến quân vào trong thành, không thấy Ngụy Thư ra đón thì trong lòng nghi ngại, bèn đóng quân ở Thị Khẩu rồi sai người đi dò tin tức. Quân thám tử về báo rằng:

– Vua Tấn đã chạy vào Cố Cung, nhân dân đều theo vào đấy cả, cả Nguỵ Thư cũng vào.

Loan Doanh nổi giận, nói:

– Ngụy Thư đánh lừa ta! gặp mặt ta quyết làm cho một nhát!

Liền vỗ vào lưng Đốc Nhung mà bảo rằng:

– Nhà ngươi phá vỡ được Cố Cung thì ta sẽ cùng hưởng phú quý với nhà ngươi!

Đốc Nhung nói:

– Xin chia quân làm đôi, tôi đánh cửa nam; còn ân chủ thì đem các tướng đánh cửa bắc, thử xem ai vào được trước!

Bấy giờ Thực Xước và Quách Tối dẫu theo Loan Doanh, nhưng vẫn căm tức Châu Xước và Hình Khoái, vì Châu Xước và Hình Khoái là người của Loan Doanh đem sang Tề, mà lại được Tề Trang-công tin yêu. Châu Xước và Hình Khoái lại tỏ ý khinh bỉ Thực Xước và Quách Tối. Huống chi Loan Doanh động mở miệng thì chỉ khoe cái tài giỏi của Đốc Nhung mà không nghĩ gì đến Thực Xước và Quách Tối cả, cho nên hai người không hề có lòng sốt sắng với Loan Doanh mà chỉ ngồi chờ xem bên nào được bên nào thua. Loan Doanh chỉ trông cậy vào một mình Đốc Nhung. Bấy giờ Đốc Nhung tay cầm hai cái kích, ngồi xe đi thẳng đến Cố Cung, dừng ngoài cửa nam xem ngắm hình thế, rồi đi đi lại lại, uy phong lẫm liệt, khác nào như một vị hung thần giáng hạ. Quân Tấn vốn biết Đốc Nhung là người vũ dũng, nên ai trông thấy cũng đều sợ khiếp đảm. Triệu Vũ cũng tấm tắc khen tài. Bộ hạ của Triệu Vũ có hai viên dũng tướng, tên gọi Giải Ung và Giải Túc là hai anh em ruột, xưa nay đã có tiếng là người giỏi đánh giáo. Giải Ung và Giải Túc nghe thấy chủ tướng mình khen Đốc Nhung, có ý không phục, nói với Triệu Vũ rằng:

– Đốc Nhung dẫu giỏi, anh em tôi cũng xin đem một toán quân ra để bắt sống.

Triệu Vũ nói:

– Nhà ngươi nên cẩn thận, chớ có khinh thường.

Giải Ung và Giải Túc mở cửa ra, đứng ở phía trong lần hào, quát to lên mà bảo Đốc Nhung rằng:

– Nhà ngươi có phải là Đốc Nhung đó không? Ta tiếc cho nhà ngươi là một người anh hùng mà lại đi theo đứa phản nghịch! mau mau đầu hàng đi thì còn có thể đổi hoạ làm phúc được!

Đốc Nhung nghe nói nổi giận, truyền cho quân sĩ lấp một khúc hào để sang. Quân sĩ còn đang đội đất vác đá để lấp hào, Đốc Nhung nóng nảy, cầm hai ngọn kích chống thẳng xuống đất, rồi nhảy tót qua bên kia hào. Giải Ung và Giải Túc kinh hãi, cùng cầm giáo đến đánh Đốc Nhung. Đốc Nhung hai ta múa giáo, chạy thẳng đến mà nghênh chiến. Con ngựa kéo xe của Giải Ung bị một đòn kích của Đốc Nhung gãy một xương sống, xe không đi được. Con ngựa kéo xe của Giải Túc thấy vậy liền hí rầm lên, không chịu chạy nữa. Anh em họ Giải nhảy xuống xe để đánh bộ. Bị Đốc Nhung đánh gãy cái giáo, Giải Túc bỏ chạy. Giải Ung hoảng sợ run tay, bị Đốc Nhung đâm cho một kích ngã lăn xuống đất. Đốc Nhung lại đuổi theo Giải Túc. Giải Túc giỏi chạy, bon thẳng đến cửa bắc, leo thành mà vào. Đốc Nhung không đuổi kịp liền quay lại định đâm chết Giải Ung thì quân sĩ nước Tấn đã cứu Giải Ung đem vào cửa rồi. Đốc Nhung tức giận, chống kích xuống đất mà quát to lên rằng:

– Còn ai dám ra đối địch với ta nữa không?

Trong cửa không ai dám ra cả. Đốc Nhung về dinh, truyền cho quân sĩ sửa soạn để ngày mai lại đánh. Giải Ung bị thương nặng quá, đêm hôm ấy chết. Triệu Vũ thương xót vô cùng. Giải Túc nói:

– Ngày mai, tôi xin ra quyết chiến một trận nữa để báo thù cho anh tôi, dẫu chết cũng thoả lòng!

Tuân Ngô nói với Triệu Vũ rằng:

– Bộ hạ tôi, là lão tướng Mâu Đăng, có hai con là Mâu Cương và Mâu Kính. Hai người ấy đều có sức khoẻ mang nổi nghìn cân, hiện đang ở trong đội thị vệ của chúa công. Tôi xin bảo Mâu Đăng tức khắc gọi hai con đến, để sáng mai cùng ra trận với Giải Túc. Ba người đánh một thì thua làm sao được!

Triệu Vũ nói:

– Nếu vậy thì hay lắm!

Tuân Ngô bảo Mâu Đăng đi gọi hai co. Sáng sớm hôm sau, Mâu Cương và Mâu Kính đều đến cả. Triệu Vũ trông thấy hai người vóc dáng cao lớn, khí thế hùng hổ, liền phủ dụ mấy câu, rồi sai cùng với Giải Túc ra trận. Sáng hôm sau, quân Đốc Nhung đã lấp bằng được một khúc hào, tiến thẳng đến tận dưới cửa để khiêu chiến. Mâu Cương, Mâu Kính và Giải Túc mở cửa mà ra. Đốc Nhung quát to lên rằng:

– Chúng bay không sợ chết à?

Ba người không nói năng gì cả, xúm lại đánh Đốc Nhung. Đốc Nhung chẳng sợ hãi chút nào, đang ngồi trên xe, nhảy xô xuống đất, hai tay cầm hai cái kích, múa lên mà đánh. Trục xe của Mâu Cương bị Đốc Nhung đánh gãy. Mâu Cương bất đắc dĩ cũng phải ở trên xe nhảy xuống, lại bị Đốc Nhung đánh một ngọn kích chết ngay. Mâu Kính giận lắm, cố sức xông vào, nhưng không thể được. Mâu Đăng ở trên cửa quan, liền nổi hiệu thu quân, rồi mở cửa cho Mâu Cương và Giải Tú vào. Đốc Nhung truyền cho quân sĩ phá cửa. Trên cửa bắn xuống, tên đạn như mưa, quân sĩ nhiều người bị thương mà Đốc Nhung vẫn không sợ hãi chút nào, thật là một viên dũng tướng! Triệu Vũ và Tuân Ngô thua luôn hai trận, sai người cáo cấp với Phạm Mang. Phạm Mang nói:

– Một mình Đốc Nhung, còn không đánh nổi thì dẹp thế nào được cánh họ Loan.

Đêm hôm ấy, Phạm Mang đốt đèn mà ngồi, nét mặt buồn bã. Có một kẻ gia nô đứng hầu bên cạnh, sụp lạy mà hỏi rằng:

– Quan nguyên soái có ý buồn bã, hay là ngài lo về việc Đốc Nhung?

Phạm Mang nhìn xem ai thì tức là Phi Báo. Phi Báo nguyên là một thủ hạ của Đồ Ngạn Giả, tên gọi Phi Thành, sau vì việc Đồ Ngạn Giả mà phải tội, bị sung làm nô lệ nhà quan. Phạm Mang nghe Phi Báo nói, lấy làm lạ, liền hỏi Phi Báo rằng:

– Nhà ngươi có kế gì trừ được Đốc Nhung thì ta sẽ trọng thưởng cho.

Phi Báo nói:

– Tôi là một người có tên trong sở tội án, dẫu tài giỏi đến đâu, cũng không bao giờ tiến thân được. Nếu quan nguyên soái xoá tên tôi ở trong sở tội án đi thi tôi xin giết Đốc Nhung để đền ơn lại.

Phạm Mang nói:

– Nhà ngươi giết được Đốc Nhung thì ta sẽ tâu với chúa công đốt cả sổ tội án đi, mà dùng nhà người làm trung quân nha tướng.

Phi Báo nói:

– Quan nguyên soái chớ nên thất tín!

Phạm Mang thề rằng:

– Nếu ta thất tín thì xin có mặt trời soi xét! nhưng chẳng hay nhà ngươi phải dùng bao nhiêu binh mã?

Phi Báo nói:

– Khi trước Đốc Nhung còn ở Giáng Đô, có quen với tôi, vẫn cùng tôi đấu vũ. Người ấy tính nóng nảy, chỉ thích đánh nhau độc lực, nếu dùng binh mã thì không thể đánh được. Tôi xin đi một mình, tự khắc có kế bắt được Đốc Nhung.

Phạm Mang nói:

– Hay là nhà ngươi định trốn đi mà không trở lại nữa!

Phi Báo nói:

– Tôi còn có mẹ già, năm nay bảy mươi tám tuổi, còn có con nhỏ, vợ dại, sao tôi lại chịu làm điều bất trung bất hiếu ấy, để phạm tội lần nữa! nếu tôi trái lời thì cũng xin có mặt trời soi xét!

Phạm Mang mừng lắm, cho ăn cơm uống rượu, và thưởng cho một bộ áo giáp. Phi Báo trong mặc áo giáp, ngoài mặc áo nhung, đầu đội mũ cao, chân đi giày cỏ, lưng giắt dao nhọn, tay cầm cái dùi đồng nặng năm mươi hai cân, từ biệt Phạm Mang mà nói rằng:

– Tôi đi chuyến này, giết được Đốc Nhung thì thôi, bằng không thì cũng chết về tay Đốc Nhung, quyết không cùng sống được!

Phạm Mang nói:

– Ta cũng thân hành ra để xem nhà ngươi ra sức.

Phạm Mang truyền thắng xe, rồi cùng với Phi Báo đi đến cửa nam. Triệu Vũ và Tuân Ngô ra tiến kiến Phạm Mang, kể chuyện Đốc Nhung tài giỏi, làm hại mất hai tướng. Phạm Mang nói:

– Ngày nay Phi Báo xin một mình ra trận, chỉ còn mong nhờ vào hồng phúc của chúa công ta.

Phạm Mang nói chưa dứt lời thì Đốc Nhung đã đến khiêu chiến ngoài cửa. Phi Báo đứng trên cửa, gọi Đốc Nhung mà bảo rằng:

– Nhà ngươi có còn nhớ Phi Đại hay không?

Đốc Nhung nói:

– Nay Phi Đại cũng định liều chết mà ra đó chăng?

Phi Báo nói:

– Ai sợ nhà ngươi, chứ Phi Báo quyết không sợ! nhà ngươi nên truyền cho quân sĩ lui lại phía sau, rồi hai ta cùng nhau giao chiến, hai tay chọi với hai tay, binh khí chọi với binh khí, thử xem ai sống ai chết, để lưu tiếng anh hùng về mai sau!

Đốc Nhung nói:

– Nhà ngươi nói hợp ý ta lắm!

Đốc Nhung bèn truyền cho quân sĩ lui lại phía sau. Phi Báo mở cửa, ra giao chiến với Đốc Nhung. Hai bên đánh nhau hơn hai mươi hợp, chưa phân thắng phụ. Phi Báo giả cách nói:

– Khoan đã! ta còn dở có một chút việc cần!

Phi Báo trông thấy phía Tây có một chỗ tường thấp, liền chạy thẳng vào đấy. Đốc Nhung đuổi theo, quát to lên rằng:

– Chạy đằng nào cho thoát!

Bọn Phạm Mang đứng trên cửa, trông thấy Đốc Nhung đang đuổi Phi Báo, đều sợ toát mồ hôi ra, ai ngờ Phi Báo dụng kế, khi chạy đến chỗ tường thấp, bèn nhảy qua vào phía trong, Đốc Nhung cũng nhảy vào theo, Phi Báo nấp ở dưới cây lớn, chờ khi Đốc Nhung nhảy vào, nhân lúc bất ngờ, cầm cái dùi đồng nặng năm mươi hai cân đánh ngay một cái, trúng vào giữa đầu. Đốc Nhung vỡ óc ngã ngay xuống đất, mà còn giơ chân phải đá vào ngực Phi Báo, bật mất một mảnh áo giáp. Phi Báo rút lưỡi dao nhọn, cắt lấy đầu Đốc Nhung, rồi lại nhảy qua tường ra. Trên cửa mọi người thấy Phi Báo tay xách một cái đầu lâu, đầm đìa những máu, biết là Phi Báo đã giết được Đốc Nhung, liền mở rộng cửa cho Giải Túc và Mâu Cương đem quân ra đuổi đánh. Quân họ Loan thua chạy, một nửa bị giết, một nửa đầu hàng, không mấy người trốn thoát. Phạm Mang rót chén rượu, ngửa mặt lên trời, rưới rượu mà nói rằng:

– Thế này mới thật là nhờ hồng phúc của chúa công ta!

Nói xong, lại rót một chén rượu nữa thưởng cho Phi Báo, rồi đưa Phi Báo vào yết kiến Tấn Bình-công. Tấn Bình-công ghi công Phi Báo vào bậc thứ nhất.

Trước đó, Loan Doanh đem quân đánh cửa bắc, liên tiếp được tin thắng trận của Đốc Nhung, mới bảo các tướng sĩ rằng:

– Nếu ta có hai Đốc Nhung thì Cố Cung này có gì mà không phá vỡ nổi!

Thực Xước nghe nói, lấy chân giẫm vào chân Quách Tối, Quách Tối cũng đưa mắt để đáp lại, hai người đều cúi đầu, chẳng nói câu gì. Loan Nhạc và Loan Phường muốn lập công trạng, cố xông pha tên đạn để đánh cửa bắc. Hàn Vô Kỵ và Hàn Khởi nhân thấy cửa nam thua luôn, cũng không dám ra đánh, chỉ giữ thế thủ mà thôi. Đến ngày thứ ba, Loan Doanh tiếp được tin Đốc Nhung bị giết, quân sĩ đều tan mất cả, thì tay chân bủn rủn, không biết làm ra thế nào, mới gọi Thực Xước và Quách Tối để thương nghị. Thực Xước và Quách Tối cười mà nói rằng:

– Đốc Nhung còn bị thua, huống chi là chúng tôi!

Loan Doanh ứa nước mắt hồi lâu. Loan Nhạc nói:

– Chúng ta nên liều chết cố đánh. Canh ba đêm hôm nay truyền cho quân sĩ phóng hỏa đốt cửa quan, may ra có thể vào được!

Loan Doanh theo kế ấy, Tấn Bình-công thấy Đốc Nhung chết, mở tiệc ăn mừng. Hàn Vô Kỵ và Hàn Khởi cũng đều đến dự tiệc. Khi tiệc vừa tan, Hàn Vô Kỵ và Hàn Khởi trở về cửa bắc, bỗng thấy lửa cháy ngất trời, quân si của Loan Doanh phá cửa tiến vào, Loan Nhạc đi trước, Loan Phường theo sau, chiếm được một lần cửa ngoài. Bọn Hàn Vô Kỵ lui vào giữ lần cửa trong, rồi sai người cáo cấp với Phạm Mang. Phạm Mang sai Nguỵ Thư ra cửa nam, để thay cho Tuân Ngô đem quân đến cửa bắc đánh giúp. Anh em Hàn Vô Kỵ cùng với Tấn Bình-công trèo lên trên đài, trông thấy quân Loan Doanh đóng ở lần cửa ngoài im lặng như tờ. Phạm Mang nói:

– Đó tất là có kế! nên truyền cho quân sĩ ra sức phòng giữ.

Đêm hôm ấy, quân Loan Doanh lại phóng hoả đốt cửa quan, nhưng quân Tấn đã phòng bị sẵn, chăng mấy lần da trâu có tẩm nước, lửa không bén được. Phạm Mang nói:

– Giặc đã tiến đến tận nơi, nếu ta để lâu không dẹp được thì quân Tề lại thừa kế sang đánh, thật là nguy cho nước nhà lắm!

NÓi đoạn sai con là Phạm Ưởng cùng Phi Báo đem một toán quân, đi qua cửa nam, vòng sang cửa bắc, để đánh mặt ngoài, hẹn đúng thời khắc cho anh em Hàn Vô Kỵ biết, trong khi đó thì Tuân Ngô cùng Mâu Cương đem một toán quân mở cửa quan đán ra, khiến cho quân Loan hai mặt bị đánh, không thể xoay kịp. Lại sai Triệu Vũ và Nguỵ Thư đem quân đóng ở ngoài phía nam để đón đường Loan Doanh khi thua chạy. Phạm Mang truyền bảo đâu đấy, lại rước Tấn Bình-công lên đài để đứng xem. Phạm Ưởng lúc đi, nói với Phạm Mang rằng:

– Con hãy còn trẻ tuổi, chưa có uy vọng, vậy xin cha cho mượn hiệu cờ của đạo quân trung.

Phạm Mang thuận cho, Phạm Ưởng cầm kiếm lên xe, cắm cờ đại bái mà đi ra cửa nam qua; lúc sắp đi, Phạm Ưởng bảo thuộc hạ rằng:

– Trận đấu ngày nay, chỉ có tiến chứ không có thoái. Chẳng may mà thua thì ta quyết tự vẫn trước, chứ không thể cho các ngươi chết một mình.

Quân sĩ nghe nói: đều vui lòng xin theo. Tuân Ngô vâng lời Phạm Mang, truyền cho quân sĩ sửa soạn sẵn để đợi lệnh khai chiến. Được một lúc, Tuân Ngô trông thấy quân Loan Doanh rối loạn, lui ra lần cửa ngoài, biết là toán quân của Phạm Ưởng đã đến, liền nổi hiệu trống, mở rộng cửa quan. Mâu Cương đi trước, Tuân Ngô theo sau, đem quân ra đánh. Loan Doanh cũng sợ quân Tấn trong ngoài giáp công, đã sai Loan Phường đem xe sắt lấp lần cửa ngoài, chia quân canh giữ.

Toán quân của Tuân Ngô không thể ra được. Khi Phạm Ưởng đem quân đến, Loan Doanh trông thấy là cờ đại bái, giật mình kinh sợ mà nói rằng:

– Nguyên soái nước Tấn thân hành đến đây hay sao! bèn sai người đi dò thám, mới biết là toán quân của Phạm Ưởng. Loan Nhạc nói:

– Nếu bậy thì không sợ!

Bèn truyền cho quân sĩ giương cung ra bắn. Em Loan Nhạc là Loan Vinh can rằng:

– Quân ta nên hà tiện tên mới được, bắn hão vô ích!

Loan Nhạc mới không bắn nữa. Được một lúc Loan Vinh trông thấy một cái xe ở đằng xa đi tới, trong xe có một viên tướng mũ da áo đũi, hình dung cổ quái, liền trỏ mà bảo Loan Nhạc rằng:

– Người ấy tên gọi Phi Báo, tức là người giết Đốc Nhung của ta đó, nên bắn chết đi!

Loan Nhạc nói:

– Đợi hắn đến gần độ một trăm thước bấy giờ ta sẽ bắn.

Nói chưa dứt lời, lại thấy có một cái xe ở bên đi ngang qua. Loan Nhạc nhìn rõ trong xe có Phạm Ưởng, mới nghĩ thầm rằng:

– Ta bắn chết Phạm Ưởng, chẳng hơn bắn chết Phi Báo hay sao!

Liền đuổi theo Phạm Ưởng mà bắn. Loan Nhạc xưa nay bắn cung, trăm phát trúng cả trăm, chẳng ngờ phát tên ấy lại không trúng. Phạm Ưởng ngoảnh lại, trông thấy Loan Nhạc, bèn quát to lên rằng:

– Phản tặc! mày gần chết đến nơi, lại còn bắn ta!

Loan Nhạc quay xe lui chạy, không phải là sợ Phạm Ưởng, mà nhân phát tên ấy bắn không trúng, muốn dụ hắn đuổi theo đến gần, rồi sẽ bắn phát khác. Thực Xước và Quách Tối trông thấy, sợ Loan Nhạc bắn trúng, Thành-công mất, mới reo rầm lên rằng:

– Quân họ Loan thua rồi!

Người dong xe nghe tiếng kêu, lại ngỡ là toán quân khác bị thua, ngẩng đầu trông thấy bốn mặt, cầm cương không vững, ngựa lồng chạy quanh, bánh xe va phải cây hoè ở bên đường, làm xe đổ. Loan Nhạc ngã lăn xuống đất, vừa gặp Phi Báo đi đến, tức khắc đâm chết Loan Nhạc.

Loan Vinh sợ hãi, vội vàng bỏ chạy. Thực Xước và Quách Tối cũng không dám trở về nước Tề. Thực Xước chạy sang nước Vệ, Quách Tối chạy sang nước Tần. Loan Doanh nghe tin Loan Nhạc chết, vật mình lăn khóc, quân sĩ đều có lòng thương xót. Loan Phường cùng với Loan Doanh chạy về phía nam. Tuân Ngô và Phạm Ưởng họp quân đuổi theo. Loan Phường liều chết cố đánh một trận, quân Tấn mới chịu lui về. Loan Doanh và Loan Phường đều bị trọng thương, đi được một quãng đường, lại gặp toán quân của Nguỵ Thư. Loan Doanh ứa nước mắt mà bảo Ngụy Thư rằng:

– Tướng quân không nhớ năm xưa cùng ở với tôi ở hạ quân hay sao? Nay tôi đành phận chết, nhưng không đáng chết vào tay tướng quân.

Nguỵ Thư trong lòng bất nhẫn, liền tránh cho Loan Doanh đi. Loan Doanh và Loan Phường chạy về Khúc Ốc. Được một lúc, Triệu Vũ đến, hỏi Ngụy Thư rằng:

– Loan Doanh đi qua, sao không đuổi theo mà bắt lấy?

Ngụy Thư nói:

– Kẻ kia như con cá trong hũ, đã có nhà bếp làm thịt. Tôi nghĩ đến cái tình của tiên nhân tôi ngày xưa, không nỡ cầm dao mà giết.

Triệu Vũ nghe nói, cũng động lòng thương, không đuổi theo nữa. Phạm Mang biết là Loan Doanh đã chạy qua mà Ngụy Thư tha cho đi, nhưng làm ngơ không nói đến, liền bảo Phạm Ưởng rằng:

– Quân của Loan Doanh đều là người Khúc Ốc. Kẻ kia vây cánh đã hết cả, nhà người chỉ đem một toán quân vây Khúc Ốc thì tự khắc dẹp xong.

Tuân Ngô cũng xin theo đi. Phạm Mang thuận cho Phạm Ưởng và Tuân Ngô đem quân vây Khúc Ốc. Phạm Mang lại mời Tấn Bình-công trở về cung cũ, rồi đem sổ tội án đốt bỏ đi, thành ra vì một Phi Báo mà cả thảy hơn hai mươi nhà cùng được khỏi tội. Phạm Mang lại xin cho Phi Báo làm trung quân nha tướng.

Tề Trang-công từ khi giúp quân cho Loan Doanh trở về nước Tấn, cũng sửa soạn quân mã, cho Vương Tôn Huy làm đại tướng, Thân Tiên Ngu là phó tướng, Châu Xước và Hình Khoái làm tiên phong, Án Ly làm hợp hậu, còn bọn Giả Cử thì cho đi hộ giá, chọn ngày cất quân sang đánh nước Vệ. Người nước Vệ cố giữ không dám ra đánh. Quân Tề kéo thẳng qua đất Đế Khâu sang địa giới nước Tấn, đánh lấy đất Triều Ca. Tề Trang-công lên núi Triêu Dương để khao quân, rồi chia quân làm hai đạo: Vương Tôn Huy đi về phía tả, qua ải Mạnh Môn; Tề Trang-công cùng hai đạo long tước và hổ tước đi về phía hữu, qua Cơ Sơn. Hai đạo hẹn nhau cùng kéo đến núi Thái Hàng thì hợp làm một.

Khi Tề Trang-công đi đến Côn Sơn, Hình Khoái ngủ đêm giữa trời dưới chân núi, bị con rắn độc cắn, sưng bụng lên mà chết. Tề Trang-công thương tiếc vô cùng. Khi hai đạo quân đến núi Thái Hàng, Tề Trang-công trèo lên đỉnh núi, nom về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) để nghĩ kế đánh Tấn; bỗn nghe Loan Doanh đã thua chạy về Khúc Ốc, đại binh nước Tấn đuổi theo, cũng sắp đến nơi, liền thở dài mà nói rằng:

– Nếu vậy thì hỏng việc rồi, còn làm gì được nữa!

Nói xong, truyền rút quân về. Quan trấn thủ đất Hàm Đan là Triệu Thắng (con Triệu Chiên) đem quân đuổi theo. Tề Trang-công tưởng là đại binh nước Tấn, vội vàng bỏ chạy chỉ để Án Ly ở lại sau đối địch. Án Ly thua trận, bị Triệu Thắng chém chết.

Phạm Ưởng và Tuân Ngô vây thành Khúc Ốc hơn một tháng, bọn Loan Doanh đánh lại không nổi, trong thành chết mất quá nửa, đành chịu tan vỡ. Tư Ngọ rút gươm đâm cổ mà chết. Loan Doanh và Loan Vinh đều bị bắt cả. Loan Doanh than rằng:

– Tiếc thay, ta không nghe lời Tân Du, đến nổi thế này!

Tuân Ngô muốn giam Loan Doanh để giải về Giáng Đô. Phạm Ưởng bảo Tuân Ngô rằng:

– Chúa công ta không quyết đoán, vạn nhất hắn kêu van mà lại tha ra thì kẻ thù của ta bao giờ trừ được!

Đêm hôm ấy, Phạm Ưởng mật sai người thắt cổ Loan Doanh giết đi, lại giết cả Loan Vinh nữa. Bao nhiêu người họ Loan đều đem giết sạch cả, chỉ có Loan Phường trèo qua thành trốn sang nước Tống được. Bọn Phạm Ưởng rút quân về, Tấn Bình-công đem việc họ Loan bá cáo cho các nước biết. Nhiều nước, sai người đến chúc mừng. Phạm Mang xin cáo lão về nghỉ. Tấn Bình-công cho Triệu Vũ thay cầm quyền chính.

Tề Trang-công chưa đánh được nước Tấn vẫn còn căm tức, khi về đến địa giới nước Tề, không chịu vào vội mà bảo tướng sĩ rằng:

– Trận Bình Âm ngày trước, phải báo lại mới được!

Bèn đóng đồn ở ngoài thành để kiểm duyệt quân mã. Bọn Châu Xước và Giả Cử được thưởng mỗi người năm cỗ xe, gọi la ngũ thặng tân.

Giả Cử khen hai người ở Lâm Tri là Hoa Chu và Kỷ Lương là dũng sĩ, Tề Trang-công tức khắc cho đi triệu Hoa Chu và Kỷ Lương. Hai người vào yết kiến. Tề Trang-công cho hai người chung nhau một cỗ xe, để đi theo quân mà lập công. Hoa Chu lui về, giận lắm không ăn cơm mà bảo Kỷ Lương rằng:

– Chúa công đặt ra ngũ thặng tân là để đãi người vũ dũng, nay thấy chúng ta là dũng sĩ triệu ta đến, cho chúng ta hai người chung nhau một cỗ xe có phải là biết dùng ta đâu, chẳng qua chỉ là làm nhục ta đó thôi, chi bằng ta từ chối mà đi phương khác.

Kỷ Lương về hỏi mẹ. Mẹ nói:

– Mày sống mà vô nghĩa, chết mà vô danh thì dẫu được dự vao ngũ thặng tân, người ta cũng cười cho. Mày nên phải cố gắng, chớ có trái mệnh vua.

Kỷ Lương đem lời nói của mẹ, thuật lại cho Hoa Chu nghe. Hoa Chu nói:

– Người đàn bà còn không quên mệnh vua, huống chi là ta.

Bèn cùng với Kỷ Lương ngồi chung một xe theo hầu Tề Trang-công. Tề Trang-công nghỉ trong ba ngày, rồi để Vương Tôn Huy đóng quân ở lại, còn mình thì đem đại binh đi đánh nước Cử. Hoa Chu và Kỷ Lương cùng xin đi tiền đội. Tề Trang-công hỏi rằng:

– Hai ngươi muốn dùng bao nhiêu giáp binh?

Hoa Chu và Kỷ Lương nói:

– Chúa công cho hai chúng tôi chung nhau một cỗ xe, cũng đã đủ rồi, chúng tôi xin đi trước.

Tề Trang-công muốn thử tài hai người bèn cười mà cho đi. Hoa Chu và Kỷ Lương thay đổi nhau cầm cương xe. Khi sắp đi, hai người phàn nàn rằng:

– Giá được một người nữa làm xa hữu thì có thể đương nổi một đội!

Một người lính trẻ tuổi chạy đến nói rằng:

– Tôi muốn xin theo hai tướng quân, chẳng hay hai tướng quân có thuận cho hay không?

Hoa Chu hỏi họ tên. Người lính trẻ tuổi ấy nói:

– Tôi là người bản quốc, tên gọi Thấp Hầu Trọng vì mến lòng nghĩa dũng của hai tướng quân, cho nên muốn theo.

Ba người cùng ngồi một xe, thẳng đường tiến sang nước Cử. Ngày hôm sau, vua nước Cử là Lê Tị-công biết quân Tề sắp đến, thân hành đem ba trăm giáp sĩ ra đi tuần, gặp xe Hoa Chu và Kỷ Lương, toan bắt lại hỏi. Hoa Chu và Kỷ Lương trừng mắt quát to lên rằng:

– Hai ta là tướng nước Tề, có ai dám cùng ta quyết chiến hay không?

Lê Tị-công kinh hãi, nhưng trông thấy, không có quân tiếp ứng, mới truyền cho quân sĩ vây kín lại. Hoa Chu và Kỷ Lương bảo Thấp Hầu Trọng rằng:

– Nhà ngươi cứ đánh trống luôn cho ta!

Hai người nói xong, mỗi người cầm một cái kích, xuống xe xông vào đánh quân nước Cử. Ba trăm quân giáp sĩ nước Cử chết đến một nửa. Lê Tị-công nói:

– Ta đã biết dũng lực của hai tướng quân rồi, hai tướng quân chớ nên tử chiến, ta xin cùng với hai tướng quân chia nhau nước Cử.

Hoa Chu và Kỷ Lương đồng thanh đáp rằng:

– Nếu bỏ nước mà theo giặc thì sao gọi là trung? đã phụng mệnh vua mà không hết lòng thì sao gọi là tín? tôi chỉ biết xông vào mà giết cho nhiều là chức phận làm tướng; còn cái lợi nước Cử, tôi nào dám nghĩ đến!

Hai người lại cầm kích tiến đánh. Lê Tị-công không thể đương nổi, vội vàng bỏ chạy. Đại binh của Tề Trang-công đến nơi, nghe nói Hoa Chu và Kỷ Lương thắng được quân Cử, thì sai sứ đi triệu đến mà bảo rằng:

– Ta đã biết tài của hai tướng quân rồi, hai tướng quân bất tất phải tiến đánh nữa, ta xin cùng với hai tướng quân chia nhau nước Tề.

Hoa Chu và Kỷ Lương đồng thanh đáp rằng:

– Chúa công đặt ra ngũ thặng tân mà tôi không được dự, thế là bỉ cái tài của tôi; nay lại lấy lợi mà dụ, thế là khinh cái bụng của tôi. Tôi chỉ biết xông vào mà giết cho nhiều là chức phận làm tướng; còn cái lợi nước Tề, tôi nào dám nghĩ đến!

Hai người liền chắp tay vái sứ giả rồi lại thẳng đường tiến vào cửa thành nước Cử. Lê Tị-công sai người đào sẵn một cái rãnh chặn ngang đường rồi đốt than ở dưới, lửa cháy ngùn ngụt. Hoa Chu và Kỷ Lương không thể qua được. Thấp Hầu Trọng nói:

– Người ta dám liều chết thì mới được tiếng về sau. Tôi có thể giúp hai tướng quân qua rãnh được!

Thấp Hầu Trọng bèn cắp cái một nằm đè lên trên đống than lửa để cho Hoa Chua và Kỷ Lương giẫm mà đi qua. Hoa Chu và Kỷ Lương bước qua được cái rãnh, ngoảnh lại thì thấy người Thấp Hầu Trọng đã cháy sém cả rồi! Hoa Chu và Kỷ Lương đứng nhìn mà khóc. Được một lúc, Kỷ Lương gạt nước mắt, Hoa Chu còn khóc chưa thôi. Kỷ Lương nói:

– Nhà ngươi sợ chết hay sao! làm sao mà khóc lâu như thế?

Hoa Chu nói:

– Nào có phải ta sợ chết đâu! chỉ tiếc thay cho người này cũng vũ dũng như ta, mà lại chết trước ta, nên ta thương lắm!

Lê Tị-công thấy Hoa Chu và Kỷ Lương đã qua được cái rãnh than lửa, vộivàng truyền cho quân sĩ phục sẵn ở bên cửa thành đợi khi hai người gần đến thì bắn. Hoa Chu và Kỷ Lương tiến thẳng đến cửa. Quân sĩ hai bên bắn ra như mưa. Hoa Chu và Kỷ Lương đến nơi, lại giết chết được hai mươi bảy người nữa. Quân sĩ ở trên mặt thành cùng chõ xuống mà bắn. Kỷ Lương bị thương nặng mà chết. Hoa Chu bị mấy mươi mũi tên không thể đánh được nữa, chịu cho ngươi nước Cử bắt, nhưng chưa tắt hơi. Lê Tị-công sai đem vào thành.

Tề Trang-công tiếp được tin của sứ giả, biết là Hoa Chu và Kỷ Lương có lòng quyết tử, liền dẫn đại binh tiến theo. Khi đến cửa thành nước Cử, nghe nói ba người đều chết cả, tức thì nổi giận, toan thúc quân tiến đánh. Lê Tị-công sai sứ đến tạ tội rằng:

– Chúa công tôi chỉ thấy một cái xe vào cõi, không biết là đại quốc sai đến, vậy nên trót lầm lỡ mà xâm phạm. Vả đại quốc chết có ba người mà nước tôi bị giết đã hơn trăm người rồi; ba người kia cố ý xông vào chỗ chết, chứ không phải nước tôi dám gây việc binh đao, chúa công tôi sợ uy đại quốc sai tôi đến đây tạ tội, từ nay trở đi, xin một lòng triều cống nước Tề, không dám sai lời.

Tề Trang-công còn chưa nguôi cơn giận, không thuận cho giảng hoà. Lê Tị-công lại sai sứ ra cố nài, xin đưa Hoa Chu và thi thể Kỷ Lương sang trả, lại xin đem vàng, lụa sang khao thưởng quân sĩ. Tề Trang-công còn chưa thuận cho, bỗng tiếp được tin cấp báo của Vương Tôn Huy, nói:

– Vua Tấn cùng với vua các nước Tống, Lỗ, Vệ, Trịnh hội nhau ở đất Di Nghi, để bàn mưu đánh Tề, xin mời chúa công mau mau rút quân về.

Tề Trang-công mới cho nước Cử giảng hoà. Lê Tị-công đem vàng lụa sang khao thưởng quân nước Tề, lại đưa Hoa Chu và thi thể Kỷ Lương sang trả. Còn thi thể Thấp Hầu Trọng ở trong đống lửa đã hoá ra tro rồi, không còn gì nữa. Ngay ngày hôm ấy Tề Trang-công truyền rút quân về, sai đem thi thể Kỷ Lương quàn ở ngoài cõi nước Tề. Khi về đến kinh thành gặp vợ Kỷ Lương là nàng Mạnh Khương ra đón thi thể chồng ở ngoài cõi. Tề Trang-công dừng xe, sai xứ đến viếng. Nàng Mạnh Khương nói với sứ giả rằng:

– Chồng thiếp mà có tội thì không dám nhận lời viếng của chúa công; nhược bằng vô tội thì chồng thiếp cũng còn chỗ viếng ta, thiếp không dám nhận.

Tề Trang-công có ý thẹn nói rằng:

– Đó là điều lỗi của ta!

Bèn sai người làm bài vị ở nhà Kỷ Lương mà đến viếng. Nàng Mạnh Khương rước linh cữu chồng để đem chôn ở ngoài thành, ngủ giữa trời ba đêm, ôm linh cữu mà khóc, đến nỗi hết cả nước mắt, chảy máu tươi ra. Bỗng thành nuớc Tề sụt lở mất mấy thước, người ta bảo rằng đó là vì nàng Mạnh Khương khóc lóc thảm thiết, nỗi tình thành của nàng cảm động đến trời đất như vậy.

Hoa Chu về đến nước Tề, vết đau nặng quá, chưa được bao lâu cũng chết. Vợ Hoa Chu khóc chồng cũng bội phần thảm thiết.

Năm ấy nước lên to lắm, sông Hoàng Hà đầy tràn, mặt đất nước sâu hơn thước. Tấn Bình-công lại thôi không dám đánh Tề nữa.

Quan hữu khanh nước Tề là Thôi Trữ, ghét Tề Trang-công dâm loạn, vẫn muốn đợi quân Tấn đến đánh để thừa cơ khởi sự, đã cùng với quan tả khanh là Khánh Phong thương nghị, định khi nào thành việc, sẽ chia đôi nước Tề. Sau nghe tin Tấn Bình-công vì nước lụt mà hoãn việc đánh Tề, thì Thôi Trữ rất là thất vọng. Bấy giờ Tề Trang-công có một người nội thị tên gọi Giả Thụ, vì một việc nhỏ mà bị Tề Trang-công đánh một trăm roi. Thôi Trữ biết là Giả Thụ oán giận, liền đút tiền cho, để kết làm tâm phúc, phàm Tề Trang-công làm việc gì thì Giả Thụ đều đến báo cho Thôi Trữ biết cả.

 ------------------------------------------------------

Hồi thứ 65.
Giết Tề Quang, Thôi, Khánh cướp quyền
Rước Vệ Khản, Ninh Hỷ chuyên chính

Vua nước Cử là Lê Tị-công nhân vì giảng hoà với nước Tề, năm ấy thân hành ang Lâm Tri (kinh thành nước Tề) để triều cống. Tề Trang-công mừng lắm bày tiệc ở Bắc Bỉ để thiết đãi Lê Tị-công. Phủ đệ của Thôi Trữ cũng ở Bắc Bỉ. Thôi Trữ định thừa cơ giết Tề Trang-công, mới giả cách cáo ốm, không đến dự tiệc, rồi mật sai người tâm phúc đến hỏi tin Giả Thụ. Giả Thụ mật báo rằng:

– Chúa công định tiệc xong thì đến thăm quan tướng quốc.

Thôi Trữ cười mà nói rằng:

– Chúa công có nghĩ đến bệnh của ta, ta có bệnh thì chúa công càng lợi. Chẳng quan chỉ muốn đến để làm việc vô sĩ đó thôi!

Thôi Trữ lại bảo vợ là nàng Đường Khương rằng:

– Ngày nay ta muốn trừ bỏ đứa hôn quân vô đạo ấy đi, nàng chịu theo kế ta thì ta sẽ không nói đến sự xấu của nàng nữa, ngày sau lại lập con nàng làm đích tử. Nếu nàng không theo lời nói của ta thì ta chém đầu mẹ con nàng trước.

Nàng Đường Khương nói:

– Vợ thì phải theo chồng. Phu quân bảo gì mà thiếp chẳng nghe!

Thôi Trữ sai Đường Vô Cữu phục quân ở hai bên cạnh nhà, Thôi Thành và Thôi Cương phục quân ở bên trong cửa, Đông Quách Yển phục quân ở bên ngoài cửa, hẹn nhau đến bấy giờ thì rung chuông làm hiệu; lại sai người mật báo cho Giả Thụ biết. Tề Trang-công say mê nàng Đường Khương, quên ăn quên ngủ, không lúc nào không nghĩ đến, chỉ vì Thôi Trữ phòng giữ nghiêm mật, nên không dám thường thường đi lại. Hôm ấy nghe nói Thôi Trữ cáo ốm, thì lấy làm may lắm, thần hồn vơ vẩn bay đến với nàng Đườn Khương trong khi ngự yến với Lê Tị-công, nên chỉ thù tiếp qua loa cho xong việc, rồi đi thẳng đến nhà Thôi Trữ để thăm bệnh. Người canh cửa nhà Thôi Trữ nói dối rằng:

– Quan tướng quốc tôi đau nặng quá, hiện vừa uống thuốc xong, mới đi nằm.

Tề Trang-công hỏi:

– Nằm ở chỗ nào?

Người canh cửa nói:

– Nằm ở nhà ngoài.

Tề Trang-công mừng lắm, đi thẳng vào nhà trong. Bấy giờ Châu Xước, Giả Tử, công tôn Ngao và Lũ Nhân đi theo hầu. Giả Thụ bảo rằng:

– Chúa công đến đây làm gì, hẳng các ngươi đã biết, sao không đứng cả ở bên ngoài, theo vào làm gì để kinh động quan tướng quốc.

Bọn Châu Xước khen phải, liền đứng cả ở ngoài cửa. Chỉ có Giả Cử không chịu ra ngoài mà nói rằng:

– Một mình ta ở đây thì phỏng có hại gì!

Nói xong liền đứng ở nhà giữa. Giả Thụ đóng cửa giữa, rồi đi trở vào. Người canh cửa cũng đóng cửa lớn ở ngoài mà khóa chặt lại. Tề Trang-công vào đến nội thất, nàng Đường Khương trang điểm rất lịch sự ra đón, nhưng chưa kịp nói một câu nào thì có thị tỳ chạy đến bảo:

– Quan tướng quốc kêu khô miệng, muốn uống nước ngọt.

Đường Khương nói với Tề Trang-công rằng:

– Thiếp đi lấy nước ngọt đã, rồi sẽ đến ngay.

Đường Khương theo thị tỳ rón rén qua cửa ngang mà đi. Tề Trang-công tựa bao lan đứng đợi, mãi không thấy Đường Khương ra, bỗng nghe dưới nhà có tiếng gươm giáo. Tề Trang-công ngạc nhiên nói:

– Quái lạ, ở đây lại có quân sĩ hay sao!

Nói xong liền gọi Giả Thụ, không thấy Giả Thụ thưa. Được một lúc quân sĩ hai bên đổ ra. Tề Trang-công kinh hãi, biết là có biến, vội vàng chạy ra cửa sau thì cửa sau đã đóng chặt rồi, Tề Trang-công sức khoẻ, phá cửa mà ra, trèo lên trên một cái lầu. Đường Vô Cữu đem quân giáp sĩ vây lầu, quát to lên rằng:

– Ta phụng mệnh quan tướng quốc đến bắt dâm tặc!

Tề Trang-công đứng trên lầu bảo Đường Vô Cữu rằng:

– Ta là vua nhà ngươi, nhà ngươi tha cho ta!

Đường Vô Cữu nói:

– Quan tướng quốc truyền như vậy, ta không dám trái lệnh.

Tề Trang-công nói:

– Quan tướng quốc ở đâu? ta xin thề rằng ta không làm hại gì quan tướng quốc cả!

Đường Vô Cữu nói:

– Quan tướng quốc ốm, không thể đến đây được!

Tề Trang-công nói:

– Ta biết tội của ta rồi! nhà ngươi khoan cho ta được vào nhà thái miếu tự tử để tạ tội với quan tướng quốc, phỏng có nên chăng?

Đường Vô Cữu nói:

– Chúng ta chỉ biết bắt đứa dâm tặc, chứ không biết vua là ai cả; thôi thì liệu mà tự tử ngay đi, chớ để phải chịu nhục!

Tề Trang-công bất đắc dĩ phải nhảy ra cửa sổ, trèo lên hoa đài toan leo tường để chạy. Đường Vô Cữu giương cung bắn theo, trúng ngay vào đùi bên tả. Tề Trang-công từ trên tường cao ngã lăn xuống đất. Quân giáp sĩ kéo đến, đâm chết Tề Trang-công. Đường Vô Cữu sai người rung mấy tiếng chuông làm hiệu. Bấy giờ trời đã mờ tối, Giả Cử ở nhà giữa, lắng tai nghe thấy mấy tiếng chuông, lại thấy Giả Thụ tay cầm đèn mở cửa đi ra mà nói rằng:

– Trong nhà có giặc, chúa công sai triệu nhà ngươi, nhà ngươi vào trước đi để ta còn ra báo với bọn Châu Xước.

Giả Cử nói:

– Đưa đèn cho ta!

Giả Thụ đưa đèn cho Giả Cử, giả cách buột tay để rơi xuống đất. Đèn tắt. Giả Cử cầm kiếm đi rờ mà vào. Vào đến cửa giữa, vướng dây ngã xuống đất. Thôi Cương ở bên cửa chạy ra, giết chết Giả Cử. Bọn Châu Xước ở ngoài cửa, không biết chuyện gì cả, Đông Quách Yển giả cách thân tình, mời sang một cái nhà bên thắp đèn uống rượu cho vui; lại cho cả các người theo hầu đều được ngồi vào tiệc. Đang vui chén, bỗng nghe thấy trong nhà Thôi Trữ có tiếng chuông rung. Đông Quách Yển nói:

– Chắc bây giờ chúa công ta đang uống rượu!

Châu Xước nói:

– Vậy chúa công ta không e quan tướng quốc à?

Đông Quách Yển nói:

– Quan tướng quốc ốm nặng, còn phải e gì nữa!

Được một lúc, lại nghe có tiếng chuông rung. Đông Quách Yển nói:

– Để tôi vào xem có việc gì?

Đông Quách Yển vừa đi khỏi thì quân giáp sẽ đổ ra. Bọn Châu Xước vội vàng tìm gươm thì Đông Quách Yển đã sai người lấy trộm mất từ bao giờ rồi! Châu Xước giận lắm, trông thấy trước cửa có viên đá, liền vác lấy để đánh; chẳng ngờ Lũ Nhân vừa đi đến nơi, Châu Xước đánh lầm phải, Lũ Nhân gãy một chân. Châu Xước sợ hãi bỏ chạy. Công tôn Ngao nhổ cái cọc buộc ngựa mà múa. Quân giáp sĩ nhiều người bị thương. Mọi người cầm đuốc xông vào công tôn Ngao cháy hết cả râu tóc.

Bấy giờ cừa lớn bỗng thấy mở toang, Thôi Thành và Thôi Cương lại đem quân giáp sĩ từ trong kéo ra. Công tôn Ngao giơ tay bóp gãy cánh tay của Thôi Thành. Thôi Cương cầm kích đâm chết công tôn Ngao, lại giết chết cả Lũ Nhân nữa. Châu Xước cướp được cái kich của quân giáp sĩ, quay lại để đánh. Đông Quách Yển quát to lên rằng:

– Hôn quân dâm loạn đã bị giết rồi! không can dự gì đến các ngươi cả, sao các ngươi chẳng biết lưu cái thân lại, để mà thờ vua mới?

Châu Xước ném cái kích xuống đất mà nói rằng:

– Ta là một người đi trốn, chịu ơn của vua Tề, nay đã không cứu được vua Tề, lại làm hại Lũ Nhân, chẳng qua cũng là tại trời! ta nên liều mình báo ơn vua Tề, chứ nỡ nào tham sống để mua tiếng cười ở nước Tề và nước Tấn hay sao!

Nói xong, liền đập đầu vào tường đá. Ba bốn viên đá vỡ tung ra; đầu Châu Xước cũng vỡ. Bính Sư nghe tin Tề Trang-công chết, cũng tự đâm cổ ở ngoài triều, Phong Cụ thắt cổ ở ngoài nhà. Đạc Phủ và Trương Doãn rủ nhau đến khóc Tề Trang-công, đi đến nửa đường, nghe tin bọn Giả Cử chết cả, cũng đều tự sát. Vương Hà rủ Lư Bồ Quý cùng chết, Lư Bồ Quý nói:

– Chết cũng vô ích! chi bằng ta trốn đi, rồi sau sẽ liệu, may ra có một người nào phục quốc được thì ta lại tiến dẫn cho nhau.

Vương Hà nói:

– Nếu vậy thì ta cùng thề.

Thề xong, Vương Hà bỏ trốn sang nước Cử. Lư Bồ Quý sắp đi, bảo em là Lư Bồ Miết rằng:

– Chúa công đặt ra dũng tước là cần để có người hộ giá; nay ta vì chúa công mà chết, cũng không ích gì cả. Ta đi rồi, nhà ngươi cố cầu cạnh vào làm tôi Thôi Trữ và Khánh Phong để xin cho ta về, ta sẽ nhân đó mà báo thù cho chúa công, như thế thì dẫu chết cũng không uổng.

Lư Bồ Miết nhận lời. Lư Bồ Quý liền trốn sang nước Tấn. Lư Bồ Miết xin vào làm tôi Khánh Phong. Khánh Phong dùng làm gia thần. Thân Tiên Ngu trốn sang nước Sở, sau làm quan hữu doãn ở nước Sở. Bấy giờ các quan đại phu nước Tề, nghe tin Thôi Trữ nổi loạn, đều đóng cửa đợi tin, không ai dám đến cả, chỉ có Án Anh đến thẳng tận nhà Thôi Trữ, gối đầu vào đùi Tề Trang-công mà khóc. Khi Án Anh trở ra, Đường Vô Cữu bảo Thôi Trữ rằng:

– Tất phải giết Án Anh đi thì mới tránh khỏi lời phỉ báng của mọi người!

Thôi Trữ nói:

– Án Anh vốn có tiếng là người giỏi, nếu ta giết đi thì sợ mất lòng người trong nước.

Án Anh đến bảo Trần Tu Vô (cháu tằng tôn Trần Kính Trọng) rằng:

– Sao nhà ngươi không bàn lập vua mới?

Trần Tu Vô nói:

– Thế thần nước Tề ta thì có họ Cao, họ Quốc, mà cầm quyền chính ngày nay thì có họ Thôi, họ Khánh, chứ tôi làm gì nổi!

Án Anh về, Trần Tu Vô nói:

– Loạn tặc ở trong triều, ta không nên cùng hắn đồng sự.

Nói xong, liền bỏ sang nước Tống. Án Anh lại đến nói với Cao Chỉ và Quốc Hạ. Cao Chỉ và Quốc Hạ đều nói:

– Việc ấy quyền ở họ Thôi và họ Khánh, tôi làm gì nổi!

Án Anh thở dài mà về. Khánh Phong sai con là Khánh Xá đi bắt vây cánh của Tề Trang-công, đuổi giết gần hết, rồi đem xe đón Thôi Trữ vào triều. Thôi Trữ sai người triệu họ Cao và họ Quốc đến để bàn lập vua mới. Họ Cao và họ Quốc nhường quyền cho Thôi Trữ và Khánh Phong. Khánh Pong lại nhường quyền cho Thôi Trữ. Thôi Trữ nói:

– Con vua Linh công là công tử Chử Cữu, năm nay đã lớn tuổi. Người mẹ là con gái quan đại phu nước Lỗ tên gọi Thúc Tôn Kiều Như. Lập người ấy thì nước ta có thể giao hiếu với nước Lỗ.

Triều thần đều vâng dạ xin theo. Thôi Trữ lập công tử Chử Cữu, tức là Tề Cảnh-công. Bấy giờ Tề Cảnh-công hãy còn nhỏ. Thôi Trữ tự lập làm hữu tướng, lại lập Khánh Phong làm tả tướng; cùng với triều thần thề ở nhà thái miếu rằng:

– Các ngươi, hễ ai không cùng lòng với họ Thôi và họ Khánh thì đã có mặt trời soi xét!

Thôi Trữ thề xong đến Khánh Phong, rồi đến họ Cao và họ Quốc. Đến lượt Án Anh, Án Anh ngửa mặt lên trời mà thề rằng:

– Nếu các ngươi biết tận trung với vua để làm lợi cho nước mà tôi không cùng lòng thì đã có trời sôi xét!

Thôi Trữ và Khánh Phong đều biến sắc. Cao Chỉ và Quốc Hạ nói:

– Việc hai tướng quốc làm ngày nay, chính là việc trung vua lợi nước!

Thôi Trữ và Khánh Phong mới bằng lòng. Bấy giờ vua nước Cử là Lê Tị hãy còn ở nước Tề. Thôi Trữ và Khánh Phong phụng Tề Cảnh-công hội thề với Lê Tị-công. Lê Tị-công trở về nước Cử. Thôi Trữ sai Đường Vô Cữu đem thi thể bọn Châu Xước và Tề Trang-công cùng chôn ở Bắc Quách, giảm bớt nghi lễ, không cho giáp binh đi hộ tang, nói rằng sợ lại loạn ở dưới âm phủ! Thôi Trữ truyền cho quan thái sử Bá vào chép sử là Tề Trang-công bị bệnh sốt rét mà chết. Quan thái sử Bá không nghe, chép vào thẻ rằng:

– “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”.

Thôi Trữ nổi giận, giết thái sử Bá. Thái sử Bá có ba người em là Trọng, Thúc, Quý. Trọng lại chép như trước. Thôi Trữ lại giết đi. Thúc cũng chép thế. Thôi Trữ lại giết. Quý lại chép như vậy. Thôi Trữ cầm lấy cái thẻ mà bảo Quý rằng:

– Ba anh mày đều chết cả, còn mày không sợ chết à? Nếu mày chịu chép khác đi thì ta tha chết cho.

Quý nói:

– Chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn! ngày xưa Triệu Xuyên giết Tấn Linh-công, quan thái sử là Đổng Hổ cho rằng Triệu Thuẫn là chính khanh mà không biết trị tội qân giặc, bèn chép rằng: “Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao” thế mà Triệu Thuẫn không lấy làm quái. Thế thì biết chức phận của người làm sử không thể bỏ được! nếu tôi không chép, trong thiên hạ tất cũng có người khác chép! tôi không chép cũng không có thể che được sự xấu của quan tướng quốc, mà lại để cho thức giả chê cười, nên tôi liều chết mà chép, xin tướng quốc cứ tuỳ ý định đọat!

Thôi Trữ thở dài mà nói rằng:

– Ta sợ nước nhà nghiêng đổ, bất đắc dĩ mà phải làm việc này! nhà ngươi dẫu chép thẳng, thiên hạ cũng xét tấm lòng cho ta!

Nói xong, liền ném cái thẻ đưa trả Quý. Quý cầm cái thẻ đi ra, sắp đến cửa sử quán, lại gặp Nam Sử Thị, Quý hỏi đi đâu, Nam Sử Thị nói:

– Ta nghe nói anh em nhà ngươi đều chết cả, sợ bỏ mất cái việc ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ mới rồi, vậy nên ta cầm thẻ đến để chép.

Quý đưa cái thẻ của mình chép cho Nam Sử Thị xem. Nam Sử Thị mới cáo từ mà về.

Thôi Trữ lấy việc thái sử Quý chép thẻ làm xấy hổ, mới đổ tội cho Giả Thụ mà giết đi.

Cũng trong tháng ấy, Tấn Bình-công thấy nước sông đã rút xuống, lại họp chư hầu ở Di Nghi, để bàn mưu đánh Tề. Thôi Trữ sai quan tả tướng là Khánh Phong đem việc Tề Trang-công bị giết mà cáo với quân Tấn và nói rằng:

– Triều thần chúng tôi sợ đại quốc hỏi tội thì nguy cho xã tắc chúng tôi, cho nên đã thay đại quốc mà trừ kẻ có tội và đã lập vua mới là Chử Cữu. Từ nay xin một lòng thần phục đại quốc. Khi trước đại quốc đã chiếm đất Triều Ca thì xin đem đất ấy dâng đại quốc, ngoài ra còn có những tế khí và nhạc khí cũng xin đại quốc thu nạp cho.

Lại đem lễ vật biếu các vua chư hầu nữa. Tấn Bình-công bằng lòng, rút quân về nước. Các vua chư hầu cũng đều về cả. Từ bấy giờ Tề và Tấn lại giảng hoà với nhau. Thực Xước ở nước Vệ, nghe nói Châu Xước và Hình Khoái đều chết cả, lại trở về nước Tề. Khi Vệ Hiến-công (Hãn) trống sang nước Tề, vốn biét Thực Xước là người vũ dũng, bèn sai công tôn Đinh đem lễ vật đến triệu. Thực Xước lại theo Vệ Hiến-công.

Năm ấy vua nước Ngô là Chư Phàn sang đánh Sở đi qua nước Sào, đem quân đánh cửa thành. Tướng nước Sào là Ngưu Thần đứng nấp ở bên cái tường thấp bắn chết Chư Phàn. Triều thần nước Ngô theo lời dặn của Thọ Mộng khi gần chết, mới lập em Chư Phàn là Dư Sái lên làm vua. Dư Sái nói:

– Anh ta không phải vì đất Sào mà chết, chẳng qua theo lời dặn của tiên vương (tro Thọ Mộng) mà cố ý liều chết, để ngôi chóng truyền đến Qui Trát (em Dư Sái) đó mà thôi!

Từ bấy giờ Dư Sái đêm nào cũng khấn trời để cầu cho mình chóng chết. Các quan đều nói:

– Người ta ai cũng muốn thọ, nay đại vương lại muốn mình chóng chết, chẳng cũng trái nhân tình lắm sao?

Dư Sái nói:

– Vua Thái vương ta ngày xưa bỏ con lớn lập con nhỏ, mới nên được đại nghiệp, nay anh em ta bốn người, cứ theo thứ tự mà truyền ngôi cho nhau, nếu ai cũng thọ cả thì Quý Trát già mất! bởi vậy ta phải cầu cho chóng chết.

Lại nói chuyện quan đại phu nước Vệ là Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực đã đuổi Vệ Hiến-công (Hãn), mới lập em Vệ Hiến-công lên làm vua (tức là Vệ Thương-công). Sau Ninh Thực ốmg nặng, bảo con là Ninh Hy rằng:

– Họ Ninh ta, mấy đời nay vẫn một lòng trung quân. Việc đuổi vua này là tự họ Tôn cả, chứ ta không có ý gì, thế mà người trong nước đều bảo là họ Tôn và họ Ninh đuổi vua, ta không thể nào giải tỏ ra được, còn mặt mũi nào mà trông thấy tổ phụ ở dưới đất! con làm thế nào mà đem được vua cũ về để chuộc lỗi cho ta, thế mới là hiếu tử; nếu không thì dẫu con có cúng tế, cha cũng không hưởng đâu!

Ninh Hy sụp lạy, vừa khóc vừa nói:

– Con xin cố gắng!

Ninh Hy nối cha làm chức tả tướng, từ bấy giờ có chí muốn đem Vệ Hiến-công về, ngặt vì Thương Công vẫn đi dự hội với các vua chư hầu, trong nước không có biến cố gì cả; quan thượng khanh là Tôn Lâm Phủ lại là cừu địch với Vệ Hiến-công, bởi vậy không thể làm thế nào được. Năm thứ 24 đời Chu Linh-vương, Vệ Hiến-công chiếm được đất Di Nghi, mới sai công tôn Đinh lẻn vào thành Đế Khâu bảo Ninh Hy rằng:

– Nhà ngươi biết đổi lại cái ý của cha mà giúp cho ta về nước thì quyền chính nước Vệ, ta giao hết cho nhà ngươi, ta chỉ giữ một việc cúng tế mà thôi.

Ninh Hy vẫn nhớ lời cha dặn, nay lại thấy Vệ Hiến-công nói giao hết quyền chính cho, thì lấy làm mừng lắm, nhưng nghĩ thầm rằng: bây giờ vua Vệ đang mong về nước, cho nên dỗ ngọt ta, đến khi về rồi, lại sinh lòng khác, bấy giờ biết làm thế nào? nay có công tử Chuyên là người hiền mà thủ tín, nếu hắn nhận cho một lời thì sau này mới không thể sai được. Nghĩ xong liền viết một tờ mật thư đưa lại cho Vệ Hiến-công, đại lược nói rằng:

– “Đó là việc lớn nước nhà, một mình tôi không thể làm nổi. Người trong nước ngày nay ai cũng có lòng tin lời Tử Tiên (tên tự công tử Chuyên), nếu được công tử nhận cho một lời thì mới có thể bàn định được”.

Vệ Hiến-công bảo công tử Chuyên rằng:

– Ta có phục quốc được là nhờ tay Ninh Hy, vậy em nên gắng đi cho ta một chuyến.

Công tử Chuyên tuy nhận lời, nhưng vẫn nấn ná không chịu đi. Vệ Hiến-công cố giục mãi. Công tử Chuyên nói:

– Thiên hạ có vua nào lại không nắm quyền chính! chúa công bảo rằng giao hết quyền chính cho Ninh Hy, tôi chắc sau này không giữ lời được, chẳng khiến cho tôi thất tín với Ninh Hy lắm sao! bởi vậy tôi không dám vâng lệnh.

Vệ Hiến-công nói:

– Nay ta nương náu ở đây thì lấy đâu làm quyền chính! nếu ta giữ được việc cúng tế tiền nhân, thì cũng là mãn nguyện rồi, khi nào lại dám sai lời để lụy đến em.

Công tử Chuyên nói:

– Chúa công đã nhất quyết thì tôi nào dám từ chối để hỏng việc của chúa công.

Nói xong, liền lẻn sang Đế Khâu, vào yết kiến Ninh Hy, lại thuật cái ước của Vệ Hiến-công. Ninh Hy nói:

– Nếu công tử nhận lời cho thì tôi xin hết sức!

Công tử Chuyên ngửa mặt lên trời mà thề rằng:

– Nếu tôi trái lời thì không được ăn thóc của nước Vệ!

Ninh Hy nói:

– Lời thề của công tử vững như núi Thái Sơn!

Công tử Chuyên về, thuật lại cho Vệ Hiến-công nghe, Ninh Hy đem lời dặn của cha nói với Cử Viên. Cử Viên bưng tai mà chạy, vừa chạy vừa nói:

– Tôi đã không dự đến việc vua đi, có đâu dám biết đến việc vua về!

Cử Viên liền bỏ nước Vệ sang ở nước Lỗ. Ninh Hy lại đem chuyện nói với quan đại phu là Thạch Ác (con Thạch Giả, cháu Thạch Tắc) và Bắc Cung Di (con Bắc Cung Quát). Thạch Ác và Bắc Cung Di đều tán thành. Ninh Hy lại đem chuyện nói với Hữu Tề Cốc.

Hữu Tề Cốc gạt đi mà bảo rằng:

– Không nên! lập vua mới đã mười một năm rồi, vua mới chưa có điều gì thất đức, nay định đem vua cũ về, tất phải bỏ vua mới. Nếu vậy thì cha con nhà ngươi, hai đời đều có tội cả, thiên hạ còn ai tha được nữa!

Ninh Hy nói:

– Ta chịu lời dặn của tiền nhân ta, không thể không làm việc này được.

Hữu Tề Cốc nói:

– Ta thử đi yết kiến vua cũ, xem đức tính có hơn ngày xưa không, rồi mới có thể bàn được.

Ninh Hy khen phải. Hữu Tề Cốc bèn lẻn sang Di Nghi, xin vào yết kiến Vệ Hiến-công, Vệ Hiến-công đang rửa chân, nghe tin Hữu Tề Cốc đến, không kịp xỏ giày, đi chân đất mà ra, hớn hở bảo Hữu Tề Cốc rằng:

– Nhà ngươi từ chỗ quan tả tướng (trỏ Ninh Hy) mà đến đây, tất có tin hay.

Hữu Tề Cốc nói:

– Tôi tiện đường sang thẳng đây, quan tả tướng không biết.

Vệ Hiến-công nói:

– Nhà ngươi chỉ có việc nói giúp cho ta với quan tả tướng rằng nên mau mau làm xong việc lớn ấy đi. Quan tả tướng dẫu không muốn đem ta về, nhưng há lại không muốn được cầm quyền chính nước Vệ hay sao?

Hữu Tề Cốc nói:

– Làm vua chỉ thích vì có quyền chính trong tay, nếu không có quyền chính thì làm vua làm gì?

Vệ Hiến-công nói:

– Không phải thế! làm vua chỉ cốt được cái danh hiệu tôn Quý, ăn ngon mặc tốt, lên xe xuống ngựa, cửa cao nhà rộng, của lắm tiền nhiều, vào trong thì vui thú với đám phi tần, ra ngòai thì dong chơi về sự săn bắn, cứ gì phải có cầm quyền chính, mới là sướng hay sao!

Hữu Tề Cốc nín lặng mà lui ra, lại vào yết kíên công tử Chuyên, và thuật những lời nói của Vệ Hiến-công cho công tử Chuyên nghe. Công tử Chuyên nói:

– Bởi chúa công lưu lại lâu ngày, mong được về nước, cho nên nói như vậy! chứ làm vua thì cốt phải kính lễ đại thần, thu dụng hiền tài, làm việc gì phải có lòng nhân, nói câu gì phải giữ chữ tín, như vậy thì mới giữ được cái danh hiệu tôn Quý. Chúa công còn lại gì mà không biết điều ấy!

Hữu Tề Cốc bảo Ninh Hy rằng:

– Ta vào yết kiến chúa công, nghe câu nói thêm bẩn cả tai! chúa công vẫn giữ thói cũ.

Ninh Hy nói:

– Thế nhà ngươi có vào yết kiến công tử Chuyên hay không?

Hữu Tề Cốc nói:

– Công tử Chuyên nói phải lắm nhưng chắc chúa công không theo được!

Ninh Hy nói:

– Ta trông cậy vào công tử Chuyên, và lại ta vâng lời dặn của cha ta thuở xưa, thế nào ta cũng phải giúp!

Hữu Tề Cốc nói:

– Có muốn khởi sự cũng còn phải chờ cơ hội đã.

Bấy giờ Tôn Lâm Phủ đã già, cùng với con trưởng là Tôn Khoái về ở Thích Ấp; mà để cho con thứ là Tôn Gia và Tôn Tương ở trong triều. Tôn Gia phụng mệnh Vệ Thương-công sang sứ nước Tề, chỉ có một mình Tôn Tương ở nhà. Nhân bấy giờ Vệ Hiến-công lại sai công tôn Đinh đến giục Ninh Hy khởi sự, Hữu Tề Cốc mới bảo Ninh Hy rằng:

– Nhà ngươi muốn khởi sự, nên nhân dịp này! ta bắt được Tôn Tương thì xong việc!

Ninh Hy khen phải, liền sai Hữu Tề Cốc và công tôn Đinh đem quân đến bắt Tôn Tương. Phủ đệ của họ Tôn kiên cố lắm, không kém gì cung vua, có gia giáp một nghìn người, lại có hai viên gia tướng là Ung Thư và Chử Đái thay nhau đi tuần phòng. Hôm ấy, Chử Đái đang đi tuần, trông thấy Hữu Tề Cốc đem quân đến, vội vàng đóng cửa, trèo lên trên lầu đứng hỏi. Hữu Tề Cốc nói:

– Ta có việc cần muốn thương nghị với Tôn tướng quân.

Chử Đái nói:

– Muốn thương nghị, sao lại đem quân đến?

Nói xong, toan giương cung ra bắn. Hữu Tề Cốc vội vàng lui lại, rồi thúc quân phá cửa. Tôn Tương cũng thân hành đứng ở trên cửa để đốc quân chống giữ. Chử Đái truyền cho quân sĩ giương cung chõ ra cửa sổ mà bắn, có mấy người chết.

Ung Thư nghe nói có giặc, cũng đem quân đến tiếp ứng.

Hữu Tề Cốc biết chừng không đánh nổi, bèn rút quân trở về. Tôn Tương thúc quân đuổi theo. Khi đến nơi, Tôn Tương cầm cái câu liêm móc vào xe Hữu Tề Cốc mà lôi lại. Hữu Tề Cốc kêu to, bảo công tôn Đinh bắn mau. Công tôn Đinh trông thấy Tôn Tương, liền giương cung ra, bắn trúng vào ngực. Ung Thư và Chử Đái vội vàng đến cứu đem về. Hữu Tề Cốc về nói với Ninh Hy rằng:

– Nhà họ Tôn khó đánh lắm. Nếu không nhờ về thần tiễn của công tôn Đinh bắn trúng Tôn Tương thì hắn còn đuổi theo ta mãi.

Ninh Hy nói:

– Lần thứ nhất mà đã không đánh được hắn thì lần sau càn khó đánh nữa! nhưng đã bắn trúng được Tôn Tương thì quân sĩ tất nhiên rối loạn, đêm hôm nay ta lẻn đến mà đánh, nếu không Thành-công, thì phải tức khắc trốn đi, để tránh tai vạ. Ta cùng họ Tôn quyết không thể cùng sống đựơc.

Nói xong, liền một mặt sắp sửa đồ đạc, cho vợ con ra ngoài cõi trước, vì sợ thua quân, thóat thân không kịp; lại một mặt sai người đi do thám tin tức nhà họ Tôn. Quân thám tử về bảo rằng:

– Trong nhà họ Tôn, có tiếng kêu khóc. Kẻ ra người vào coi bộ bối rối lắm.

Ninh Hy nói:

– Đó tất là Tôn Tương bị thương nặng đã chết rồi!

Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy Bắc Cung Di đến, nói Tôn Tương đã chết, nên đánh ngay mới được. Canh ba đêm hôm ấy, Ninh Hy cùng với Bắc Cung Di, Hữu Tề Cốc và công tôn Đinh đem quân đến nhà họ Tôn. Ung Thư và Chử Đái đang ôm lấy thi thể Tôn Tương mà khóc, nghe báo có quân họ Ninh đến liền mặc áo giáp lên ngựa, thì quân họ Ninh đã phá vỡ lần cửa ngoài. Bọn Ung Thư vội vàng đóng cửa giữ lại, nhưng quân sĩ bỏ chạy tán loạn cả, không có người chống giữ, cũng bị quân họ Ninh phá vỡ. Ung Thư trèo qua tường sau mà trốn, chạy sang Thích Ấp. Chử Đái chết trong đám loạn quân.

Bấy giờ trời đã sáng rõ. Ninh Hy chém lấy đầu Tôn Tương, đem vào yết kiến Vệ Thương-công mà nói rằng:

– Họ Tôn chuyên quyền đã lâu, vẫn có ý phản nghịch, tôi đã đem quân đến đánh chém được đầu Tôn Tương đây rồi.

Vệ Thương-công nói:

– Họ Tôn phản nghịch, sao nhà ngươi không nói trước với ta? Nhà ngươi đã chẳng coi ta ra gì thì còn đến yết kiến ta làm gì nữa!

Ninh Hy đứng dậy, rút gươm mà nói rằng:

– Chúa công là bởi họ Tôn lập lên, không phải là do phụng mệnh tiên quân, nay dân nước Vệ đều có lòng nhớ vua cũ, xin chúa công nhường ngôi lại, để nên được cái đức Nghiêu Thuấn.

Vệ Thương-công nổi giận nói:

– Nhà ngươi tự tiện giết kẻ thế thần, toan sự bỏ vua, chính là người bề tôi phản nghịch! ta lên làm vua đã mười ba năm trời nay, thà chết thì thôi chứ không chịu nhục!

Vệ Thương-công tức thì cầm giáo đuổi theo Ninh Hy. Ninh Hy lui ra ngoài công môn. Vệ Thương-công trông thấy quân họ Ninh đã đứng đầy cả ở ngoài cửa, mới lùi trở lại. Ninh Hy hô quân xông lên bát Vệ Thương-công. Thế tử Dốc tiến ra ngăn quân sĩ bị công tôn Đinh giết chết. Quân sĩ của Ninh Hy bắt Vệ Thương-công giam lại, sau đó buộc Thương công uống thuốc độc chết.

Vệ Hiến-công về thành Đế Khâu cho Ninh Hy làm tướng quốc; bọn công tôn Đinh, công tử Chuyên, Bắc Cung Di, Tề Ác, Thạch Ác, công tôn Miễn Dư, Hữu Tề Cốc, Cử Viên đều được phong quan tước cả.

Riêng Thái Thúc Nghi là con Thành-công, cháu Văn-công không đến gặp Vệ Hiến-công và không chịu nhận quan tước Hiến công phải sai người thuyết phục mãi Thái Thúc Nghi mới nghe lệnh.

Tôn Gia đi sứ ở Tề về nghe tin có biến liền không về Đế Khâu mà đến với Tôn Lâm Phủ ở Thích Ấp. Tôn Lâm Phủ, Ung Thư, Tôn Gia biết không chống nổi Vệ Hiến-công liền sai người sang Tấn xin thần phục Tấn và xin Tấn đem quân đánh Vệ. Vua Tấn chỉ cho ba trăm quân sang Vệ. Ninh Hy sai tướng đem quân vây chặt ba trăm quân Tấn. Tôn Lâm Phủ bàn với Tôn Gia và Ung Thư:

– Chỉ có ba trăm quân Tấn thì làm sao chống được quân Vệ, chi bằng cứ để Ninh Hy giết hết đám quân Tấn này, Tấn Bình-công sẽ căm giận mà mang đại quân diệt Vệ.

Thế là Tôn Lâm Phủ không cho người tiếp cứu quân Tấn và ba trăm quân Tấn bị tiêu diệt hoàn toàn.

-----------------


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét