Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

Đông Chu liệt quốc (Hồi thứ 26 - 30)

Hồi thứ 26.
Bách Lý Hề nhận được vợ cũ
Tần Mục-công nhận thấy điềm lành

Tần Mục-công biết tài Bách Lý Hề, muốn phong làm chức thượng khanh. Bách Lý Hề nói:

- Tôi có một người bạn tên là Kiển Thúc, tài gấp mười tôi, nay chúa công muốn sửa sang chính trị thì nên dùng Kiển Thúc mà cho tôi giúp vào. Tần Mục-công nói:

- Cái tài của nhà ngươi thì ta đã biết rõ rồi, nhưng ta chưa biết Kiển Thúc là người thế nào?

Bách Lý Hề nói:

- Kiển Thúc là người hiền, chẳng những chúa công chưa biết, mà người nước Tề và nước Tống cũng chưa ai biết cả, duy chỉ có một mình tôi biết mà thôi. Nguyên khi trước tôi định theo công tử Vô Tri nước Tề, Kiển Thúc can tôi không nên, tôi liền bỏ nước Tề mà thoát được cái tai vạ Vô Tri. Sau tôi định theo vương tử Đồi nhà Chu, Kiển Thúc cũng can tôi không nên, tôi lại bỏ nhà Chu mà thoát được cái nạn vương tử Đồi. Sau tôi theo vua nước Ngu, Kiển Thúc là can tôi không nên, nhưng bấy giờ tôi nghèo khổ quá, phải liều mà ra làm quan, thành ra bị người nước Tấn bắt. Hai lần trước, tôi theo lời Kiển Thúc thì thoát khỏi tai vạ, mà một lần sau tôi không theo lời Kiển Thúc thì suýt nữa đến nỗi hại thân. Xem thế thì biết tài trí của Kiển Thúc hơn người nhiều lắm. Bây giờ Kiển Thúc ẩn thân ở làng Minh Lộc nước Tống, xin chúa công cho người đi triệu ngay về.

Tần Mục-công mới sai công tử Chí giả làm người đi buôn, đem lễ vật sang nước Tống để đón Kiển Thúc. Bách Lý Hễ lại viết riêng một bức thư gửi sang. Công tử Chí đi đến làng Minh Lộc, gặp mấy người nông phu ngồi nghỉ ở trên bờ ruộng, cùng nhau gõ nhịp mà hát.

Hát rằng:

Núi trèo không thang hề.... đá mọc lủng củng
Đường đi không đuốc hề.... bùn lầy sùng sục
Cùng ngồi ở trên bờ ruộng hề.... kìa kìa suối ngọt mà đất nục
Chúng ta chân lấm tay bùn hề.... chăm chỉ về sự trồng thóc
Trời cho không mất mùa hề.... miếng ăn được sung túc
Hưởng trọn tuổi trời hề.... chẳng vinh mà cũng chẳng nhục

Công tử Chí ngồi trên xem, nghe thấy bài hát có ý ung dung tự thích, không theo thói đời, mới bảo người đánh xe rằng:

Người ta thường nói: “Làng nào có người quân tử ở thì đổi được những phong tục dở”. Nay ta tới làng Kiển Thúc ở, thấy người cày ruộng cũng có tư cách cao thượng, thì chắc rằng Kiển Thúc là một bậc đại hiền.

Nói xong, liến xuống xe hỏi thăm mấy người cày ruộng rằng:

- Nhà Kiển Thúc ở chỗ nào?

Người cày ruộng nói:

- Nhà ngươi hỏi làm gì?

Công tử Chí nói:

- Có người bạn cũ của Kiển Thúc là Bách Lý hề gởi ta một phong thư đưa cho Kiển Thúc.

Người cày ruộng trỏ mà bảo rằng:

- Đi lên một quãng nữa, có cái rừng trúc, bên tả có suối, bên hữu có đá, ở giữa có một mái nhà tranh, tức là nhà Kiển Thúc đó.

Công tử Chí chắp tay vái chào, rồi lại lên xe đi nửa dặm nữa, đến cái nhà tranh ấy, đỗ xe ở ngoài, sai người gõ cửa gọi. Có một đứa trẻ con mở cửa ra mà hỏi rằng:

- Quý khách đi đâu thế?

Công tử Chí nói:

- Tôi đến thăm Kiển Thúc tiên sinh.

Đứa trẻ nói:

- Thầy tôi đi vắng.

Công tử Chí nói:

- Tiên sinh đi chơi đâu?

Đứa trẻ nói:

- Thầy tôi cùng với hai ông cụ bên láng giềng đi xem suối Thạch-hương, độ lát nữa thì về.

Công tử Chí không dám vào trong nhà vội, ngồi ở trẽn viên đá để đợi. Đứa trẻ con lại khép cửa, trở vào trong nhà. Được một lúc, có một người to lớn, mắt tròn mày rậm, mặt vuông, mình đài, lưng vác hai chiếc chân hươu, từ đường phía tây đi về. Công tử Chí trông thấy người ấy hình dáng khác thường, liền đứng dậy đón chào. Người ấy bỏ cái chân hươu xuống đất cùng với công tử Chí đáp lễ. Công tử Chí hỏi đến họ tên. Người ấy đáp rằng:

- Tôi tên gọi Kiển Bính, tự là Bạch Ất.

Công tử Chí nói:

- Ông cùng với Kiển Thúc là người thế nào?

Kiển Bính nói:

- Ấy là thân phụ tôi đấy.

Công tử Chí lại thi lễ mà nói rằng:

- Tôi được nghe tiếng đã lâu.

Kiển Bính nói:

- Ngài là người ở đâu? Đến đây có việc gì?

Công tử Chí nói:

- Có người bạn cũ của cụ nhà tên là Bách Lý Hễ, nay làm quan ở nước Tần, gửi tôi bức thư đưa sang đây.

Kiển Bính nói:

- Xin mời ngài vào ngồi chơi tạm trong nhà, thân phụ tôi cũng sắp về bây giờ.

Nói xong, liền đẩy hai cánh cửa, nhường công tử Chí vào trước, rồi lại vác cái chân hươu vào sau, đưa cho đứa trẻ con cất đi. Kiển Bính mời công tử Chí ngồi cùng nhau bàn những việc cày ruộng trồng dâu, lại nói đến võ nghệ nữa. Kiển Bính nói đâu ra đấy, rất có mạch lạc. Công tử Chí khen thầm trong bụng rằng:

- Cha có hiền thì con mới được như thế, Bách Lý Hề tiến dẫn thật đã không sai.

Uống trà xong, Kiển Bính sai đứa trẻ con ra cửa để đứng đón Kiển Thúc. Được một lúc, đứa nhỏ chạy vào báo rằng:

- Ông đã về.

Bấy giờ Kiển Thúc cùng với hai ông cụ bên láng giềng về đến ngoài cửa, trông thấy có xe đỗ, ngạc nhiên mà nói rằng:

- Người làng ta làm gì có cái xe này?

Kiển Bính ở trong nhà chạy ra thuật lại chuyện công tử Chí. Kiển Thúc cùng hai ông cụ bên láng giềng cùng vào, chào hỏi công tử Chí, rồi mời nhau ngồi. Kiển Thúc nói:

- Mới rồi tiện nhi nói em tôi là Bách Lý Hề có gửi một bức thư, xin ngài cho xem.

Công tử Chí mới đưa trình bức thư của Bách Lý Hề. Kiển Thúc mở ra đọc, trong thư đại lược nói rằng:

- Em là Bách Lý Hề này không biết theo lời anh dặn, suýt nữa thì mắc nạn ở nước Ngu, may mà vua nước Tấn muốn dùng người hiền, chuộc em ở trong bọn chăn trâu chăn ngựa, đem về giao cho quyền chính, nhưng em tự lượng sức hèn tài mọn, một mình không làm nổi, muốn nhờ anh giúp vào. Vua nước Tấn cũng mến tiếng anh lắm, vậy có sai công tử Chi đem lễ vật sang đón, xin anh nhận lời cho. Nếu anh còn quyến luyến chốn sơn lâm mà không nỡ rời thì em cũng xin bỏ nước Tấn mà theo anh sang ớ đất Minh Lộc vậy.

Kiển Thúc nói:

- Tại sao nước Tần lại biết đến Bách Lý Hề?

Công tử Chí bèn đem chuyện Bách Lý Hề thuật hết cả lại một lượt rồi nói với Kiển Thúc rằng:

- Chúa công tôi phong Bách Lý Hề làm chức thượng khanh, nhưng Bách Lý Hề tiến dẫn tiên sinh, muốn mời tiên sinh sang giúp cho thì mới dám nhận chức, vậy chúa công tôi sai tôi đem lễ vật sang đây để mời tiên sinh.

Nói xong, hền sai người ra mở thùng xe đem các đồ lễ vật vào, bày la liệt ở trong nhà. Hai ông cụ bên láng giềng vốn là nông phu, xưa nay chưa được trông thấy những lễ vật ấy bao giờ, nhìn nhau lấy làm kinh dị, bảo công tử Chí rằng:

- Có quý nhân đến đây mà chúng tôi không biết, xin ngài tha lỗi cho.

Công tử Chí nói:

- Các cụ dạy quá lời! Chúa công tôi mong đợì Kiển Thúc tiên sinh đây khác nào như lúa khô mong mưa, nhờ hai cụ nói hộ cho một lời thì chúng tôi lấy làm cám ơn lắm.

Hai ông cụ bên láng giềng bèn bảo Kiển Thúc rằng:

- Vua nước Tần đã biết trọng người hiền như thế thì ông cũng không nên để cho quý nhân phải về không.

Kiển Thúc nói:

- Ngày trước vua nước Ngu không dùng Bách Lý Hề, đến nỗi mất nước. Nay vua nước Tần đã biết trọng người hiền tài mà dùng Bách Lý Hễ thì một mình Bách Lý Hề cũng đă đủ rồi. Lão phu đây đã lâu nay không nghĩ gì đến việc đời nữa, xin tha cho lão phu. Các đồ lễ vật này, lão phu xin nộp lại, nhờ ngài nói hộ với vua nước Tần cho.

Công tử Chí nói:

- Nếu tiên sinh không đi thì Bách Lý Hề tất cũng không chịu nhận chức.

Kiển Thúc ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thở dài mà than rằng:

- Bách Lý Hề là người có tài mà lâu nay chưa được gặp minh chủ, âu là ta cũng phải giúp Bách Lý Hề mà đi một phen mới được. Nhưng chẳng bao lâu rồi ta cũng sẽ lại về đây cày ruộng mà thôi! Đứa trẻ con vào nói với Kiển Thúc rằng:

- Chân hươu nấu đã chín rồi! Kiển Thúc sai vào đầu giường lấy chai rượu mới cất, đem ra để thết khách. Kiển Thúc mời công tử Chí và hai ông cụ bên láng giềng cùng uống rượu, đũa tre, chén đất, chủ khách cùng nhau thù tạc, đều no say vui vẻ cả.

Trời đã gần tối, Kiển Thúc mời công tử Chí nghỉ lại ở trong nhà tranh. Sáng hôm sau, hai cụ bên láng giềng lại mời một tiệc rượu để tiễn chân. Trong khi uống rượu, công tử Chí khen tài Kiển Bính, cũng ngỏ ý mời sang Tần một thể.

Kiển Thúc vâng lời, rồi đem các thứ lễ vật chia cho hai ông cụ bên láng giềng, nhờ trông nom hộ nhà cửa, lại dặn dò người nhà phải chăm chỉ công việc ruộng nương, không được trễ biếng.

Kiển Thúc từ giã hai ông cụ bên láng giềng rồi cùng với Kiển Bính và công tử Chí lên xe thẳng đường sang nước Tần. Khi gần đến địa giới nước Tần, công tử Chí về trước, vào yết kiến Tần Mục-công, nói rằng:

- Kiển Thúc đã đến, và con trai là Kiển Bính cũng là người có tài, tôi mời cả về để chúa công dùng.

Tần Mục-công mừng lắm, liền sai Bách Lý Hề đi đón. Khi Kiển Thúc vào Tần-Mục-công xuống thềm nghênh tiếp, mời ngồi mà hỏi rằng:

- Bách Lý Hề thường nói tiên sinh là một người hiền tài, xin tiên sinh chỉ bảo cho.

Kiển Thúc nói:

- Nước Tần ta ở cõi Tây này, tiếp giáp với các nước Nhung Địch, đất hiểm quân mạnh, mà không được bằng các nước Trung quốc, là chỉ vì không có uy đức đó mà thôi. Không có uy thì sao cho người ta sợ, không có đức thì sao cho người ta mến, người ta không sợ, không mến thì làm bá chủ thế nào được?

Tần Mục-công nói:

- Uy và đức, hai điều ấy điều nào nên làm trước?

Kiển Thúc nói:

- Nên lấy đức làm gốc, lại có uy để giúp vào. Nếu có đức, mà không có uy thì sao giữ được nước, có uy mà không có đức thì sao yên được dân.

Tần Mục-công nói:

- Ta muốn sửa đức mà lập uy thì nên làm thế nào?

Kiển Thúc thưa:

- Dân nước Tần ta tập nhiễm phong tục rợ mọi, không biết lễ nghĩa, nay muốn cho dân biết tôn kính người trên thì tất phải có giáo hóa và có hình phạt. Có giáo hóa thì dân biết ơn, có hình phạt thì dân biết sợ, bấy giờ kẻ trên người dưới, khác nào như thân thể trong một người. Quản Di Ngô giúp nước Tề mà sai khiến được thiên hạ, cũng vì lẽ ấy.

Tần Mục-công nói:

- Cứ làm theo như lời nói của tiên sinh, có thể làm bá chủ thiên hạ được không?

Kiển Thúc nói:

- Thế cũng chưa đủ. Muốn làm bá chủ thiên hạ thì có ba điều nên kiêng: chớ có tham lam, chớ có tức giận, chớ có vội vàng. Tham lam thì nhiều đường lầm lỗi, tức giận thì nhiều sự khó khăn, vội vàng thì nhiều việc vấp váp. Chúa công biết kiêng ba điều ấy thì có thể làm nên nghiệp bá chủ.

Tần Mục-công khen phải, rồi nói với Kiển Thúc rằng:

- Tiên sinh thử nghĩ xem công việc ngày nay điều gì là cấp thiết hơn cả?

Kiển Thúc nói:

- Tề hầu già yếu, nghiệp bá chủ mỗi ngày một suy kém, chúa công nên thu phục lấy các nước Nhung Địch ở về cõi Tây này, khi đã thu phục được rồi, bấy giờ sẽ tìm cách mà tiến vào Trung Quốc, dùng sự ân nghĩa mà chữa những điều khuyết điểm của Tề-hầu, như thế thì còn ai tranh được ngôi bá chủ nữa!

Tần Mục-công bằng lòng mà nói rằng:

- Tiên sinh và Bách Lý Hề thật là bậc tôn trưởng của thứ dân trong thiên hạ.

Nói xong liền phong Kiển Thúc làm hữu thứ trưởng, Bách Lý Hề làm tả thứ trưởng, cùng lâm chức thượng khanh, gọi là hai quan tể tướng. Lại cho Kiển Bính làm quan đại phu.

Từ bấy giờ nước Tần mỗi ngày một cường thịnh.

Tần Mục-công nghe đồn nước nào có người hiền tài cũng sai người đi tìm. Công tử Chí tiến ngườì nước Tần là Tây Khuất Thuật, Tần Mục-công cũng triệu đến để dùng. Bách Lý Hề nghe đồn Do Dư nước Tấn là người có tài, mới hỏi thăm Công Tôn Chi.

Công Tôn Chi nói:

- Do Dư ở nước Tấn mãi không có ai dùng, nay đã làm quan ở nước Tây Nhung rồi! Bách Lý Hề có ý tiếc lắm.

Lại nói chuyện vợ Bách Lý Hề là Ðỗ-thị, từ khi Bách Lý Hề đi vắng, vẫn làm thuê làm mướn để kiếm ăn, sau nghèo khổ quá, không lấy gì cho đủ được, mới đem con đi lưu lạc sang nước Tần, làm nghề đi giặt thuê. Con trai Bách Lý Hề tên là Thị, tên tự là Mạnh Minh, chỉ quen tính lêu lổng, theo người ta đi săn bắn, chẳng chịu làm ăn gì cả, Ðỗ-thị thường khuyên bảo mà Mạnh Minh cũng không nghe.

Đến lúc Bách Lý Hề làm tể tướng nước Tần, Ðỗ-thị đã nghe tiếng, lại hai ba lần trông thấy ngồi xe đi qua mà không dám nhận. Bấy giờ trong dinh Bách Lý Hề cần đến người giặt thuê, Ðỗ-thị tình nguyện xin vào giặt, làm lụng rất chăm chỉ, người nhà đều có lòng yêu nhưng vẫn chưa lần nào được giáp mặt Bách Lý Hề. Một hôm, Bách Lý Hề ngồi ở nhà trên, các phường nhạc gẩy đàn thổi sáo ở dưới thềm, Ðỗ-thị bèn nói với người nhà rằng:

- Tôi cũng có biết âm nhạc, xin cho tôi đến dưới thềm nghe một vài bài đàn.

Ngườì nhà đưa Ðỗ-thị đến dưới thềm, nói chuyện với các phường nhạc. Phường nhạc bèn hỏi Ðỗ-thị rằng:

- Trong các nghề âm nhạc, nhà ngươi biết những thứ nào?

Ðỗ-thị nói:

- Tôi biết gẩy đàn, lại biết hát nữa.

Phường nhạc liền đưa cho Ðỗ-thị một cây đàn cầm. Ðỗ-thị ôm cây đàn mà gẩy, nghe tiếng rất ai oán! Các phường nhạc đều chịu là hay, lại bảo Ðỗ-thị hát chơi một bài.

Ðỗ-thị nói:

- Từ khi tôi lưu lạc đến đây, chưa hề cất tiếng hát bao giờ, nay tôi muốn xin lên nhà trên, hát hầu quan tể tướng một bài.

Phường nhạc lên nói với Bách Lý Hề, Bách Lý Hề cho lên. Ðỗ-thị cúi đầu khép nép rồi cất tiếng hát. Hát rằng:

Bách Lý Hề năm bộ da dê! Nhớ ngày nào cùng nhau ly biệt
Mổ con gà mái ấp, thổi nổi cơm gạo vàng. Chừ thương thì thương...
Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?
"Bách Lý Hề năm bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài, chồng mặc gấm vóc, vợ giặt thuê hoài! Chừ thương thì thương.... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?
Bách Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày xưa tiễn chàng ra đi, thiếp tôi nước mắt chứa chan!
Tới bây chừ, thấy chàng ngồi đó, thiếp tới ruột đứt đòi cơn! Chừ thương thì thương.... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao.. ".

Bách Lý Hề nghe câu hát, lấy làm ngạc nhiên, gọi đến trước mặt mà hỏi chuyện thì hóa ra vợ mình khi trước, liền ôm lấy mà khóc òa lên một hồi lâu, rồi hỏi đến con. Ðỗ-thị nói:

- Nó vẫn đi săn bắn ở trong xóm.

Bách Lý Hề sai người đi triệu đến. Vợ chồng cha con thành ra lại được sum họp cùng nhau.

Tần Mục-công nghe tin vợ Bách Lý Hề mới đến, sai người đem cho nghìn chung thóc và một xe vàng lụa.

Ngày hôm sau, Bách Lý Hề đem con là Mạnh Minh vào yết kiến Tần Mục-công. Mục-công cho Mạnh Minh làm quan đại phu, cùng với Tây Khuất Thuật và Kiển Bính đều được gọi là tướng quân, giữ việc chinh phạt.

Vua nước Khương Nhung là Ngô Lý đem quân sang quấy nhiễu. Mục-công sai Mạnh Minh, Tây Khuất Thuật và Kiển Bính đem quân đi đánh, Ngô Lý bị thua, chạy sang nước Tấn.

Vua nước Tây Nhung là Xích Ban thấy nước Tần cường thịnh, sai Do Dư đem lễ vật sang yết kiến Tần Mục-công, để dò xem Tần Mục-công là người thế nào. Mục-công đưa Do Dư đi chơi các nơi lâu đài vườn tược, có ý khoe khoang. Do Dư nói:

- Chúa công sửa sang như thế này, bắt ma làm hay bắt người làm? Bắt ma làm thì khổ ma, bắt người làm thì khổ người.

Tần Mục-công nghe nói lấy làm lạ, liền hỏi Do Dư rằng:

- Nước Tây Nhung không có lễ nhạc, pháp độ gì cả thì lấy gì mà trị nước?

Do Dư cười mà nói rằng:

- Ấy chi vì có lễ nhạc, pháp độ mà Trung Quốc đến nỗi hay biến loạn đó? Thánh nhân đời xưa lập ra văn pháp để bó buộc người ta nên thiên hạ mới hơi được yên ổn một chút, sau này người ta sinh ra kiêu dâm, chi mượn cái uy của danh của lễ nhạc để trang sức thân mình, chỉ mượn cái uy của pháp độ để đốc trách kẻ dưới, khiến cho nhiều người oán giận mà gây ra đánh lẫn nhau. Còn như nước Tây Nhung tôi thì không thế. Người trên thì lấy ân nghĩa mà tiếp đãi kẻ dưới, kẻ dưới thì lấy trung tín mà phụng thờ người trên, kẻ trên người dưới, không lấy hình tích mà lừa dối nhau, không lấy văn pháp mà ràng buộc nhau, thế mới thật là đời thịnh trị.

Mục-công nín lặng, không nói gì cả, sau đem lời nói của Do Dư thuật lại cho Bách Lý Hề nghe. Bách Lý Hề nói:

- Do Dư là một bậc đại hiền ở nước Tấn, tôi vẫn biết tiếng đã lâu! Mục-công nghe nói, có ý buồn mà nói rằng:

- Do Dư là bậc đại hiền mà Tây Nhung dùng được, ấy là một sự lo cho nước Tần ta, biết làm thế nào?

Bách Lý Hề nói:

- Nội Sử Sưu là người mưu trí, chúa công nên bàn với hắn. Tần Mục-công liền cho triệu nội sử Sưu vào để thương nghị.

Sưu nói:

- Vua Tây Nhung ở nơi hoang dã, chưa được nghe âm nhạc của Trung quốc ta bao giờ, nay chúa công sai người đem một bộ nữ nhạc đưa biếu vua Tây Nhung, còn Do Dư thì giữ lại ở đây không cho về vội khiến cho vua tôi ngờ vực lẫn nhau, chính sự sinh ra trễ biếng, như thế thì dẫu muốn lấy cả nước Tây Nhung cũng được, huống chi là một mình Do Dư.

Tần Mục-công khen phải, liền giữ Do Dư ở lại, cùng ăn một mâm, cùng ngồi một chiếu, lại sai bọn Kiển Thúc, Bách Lý Hề và Công Tôn Chi thay nhau mà tiếp đãi Do Dư, để dò hỏi địa thế và binh lực của nước Tây Nhung. Một mật sai Nội Sử Sưu đem nữ nhạc sang dâng vua Tây Nhung là Xích Ban. Xích Ban bằng lòng lắm, từ bấy giừ Xích Ban ngày đêm say mê về nữ nhạc, chẳng thiết gì đến chính sự cả.

Do Dư ở nước Tần một năm mới về. Vua Tây Nhung thấy Do Dư về, có ý không bằng lòng. Do Dư nói:

- Tôi vẫn xin về luôn mà vua nước Tần cứ cố ý giữ lại mãi.

Vua Tây Nhung nghi Do Dư có tình ý với nước Tần, từ bấy giờ không tin dùng nữa. Do Dư thấy vua Tây Nhung say mê nữ nhạc, chẳng thiết gì đến chính sự, thì gắng sức can ngăn. Vua Tây Nhung không nghe lời. Tần Mục-công nghe tin, sai người sang mật triệu Do Dư. Do Dư bỏ Tây Nhung về với Tần Mục-công. Mục-công cho làm chức á khanh, cùng với Kiển Thúc và Bách Lý Hề cùng cầm quyền chính. Do Dư liền dâng kế đánh Tây Nhung.

Khi quân nước Tần kéo sang đất Tây Nhung, đường đi lối lại đều thông thuộc cả. Vua Tây Nhung không chống cự nổi, phải đầu hàng nước Tần. Vua Tây Nhung xưa nay vẫn là thủ lĩnh của nước Nhung Địch. Các nước nhỏ nghe thấy vua Tây Nhung phải đầu hàng nước Tần, thì cũng đều đem nhau đến đầu hàng cả. Tần Mục-công mở tiệc ăn mừng. Các quan triều thần thay đổi nhau mà chúc thọ. Mục-công uống rưọu say quá, khi vào trong cung, mê mẩn chẳng biết gì cả, nội thị thấy vậy đều lấy làm sợ hãi. Các quan triều thần nghe tin, kéo nhau vào vấn an.

Thế tử Bình mời quan thầy thuốc vào xem mạch thấy mạch chạy như thường, nhưng mắt nhắm mà miệng không nói năng, mình không cử động được. Quan thầy thuốc nói:

- Đó là việc quỷ thần! Xin sai người làm lễ cúng.

Nội Sử Sưu nói:

- Dẫu cúng cũng vô ích. Ngủ say như thế tất là đương mộng, nên chở ít lâu, tự khắc tỉnh lại, chớ nên làm huyên náo.

Thế tử Bình ngồi liền ở bên cạnh, bỏ cả ăn ngủ, chờ đến ngày thứ năm, Mục-công mới tỉnh dậy, mồ hôi trán đầm đìa như mưa. Thế tử Bình quỳ xuống mà hỏi rằng:

- Phụ thân nghe trong mình thế nào? Sao giấc ngủ của phụ thân lâu thế?

Tần Mục-công nói:

- Ta vừa mới ngủ được một lúc.

Thế tử Bình nói:

- Phụ thân ngủ đã năm ngày nay, tất là có mộng thấy gì lạ, chớ chẳng không?

Tần Mục-công ngạc nhiên mà hỏi rằng:

- Sao nhà ngươi lại biết?

Thế tử Bình nói:

- Nội Sử Sưu nói thế.

Tần Mục-công liền gọi nội sử Sưu đến cạnh giường mà bảo rằng:

- Mới rồi ta mộng thấy một người đàn bà mặt hoa da ngọc tay cầm cái ấn ngọc, nói là phụng mệnh Ngọc Hoàng thượng đế đến triệu ta. Ta liền đứng dậy đi theo, bỗng thấy hình như đi ở trong đám mây, đến một nơi cung điện, thềm cao chín thước, trẽn rủ rèm châu. Người đàn bà đưa ta vào lạy ở dưới thềm. Được một lúc, rèm châu cuốn lên, ta trông thấy trên điện cột vàng tường gấm, hào quang rực rỡ, có một vị Ngọc-hoàng mũ miện áo bào, ngồi trên ngai vàng, hai bên có các quan đứng hầu, nghi vệ rất nghiêm chỉnh. Đức Ngọc-hoàng lại sai người đem một cái sổ tay ra, gọi tên ta mà tuyên cáo rằng:

"Nhâm Hiếu! Nhà ngươi nghe lời trẫm mà dẹp loạn cho nước Tấn". Tuyên cáo xong, người đàn bà ấy bảo ra lạy tạ, rồi đưa ta về. Ta hỏi tên là gì, thì người ấy tự xưng là Bảo phu nhân ở núi Thái Bạch. Nếu ta vì hắn lập đền thờ thì hắn sẽ phù hội cho được nên sự nghiệp bá chủ. Ta lại hỏi nước Tấn có loạn gì thì hắn không chịu nói, bảo là việc trời không dám tiết lộ. Bấy giờ ta nghe tiếng chim trĩ kêu, bỗng sực tỉnh dậy, chẳng hay đó là điềm gì?”

Nội Sử Sưu nói:

- Hiện nay Tấn hầu đang yêu Ly Cơ, ghét thế tử, tài nào mà khỏi loạn được. Đức Ngọc-hoàng truyền lệnh cho chúa công, ấy là cái phúc của chúa công đó! Tần Mục-công hỏi:

- Bảo phu nhân là ai?

Sưu nói:

- Tôi nghe nói đời Tần Văn-công ta ngày xưa, có người ở đất Trần Sương bắt được một con vật kỳ dị, đem dâng Tần Văn-công. Khi đi đến nửa đường, bỗng gặp hai đứa trẻ vỗ tay cười và nói rằng: Con vật ấy là loài Vị, nó hay ăn óc người chết ở dưới đất, con Vị cũng nói được như người mà bảo hai đứa trẻ kia là loài Trĩ tinh, một con trống, một con mái, nếu bắt được con trống thì làm nên nghiệp vương, bắt được con mái thì làm nên nghiệp bá. Bấy giờ người Trần Sương liền bỏ con Vị mà đi đuổi theo bắt hai đứa trẻ. Hai đứa trẻ hóa làm hai con chim trĩ mà bay mất. Người Trần Sương thuật chuyện lại cho Tần Văn-công nghe, Tần Văn-công sai chép việc ấy vào sách, hiện còn cất ở trong kho. Đất Trần Sương nay ở phía tây núi Thái Bạch, chúa công nên ra đấy đi săn bắn để xem xét thì có thể biết rõ được.

Tần Mục-công mở sách ra xem, quả như lời nói của Nội Sử Sưu. Ngày hôm sau, Tần Mục-công đi săn bắn ở núi Thái Bạch. Người ở Trần Sương, chăng lưới bắt được con chim trĩ tự nhiên hóa ra con gà đá, trông rất kỳ dị, liền đem dâng Tần Mục-công. Nội sử Sưu nói:

- Đó tức là Bảo phu nhân. Ấy là cái điềm bắt được con mái thì làm nên nghiệp bá đó! Chúa công nên lập đền thờ ở đất Trần Sương.

Tần Mục-công bằng lòng, truyền lập đền thờ, gọi là đền Bảo phu nhân, sau quả nhiên Tần Mục-công dẹp được loạn nước Tấn.

-------------------------------------------------

Hồi thứ 27.
Ly Cơ lập kế giết Thân Sinh
Hiến-công gần chết dặn Tuân Tức

Tấn Hiến-công từ khi lấy được cả nước Ngu và nước Quắc, các quan triều thần đều vào chúc mừng, chỉ có Ly Cơ trong bụng không bằng lòng, bởi vì bản tâm muốn cho Tấn Hiến-công sai thế tử Thân Sinh đi đánh Quắc, không ngờ lại hóa ra Lý Khắc đi thay, mà lại lập nên công trạng, chẳng còn nghĩ kế gì để hại thế tử Thân Sinh được nữa. Ly Cơ lại bàn riêng với Ưu Thi rằng:

- Lý Khắc là người trong bè cánh Thân Sinh, bây giờ công to chức trọng như vậy thì ta còn làm gì nổi! Ưu Thi nói:

- Tuân Tức đem một viên ngọc bích và một cỗ ngựa mà lập kế lấy được nước Ngu và nước Quắc, thế thì tài còn gấp mấy Lý Khắc, mà công trạng cũng chẳng kém gì Lý Khắc. Bây giờ phu nhân dùng Tuân Tức làm chức thái phó để dạy Hề Tề và Trác Tử thì mới có thể trị nổi Lý Khắc được.

Ly Cơ nói với Hiến-công, dùng Tuân Tức làm chức thái phó để dạy Hề Tề và Trác Tử. Ly Cơ lại bảo Ưu Thi rằng:

- Nay Tuân Tức đã vào cánh với ta rồi! Nhưng hễ Lý Khắc còn ở trong triều thì mưu kế của ta khó lòng thành được. Bây giờ biết dùng kế gì mà trừ được hắn đi? Có trừ được Lý Khắc thì mới có thể hại nổi Thân Sinh.

Ưu Thi nói:

- Lý Khắc là người bề ngoài thì cương trực mà trong lòng hay lo sợ, nếu đem sự lợi hại mà bảo hắn thì hắn tất có ý bắt cá hai tay, bấy giờ ta sẽ dụ hắn phải theo ta. Lý Khắc vốn thích uống rượu, để tôi xin bày một tiệc rượu mời hắn, rồi thử đem lời nói dò xem ý hắn thế nào, nếu hắn theo lời thì may cho phu nhân, mà nếu hắn không theo lời nữa thì tôi đây là một người phường hát, chẳng qua cũng là sự nói đùa bỡn đó thôi, có tội gì mà sợ.

Ly Cơ khen phải. Ưu Thi liền đến nói với Lý Khắc rằng:

- Đại phu lâu nay đi đánh dẹp nước Ngu và nước Quắc, khó nhọc nhiều lắm, tôi muốn đem chén rượu nhạt đến để ngồi hầu đại phu, gọi là mua vui trong chốc lát, chẳng hay đại phu nghĩ thế nào?

Lý Khắc thuận cho. Ưu Thi liễn mang rượu đến nhà lý Khắc để mời Lý Khắc uống. Trong khi ăn tiệc, Lý Khắc và vợ là Mạnh Nương cùng ngồi. Ưu Thi sụp lạy hai lạy, dùng chén rượu để chúc mừng, rồi ngồi hầu rượu ở bên cạnh chuyện trò, rất vui vẻ! Rượu đã ngà ngà, Ưu Thi đứng dậy múa để chúc thọ, rồi nói với Mạnh Nương rằng:

- Bà lớn cho tôi ăn uống, tôi xin ca một bài hát mới để bà lớn nghe.

Mạnh Nương rót chén rượu để thưởng cho Ưu Thi, và đưa cho một món thịt dê mà hỏi rằng:

- Bài hát mới là bài gì?

Ưu Thi nói:

- Tên gọi là bài Hạ Dư! Quan đại phu đây được nghe bài hát ấy thì mới có thể giữ được phú quý.

Nói xong, liền gõ nhịp hát. Hát rằng:

“Chim hạ dư ngô ngô hề.... chi cho bằng ô ô! Người ta họp cả ở trong vườn hoa hề.... sao mày cứ đậu ở cành khô?

Vườn hoa kia, tốt đẹp dường bao hề.... cành khó kia, tất có ngày bị lưỡi dao! Lưỡi dao sắp đến nơi hề.... cành khô kia biết làm thế nào?”

Ưu Thi hát xong, Lý Khắc cười mà nói rằng:

- Thế nào là vườn hoa? Thế nào là cành khô?

Ưu Thi nói:

- Thí dụ như người ta, mẹ đang làm phu nhân, con sắp sửa được nói ngôi vua, tức là một cái cây tươi rườm rà, các giống chim nương tựa ở đấy, thế gọi là vườn hoa; còn như mẹ đã chết rồi, con lại bị người ta dèm pha, chẳng bao lâu sẽ có tai vạ, tức là một cái cây gốc lay lá rụng, các giống chim còn nương tựa vào đâu, thế gọi là cành khô.

Nói xong, bèn cáo từ lui ra. Lý Khắc trong lòng áy náy, đứng dậy trở vào thư phòng, một mình lững thững, đi quanh trong nhà, vừa đi vừa suy nghĩ, nghĩ quẩn nghĩ quanh, không thể ngủ được. Lý Khắc nghĩ thầm trong lòng rằng:

- Ưu Thi là một người yêu của chúa công và phu nhân bây giờ, vẫn được ra vào ở chỗ cung cấm, ngày hôm nay hát như thế tất là có ý hắn nói chưa hết lời, âu là sáng ngày mai ta phải hỏi lại mới được. Đến nửa đêm, Lý Khắc ruột nóng như lửa, không thể chờ được nữa, mới sai người gọi Ưu Thi đến hỏi chuyện. Ưu Thi biết trước, đã sắp sửa mũ áo chỉnh tề, liền đi theo người nhà vào thẳng đến tận chỗ giường nằm của Lý Khắc. Lý Khắc cho Ưu Thi ngồi ở bên cạnh giường, lấy tay vỗ vào đùi mà hỏi rằng:

- Bài hát của nhà ngươi hôm nay, ta đã hiểu ý, có phải là trỏ thế tử Thân Sinh ở đất Khúc ốc không? Tất là nhà ngươi có được biết chuyện làm sao? Vậy nên nói cho ta hay đừng giấu ta làm gì. Ưu Thi nói:

- Tôi vẫn muốn nói đã lâu, nhưng chỉ hiềm ngài là quan thái phó của Thân Sinh, nên chưa dám nói, sợ ngài lấy làm quái dị mà thôi.

Lý Khắc nói:

- Nhà ngươi nói để cho ta biết cách mà tránh vạ, thế là nhà ngươi yêu ta, có gì mà quái dị?

Ưu Thi cúi đầu ghé lại bên gối mà nói thầm rằng:

- Chúa công đã hứa lời với phu nhân, định giết Thân Sinh mà lập Hề Tề rồi đó! Lý Khắc nói:

- Còn ngăn cản được nữa không?

Ưu Thi nói:

- Chúa công yêu phu nhân, điều đó ngài đã biết. Chúa công lại yêu Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, điều đó ngài cũng đã biết. Trong thì có phu nhân, ngoài thì có Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, việc ấy còn ngăn thế nào được! Lý Khắc nói:

- Theo ý chúa công mà giết Thân Sinh thì ta không nỡ, mà giúp Thân Sinh để chống nhau với chúa công thì ta không dám. Âu là ta cứ ở giữa chẳng theo bên nào cả, mới có thể thoát nạn được.

Ưu Thi nói:

- Ngài nghĩ phải lắm! Khi Ưu Thi đã lui về rồi, Lý Khắc ngồi cho đến suốt sáng, đem quyển sách của Sử Tô và Bốc Yển ghi chép mấy lời trong quẻ bói ngày trước tính ra vừa được mười năm, mới thở dài mà than rằng:

- Việc bói toán cũng nghiệm thật! Nói xong, liền đến nhà quan đại phu là Phi Trịnh Phủ, đuổi hết người xung quanh đi, rồi bảo Phi Trịnh Phủ rằng:

- Lời nói Sử Tô và Bốc Yển đến nay mới nghiệm.

Phi Trịnh Phủ hỏi:

- Ngài nghe thấy chuyện gì vậy?

Lý Khắc nói:

- Đêm mới rồi, Ưu Thi có bảo tôi rằng:

"Chúa công sắp giết Thân Sinh mà lập Hề Tề". Phi Trịnh Phủ nói:

- Vậy ngài trả lời thế nào?

Lý Khắc nói:

- Tôi bảo hắn là tôi cứ đứng giữa mà thôi.

Phi Trịnh Phủ nói:

- Ngài nói như thế thì khác nào trông thấy lửa cháy mà lại cho thêm củi vào. Cứ như ngài bây giờ thì tôi thiết tưởng nên giả cách làm ra ý không tin, hắn thấy ngài không tin thì tất phải e sợ mà chưa dám làm vội, bấy giờ sẽ vì Thân Sinh mà lập thêm vây cánh để giữ gìn lấy ngôi thế tử, rồi sau tìm cách mà giãi bày với chúa công, khiến cho chúa công nghĩ lại, như thế thì còn có thể cứu vãn được. Nay ngài bảo là ngài đứng giữa thì Thân Sinh thành ra cô thế, chẳng bao lâu sẽ có tai vạ.

Lý Khắc giẫm chân xuống đất mà than rằng:

- Tiếc thay! Tôi không bàn với ngài trước.

Lý Khắc cáo từ trở về, giả cách ngã xe, rồi ngày hôm sau nói dối là bị thương ở chân, không vào triều được.

Ưu Thi đem chuyện Lý Khắc nói lại cho Ly Cơ nghe. Ly Cơ rất bằng lòng, đêm hôm ấy Ly Cơ nói với Hiến-công rằng:

- Lâu nay thế tử vẫn ở đất Khúc ốc, chúa công nên cho người triệu về, nói là thiếp có lòng mong thế tử lắm, để thiếp mua chuộc lấy lòng thế tử, họa may thế tử nghĩ lại mả đừng làm hại thiếp chăng. Chúa công nghĩ thế nào?

Hiến-công nghe lời, cho người triệu thế tử Thân Sinh về. Thân Sinh vào yết kiến Tấn Hiến-công, rồi lại vào cung yết kiến Ly Cơ, Ly Cơ bày yến tiệc để thết đãi, chuyện trò vui vẻ. Ngày hôm sau, Thân Sinh lại vào cung tạ ơn bữa yến. Ly Cơ lại giữ Thân Sinh ở lại ăn cơm với nàng. Đêm hôm ấy, Ly Cơ lại khóc lóc mà nói với Tấn Hiến-công rằng:

- Thiếp muốn mua chuộc lòng thế tử cho nên mời thế tử để tỏ lòng kính nề, chẳng ngờ thế tử vô lễ quá?

Hiến-công hỏi:

- Làm sao?

Ly Cơ nói:

- Thiếp mời thế tử ở lại dùng bữa cơm trưa, thế tử đòi rượu, khi đã ngà ngà say thì giở giọng đùa bỡn mà bảo thiếp rằng:

“- Cha tôi già rồi? Thế mẹ làm sao bây giờ?” Thiếp nổi giận nhưng không trả lời Thế tử lại nói:

“- Ông tôi ngày xưa lúc về già thì đem mẹ tôi là Tề-khương mà để lại cho cha tôi, nay cha tôi già, tất lại để nàng cho tôi chứ còn ai!” Nói xong toan xông lại mà nắm lấy tay thiếp, thiếp chống cự mãi mới chạy thoát. Nếu chúa công không tin thì xin chúa công thử cho thiếp cùng thế tử vào chơi trong vườn hoa, rồi chúa công đứng ở trên đài mà nom xem thì sẽ biết rõ được tình ý.

Hiến-công nghe lời. Sáng hôm sau, Ly Cơ triệu thế tử Thân Sinh cùng vào chơi trong vườn hoa. Ly Cơ đã lập kế sẵn, đem mật ngọt bôi vào mái tóc, khi vào đến vườn hoa, ong bướm bay xúm xít lại, đậu khắp trên đầu. Ly Cơ bèn quay bảo Thân Sinh rằng:

- Kìa! Sao thế tử không đuổi hộ ong bướm đi cho tôi? Thân Sinh vô tình, đi đằng sau lấy tay áo xua đuổi đàn ong bướm. Hiến-công đứng ở trên đài trông thấy, yên chí là Thân Sinh trêu ghẹo Ly Cơ, trong lòng tức giận toan bắt Thân Sinh đem chém.

Ly Cơ quỳ xuống mà tâu rằng:

- Nay thiếp triệu Thân Sinh đến mà chúa công lại đem giết đi thì làm cho thiếp mang tiếng là mưu giết thế tử. Vả lại, đó là một việc ám muội, người ngoài chưa ai biết đến, xin chúa công hãy nên nén lòng đã. Hiến-công liền cho Thân Sinh trở về Khúc ốc, rồi mật sai người bới lông tìm vết để trị tội.

Một hôm, Tấn Hiến-công đi săn ở đất Địch Hoàn, Ly Cơ lại cùng với Ưu Thi thương nghị, rồi sai người ra bảo thế tử Thân Sinh rằng:

- Đêm qua thiếp nằm mộng thấy Tề-khương (mẹ Thân Sinh) kêu đói, không có gì ăn, thế tử nẽn mau mau cúng tế đi. Bấy giờ Tề Khương có đền thờ ở đất Khúc ốc, Thân Sinh liền làm lễ tế, rồi sai người đem phần tế biếu Hiến-công. Hiến-công đi săn chưa về, phần tế ấy để tại trong cung đã được sáu ngày. Khi Hiến-công về Ly Cơ đem thuốc độc bỏ vào rượu và tẩm vào thịt đệ trình Hiến-công, rồi nói:

- Thiếp nằm mộng thấy Tề-khương kêu đói, nhân chúa công đi vắng, thiếp có sai người ra bảo thế tử làm lễ tế Tề Khương. Đây là phần tế của thế tử biếu chúa công đó! Tấn Hiến-công toan rót rượu ra uống. Ly Cơ quỳ xuống mà can rằng:

- Những đồ ăn từ ngoài đem đến, nên phải cho thử mới được. Tấn Hiến-công khen phải, liền đem rượu rót thử xuống đất, tức thì chỗ đất ấy dộp phồng lên. Lại gọi chó đến, lấy một miếng thịt ném cho nó ăn thì nó chết ngay. Ly Cơ giả cách không tin, lại gọi một đứa nội thị nhỏ ra bắt ăn thử. Đứa nội thị không chịu ăn. Ly Cơ cố bắt ép. Đứa nội thì vừa mới nuốt khỏi cổ họng thì đổ máu mồm máu mũi ra mà chết. Ly Cơ giả cách kinh hoảng, chạy xuống dưới thềm mà kêu lên rằng:

- Ối giời đất ơi! Cơ nghiệp này bao giờ cũng là của thế tử? Chúa công đã già rồi, thế tử lại không thể chờ đợi trong ít lâu được hay sao! Nói xong, nước mắt chảy xuống ròng ròng. Ly Cơ bèn quỳ trước mặt Hiến-công, nức nở nói:

- Thế tử sở dĩ bày ra mưu kế này chỉ tại mẹ con thiếp mà thôi, xin chúa công hãy đem rượu thịt ấy cho thiếp, thiếp xin chết thay chúa công để cho thế tử được thỏa lòng.

Nói xong, cầm lấy chén rượu toan uống. Hiến-công vội vàng giằng lấy, tức giận uất lên, không thể nói được. Ly Cơ lăn xuống đất mà khóc, lại than thở rằng:

- Thế tử nhẫn tâm quá! Cha đẻ ra mà còn muốn giết, huống chi là người khác. Trước kia chúa công toan bỏ hắn đi, thiếp vẫn không muốn. Đến khi hắn trêu ghẹo thiếp trong vườn, chúa công cũng toan đem giết, thiếp lại cố xin hộ. Để đến ngày nay suýt nữa thì làm hại chúa công, thật là lỗi tại thiêp đó! Hiến-công im lặng giờ lâu, rỗi giơ tay ôm lấy Ly Cơ, đỡ dậy mà bảo rằng:

- Thôi phu nhân cứ đứng dậy, để ta tuyên cáo việc này cho các quan nghe, rồi giết đứa tặc tử ấy đi mới được.

Nói xong, liền ra ngự triều, triệu các quan đại phu đến thương nghị. Các quan biết chủ ý của Hiến-công đã quyết định như vậy, đều nhìn nhau mà không dám nói.

Đông Quan Ngũ nói:

- Thế tử vô đạo như vậy, tôi xin đem quân đi đánh.

Hiến-công bèn sai Đông Quan Ngũ làm phó tướng, đem quân đi đánh đất Khúc-ốc. Hồ Đột dẫu đóng cửa ở trong nhà, không đi đến đâu nhưng vẫn cho người đi dò la công việc trong triều, nghe tin Đông Quan Ngũ và Lương Ngũ đem quân đi đánh Khúc ốc, tức khắc sai người tâm phúc đi mật báo cho Thân Sinh biết trước. Thân Sinh nói chuyện với quan thái phó là Đỗ Nguyên Khoản.

Đỗ Nguyên Khoản nói:

- Phần tế để trong cung đã sáu ngày thì rõ là có người trong cung bỏ thuốc độc vào. Thế tử nên làm một tờ trạng khiếu oan, chẳng lẽ cả trong triều thần lại không có ai dám nói hay sao? Còn hơn là cứ ngồi mà chịu chết?

Thân Sinh nói:

- Chúa công ta không có Ly Cơ thì ăn không được ngon, ngủ không được yẽn. Nay tôi khiếu oan mà không minh ra được thì lại càng thêm tội. May mà minh ra được thì vị tất chúa công đă trị tội Ly Cơ, mà khiến cho chúa công lại thêm một nỗi đau lòng, chi bằng tôi chịu chết cho xong.

Đỗ Nguyên Khoản nói:

- Ta hãy trốn sang nước khác, để lo liệu về sau, thế tử nghĩ thế nào?

Thân Sinh nói:

- Chúa công không xét cho là vô tội mà sai người đem quân đến đánh tôi. Tôi đã mang cái tiếng là người giết cha thì dẫu đi đến đâu, người ta cũng coi tôi như một giống chim cử mổ mẹ mà thôi. Nếu tôi trốn đi mà đổ lỗi cho chúa công thì thành ra bêu cái tiếng ác của quân phụ cho các nước khác chê cười. Thôi thì chỉ một chết là hơn cả.

Nói xong, liền viết thư trả lời Hồ Đột rằng:

- Thân Sinh này có tội, xin đành chịu chết! Nhưng chúa công nay già rồi, các công tử hãy còn ít tuối, xin ngài lưu ý mà giúp đỡ cho. Tôi dầu chết xuống suối vàng, thật cũng đội ơn nhiều lắm!" Đoạn Thân Sinh ngảnh mặt về phía bắc, sụp lạy hai lạy rồi tự thắt cổ mà chết.

Sáng hôm sau, Đông Quan Ngũ đem quân đến, thấy Thân Sinh đã chết rồi, liền bắt Đỗ Nguyên Khoản về nộp Hiến-công và nói rằng:

- Thế tử biết tội, đă tự tử mà chết trước rồi! Hiến-công sai Đỗ Nguyên Khoản làm chứng vào từ tội trạng của Thân Sinh, Đỗ Nguyên Khoản kêu rầm lên rằng:

- Trời có thấu nỗi oan này cho chăng! Tôi sở dĩ không chết theo mà chịu cho bắt về đây, chính là muốn để giãi bày tấm lòng của thái tử đó. Phần tế để ở trong cung đã sáu ngày, nếu có thuốc độc từ trước thì làm gì mà còn nguyên vẹn được?

Ly Cơ đứng nấp ở sau bình phong, nghe thấy Đỗ Nguyên Khoản nói vậy, vội vàng quát to lên rằng:

- Đỗ Nguyên Khoản giữ chức thái phó mà để cho thế tử làm phản, chẳng đem giết đi, còn để làm gì! Hiến-công liền sai lực sĩ cầm dùi đồng đánh vào đầu Đỗ Nguyên Khoản, vỡ óc ra mà chết. Các quan trong triều đều gạt nước mắt thương thầm. Đông Quan Ngũ và Lương Ngũ bảo Ưu Thi rằng:

- Trùng Nhĩ và Di Ngô cùng một bè cánh với thế tử, thế tử dẫu chết rồi, nhưng hai vị công tử kia hãy còn, ta cũng lấy làm lo ngại.

Ưu Thi bèn khuyên Ly Cơ lập kế để hại Trùng Nhĩ và Di Ngô. Đêm hôm ấy, Ly Cơ lại khóc nức nở mà nói với Hiến-công rằng:

- Thiếp nghe tin đồn Trùng Nhĩ và Di Ngô cùng dự mưu với Thân Sinh. Nay Thân Sinh chết đi thì hai vị công tử kia đổ lỗi tại thiếp, đã sắp định đem quân về đánh úp kinh thành để giết thiếp đi, chúa công cũng nên xét đến việc ấy.

Hiến-công còn có ý chưa tin. Sáng hôm sau ra triều, có người báo rằng:

- Trùng Nhĩ và Di Ngô định vào triều, khi đến cửa quan nghe thấy việc thế tử Thân Sinh chết, đều lại quay xe đi cả.

Hiến-công nói:

- Trùng Nhĩ và Di Ngô không cáo từ với ta mà bỏ đi ngay tất là có dự mưu với Thân Sinh đó!

Nói xong, liền sai Bột Đề đem quân sang đất Bồ để bắt công tử Trùng Nhĩ, Giả Hoa đem quân sang đất Khuất để bắt công tử Di Ngô.

Hồ Đột bèn gọi ngườì con thứ là Hồ Yển đến trước mặt mà bảo rằng:

Công tử Trùng Nhĩ là người có tướng lạ: xương sườn dính nhau, mỗi mắt có hai con ngươi, lại là ngườì hiền minh, mai sau tất làm nên. Vả nay thế tử Thân Sinh chết rồi thì tất đến Trùng Nhĩ được nối ngôi, mày nên sang đất Bồ mà cùng với anh mày là Hồ Mao (bấy giờ Hồ Mao đã theo Trùng Nhĩ sang ở đất Bồ) cùng giúp Trùng Nhĩ đi trốn.

Hổ Yển vâng lời tức khắc sang đất Bồ để theo Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ sọ hãi, cùng với Hồ Mao và Hồ Yển bàn nhau đi trốn. Bỗng nghe báo Bột Đề đă đem quân đến vây nhà Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ cùng với Hồ Mao và Hồ Yển chạy ra vườn sau để trốn đi. Bột Đề cầm gươm đuổi theo, Hồ Mao và Hồ Yển trèo tường ra trước, rồi đứng ở ngoài mà dìu Trùng Nhĩ sang. Bột Đề nắm được vạt áo Trùng Nhĩ, vừa giơ gươm toan chém thì vạt áo đứt, Trùng Nhĩ chạy thoát được. Bột Đề đem cái vạt áo ấy về nộp Tấn Hiến-công.

Trùng Nhĩ trốn sang nước Địch. Vua nước Địch hôm trước nằm mọng thấy con rồng xanh phủ ở trên mặt thành, bấy giờ thấy có Trùng Nhĩ đến, liền vui vẻ mời vào. Được một lúc, lại có một bọn kéo đến, gọi cửa thành gấp lắm, Trùng Nhĩ ngợ là quân đuổi theo, liền bảo trên mặt thành bắn tên xuống. Người dưới thành kêu rầm lên rằng:

- Chúng tôi không phải là quân đuổi theo, đều là bề tôi ở nước Tấn tình nguyện đi theo công tử.

Trùng Nhĩ trèo lên mặt thành nhìn xem thì thấy người đi đầu là Triệu Thôi, tên tự là Tử Dư hiện đang làm quan nước Tấn. Trùng Nhĩ nói:

- Triệu Thôi đã tới đây thì ta không lo gì nữa?

Nói xong, sai mở cửa đón vào. Trong bọn ấy có Tư Thần, Ngụy Thù Hồ Xạ Cô, Điên Hiệt, Giới Tử Thôi, Tiên Chẩn đều là những người có danh tiếng, lại có bọn Hồ Thúc đến vài ba mươi người nữa.

Trùng Nhĩ giật mình, nói:

- Các ngươi đang ở trong triều, sao lại đến cả đây thế này? Bọn Triệu Thôi đồng thanh nói rằng:

- Chúa công thất đức, mê đắm Ly Cơ mà giết hại thế tử, chẳng bao lâu nước Tấn tất có loạn to. Chúng tôi vốn biết công tử là người hiền minh, cho nên quyết chí theo công tử.

Trùng Nhĩ khóc mà nói rằng:

- Các người có lòng giúp tôi, bao giở tôi dám quên ơn.

Ngụy Thù nói:

- Công tử ở đất Bồ đã mấy năm nay, người đất Bồ ai cũng yêu mến, đều một lòng theo công tử. Nếu công tử nhờ người nước Địch giúp cho, lại đem quân đất Bồ mà kéo về, tôi chắc rằng trong triều tất có người nổi lên làm nội ứng. Bấy giờ công tử trừ bọn làm loạn ở bên cạnh chúa công đi mà giữ yên lấy cơ nghiệp nước nhà, chẳng hơn là cứ trốn tránh mãi thế này hay sao!

Trùng Nhĩ nói:

- Nhà ngươi nói hăng hái lắm! Nhưng e rằng làm thế thì khiến cho quân phụ ta phải sợ hãi, có đâu ta dám theo lời.

Ngụy Thù là một người dũng sĩ, thấy Trùng Nhĩ không theo lời, liền nghiến răng nghiến lợi, giẫm chân xuống đất mà nói rằng:

- Công tử sợ bọn Ly Cơ như là hùm cọp, rắn rết, còn bao giờ làm được việc gì?

Hồ Yển bảo Ngụy Thù rằng:

- Công tử không phải sợ bọn Ly Cơ, chi sợ hai chữ "danh nghĩa" mà thôi! Ngụy Thù không dám nói nữa. Nguyên Trùng Nhĩ từ thuở bé vốn là người có lễ phép mà lại biết trọng những kẻ hiền sĩ, vậy nên đến khi đi trốn, có rất nhiều hào kiệt muốn theo. Chỉ có ba người là Khước Nhuế, Lã Di Xanh vả Quắc Xạ (công tử Di Ngô gọi là cậu), chạy sang đất Khuất để theo Di Ngô, ba người ấy đem việc Giả Hoa sắp đến bắt báo trước cho công tử Di Ngô biết. Công tử Di Ngô liền sai người đóng cửa thành lại để chống giữ. Giả Hoa không có ý muốn bắt Di Ngô, bèn mật sai người vào bảo Di Ngô rằng:

- Công tử nên trốn ngay đi, nếu không thì sắp có quân đuổi theo, công tử không thể nào địch nổi đâu.

Di Ngô bảo Khước Nhuế rằng:

- Trùng Nhĩ nay ở nước Địch, hay là ta cũng chạy sang nước Địch, phỏng có nên không?

Khước Nhuế nói:

- Chúa công vẫn bảo là hai vị công tử thông mưu với nhau, bởi vậy mới sai người đem quân đi đánh. Bây giờ hai người cùng chạy đến cả một nơi thì Ly Cơ lại có cớ mà nói được. Vả chúa công thế nảo cũng sai người đem quân đi đánh nước Địch, chi bằng ta chạy sang nước Lương là hơn. Nước Lương tiếp giáp với nước Tần, mà nước Tần nay đang cường thịnh. Khi chúa công trăm tuổi rồi, ta có thể mượn binh nước Tần mà về nước được.

Công tử Di Ngô liền chạy sang nước Lương. Giả Hoa giả cách đuổi theo không kịp, đem quân trở về. Tấn Hiến-công nổi giận, truyền đem Giả Hoa ra chém. Phi Trịnh Phủ tâu rằng:

- Ngày trước chúa công sai đắp thành cho hai vị công tử ở, bắt làm kiên cố quá, vậy nên nay không đánh nổi, chứ Giả Hoa có tội gì đâu! Lương Ngũ cũng tâu rằng:

- Di Ngô là người ngu hèn, không cần gì hắn, còn Trùng Nhĩ có tiếng là người tài đức, hiện nay các quan trong triều đi theo nhiều lắm. Vả nước Địch là một nước thù với ta, nếu ta không đánh nước Địch mà trừ Trùng Nhĩ đi thì mai sau tất có tai vạ.

Hiến-công liền tha cho Giả Hoa lại sai người triệu Bột Đề đến. Bột Đề nghe tin Giả Hoa suýt phải tội chết có ý sợ hãi, mới nói với Hiến-công, tình nguyện đem quân đi đánh nước Địch. Hiến-công cho đi, Bồ Đề đem quân đến nước Địch. Vua nước Địch cũng đem quân ra chống giữ. Quân hai bên giữ nhau đến hai tháng. Phi Trịnh Phủ nói với Hiến-công rằng:

- Cha con không nên tuyệt tình quá! Hai vị công tử cũng chưa có tội trạng gì, nay đã chạy trốn mà còn cố theo để giết, chẳng hóa ra nhẫn tâm lắm ru! Vả quân ta vị tất đã đánh nổi quân nước Địch, nếu ta cố đánh mãi thì chỉ nhọc quân mà để cho nước láng giềng chê cười mà thôi.
Hiến-công nghĩ lại, triệu Bột Đề đem quân về. Hiến-công nghi các vị công tử phần nhiều là bè cánh Trùng Nhĩ và Di Ngô, mai sau tất ngăn trở việc Tề Hề, liền hạ lệnh đuổi hết các vị công tử, rồi lập Tề Hề lên làm thế tử. Các quan trong triều, chỉ trừ Đông Quan Ngũ, Lương Ngũ và Tuân Tức, còn ai cũng không bằng lòng cả, hần đông cáo ốm xin từ chức.

Đến tháng chín năm ấy, Tấn Hiến-công định sang hội với Tề Hoàn-công ở đất Quỳ Khâu, nhưng sang không kịp, lại trở về nước. Trong khi đi đường, bị đau nặng, đến lúc về cung, Ly Cơ ngồi ở dưới chân mà khóc rằng:

- Chúa công gặp cơn gia biến, đuổi hết các vị công tử mà lập Hề Tề. Một mai chúa công trăm tuổi, thiếp là đàn bà, Hề Tề hãy còn bé, bấy giờ các vị công tử ỷ thế nước ngoài mà đem quân về thì mẹ con thiếp biết trông cậy vào đâu! Hiến-công nói:

- Phu nhân chớ lo! Quan thái phó Tuân Tức vốn ngưởi trung thành để ta đem thế tử Hề Tề ủy thác cho Tuân Tức. Nói xong, liền gọi Tuân Tức đến bên cạnh giường nằm mà hỏi rằng:

- Ta nghe nói người quân tử lấy điều trung tín làm gốc, thì thế nào gọi là điều trung tín?

Tuân Tức nói:

- Hết lòng để thờ vua thì gọi là trung; dẫu chết không sai lời thì gọi là tín.

Hiến-công nói:

- Ta muốn đem thế tứ Hề Tề ủy thác cho nhà ngươi, chẳng hay nhà ngươi có nhận lời chăng?

Tuân Tức sụp lạy mà nói rằng:

- Tôi xin hết sức giúp thế tử.

Hiến-công ứa hai hàng nước mắt. Ly Cơ cũng rên rỉ khóc ở trong màn. Mấy hôm sau, Hiến-công mất, Ly Cơ ẵm công tử Hề Tề đưa cho Tuân Tức. Bấy giờ Tề Hề mới mười một tuổi.

Tuân Tức theo di mệnh lập Hề Tề nối ngôi. Ly Cơ cũng theo di mệnh cho Tuân Tức làm chức thượng khanh, Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ làm chức Tả tư mã để tổng thống binh quyền, đi tuần hành trong nước. Phàm các việc chính trị, bất cứ việc lớn việc nhỏ, đều phải trình với Tuân Tức rồi mới được thi hành.

------------------------------------------

Hồi thứ 28.
Lý Khắc một tay giết hai vua
Di Ngô nhờ Tần về nước Tấn

Tuân Tức lập công tử Hề Tề lên nối ngôi, các quan trong triều đều bái mệnh cả, chỉ có Hồ Đột cáo ốm không đến. Lý Khắc nói riêng với Phi Trịnh Phủ rằng:

- Bây giờ lập Hề Tề thì còn Trùng Nhĩ và Di Ngô làm thế nào?

Phi Trịnh Phủ nói:

- Việc này cốt ở tay Tuân Tức, để ta dò xem ý hắn thế nào. Nói xong, hai người cùng lên xe đến nhà Tuân Tức, Tuân Tức mời vào. Lý Khắc nói:

- Nay chúa công mất đi, Trùng Nhĩ và Di Ngô đều ở ngoài cả, ngài là quan đại thần trong nước, sao không đón Trùng Nhĩ là một vị công tử hơn tuổi để về nối ngôi, mà lại lập Hề Tề là con Ly Cơ thì sao cho người ta phục. Vả bè cánh các vị công tử, ai cũng oán mẹ con Hề Tề thâm nhập cốt tủy nhưng không làm gì chỉ vì sợ uy của tiên quân ta ngày xưa mà thôi. Bây giờ ghe tin tiên quân mất rồi, tất nhiên sinh biến: mặt ngoài thì nước Tần nước Địch giúp vào, mặt trong thì người trong nước nổi lên bấy giờ ngài nghĩ cách gì mà giữ nổi! Tuân Tức nói:

- Tôi chịu di mệnh của tiên quân ta mà lập Hề Tề thì tôi chỉ xin hết một lòng để giúp Hề Tề mà thôi, còn ngoài ra không biết có ai cả nếu không giúp nổi thì đành chịu chết để đáp lại tấm lòng ủy thác của tiên quân ta.

Phi Trịnh Phủ nói:

- Thế thì chỉ là chết uổng mà thôi, sao ngài không nghĩ lại?

Tuân Tức nói:

- Tôi đã nhận lời với tiên quân rồi, dẫu biết rằng chết uổng, cũng không dám sai lời.

Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ hai ba lần khuyên bảo mãi. Tuân Tức cứ một lòng sắt đá, nhất định không nghe. Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ bèn cáo từ lui ra. Hai người nói riêng với nhau rằng:

- Ta nghĩ Tuân Tức là bạn đồng liêu với nhau, đem việc phải đến bảo hắn, hắn lại nhất định không nghe thì biết làm thế nào?

Phi Trịnh Phủ nói:

- Hắn giúp Hề Tề, ta giúp Trùng Nhĩ, mỗi đằng giúp một bên, có ngại chi điều ấy?

Nói xong, hai người liền mật ước với nhau, sai kẻ lực sĩ đi lẫn vào trong bọn thị vệ, nhân lúc Hề Tề đi tế ở thái miếu, đổ ra mà giết, bấy giờ có Ưu Thi đứng ở bên cạnh, cầm gươm đến cứu, cũng bị bọn lực sĩ giết chết.

Tuân Tức nghe tin, giật mình kinh sợ, vội vàng chạy đến, ôm lấy thây Hề Tề mà khóc rằng:

Ta chịu di mệnh giúp thế tử mà giúp không nổi, thật là cái lỗi của ta. Nói xong, toan đập đầu vào cột. Ly Cơ vội vàng sai người ngăn lại mà can rằng:

- Xin quan đại phu nghĩ lại, Hề Tề dẫu chết, còn Trác Tử cũng có thể giúp được?

Tuân Tức liền sai bắt vài ba mươi người canh giữ ở đấy đem giết cả đi, rồi cùng với các quan hội nghị và cùng nhau lập Trác Tử lên nối ngôi. Bấy giờ Trác Tử mới lên chín tuổi. Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ giả cách không biết, không dự hội nghị. Lương Ngũ nói:

- Việc giết thế tử chính là Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ vì Thân Sinh mà báo thù. Nay họ không đến dự hội nghị thì tội lại càng rõ lắm, xin đem quân đến bắt để trị tội.

Tuân Tức nói:

- Hai người ấy là lão thần nước Tấn ta, vây cánh rất mạnh, nếu trị mà không nổi thì lại thành ra hỏng việc, âu là ta hãy ẩn nhẫn một chút, rồi sẽ liệu dần.

Lương Ngũ lui về, nói riêng với Đông Quan Ngũ rằng:

- Tuân Tức là người trung, nhưng ít mưu kế, lâm việc gì cũng rút rát lắm, không có thể trông cậy được? Nay Lý Khắc dẫu cùng với Phi Trịnh Phủ là một đảng, nhưng chỉ có Lý Khắc mới thật có lòng với Thân Sinh. Nếu ta trừ được Lý Khắc đi thì Phi Trịnh Phủ tự khắc phải sinh chán.

Đông Quan Ngũ nói:

- Dùng kế gì mà trừ được?

Lương Ngũ nói:

- Nay nhân lúc có tang, thế nào Lý Khắc cũng phải đi đưa đám, ta sai người đón đường mà giết đi thì chẳng khó nhọc gì cả, chi mất công một ngày thôi.

Đông Quân Ngũ khen phải, bảo Lương Ngũ rằng:

- Đồ Ngạn Di là một người có sức mang nổi ba nghìn cân, nếu ta đem tước lộc mà dụ dỗ thì có thể sai khiến được.

Nói xong, bèn bảo Đỗ Ngạn Di. Đồ Ngạn Di quen thân với quan đại phu là Chuy Suyễn, lại đem việc ấy đến bảo với Chuy Suyễn và hỏi có nên làm không. Chuy Suyễn nói:

- Việc Thân Sinh ngày xưa vì mẹ con Ly Cơ mà bị Oan, người trong nước ai cũng thương xót, nay Lý Khắc và Phi Trịnh phủ định giết bọn Ly Cơ, rồi đón công tử Trùng Nhĩ vễ nối ngôi, đó là một nghĩa cử! Nếu nhà ngươi giúp đứa gian nịnh thì chẳng những chúng ta không tha nhà ngươi, mà muôn đời về sau, nhà ngươi còn đeo mãi cái tiếng xấu ấy, nhà ngươi chớ có nghe lời.

Đồ Ngạn Di nói:

- Chúng tôi dốt nát không biết gì, bây giờ chẳng hay làm thế nào mà từ chối được.

Chuy Suyễn nói:

- Nhà ngươi từ chối thì tất hắn lại sai người khác, chi bằng cứ giả cách nhận lời, rồi quay lại giết cả bọn gian nịnh ấy đi, như thế nhà ngươi có công to, sau này vừa được phú quý, vừa được danh tiếng, chẳng hơn là làm việc bất nghĩa mà chết thiệt thân ư! Đồ Ngạn Di nói:

- Ngài dạy phải lắm! Chuy Suyễn nói:

Chỉ sợ nhà ngươi lại thay lòng đổi dạ thôi! Đồ Ngạn Di nói:

- Nếu ngài không tin thì tôi xin ăn thề.

Nói xong, liền cắt tiết gà lấy máu ăn thề. Đồ Ngạn Di lui về. Chuy Suyễn tức khắc thuật chuyện lại cho Phi Trịnh Phủ nghe. Phi Trịnh Phủ bàn với Lý Khắc, rồi sửa soạn sẵn để định đến hôm đưa đám thì khởi sự. Đến hôm ấy, Lý Khắc cáo ốm không đi. Đỗ Ngạn Di nói với Đông Quan Ngũ rằng:

- Các quan đều đi đưa đám cả, chỉ có Lý Khắc không đi, đó là Lý Khắc đến ngày tận số! Xin ngài giao cho tôi ba trăm giáp binh, tôi đến nhà Lý Khắc bắt mà giết đi là xong.

Đông Quan Ngũ bằng lòng, liền giao cho Đồ Ngạn Di ba trăm giáp binh. Đỗ Ngạn Di giả cách đến vây nhả Lý Khắc. Lý Khắc cố ý sai người báo tin cho Tuân Tức biết. Tuân Tức giật mình kinh sợ mà hỏi Đông Quan Ngũ. Đông Quan Ngũ nói:

- Tôi nghe Lý Khắc sắp sửa nổi loạn, vậy có sai người đem quân đến vây nhà, việc ấy không can ngại gì! Tuân Tức ruột nóng như lửa, liền sai Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ đem quân đi ngay để dò la tin tức, còn mình thì ẵm Trác Tử ngồi ở trong triều. Đông Quan Ngũ đi đến nửa đường, gặp Đồ Ngạn Di. Đỗ Ngạn Di giả cách đến gần nói có việc cần kíp, rồi giơ tay bóp cổ Đông Quan Ngũ. Đông Quan Ngũ gẫy cổ mà chết, quân sĩ bỏ chạy tán loạn cả, Đồ Ngạn Di thét to lên rằng:

- Công tử Trùng Nhĩ đem quân nước Tần và nước Địch về, hiện đã đóng ở ngoài thành. Ta đây phụng mệnh quan đại phu là Lý Khắc, vì Thân Sinh mà báo thù, giết những kẻ gian nịnh, để đón công tử Trùng Nhĩ về làm vua. Trong các ngươi, ai muốn theo thì đứng lại, ai không muốn theo thì cho đi! Quân sĩ thấy nói đến Trùng Nhĩ về làm vua, thẩy đều tình nguyện xin theo cả.

Lương Ngũ nghe tin Đông Quan Ngũ biết bị giết, toan trở về triều để cùng với Tuân Tức đem Trác Tử đi trốn, chẳng ngờ lại bị Đỗ Ngạn Di đuổi kịp, Lý Khắc, Phi Trịnh Phủ và Chu Suyễn lại cũng kéo quân đến. Lương Ngũ biết cơ không chạy thoát được, liền rút gươm đâm cổ tự tử, nhưng đâm không đứt, bị Đỗ Ngạn Di tóm ngay được. Lý Khắc xông lại, giơ gươm chém Lương Ngũ đứt làm hai mảnh. Bấy giờ quan đại phu là Cung Hoa cũng đem quân đến đánh giúp rồi cùng nhau kéo vào trong triều. Tuân Tức vẫn nghiễm nhiên không sợ hãi gì cả, tay trái ẵm Trác Tử, tay phải giơ ống tay áo để đỡ che. Trác Tử sợ hãi khóc rầm lên. Tuân Tức bảo Lý Khắc rằng:

- Đứa bé con này có tội lỗi gì! Thôi thì nhà ngươi giết ta mà tha cho giọt máu của tiên quân.

Lý Khắc nói:

- Thân Sinh cũng là một giọt máu của tiên quân ta đó, bây giờ có thấy ở đâu! Nói xong, liền ngảnh lại bảo Đồ Ngạn Di rằng:

- Sao nhà ngươi không hạ thủ đi?

Đồ Ngạn Di tức khắc giằng lấy Trác Tử ném xuống đất, chỉ nghe thấy đánh "huỵch" một tiếng trông ra thì Trác Tử đã chết tươi rồi. Tuân Tức nổi giận, giơ gươm đánh nhau với Lý Khắc, cũng bị Đồ Ngạn Di chém chết. Lý Khắc lại kéo quân vào trong cung. Ly Cơ chạy trốn vào phòng Giả Quân. Giả Quân đóng cửa không cho vào. Ly Cơ lại chạy vào trong vườn, đâm đầu xuống hồ mà chết. Lý Khắc sai vớt xác lên mà đem xả ra, lại giết cả họ nhà Lương Ngũ, Đông Quan Ngũ và Ưu Thi. Lý Khắc họp các quan ở trong mà bảo rằng:

- Nay đã trừ được bọn phản loạn rồi! Trong ba công tử, chỉ có Trùng Nhĩ là hiền mà nhiều tuổi hơn cả, nên lập lên vua. Các quan ai thuận thì xin ký tên vào thẻ.

Phi Trịnh Phủ nói:

- Việc nảy tất phải có lão quan là Hồ Đột làm chủ mới được!

Lý Khắc liền sai người đem xe đi đón Hồ Đột. Hồ Đột từ chối mà nói rằng:

- Lão phu có hai con theo công tử Trùng Nhĩ đi trốn, nay lão phu lại dự vào việc này thì sao cho tiện? Lão phu đã già rồi, điếu ấy xin tùy ý các quan.

Lý Khắc liền cầm bút viết ngay tên mình ở trên nhất, thứ nhì đến tên Phi Trịnh Phủ, dưới đến bọn Cung Hoa, Giả Hoa và Chuy Suyễn, cả thẩy hơn ba mươi người, rồi sai Đỗ Ngạn Di sang nước Địch đón công tử Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ xem trong tờ biểu không thấy tên Hồ Đột, có ý nghi hoặc. Ngụy Thù nói:

- Người ta đón mà không về, thế công tử muốn ở mãi đây hay sao? Trùng Nhĩ nói:

- Nhà ngươi không biết rõ, số là các công tử còn nhiều, cứ gì một ta. Vả Hề Tề và Trác Tử mới bị giết, bè cánh hãy còn nhiều. Nay ta về thì sau không có thể lại đi được. Nếu trời có lòng tựa, lo gì không có ngày.

Hổ Yển cũng lấy việc nhân lúc biến loạn để về nối ngôi là một sự dở, liền khuyên Trùng Nhĩ không nên về. Trùng Nhĩ bèn từ chối rằng:

- Trùng Nhĩ này là một người có tội phải đi trốn, lúc cha còn đã không đưọc phụng dưỡng, lúc cha chết cũng không được trông nom, có đâu lại dám nhân sự biến loạn để về nối ngôi, xin các quan chọn người khác.

Đồ Ngạn Di về bảo với Lý Khắc. Lý Khắc toan sai người đi đón lần nữa. Quan đại phu là Lương Do My nói:

- Trong bọn công tử, ai chả có thể nối ngôi được. Sao ngài không đón Di Ngô?

Lý Khắc nói:

- Di Ngô là người tham lam mà tàn nhẫn, không bằng Trùng Nhĩ. Lương Do My nói:

- Chẳng vẫn hơn các công tử khác ư! Các quan đều thuận cả. Lý Khắc bất đẵc dĩ lại sai Đồ Ngạn Di và Lương Do My sang nước Lương để đón Di Ngô.

Bấy giờ công tử Di Ngô ở nước Lương, vua nước Lương gả con gái cho, sinh được một người con tên là Ngữ. Di Ngô ngày đêm mong cho trong nước có biến loạn để mưu cơ trở về, đến lúc nghe tin Tấn Hiến-công mất, liền sai Lã Di Xanh đem quân về đánh lén lấy đất Khuất. Tuân Tức nhân trong nước lắm việc, cũng chưa kịp hỏi đến. Sau Lã Di Xanh nghe tin Hề Tề và Trác Tử bị giết, các quan sai người đi đón Trùng Nhĩ về nối ngôi, liền sai người phi báo cho Di Ngô biết. Di Ngô cùng với Quắc xạ và Khước Nhuế thương nghị, định đem quân về cướp ngôi. Bỗng thấy Lương Do My đến đón. Di Ngô liền chắp tay để lên trán mà nói rằng:

- Thế này mới thật là lòng trời định lấy ngôi của Trùng Nhĩ mà cho ta đó! Nói xong, vẻ mừng rỡ hiện ra nét mặt.

Khước Nhuế nói:

- Trùng Nhĩ có phải là không muốn nối ngôi đâu, nay không chịu về, tất là có nghi ngại điều gì đây! Xin công tử chớ tin vội. Vả các quan ở trong nước đón ai về nối ngôi, tất là có ý muốn cầu lợi, nay trong bọn bề tôi nước Tấn, Lý Khắc đứng đầu, công tử nên để cho hắn được hậu lợi. Tuy vậy, cũng còn mối nguy. Ngày nay công tử về nước, khác nào như ngưừi vào hang hùm, tất phải có khí giới sắc bén, tôi thiết tưởng nên nhờ nước ngoài giúp sức thì mới có thể được. Mà các nước láng giềng ngày nay chỉ có Tần là mạnh hơn cả, công tử nên sai người kết giao với Tần, nếu Tần chịu giúp sức cho thì ta không ngại gì nữa.

Di Ngô theo lời, liền viết thư hẹn cho Lý Khắc một trăm vạn mẫu ruộng ở đất Phần Dương, và hẹn cho Phi Trịnh Phủ bảy mươi vạn mẫu ruộng ở đất Phù Qùy, sai Đồ Ngạn Di về báo tin trước, rồi lại viết một bức thư, sai Lương Do My sang sứ nước Tần, nói việc các quan đại phu nước Tấn cho sang đón Di Ngô về nối ngôi. Tần Mục-công bảo Kiển Thúc rằng:

- Khi trước ta đã nằm mộng thấy Ngọc Hoàng thượng đế sai ta dẹp loạn nước Tấn, nay ta nghe nói Trùng Nhĩ và chưa biết nên giúp ai?

Kiển Thúc nói:

- Trùng Nhĩ ở nước Địch, Di Ngô ở nước Lương, đều tiếp giáp nước ta cả, sao chúa công không sai người đến thăm để xét xem là người thế nào đã.

Mục-công theo lời, liền sai công tử Chí sang thăm Trùng Nhĩ trước rồi sau thăm đến Di Ngô. Công Tử Chí sang thăm Trùng Nhĩ, sai người nói riêng với Trùng Nhĩ rằng:

- Công Tử nên nhân dịp này mà về nước, chúa công tôi xin đem quân giúp công tử.

Trùng Nhĩ nói chuyện với với Triệu Thôi. Triệu Thôi nói:

- Người ta đón, mình không chịu về, mà nay lại mượn thế nước ngoài để về còn ra thế nào!

Trùng Nhĩ liền ra nói với công tử Chí rằng:

- Quý quốc có lòng giúp thì tôi xin cảm ơn, nhưng cha tôi mới chết, có đâu tôi dám nghĩ đến điều ấy.

Nói xong phục xuống đất mà khóc. Công tử Chí biết là người hiền, trong bụng khen thầm, rồi cáo từ lui ra, lại sang nước Lương để thăm Di Ngô. Di Ngô bảo công tử Chí rằng:

- Ngài phụng mệnh vua Tần sang thăm tôi? Có điều gì hay, xin ngài chỉ bảo cho.

Công tử Chí lại bảo Di Ngô nên nhân dịp mà về nước. Di Ngô nói chuyện lại với Khước Nhuế.

Khước Nhuế nói:

- Vua nước Tần có yêu gì ta, chẳng qua cũng là chỉ muốn cầu lợi, công tử nên hẹn cắt đất để tạ ơn.

Di Ngô nói:

- Bây giờ mà cắt nhiều đất cho Tần thì chẳng thiệt hại nước Tấn ta lắm ru! Khước Nhuế nói:

- Công tử không được về nối ngôi thì lảm sao mà có nước Tấn, nào phải là của nêng công tử đâu mà tiếc! Di Ngô lại ra tiếp kiến công tử Chí, cầm lấy tay mà bảo rằng:

Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ đã thuận cho tôi về nối ngôi, tôi đều có hẹn lời để báo đáp lại, không dám quên ơn, nếu qúy quốc có lòng giúp tôi, khiến cho tôi giữ yên được cơ nghiệp thì tôi xin biếu năm thành, để gọi là đền ơn chút đỉnh.

Nói xong, liền rút tờ ước thư ở trong tay áo ra đưa cho công tử Chí, nét mặt có ý tự đắc. Công Tử Chí toan từ chối không nhận, Di Ngô lại nói:

- Tôi có bốn chục nén hoàng kim, năm đôi bạch ngọc, xin dâng lên công tử, nhờ công tử nói giúp với vua Tần cho, không bao giờ tôi dám quên ơn.

Công tử Chí mới nhận lời. Khi về đến Tần, công tử Chí thuật lại chuyện Trùng Nhĩ và Di Ngô cho Tần Mục-công nghe. Tần Mục-công nói:

- Trùng Nhĩ hiền hơn Di Ngô nhiều lắm, ta nhất định giúp Trùng Nhĩ.

Công tử Chí nói:

- Chúa công giúp Trùng Nhĩ là lo việc hộ nước Tấn hay muốn lấy tiếng với thiên hạ?

Mục-công nói:

- Đó là việc nước Tấn, có dự gì đến ta. Ta chỉ muốn lấy tiếng với thiên hạ mà thôi.

Công tử Chí nói:

- Nếu chúa công muốn lo hộ việc cho nước Tấn thì nên chọn người hiền mà lập, bằng nếu chúa công muốn lấy tiếng với thiên hạ thì không cần chọn lựa gì. Dẫu lập ai thì mình cũng vẫn được tiếng, mà lập người hiền thì để người ta hơn mình, lập người bất hiền thì để người ta kém mình, đàng nào lợi hơn?

Mục-công nói:

- Lời nhà ngươi nói khiến ta tỉnh ngộ! Nói xong, liền sai Công Tôn Chi đem quân giúp Di Ngô về nước Tấn.

Vợ Tần Mục-công là em thế tử Thân Sinh nước Tấn, tức là nàng Mục Cơ, lúc bé Giả Quân (vợ thứ Tấn Hiến-công) nuôi ở trong cung. Mục Cơ là người rất nhân đức, nghe tin Công Tôn Chi gìúp Di Ngô về nước, liền gửi một bức thư đưa cho Di Ngô, bảo khi về nước phải hậu đãi Giả Quân, còn các vị công tử khi trước chạy trốn, đều không có tội lỗi gì, nên cho về cả, để thêm nhiều vây cánh. Di Ngô sợ mất lòng Mục Cơ, cũng phúc thư lại, xin vâng lời dặn.

Tề Hoàn-công nghe tin nước Tấn có loạn, đem quân đến đất Cao Hương (đất nước Tấn), gặp nước Tần kéo đến, vua Huệ-vương nhà Chu cũng sai quan đại phu là vương tử Đảng đem quân đến họp. Tề Hoàn-công liền sai Thấp Bằng hội với quân nhà Chu và quân nước Tần cùng đưa Di Ngô về nước Tấn để nối ngôi, tức là Tấn Huệ-công.

Người nước Tấn ai cũng yêu mến Trùng Nhĩ là người hiền, đến lúc nghe tin Di Ngô về làm vua, đều có ý thất vọng. Tấn Huệ-công đã lên nối ngôi, lập con là Ngữ làm thế tử, cho Hồ Đột, Quắc Xạ làm thượng đại phu, Lã Di Xanh, Khước Nhuế làm trung đại phu, Đồ Ngạn Di làm hạ đại phu. Lại sai Lương Do My theo vương tử Đảng sang nhà Chu, Hàn Giản theo Thấp Bằng sang nước Tề để tạ ơn.

Công Tôn Chi nước Tần còn ở nước Tấn để đòi lấy năm thành. Tấn Huệ-công có ý tiếc, liền họp các quan lại để thương nghị. Quắc Xạ đưa mắt nhìn Lã Di Xanh. Lã Di Xanh nói:

- Chúa công khi trước phải khấn lễ với nước Tần là vì chưa được về nước Tấn chưa phải là của chúa công. Nay đã về rồi thì nước Tấn là của chúa công. Vả lại dẫu ta không cho nước Tần, thì nước Tần cũng chẳng làm gì được kia mà?

Lý Khắc nói:

- Chúa công mới lên nối ngôi, mà đã thất tín với một nước láng giềng cường thịnh thì quyết không nên.

Khước Nhuế nói:

- Nay mất năm thành tức là mất nửa nước Tấn. Dẫu nước Tần có sức sang đánh, cũng vị tất lấy nổi được năm thành của ta, vả lại tiên quân ta ngày xưa trải bao khó nhọc mới mở mang được đất ấy, ta không nên bỏ! Lý Khắc nói:

- Đã biết là cơ nghiệp của tiên quân, sao lại hẹn cho người ta? Hẹn mà không cho thì sẽ làm nước Tần phải tức giận. Vả lại tiên quân ta ngày xưa ở đất Khúc ốc, chẳng qua chỉ là một khu đất nhỏ, mà biết sửa sang chính trị, rồi mở mang dần dần, thành ra một nước lớn. Nếu chúa công biết sửa sang chính trị mà giao hiếu với các nước láng giềng thì lo gì không có năm thành?

Khước Nhuế quát to lên rằng:

- Lời nói của Lý Khắc không phải là vì nước Tần, mà lại là vì một trăm vạn mẫu ruộng ở đất Phần Dương, chỉ sợ chúa công không cho vậy phải mượn việc nước Tần để làm lệ mà theo.

Phi Trịnh Phủ lấy cánh tay đẩy Lý Khắc. Lý Khắc biết ý, không dám nói nữa. Huệ-công nói:

- Bây giờ mình không cho thì là thất tín, mà cho thì lại làm cho nước mình phải suy yếu, hay là ta chịu cho một vài thành phỏng có nên không?

Lã Di Xanh nói:

- Dẫu cho một vài thành, cũng không gọi là thủ tín được, mà chỉ khơi lòng tham của nước Tần, chi bằng ra cứ từ chối đi là hơn.

Huệ-công liền sai Lã Di Xanh viết thư trả lời nước Tần. Thư đại lược rằng:

- Lúc trước Di Ngô này có hẹn với quý quốc xin dâng năm thành, nay được về nước, nghĩ đến cái ơn quý quốc, toan y lời hẹn, nhưng các quan đại thần nước tôi cùng nói rằng: “Đất nước Tấn là của tiên quân ngày xưa để lại, sao chúa công lại dám tự tiện đem cho người khác”. Tôi cố nói mãi mà không được. Vậy xin quý quốc hãy hoãn lại ít lâu, tôi không dám quên lời. Huệ-công hỏi:

- Ai là người dám vì ta mà sang sứ nước Tần?

Phi Trịnh Phủ xin đi. Huệ-công thuận cho, Nguyên Huệ-công khi sắp về nước, có hứa lời cho Phi Trịnh Phủ bảy mươi vạn mẫu ruộng ở đất Phụ Quỳ, nếu bây giờ Huệ-công không dâng đất cho Tần, thì khi nào chịu cho Lý Khắc vả Phi Trịnh Phủ ruộng nữa. Phi Trịnh Phủ ngoài miệng dẫu không nói ra, nhưng trong lòng có ý căm tức, mới xin đi sứ để định nói chuyện ấy với Tần.

Phi Trịnh Phủ theo Công Tôn Chi đến nước Tần, vào yết kiến Tần Mục-công, đệ trình tờ thư. Tần Mục-công xem xong nổi giận, đập bàn và nói rằng:

- Ta vẫn biết Di Ngô không đáng làm vua, ngày nay quả nhiên ta bị hắn lừa dối thật.

Nói xong, toan chém Phi Trịnh Phủ. Công Tôn Chi nói:

- Đó không phải là tội Phi Trịnh Phủ, xin chúa công dung thứ cho. Tần Mục-công vẫn còn chưa nguôi giận, hỏi rằng:

- Người nào xui Di Ngô phụ ơn ta, ta muốn tự tay cầm dao găm mà đâm chết! Phi Trịnh Phủ nói:

- Xin chúa công bảo hết người xung quanh ra để tôi xin nói.

Mục-công truyền người xung quanh lui cả ra, rồi vẫy Phi Trịnh Phủ lại gần mà hỏi. Phi Trịnh Phủ nói:

- Các quan đại phu nước tôi, ai cũng cám ơn quý quốc mà muốn nộp đất, chỉ có Lã Di Xanh vả Khước Nhuế cố tình ngăn trở. Nay xin quý quốc cứ làm ra vẻ tử tế, gọi hai người ấy sang mà giết đi, rồi giúp cho Trùng Nhĩ về, bấy giờ tôi xin cùng Lý Khắc làm nội ứng, đuổi Di Ngô, quý quốc nghĩ thế nào?

Tần Mục-công khen rằng:

- Kế ấy phải đó, ta cũng nghĩ như vậy! Nói xong, liền sai quan đại phu là Lãnh Chi theo Phi Trịnh Phủ sang nước Tấn, rồi lập kế dụ Lã Di Xanh và Khước Nhuế đến để giết.

--------------------------------------------------

Hồi thứ 29.

Tấn Huệ-công bắt giết người trung

Quản Di Ngô trối trăng việc nước

Chủ ý của Lý Khắc là đón Trùng Nhĩ về nối ngôi, nhưng Trùng Nhĩ lại chối từ không chịu nhận, mà Di Ngô thì khấn lễ để xin về, cho nên Lý Khắc bất đắc dĩ cũng phải theo ý mọi người mà lập Di Ngô, tức là Tấn Huệ-công. Ai ngờ khi Tấn Huệ-công đã được nối ngôi, những ruộng đất hẹn cho khi trước, Lý Khắc chẳng được gì cả mà Huệ-công lại tin dùng bọn Lã Di Xanh và Khước Nhuế, còn bao nhiêu các quan cựu thần khác đều không coi ra gì. Lý Khắc đã có ý không phục, đến lúc khuyên Huệ-công nộp đất cho Tấn, cũng là vì việc nước mà nói, thì lại bị bọn Khước Nhuế cho là có ý riêng tây, bởi vậy Lý Khắc vẫn tức giận mà không dám nói ra. Ở triều ra về, nét mặt Lý Khắc còn hầm hầm.

Sau, Phi Trịnh Phủ phụng mệnh đi sứ nước Tần, bọn Khước Nhuế sợ có thông mưu với Lý Khắc, liền sai người dò la ý tứ. Phi Trịnh Phủ cũng sợ Khước Nhuế sai người dò thám, bèn không từ biệt Lý Khắc mà đi ngay. Khi Lý Khắc sai người mời Phi Trịnh Phủ sang để nói chuyện thì Phi Trịnh phủ đã ra khỏi cửa thành rồi, Lý Khắc đi theo không kịp, lại phải trở về. Có ngườì báo tin cho Khước Nhuế biết.

Khước Nhuế vào nói với Huệ-công rằng:

- Lý Khắc thấy chúa công tước quyền của hắn, lại không cho ruộng Phần-dương, nên sinh lòng oán vọng. Nay nghe tin Phi Trịnh Phủ sang sứ nước Tần, lại thân hành đi đuổi theo, tất là cơ mưu làm phản. Và Lý Khắc vẫn muốn lập Trùng Nhĩ, chứ không muốn lập chúa công, nếu bây giờ hắn thông mưu với Trùng Nhĩ thì ta khó lòng mà giữ nổi, chi bằng chúa công bắt tội hắn chết, để khỏi di hoạn về sau.

Huệ-công nói:

- Lý Khắc có công với ta, bây giờ nói làm sao mà xử tử hắn được?

Khước Nhuế nói:

- Lý Khắc giết Hề Tề và Trác Tử, lại giết quan đại thần là Tuân Tức, kể tội thì đáng giết lắm, còn cái công đón chúa công về nước, chẳng qua là một cái ơn riêng, nếu chúa công không vì ơn riêng mà bỏ nghĩa lớn thì tôi xin phụng mệnh đến giết Lý Khắc.

Tấn Huệ-công cho đi. Khước Nhuế đến nhà Lý Khắc, bảo Lý Khắc rằng:

- Chúa công sai tôi đến nói cho ngài biết: Nếu không có ngài thì chúa công không được về nối ngôi, công ấy không bao giờ chúa công dám quên, nhưng ngài đã giết hai vua và một quan đại thần thì chúa công cũng không dám vì ơn riêng ấy mà bỏ nghĩa lớn, xin ngài tự liệu lấy.

Lý Khắc nói:

- Không có người bị giết thì sao chúa công lên nối ngôi được! Muốn bắt tội người ta thì thiếu gì lẽ, tôi đã hiểu ý rồi! Khước Nhuế lại cố bức mãi.

Lý Khắc bèn rút gươm nhảy lên mà kêu to:

- Trời ơi! Có thấu cho ta? Ta còn mặt mũi nào mà trông thấy Tuân Tức ở dưới đất nữa?

Nói xong, liền đâm cổ mà chết.

Tấn Huệ-công giết Lý Khắc rồi, các quan có nhiều người không phục, bọn Cung Hoa, Giả Hoa và Chuy Suyễn đều oán giận ra mồm. Huệ-công muốn giết tất cả. Khước Nhuế nói:

- Phi Trịnh Phủ còn đang ở nước ngoài mà ta giết nhiều người quá thì sợ hắn sinh nghi, âu là chúa công hãy chịu ẩn nhẫn đã.

Huệ-công nói:

- Mục Cơ nước Tần có dặn ta phải hậu đãi Giả Quân và cho hết các công tử về, nhà ngươi nghĩ thế nào?

Khước Nhuế nói:

- Các công tử ai chả muốn tranh ngôi, chớ nên cho về, còn việc hậu đãi Giả Quân để báo ơn Mục Cơ thì nên làm lắm.

Huệ-công liền vào yết kiến Giả Quân. Bấy giờ Giả Quân nhan sắc hãy còn xuân, Huệ-công trông thấy bỗng động lòng dâm dục bảo Giả Quân rằng:

- Mục Cơ có dặn ta cùng với quý nhân giao hoan, vậy quý nhân không nên từ chối.

Nói xong, liền đứng dậy ôm lấy Giả Quân. Các cung nhân trông thấy, đều buồn cười mà tránh đi cả. Giả Quân sợ uy Huệ-công, bất đắc dĩ phải nghe lời. Khi việc đã xong Giả Quân ứa hai hàng nước mắt nói với Huệ-công rằng:

- Thiếp trước hầu tiên quân mà nay lại thất thân với chúa công, thân thiếp không đáng kể nhưng xin chúa công vì thế tử Thân Sinh ngày xưa mà giải tình oan khuất, để Mục Cơ được bằng lòng.

Tấn Huệ-công nói:

- Hề Tề và Trác Tử bị giết thì tình oan của Thân Sinh đã giải được rồi?

Giả Quân nói:

- Thi thể Thân Sinh còn chôn tạm ở Khúc-ốc, xin chúa công cho ]àm lễ cải táng, khiến cho hồn oan được yên, đó cũng là một điều ước mong của người trong nước.

Tấn Huệ-công sai em Khước Nhuế là Khước Khuất sang đất Khúc-ốc để cải táng cho Thân Sinh, lại sai Hồ Đột đến làm lễ tế ở trước mộ. Khi đào lên thì thi thể Thân Sinh vẫn còn nguyên như lúc sống, nhưng mùi thối xông ra không thể nào chịu được. Quân sĩ đều bưng mũi buồn nôn, không làm gì được nữa, Khước Khuất bên thắp hương khấn rằng:

- Thế tử lúc sống là người trong sạch, sao lúc chết lại làm ra hôi hám như vậy, xin thế tử chớ khiến quân sĩ phải kinh sợ.

Khước Khuất khấn xong, bao nhiêu mùi hôi mất hết, lại có mùi hương ngào ngạt. Quân sĩ bèn thu liệm rồi cải táng. Người đất Khúc ốc kéo nhau đi đưa tất cả, ai cũng ứa nước mắt thương khóc. Đến ngày thứ ba, Hồ Đột đem lễ vật đến tế, tế xong, sắp sửa trở về, bỗng có một toán quân sĩ kéo đến xe ngựa đông lắm. Hồ Đột không biết là quân ở đâu, vội vàng tránh ra một bên, bỗng thấy một người đầu râu tóc bạc, mũ cao áo dài ở trên xe bước xuống, đến trước mặt Hồ Đột mà bảo rằng:

- Thế tử muốn mời ngài lại để nói chuyện.

Hồ Đột nhìn xem ai thì ra quan thái phó là Đỗ Nguyên Khoản.

Trong khi hoảng hốt, Hồ Đột cũng quên mất là Thân Sinh đã chết rồi, mới hỏi lại rằng:

- Thế tử đâu?

Đỗ Nguyên Khoản bèn trỏ vào xe sau mà bảo rằng:

- Xe thế tử đó?

Hồ Đột bèn đi đến trước xe, thấy thế tử Thân Sinh đội mũ đeo gươm, hệt như lúc sống. Thân Sinh sai người dắt Hồ Đột lên ngồi xe, rồi bảo rằng:

- Ngài còn nhớ đến tôi chăng?

Hồ Đột ứa nước mắt mà đáp rằng:

- Thế tử bị oan, dẫu người qua đường cũng phải thương xót, huống chi Hồ Đột này, khi nào lại quên được! Thân Sinh nói:

- Đức Ngọc Hoàng thượng đế thương tôi là người nhân hiếu, cho tôi làm chủ ở đất Khúc-ốc này. Di Ngô xử với Giả Quân rất vô lễ, tôi ghét nó mà toan làm cho nó không cải táng được, nay vua nước Tần là người hiền, tôi muốn đem nước Tấn cho Tần, để người nước Tần giữ việc cúng tế tôi về sau, ngài nghĩ có nên không?

Hồ Đột nói:

- Thế tử ghét vua nước Tấn bây giờ, nhưng dân nước Tấn có tội gì? Vả tiên quân ngày xưa có tội gì, mà thế tử lại muốn bỏ người cùng họ mà đi cầu người khác họ giữ việc cúng tế. Như vậy tôi e rằng sẽ trái mất cái đạo nhân hiếu đó?

Thân Sinh nói:

- Ngài nói cũng phải, nhưng tôi đã tâu với Ngọc Hoàng thượng đế rồi! Để tôi sẽ tâu lại, có thể nào trong bảy ngày nữa tôi sẽ mượn mồm một người thầy đồng mà báo cho ngài biết.

Đỗ Nguyên Khoản đứng ở dưới xe, gọi Hồ Đột mà bảo rằng:

- Thôi, ngài nên trở về! Nói xong, liền giơ tay dắt Hồ Đột xuống xe, Hồ Đột vấp chân, ngã lăn xuống đất, giật mình tỉnh dậy, té ra đang nằm ở nhà quán xá, liền hỏi người hầu xung quanh rằng:

- Sao ta lại ở đây?

Người xung quanh nói:

- Khi tế vừa xong thì ngài ngã xuống, gọi mãi không tỉnh, chúng tôi phải vực lên xe rồi đem ngài về đây.

Hồ Đột biiết là mình nằm mộng, có ý lấy làm lạ, nhưng không nói cho ai biết, giả cách kêu mệt nhọc, nghỉ lại ở nhà quán xá. Được bảy ngày, bỗng có một người thầy đồng xin vào yết kiến. Hồ Đột sai đuổi hết người xung quanh rồi cho vào. Người thầy đồng nói:

- Thế tử Thân Sinh bảo tôi nói lại để ngài biết rằng thế tử đã tâu với Ngọc Hoàng thượng đế, Ngọc Hoàng thượng đế sẽ chỉ trị tội một mình hắn mà thôi, không hại gì đến nước Tấn cả.

Hồ Đột giả cách không hiểu hỏi lại rằng:

- Trị tội một mình hắn là ai?

Người thầy đồng nói:

- Tôi chi biết nói thế thôi, còn không biết việc gì hết.

Hồ Đột sai đem tiền bạc thưởng cho người thầy đồng rồi dặn không được nói cho ai biết. Hồ Đột về nước, nói chuyện với con Phi Trịnh Phủ là Phi Báo. Phi Báo nói:

- Chúa công làm nhiều điều trái lẽ, tất không an toàn được, có lẽ nước Tấn lại về tay Trùng Nhĩ mà thôi.

Phi Trịnh Phủ cùng với quan đại phu nước Tần là Lãnh Chi trở về nước Tấn, mới về đến ngoài cõi đã nghe tin Lý Khắc bị giết. Phi Trịnh Phủ trong lòng nghi hoặc, toan quay sang nước Tần, nhưng lại nghĩ đến con là Phi Báo hiện đang ở nhà, nếu mình bỏ trốn thì tất con bị hại, bởi vậy còn trù trừ chưa quyết. Bỗng gặp quan đại phu là Cung Hoa, Phi Trịnh Phủ mới hỏi chuyện Lý Khắc. Cung Hoa bèn kể lại đầu đuôi một lượt. Phi Trịnh Phủ hỏi:

- Bây giờ tôi có nên về không?

Cung Hoa nói:

- Những người cùng lòng với Lý Khắc còn nhiều, Cung Hoa này cũng là một người ở trong số đó. Nay chúa công chỉ giết một mình Lý Khắc, còn không bắt liên lụy đến ai cả, huống chi ngài hiện đang đi sứ nước Tần, tôi thiết tưởng cứ nên làm như người không biết là hơn, bằng nay sợ mà không về thì thành ra lại tự thú là người có tội.

Phi Trịnh Phủ nghe lời, liền trở về nước Tấn, đưa Lãnh Chi vào yết kiến chúa công. Lãnh Chi dâng các đồ lễ vật, rồi đệ trình từ thư.

Huệ-công mở ra xem. Trong thư đại lược nói rằng:

Nước Tấn và nưóc Tần, hai nước vốn là thân thuộc với nhau thì đất của nước Tấn cũng như của nước Tần. Các quan đại phu nước Tấn không chịu nộp đất, cũng là trung với nước mình, có đâu tôi lại tham muốn mà bỏ mất cái bụng tốt của các quan đại phu, nhưng tôi có một việc biên giới, muốn cùng hội nghị với quan đại phu Lã Di Xanh và quan đại phu Khước Nhuế. Xin mời sang ngay, kẻo tôi mong đợi”.

Cuối thư lại có viết một câu: “Nay xin trả lại tờ ước thư ngày trước”. Tấn Huệ-công là người thiển cận, thấy lễ vật của nước Tần rất hậu và tờ ước thư của mình xin nộp đất ngày trước cũng được trả lại, trong lòng mừng lắm, toan sai Lã Di Xanh và Khước Nhuế sang tạ ơn nước Tần. Khước Nhuế nói riêng với Lã Di Xanh rằng:

- Nước Tần cho sứ đến, không phải vì lòng tốt. Của nhiều nói ngọt như vậy, tất là có ý muốn lừa ta. Chúng ta sang đến nơi, không khéo Tần sẽ bắt hiếp chúng ta phải nộp đất.

Lã Di Xanh nói:

- Tôi cũng cho rằng người nước Tần không có lòng tốt với ta đến như thế. Đó tất là Phi Trịnh Phủ nghe tin Lý Khắc bị giết, sợ không khỏi tội, mới lập mưu với người nước Tần, muốn cho họ giết chúng ta, để hắn nổi loạn.

Khước Nhuế nói:

- Phi Trịnh Phủ cùng với Lý Khắc nguyên vẫn là cùng cánh. Lý Khắc bị giết, Phi Trịnh Phủ tài nào không sợ, ngài nói phải đó! Nay trong số các triều thần thì người vây cánh của Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ đến một nửa, nếu Phi Trịnh Phủ có lòng nào, tất nhiên nhiều người theo với hắn, chi bằng ta hãy bảo sứ nước Tần về trước, để ta sẽ dò xét xem.

Lã Di Xanh khen phải, liền vào nói với Huệ-công, hãy bảo Lãnh Chi về nước Tần trước, rồi sẽ cho lã Di Xanh và Khước Nhuế sang sau. Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người tâm phúc ngày đêm chực ở cửa nhà Phi Trịnh Phủ để dò thám. Phi Trịnh Phủ thấy Lã Di Xanh và Khước Nhuế không sang Tần, liền mật cho triệu bọn Kỳ Cử, Cung Hoa, Giả Hoa và Chuy Suyễn, đêm hôm ấy đến nhà để hội họp. Quân thám tử về báo với Khước Nhuế. Khước Nhuế tức khắc cùng Lã Di Xanh thương nghị, sai người gọi Đồ Ngạn Di đến, bảo rằng:

- Tai vạ nhà ngươi sắp đến nơi, nhà ngươi có biết không?

Đỗ Ngạn Di glật mình kinh sợ mà hỏi rằng:

- Tôi làm gì nên vạ?

Khước Nhuế nói:

- Nhà ngươi ngày trước gỉúp Lý khắc giết Hề Tề và Trác Tử, nay Lý Khắc đã bị giết, chúa công lại sắp giết cả nhà ngươi. Chúng ta thấy nhà ngươi có cái công đón lập chúa công, không nỡ để cho nhà ngươi bị giết, vậy nên chúng ta bảo cho mà biết.

Đồ Ngạn Di vừa khóc vừa nói:

- Tôi chi là một kẻ vũ phu, bị người ta sai khiến, nào có biết thế là nên tội đâu! Xin ngài làm ơn cứu cho.

Khước Nhuế nói:

- Chúa công giận lắm, không thể xin được! Nay chỉ có một kế này, may ra thoát khỏi được chăng?

Đồ Ngạn Di liền quỳ xuống hỏi kế. Khước Nhuế vội vàng đỡ dậy và bảo rằng:

- Nay Phi Trịnh Phủ cùng một bè cánh với Lý Khắc, đang cùng các quan đại phu mưu định giết chúa công mà đón Trùng Nhĩ về nối ngôi. Nhà ngươi giả cách sợ tội đến thông mưu với Phi Trịnh Phủ, khi đã dò được thực tình rồi thì ra mà thú, rồi ta tâu với chúa công lấy ba mươi vạn mẫu ruộng ở đất Phụ Quỳ ngày trước đã hẹn cho Phi Trịnh Phủ mà cho nhà ngươi, lại thăng chức để đền công cho nhà ngươi, thì nhà ngươi còn lo gì tội nữa! Đồ Ngạn Di mừng nói rằng:

- Nếu vậy thì thật là ngài cải tử hoàn sinh cho tôi đó, tôi xin vâng lời, chỉ hiềm một nỗi tôi nói năng vụng lắm thì biết làm thế nào?

Lã Di Xanh nói:

- Để ta dạy cho nhà ngươi.

Nói xong, liền nghĩ sẵn câu hỏi và câu trả lời, để cho Đồ Ngạn Di học thuộc. Đêm hôm ấy, Đồ Ngạn Di đến gõ cửa Phi Trịnh Phủ, nói có việc bí mật muốn vào bàn. Phi Trịnh Phủ chối từ là đang say rượu nằm ngủ, không ra tiếp kiến. Đỗ Ngạn Di đứng đợi, mãi đến canh khuya cũng không trở về. Phi Trịnh Phủ bèn cho gọi vào, Đồ Ngạn Di vào đến nơi, liền quỳ xuống đất mà kêu rằng:

- Xin ngài cứu cho, kẻo tôi chết mất?

Phi Trịnh Phủ giật mình, liền hỏi. Đồ Ngạn Di nói:

- Chúa công bảo là tôi giúp Lý Khắc giết Tề Hề và Trác Tử, sắp đem chém tôi, xin ngài cứu cho! Phi Trịnh Phủ nói:

- Nay quyền chính ở tay Lã Di Xanh và Khước Nhuế, sao nhà ngươi không đến mà kêu với hai người ấy?

Đồ Ngạn Di nói:

- Việc này là do mưu của Lã Di Xanh và Khước Nhuế, tôi tiếc rằng không thể ăn thịt được hai người ấy, kêu với họ thì có ích gì! Phi Trịnh Phủ còn chưa tin lời, lại hỏi rằng:

- Thế thì nhà ngươi định thế nào?

Đồ Ngạn Di nói:

- Công tử Trùng Nhĩ là ngườì nhân hiếu, trong nước ai cũng muốn tôn lên làm vua, mà vua nước Tần ngày nay đang ghét chúa công ta là người bội ước, cũng muốn lập Trùng Nhĩ. Nếu ngài viết một bức thư, sai tôi đem ra cho Trùng Nhĩ, để Trùng Nhĩ hợp binh nước Tần và nước Địch, còn đại phu ở trong hợp nhau với người của Thân Sinh ngày xưa mà làm nội ứng. Trước hết hãy chém đầu Lã Di Xanh và Khước Nhuế rồi đuổi chúa công đi mà lập Trùng Nhĩ, chắc hẳn phải nên việc.

Phi Trịnh Phủ nói:

- Nhà ngươi có giữ được một lòng như thế không?

Đồ Ngạn Di liền cắt đầu ngón tay chảy máu ra mà thề rằng:

- Nếu tôi sai lời thì xin chết cả họ.

Phi Trịnh Phủ tin lời, hẹn đến canh ba đêm hôm sau thì lại hội nghị. Đêm hôm sau, Đồ Ngạn Di lại đến thì đã thấy Kỳ Cử, Cung Hoa, Giả Hoạ và Chuy Suyễn đâu ở đấy rồ, lại có Thúc Kiên, Lụy Hổ, Đặc Cung và Điền Kỳ bốn người nữa, đều là môn hạ cũ của Thân Sinh cùng với Phi Trịnh Phủ và Đồ Ngạn Di cả thẩy mười người, cùng nhau quệt máu ăn thề để giúp Trùng Nhĩ. Phi Trịnh Phủ bày tiệc thết đãi mọi người uống rượu say, rồi đâu vế đấy cả. Đồ Ngạn Di bèn về báo cho Khước Nhuế biết. Khước Nhuế nói:

- Nhà ngươi nói thế, không có bằng cứ gì cả, làm thế nào lấy được bức thư của Phi Trịnh Phủ thì mới trị tội hắn được.

Đêm hôm sau, Đồ Ngạn Di lại đến nhà Phi Trịnh Phủ để nhận tờ thư đem cho Trùng Nhĩ. Phi Trịnh Phủ đã viết sẵn sàng rồi, chín người cùng ký tên cả, chỉ thiếu có một mình Đồ Ngạn Di. Đồ Ngạn Di cũng cầm bút ký tên nốt. Phi Trịnh Phủ niêm phong kỹ càng, rồi giao cho Đồ Ngạn Di, dặn Đồ Ngạn Di phải cẩn thận, chớ tiết lộ ra cho ai biết. Đồ Ngạn Di được bức thư, quý như người được của, đem thẳng đến nhà Khước Nhuế. Khước Nhuế xem xong, liền giấu kín Đồ Ngạn Di ở trong nhà, rồi cùng Lã Di Xanh đem bức thư sang thuật lại mọi chuyện cho quốc cữu là Quắc Xạ biết rồi nói rằng:

- Nếu không trừ ngay thì tất sinh biến loạn. Đêm hôm ấy, Quắc Xạ vào ngay trong cung, yết kiến Huệ-công, kể hết âm mưu của Phi Trịnh Phủ, lại nói với Huệ-công rằng:

- Sáng mai ra triều, chúa công nên đem bức thư này ra làm chứng cớ mà trị tội đi.

Ngày hôm sau, Huệ-công ra triều. Lã Di Xanh, Khước Nhuế đã sai các vũ sĩ phục sẵn ở xung quanh. Huệ-công gọi Phi Trịnh Phủ mà hỏi rằng:

- Ta đã biết nhà ngươi định đuổi ta mà lập Trùng Nhĩ, xin hỏi nhà ngươi là ta có tội gì?

Phi Trịnh Phủ vừa toan biện bạch thì Khước Nhuế chống gươm quát to lên rằng:

- Nhà ngươi sai Đồ Ngạn Di đem thư đưa cho Trùng Nhĩ, may nhờ hồng phúc chúa công mà ta đón bắt được Đồ Ngạn Di, Đồ Ngạn Di đã thú nhận cả rồi, nhà ngươi còn nói gì nữa?

Huệ-công cầm bức thư ném ra trước án. Lã Di Xanh nhặt lấy, rồi chiếu tên đọc lên, để cho vũ sĩ bắt từng người một. Chỉ có Cung Hoa ở nhà, Lã Di Xanh tức khắc sai người đi bắt, còn tám người ở đấy, đều ngơ ngác nhìn nhau, không chối cãi thế nào được. Huệ-công truyền đem ra chém. Trong bọn ấy có Giá Hoa kêu rầm lên rằng:

- Năm xưa tôi phụng mệnh tiên quân đi đánh chúa công, có cái ơn tha cho chúa công đi trốn, xin chúa công nghĩ lại.

Lã Di Xanh nói:

- Ngày trước nhà ngươi làm tôi tiên quân mà tư tình với chúa công ngày nay nhà ngươi làm tôi chúa công lại tư tình với Trùng Nhĩ, thế là một đứa tiểu nhân phản phúc, càng nên giết lắm. Giả Hoa không nói thế nào được nữa. Tám ngườí đều chết chém cả. Cung Hoa ở nhà, nghe tin bọn Phi Trịnh Phủ bị giết, toan tức khắc vào triều để xin nhận tội. Em là Cung Tứ can rằng:

- Vào thì tất chết, chẳng thà trốn đi còn hơn?

Cung Hoa nói:

- Ngày trước ta bảo Phi Trịnh Phủ cứ về, để đến nỗi Phi Trịnh Phủ chết, nay ta sống lấy một mình thì sao gọi là trượng phu được? Ta không phải là không muốn sống nhưng ta không nỡ phụ lòng Phi Trịnh Phủ! Nói xong, không đợi cho người đến bắt, tức khắc vào thẳng ngay trong triều để xin chịu tội. Tấn Huệ-công cũng sai đem chém. Phi Báo nghe tin cha là Phi Trịnh Phủ bị giết, tức khắc trốn sang nước Tần.

Huệ-công muốn giết cả họ những người trong bọn Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ. Khước Nhuế nói:

- Trị tội người ta, không bắt đến vợ con, đó là phép đời xưa. Nay bọn phản nghịch đã bị giết thế cũng đủ làm gương cho kẻ khác rồi, cần gì phải giết lắm, cho người ta kinh hãi.

Huệ-công mới tha cho các họ, rồi thăng Đồ Ngạn Di làm trung đại phu, thưởng cho mười vạn mẫu ruộng ở đất Phụ Quỳ. Phi Báo đến nước Tần, vào yết kiến Tần Mục-công, phục xuống đất mà khóc. Tần Mục-công hỏi. Phi Báo đem chuyện với Mục-công nên đem quân sang đánh Tấn. Mục-công hội các quan để thương nghị.

Kiển Thúc nói:

- Vì lời nói của Phi Báo mà sang đánh Tấn, là giúp bề tôi mà đánh vua, sao cho phải nghĩa!

Bách Lý Hề nói:

- Nếu dân không phục thi tất sinh biến, chúa công nên đợì cho Tấn sinh biến, rồi sẽ sang đánh.

Mục-công nói:

- Ta cũng lấy làm nghi lắm, trong một lúc mà giết đến chín quan đại phu, nếu không được lòng dân tin phục thì sao làm thế được? Huống chi ta sang đánh mà không có nội ứng thì đánh làm sao nổi?

Phi Báo liền ở lại, làm quan đại phu nước Tần.

Bấy giờ vương tử Đái nhà Chu sai ngườì xui nước Nhung ở Y Lặc đem quân vào đánh kinh sư để định ở trong làm nội ứng. Chu Tương vương sai người cáo cấp với chư hầu. Tần Mục-công và Tấn Huệ-công đem quân đến cứu. Quân Nhung nghe tin chư hầu đến cứu, liền đốt phá cửa đông rồi kéo nhau về. Tấn Huệ-công trông thấy Tần Mục-công, có ý thẹn thùng. Tấn Huệ-công lại tiếp được từ mật thư của Mục Cơ kể tội mình vô lễ với Giả Quân, và không cho các công tử về nước, lại bảo nên đổi lỗi ngay đi, bởi vậy Tấn Huệ-công có ý nghi Tần Mục-công, vội vàng rút quân về nước. Phi Báo bèn xui Tần Mục-công đánh lẻn vào quân nước Tấn. Tần Mục-công nói:

- Nay nước Tấn vì việc cứu nhà Chu mà đến đây, ta dẫu có thù riêng, cũng không nên đánh vội.

Nói xong liền rút quân về. Tề Hoàn-công cũng sai Quản Di Ngô đem quân cứu nhà Chu, nghe tin quân Nhung đã rút về rồi, bèn sai người sang trách vua nước Nhung. Vua Nhung sợ uy thế Tề, sai người sang xin lỗi rằng: chúng tôi có dám xâm phạm kinh sư đâu, chỉ vì vương tử Đái xui chúng tôi làm vậy.

Chu Tương-vương mới đuổi vương tử Đái. Vương tử Đái chạy sang nước Tề.

Mùa đông năm ấy, Quản Di Ngô đau nặng. Tề Hoàn-công đến hỏi thăm, trông thấy Quản Di Ngô gầy lắm, mới cầm tay mà bảo rằng:

- Trọng phụ đau nặng lắm, bất hạnh mà có thế nào thì tôi biết giao quyền chính cho ai được?

Bấy giờ Ninh Thích và Tân Tu Vô cũng đều mất cả rồi, Quản Di Ngô thở dài mà than rằng:

- Tiếc thay cho Ninh Thích! Tề Hoàn-công nói:

- Trừ Ninh Thích ra, không còn ai nữa hay sao? Ta muốn giao quyền chính cho Bão Thúc Nha, Trọng phụ nghĩ thế nào?

Quản Di Ngô nói:

- Bão Thúc Nha là người quân tử, nhưng không có tài chính trị, hay phân biệt thiện ác quá, yêu điều thiện thì phải, chứ ghét điều ác quá thì không được! Bão Thúc Nha thấy ai có điều ác gì thì suốt đời không quên, đó cũng là một điều dở.

h nói:

- Thấp Bằng thế nào?

Quản Di Ngô nói:

- Thấp Bằng là người không lấy điều hỏi kẻ dưới làm xấu hổ, lúc nào cũng lo nghĩ đến việc nước, có thể dùng được.

Nói xong, lại thở dài mà than rằng:

- Trời sinh Thấp Bằng, khác nào như cái lưỡi của tôi, nay tôi đã chết thì cái lưỡi cũng không sống được. Tôi e rằng chúa công dùng Thấp Bằng cũng chẳng được bao lâu! Hoàn-công nói:

- Thế thì Dịch Nha thế nào?

Quản Di Ngô nói:

- Chúa công không hỏi, tôi cũng sắp nói đến. Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương, ba người ấy quyết không nên gần.

Hoàn-công nói:

- Dịch Nha làm thịt con cho ta ăn, thế là yêu ta hơn yêu con, còn nghi gì nữa?

Quản Di Ngô nói:

- Tình người ta không gì yêu hơn con. Con mình mà nỡ như thế thì còn nghĩ gì đến vua!

Hoàn-công nói:

- Thụ Điêu tự hoạn mình đi để xin vào hầu ta, thế là yêu ta hơn yêu thân mình, còn nghi gì nữa?

Quản Di Ngô nói:

- Người ta không gì yêu hơn thân. Thân mình mà còn như thế thì còn nghĩ gì đến vua!

Hoàn-công nói:

- Khai Phương là công tử nước Vệ, bỏ ngôi thế tử mà theo ta, khi cha mẹ chết, cũng chẳng thiết về, thế là yêu ta hơn yêu mẹ cha, còn nghi gì nữa?

Quản Di Ngô nói:

- Tình người ta không gì thân hơn cha mẹ. Cha mẹ mình mà nỡ như thế thì con nghĩ gì đến vua! Vả lại được phong làm thế tử ai mà chẳng muốn. Nay Khai Phương bỏ ngôi thế tử mà theo chúa công thì tất còn muốn được hơn ngôi thế tử nữa, chúa công chớ nên gần, gần thì tất có ngày sinh loạn.

Hoàn-công nói:

- Ba người ấy theo hầu ta đã lâu lắm, sao ta không thấy Trọng phụ nói đến bao giờ?

Quản Di Ngô nói:

- Tôi không nói ra là muốn chiều ý chúa công. Ví như nước tràn bờ có tôi đứng ra làm bờ đê, thì nước không tràn được, nay bờ đê đã bỏ đi rồi thì khó lòng mà ngăn cho nước khỏi tràn, xin chúa công chớ nên gần bọn ấy.

Tề Hoàn-công nín lặng, rồi cáo từ lui về.

--------------------------------------------

Hồi thứ 30.
Tấn Huệ-công bội ước cử binh
Tần Mục-cơ giận thân tự tử

Quản Di Ngô đau nặng, dặn Tề Hoàn-công đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương, lại tiến dẫn Thấp Bằng. Có người đem tin ấy báo với Dịch Nha. Dịch Nha vào yết kiến Bão Thúc Nha, rồi nói với Bão Thúc Nha rằng:

- Ngày trước ngài tiến dẫn Trọng phụ lên làm tể tướng, nay Trọng phụ ốm, chúa công hỏi chuyện, Trọng phụ lại nói ngài không có tài chính trị mà tiến dẫn Thấp Bằng, tôi rất lấy làm bất bình.

Bão Thúc Nha cười mà nói rằng:

- Ấy chỉ vì thế mà ta mới tiến dẫn Trọng phụ. Trọng phụ là người trung với nước mà không vì bạn. Giả sử chúa công cho ta làm chức tư khấu để khu trừ những đứa gian nịnh thì ta làm được, chứ cho ta cầm quyền chính trong nước thì lũ các ngươi còn đất nào mà dung thân nữa?

Dịch Nha xấu hổ cáo lui. Ngày hôm sau, Tề Hoàn-công lại đến thăm Quản Di Ngô thì Quản Di Ngô đã không nói được nữa. Bão Thúc Nha và Thấp Bằng không cầm được nước mắt. Đêm hôm ấy, Quản Di Ngô mất. Tề Hoàn-công khóc lóc, thương xót vô cùng, và nói rằng:

- Thương thay Trọng phụ! Trọng phụ chết đi thật là trời bẻ cánh tay ta. Nói xong, liền sai quan thượng khanh là Cao Hổ (con Cao Hề) coi việc cất tang Quản Di Ngô. Bao nhiêu những thái ấp của Quản Di Ngô đều cho con Quản Di Ngô hưởng tất cả, và cho được nối đời làm quan đại phu. Dịch Nha nói với quan đại phu là Bá Thị rằng:

- Ngày trước chúa công lấy đất Biền ấp của nhà ngươi thưởng cho Trọng phụ, nay Trọng phụ mất rồi, nhà ngươi nên nói với chúa công đòi lại đất ấy, rồi ta cũng liệu cách nói giúp nhà ngươi.

Bá Thị khóc mà nói rằng:

- Vì ta không có công trạng gì, vậy nên chúa công mới lấy đất của ta mà thưởng cho Trọng Phụ. Nay Trọng phụ dẫu mất rồi, nhưng công trạng của Trọng phụ hãy còn, ta mặt mũi nào mà xin đòi lại.

Dịch Nha than rằng:

- Trọng phụ mất rồi, mà còn khiến Bá Thị phải tâm phục như vậy thế thì lũ chúng ta là tiểu nhân thật! Hoàn-công theo lời Quản Di Ngô dặn lại, liền giao quyền chính cho công tôn Thấp Bằng. Chưa được một tháng thì Thấp Bằng mất.

Tề Hoàn-công nói:

- Trọng phụ thật là bậc thánh, sao lại biết rằng Thấp Bằng không sống được bao lâu nữa?

Nói xong, bèn dùng Bão Thúc Nha thay Thấp Bằng. Thúc Nha cố ý từ chối. Hoàn-công nói:

- Nay trong triều không có ai bằng ông, ông còn nhường cho ai?

Thúc Nha nói:

- Tôi là người yêu điều thiện mà ghét điều ác, chắc chúa công cũng đã biết, nếu chúa công dùng tôi thì tôi xin đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương.

Hoàn-công nói:

- Trọng phụ ngày xưa cũng có dặn ta như vậy, nay ta xin vâng lời. Nói xong, ngay ngày hôm ấy hạ lệnh đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương, không cho được vào triều. Bão Thúc Nha mới nhận chức tể tướng.

Bấy giờ có nước Hoài Di đem quân xâm phạm nước Kỷ. Nước Kỷ sai người sang cáo cấp với nước Tề. Hoàn-công hội quân các nước thân hành đi cứu nước Kỷ. Chư hầu thấy Tề Hoàn-công dùng Bão Thúc Nha làm tể tướng, những chính sách của Quản Di Ngô trước kia vẫn thi hành, không thay đổi gì cả.

Tấn Huệ-công từ khi lên nối ngôi, trong nước mất mùa luôn mãi, đến năm năm trời, kho tàng hết sạch cả, dân không lấy gì mà ăn.

Tấn Huệ-công muốn đong thóc ở nước khác về, mới nghĩ đến nước Tần là một nước láng giềng gần, lại có tình thân thuộc, chỉ hiềm nỗi ngày trước phụ ước chưa đến, nên muốn hỏi mà không dám hỏi.

Khước Nhuế nói:

- Không phải là ta phụ ước với Tần, chẳng qua chỉ là xin hoãn thôi nếu nay ta xin đong thóc mà Tần không cho, thế là Tần xử tệ với ta trước, bấy giờ ta sẽ phụ ước.

Huệ-công khen phải, sai quan đại phu là Khánh Trịnh đem lễ vật sang nói với Tần Mục-công xin đong thóc. Tần Mục-công họp các quan lại mà hỏi rằng:

- Nước Tấn khi trước có hẹn biếu ta năm thành mà không chịu biếu, nay nhân trong nước mất mùa, lại sai sứ sang xin đong thóc, chẳng biết có nên cho hay không?

Kiển Thúc và Bách Lý Hề đồng thanh nói:

- Thiên tai thì nước nào không có, nay ta giúp người thì trời tất giúp ta.

Mục-công nói:

- Ta làm ơn với nước Tấn nhiều lắm rồi! Công tôn Chi nói:

- Làm ơn mà Tấn biết đền ơn thì có thiệt gì đến nước Tần ta, nếu Tấn không biết đền ơn thì trái tại nước Tấn, bấy giờ ta sẽ liệu kế, chúa công cứ cho.

Phi Báo nghĩ đến thù cha ngày xưa, vùng tay mà nói rằng:

- Vua nước Tấn vô đạo, trời ra tai, ta nên thừa cơ đem quân sang mà đánh.

Do Dư nói:

- Người nhân đức, không thừa lúc người ta nguy cấp mà cầu lợi. Chúa công nên đong là phải.

Mục-công nói:

- Phụ ơn ta là vua nước Tấn, bây giờ bị đói là dân nước Tấn, ta kbông nỡ vì một ông vua mà làm khổ muôn dân.

Nói xong, liền sai người vận tải mấy vạn hộc thóc sang nước Tấn. Dân nước Tấn đều cảm ơn Tần Mục-công. Sang năm sau, nước Tần đói kém, mà nước Tấn thì được mùa. Tần Mục-công bảo Kiển Thúc và Bách Lý Hề rằng:

- May mà năm ngoái ta nghe lời hai ngươi cho nước Tấn đong thóc nếu không thì năm nay ta mất mùa, cũng khó lòng mà sang đong thóc ở nước Tấn được.

Phi Báo nói:

- Vua nước Tấn là người tham lam mà không tín nghĩa, nay ta sang xin đong thóc, vị tất họ đã cho.

Mục-công không nghe, liền sai Lãnh Chi đem lễ vật sang nói với Tấn Huệ-công xin đong thóc. Tấn Huệ-công toan sai người vận thóc ở đất Hà Tây sang giúp nước Tần. Khước Nhuế nói:

- Chúa công giúp thóc cho nước Tần, thế thì định lại cho Tần đất hay sao?

Huệ-công nói:

- Ta chỉ giúp thóc mà thôi, khi nào lại chịu cho đất.

Khước Nhuế nói:

- Vì có lẽ mà chúa công phải giúp thóc?

Huệ-công nói:

- Vì năm trước Tần giúp thóc cho ta, vậy nên ta phải báo ơn.

Khước Nhuế nói:

- Nếu lấy việc nước Tần giúp thóc làm ơn, thế thì năm xưa nước Tần giúp chúa công về nối ngôi, cái ơn ấy to biết dường nào! Nay chúa công bỏ cái ơn lớn mà báo cái ơn nhỏ là nghĩa làm sao?

Khánh Trịnh nói:

- Năm ngoái tôi phụng mệnh sang nước Tần xin đong thóc thì vua Tần nhận lời cho ngay, thế là xử với ta rất tử tế, nếu ta không cho Tần đong thóc, thì chắc Tần oán giận ta lắm.

Lã Di Xanh nói:

- Tần cho ta đong thóc, khồng phải là có lòng yêu ta, chỉ cốt muốn cho ta nộp đất. Nay ta không giúp thóc thì nước Tần oán ta giúp thóc mà không nộp đất thì nước Tần cũng oán, đằng nào Tần cũng oán cả, vậy thì việc gì phải giúp?

Khánh Trịnh nói:

- Thấy ngưởi ta có tai nạn mà không giúp là bất nhân, người ta làm ơn với mình mà quên ơn là bất nghĩa. Bất nhân, bất nghĩa thì sao giữ được nước?

Hàn Giản nói:

- Khánh Trịnh nói phải đó! Nếu năm ngoái Tần không cho ta đong thóc thì ta nghĩ thế nào?

Quắc Xạ nói:

- Năm ngoái trời làm ta đói, nước Tần không biết đánh lấy nước ta, lại cho ta đong thóc, thế là nước Tần ngu, năm nay trời làm nước Tần đói, để cho ta lấy nước Tần, ta không nên trái ý trời. Cứ như ý tôi thì nên hội với Lương rồi thừa cơ cùng đánh tần. Huệ-công theo lời Quắc Xạ, liền chối từ mà bảo Lãnh Chi rằng:

- Nước tôi mấy năm mất mùa luôn, dân phải xiêu bạt cả, năm nay hơi được mùa một chút thì dân xiêu bạt năm trước mới kéo nhau vễv vậy nên thóc trong nước chỉ đủ dùng mà thôi, không thể giúP quý quốc được. Lãnh Chi nói:

- Chúa công tôi nghĩ tình thân thuộc, không bắt nộp đất, lại cho đong thóc có lòng giúp quý quốc như vậy, mà quý quốc không đền ơn lại thì nay tôi trở về, biết phục mệnh như thế nào?

Lã Di Xanh và Khước Nhuế quát to lên rằng:

- Ngày trước nhà ngươi thông mưu với Phi Trịnh Phủ, toan đem lễ vật sang để dụ ta, may mà ta không mắc lừa, bây giờ lại còn nói khéo gì nữa! Nhà ngươi nên về nói với vua Tần: muốn ăn thóc của nước Tấn ta thì tất phải đem quân sang đánh mới có được. Lãnh Chi tức giận lắm ra về. Khánh Trịnh nói riêng với Quách Yển rằng:

- Chúa công ta bội ơn, làm cho nước Tần tức giận, tất sẽ có tai vạ. Quách Yển nói:

-Nước Tấn ta sắp đến ngày mất!

Lãnh Chi về đến Tần, nói với Mục-công rằng:

- Nước Tấn không cho đong thóc, lại toan họp quân Lương để sang đánh ta.

Mục-công nói:

- Con người vô đạo đến thế, thật là không ngờ! Để ta đánh nước Lương trước, rồi sau sang đánh nước Tấn.

Bách Lý Hề nói:

- Vua nước Lương hay làm khổ dân để xây đắp thành quách lâu đài, người trong nước ai cũng oán, tất không có thể giúp được nước Tấn. Nay chúa công nên đem quân sang đánh Tấn, rồi sẽ đánh Lương.

Mục-công khen phải, liền giao cho Kiển Thúc và Do Dư giúp thế tử Oánh giữ nước, rồi đem đại binh đi đánh Tấn. Tấn Huệ-công họp các quan lại hỏi rằng:

- Nay nước Tần tự nhiên vô cớ đem quân sang xâm phạm đất ta thì nên dùng kế gì để chống giữ?

Khánh Trịnh nói:

- Vì chúa công bội ơn mà Tần đem quân sang đánh, sao lại bảo là tự nhiên vô cớ được? Cứ như ý tôi nên theo lời ước cũ mà nộp năm thành cho Tần, rỗi cùng Tần giảng hòa là hơn.

Huệ-công nổi giận, nói:

- Nước Tấn ta đường là một nước lớn như thế này mà phải nộp đất giảng hòa với Tần thì còn mặt mũi nào mà làm vua nước Tấn nữa. Nói xong, truyền chém Khánh Trịnh. Quắc Xạ nói:

- Chưa đem quân đi đánh giặc, đă chém tướng thì tôi e rằng bất lợi, xin chúa công hãy tha Khánh Trịnh, để cho hắn được lập công mà chuộc tội.

Huệ-công nghe lời, rồi cử binh đi đánh Tần. Huệ-công vẫn dùng con ngựa tiểu tứ để kéo xe, tầm nhỏ, lông mỡ, đi nhanh và êm lắm.

Khánh Trịnh lại can rằng:

- Đời xưa đi đánh giặc bao giờ cũng dùng ngựa nước mình, vì ngựa nước mình đã quen thủy thổ, không mấy khi lầm đường. Nay chúa công đi đánh giặc, lại dùng ngựa nước Trịnh, tôi thiết tưởng không nên.

Huệ-công lại mắng rằng:

- Con ngựa ấy ta dùng đã quen rồi, nhà ngươi chớ nên nói lắm.

Quân nước Tần sang đến nước Tấn, ba lần đánh ba lần được, các quan trấn thủ đều bỏ chạy cả. Quân Tần kéo thẳng đến đất Hàn Nguyên. Tấn Huệ-công nghe tin quân Tần đă kéo đến Hàn Nguyên, liền nhăn trán lại mà nói rằng:

- Quân giặc mạnh thế thì ta biết làm thế nào?

Khánh Trịnh nói:

- Chúa công tự làm cho giặc đến, còn nói gì nữa! Huệ-công sai Hàn Giản đi do thám xem quân Tần nhiều hay ít.

Hàn Giản trở về báo rằng:

- Quân nước Tần dẫu ít không bằng ta, nhưng xem khi thế hăng hái gấp mười quân ta?

Huệ-công hỏi:

- Tại làm sao vậy?

Hàn Giản nói:

- Chúa công lúc trước nhờ nước Tần giúp binh cho mà được về nối ngôi, sau nhờ nước Tần giúp thóc cho mà dân khỏi đói, mấy lần chịu ơn nước Tần mà không đền lại, bởi vậy vua tôi nước Tần đều một lòng tức giận mà đem quân đến đánh, thành ra khí thế mạnh không biết thế nào mà kể! Huệ-công có ý giận mà rằng:

- Câu ấy đáng lẽ Khánh Trịnh nói thì mới phải, sao nhà ngươi cũng nói thế? Ta đây quyết cùng với Tần tử chiến một phen.

Nói xong, liền sai Hàn Giản sang nói với Tần Mục-công rằng:

- Nước tôi có sáu trăm cỗ giáp xa để chở quân nhà vua đến. Nếu nhà vua rút quân thì đó là sở nguyện của chúa công tôi, nếu không rút thì dầu chúa công tôi có muốn nhường nhà vua, nhưng quân sĩ không nghe, biết làm thế nào?

Tần Mục-công cười mà nói rằng:

 Đứa trẻ con ấy nay cũng kiêu lắm nhỉ! Nói xong, bèn sai Công Tôn Chi ra đáp lại rằng:

- Hiền hầu muốn lảm vua thì tôi giúp quân, hiền hầu muốn lấy thóc thì tôi giúp thóc, nay hiền hầu muốn khai chiến thì có đâu tôi lại dám trái ý.

Hàn Giản trở về mà nói rằng:

- Lý nước Tần như vậy thì ta tất phải thua mà thôi! Huệ-công sai Quách Yển bói xem ai nên làm chức xa hữu.

Quách Yển bói thấy không có ai tốt cả ngoài Khánh Trịnh ra. Huệ-công nói:

- Khánh Trịnh cùng cánh với Tần, không nên dùng.

Nói xong, bèn sai Gia Bộc Đồ làm chức xa hữu, Khước Bộ Dương ngồi cầm cương. Bách Lý Hề trèo lên trên lũy, trông thấy quân nước Tấn đông lắm, bèn bảo Tần Mục-công rằng:

- Tấn hầu cố sức liều chết, chúa công chớ nên đánh.

Mục-công trỏ lên trời mà nói rằng:

- Nước Tấn phụ ơn ta nhiều lắm, không có trời thì thôi, nếu có trời thì ta tất đánh được quân Tấn.

Nói xong, liền bày trận ở dưới chân núi để đợi quân nước Tấn đến. Được một lúc quân nước Tấn kéo đến, Đồ Ngạn Di cậy khỏe, tay cầm cái côn sắt nặng hơn một trăm cân, xông vào đách nhau với Kiển Bính. Đánh được hơn năm mươi hợp, hai người bỏ khí giới rồi quần thảo với nhau. Đồ Ngạn Di nói:

- Ta liều chết với nhà ngươi, nếu nhà ngươi gọi người khác đến đánh hộ thì không giỏi! Kiển Bính nói:

- Một mình ta quyết bắt sống nhà ngươi, thế mới anh hùng. Hai ngươi đều cấm quân sĩ không ai được đánh hộ, rồi cứ thế vật nhau, lùi dần mãi về phía sau trận. Tấn Huệ-công chia quân ra làm hai đạo để tiến vào. Tần Mục-công cũng chia quân ra làm hai đạo để đối địch. Tấn Khua Cồng sai Khước Bộ Dương dong xe vào giáp chiến. Công Tôn Chi trông thấy, hét lên một tiếng to như tiếng sấm. Con ngựa tiểu tứ của Tấn Huệ-công chưa quen ra trận bao giờ, nghe tiếng Công Tôn Chi hét, liền kinh sợ lồng chạy, sa vào trong đám bùn lầy. Khước Bộ Dương cố sức gia roi đánh mãi, nhưng ngựa nhỏ sức yếu, không sao lên được. Đang lúc nguy cấp, may có Khánh Trịnh đi đến. Tấn Huệ-công gọi mà bảo rằng:

- Khánh Trịnh! Nhà ngươi mau mau cứu ta với! Khánh Trịnh nói:

- Quắc Xạ đâu mà lại gọi đến Khánh Trịnh này?

Tấn Huệ-công lại gọi Khánh Trịnh mà bảo rằng:

- Nhà ngươi mau mau đem xe khác đến để cứu ta! Khánh Trịnh nói:

- Chúa công dùng con ngựa tiểu tứ đã quen, để đi gọi người khác đến cứu.

Nói xong, liền quay xe đi về phía tả. Đạo quân Hàn Giản tiến lên, đánh nhau với tướng nước Tần là Tây Khuất Thuật. Đánh trong ba mươi hợp, Tây Khuất Thuật không thể đương nổi bị Hàn Giản đâm cho một nhát, bị thương. Lương Do My bảo Hàn Giản rằng:

- Bắt viên bại tướng ấy làm gì, chúng ta nên đuồi theo mà bắt vua Tần. Hàn Giản liền cùng với Lương Do Mỵ thúc quân đi đuổi bắt Tần Mục-công. Tần Mục-công than rằng:

- Ngày nay ta lại bị nước Tấn bắt thì còn có trời đất nào nữa! Bỗng có một toán tráng sĩ hơn ba trăm người từ phía Tây kéo đến, vừa đi vừa reo ầm lên rằng:

- Chớ làm hại ân chủ ta! Tần Mục-công ngẩng đầu lên xem thì thấy bọn trắng sĩ đều đầu bới tóc rối, chân đi giày cỏ, lưng đeo cung tên, tay cầm dao nhọn, xông vào đánh quân Tấn. Hàn Giản và Lương Do My đang hoảng hốt nghênh chiến thì Khánh Trịnh chạy đến gọi mà bảo rằng:

- Chúa công ta bị quân Tần vậy, sa vào trong đám bùn lầy, nhà ngươi phải mau mau đem quân đến cứu.

Hàn Giản vội vàng kéo quân trở lại để đi cứu Tấn Huệ-công. Không ngờ Tấn Huệ-công đã bị Công Tôn Chi bắt được rồi. Bọn Gia Bọc Đỗ, Quắc Xạ và Khước Bộ Dương đều bị bắt cả, Hàn Giản giẫm chân xuống đất mà than rằng:

- Khánh Trịnh làm hại ta rồi, để vậy cho ta bắt lấy vua Tần có phải hơn không?

Lương Do My nói:

- Chúa công đã bị bắt thì chúng ta còn về làm gì nữa?

Nói xong, liễn cùng với Hàn Giản bỏ binh sĩ chạy đến dinh quân Tần. Bọn tráng sĩ hơn ba trăm người cứu được Tần Mục-công, lại cứu được cả Tây Khuất Thuật nữa. Quân Tần thừa thế đuổi đánh.

Quân Tấn chết không biết bao nhiêu mà kể. Khánh Trịnh nghe tin vua Tấn đã bị bắt rồi, tức khắc tìm đường bỏ trốn, gặp tướng nước Tấn là Nga Tích bị thương, nằm ở ngang đường bèn cứu lên xe cùng trở về nước Tấn.

Tần Mục-công về đến đại dinh, bảo Bách Lý Hề rằng:

- Ta không nghe lời nhà ngươi, xuýt nữa thì bị người nước Tấn cười. Bọn tráng sĩ hơn ba trăm người đều vào yết kiến Mục-công. Mục-công hỏi rằng:

- Các ngươi ở đâu mà lại liều chết cứu ta như vậy?

Bọn tráng sĩ nói:

- Chủ công không nhớ chuyện mất ngựa năm xưa hay sao? Chúng tôi chính là bọn ăn thịt ngựa đó! Nguyên năm xưa Mục-công đi săn ở núi Lương Sơn, đang đêm bỗng mất mấy con ngựa. Mục-công sai người đi tìm. Khi tìm đến dưới chân núi Kỳ Sơn, có một bọn hơn ba trăm người đang họp nhau ăn thịt ngựa, quân sĩ về báo với Mục-công, xin đem người đến vây thì có thể bắt cả được. Mục-công than rằng:

- Ngựa đã chết rồi mà nay lại giết người thì dân trong nước tất bảo ta là quý ngựa hơn người.

Nói xong, lại truyền đem mấy chục hũ rượu ngon, sai người đưa. đến núi Kỳ Sơn cho bọn ăn thịt ngựa mà bảo rằng:

- Chúa công tôi thấy các ngươi ăn thịt ngựa mà không uống rượu như thế hay sinh bệnh, vậy sai tôi đem rượu ngon đến để ban cho các ngươi.

Bọn ăn thịt ngựa chia nhau uống rượu, rồi bảo nhau rằng:

- Chúng ta ăn trộm ngựa, chúa công đã không bắt tội thì chớ, lại lo chúng ta mắc bệnh mà đem cho rượu ngon, thế bao giờ chúng ta mới đền được cái ơn to này! Bây giờ nghe tin Mục-công đi đánh nước Tấn, bọn tráng sĩ ấy bèn rủ nhau đến đánh giúp. Lại vừa gặp Mục-công bi vây, bọn tráng sĩ mới xông vào để cứu. Mục-công hỏi chuyện đầu đuôi, rồi thở dài mà than rằng:

- Bọn ăn trộm ngựa còn biết đền ơn, ai ngờ Tấn-hầu mà lại bất nghĩa như vậy.

Nói xong, liền truyền hỏi trong bọn tráng sĩ ấy có ai muốn làm quan thì phong chức cho. Bọn tráng sĩ đồng thanh đáp rằng:

- Chúng tôi chi muốn đến để đền ơn chúa công mà thôi, chứ không muốn làm quan.

Mục-công sai đem vàng lụa ra thưởng cho bọn tráng sĩ. Bọn tráng sĩ nhất định không nhận, rồi cáo từ lui ra. Mục-công khen ngợi không biết dường nào. Khi thu quân về, điểm duyệt các tướng thì thấy thiếu một mình Kiển Bính. Mục-công sai quân sĩ đi tìm khắp mọi nơi, bỗng nghe thấy ở trong một cái hố đất có tiếng người thở, vội vàng đến xem thì ra Kiển Bính và Đồ Ngạn Di hai người ôm nhau nằm ở trong hố hai bên cùng mệt lử, không động đậy được nữa, nhưng tay vẫn còn ôm chặt lấy nhau, chẳng ai chịu buông. Quân sĩ xuống gỡ hai người ra, rồi vực lên xe đưa về. Mục-công hỏi thì Kiển Bính không thể nói được, có người biết chuyện đầu đuôi, thuật lại cho nghe. Tần Mục-công khen rằng:

- Hai người đều là dũng sĩ cả.

Mục-công lại hỏi các quan xem có ai biết người tướng nước Tấn họ tên là gì không? Công tử Chí đến gần xem kỹ, mới nói với Tần Mục-công rằng:

- Đây là Đồ Ngạn Di là một dũng sĩ nước Tấn. Khi trước tôi phụng mệnh sang thăm Trùng Nhĩ và Di Ngô thì hắn cũng có phụng mệnh đến đón Di Ngô, bởi vậy tôi biết.

Mục-công nói:

- Người ấy ta có nên dùng không?

Công tử Chí nói:

- Giết Hề Tề, Trác Tử và Lý Khắc đều một tay người ấy cả, bây giờ ta nên trị tội mà giết đi.

Mục-công truyền đem Đồ Ngạn Di ra chém, rồi lại cởi áo cẩm bào trùm cho Kiển Bính, sai Bách Lý Hề chở xe về nước Tần để chữa thuốc đến hơn nửa năm mới khỏi.

Mục-công đã toàn thắng, hạ lệnh nhổ trại lên đường và sai ngườí báo Tấn Huệ-công rằng:

- Nhà vua không muốn nhường tôi, nay tôi cũng không thể nhường nhà vua được, vậy xin mời nhà vua đến nước tôi để tôi xin chịu lỗi.

Tấn Huệ-công nín lặng mà cúi đầu xuống. Tần Mục-công sai Công Tôn Chi đem quân áp giải Tấn Huệ-công về nước Tần. Bọn Quắc Xạ, Hàn Giản, Lương Do My, Gia Bộc Đồ, Khước Bộ Dương, Quách yển và Khước Khuất, đễu đầu bù tóc rối, lũ lượt theo sau, trông rất thê thảm! Tần Mục-công lại bảo các quan đại phu nước Tấn rằng:

- Vua tôi nhà ngươi khi trước có bảo ta muốn lấy thóc nước Tấn thì phải đem quân đến mà lấy, nay ta giữ vua nước Tấn, chẳng qua là để có thóc của nước Tấn đó mà thôi, nào dám làm điều gì quá lẽ! Bọn Hàn Giản sụp lạy mà nói rằng:

- Nhà vua thương chúa công tôi là người ngu mà có lòng khoan nhân thì hoàng thiên hậu thổ sẽ chứng giám cho câu nói của nhà vua.

Mục-công về đến bờ cõi nước Tần, hội các quan để thương nghị.

Mục-công nói:

- Ta chịu mệnh trời dẹp loạn nước Tấn mà lập Di Ngô, nay vua nước Tấn bội ơn ta, tức lả một kẻ có tội với trời, ta định giết vua nước Tấn để tế trời, phỏng có nên không?

Công tử Chí nói:

- Chúa công nghĩ rất phải! Công Tôn Chi can rằng:

- Không nên. Tấn là một nước lớn, ta bất vua nó cũng đã quá lắm rồi, nay lại giết đi thì tất nhiên người nước Tấn thêm oán. Người nước Tấn sẽ báo thù nước Tần ta, còn tệ hơn nước Tần ta báo thù nước Tấn ngày nay! Công tử Chí nói:

- Tôi thiết tưởng chẳng những nên giết vua nước Tấn mà thôi, lại còn lập Trùng Nhĩ lên làm vua nước Tấn, như thế thì dân nước Tấn ơn ta chẳng hết, còn oán nỗi gì! Công tôn Chi nói:

- Trùng Nhĩ là người nhân từ, khi trước đã không chịu vì việc cha chết mà về nối ngôi, huống chi ngày nay lại chịu nhân việc em chết mà về nối ngôi hay sao! Trùng Nhĩ không về mà lập người khác thì cũng chắng khác gì Di Ngô nếu Trùng Nhĩ chịu về thì tất lại nghĩ đến em mà oán nước Tần ta lắm. Như thế thì bỏ mất cái ơn của Di Ngô, mà mua thêm cái oán của Trùng Nhĩ, tôi thiết tưởng không nên.

Mục-công nói:

- Một đằng đuổi đi, một đằng giam lại và một đằng cho về trong ba cách ấy cách nào lợi hơn?

Công tôn Chi nói:

- Giam lại thì có ích gì cho nước Tần mà đuổi đi thì tất lại có người lập mưu đem vào nước Tấn, chi bằng ta nên cho vua nước Tấn lại về phục vị.

Mục-công nói:

- Thế ra ta đem quân đánh Tấn mất công không hay sao?

Công tôn Chi nói:

- Tôi thiết tưởng nên bắt vua nước Tấn nộp cho ta năm thành ở đất Hà Đông, lại bắt thế tử Ngữ phải sang ở nước ta để làm tin, rồi mới cho giảng hòa. Như thế thì vua Tấn không bao giờ dám quên ơn Tần và ngày sau cha chết con nối, nước Tấn đời đời qui phục nước Tần ta thì còn gì lợi hơn nữa! Tần Mục-công nói:

- Nhà ngươi lại tính trước đến những việc mấy đời sau. Nói xong, truyền đem Tấn Huệ-công an trí ở Linh Đài sơn, rồi thu quân về kinh thành.

Bỗng thấy một bọn nội thị kéo đến, đều mặc tang phục cả. Mục-công thấy lạ, bèn hỏi. Nội thị thuật lời nói của Mục Cơ rằng:

- Trời làm tai vạ, hai nước Tấn Tần bất hòa với nhau, nay vua Tấn bị bắt thì thiếp cũng lấy làm xấu hổ lắm.

- Nếu đem vua Tấn về đây buổi sớm thì thiếp chết buổi sớm, đem về buổi chiều thì thiếp chết buổi chiều. Thiếp sai lũ nội thị mặc tang phục đi đón chúa công xin chúa công tha cho vua Tấn, tức là cứu cho thiếp được khỏi chết.

Mục-công giật mình kinh sợ, hỏi nội thị rằng:

- Hiện nay phu nhân ở trong cung, sự thể thế nào?

Nội thị nói:

- Từ khi phu nhân tôi nghe tin vua Tấn bị bắt, liền đem thế tử mặc đồ tang phục, lên cái nhà gianh ở trên Sùng Đài, dưới Sùng Đài bắt chất nhiều củi khô. Chúng tôi đưa cơm vẫn phải trèo qua đống củi mà đi. Phu nhân tôi lại nói rằng: “Chờ khi nào chúa công cho đem vua Tấn về thì phu nhân tôi đốt lửa lên mà tự tử, để tỏ cái tình anh em?”

Tần Mục-công thở dài mà than rằng:

- May sao Công Tôn Chi lại khuyên ta đừng giết vua nước Tấn, nếu không thì phu nhân chết mất rồi?

Nói xong, bèn truyền cho nội thị bỏ tang phục đi, về báo với Mục Cơ rằng:

- Chúa công sắp tha cho vua nước Tấn đó!

Bọn nội thị về báo với Mục Cơ, Mục Cơ mới chịu về cung. Nội thị bèn quỳ xuống mà hỏi rằng:

- Vua nước Tấn là người tham lợi. Đã quên ơn chúa công ta, lại không theo những lời ủy thác của phu nhân, đến nỗi ngày nay phải tù nhục, phu nhân còn thương nỗi gì?

Mục Cơ nói:

- Người nhân giả dẫu thù oán thế nào, cũng không bỏ được tình thân thuộc. Nếu để cho vua Tấn chết ở nước Tần này thì cũng là lỗi của ta.

Các nội thị đều khen Mục Cơ là người hiền.

-------

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

MỤC LỤC

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét