Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

Đông Chu liệt quốc (Hồi thứ 6 - 10)

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

Hồi thứ 6.
Mượn lệnh, Trang-công đánh Tống
Vì nghĩa, Thạch Thác giết con

Thạch-hậu ra lệnh đánh với Công tử Lữ chưa đặng vài hiệp, Công tử Lữ đã bỏ chạy.

Thạch-hậu thừa thế rượt theo đến cửa phía Tây, thì Công tử Lữ đã kéo binh vào thành đóng chặt cửa lại, không ra đánh nữa.

Thấy vậy, Thạch-hậu cho quân sĩ gặt hết lúa mạch ở ngoài thành, rồi ra lệnh ban sư.

Chư tướng không rõ ý gì, kéo đến hỏi Chu Hu:

- Binh ta thắng trận, lẽ ra phải thừa thế mà tấn công, sao lại lui binh?

Chu Hu nghe nói, đem lòng nghi ngờ, đòi Thạch-hậu đến chất vấn.

Thạch-hậu đuổi hết kẻ tả hữu ra ngoài, rồi nói với Chu Hu:

- Binh Trịnh vốn đã mạnh, mà Trịnh Trang-công lại là Khanh-sĩ bên triều Chu. Quân ta đánh thắng một trận, danh vang trong thiên hạ, ấy là đã đạt được mục đích rồi. Nay Chúa công mới lên ngôi, việc nước chưa định, nếu ở ngoài lâu ngày e trong nước có biến.

Chu Hu nghe nói, như sực tỉnh, vội vã đáp:

- Lời ngươi luận rất phải lẽ. Nếu không có ngươi, thực ta chưa nghĩ đến.

Kế đó ba nước Trần, Sái, Lỗ đều đến chúc mừng Chu Hu thắng trận.

Chu Hu xin các nước ban-sư, ai rút quân về nước ngay. Kể từ ngày hưng binh đến ngày lui binh chỉ có năm ngày.

Thạch-hậu đắc thắng lòng hiu hiu tự đắc trương cờ, gióng trống, rầm rộ trở về.

Chu Hu hỏi:

- Người trong nước chưa chịu phục thì phải làm thế nào?

Thạch-hậu nói:

- Muốn cho dân phục thì bắt những kẻ được dân tin tưởng phục mình. Cha tôi trước kia làm Thượng-khanh, ai cũng mến đức, nay xin Chúa công triệu cha tôi vào dự việc quốc chính, thì ngôi báu ắt vững.

Chu Hu nghe theo lời, khiến người đem một cặp bạch-bích, và năm trăm hộc gạo trắng đến cầu Thạch Thác vào chầu nghị việc.

Thạch Thác giả đau, từ chối không nhận.

Chu Hu hỏi Thạch-hậu:

- Cha của khanh không chịu vào chầu, ý ta muốn đến đó để hỏi kế, có nên chăng?

Thạch-hậu tâu:

- Chúa công đến đó vị tất đã được gặp mặt. Để tôi lấy lệnh vua mà triệu người đến thì hơn.

Nói rồi trở về nhà, vào tỏ với Thạch Thác nỗi lòng kính mến của Chu Hu.

Thạch Thác hỏi:

- Tân-quân muốn triệu cha vào triều làm chi?

Thạch-hậu thưa:

- Vì lòng dân trong nước chưa phục Tân-quân sợ ngôi báu không vững nên muốn nhờ phụ thân chỉ giáo.

Thạch Thác nói:

- Mỗi chư hầu lên ngôi phải có mạng vua mới chánh đáng. Nay nếu Tân-quân muốn được mọi người tùng phục thì phải vào chầu vua nhà Chu. Khi vua nhà Chu chấp thuận, ban áo mũ, thì người trong nước sẽ vâng mạng.

Thạch-hậu nói:

Lời phụ-thân dạy rất phải. Song vô cớ vào chầu nhà Chu e bị nghi ngờ. Vậy phải có người đến đó tâu trình trước thì mới xong.

Thạch Thác nói:

- Việc đó không khó khăn gì. Trần-hầu là một người được ChU-vương yêu chuộng lâu nay chưa hề bỏ phế một lễ triều-sinh nào. Hơn nữa, vừa rồi, Trần lại đem binh giúp Vệ đánh Trịnh, thì tình giao hảo giữa Vệ và Trần đang mật thiết. Tân quân cứ sang nước Trần, nhờ Trần-hầu vào tâu trước với nhà Chu, rồi Tân quân sẽ triều kiến sau thì việc ắt thành.

Thạch-hậu trở về nói lại với Chu Hu.

Chu Hu mừng lắm, vội vả sắm sửa lễ vật và hành trang rồi cùng với Thạch-hậu lên đường sang nước Trần.

Thạch Thác với quan Đại phu nước Trần là Tử Hàm vốn là bạn thân. Bèn lấy máu viết một bức huyết thư, sai người tâm-phúc đến đưa cho Tử Hàm, nhờ trình lên Trần Hoàn-công.

Được thư, Trần Hoàn-công vội mở ra xem.

Thư rằng:

Tôi là Thạch Thác cúi dâng thư này đến Trần-hầu ngự lãm:

“Nước Vệ chúng tôi nhỏ nhen nhưng hiện lâm vào tai biến ấy, cũng bởi Chu Hu gian nịnh, giết anh soán nghiệp. Nhưng, tội ấy một phần lớn cũng tại đứa con tôi là Thạch-hậu xui nên. Ngày nào hai kẻ loạn tặc ấy chưa chết, thì dân nước Vệ tôi còn chịu cảnh thê lương.

Tôi, tuổi già, sức yếu không đủ tài trừng trị bọn chúng, thực đắc tội với Tiên công. Nay hai đứa loạn tặc ấy sắp sang quý quốc để cầu cạnh. Vậy xin Chúa công bắt chúng mà trị tội. Được như vậy, không những may mắn cho nước Vệ tôi, mà còn làm gương cho các nước khác”.

Xem thư xong, Trần Hoàn-công hỏi Tử Hàm:

- Việc này khanh liệu làm sao?

Tử Hàm tâu:

- Kẻ phản loạn của nước Vệ chẳng khác nào như kẻ phản loạn của nước Trần, không thể dung tha được.

Trần Hoàn-công cho là phải, bèn định kế bắt Chu Hu.

Còn Chu Hu và Thạch-hậu đâu rõ việc ấy. Khi đến nước Trần, hai người đi thẳng vào thành.

Trần Hoàn-công sai Công tử Đà ra đón rước, cầm lại nơi quán địch nghĩ ngơi, hẹn đến ngày mai sẽ tiếp kiến nơi nhà thái miếu.

Thấy Trần Hoàn-công có ý ưu đãi, Chu Hu rất vui mừng.

Sáng hôm sau Trần Hoàn-công vào nhà Thái-miếu, bày nghi lễ rồi sai Tử Hàm ra rước Chu Hu vào.

Thạch-hậu đi trước, thấy đàng trước có đựng một tấm bảng lớn, đề chữ rằng: Con bất hiếu, tôi bất trung, không được vào Thái-miếu.

Thạch-hậu trông thấy kinh ngạc, hỏi Tử Hàm:

- Cái bảng này có ý nghĩa gì vậy?

Tử Hàm nhìn Thạch-hậu, rồi mỉm cười đáp:

- Đó là lời của Tiên-vương tôi dạy, và Chúa công tôi ghi nhớ.

Thạch-hậu nghe nói, lòng bớt nghi ngờ, quay lại đón Chu Hu vào.

Vừa vào đến nơi, Chu Hu toan cúi mình thi lễ, thì bỗng có tiếng Tử Hàm hét lớn:

- Ta phụng mệnh vua nhà Chu, bắt hai tên loạn tặc Chu Hu và Thạch-hậu, còn các đồ đảng đều được tha tội.

Tức thì quân giáp sĩ áp lại bắt Chu Hu và Thạch-hậu trói lại lập tức.

Lúc bấy giờ, Tử Hàm mới đem bức thư của Thạch Thác đọc cho mọi người nghe. Rõ ra đó là mưu của Thạch Thác muốn trừ loạn, ai nấy đều hài lòng.

Kế đó, Trần Hoàn-công định đem Chu Hu và Thạch-Hậu ra chém, nhưng các quan can gián:

- Thạch-hậu là con của Thạch Thác, chưa biết ý kiến của Thạch Thác thể nào, xin Chúa công mời sang nước Vệ nghị tội mới tránh khỏi điều oán trách sau này.

Xét thấy câu nói ấy có lý, Trần Hoàn-công truyền đem giam Chu Hu nơi Bộc-ấp, Thạch-hậu nơi Trần đô để khỏi liên lạc với nhau. Đoạn cho người sang nước Vệ báo tin cho Thạch Thác biết.

Thạch Thác từ khi cáo quan dưỡng lão, không đi đâu nửa bước, nay được thư nước Trần vội vã vào triều thương nghị.

Lúc đó bá quan đủ mặt, Thạch Thác mở thư ra đọc, mới biết Chu Hu và Thạch-hậu đều bị bắt chỉ còn đợi người sang Trần quyết định mà thôi.

Các quan đều nói:

- Đấy là việc lớn cùa quốc gia, chúng tôi một lòng trông cậy vào ý kiến của Ngài cả.

Thạch Thác nói:

- Hai đứa phản loạn này không thể nào dung thứ được. Tội đáng chém đầu. Vậy ai có thể vì nước mà cán đáng việc này?

Quan Thái-tể Xủ bước ra thưa:

- Kẻ loạn tặc ấy ai cũng có thể giết được. Tôi tuy phận hèn song cũng lấy làm ức. Xin cứ giao việc ấy cho tôi.

Các quan đều đồng thanh nói:

- Phải! Việc ấy mà giao cho quan Hữu-tế là phải lắm! Nhưng xét ra Chu Hu mới là chánh phạm, còn Thạch-hậu là kẻ a tùng tưởng nên châm chế.

Thạch Thác nghe nói, nổi giận, hét:

- Chu Hu phản nghịch, chính tại đứa con tôi mà ra. Nay các quan nghị như thế là nghi tôi có tình riêng với nó hay sao. Thôi, tôi phải thân hành đến đó mà chém đứa loạn thần ấy thì mới dám nhìn vào lăng miếu của tiền nhân tôi!

Nhụ Dương Kiên nói:

- Thôi, thôi, xin lão quan chớ giận, để cho tôi đi thay cho.

Thạch Thác liền sai Thái-tể Xủ qua Bộc-ấp mà chém Chu Hu, còn Nhụ Dương Kiên thì sang Trần đô mà chém Thạch-hậu. Rồi lại sai người sắm xe giá sang nước Hình mà rước Công tử Tân về.

Thái-tể Xủ và Nhụ Dương Kiên qua đến nước Trần, vào ra mắt Trần Hoàn-công, đoạn thi hành sứ mạng mình.

Khi Thái-tế Xủ đến Bộc-ấp, truyền quân dẫn Chu Hu đến.

Trông thấy Thái-tể Xủ, Chu Hu kêu lớn:

- Có phải người đến đây để cứu ta chăng?

Thái-tể Xủ lắc đầu đáp:

- Không phải để cứu, mà để giết.

Chư-hu trợn mắt hỏi:

- Ngươi làm tôi của ta, sao dám phạm đến ta?

Thái-tể Xủ mỉm cười, đáp:

- Nước Vệ trước kia có ngươi bề tôi mà dám giết vuạ. Vì vậy, hôm nay ta bắt chước!

Nói xong, truyền quân chém đầu.

Còn Nhụ Dương Kiên khi đến Trần-đô cũng đem Thạch-hậu ra chém.

Thạch-hậu nói:

- Muốn chém ta cũng được, song hãy đưa ta về nước để ta trông thấy mặt phụ thân ta đã.

Nhụ Dương Kiên nói:

- Ta vâng lệnh phụ thân của ngươi mà đến đây giám sát. Nếu ngươi muốn thấy mặt cha ngươi thì để ta chém xong, xách đầu về nước Vệ, hẳn ngươi được gặp mặt.

Nói xong, vung gươm chém phứt.

Nhà chép sử về sau có thơ khen Thạch Thác:

Tình nhà, nợ nước giữa hai đường
Thà bỏ tình riêng cứu nước non
Khí phách còn lưu trong sử sách
Tấm gương đại nghĩa kẻ trung thần

Kế đó, Công tử Tân được rước về vào nhà Thái-miếu làm lễ cáo tế, rồi tức vị chư hầu, xưng hiệu là Tuyên công, và phong cho Thạch Thác làm quốc lão, coi giữ việc triều chính.

Từ ấy, nước Trần và Vệ càng thêm thân mật hơn trước.

Đây nhắc qua Trịnh Trang-công thấy năm nước đã rút binh về, bèn sai người đến Trường-các dò xem tin tức của Công tử Bằng.

Bỗng nghe tin Công tử Bằng vừa trốn về, xin vào yết kiến.

Trịnh Trang-công lật đật cho vào, hỏi thăm duyên cớ.

Công tử Bằng tâu:

- Trường-các đã bị binh Tống chiếm đoạt thành trì, nên tôi mới trốn về đây, xin hiền hầu đoái tưởng.

Nói xong, Công tử Bằng khóc oà.

Trịnh Trang-công tìm lời an ủi rồi khiến Công tử Bằng ra tạm trú nơi quán dịch, và cấp bổng lộc rất nhiều.

Chẳng bao lâu, Trịnh Trang-công được tin Chu Hu bị giết. Vệ Tuyên-công lên thay, bèn họp triều thần bàn bạc.

Trịnh Trang-công nói:

- Trước đây Vệ sang đánh Trịnh là do Chu Hu chứ không can chi đến Vệ Tuyên-công. Còn Tống, thì cố tình đánh Trịnh, nay ta muốn trả thù. Các quan nghĩ sao?

Tề Túc tâu:

- Trước kia năm nước cùng cử binh một lượt đánh Trịnh, tuy không cố tình song hành động có liên-quan. Nếu ta cử binh đánh Tống, thể nào bốn nước kia cũng sợ vạ lây mà đem binh giúp Tống. Vậy trước nhất, phải sang hòa hiếu nước Trần nước Lỗ rồi sẽ đánh Tống.

Trịnh Trang-công nghe theo lời bàn ấy, liền cho người sang nước Trần giảng hòa.

Trần Hoàn-công không chịu nhận.

Công tử Đà thấy thế hỏi:

- Kết thân với một nước láng giềng là việc tốt, cớ sao Chúa công lại từ chối.

Trần Hoàn-công nói:

- Trịnh Trang-công mưu trí khó lường. Tại sao Tống và Vệ là hai nước lớn mà Trịnh không đến cầu hòa, lại đến cầu hòa với Trần. Hẳn là có một dụng ý nào rồi! Vả lại trước kia ta giúp Tống đánh Trịnh, nay lại chịu hòa với Trịnh thì Tống sẽ giận ta. Được lòng Trịnh, mất lòng Tống, nước ta cũng không lợi gì.

Nói xong, từ khước không chịu tiếp sứ.

Trịnh Trang-công nghe được, nổi giận nói với các quan:

- Nước Trần cậy vào Tống và Vệ. Nay nước Vệ mới dẹp loạn chưa đủ sức giúp đỡ ai. Nay ta giảng hòa với nước Vệ và Lỗ, rồi cứ binh sang đánh Tống và Trần ắt nên chuyện.

Tề Túc quỳ tâu:

- Tâu Chúa công, nước ta mạnh, nước Trần yếu, nay vô cớ chúng ta đến giảng hòa, Trần nghi là ta có mưu kế mà không dám nhận. Vây xin Chúa công cho quân tràn qua bờ cõi cướp giật, rồi cho một sứ giả có tài ăn nói đem những đồ đạc cướp được trả lại, tỏ tình thân mật, thì Trần sẽ chịu hòa.

Trịnh Trang-công cho là hữu lý, liền phái năm đạo quân đến cướp phá nơi biên thùy nước Trần, cướp được hơn một trăm xe lương thực chở về kinh đô nước Trịnh.

Trần Hoàn-công, nghe biên thùy bị quân Trịnh đến cướp, bèn họp các quan bàn bạc.

Các quan còn đương luận kế, thì bỗng nghe có sứ giả nước Trịnh là Dĩnh Khảo Thúc đem các đồ bị cướp sang trả, và dâng thư của Trịnh Trang-công.

Trần Hoàn-công lấy làm lạ, hỏi Công tử Đà:

- Đã đem binh cướp phá, lại cho sứ sang là ý gì vậy?

Công tử Đà tâu:

- Tâu Chúa công, đó là nước Trịnh muốn tỏ sự thật tâm của họ, xin Chúa công chớ nên khước từ.

Trần Hoàn-công cho Dĩnh Khảo Thúc vào yết kiến, và mở bức thư của Trịnh Trang-công ra xem.

Trong thư đại lược nói:

“Ngộ Sanh nước Trịnh, kính dâng thư này cho Trần hiền hầu nhã giám.

Tôi cùng hiền hầu thảy đều là bề tôi của nhà Chu, vì vậy trước đây tôi có sai sứ đến giao hảo. Chẳng ngờ hiền hầu từ khước nên quân sĩ nơi biên thùy ngỡ hai nước có điều xích mích, mới tự tiện xâm phạm bờ cõi hiền hầu. Hay được việc ấy tôi lấy làm áy náy, vội sai Dĩnh Khảo Thúc đem các vật bị cướp trả lại mà tạ tội. Mong từ đây hai nước kết nghĩa anh em, chắc hiền hầu không nỡ từ chối”.

Trần Hoàn-công xem thư xong, liền tiếp đãi Dĩnh Khảo Thúc rất niềm nở.

Đoạn cho Công tử Đà sang đáp lễ.

Hai nước bắt tay giao hảo.

Lúc bấy giờ Trịnh Trang-công mới hỏi Tề Túc:

- Nay đã hòa với Trần rồi, thế thì ta làm cách nào để đánh Tống?

Tề Túc tâu:

- Tâu Chúa công, nước Tống là một nước lớn lại được vua Châu trọng đãi, chớ nên đánh vội. Trước kia Chúa công đã muốn vào chầu triều Châu nhưng vì mắc đi phó hội với nước Tề tại Thạch-môn, sau đó bị Chu Hu dấy loạn, mà phải bỏ dở dự tính. Nay Chúa công hãy vào triều Châu, rồi trở về dối, xưng là có mạng vua, họp quân nước Tề và Lỗ sang phạt Tống. Như vậy ắt thắng đặng.

Trịnh Trang-công cho lời của Tề Túc là hợp lý. Bèn giao việc triều chính cho Thế tử Hốt, rồi cùng Tề Túc lên đường sang triều Châu.

Chu-công Hắc Kiên nghe tin, khuyên Chu Hoàn-vương nên tiếp đãi Trịnh Trang-công cho tử tế, để làm gương cho các chư hầu.

Tuy nhiên, Chu Hoàn-vương vốn ghét Trịnh Trang-công, nhất là nhớ đến việc Trịnh sang cướp lúa, lòng vẫn chưa nguôi.

Lúc Trịnh Trang-công vào chầu, Chu Hoàn-vương hỏi:

- Sao bên nước Trịnh năm nay mùa màng ra thế nào?

Trịnh Trang-công tâu:

- Tâu Bệ hạ, nhờ hồng phước của Bệ hạ, năm nay không bị thiên tai hạn hán.

Chu Hoàn-vương cười lớn, nói:

- Thật là may! Nước Trịnh có được mùa thì nhà Châu mới còn lúa đất ôn, đất Thành mà ăn chứ!

Thấy Chu Hoàn-vương nói nhiều điều gay gắt, Trịnh Trang-công bèn bái tạ lui ra.

Chu Hoàn-vương không thết đãi chi hết, chỉ sai người đem ra ban cho Trịnh Trang-công mười xe lúa và dặn:

- Cho lúa này để dành ăn lúc mất mùa.

Trịnh Trang-công nói với Tề Túc:

- Tại ngươi khiến ta vào chầu vua, nên phải hứng lấy những lời mỉa mai cay đắng. Nay vua lại còn ban mười xe lúa để ngạo ta, ý ta không muốn lãnh, vậy phải dùng lời chi mà từ chối.

Tề Túc tâu:

- Các nước chư hầu kính trọng nước Trịnh là vì đã mấy đời nước Trịnh làm Khanh-sĩ nơi triều Châu. Nay vua đã cho, nếu Chúa công không lãnh, ắt các chư hầu đều biết Chúa công không thuận với vua nữa. Mà vua đã không ưa Trịnh, các chư hầu còn trọng gì đến Trịnh?

Trong lúc đương thương nghị, xảy có Châu công Hắc Kiên đến thăm, lại cho riêng hai xe vàng lụa.

Trịnh Trang-công hỏi Tề Túc.

 - Châu công Hắc Kiên chẳng biết có ý gì mà lại kính trọng ta như thế?

Tề Túc tâu:

- Vua nhà Châu có hai người con trai: người lớn là Đà, người nhỏ là Khắc. Vua Hoàn-vương yêu con thứ, muốn gửi gắm cho Châu công Hắc Kiên mưu việc lập con thứ sau này vì vậy Châu công Hắc Kiên muốn mua lòng Chúa công. Chúa công nên nhận vàng lụa ấy mà dùng vào việc khác.

Trịnh Trang-công hỏi:

- Ý ngươi muốn dùng vào việc chi?

Tề Túc tâu:

- Chúa công vào triều Châu, các chư hầu đều biết. Nay đem lúa của Châu công Hắc Kiên chia làm mười xe, lấy gấm gói lại. Đến ngày ra về nói dối rằng của vua cho, lại bày thêm cung tên để tuyên bố với các chư hầu là vâng mạng vua đi phạt Tống, vì Tống thiếu lễ triều cống. Như vậy, chư hầu ắt tuân theo lệnh ta.

Trịnh Trang-công thích ý, vỗ vai Tề Túc, nói:

- Ngươi quả là một trí sĩ. Ta sẽ theo kế ấy mà làm.

Quả vậy, lúc trở về, Trịnh Trang-công phao tiếng lên, ai nấy đều tin thực. Tiếng đồn đến tai Tống Tương-công.

Tống Tương-công cả sợ, lén sai sứ qua nói với Vệ Tuyên-công.

Vệ Tuyên-công lại bàn với Tề Hi-công tìm cách làm cho Tống và Trịnh giao hảo với nhau.

Tề Hi-công viết giấy mời Trịnh, và hẹn với các nước họp nhau tại Ngõa-Ốc để giải hòa việc ấy.

Đúng kỳ hẹn, không thấy Trịnh Trang-công đến dự, Tề Hi-công nói:

- Trịnh Trang-công không đến dự thì việc nghị hòa bất thành.

Nói xong, lên xe ra về.

Tống Tương-công muốn giữ lại, nhưng Tề Hi-công tỏ thái độ lãnh đạm với hai nước Tống và Vệ.

Lúc bấy giờ tại triều Châu, vua Hoàn-vương có ý bãi chức Khanh-sĩ của Trịnh Trang-công, nhưng Châu công Hắc Kiên hết lòng can gián nên Hoàn-vương mới đem Quách-công Kỵ-Phủ dùng làm hữu khanh-sĩ, coi việc triều chính còn Trịnh Trang-công làm tả khanh-sĩ, tức là hư vị mà thôi.

Trịnh Trang-công hay đặng việc ấy, cười và nói với Tề Túc:

- Ta biết Châu Hoàn-vương chưa dám cách chức ta đâu.

Kế đó, nghe ba nước Tống Tề và Vệ họp nhau tại Ngõa-Ốc.

Trịnh Trang-công hỏi Tề Túc:

- Ta nghe Tề Hi-công kết giao với Tống Tương-công là ý gì?

Tề Túc tâu:

- Tống và Tề đâu phải là chỗ thâm giao. Sở dĩ hai người gặp nhau là vì có Vệ Tuyên-công đứng giữa điều đình, chớ không thật bụng muốn liên kết. Nay Chúa công đem lệnh nhà Châu, truyền cho Tề, Lỗ, lấy quân nước Sái, Vệ, Thành và Hứa họp về đánh Tống thì sẽ không có một nước nào trái lệnh được.

Trịnh Trang-công nghe theo lời, cho một sứ giả đến nước Lỗ hẹn nếu lấy được đất Tống sẽ cho Lỗ cả.

Quan Đại-phu nước Lỗ là Công tử Vận, có tánh tham lam, liền tâu với Lỗ-hầu kéo binh họp với nước Tề, nước Trịnh tại Trung-khẩu.

Nước Tề thì Tề Hi-công sai em là Di Trọng Niên làm tướng.

Còn nước Lỗ thì Lỗ An-công sai Công tử Vận cầm binh, cả hai lãnh đi tả hữu. Nước Trịnh giữ đạo trung quân. Trịnh Trang-công dẫn Công tử Lữ, Cao Cừ Di, Dĩnh Khảo Thúc, Công Tôn Yết kéo đại binh dưới cờ hiệu để bốn chữ lớn “Phụng thiên thảo tội” kéo qua nước Tống.

Công tử Vận đi trước đến đất Lão-đào. Tướng giữ ải ấy đem binh ra cự, bị Công tử Vận đánh cho một trận manh giáp tơi bời, bỏ thành mà chạy: Thắng được trận đầu Công tử Vận báo tin cho Trịnh Trang-công hay.

Trịnh Trang-công kéo rốc binh đến Lão-đào hạ trại, khao thưởng ba quân.

Nghỉ lại đó vài hôm, Trịnh Trang-công lại khiến Dĩnh Khảo Thúc hiệp với Công tử Vận đánh phá Phòng-thành, Cao Cừ Di đem binh tiếp ứng, còn đại-binh thì vẫn đóng nơi Lão-đào mà đợi tin.

Tống Tương-công nghe tin ba nước Tề, Lỗ, Trịnh cử binh sang đánh, lòng sợ sệt, kêu Khổng Phụ Gia vào hỏi kế.

Khổng Phụ Gia tâu:

- Tôi đã sai người đến triều Châu thám thính, nhưng không nghe có lệnh Bệ hạ sai phạt Tống, đây chắc là Trịnh đã mượn lệnh vua, dối gạt chư hầu. Tề và Lỗ đều mắc mưu. Tuy nhiên ba nước đã hiệp binh, nước ta không thể nào cự lại. Nay tôi có kế này ắt Trịnh phải lui binh.

Tống Tương-công nói:

- Quân Trịnh đang đắc thắng, lẽ nào lại chịu lui?

Khổng Phụ Gia tâu:

- Tuy Trịnh mượn lệnh vua, gạt chư hầu, nhưng chỉ có Tề và Lỗ theo Trịnh mà thôi. Nay Trịnh Trang-công bản thân dẫn binh mã sang đây, thì nước phải bỏ trống. Chúa công dùng của hối lộ cho nhiều, đem dâng cho Vệ công, xin người hiệp binh với nước Sái, thừa cơ sang đánh Trịnh. Trong nước có giặc, Trịnh Trang-công phải đem binh về cứu. Binh Trịnh mà lui rồi thì Tề với Lỗ ở lại làm gì?

Tống Tương-công đáp:

- Kế ấy hay lắm. Song việc này phải đích thân ngươi qua nước Vệ thì Vệ công mới chịu cất quân.

Khổng Phụ Gia nói:

- Tôi xin tình nguyện dẫn một đạo quân chỉ đường cho Vệ sang đánh Trịnh.

Tống Tương-công liền phát cho Không phụ-gia một muôn binh, đem theo vàng bạc châu báu dâng cho Vệ công đặng cầu xuất binh đánh Trịnh.

Vệ Tuyên-công nhận lễ vật, và sai Thái-tể Xủ hiệp binh với Khổng Phụ Gia đi đường tắt kéo thẳng đến Vinh-đường.

Trong lúc bất ngờ, Thế tử Hốt và Tề Túc vội đóng cửa thành cố thủ.

Quân Vệ và Tống cướp giật của cải ngoài thành rất nhiều.

Thái-tể Xủ tỏ ý muốn đốc quân phá thành, Khổng Phụ Gia can rằng:

- Quân lực ta kéo đến đây chẳng bao nhiêu, phải thừa cơ mà đánh mới thắng nổi. Nay đóng quân ngoài thành nếu Trịnh Trang-công dẫn binh về cứu viện thì chúng ta thoát đi đàng nào được. Chi bằng mượn đường tắt của Đái-quốc mà lẻn về nước. Tôi liệu hễ quân ta bỏ Trịnh mà về, thì ắt Trịnh cũng bỏ Tống mà đi.

Thái-tể Xủ nghe theo sai người qua Đái-quốc mượn đường.

Nhưng nước Đái nghi Vệ và Tống âm mưu đánh úp nước mình, nên từ chối, đóng chặt cửa ải.

Khổng Phụ Gia nổi giận, hợp với quân Thái-tể Xủ chia làm hai đạo đánh vào nước Đái.

Đồng thời cho người sang nước Sái mượn thêm quân đánh giúp.

Lúc bấy giờ, ở mặt trận nước Tống, Dĩnh Khảo Thúc đã phá được Cáo-thành, còn Công tử Vận đã phá được Phòng-thành. Hai tướng đều sai người về dinh Trịnh Trang-công báo tiệp.

Giữa lúc đó, Trịnh Trang-công lại cũng nhận được văn thư của Thế tử Hốt gửi đến cáo cấp.

--------------------------------------------------

Hồi thứ 7.
Ganh tài, Công tử Át giết Khảo Thúc
Tham chức, Công tử Vận hại vua hiền

Trịnh Trang-công nhận được thư Thế tử Hốt, vội vã truyền lui quân về nước.

Di Trọng Niên và Công tử Vận hay được tin, đến ra mắt Trịnh Trang-công và hỏi:

- Chúng tôi đã lấy được hai thành của nước Tống, thế quân đang mạnh, sao Chúa công lại truyền lui binh?

Trịnh Trang-công vốn là một kẻ đa mưu, túc trí không cho Tề và Lỗ biết được nội tình của mình, bèn đáp:

- Ta phụng mệnh kéo binh đánh Tống, nay nhờ binh hai nước mà chiếm được hai thành. Như thế tưởng cũng đã đũ trị tội Tống rồi. Hơn nữa, Tống là con cháu của nhà Thương, Thiên tử vẫn có lòng kính, ta không nên làm đến quá lẽ. Hai thành vừa chiếm được xin nhượng lại cho Tề và Lỗ, mỗi nước một thành.

Di Trọng Niên nói:

- Chúa công phụng mệnh Thiên tử đem binh phạt Tống. Bổn phận chúng tôi là phải đem binh đến giúp, đâu dám kể công.

Nói rồi nhất định từ chối không nhận đất.

Trịnh Trang-công nói:

- Nếu Tề không nhận thì xin tặng cả hai thành ấy cho Lỗ để đền ơn khó nhọc đã vào Lão Đào trước.

Công tử Vận không từ chối gì cả tỏ lời cảm tạ Trịnh Trang-công rồi sai người ra trấn giữ hai thành ấy.

Trịnh Trang-công bày tiệc khao thưởng quân sĩ, rồi cùng với Công tử Vận, Di Trọng Niên làm lễ ăn thề, hứa sẽ giúp đỡ cùng nhau trong cơn hoạn nạn.

Đoạn ba nước chia tay, quân nước nào kéo về nước nấy.

Di Trọng Niên về nước, thuật lại cho Tề Hi-công nghe việc ấy được hai thành nước Tống và nhường cho nước Lỗ.

Tề Hi-công nói:

- Trước kia ta đã có lời thề với Trịnh Trang-công nơi Thạch-Môn, hễ có việc thì giúp nhau, nay tuy lấy đặng thành, lẽ phải giao về Trịnh mới đúng.

Di Trọng Niên tâu:

- Trịnh-bá cố chối từ, chẳng chịu lãnh, nên mới giao hết cho Lỗ-hầu.

Tề Hi-công nghe nói, cho Trịnh Trang-công là kẻ đại độ, và khen ngợi không ngớt.

Khi Trịnh Trang-công đem binh về đến nửa đường thì lại nghe tin quân Vệ đã sang đánh nước Sái.

Trịnh Trang-công vỗ tay cười lớn, nói:

- Khổng Phụ Gia quả là một kẻ chưa rành binh pháp. Đang đánh nước Trịnh mà lại gây chuyện với nước Sái, như thế tức là đã không làm hại được nước ta mà còn giúp cho ta có cơ hội tốt để lấy nước Sái rồi.

Bèn truyền cho bốn tướng phân làm bốn đội, cuốn cờ, giấu trống, kéo thẳng đến Sái quốc.

Trong lúc đó Vệ và Tống đang hiệp binh với nước Sái bàn mưu công thành.

Bỗng có quân vào báo:

- Nước Trịnh sai thượng tướng là Công tử Lữ đem binh qua cứu nước Sái, hiện đóng trại cách thành năm chục dặm.

Thái-tể Xủ nói:

- Đó là tướng thua Thạch-hậu ngày trước, có chi mà sợ.

Lại có tin báo nữa rằng:

- Nước Sái đã mở cửa thành đón quân Trịnh vào.

Khổng Phụ Gia thất kinh, nói:

- Ta coi nước Sái như đã lấy được trong tay, nay có binh Trịnh đến giúp, thật khó bề thắng nổi!

Thái-tể Xủ nói:

- Nếu Trịnh đã giúp Sái, thể nào cũng đem binh khiêu chiến. Vậy ta lên lũy cao xem thử trong thành động tĩnh thế nào, để biết mà đối phó.

Hai người dắt nhau vừa lên đến chổ cao, bỗng nghe có tiếng súng nổ vang trời, qua một lúc, trên thành nước Sái cắm toàn cờ Trịnh, và Công tử Lữ mặc áo giáp đứng trên thành gọi Khổng Phụ Gia nói lớn:

- Ta cảm ơn tướng quân đã giúp ta chiếm được nước Sái rồi nhé!

Ấy là mưu của Trịnh Trang-công lập kế sai Công tử Lữ giả danh giúp Sái, rồi khi vào được trong thành mới đuổi vua nước Sái đi mà chiếm đất.

Vua nước Sái phải bỏ trốn sang Tần thoát nạn.

Khổng Phụ Gia thấy thế máu giận sục sôi, ném mũ xuống đất hét lên:

- Ta quyết không đội trời chung với Trịnh.

Thái-tể Xủ nói:

- Trịnh Trang-công binh pháp rất lợi hại, thế nào bên ngoài cũng có quân tiếp ứng. Nếu trong ngoài đánh dồn lại, quân ta nguy mất!

Khổng Phụ Gia nói:

- Sao tướng quân lại nhát gan đến thế? Chẳng lẽ công phu chúng ta vây thành, nay lại nhường cho Trịnh chiếm cứ hay sao. Bề nào cũng phải đánh mới được.

Dứt lời, trong thành có người mang chiến thư ra, thách đánh.

Khổng Phụ Gia phê vào chiến thư, hẹn ngày mai nghênh chiến.

Đêm ấy, quân của Khổng Phụ Gia đóng trại cách thành hai mươi dặm để đề phòng quân tiếp viện. Nhưng trại vừa đóng xong thì tiếng súng đã nổ ran, quân Trịnh kéo đến khiêu chiến, ánh lửa đốt sáng lòe. Khổng Phụ Gia nổi giận, tay cầm phương-thiên họa-kích, giục chiến xa đến trước trận ứng chiến. Nhưng khi đến nơi, ánh lửa tắt lịm, không thấy một tên quân Trịnh nào. Khổng Phụ Gia kéo quân về trại. Nhưng vừa về đến trại, thì lại thấy lửa cháy sáng lòe, tiếng súng nổ chan chát.

Khổng Phụ Gia nói:

- Nước Thành giáp ranh với nước Tề, nước Hứa giáp ranh với nước ta. Trước nhất phải sai tướng qua giúp Tề đánh nước Thành rồi sau lại mượn binh Tề mà đánh Hứa. Khi dẹp xong hai nước phải sai sứ qua Châu báo tin thắng trận để khỏi mang tiếng dối Thiên tử.

Trịnh Trang-công khen phải, liền sai sứ sang Tề bàn về việc ấy.

Tề Hi-công sai tướng Di Trọng Niên hợp binh với Công tử Lữ kéo qua đánh nước Thành.

Nước Thành hay tin sợ lắm sai người qua Tề xin hàng phục.

Tề Hi-công viết thư cho Trịnh Trang-công hay và hỏi lúc nào cất quân đánh Hứa.

Trịnh Trang-công ước hẹn hợp binh tại Thới-lai đất Trịnh và nhờ Tề làm trung gian mượn thêm binh nước Lỗ.

Công tử Lữ đi đánh Thành, kéo binh về đến nửa đường nhuốm bệnh mà thác.

Trịnh Trang-công thương tiếc vô cùng, than thở:

- Công tử Lữ mệnh chung, thật ta đã mất đi một cánh tay phải.

Nói rồi, đem tiền bạc, lụa là ban thưởng cho gia đình Công tử Lữ, lại cho em Công tử Lữ là Công tử Nguyên làm Đại-phu.

Trịnh Trang-công còn định cho Cao Cừ Di làm chức thượng khanh nhưng Thế tử Hốt bàn rằng:

- Cao Cừ Di là một kẻ tham tâm, không phải người trung chính, xin phụ thân chớ khá tin dùng.

Trịnh Trang-công bèn đem chức ấy phong cho Tề Túc, thay Công tử Lữ, còn Cao Cừ Di thì phong làm Á-khanh.

Chẳng bao lâu đã đến ngày ước hẹn, hai đạo quân Tề và Lỗ đồng hội tới đất Thới-lai để hiệp với Trịnh đi đánh Hứa.

Trịnh Trang-công bày ra một cuộc duyệt binh để biểuđương sức lực. Lại chế ra một lá cờ bằng gấm mỗi bề dài một trượng hai, xung quanh có đeo hai mươi bốn cái lục lạc bằng đồng, và giữa đề bốn chữ: "Phụng thiên thảo tội".

Cán cờ dài hơn ba trượng, cắm trên một cỗ xe rất lớn.

Trịnh Trang-công truyền rằng:

- Nếu ai cầm nổi cây cờ ấy đi lại hai vòng thì được lãnh chức tiên phong, và thưởng cho một cỗ lộ-xa.

Lệnh vừa ban ra thì có một viên đại tướng, mặt đen, đầu đội mũ bạch mình mặc áo bào, hàm râu quai nón, con mắt dài, lông mày rậm, bước ra xin lãnh.

Mọi người xem lại thì đó là tướng Hà Thúc Doanh.

Hà Thúc Doanh cất giọng sang sảng giữa ba quân:

- Tôi tuy tài hèn, cũng xin đảm đương việc ấy.

Nói rồi xốc đến hai tay nâng cán cờ, cầm chững chạc đi lại ba vòng, rồi cắm vào chiếc xe như trước.

Hai bên quân sĩ vỗ tay reo hò ầm ĩ.

Hà Thúc Doanh vừa tiến đến tạ ơn Trịnh Trang-công để lãnh thưởng, thì lại có một viên đại tướng khác nhảy ra nói lớn:

- Cầm cờ mà đi việc ấy đâu có lạ. Tôi có thể cầm cờ mà múa nữa kia!

Mọi người ngoảnh lại nhìn thì đó là đại tướng Dĩnh Khảo Thúc, đương giữ chức Đại-phu.

Dĩnh Khảo Thúc nói dứt lời, bước tới xắn tay áo nhổ cán cờ lên, múa tít như múa một cây trường thương.

Lá cờ lúc mở ra, lúc cuốn lại uốn theo chiều gió trông rất đẹp mắt. Ai trông thấy cũng phải kinh ngạc tấm tắc khen thầm.

Trịnh Trang-công mừng rỡ, kêu Dĩnh Khảo Thúc nói:

- Khanh quả là một hổ thần, đáng lãnh ấn tiên phong và được thưởng chiếc lộ-xa.

Nhưng, Trịnh Trang-công vừa dứt tiếng thì lại có một chàng thanh niên mặt trắng như nhồi phấn, môi đỏ tựa thoa son, mình mặc giáp xanh, đầu đội mũ ốc, bước tới chỉ Dĩnh Khảo Thúc, nói lớn:

- Hãy khoan lấy xe! Ta đây lại chẳng múa nổi cây đại kỳ hay sao?

Dứt lời nhảy đến giật cây cờ, nhưng Dĩnh Khảo Thúc đã lanh lẹ một tay cầm cờ, một tay lôi chiếc lộ-xa, chạy như gió.

Chàng thanh niên đuổi theo, nhưng không kịp, đành phải trở lại, mặt giận hầm hầm, miệng lẩm bẩm:

- Được, ta cứ để cho ngươi khoanh tay. Rồi đây ngươi sẽ thấy.

Chàng thanh niên đó là Công Tôn Át tự là Tử-đô, một viên tiểu tướng đẹp trai nhất ở thời Đông Chu mà Trịnh Trang-công rất yêu vì.

Tuy nhiên, Công Tôn Át vốn tánh ỷ mạnh, cậy quyền, không ưa Dĩnh Khảo Thúc. Nay nhân việc tranh cờ lại càng làm cho hai bên gây thêm ác cảm.

Trịnh Trang-công thấy vậy, kêu Công Tôn Át đến nói:

- Hai cọp tranh nhau kết quả sẽ không hay. Ta đã có cách phân xử.

Nói rồi truyền lấy một chiếc lộ-xa khác thưởng cho Công Tôn Át và Hà Thúc Doanh.

Tháng bảy năm ấy, Trịnh Trang-công giao việc triều chính cho Thế tử Hốt rồi tiến binh đánh Hứa.

Binh Tề và Lỗ đã đóng sẵn ở Đô-thành rồi.

Khi gặp nhau, Trịnh Trang-công mở tiệc khao quân, Tề Hi-công rút trong túi lấy ra một tờ hịch kết tội nước Hứa không triều cống nhà Chu.

Ai nấy đều cho là phải.

Ngày hôm sau, ba nước chia quân vây thành.

Nước Hứa tuy nhỏ, thành lũy không chắc, nhưng nhờ Chúa nước Hứa rất nhân từ cả nước đều mến yêu, đồng-tâm cố thủ, làm cho quân Tề, Lỗ và Trịnh khó bề phá thành nổi.

Tề và Lỗ chỉ đánh cầm chừng, duy có Trịnh công thành rất gắt.

Dĩnh Khảo Thúc lại muốn tranh công với Công Tôn-át, nên nỗ lực xông đến trước vòng vây, tay cầm cờ, tay cầm trường thươrg nhảy phóng lên mặt thành.

Công Tôn Át trông thấy, sợ Dĩnh Khảo Thúc đoạt được công lao, bèn lắp tên bắn lén một phát. Dĩnh Khảo Thúc bị tên, té nhào xuống đất, bỏ mạng.

Hà Thúc Doanh tưởng Dĩnh Khảo Thúc bị giặc bắn, bèn lướt đến giật cây cờ, nhẩy lên mặt thành hô lớn:

- Chúa công ta đã lên mặt thành rồi!

Quân Trịnh ngỡ thật, đua nhau nhảy lên, phá vỡ cửa thành.

Quân Lỗ và Tề cũng do cửa ấy tràn vào.

Chúa nước Hứa thấy vậy, bỏ thành trốn sang nước Vệ lánh nạn.

Lấy được nước Hứa rồi, Trịnh Trang-công nhường cho Tề và Lỗ.

Nhưng Tề và Lỗ đều không nhận, nói:

- Công lao của Trịnh rất nhiều, chúng tôi đâu có bụng tham lam như vậy.

Trịnh Trang-công tuy trong lòng rất muốn được đất Hứa, song ngoài mặt vẫn phải giả cách rộng rãi với hai nước đồng minh.

Giữa lúc ấy có quân vào báo:

- Tâu Chúa công, có quan Đại-phu nước Hứa là Bá Lý dẫn một đứa trẻ vào ra mắt.

Trịnh Trang-công truyền cho vào.

Bá Lý dẫn đứa bé đến quỳ dưới trướng, tâu:

- Tâu Chúa công, xin Chúa công rộng lòng thương giòng giống nước Hứa.

Tề Hi-công hỏi:

- Chẳng hay đứa bé ấy là ai?

Bá Lý tâu:

- Chúa nước Hứa không có con nối dõi, chỉ còn đứa bé này là em ruột, tên gọi là Tân-thần.

Tề Hi-công và Lỗ Ân-công nghe nói có ý thương hại.

Còn Trịnh Trang-công thì đã nghĩ ngay một mưu kế, bèn nói:

- Ta phụng mệnh Thiên tử hiệp binh cùng hai nước phạt Hứa, nay Hứa Trang-công là kẻ có tội đã trốn đi rồi, thì nước ta giao lại cho người nối dõi, như thế mới phải lẽ.

Bá Lý tâu:

- Tâu Chúa công, tôi đến đây chỉ mong nhờ lượng khoan dung của ba nước, bảo bọc cho đứa bé mồ côi này, chứ đâu dám trông mong đến bờ cõi.

Trịnh Trang-công nói:

- Ý ta trả nước Hứa lại là thực tâm. Nhưng xem Tân-thần còn nhỏ dại quá, vậy ta sẽ cho người đến giúp.

Trịnh Trang-công bèn chia nước Hứa làm hai, một nửa để Bá Lý phò tá Tân-thần, một nửa giao cho Công Tôn-hoạch, bề ngoài nói là giúp Hứa, nhưng bên trong là để coi việc cai trị.

Tề Hi-công và Lỗ Ân-công đều cho Trịnh Trang-công là người đại độ khen phục chẳng cùng.

Bá Lý và Tân-thần đều quỳ lạy tạ ơn rồi lui về.

Ba nước cũng đều ra lệnh rút quân.

Trịnh Trang-công về đến nước khao thưởng ba quân, lòng buồn bã thương tiếc Dĩnh Khảo Thúc không cùng.

Nghĩ mãi, Trịnh Trang-công cũng không rõ ai đã bắn chết Dĩnh Khảo Thúc.

Bèn truyền cho quân sĩ, cứ một trăm người nạp một con heo, hai mươi người nạp một con gà mà làm lễ tế Dĩnh Khảo Thúc. Đồng thời, vời các đồng cốt đến để đọc văn nguyền rủa kẻ đã bắn chết Dĩnh Khảo Thúc.

Công Tôn Át chỉ bịt miệng cười thầm.

Lễ nguyền rủa cử hành được ba ngày thì bỗng có một người đầu bù tóc rối, chạy đến trước mặt Trịnh Trang-công quỳ tâu:

- Tôi là Dĩnh Khảo Thúc, khi đánh nước Hứa, nhảy lên mặt thành, bị tên gian thần Công Tôn Át hiềm việc giành xe, nên đã bắn lén tôi. Tôi đã xin Ngọc-hoàng Thượng-đế bắt nó đền mạng. Xin Chúa công thấu rõ ẩn tình, thì dầu ở dưới suối vàng, hồn tôi cũng được an ủi.

Nói xong, kẻ ấy lấy tay móc họng, máu tuôn lai láng, rồi ngã xuống đất chết lập tức.

Trịnh Trang-công thất kinh, xem lại thì đó không phải người đàn bà mà lại là Công Tôn Át, liền cho người cứu chữa, nhưng đã muộn.

Lúc bấy giờ Trịnh Trang-công sai sứ thay mặt cho mình, mang lễ vật qua Tề và Lỗ để tạ ơn việc đem binh cứu giúp.

Nhưng sứ giả đi qua Lỗ, lại mang thư và lễ vật trở về.

Trịnh Trang-công lấy làm lạ, đòi vào hỏi.

Sứ giả tâu:

- Tôi vừa đến biên giới nước Lỗ thì nghe tin Công tử Vận đã giết Lỗ Ân-công mà lập vua khác. Tôi sợ lễ vật và thư này đưa đến không hợp ý Chúa công, nên phải trở về phục mệnh.

Trịnh Trang-công nghe nói than rằng:

- Lỗ Ân-công là người hiền đức sao lại bị giết như thế!

Sứ giả tâu:

- Tâu Chúa công, vụ ấy tôi được biết rõ. Nguyên trước kia Lỗ Huệ-công có lấy một tiểu thiếp là Trọng-tử, sinh được người con trai là Quỹ. Huệ-công muốn nhường ngôi cho Quỹ. Nhưng lúc Huệ-công chết, Quỹ còn nhỏ, nên Lỗ Ân-công lên kế vị. Lỗ Ân-công là con một người thiếp khác. Tuy-nhiên, mặc dầu được nối ngôi Lỗ Ân-công không hề quên ý định của cha, nên thường nói: Nước Lỗ này là của Công tử Quỹ, ta chỉ tạm thay quyền quốc chính mà thôi. Một hôm, Công tử Vận xin ân công ban cho chức Thái-tể. Lỗ Ân-công nói: Ngươi đợi khi nào Công tử Quỹ lên ngôi hãy xin. Công tử Vận không biết Lỗ Ân-công nói thật lòng, cho là lời châm biếm và tưởng Lỗ Ân-công ghét Công tử Quỹ, nên một hôm tâu với Lỗ Ân-công: Tôi thiết nghĩ ngôi báu Chúa công đang giữa thiên hạ đều kính phục thì đợi đến khi trăm tuổi truyền lại cho con cháu, sao Chúa công lại trao trả cho Công tử Quỹ làm chi. Theo ý tôi, nay Công tử Quỹ đã lớn, nên lập kế giết đi để trừ hậu hoạn. Lỗ Ân-công xua tay nói: Ngươi không phải là kẻ điên cuồng, cớ sao thốt ra những lời bất chính như vậy. Ta đã sửa sang cung thất ở Đồ-Cừu để an hưởng tuổi già, mà trả ngôi lại cho Công tử Quỹ. Công tử vận nghe nói, biết mình lỡ lời, sợ Lỗ Ân-công đem lời ấy nói lại với Công tử Quỹ, thì sau này ắt mang hại bèn nghĩ ngay một kế tìm đến Công tử Quỹ nói nhỏ: Nay Công tử đã lớn, Chúa công sợ Công tử đoạt mất ngôi nên kêu tôi vào cung mật sai tôi giết Công tử đó. Công tử Quỹ cả sợ: Ta làm thế nào để thoát nạn này? Công tử Vận nói: Lỗ Ân-công đã bất nhân thì Công tử còn giữ nghĩa làm chi? Vả lại, Tiên-vương đã có ý truyền ngôi lại cho Công tử, thế thì Công tử cũng nên tìm cách giết Lỗ Ân-công đi, lấy ngôi lại, ấy là thuận theo ý của Tiên-vương đó. Công tử Quỹ nói: Lỗ Ân-công ở ngôi hơn mười một năm rồi, dân tình mến phục. Nếu việc không thành ắt ta mang họa lớn.

Công tử Vận nói:

- Việc ấy chẳng khó gì, tôi có kế hay. Ngay mai Lỗ Ân-công đi tế thần ở Chung-vu rồi về nghĩ nơi dinh Vi Đại-phu. Vậy ta cho quân giáp sĩ đến đó mai phục mà giết quách đi, rồi đổ cho Vĩ Đại phu mưu sát. Như thế ắt giữ vẹn được tiếng tăm.

Công tử Quỹ nghe lời, ủy thác cho Công tử Vận. Công tử Vận dụng kế ấy giết Lỗ Ân-công, tôn Công tử Quỹ lên ngôi. Người trong nước đều hay việc ấy nhưng không dám nói, vì sợ oai quyền của Vận. Hiện nay Công tử Quỹ đã phong cho Vận làm chức Thái-tể.

Trịnh Trang-công nghe xong, thở dài hỏi các quan:

- Như thế ta có nên cất quân phạt Lỗ để tỏ tình tâm gia ngày trước chăng?

Tề Túc tâu:

- Mặc dầu Công tử Quỹ giết Lỗ Ân-công là vô đạo song đó chỉ là việc gia đình. Chúng ta chỉ nên chờ xem thái độ của Lỗ đối với Trịnh như thế nào đã. Tôi chắc Lỗ sẽ cho người sang nước ta gây tình hòa hảo.

Trong lúc đang bàn bạc, thì có sứ nước Lỗ mang lễ vật sang xin vào yết kiến Trịnh Trang-công tỏ tình giao kết.

Trịnh Trang-công tiếp sứ rất trọng hậu, và hẹn gặp nhau tại Việt-địa để phó hội, tháp huyết ăn thề.

Từ ấy hai nước Trịnh và Lỗ lại rất thân mật.

Vào năm thứ chín, đời vua Hoàn-vương nhà Chu, Công tử Bằng đang ẩn náu trên đất Trịnh, thì bỗng có sứ nước Tống rước về nối ngôi.

Trịnh Trang-công hay tin ấy, lòng nghi ngại, nói:

- Chưa biết hư thực như thế nào, sợ e Tống Tương-công cho người sang đánh lừa Công tử Bằng về mà giết đi chăng?

Tề Túc tâu:

- Tâu Chúa công, việc này phải chờ đợi quốc thư nước Tống gởi sang đây mới định đoạt được.

---------------------------------------------

Hồi thứ 8.
Mưu sâu, Hoa Đốc phế vua Tống
Làm cao, Trịnh Hốt chê vợ Tề

Tống Tương-công lên ngôi đã lâu, nhưng vì Công tử Bằng còn ở Trịnh, nên thỉnh thoảng đem binh sang đánh Trịnh làm cho hao người tốn của, dân gian khổ cực.

Quan Thái-tể nước Tống là Hoa Đốc, bạn thân của Công tử Bằng tuy ngoài miệng không dám can vua, nhưng trong lòng bất mãn, thấy Khổng Phụ Gia làm đến chức Tư mã, binh quyền một tay quản thủ, nói gì Tống Tương-công cũng nghe theo nên đem lòng ghen ghét.

Nhân lúc Khổng Phụ Gia đi đánh nước Sái, bị thua to trốn chạy về Hoa Đốc bèn cho kẻ tâm phúc len lỏi trong dân chúng phao tin rằng Khổng Phụ Gia chuyên quyền, ép vua gây binh biến, gieo khổ nhọc cho nhân dân.

Do đó, dân chúng rất ghét Khổng Phụ Gia.

Hoa Đốc lại nghe tin đồn nàng Ngụy-thị, ái thiếp của Khổng Phụ Gia, nhan sắc tuyệt vời, nên lòng rạo rực, muốn được trông thấy nét hoa.

Một hôm, vào tiết thanh minh Ngụy-thị đi tảo mộ, Hoa Đốc tình cờ trông thấy, lòng mê mẩn, chân bước không đành, nghĩ thầm:

- Người đâu mà đẹp đến thế? Tiếng người đồn thực chẳng sai.

Từ đó Hoa Đốc đem lòng bất chánh, mơ ước lấy vợ người làm vợ mình. Và quyết không để nàng ở mãi trong tay Khổng Phụ Gia.

Một hôm Khổng Phụ Gia đi duyệt binh.

Hoa Đốc cho người tâm phúc lén trà trộn trong quân sĩ phao tin rằng:

- Khổng Phụ Gia sắp đem binh đi đánh Trịnh.

Quân sĩ nhớ đến cảnh lửa binh tang tóc ai nấy đều sợ sệt, rủ nhau đến dinh Hoa Đốc kêu nài, yêu cầu tâu với vua bãi việc chiến chinh.

Hoa Đốc cho người ra phủ dụ bắt quân sĩ trở về, nhưng quân sĩ tập họp mỗi lúc một đông hơn.

Có người mang cả khí giới đến nữa.

Lúc bấy giờ, Hoa Đốc biết lòng dân đã muốn bạo động, liền mặc áo giáp mang gươm ra cửa nói:

- Khổng Phụ Gia cậy quyền ép Chúa công gây việc binh đao, làm cho quân sĩ chết oan, dân tình điêu đứng. Trước hoàn cảnh này tôi rất đau lòng nhưng không làm thể nào ngăn cản được.

Quân sĩ ai nấy đều hậm hực vô cùng.

Hoa Đốc lại giả cách khuyên:

- Thôi các ngươi nên trở về kéo Chúa công hay được việc nấy, tội ta không tránh khỏi.

Quân sĩ nhao nhao lên nói:

- Thưa ngài, mấy năm chinh chiến anh em họ hàng chúng tôi đã chết rất nhiều. Thế mà hiện giờ chúng tôi vẫn còn phải đem thân đi chết nữa. Vậy chúng tôi xin theo ngài giết tên giặc nước ấy đi, dẫu có chết cũng được thỏa lòng hơn.

Hoa Đốc lại nói:

- Muốn ném chết một con chuột, chúng ta phải kiêng tránh những vật báu của ta chứ. Nay Khổng Phụ Gia là tôi thương yêu của Chúa công, thì dẫu tàn ác thế nào cũng không nên giết.

Quân sĩ nói lớn:

- Xin ngài hãy đứng ra trừ luôn đứa hôn quân vô đạo để chúng tôi nguyện theo ngài cả.

Nói xong quân sĩ xúm nhau kéo Hoa Đốc lên xe, tiến đến dinh Khổng Phụ Gia, vây kín bốn bề.

Lúc bấy giờ trời đã tối xẩm, Khổng Phụ Gia đang ngồi uống rượu trong tư trang, bỗng nghe tiếng gõ cửa, liền sai người bước ra hỏi.

Hoa Đốc không đáp, xô cửa bước vào.

Quân sĩ cũng nồi đuôi nhau, ồ ạt kéo vào một lượt.

Khổng Phụ Gia thất kinh, vừa muốn chạy ra, thì Hoa Đốc đã nhẩy xổ đến, hét lớn:

- Ðể làm gì thằng giặc hại dân hại nước đó!

Khổng Phụ Gia chưa kịp trả lời thì đầu đã rơi xuống đất.

Hoa Ðốc lập tức cho người vào trong bắt Ngụy-thị đem ra, giấu vào xe chở về nhà.

Nhưng nửa đường, Ngụy-thị mở dây lưng, thắt cổ tự vẫn.

Hoa Ðốc về đến nhà, thấy nàng đã tắt thở, lòng thương tiếc chẳng cùng, sai người đem chôn, và giấu kín không để ai biết.

Còn quân sĩ, đua nhau cướp phá dinh Khổng Phụ Gia tan tành.

Khổng Phụ Gia chỉ có một người con tên Mộc Kim-phủ, tuổi còn nhỏ, được người nhà lén đưa sang nước Lỗ, tị nạn.

Tống Tương-công hay được tin Hoa Đốc khởi loạn, giết Khổng Phụ Gia, nổi giận sai người đòi Hoa Đốc đến để trị tội.

Hoa Đốc cáo bệnh không đến.

Tống Tương-công bèn thân hành đến nhà.

Hoa Đốc hay tin cả sợ, họp quân sĩ, nói:

- Nay Khổng Phụ Gia bị giết, ắt Chúa công không để chúng ta sống yên. Trước kia Lỗ Mục công bỏ con mà truyền ngôi cho cháu, đáng lẽ Chúa công mang ơn, lại còn nhiều phen đem quân đánh Trịnh để bắt Công tử Bằng, như thế thực là bất nghĩa. Nay chúng ta nên phế vua, mà lập Công tử Bằng lên kế vị, thì thật là hợp lẽ.

Quân sĩ la ó:

- Ngài dạy như thế là phải lắm. Chúng tôi xin tuân theo.

Quân sĩ tự động chia nhau mai phục quanh nhà.

Khi Tống Tương-công đến, họ ó lên một tiếng, rồi áp lại một lượt, gươm giáo sáng lòa.

Ðoàn ngự lâm quân bỏ chạy tán loạn, còn Tống Tương-công bị chết giữa đám loạn quân.

Hoa Đốc liền mặc tang phục giả vờ ôm tử thi vua khóc lóc, nổi trống lên, hiệp cùng các quan thương nghị.

Ðể che mắt mọi người, Hoa Ðốc còn bắt mấy tên quân đã thí vua dẫn ra pháp trường xử trảm.

Khi các quan văn võ, tề tựu đủ mặt, Hoa Đốc nói:

- Lòng dân vẫn còn mến ân huệ của Tuyên công thuở xưa lên muốn đón Công tử Bằng về nối ngôi, chẳng biết các quan định lẽ nào?

Các quan ai nấy đều sợ sệt, vâng dạ cho qua chuyện.

Hoa Đốc mới cho sứ giả sang Trịnh báo tang Tống Tương-công, và đón Công tử Bằng về nước.

Lại đem rất nhiều vàng bạc, châu báu tạ ơn nước Trịnh.

Trịnh Trang-công nhận được thư, biết được tự sự, bèn đưa Công tử Bằng về Tống.

Công tử Bằng sụp lạy, nói:

- Tôi được sống sót đến ngày nay là nhờ ơn Chúa công. Nay lại được về nước phục nghiệp, nguyện suốt đời chẳng dám quên ơn nước Trịnh.

Lời nói ấy làm cho Trịnh Trang-công cảm động đến ứa nước mắt, cầm tay Công tử Bằng giã biệt.

Công tử Bằng về nước, được Hoa Đốc tôn lên ngôi tức là Tống Trang-công.

Các nước láng giềng được sứ nước Tống đem lễ vật đến cầu thân, nên đồng hẹn nhau họp mặt tại đất Tắc, để chứng kiến lễ đăng-quan tức vị của Công tử Bằng.

Vua Tề Hi-công, sau khi dự hội ở đất Tắc, về nữa đường nghe tin quân Bắc-nhung đo tướng Ðại-lương làm Nguyên-soái, đem một vạn binh sang đánh Tề. Các đất Chúc-an và Lịch-hạ đã bị phá vỡ. Quan trấn thủ hai xứ ấy đều bại binh.

Tề Hi-công nói với các quan hầu cận:

- Giặc Bắc-nhung đã nhiều phen quấy rối nước ta. Nay lại đem đại binh xâm chiếm bờ cõi, nếu chẳng ra oai đánh một trận, không thể nào làm cho chúng sợ được.

Nói rồi bèn viết thư, mượn binh ba nước Lỗ, Vệ và Trịnh, lại tự mình cầm binh kéo về Lịch-hạ chống giữ.

Trịnh Trang-công tiếp được tin ấy, vội vàng gọi Thế tử Hốt đến bảo:

- Tề cùng Trịnh kết thân rất hậu, nay Tề có việc ta phải hết lòng giúp đỡ.

Nói rồi khiến Thế tử Hốt làm Ðại-tướng, Cao Cừ Di làm Phó-tướng kéo quân sang Tề.

Lúc đó, Vệ và Lỗ chưa đến.

Tề Hi-công mở tiệc tiếp đãi.

Thế tử Hốt thưa:

- Ta nên cho binh phục khắp nơi, rồi cho một toán quân ra dụ địch, chờ cho quân địch lọt vào ổ phục-kích, ta sẽ tràn ra mà tiêu diệt, như thế chắc được trọn thắng.

Tề Hi-công khen phải, liền hiệp với binh nước Trịnh, cho Công tôn Nguyên phục nơi phía Ðông, còn Công tử Sái Trọng thì dẫn một đạo quân ra khiêu chiến.

Vừa thoáng thấy quân Tề kéo đến, quân Bắc-nhung liền sai phó-tướng Tiêu-nhung ra nghênh chiến.

Hai bên đánh nhau được hai mươi hiệp, Sái Trọng giả thua bỏ chạy.

Tiêu Lương rượt theo.

Sái Lương thấy vậv cũng xua quân tràn tới.

Khi đuổi tới cửa Ðông, bỗng nghe một tiếng súng nổ ầm lên, chuông trống khua rền, hai bên quân phục nỗi dậy đông như kiến cỏ.

Tiêu Lương biết trúng kế, vội lui binh chạy về, nhưng bị quân của Sái Lương đàng sau tràn tới, hai bên đụng dồn lại, xô đẩy lẫn nhau, không biết đường nào mà chạy.

Hai tướng Sái Trọng và Công Tôn Nguyên hợp lại đánh nhầu, quân Bắc-nhung cả loạn, chết vô số. Bao nhiêu tàn quân bỏ chạy đến núi Thước-sơn thì lại gặp đạo binh của Phó-tướng Cao Cừ Di đón đánh. Sái Lương và Tiêu Lương bỏ cả quân lính chạy thoát thân. Nhưng mới vừa chạy được vài dặm, gặp đạo quân của Thế tử Hốt đón lại, đánh thôi manh giáp tơi bời. Tiêu Lương bị Chúc-đạm bắn chết, còn Sái Lương bị Thế tử Hốt chặt đầu đem về nạp cho Tề Hi-công.

Tề Hi-công rất mừng, nói:

- Nếu không nhờ tài trí và sức anh dũng của Thế tử thì đâu thắng được giặc Bắc-nhung một cách vẻ vang như vậy.

Thế tử Hốt thưa:

- Nhờ oai của Chúa công nên tôi mới thắng địch quân được dễ dàng. Nhưng đó chỉ là việc nhỏ, đâu có công cán gì, xin Chúa công chớ dạy quá lời.

Tề Hi-công liền sai sứ sang Lỗ và Vệ thôi việc mượn binh, rồi mở tiệc khao thưởng quân sĩ và đải đằng Thế tử Hốt.

Trong tiệc, Tề Hi-công nhắc lại cuộc hôn nhân con gái mình với Thế tử Hốt ngày trước.

Thế tử Hốt một mực từ chối, làm cho Tề Hi-công lòng áy náy không an.

Mãn tiệc Tề Hi-công bảo Di Trọng-niên đến nói riêng với Cao Cừ Di rằng:

- Chúa công tôi vì mến tài Thế tử nên có ý cầu thân. Việc ấy trước kia đã định, nhưng hôm nay Thế tử vẫn từ chối, chẳng biết Thế tử có ý chi chăng? Nếu ngài lo hộ việc này, Chúa công tôi xin biếu cho ngài hai viên bích-ngọc, và một trăm nén vàng.

Cao Cừ Di nghe nói vội vã đến tìm Thế tử Hốt nói:

- Tề Hi-công có lòng tốt yêu mến Thế tử, muốn cầu thân, nếu Thế tử nhận lời thì sau này có thêm được nước lớn giúp đỡ, điều đó rất có lợi.

Thế tử Hốt đáp:

- Ngày trước ta chưa có công trạng chi đối với Tề, mà còn từ chối thay. Huống hồ nay ta phụng mệnh phụ thân đem binh giúp Tề, vừa thắng trận lại nói đến chuyện hôn nhân, e thiên hạ chê ta là kẻ lợi dụng.

Cao Cừ Di nói mãi không được.

Tề Hi-công lại sai Di Trọng Niên thân hành đến gặp Thế tử Hốt bày tỏ cạn nỗi niềm.

Nhưng Thế tử Hốt viện cớ chưa được lệnh phụ thân, không dám nhận lời.

Ðoạn cáo từ đem quân về nước.

Thái độ của Thế tử Hốt làm cho Tề Hi-công phật ý trách thầm:

- Bởi muốn gây tình thân thiện với nhau nên phải chiều ý thế thôi, chứ con gái ta sắc đẹp tuyệt vời, lo chi không lấy được người chồng xứng đáng.

Thế tử Hốt về nước, thuật lại câu chuyện ấy cho Trịnh Trang-công.

Trịnh Trang-công nói:

- Con đã có công nghiệp lớn thì lo gì không có vợ đẹp.

Tề Túc nghe được việc ấy, gọi riêng Cao Cừ Di ra ngoài nói:

- Chúa công đông con, Công tử Ðột, Công tử Nghi, Công tử Vĩ đều có ý tranh ngôi. Nay Thế tử Hốt lại không chịu kết thân với Tề để thêm vây cánh thì thật là việc đáng tiếc.

Cao Cừ Di nói:

- Tôi đã hết lời khuyên Thế tử, nhưng Thế tử không nghe thì biết làm sao.

Hai người nhìn nhau, mỗi người riêng một ý.

Cao Cừ Di trước đây rất thân mật với Công tử Vĩ, nay nghe Tề Túc nói lại càng thân mật thêm.

Một hôm, Thế tử Hốt nói với Trịnh Trang-công:

- Cao Cừ Di và Công tử Vĩ chơi với nhau rất thân, lại tư thông nhiều việc, xin phụ vương phải đề phòng cho lắm mới được.

Trịnh Trang-công nghe nói nổi giận đòi Cao Cừ Di đến mắng.

Cao Cừ Di buồn lòng đem việc ấy nói lại với Công tử Vĩ.

Công tử Vĩ nói:

- Trước kia, phụ vương ta định dùng ngươi làm Ðại-phu nhưng vì Thế tử Hốt ngăn cản, nay lại còn cấm hai ta không được thân nhau nữa. Nếu một mai phụ vương ta băng hà, chúng ta làm sao an toàn nổi.

Cao Cừ Di nói:

- Thế tử là người nhu nhược, không thể làm hại ai nổi, xin Công tử chớ lo.

Từ ấy, Cao Cừ Di và Công tử Vĩ âm thầm oán ghét Thế tử Hốt vô cùng.

Tề Túc thấy thế lòng lo ngại, một hôm bàn với Thế tử Hốt:

- Nếu Thế tử không kết thân với Tề thì cũng nên kết thân với Trần hoặc Vệ, để sau này Nương tựa, dùng làm ngoại viện.

Thế tử Hốt suy tính mấy hôm, cuối cùng cho lời ấy là phải, bèn nhờ Tề Túc tâu với Trịnh Trang-công cho sứ sang nước Trần cầu hôn.

Sau đó Thế tử Hốt lấy nàng Vĩ-thị làm vợ.

Giữa lúc đó, vua Hoàn-công nước Lỗ cũng kết thân với Tề.

---------------------------------------------------------------------

Hồi thứ 9.
Văn Khương, gái Tề về nước Lỗ
Lỗ Chúc đạm, tướng Trịnh bắn vua Chu

Nguyên Tề Hi-công có hai người con gái rất xinh đẹp. Người lớn là Tuyên-khương đã gả cho Vệ-hầu, còn lại người nhỏ là Văn-khương. Nàng này mặt hoa, mày liễu, nhan sắc tuyệt vời, lại thêm học hành thông thái, thi phú rất giỏi, vì thế gọi là nàng Văn-khương.

Văn-khương lại còn có người anh cùng cha khác mẹ, tức là Thế tử Chư Nhi, chỉ lớn hơn nàng độ vài tuổi, diện mạo phương phi, ra chiều trang nhã, nhưng phải cái tánh đa mê sắc dục.

Từ nhỏ đến lớn, Chư Nhi và Văn-khương thường lui tới, gần gũi nhau, do đó trong tình anh em lại có ẩn thêm một mối tình luyến ái.

Tề Hi-công vốn chiều con không bắt buộc giữ gìn khuôn phép, nên về sau sanh điều tệ hại.

Khi Thế tử Hốt đánh tướng giặc Bắc-nhung, Tề Hi-công thường khoe tài Trịnh Thế tử trước mặt Văn-khương và thường nhắc đến việc hôn nhân của nàng với Thế tử Hốt.

Văn-khương lấy làm đắc ý. Nhưng về sau, nghe tin Thế tử Hốt từ hôn, nàng buồn bã mà sanh bệnh, bỏ ăn, bỏ ngủ, ngày đêm mê hoảng.

Thế tử Chư Nhi thường lại thăm nàng lân la bên giường bệnh, gây thêm mối tình dan díu.

Tuy-nhiên vì lúc nào cũng có cung-nhân hầu hạ một bên nên chưa đến nổi sanh điều dâm-loạn.

Một hôm vua cha vào thăm con gái, thấy Thế tử Chư Nhi đang ngồi chung giường với Văn-khương liền kêu ra ngoài mắng:

- Mi là anh, sao mi không biết tị hiềm vậy.

Chư Nhi cúi đầu làm thinh không đáp.

Tề Hi-công nói:

- Từ nay mi chỉ được sai cung nhân đi thăm mà thôi, không nên lân la như vậy nữa.

Chư Nhi bẽn lẽn lui ra.

Từ ấy, chàng ít khi lui tới.

Cách đó không lâu, Tề Hi-công cưới con gái của Tống-công cho Thế tử Chư Nhi.

Ðược vợ, Chư Nhi thỏa tình tơ tóc quên lãng cuồng vọng riêng, nên anh em càng ngày càng xa lần.

Văn-khương ở nơi phòng loan vắng vẻ, lại thêm thương nhớ Chư Nhi, bệnh thế càng nặng hơn nữa.

Lúc bấy giờ tại nước Lỗ.

Lỗ Hoàn-công khi nối ngôi đã lớn tuổi mà chưa có vợ.

Quan Ðại-phu Tang Tôn-đạt tâu rằng:

- Chúa công nên xem việc tôn miếu là trọng mà kiếm người làm chủ trong cung mới được.

Công tử Vận cũng quỳ tâu:

- Hạ thần trộm nghe thiên hạ đồn rằng con gái Tề Hi-công là Văn-khương nhan sắc tuyệt mỹ. Trước kia muốn gả cho Thế tử Hốt, nhưng việc không thành. Nay xin Chúa công cho người qua đó cầu hôn ắt đặng.

Lỗ Hoàn-công nghe theo, liền sai Công tử Vận qua Tề cầu hôn.

Tể Hi công thuận ý, nhưng lại thấy Văn-khương còn tại bệnh nên hẹn nán lại ít lâu.

Cung nhân hay được việc ấy, thuật lại với Văn-khương. Nàng lấy làm mừng lần hồi thuyên bệnh.

Kịp đến lúc Tề và Lỗ hội nơi đất Tắc.

Lỗ Hoàn-công đem chuyện cầu-hôn ra bàn.

Tề Hi-công lại một một lần nữa chấp thuận và đính ước năm đến.

Năm sau, vào năm thứ ba của Lỗ Hoàn-công.

Công tử Vận xin thay mặt vua đem lễ-vật sang Tề để rước nàng Văn-khương về Lỗ.

Thế tử Chư Nhi nghe được tin, giả chước sai cung-nhân đem hoa tặng Văn-khương, trong hoa có giấu một bài thơ:

Hoa đào đang độ hây hây
Ðượm tình thơ mộng những ngày xa xưa
Cành hoa hé cửa song thưa
Tiếc thay! Con bướm vẫn chưa đi về

Văn-khương xem thơ hiểu ý, đáp lại rằng:

Vườn xuân một cánh hoa đào
Năm nay chưa bẻ, hẹn vào năm sau
Hững hờ bóng nguyệt canh thâu
Hoa xuân đâu đã phai màu thời gian

Chư Nhi đọc bài thơ ấy, biết Văn-khương có dạ tưởng mình, lòng càng mơ mộng.

Cách đó vài hôm, Công tử Vận đem lễ vật đến nước Tề.

Tề Hi-công quá thương con gái, nên có ý thân hành đưa Văn-khương sang Lỗ.

Chư Nhi biết được ý định, vào quỳ tâu:

- Nay phụ thân gả tiện muội cho vua Lỗ, đó là việc rất hay, hai nước càng thân thân mật. Song vua Lỗ đã không sang đón, mà phụ thân lại phải đưa đến, e thất thế đi chăng. Xin phụ vương giao việc ấy cho con thay mặt cũng được.

Tề Hi-công nói:

- Ta đã hứa đích thân đưa Văn-khương qua Lỗ, thì nay không thể thất tín.

Nói vừa dứt lời, được tin Lỗ Hoàn-công thân hành đến đất Hoan, thuộc nước Lỗ, để tiếp đón.

Tề Hi-công nói:

- Lỗ Hoàn-công là một người trọng lễ, sợ ta đi xa mệt nhọc nên đến nữa đường tiếp đón, ta há lại thất lễ sao!

Chư Nhi buồn bã nín lặng bước ra, đợi đến lúc khởi hành, giả vờ đến tiển em, ghé vào tai Văn-khương nói nhỏ:

- Em chớ quên những lời trong thơ hôm trước.

Văn-khương, lòng bịn rịn nhìn anh đáp:

- Xin anh cứ an tâm, ngày xuân còn dài, lo gì không có lúc hội ngộ.

Tề Hi-công trao việc quốc-chính lại cho Thế tử Chư Nhi, rồi cùng Văn-khương lên đường.

Ðến đất Hoan, Lỗ Hoàn-công đã bày sẵn tiệc lễ đợi chờ.

Hai bên gặp nhau vui vầy khôn xiết.

Tiệc mãn, Tề Hi-công cáo từ trở về nước, còn Lỗ Hoàn-công đưa Văn-khương về kinh đô làm lễ giao-bôi.

Lỗ Hoàn-công thấy Văn-khương tài sắc vẹn toàn, đem lòng quý mến.

Kế đó Tề Hi-công lại sai Di Trọng Niên đem lễ vật đến để thăm viếng.

Từ đấy mối tình của hai nước rất nên khăng khít.

Ðây nhắc qua tại triều Châu, từ khi vua Hoàn-vương hay được tin Trịnh Trang-công giả mệnh mình đem quân đánh Tống, lòng căm giận vô cùng, khiến Quách-công Lâm-phủ bỉnh-chánh một mình không thèm dùng Trịnh Trang-công nữa.

Trịnh Trang-công hay được tin ấy cũng giận vua nhà Châu, năm năm không vào triều yết kiến.

Một hôm Hoàn-vương nói với các quan:

- Trịnh Ngộ Sanh vô lễ, nếu không cử binh sang đánh Trịnh thì làm sao răn được các chư hầu?

Quách-công tâu:

- Tâu Bệ hạ Trịnh có công lao lớn với triều đình, nay bị cất quyền mà phật ý không vào yết kiến. Xin Bệ hạ cứ viết chiếu đòi va vào triều mà trách mắng.

Hoàn-vương nổi giận, nói:

- Ta không thể nào dung thứ những đứa tôi loàn như vậy, các khanh chớ can gián làm chi.

Bèn hạ chiếu khiến nước Sái, Vệ, Trần cất binh sang đánh Trịnh.

Lúc bấy giờ ở nước Trần, Công tử Ðà đã giết Thế tử Vân con trai lớn của Trần-hầu mà đoạt ngôi.

Người trong nước không phục, bỏ đi rất nhiều.

Do đó, Công tử Ðà không dám trái lệnh vua Châu, sai Bá Viên Chư làm tướng, đem quân thẳng qua nước Trịnh.

Sái, Vệ cũng đã cất quân theo nhà Châu đi phạt Trịnh.

Trịnh Trang-công hay được tin, họp các quan lại bàn:

- Nay Châu Hoàn-vương ngự giá thân chinh, sai Quách-công Lân-phủ và Châu công Hắc Kiên thống lĩnh đại binh hiệp với quân ba nước Trần, Vệ, Sái mà đánh ta. Vậy các quan có ý chi chăng?

Tề Túc tâu:

- Thiên tử ngự giá thân chinh phạt Trịnh, bắt tội Chúa công không vào chầu là lẽ chính đáng. Xin Chúa công cho người đến tạ tội để đổi dữ ra lành thì hay hơn.

Trịnh Trang-công nổi giận nói:

- Vua đã đoạt quyền bính của ta, lại còn đem binh đến đánh ta nữa, không nghĩ đến công lao của họ Trịnh hai đời xây dựng sự nghiệp nhà Châu. Như vậy sai lại gọi là chính đáng?

Cao Cừ Di nói:

- Nước Trần thuở nay rất thân thiện với Trịnh, nay lại đem binh đánh Trịnh đó là điều bất đắc dĩ. Duy có Vệ và Sái, cừu hận với ta, hai nước ấy đem binh đến đây ắt cố đánh. Hơn nữa, Thiên-tử đang cơn thịnh nộ, nhuệ khí đang hăng, ta phải thủ thành chờ cho lòng quân giải đãi rồi sẽ đánh.

Quan Ðại-phu là Công tử Ngươn nói:

- Làm tôi mà nghịch với vua là trái đạo rồi! Việc phải lo cho gấp nếu trì hoãn ắt thất bại. Tôi tuy bất tài song cũng xin hiến một kế.

Trịnh Trang-công hỏi:

- Kế ấy như thế nào?

Công tử Ngươn nói:

- Binh của ChâU-vương chia làm ba đạo thì quân ta cũng phải chia làm ba mặt mà đánh.

Trịnh Trang-công nói:

- Kế ấy có gì là hay?

Công tử Ngươn tâu:

- Tâu Chúa công, cái hay ở chỗ nắm được địch tình. Nay nước Trần, Công tử Ðà tuy đem quân sang đánh nhưng lòng quân miễn cưỡng, ta thừa thế đem quân chủ lực đánh vào chỗ yếu. Hễ binh nước Trần tan vỡ, Vệ và Sái ắt phải kéo binh chạy theo. Chừng ấy ta hiệp binh lại đánh với vua, ắt là trọn thắng.

Trịnh Trang-công nói:

- Binh-pháp của khanh thật không kém gì Tử-phòng.

Lúc đang thương nghị xảy có quân vào báo:

- Binh vua đã đến Nhụ-các, đóng ba dãy trại liền-lạc với nhau.

Trịnh Trang-công nói:

- Hãy phá chừng một trại thôi. Còn hai trại kia chỉ thị oai cũng đủ.

Bèn khiến Mạng-bá đem một đạo binh đánh phía hữu, Tề Túc đem một đạo binh đánh phía tả, còn Trịnh Trang-công bản thân dẫn Cao Cừ Di, Nguyên-phồn, Hà Thúc Doanh và Chúc- đạm thống lãnh đạo trung quân rầm rộ phát pháo khai binh.

Cao Cừ Di nói:

- Tôi nghe Châu-vương thông thạo binh pháp, chúng ta không nên khinh thường, phải lập trận Ngư-biếc thì mới mong thắng đặng.

Trịnh Trang-công hỏi:

- Trận Ngư-biếc là trận gì?

Cao Cừ Di nói:

- Phải dùng hai mươi lăm cỗ xa làm tiền bộ. Mỗi cỗ xa chỉ để hai mươi lăm tên quân chiến đấu và hai mươi lăm tên quân dự khuyết. Như thế chỉ tới mà không lui được, quân sĩ sẽ liều chết để thắng địch.

Trịnh Trang-công khen hay làm y kế, rồi kéo binh đến Nhụ-các hạ trại.

------------------------------------------------

Hồi thứ 10.
Ngôi nhà Chu, Hùng Thông tiếm vị
Nơi nước Trịnh, Tề Túc thay vua

Trong lúc Châu Hoàn-vương mượn binh đánh Trịnh, thì nước Trần sai Bá Viên Chư làm tướng, nước Sái sai Sái Quý cầm binh.

Hai tướng này gặp nhau hỏi thăm qua tình hình hai nước.

Sái Quý hỏi Bá Viên Chư:

- Tình hình nước Trần có chi khác chăng?

Bá Viên Chư đáp:

- Ngày nay nước tôi, Công tử Ðà cướp ngôi, lòng dân không phục. Bởi thế quân lính rất hỗn độn, khó mà điều binh lắm!

Sái Quý nói:

- Thế sao không lo thu phục nhơn tâm, làm cho mọi người kính mến?

Bá Viên Chư, mỉm cười lắc đầu nói:

- Cướp ngôi đã là điều bất chính, làm sao dân phục nổi! Vả lại Công tử Ðà lại không lo chính sự, cứ ham mê săn bắn. Tôi chắc nước Trần sau này sẽ có biến.

Sái Quý nói:

- Ðã vậy thì cứ kể tội Công tử Ðà mà giết quách đi để tránh tai hại về sau.

Bá Viên Chư nói:

- Ðiều đó rất muốn, song vì sức đương không nổi.

Sau khi rút quân về nước, Sái Quý đem chuyện ấy thuật lại với Sái-hầu.

Sái-hầu nói:

- Công tử Ðà là một đứa phản loạn, sao lại để nó được an nhiên ngồi hưởng quyền thế. Nay Thái-tử Vân bị giết thì cháu ngoại ta là Công tử Dược lên ngôi mới phải.

Sái Quý tâu:

- Muốn giết Công tử Ðà cũng chẳng khó chi. Tính Công tử Ðà ưa săn bắn, ta chờ va ra đi, phục binh mà giết ắt xong.

Sái-hầu cho là phải, bèn khiến Sái Quý đem một trăm cỗ binh xa, phục nơi Giới-khẩu, rồi cho người đi thám thính.

Chẳng bao lâu quân sĩ về báo:

- Công tử Ðà đi săn đã ba ngày rồi, nay còn đóng quân nơi Giới-khẩu này.

Sái Quý cả mừng, cải trang làm một người thợ săn, dẫn vài mươi tên quân lần tới.

Vừa gặp lúc Công tử Ðà đang bắn hạ một con nai, Sái Quý xông vào cướp giựt, rồi cứ đường tắt chạy thẳng về hướng phục binh của mình.

Công tử Ðà tức giận, giục ngựa đuổi theo.

Bỗng nghe hai bên bụi rậm, tiền quân ó vang dậy, rồi quân binh ào ra như kiến cỏ, bắt Công tử Ðà trói lại.

Công tử Ðà chưa hiểu nguyên do, đang trố mắt nhìn thì Sái Quý đã quay lại hét lớn:

- Phản tặc, ta đây là Sái Quý em ruột của Sái-hầu đến đây để trừ quân phản-loạn.

Nói xong, vung gươm chém Công tử Ðà đứt làm hai đoạn.

Rồi kéo binh đến khu rừng chiêu dụ quân sĩ của Công tử Ðà rằng:

- Công tử Ðà vốn là đứa nghịch thần phản phúc, nay ta muốn lập Công tử Dược lên nối ngôi, các ngươi nghĩ sao?

Quân sĩ nước Trần đều quỳ mọp xuống đất, nói lớn:

- Nếu được thế thật là hợp lý.

Sái Quý bèn tiến quân vào nước Trần, hiểu dụ nhân dân, rồi tôn Công tử Dược lên ngôi, tức là Trần Lệ công.

Từ đấy, Trần và Sái trở nên thân mật.

Trần Lệ công được lòng dân mến phục, trong nước hưởng cảnh thái-bình.

Lúc bấy giờ tại nước Sở, có vua Hùng Thông là một người cường bạo, tánh hiếu chiến, lại có ý muốn xưng Vương hiệu, nhưng vì thấy chư hầu đều tùng phục nhà Châu, nên không dám. Kế đó, nghe tin nhà Châu vừa thua nước Trịnh, nên có ý dễ ngươi, triệu các quan cận thần đến bàn tính.

Quan Lệnh-doãn là Ðấu Bá Tỷ nói:

- Nước Sở bỏ vương hiệu đã lâu, nếu nay xưng lại e chư hầu không phục. Xin Chúa công phải tính kế làm cho các chư hầu khiếp oai trước đã.

Hùng Thông hỏi:

- Muốn được vậy phải làm cách nào?

Ðấu Bá Tỷ tâu:

- Các nước Hớn-đông chỉ có nước Tùy là lớn hơn hết. Chúa công nên cất binh sang dọa nước Tùy rồi cho sứ sang cầu hòa. Hễ nước Tùy mà đầu phục thì các chư hầu khác phải nghe theo.

Hùng Thông khen phải, bèn bổn thân đem đại-binh sang đóng nơi đất Hà, rồi cho quan Ðại-phu Viễn Chương vào nước Tùy hòa giải.

Lúc bây giờ nước Tùy có một tôi hiền là Quý Lương và một nịnh thần là Thiều Sư.

Hai người này luôn luôn có những ý kiến chống đối nhau.

Tùy-hầu lại tin dùng kẻ nịnh, nên Thiều Sư rất được nhiều quyền thế.

Khi có sứ nước Sở đền giảng hòa.

Tùy hầu cho đòi cả hai người đến vấn kế.

Quý Lương tâu:

- Nước Sở mạnh, nước Tùy yếu, nay lại đến cầu hòa ắt có điều ám muội. Vậy bề ngoài, ta nên hòa dịu, mà bên trong phải hết sức đề phòng.

Thiều Sư tâu:

- Lời ấy chưa chắc đã đúng, xin Chúa công cho sang nước Sở để dò xét tình hình đã.

Tùy-hầu nghe theo, khiến Thiều Sư sang đất Hà để hội đàm với Sở.

Ðấu Bá Tỷ nghe tin sứ nước Tùy là Thiều Sư đến vội vào thưa với Hùng Thông:

- Ta nghe Thiều Sư là người ít trí, chỉ có tài dua nịnh mà được Chúa nước Tùy yêu. Nay va phụng mạng sang đây ắt cũng để dò la hư thực. Vậy ta nên giấu các đạo binh tinh nhuệ đi, chỉ cho va xem những đội binh lão nhược. Hễ va kiêu ngạo mà trễ biếng thì mới có cơ thắng dễ dàng được.

Quan Ðại-phu Hùng Xuất Ty nói:

- Kế ấy cũng hay, song nước Tùy còn có Quý Lương, ta khó mà che mắt va được.

Ðấu Bá Tỷ nói:

- Kế đó không phải lợi cho ngày nay mà sẽ có lợi cho ngày sau đó.

Hùng Thông nghe theo, liền dàn các đội quân lão nhược ra, rồi mới cho đòi Thiều Sư vào ra mắt.

Thiều Sư vào đến dinh Sở, liếc mắt thấy hai bên quân sĩ gầy gò ốm yếu, liền lên mặt kiêu căng, hỏi Hùng Thông:

- Hai nước chúng ta bờ cõi ai nay giữa cần gì quí quốc phải nói đến chuyện giải hòa?

Hùng Thông giả vờ nói:

- Nước tôi mấy năm liên tiếp bị mất mùa, dân chúng đói khổ. Sợ e các lân bang đến hiếp chế nên phái cầu hòa với quý quốc, để nhờ nhau trong lúc hoạn nạn.

Thiều Sư nói:

- Quí quốc bất tất phải lo ngại. Các nước chư hầu bên Hớn-đông này đều thần phục nước tôi cả.

Hùng Thông bèn cùng với Thiều Sư kết ước.

Ðoạn hai đàng giã biệt ai về nước nấy.

Thiều Sư về đến Kinh đô, vào yết kiến Tùy-hầu, thuật lại tình hình quân binh nước Sở già nua, hèn yếu, rồi tiếp:

- Nước Sở sau khi kết ước họ lui binh trở về tức khắc. Ðiều đó tỏ rằng nước Sở rất sợ Tùy. Xin Chúa công cấp cho tôi một đạo binh để đuổi theo đánh cho tan tành. Làm như vậy từ nay nước Sở sẽ không dám dòm ngó đến nước Tùy nữa.

Tùy-hầu nghe nói, còn đang lưỡng lự, Quý Lương vội quỳ tâu:

- Tâu Chúa công, nước Sở từ đời Phấn-mạo đến nay hùng cứ Giang-hớn, binh lương hùng mạnh. Nay Hùng Thông là một kẻ hiếu chiến, đến đây cầu hòa ắt mưu độc kế, nếu Chúa công cho ra quân, e lầm mưu nước Sở đó.

Tùy-hầu rũ quẻ thầy điềm xấu, nên không cho Thiều Sư cất quân nữa.

Sở Hùng-thông kéo binh về, nghe được tin Quý Lương can Tùy-hầu không cho rượt theo mình, bèn đòi Ðấu Bá Tỷ đến hỏi:

- Nay ta không gạt được nước Tùy để gây hấn, khanh có kế gì khác chăng?

Ðấu Bá Tỷ nói:

- Bây giờ phải làm kế hội các nước chư hầu nơi Thẩm-lộc, thuộc nước Sở. Nếu Tùy-hầu không đến, ta sẽ cất binh sang đánh về tội bội ước.

Hùng Thông chuẩn tâu, sai sứ đi khắp các nước Hớn- đông mời đến đất Thẩm-lộc để phó hội.

Các nước đều tề tựu đủ mặt, duy có nước Hoàng và Tùy không đi dự.

Hùng Thông bèn cho hai sứ giả Cừ-chương và Khuất-hà sang hai nước Hoàng và Tùy để trách cứ.

Nước Hoàng cho người đến tạ tội. Còn nước Tùy vẫn im lìm, không nói gì cả.

Hùng Thông lấy cớ ấy, cất quân sang đánh Tùy. Binh tướng đóng đồn nơi sông Hoài và sông Hớn.

Tùy-hầu nghe được tin, vội vã họp các quan thương nghị.

Quý Lương tâu:

- Nước Sở mới họp chư hầu, thế rất mạnh, quân ta khó thắng nổi. Theo ý tôi, nên sai sứ đến cầu hòa. Nếu nước Sở lui binh ta giữ niềm hòa hảo, bằng cố đánh, quân sĩ nước ta sẽ căm phẫn. Chừng ấy, ta lấy nhân tâm làm sức mạnh mà thắng địch.

Thiều Sư nghe nói cười xòa:

- Sao ngài lại nhát gan đến thế. Ðáng gì một mớ binh lao, mã liệt của nước Sở mà phải hạ mình đi cầu hòa. Nếu ta không đánh gấp e binh Sở lại có thì giờ rút về nước, thì uổng lắm!

Tùy-hầu nghe theo lời Thiều Sư, bèn phong Thiều Sư làm chức Nhung-hữu, Quý Lương làm Ngự-xa, còn bổn thân dẫn đạo trung quân kéo đến đóng dưới chân núi Thanh Lâm sơn mà nghênh chiến.

Sau khi xem xét địch tình, Quý Lương nói với Tùy-hầu:

- Quân Sở chia làm hai đạo. Theo phong-tục nước Sở, đạo tả quân là chính, ắt có vua Sở ngự nơi đây, và có nhiều tinh binh hộ-giá. Vậy ta nên đánh vào phía hữu để uy-hiếp địch trước.

Thiều Sư nói:

- Ðã đem binh đi đánh giặc mà còn sợ không dám đánh vào bộ đầu não của địch thì thật là kẻ không biết dụng binh. Xin Chúa công cứ cho đánh vào đạo binh phía tả để bắt vua Sở, kẻo rnất thì giờ vô ích.

Tùy-hầu nghe theo, đốc binh xông vào phía tả.

Bên Sở mở trận cho quân Tùy kéo vào.

Vừa đến giữa trận, binh-phục của Sở nổi dậy, ó lên một tiếng kéo nhau vây phủ tứ bề.

Thiều Sư giao chiến với tướng nước Sở là Ðấu Đơn chưa đặng mấy hiệp, đã bị Ðấu Ðơn chém một đao rơi đầu.

Quý Lương thấy thế đã nguy, liều chết phò Tùy-hầu mở đường máu mà chạy.

Tùy-hầu phải cởi bỏ mũ áo, lộn trong đám tàn-quân mới thoát nổi vòng vây.

Chạy ước năm dặm, Tùy-hầu mới đám dừng lại, kiểm điểm binh mã hao hơn phân nữa, bèn nói với Quý Lương:

- Bởi ta không nghe lời ngươi nên mới bị thảm bại như vầy, Thiều Sư hiện giờ ở đâu?

Quân sĩ kể lại việc Thiều Sư bị tử trận, Tùy-hầu thương tiếc chẳng cùng.

Quý Lương tâu:

- Chúa công chớ tiếc làm chi, bây giờ chỉ còn một kế là nên cầu hòa với Sở, mặc dầu đã muộn, nhưng vẫn còn hơn.

Tùy-hầu nói:

- Bây giờ ngươi liệu thế nào ta cũng chấp thuận. Vậy ngươi hãy thay ta mà đến dinh Sở xem sao.

Quý Lương tuân lệnh, một mình thẳng đến trại Sở, vào tâu với Hùng Thông, xin nghị hòa.

Hùng Thông cả giận mắng:

- Chúa của ngươi đã bội thề, bỏ việc phó hội, lại còn đem binh đánh với ta. Nay bị thua mới đến cầu hòa, hành động ấy tỏ ra kẻ gian dối.

Mặc dầu Hùng Thông thét mắng, nét mặt Quý Lương vẫn thản nhiên, không chút sợ sệt, chậm rãi đáp:

- Ngày trước, nước Tùy vì có Thiều Sư là một tôi nịnh, ép vua làm điều quấy. Nay Thiều Sư đã chết, Chúa công tôi đã ăn-năn. Nếu Hiền-hầu vui lòng giao-hảo để thêm vây cánh, chẳng có lợi cho nước Sở lắm sao?

Ðấu Bá Tỵ nghe Quý Lương nói, bèn tâu với Hùng Thông:

- Thiều Sư chết, quả lòng trời chưa muốn nước Tùy diệt. Vậy ta không nên trái ý trời. Xin Chúa công hãy xử hòa, lợi dụng nước Tùy làm đầu xướng cho các nước Hớn-đông ca tụng nước Sở, rồi Chúa công nhân đó xưng đỡ vương hiệu đặng trấn phục man di, như vậy có lợi cho nước Sở hơn.

Hùng Thông nghe theo lời Ðấu Bá Tỵ, bèn khen Viên-Chương nói riêng với Quý Lương rằng:

- Chúa tôi có đất Giang Hớn rất rộng, nay muốn tạm xưng vương hiệu đặng có oai mà trị man di. Ấy nếu Tùy-hầu bằng lòng rũ các chư hầu đến xin với Châu Hoàn-vương việc ấy, thì Chúa công tôi sẽ ngưng binh mà đợi vương-mạng.

Quý Lương ra về, đem việc ấy báo lại với Tùy-hầu.

Tùy-hầu vì sợ sệt, nên rủ các chư hầu Hớn-đông vào triều Châu, xin cho Hùng Thông được tạm xưng vương hiệu.

Châu Hoàn-vương không thuận ý, khiến các chư hầu phải cúi lạy, lui về.

Hùng Thông nghe tin nổi giận nói:

- Tiên nhân của ta là Giục-Hùng có công giúp Văn vương, Võ vương dựng nên nhà Châu, thế mà lại phong cho một nước Sở nhỏ bé nơi núi Kinh-sơn. Ðã bao năm ta đánh dẹp man di, mở mang bờ cõi, mà không hưởng được một tấc công lao. Trong lúc ấy Trịnh Trang-công bắn vai vua, vua vẫn bỏ qua không vấn tội. Công không thưởng, tội không phạt, thì bảo các chư hầu phải kính nể làm sao! Vả chăng, Tiên-quân của ta trước kia đã có xưng vương hiệu, thì nay ta xưng vương cũng chỉ là phục chức cũ mà thôi, chẳng cần phải chờ ChâU-vương thuận ý.

Nói rồi tự lập mình lên làm Sở Võ vương, giao hòa với Tùy-hầu rồi kéo binh về nước.

Các nước chư hầu miệt Hớn-đông nghe nước Sở xưng vương hiệu đều sai sứ đến chúc mừng.

Châu Hoàn-vương hay tin, giận lắm nhưng không dám cất binh vấn tội, đành làm lơ.

Từ đó, nhà Châu càng ngày càng suy yếu, nước Sở mỗi ngày một cường thịnh.

Sau Hùng Thông chết, truyền ngôi lại cho con là Hùng Xi, dời đô sang đóng nơi đất Dĩnh, âm mưu xâm phạm bờ cõi nhà Châu.

Nói về Trịnh Trang-công, từ khi đánh thắng nhà Châu trở về, trong nước thái bình, lo sửa sang triều chính, phong cho Công tử Ngươn đất Lịch-ấp, các quan đại thần cũng đều được phong thưởng, duy chỉ có Chúc-đạm không không được ân-huệ nào cả.

Chúc-đạm buồn ý, vào triều khiếu-nại.

Trịnh Trang-công nói:

- Ngươi đã bắn trúng Thiên-tử, nếu ta phong chức cho ngươi, e mang tiếng với thiên hạ.

Chúc-đạm ngậm hờn, nhưng không dám nói.

Về đến tư dinh phát sanh chứng ung thư mà thác.

Trịnh Trang-công ban cấp tiền bạc cho gia đình vợ con, rồi lo việc tống táng rất trọng hậu.

Qua đến năm thứ mười chín, đời Châu Hoàn-vương, Trịnh Trang-công lâm bệnh rất nặng.

Biết mình không thể sống được lâu, bèn kêu Tề Túc đến bên giường nói:

- Ta có cả thảy mười một đứa con, trừ Thế tử Hốt ra, thì còn có Công tử Ðột, Công tử Vĩ, Công tử Nghi đều là những người có nhân cách. Trong số đó, ta xét thấy Công tử Ðột tài trí hơn cả. Ta muốn truyền ngôi cho Ðột chẳng biết ý khanh thế nào?

Tề Túc tâu:

- Tâu Chúa công. Thế tử Hốt là trưởng-tử, được Chúa công phong tước, lâu nay lập nhiều công trạng, lại được dân chúng kính vì. Nay Chúa công muốn bỏ trưởng mà lập thứ, hạ thần rất khó phụng mệnh.

Trịnh Trang-công nói:

- Ta vẫn biết Công tử Ðột thuộc dòng thứ, song tánh Ðột ngang ngạnh, không chịu ở dưới ai.

Vì muốn cho gia đình thảo thuận, ta mới có ý đó. Tuy nhiên, xét lại làm như vậy sẽ không đúng đạo nhân luân. Thế thì phải đưa Công tử Ðột đến ở một nước khác mới yên nhà, yên nước được.

Tề Túc nói:

- Biết ý con không ai hơn là cha. Vậy xin Chúa công cứ định liệu.

Trịnh Trang-công thở dài nói:

- Thế là từ nay nước Trịnh sắp phải trải qua bao nhiêu tai biến.

Nói rồi đòi Công tử Ðột, dạy phải sang nước Tống mà cư ngụ.

Khi Trịnh Trang-công mất, triều thần tôn Thế tử Hốt lên nối ngôi, xưng là Trịnh Chiêu-công.

Trịnh Chiêu-công sửa sang việc triều chính.

Sai sứ sang kết giao với các nước chư hầu, và sai Tề Túc sang Tống để dò xét tin-tức Công tử Ðột.

Nguyên mẹ Công tử Ðột là con Ung-thị, người nước Tống, hiện dòng dõi Ung-thị đang được Tống Trang-công mến yêu. Khi Công tử Ðột sang Tống, tỏ ý với Ung-thị muốn cướp ngôi Thế tử Hốt.

Ung-thị liền vào yết kiến Tống Trang-công, kể rõ sự tình.

Tống Trang-công có ý muốn giúp Công tử Ðột tiếm vị.

Kế nghe Tề Túc sang Tống cầu hòa, Tống Trang-công mừng rỡ nói:

Chỉ dùng một mình Tề Túc cũng đủ cho Công tử Ðột trở về lên ngôi nước Trịnh được.

Bèn sai tướng Nam-cung Trường-vạn mai phục sẵn một đoàn giáp sĩ, đợi Tề Túc đến để thi kế.

Tề Túc vào triều bái Tống Trang-công vừa rồi, thì quân giáp sĩ lẹ làng nhảy ra thộp ngực Tề Túc trói lại.

Tề Túc la lớn:

- Kẻ ngoại-thần này có tội chi mà trói?

Tống Trang-công nói:

- Ngươi cứ an lòng vào chốn quân phủ rồi sẽ thấy tội lỗi.

Quân giáp sĩ dẫn Tề Túc đem giam vào quân phủ canh gác rất cẩn mật.

Ðêm ấy, quan Thái-tể nước Tống là Hoa Đốc đem rượu thịt đến quân-phủ thăm Tề Túc.

Tề Túc hỏi:

- Chúa tôi cho tôi sang đây để giao hảo, xét mình không có tội gì sao quí quốc lại có ý xử bạc?
Hoa Đốc nói:

- Không phải thế đâu! Ai cũng biết Công tử Ðột là con nhà họ Ung, hiện được vua Tống quí mến. Nay Công tử Ðột cư ngụ nơi nước Tống, lẽ nào vua Tống lại không giúp đỡ.

Tề Túc nói:

- Giúp đỡ Công tử Ðột bằng cách đối xử với tôi như thế.

Hoa Đốc nghe nói mỉm cười rồi đáp:

- Ðúng vậy! Vua Tống thấy Thế tử Hốt nhu nhược, không đáng lên nối ngôi, muốn lập Công tử Ðột lên kế vị, nếu ngài bằng lòng việc ắt được trọng đãi.

Tề Túc cau mày nói:

- Thế tử Hốt phụng mệnh Tiên công mà nối ngôi. Nay phế lập ắt lòng dân không thuận.

Hoa Đốc nói:

- Việc phế lập là việc thường trong thiên hạ, của những kẻ có sức mạnh. Nếu ngài thuận ý sẽ được Chúa công tôi giúp sức.

Tề Túc nói:

- Thôi xin ngài hãy trở về tưđinh mà an nghỉ. Tôi không thể chiều ý được.

Hoa Đốc nói:

- Nếu thế thì tôi cũng chưa về được, vì lần này là lần chót mà tôi được hội kiến với ngài. Ngài đã không nghe lời, Chúa công tôi sẽ sai tướng Nam-cung Trường-vạn đem quân đưa Công tử Ðột về nước để lên ngôi. Và trước khi làm cái việc đó, Chúa công tôi buộc lòng phải khai đao chém ngài trước.

Tề Túc túng thế phải vâng lời.

Hoa Đốc chưa tin, nói:

- Nếu ý ngài đã quyết xin thề lên một tiếng.

Tề Túc thề rằng:

- Nếu tôi không lập Công tử Ðột lên ngôi, xin đất trời tru diệt!

Hoa Đốc đem việc ấy tâu lại với Tống Trang-công.

Hôm sau Tống Trang-công cho vời Công tử Ðột vào hậu cung, nói:

- Nay nước Trịnh đã lập Thế tử Hốt lên ngôi, lại sai người đem mật thư đến đây bảo ta ngầm giết Công tử thì sẽ hiến ba thành mà tạ ơn. Lòng ta không nỡ, muốn đưa Công tử trở về Trịnh nối ngôi, ý Công tử như thế nào?

Công tử Ðột sụp lạy, tâu:

- Tâu Chúa công, tôi mang thân sang đây, việc sống chết đều nhờ tay Chúa công định liệu. Nếu tôi được nối ngôi, Chúa công muốn gì mà chẳng được, cần gì phải dâng ba thành.

Tống Trang-công rất mừng, nói:

- Ta đã bắt Tề Túc giam ở Quân-phủ, cốt dùng vào việc này.

Nói xong, đòi Tề Túc và Ung-thị đến nói rõ ý muốn của mình.

Lại bắt Công tử Ðột làm tờ cam kết nếu được lên ngôi phải dâng ba thành, một trăm đôi bạch bích, một vạn nén vàng kim, và hàng năm phải nộp ba vạn hộc thóc.

Tuy vậy, Tống Trang-công vẫn thấy chưa đủ bảo đảm sau này, bèn bắt Tề Túc phải gả con gái cho con trai Ung-thị là Ung Củ, rồi dẫn Ung Củ về Trịnh phong cho chức Ðại-phu để coi sóc công việc làm của Công tử Ðột.

Trước tình thế đó Tề Túc không dám cải lời, đành phải tuân theo.

Bấy giờ Công tử Ðột cùng với Ung Củ giả dạng làm lái buôn theo Tề Túc về nước Trịnh.

Về đến nơi, Tề Túc dẫn hai người vào tư dinh, rồi cáo bệnh không vào chầu.

Lại khiến quân giáp sĩ phục khắp nơi.

Các quan nghe tin Tề Túc bị bệnh kéo đến vấn an.

Nhưng khi vào nhà thấy Tề Túc vẫn khoẻ mạnh như thường, mặt mày tươi tắn, lấy làm lạ hỏi:

- Tướng quân không có bệnh, cớ sao viện cớ không vào chầu?

Tề Túc đáp:

- Thân ta không có bệnh mà nước ta đang có bệnh!

Các quan không hiểu đều ngơ ngác nhìn.

Tề Túc nói tiếp:

- Ngày trước Tiên công đưa Công tử Ðột sang trú ngụ nơi nước Tống, nay Tống sai tướng Nam-cung Trường-vạn đem quân đánh mà lập Công tử Ðột lên ngôi. Vậy các quan có kế gì chống lại chăng?

Các quan đều ngơ ngác nhìn nhau, nín lặng.

Tề Túc nói tiếp:

- Muốn tránh tai nạn cho nước Trịnh không gì hơn là phải lập Công tử Ðột lên ngôi. Hiện Công tử Ðột đã có mặt nơi nhà tôi. Ý các quan thế nào cho biết?

Cao Cừ Di trước đây có bất bình Thế tử Hốt về việc ngăn cản Trịnh Trang-công không cho phong chức Thượng-khanh cho mình, nhân cơ hội này liền đứng dậy rút gươm nói:

- Tướng công định như thế thật là phúc cho nước Trịnh đó. Các quan ngỡ Cao Cừ Di và Tề Túc đã xếp đặt trước, ai nấy đều sợ sệt cuối đầu tuân theo.

Tề Túc liền mời Công tử Ðột ra ngồi trên sập, rồi cùng Cao Cừ Di cúi lạy.

Các quan không biết làm thế nào cũng phải lạy theo.

Kế đó, Tề Túc làm một tờ biểu lấy đủ chữ ký của các quan dâng lên cho Trịnh Chiêu-công.

Trong biểu đại-khái nói: Nước Tống cất binh đưa Công tử Ðột về Trịnh. Chúng tôi không thể phụng thờ Chúa công được nữa.

Ðồng thời, Tề Túc lại viết mật thư trao riêng cho Trịnh Chiêu-công.

Trong thư nói:

“Chúa công nối ngôi là điều không phải ý của Tiên công. Ðó là do tôi đã cáng đáng. Khi tôi đi sứ, nước Tống lại bắt giam tôi, ép lập Công tử Ðột lên kế vị. Tôi thiết nghĩ, nếu đem thân liều chết, e không giúp ích được cho Chúa công sau này. Vì vậy ép lòng phải nhận lời. Nay các quan đều sợ nước Tống mà nghe theo, xin Chúa công khá mau tìm nơi lánh nạn để chờ cơ hội phục-nghiệp. Lòng tôi có trắc ẩn xin Hoàng-thiên tru diệt”.

Trịnh Chiêu-công xem tờ biểu chương và bức mật thư xong xét thấy mình cô thế, không còn ai giúp đỡ nữa, bèn bỏ trốn sang nước Vệ.

Công tử Ðột lên ngôi, xưng hiệu là Trịnh Lệ-công.

Mọi việc quốc chính đều giao cho Tề Túc.

Tề Túc giữ lời, gả con gái cho Ung Củ, và xin Trình Lệ công phong cho Ung Củ làm chức Ðại-phu.

Khi còn ở bên Tống, Trịnh Lệ-công chơi thân với Ung Củ, nên nay Ung Củ rất được tin dùng, không kém gì Tề Túc.

Việc Trịnh Lệ-công tiếm ngôi không làm cho dân chúng phẫn uất lắm. Duy có Công tử Vĩ và Công tử Nghi tỏ ý bất bình, lại sợ lâm hại đến bản thân nên Công tử Vĩ trốn qua nước Sái, còn Công tử Nghi trốn qua nước Trần lánh nạn.

Tống Trang-công hay được tin Trịnh Lệ-công đã tức vị, vội sai sứ đến chúc mừng.



[1] Lâm bồn: Mới sinh

[2] Thái-miếu: Nơi thờ phụng các Tiên-vương

[3] Trai-cung: Nhà chaỵ

[4] Ấy là điềm ứng cho nhà Chu phải dời qua hướng Ðông

[5] Ðồng dao: Câu hát của con nít

[6] Thiên cơ: Máy trời, sự mầu nhiệm của tạo hóa

--------------

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

MỤC LỤC

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét