Ỷ công lao, Tống Trang-công đòi của
Giết rể Ung, Trịnh Tế Túc đuổi vua
Sứ Tống sang Trịnh tuy
là bề ngoài để chúc mừng, song bên trong cố đòi các lễ vật đã giao ước.
Trịnh Lệ-công thấy vậy, kêu Tế Túc hỏi:
- Trước kia, vì muốn nối
ngôi nên vua Tống yêu sách bao nhiêu ta cũng phải chịu. Nay mới vừa lên ngôi,
chưa đặng bao lâu mà phải dâng ba thành, cùng các lễ vật cho Tống, thì các kho
tàng sẽ trống rỗng, các chư hầu sẽ cười ta, biết liệu làm sao.
Tế Túc nói:
- Bây giờ phải trả lời với
Tống Trang-công là nhân tâm chưa định, nếu giao đất cát e có biến. Vậy xin đem
sưu thuế ba thành mà nạp còn ngọc bích cùng vàng lụa thì ba phần trả một, số
lúa hẹn năm tới sẽ đong.
Trịnh Lệ-công nghe theo,
viết thư trả lời cho vua Tống, xin nạp ba chục bích ngọc và ba nén vàng ròng, kỳ
dư hẹn lại năm tới sẽ tính.
Sứ giả mang thư về.
Tống Trang-công cả giận
mắng:
- Kẻ đã chết đi, được ta
cứu sống, đưa lên địa vị, giàu sang, lẽ ra phải biết ơn ta mới phải, sao lại hẹp
hòi?
Nói rồi, sai sứ trở lại
nước Trịnh, quyết đòi cho đủ số nợ mới nghe.
Lần này Trịnh Lệ-công
cũng lại bàn với Tế Túc, rồi đem nạp hai vạn thùng thóc mà thôi.
Sứ giả trở về, Tống Trang-công
vẫn không bằng lòng, sai đi lần nữa, bảo Trịnh Lệ-công rằng:
- Nếu không nộp đủ số tiền
nợ đã giao ước, Tế Túc phải qua thương thuyết lại mới được.
Tế Túc thấy Tống Trang-công
xử sự như thế, bèn nói với Trịnh Lệ-công:
- Nước Tống vốn mang ơn
Tiên công ta nhiều lắm, thế mà ngày nay cậy chút công lao quên điều nhân nghĩa.
Vậy xin Chúa công cho tôi sang Tề và Lỗ nhờ hai nước ấy can thiệp giùm mới được.
Trịnh Lệ-công nói:
- Biết Tề và Lỗ có vì ta
mà can thiệp chăng?
Tế Túc nói:
- Trước kia Tiên công ta
đi đánh nước Hứa và Tống được Tề và Lỗ giúp sức. Mối tình ấy chưa mờ phai. Lỗ-hầu
được lên ngôi cũng nhờ Tiên công ta đó. Nếu Tề phụ bạc, thì Lỗ không lẽ chối từ.
Trịnh Lệ-công nói:
- Muốn làm cho Tống Trang-công
khỏi ác cảm với ta thì phải dùng kế chi?
Tế Túc nói:
- Trước kia vua nước Tống
bị giết, lập con vua là Công tử Bằng, Tiên công ta cùng Tề với Lỗ đều giúp việc
ấy. Sau đó, Tống có đem một cái vạc lớn mà tặng cho Lỗ, lại đem một cái chén ngọc,
tặng cho Tiên công để đền ơn. Nay tôi sang Tề và Lỗ, nhờ hai nước ấy thương
thuyết với Tống đem trả cái chén ngọc ấy, để Tống nhớ chuyện cũ mà thẹn, không
đám kể công nữa.
Trịnh Lệ-công nghe nói mừng
rỡ khen Tế Túc là mưu lược, vội sai sứ giả mang lễ vật rất hậu đến nước Tề và Lỗ
để thương thuyết việc ấy.
Sứ Trịnh qua Lỗ kể hết đầu
đuôi sự việc.
Lỗ-hầu cười lớn, nói:
- Trước kia Chúa Tống chỉ
đem đến cho ta một cái vạc, mà ta còn giúp đỡ thay, huống chi nay Trịnh-hầu đem
lễ vật rất nhiều, lẽ nào ta lại làm lơ.
Bèn nhận lễ vật, hứa sẽ
can thiệp.
Sứ Trịnh tạ ơn lui về.
Còn sứ giả của Trịnh
sang Tề cũng thuật lại đầu đuôi sự việc.
Tề Hi-công vốn có cảm tình
với Thế tử Hốt, song Tề Hi-công nhớ đến công trạng của Thế tử Hốt giúp mình thắng
giặc Bắc-nhung, nên lòng không vui, hỏi sứ giả:
- Thế tử Hốt bị tội gì
mà nước Trịnh lại phế đi lập Công tử Ðột? Ta nhất định hưng binh vấn tội, đừng
hòng đem lễ vật đến nhờ ta!
Nói xong, trả hết lễ vật,
đuổi sứ về nước.
Sứ giả trở về thuật lại
mọi việc.
Trịnh Lệ-công thất kinh,
nói với Tế Túc:
- Nước Tề đã không nhận
giúp, ắt nay mai kéo binh đến vấn tội. Ta phải lập mưu gì mà cự địch?
Tế Túc nói:
- Xin Chúa công chớ lo.
Tôi xin chỉnh tu binh mã để phòng cái ngày đó.
Trịnh Lệ-công nơm nớp lo
âu, nhưng không biết làm sao hơn, đành lặng thinh mà chờ ngày binh biến.
Giữa lúc đó thì Lỗ hầu
sai sứ sang mời Tống đến đất Phó-chung để phó hội mà bàn việc giúp Trịnh.
Trong cuộc hội kiến Lỗ Hoàn-công
đem việc Trịnh Lệ-công nhờ mình mà nói lại.
Tống Trang-công nói:
- Trịnh Đột trước kia chỉ
là một cái trứng, nhờ tôi ấp cho nở ra, nay được làm chúa một cõi sơn hà lại
quên điều ước hẹn. Hiền hầubắt tôi ngồi yên được sao?
Lỗ Hoàn-công nói:
- Ngài đã gia ơn cho Trịnh,
thì Trịnh nào dám quên. Ngặt vì nối nghiệp chưa bao lâu, kho tàng thiếu hụt,
chưa thể thanh-toán nổi cùng một lúc. Vậy tôi xin bảo lãnh món nợ ấy cho.
Tống Trang-công nói:
- Ðược! Số vàng ngọc có
thể nói là kho tàng thiếu thốn còn như giao đất ba thành chỉ một lời là xong,
thế mà Trịnh Đột không nói đến thật quả đứa bội nghĩa.
Lỗ Hoàn-công nói:
- Ðất của tiền-nhân, nếu
Trịnh Lệ-công đem giao cho nước khác e thiên hạ chê cười, lòng dân không phục,
nên mới đem số thuế ba thành mà nạp cho Hiền-hầu. Tôi nghe Trịnh đã đem đến mấy
muôn hộc lúa nạp cho nước ngài rồi mà!
Tống Trang-công nói:
- So với điều ước thì có
thấm vào đâu. Việc này tôi không thể nào bỏ qua được, xin hiền hầu chớ nhọc
công.
Thấy Tống Trang-công khăng
khăng cố chấp, Lỗ Hoàn-công tức giận bỏ ra về, sai sứ sang nước Trịnh thuật lại
cho Trịnh Lệ-công hay.
Trịnh Lệ-công liền khiến
Ung Củ đem cái chén ngọc đến nhờ Lỗ-hầu thương lượng với Tống, trả thay vào việc
nộp đất ba thành, lại đem thêm ba mươi cặp bạch-bích, hai ngàn nén vàng kim nữa.
Thấy vậy Lỗ Hoàn-công cũng
nễ lòng thân hành sang trước Tống một phen nữa.
Lần này hai vua gặp nhau
nơi đất Cốc-châu.
Lỗ Hoàn-công nói:
- Hôm trước Hiền hầu trách
Trịnh không nạp đũ lễ vật, nên nay Trịnh lại cậy tôi đến nạp thêm.
Tống Trang-công không
nói một lời cám ơn, lãnh đạm hỏi:
- Còn đất ba thành bao
giờ mới nạp?
Thái độ ấy làm cho Lỗ Hoàn-công
bất bình, song đã trót làm ơn cho Trịnh, đành nén giận, nói:
- Trịnh Đột không thể vì
ơn riêng của mình mà cắt đất đem nạp cho một nước khác. Nay xin dâng vật này để
thế cho ba thành.
Ðoạn, khiến quân đem lễ
vật vào.
Tống Trang-công nghe nói
đến hai tiếng ơn riêng, lòng đã bất bình lại thấy quân đem đến dâng một chiếc
chén ngọc chiếc chén mà trước kia nước Tống đã khấn lễ cho nước Trịnh, lòng
thêm bực tức, mặt sầm lại, nói:
- Vật này để làm gì?
Lỗ Hoàn-công đáp:
- Ngày trước, vì nước Trịnh
có chút ơn riêng với quí-quốc, nên được quí-quốc tặng cho bảo vật ấy. Nay Trịnh
Đột nghĩ lại không dám tham lam, gởi qua trả lại quí quốc để quí quốc xét tình
mà tha cho việc nạp đất, thì không những Trịnh Đột mang ơn, mà Tiên công cũng rất
lấy làm may mắn.
Tống Trang-công nghe nhắc
lại chuyện xưa, lòng hổ thẹn đáp:
- Việc ấy đã chôn sâu
trong dĩ-vãng, đâu có liên quan gì với hiện tại?
Lỗ Hoàn-công nghe nói trố
mắt nhìn, không làm sao hiễu được câu nói của kẻ tham lam.
Vừa lúc ấy có sứ nước
Yên là Yên-bá đến xin ra mắt.
Tống Trang-công cho vào.
Yên-bá bước đến thi lễ,
và nói:
- Nước tôi giáp với nước
Tề, thường bị binh Tề kéo vào quấy nhiễu, dân chúng không an. Nay tôi vâng lệnh
Yên-chúa đến đây nhờ Chúa công điều đình giúp với Tề, cho nước tôi được sống
trong cảnh yên vui.
Tống Trang-công nhận lời.
Lỗ Hoàn-công nói:
- Nước Tề vẫn có cựu hiềm
với nước Kỷ nữa, vì thế năm nào cũng đem quân đánh phá. Nếu ngài điều giải giúp
nước Yên thì tôi cũng sẽ xin nói giúp cho nước Kỷ, để bá tánh khỏi nạn binh
đao.
Kế đó ba nước Lỗ, Tề và
Yên cùng tuyên thệ kết thân với nhau, rồi chia tay ra về.
Tống Trang-công lại khiến
người qua nước Trịnh đòi nợ mãi.
Trịnh Lệ-công không biết
làm sao, sai sứ sang nước Lỗ khẩn cầu một phen nữa.
Lỗ Hoàn-công bất đắc dĩ
phải cho người sang trình vua Tống họp nơi đất Hư-qui để quyết định việc nước
Trịnh.
Tống Trang-công từ chối,
sai sứ đến nói với Lỗ Hoàn-công rằng:
- Tống với Trịnh có lời
giao ước riêng, xin các chư hầu chớ can thiệp.
Lỗ Hoàn-công nổi giận mắng:
- Dẫu một đứa thường dân
mà tham lam, bất tín cũng chẳng ra chi, huống hồ một ông vua!
Bèn lên xe thẳng đến nước
Trịnh, bàn với Trịnh cử binh sang đánh Tống.
Vua Tống hay được tin ấy,
lòng lo lắng, lại được nghe nước Tề bất bình với Trịnh Lệ-công, nên nhơn cơ hội
sai Công tử Du qua Tề kể tội Trịnh Lệ-công và xin Tề giúp quân đánh Trịnh để phế
Công tử Ðột, phục nghiệp cho Thế tử Hốt. Mặt khác, cầu hòa giúp cho nước Yên.
Sứ giả đi chưa về, thì
có tin từ biên cương báo về: Lỗ với Trịnh hiệp binh đến đánh, nay đã gần tới đất
Thơ Đương.
Tống Trang-công nghe báo
thất kinh, vội vã đòi quần thần đến nghị kế.
Công tử Nghị Thuyết nói:
- Quân lực mạnh hay yếu
là đo hành động chính nghĩa hay phi nghĩa. Bởi ta tham của hối lộ gây nỗi bất
bình nên Lỗ và Trịnh mới có cơ hiệp binh chinh phạt. Bây giờ ta phải chịu lỗi,
giữ niềm hòa hảo cho hợp với lòng dân.
Tướng Nam-cung Trường-vạn
nói:
- Giặc đến bên thành,
chưa rờ tới lưỡi gươm đã tính việc hạ mình, thế thì còn chi là thể diện nước
nhà.
Thái-tể Hoa Đốc nói:
- Lời của Trường-vạn nói
rất phải, xin Chúa công chớ do dự làm nhụt chí ba quân.
Tống Trang-công liền sai
tướng Nam-cung Trường-vạn, họp với Mạnh-hoạch làm Tiên phong dẫn ba trăm chiến xa
ra khỏi thành nghênh chiến.
Hai bên dàn quân đâu đó
sẵn sàng.
Lỗ Hoàn-công và Trịnh Lệ-công
ngồi chung một xe, tuốt đến bên thành kêu Tống Trang-công ra nói chuyện.
Tống Trang-công vì mắc cỡ,
giả bệnh không ra.
Nam-cung Trường-vạn đứng
xa thấy trên xe có cắm hai cây tàn thêu, biết là xe của hai vua Lỗ và Trịnh,
bèn vỗ vai Mạnh Hoạch nói:
- Lần này tướng quân
không lập công thì đợi chừng nào?
Mạnh Hoạch hét lên một
tiếng, tay cầm xà mâu lướt đến giữa trận.
Lỗ Hoàn-công và Trịnh Hoàn-công
thấy tướng dữ, vội lui xe trở lại.
Tướng nước Lỗ là Công tử
Nịch, tướng nước Trịnh là Nguyên Phồn vội xông ra cản Mạnh Hoạch lại, nói:
- Mi tên họ là chi? Làm
chức gì mà hung hăng làm vậy!
Mạnh Hoạch đáp:
- Ta là Tiên phong Mạnh
Hoạch.
Nguyên Phồn mắng rằng:
- Thật là đứa vô danh tiểu
tốt, đã bắt tài lại không sợ chết, hãy về kêu tên chánh tướng của mi ra đây đặng
ta chém đầu cho khỏi dơ lưỡi đao của ta.
Mạnh Hoạch nổi giận vung
xà mâu đánh liền.
Quân Trịnh và Tề vây chặt
Mạnh Hoạch vào giữa.
Thấy hai tướng mình
không thắng nổi Mạnh Hoạch, Lỗ Hoàn-công liền khiến hai đạo binh hậu đến tiếp ứng.
Mạnh Hoạch cự không lại
bị Lương Tử là tướng của nước Lỗ, bắn nhằm cánh tay rớt xà mâu, nên bị trói.
Nam-cung Trường-vạn hay
được tin Mạnh Hoạch thất trận, nghiến răng nói:
- Nếu không đánh giải
thoát được cho Mạnh Hoạch ta thề chẳng vào thành.
Nói rồi sai con trai lớn
là Nam Cung Ngưu đem ba chục cỗ xe ra khiêu chiến. Nhưng lại dặn:
- Khi đấu chiến phải giả
thua mà chạy, dụ địch đến cửa thành phía Tây ta sẽ có kế bắt nó.
Nam Cung Ngưu lãnh mạng,
xua binh ra trận, cả tiếng mắng:
- Trịnh Đột là đứa thất phu
bội nghĩa. Hãy ra đây mà chịu chết.
Viên tùy tướng bên Trịnh
thấy Nam Cung Ngưu hãy còn niên thiếu bèn xông ra tiếp đánh.
Vừa đánh được ba hiệp,
Nam Cung Ngưu giả thua bỏ chạy.
Tướng Trịnh rượt theo đến
thành Tây bị Nam-cung Trường-vạn phục binh bắt sống đem vào nạp cho Tống Trang-công.
Tống Trang-công sai sứ
qua dinh Trịnh xin đổi Mạnh Hoạch về.
Trịnh Lệ-công chấp thuận,
mở trói Mạnh Hoạch thả ra ngoài thành rồi dẫn viên tùy tướng vào.
Giữa lúc quân hai bên
đang cầm cự, chưa phân thắng bại, thì Công tử Du phụng mạng Tống qua Tề mượn
binh đánh Trịnh, đã trở về.
Tống Trang-công đòi vào
bệ kiến.
Công tử Du nói:
- Tề Hi-công vẫn có ý
ghét Trịnh Đột đoạt ngôi anh, song còn đang mắc đánh nước Kỷ. Nếu Tống hiệp
binh với Tề đánh Kỷ thì Tề sẽ giúp Tống đánh Trịnh.
Tống Trang-công chưa biết
liệu định lẽ nào, còn đang thương nghị.
Cũng cùng lúc đó, bên
dinh Trịnh, Lỗ Hoàn-công và Trịnh Lệ-công đang bàn kế đánh Tống, xảy có sứ nước
Kỷ đem thư đến cầu viện.
Lỗ Hoàn-công mở thư ra
xem:
Binh Tề bang đánh nước
tôi quá ngặt. Nếu quân-hầu tưởng tình suôi gia lúc trước, đem binh cứu viện thì
nước Kỷ tôi mang ơn chẳng nhỏ. Việc binh rất gấp, xin chớ diên trì.
Lỗ Hoàn-công xem thư, thất
kinh nói với Trịnh Lệ-công:
- Nước Kỷ có nạn, tôi
không thể nào bỏ qua được. Nay thành nước Tống chưa thể phá gấp được, tôi phải
tạm rút quân về để cứu nước Kỷ đã. Từ rày Tống không còn dám qua đòi hối lộ nữa
đâu.
Trịnh Lệ-công nói:
- Nay ngài dời binh qua
cứu nước Kỷ, tôi cũng đem hết binh gia trong nước theo ngài mà giúp nước Kỷ
luôn thể.
Lỗ Hoàn-công nghe nói cả
mừng. Hai vua lập tức truyền lệnh nhổ trại kéo binh thẳng qua nước Kỷ.
Tống Trang-công thấy Trịnh,
Lỗ bỗng nhiên rút quân, trong lòng nghi ngại, cho người đi do thám.
Quân thám thính về báo:
- Binh giặc đã kéo khỏi ải
địa đầu, chắc là qua giúp nước Kỷ.
Quan Thái-tể Hoa Đốc tâu:
- Tâu Chúa công Tề
Hi-công đã hứa giúp ta đánh Trịnh thì ta cũng nên nhơn cơ hội này mà giúp Tề
đánh Kỷ trước.
Thái-tể Hoa Đốc nói vừa
dứt tiếng thì tướng Nam-cung Trường-Vạn bước ra nói.
- Tôi xin lãnh mạng đem
quân đi đánh nước Kỷ cho.
Tống Trang-công chấp thuận,
phát cho hai trăm cổ binh xa, lại khiến Mạnh Hoạch làm tiên phong như cũ, ngày
đêm kéo riết qua trước Kỷ để giúp Tề-hầu.
Giữa lúc đó, Tề Hi-công
cũng đã cho sứ sang nước Vệ và rước bên mượn thêm binh viện.
Vệ Tuyên-công vừa muốn
phát binh giúp Tề thì bỗng lâm bịnh mà thác.
Thế tử Sóc lên nối ngôi,
xưng hiệu là Vệ Huệ-công. Tuy còn mắc tang cha, song Vệ Huệ-công không dám chối
từ, vội vã xuất binh kéo sang nước Kỷ.
Còn nước Yên, bấy lâu
nay vẫn có ý cầu thân với Tề. Nay được dịp lẽ nào từ chối.
Thế là binh ba nước Tề,
Vệ, Yên họp nhau đánh nước Kỷ rất ngặt.
Vua nước Kỷ không dám chống
cự, chỉ cố thủ để chờ binh viện.
Ngày kia có quân vào
báo:
- Nay quân hai nước Lỗ
và Trịnh đã kéo đến giúp nước ta, xin Chúa công liệu định.
Kỷ-hầu nghe báo, lòng mừng
khấp khởi, vội leo lên thành xem và truyền chuẩn bị cuộc đón tiếp.
Lỗ Hoàn-công vừa kéo
binh đến, gặp Tề Hi-công giữa trận, bèn đáp lễ và nói:
- Nước Kỷ có thân thuộc
với tôi, vì vô lễ phạm đến quí quốc, nên tôi vội vàng đến đây xin lỗi hộ.
Tề Hi-công nói:
- Nước Kỷ với tôi mang mối
thù rất lớn, không thể dùng lời nói mà hỉ xả được!
Lỗ Hoài-công hỏi:
- Chẳng hay thù ấy là
thù gì vậy?
Tề Hi-công nói:
- Xưa tổ tiên tôi là Ai-công
bị nước Kỷ dèm pha nên vua Châu mổ bụng. Từ ấy đến nay đã trên tám mươi đời rồi,
mà mối thù vẫn chưa báo được. Nay ngài đem binh giúp cho nước Kỷ, còn tôi phải
đánh nước Kỷ để báo thù, thế thì chúng ta không cần phải bàn bạc làm gì.
Lỗ Hoàn-công cả giận,
khiến Công tử Nịch xuất trận.
Bên kia Tề Hi-công cũng
khiến Công tử Bành Sinh vốn có sức mạnh phi thường, Công tử Nịch làm sao cự lại,
nên hai tướng cạnh của Lỗ-hầu là Trần-tử và Lương Tử thay thế xông vào tiếp ứng.
Tuy nhiên, ba tướng Lỗ
cũng không làm sao thắng nổi Công tử Bành Sinh được.
Cuộc chiến đấu kéo dài
mãi cho đến lúc quân Trịnh kéo đến phủ vây tứ phía.
Tướng Trịnh là Nguyên Phồn
và Mạnh Bá xông vào tiếp ứng.
Trong thành, Kỷ-hầu thấy
bên ngoài đang giáp chiến, củng mở cửa thành cho quân ào ra đánh một lượt.
Công tử Bành Sinh nhắm cự
không nổi phải kéo binh bỏ chạy, lại bị trúng một mũi tên gần vong mạng.
Lúc đó quân Tống cũng vừa
kéo đến kịp thời nhưng binh sĩ từ đằng xa mới đến, chưa định trú thì bị quân Trịnh
tràn tới đánh rất hăng.
Quân Tống bị thua, bỏ cả
khí giới mà chạy.
Tề Hi-công thấy quân sĩ
mình chết quá nhiều, lại không còn lực lượng nào để duy trì nữa, đành kéo tàn
quân trở về nước.
Trước khi rút lui, Tề
Hi-công chỉ vào thành nước Kỷ nói:
- Ta cùng nước Kỷ quyết
chẳng đội trời chung.
Lỗ và Trịnh thắng trận,
ra lệnh thu quân.
Kỷ-hầu rước vào thành mở
tiệc khoản đãi.
Em của Kỷ-hầu là Dinh Quý
thưa rằng:
- Binh Tề thất trận, thù
oán chưa tan, xin nhị vị quân-hầu ra ơn giúp cho một chước để có thể bảo tồn được
nước Kỷ.
Lỗ Hoàn-công nói:
- Việc ấy sẽ tính sau,
bây giờ không thể liệu nổi.
Rạng ngày Lỗ và Trịnh
kéo quân về nước.
Kỷ-hầu đưa khỏi ba dặm
đường mới giã biệt.
Từ đó, chư hầu chia làm
hai phe, một phe là Tống, một phe là Trịnh.
Tề Hi-công từ khi thất
trận, lòng uất-ức đến nổi sanh bịnh nặng.
Một hôm, gọi Thế tử Chư
Nhi đến bên giường dặn rằng:
- Nước Kỷ là kẻ thù bất
cộng đái thiên. Nếu sau này con diệt được nước Kỷ mà trả thù cho tổ tiên, ấy là
điều chí hiếu. Còn nếu con bất lực, không diệt nổi kẻ thù thì chớ vào nhà thái miếu.
Thế tử Chư Nhi quỳ móp
xuống đất cúi đầu tuân mạng.
Tề Hi-công lại cho đòi
con trai của Di Trọng Niên là Công-tôn Vô Tri vào, rồi nói với Chư nhi:
- Em một mẹ một cha với
ta là Di Trọng Niên chỉ sanh được một mình Vô Tri này mà thôi. Con phải cư xử
sao cho tử-tế, cũng như ta đã đối xử với em ta là Di Trọng Niên vậy.
Tề Hi-công trăn trối mấy
lời rồi tắt thở.
Các quan đưa Thế tử Chư
Nhi lên ngôi, xưng hiệu là Tề Tương-công.
Nhắc qua Tống Trang-công
từ khi sanh, giúp Tề bị thua một trận manh giáp tơi bời, lòng càng căm thù Trịnh
hơn nữa. Bèn đem lễ vật sang các nước Vệ, Tề, Trần, Sái, mượn binh kéo qua đánh
Trịnh để báo thù.
Trịnh Lệ-công muốn ra cự
địch, nhưng Tế Túc can rằng:
- Tống là nước lớn nay
đem toàn lực đến đây, quân ta cự sao lại chi bằng cố thủ là hơn.
Nói rồi dạy quân đóng chặt
cửa thành, cấm không cho tướng nào xuất quân cả.
Trịnh Lệ-công đành chịu
không dám trái lời Tế Túc.
Quân Tống đến bên thành
khiêu chiến mấy phen, không thấy tướng Trịnh ra đánh bèn phân nhau cướp phá
quanh thành, lại lấy cột nhà Thái-miếu đem về làm cột thành, cốt làm nhục nước
Trịnh.
Trịnh Lệ-công uất ức,
than rằng:
- Làm vua mà bị áp chế,
tưởng không còn gì nhục bằng.
Từ đó, Trịnh Lệ-công có
ý muốn giết Tế Túc.
Lúc bấy giờ Châu Hoàn-vương
đau nặng, liệu thế không sống được bao lâu, nên kêu Châu-công Hắc Kiên vào nói:
- Nhà Châu mỗi ngày một
suy yếu, trẫm cậy có các khanh gìn giữ sơn hà. Nay trẫm không còn sống được nữa,
đúng phép, Thái tử Ðà lên ngôi, song vì trẫm rất thương Hoàng-tử Khắc nên muốn
cho Khắc sau này được nối ngôi anh nó.
Chẳng bao lâu Châu Hoàn-vương
băng hà.
Triều đình tuân theo
Vương-mạng lập Thái tử Ðà lên ngôi, xưng hiệu là Châu Trang-vương.
Trịnh Lệ-công được tin Thiên
tử băng hà, muốn sai người vào triều điếu tang.
Tế Túc can rằng:
- Trước kia nhà Châu có
thù với Tiên công, hơn nữa Châu hoàn-vương bị Chúc đạm bắn một mũi tên, giận ấy
chưa nguôi, nay chẳng chung đội trời.
Châu Hoàn-vương chết, Chúa
công cho người đến điếu tang ắt sẽ bị nhục.
Trịnh Lệ-công lòng hoài nghi
không còn tin lời Tế Túc nữa.
Tuy ngoài mặt thản nhiên,
nhưng trong lòng cay đắng.
Một hôm Trịnh Lệ-công dạo
mát ở huê-viên, có quan Ung Củ theo hầu, bỗng có đàn chim bay qua, kêu hát véo
von.
Trịnh Lệ-công nhìn chim
thở dài.
Quan Ðại-phu Ung Củ biết
ý hỏi:
- Tâu Chúa công, trời
đang tiết xuân, muôn hoa đua nở, chim hát chào mừng, sau Chúa công lại không
vui?
Trịnh Lệ-công nói:
- Các giống chim đều được
sung sướng, tựđo, không ai áp chế. Còn ta tuy là vua nhưng không bằng giống
chim.
Ung Củ nói:
- Có lẽ Chúa công đang
nghĩ đến người đã đoạt lấy quyền hành trong nước chăng.
Trịnh Lệ-công nín lặng
không đáp.
Ung Củ nói:
- Tôi thiết tưởng, làm
con không giãi được ưu phiền cho cha là bất hiếu, làm tôi không giúp được vua
trong lúc hoạn nạn là bất trung, nếu Chúa công không cho tôi là kẻ hèn mạt thì
dầu việc gì nguy hiểm đến đâu tôi quyết không từ nan.
Trịnh Lệ-công đuổi hết
quân hầu ra ngoài, rồi hỏi Ung Củ:
- Ngươi không phải là rể
của Tế Túc sao?
Ung Củ đáp:
- Tâu Chúa công, tuy rể
thật, song tình cha con đâu bằng tình vua tôi. Vả lại Tế Túc gả con gái cho tôi
chỉ vì vua Tống ép buộc chứ đâu phải ý muốn.
Trịnh Lệ-công rõ được
lòng Ung Củ, bèn nói thẳng:
- Nếu ngươi giết được Tế
Túc ta sẽ phong cho ngươi chức Thượng-khanh. Vậy ngươi có kế chi chăng?
Ung Củ suy nghĩ một lúc
rồi nói:
- Xứ Ðông-giao bị quân Tống
cướp phá, dân-tình đang đói khổ, nay Chúa công sai Tế Túc đến đó phát chẩn
chiêu an. Tôi lợi dụng cơ hội ấy đãi rượu tiễn hành, bỏ thuốc độc vào ly rượu
mà giết đi là xong.
Trịnh Lệ-công nói:
- Kế ấy rất hay, song phải
cẩn mật lắm mới được.
Ung Củ về nhà, nghĩ đến
vợ là Tế-thị trong lòng áy náy không an, mặt mày có vẻ lơ láo.
Tế-thị thấy thế hỏi:
- Hôm nay trong triều có
việc gì quan hệ không?
Ung Củ lắc đầu, đáp:
- Không có việc gì cả.
Tế-thị không tin, gạn hỏi
nhiều lần:
- Vợ chồng ở với nhau đã
lâu lẽ nào không biết ý. Nếu tướng quân có điều gì lo lắng xin cho thiếp biết,
may ra thiếp có thể giúp được phần nào chăng.
Ung Củ cực chẳng đã phải
nói:
- Chúa công muôn sai nhạc
phụ ra Ðông-giao mà ủy lạo dân chúng. Lại khiến tôi dâng rượu tiễn hành để chúc
thọ nhạc gia.
Tế-thị hỏi:
- Dưng rượu để chúc thọ
nhạc gia việc gì tướng quân lại lo lắng như vậy. Thiếp tưởng trong triều có điều
chi rắc rối mà tướng quân không muốn cho thiếp biết.
Ung Củ nói:
- Không có việc gì cả.
Sai nhạc-phụ đến Ðông-giao, chi là mệnh vua, phu nhân chớ hỏi nhiều.
Thái độ và lời nói của Ung
Củ làm cho Tế-thị càng nghi ngờ thêm, mới lập kế phục rượu cho Ung Củ uống thật
say, rồi đợi lúc Ung Củ đang ngủ mơ màng, đập mạnh vào vai hỏi lớn:
- Này, Chúa công sai mày
giết Tế Túc mà mày lại quên rồi sao?
Trong lúc đang ngủ, Ung
Củ giật mình đáp:
- Tề thị đứng nhìn chồng
mà đôi dòng nước mắt chảy ròng ròng.
Rồi nàng tự nghĩ:
- Có thể như thế được
sao? Hay chàng đã vì hoảng hốt mà nói sằng.
Sáng ngày, Tế-thị nói với
Ung Củ:
- Tướng quân có ý muốn
giết phụ thân, việc ấy tôi đã rõ.
Ung Củ giật mình nhìn vợ
nói:
- Ấy chết! Ta có bao giờ
dám làm điều vô đạo! Sao phu nhân lại nghĩ thế.
Tế-thị nói:
- Ðêm hôm qua tướng quân
say rượu đã nói rỏ thiếp rồi bây giờ còn giấu làm chi.
Ung Củ rướm mồ hôi trán,
nhìn vợ, nói:
- Nếu quả có việc ấy thì
phu nhân nghĩ thế nào?
Tế-thị ngao ngán thở
dài. Rồi như để soi sáng tấm lòng ác hiểm của chồng, nàng giả vờ nói:
- Ðã lấy chồng thì theo
chồng, tướng quân hỏi làm gì câu ấy!
Ung Củ nghe vợ nói mừng
rỡ, đem đầu đuôi câu chuyện thuật lại một hồi.
Tế-thị nói:
- Phụ thân thiếp là một
kẻ đa mưu, túc trí, e không dám đi, xin cho thiếp vào tư dinh xét thử tình ý
như thế nào.
Ung Củ mừng rỡ nói:
- Nếu việc thành tôi được
lên chức Thượng-khanh thì phu nhân cũng được vinh hiển trọn đời.
Tối hôm ấy, Tế-thị ghé về
tư dinh thăm mẹ.
Tế Túc phu nhân thấy con
về, mừng rỡ hỏi:
- Lâu nay con vẫn được mạnh
giỏi chứ?
Tế-thị không đáp, buồn bã
hỏi mẹ:
- Chồng với cha nên trọng
đàng nào hơn?
Câu hỏi lạ lùng ấy làm
cho Tế Túc phu nhân ngạc nhiên nói:
- Sao con lại hỏi vậy.
Chồng với cha đàng nào mà chẳng trọng.
Tế-thị nói:
- Nhưng nếu gặp trường hợp
giữa cha và chồng có điều mâu thuẩn nhau thì nên trọng đàng nào?
Tế Túc phu nhân nói:
- Cha mẹ do trời định, vợ
chồng do người định. Mất chồng có thể lấy chồng khác, còn mất cha không thể tìm
một người cha khác được.
Tế Túc phu nhân nói vừa
dứt lời, Tế-thị khóc oà, bước tới ôm mẹ, nói:
- Hôm nay con quyết vì
cha mà không vì chồng.
Đoạn đem hết chuyện Ung
Củ kể lại cho mẹ nghe.
Tế Túc phu nhân kinh hãi
lập tức đem nói lại với chồng.
Tế Túc cau mày, nhìn con
gái mình như đắn đo với bao ý nghĩ:
Qua một lúc, Tế Túc nói:
- Việc này chớ tiết lậu
ra ngoài, để mặc ta định liệu.
Sáng hôm sau, Trịnh Lệ-vương
sai Tế Túc đến Ðông-giao, và Ung Củ bày tiệc tiễn hành, đưa đón rất trọng thể.
Tế Túc về nhà sửa soạn
hành trang, rồi sai Công tử Ất đem một trăm quân giáp sĩ phục nơi quán địch, chờ
Ung Củ đến.
Chẳng bao lâu, Ung Củ đem
ba tên quân hầu đến đó.
Tế Túc nói:
- Ta đi đây chỉ vì việc
nước ngươi bày vẽ đưa đón làm gì?
Ung Củ nói:
- Nhân tiết xuân mát mẻ,
con có chén rượu tiễn mừng, xin nhạc-phụ tường định con rể.
Tế Túc một tay bưng chén
rượu, một tay nắm lấy Ung Củ, nói:
- Ðây là ý vua hay tình
của ngươi đối với ta?
Ung Củ cúi đầu nói:
- Ðây là lòng thành kính
của con mà chồng họp the của vua nữa.
Tế Túc hét lên:
- Khốn nạn! Dám phản-phúc
với ta như thế sao?
Liền hô quân giáp sĩ bắt
Ung Củ trói lại.
Ung Củ mặt mày biến sắc,
kêu cứu ầm ĩ.
Trịnh Lệ-công sai một
đoàn ngự lâm quân đến cứu ứng, nhưng bị Công tử Ất đánh đuổi chạy dài.
Tế Túc truyền đem Ung Củ
ra chém lập tức.
Trịnh Lệ-công hay được
tin, than rằng:
- Ôi thôi! việc đã đến
thế này, Tế Túc ắt không dung ta!
Than rồi, liền thu xếp
hành trang, bỏ cả cung điện, giang sơn lén trốn qua nước Sái tị nạn, mà lòng vẫn
thắc mắc, chưa biết vì đâu âm mưu bại lộ.
Mãi về sau, Trịnh Lệ-công
hay được chuyện Ung Củ nói với vợ, buồn bã than thầm:
- Việc lớn của nước mà
đem cho đàn bà hay, tránh sao khỏi thất bại.
Sau khi giết được Ung Củ
và nghe tin Trịnh Đột bỏ trốn, Tế Túc cho người sang nước Vệ rước Trịnh
Chiêu-công tức Thế tử Hốt về nước phục nghiệp.
Tuyên-công dâm loạn lập Tân đài
Cừ Di âm mưu tôn vua khác
Nhắc lại việc trước nơi nước Vệ.
Vệ Tuyên-công vốn là kẻ ham dâm dục,
lúc chưa lên ngôi đã tư thông với vợ lẽ của cha là nàng Di-khương sanh được một
trai, tên Cấp Tử.
Sau khi lên ngôi lại phong cho Cấp
Tử làm Thế tử, giao cho Công tử Chức trông nom.
Khi Cấp Tử lên mười sáu tuổi, Vệ
Tuyên-công cho người sang hỏi con gái Tề Hi-công về làm vợ Cấp Tử. Lại được
nghe con gái của Tề-hầu nhan sắc tuyệt trần, hoa nhường nguyệt thẹn, Vệ
Tuyên-công đem lòng ham muốn.
Tuy nhiên đã trót lỡ cưới người đẹp
cho con trai mình, còn biết nói năng làm sao, bèn nghĩ ra một kế.
Vệ Tuyên-công cất một cái đài thật
đẹp nơi mé sông Tân-kỳ, đặt tên là Tân đài rồi sai Cấp Tử làm sứ giả sang nước
Tống để có cơ hội đoạt vợ của con.
Cấp Tử ra đi chưa bao lâu, Vệ
Tuyên-công sai Công tử Tiết qua Tề rước nàng Khương-thị về Tân đài.
Rồi từ đó ăn ở với Khương-thị,
coi như vợ mình. Nàng ấy tức là nàng Tuyên-khương.
Cấp Tử đi sứ về vào yết kiến Vệ Tuyên-công.
Vệ Tuyên-công khiến Cấp Tử đến
Tân đài ra mắt Khương-thị, và gọi Khương-thị bằng kế-mẫu.
Cấp Tử vốn là con hiếu thảo, dù
hành động Vệ Tuyên-công có bỉ ổi, Cấp Tử cũng không lấy thế mà oán trách cha.
Từ ngày lấy được Tuyên-khương, Vệ
Tuyên-công say mê sắcđục, đêm ngày ở mãi nơi Tân đài không ngó ngàng đến
Di-khương nữa.
Cách ba năm sau, Tuyên-khương
sanh đặng hai trai là Công tử Thọ và Sóc.
Nàng Di-khương bị thất sủng, Vệ
Tuyên-công cũng không còn thương Cấp Tử nữa. Bao nhiêu sự say sưa đối với
Di-khương đổ dồn về Tuyên-khương thì bao nhiêu tình thương đối với Cấp Tử cũng
đổ dồn về Thọ và Sóc hết.
Vệ Tuyên-công quyết định sau này truyền
ngôi cho Công tử Thọ.
Thọ và Sóc tuy anh em ruột, nhưng
tâm tính rất khác nhau. Thọ thì tánh hiền hậu, nhân từ, thương yêu Cấp Tử như
người anh ruột, còn Sóc thì độc ác, hiểm hóc, chẳng những ghét Cấp Tử mà còn
ghét cả Thọ nữa. Sóc muốn tiếm ngôi của Thọ sau này, nên định ý trước tiên hại
cho được Cấp Tử rồi sau mới lập mưu hại Thọ.
Một hôm, Sóc nói với mẹ:
- Nay tuy thân phụ rất thương yêu
mẹ con ta, song Cấp Tử là anh, chúng con là em, sau này Cấp Tử thế nào cũng được
nối ngôi. Hơn nữa, vì mẹ mà Di-khương bị vua bạc đãi nếu sau này Di-Khương được
lên làm Quốc mẫu, thì mẹ con ta không tránh khỏi tai vạ.
Nàng Tuyên-khương tâm trạng trước
kia khác, bây giờ khác.
Trước kia hy vọng làm vợ Cấp Tử,
nên muốn mua chuộc lòng Vệ Tuyên-công để sau này truyền ngôi lại cho Cấp Tử mà
vợ chồng vui hưởng phú quý. Bây giờ thì đã có hai con với Vệ Tuyên-công, hy vọng
ấy đâu còn nữa, nên bàn mưu với Sóc để hại Cấp Tử. Vì vậy thỉnh thoảng có những
lời dèm pha, xoi bói.
Ngày kia, nhằm ngày sanh nhật của
Cấp Tử, Công tử Thọ làm tiệc rượu chúc mừng, có Công tử Sóc dự.
Trong bữa tiệc Công tử Thọ chuyện
trò rất thân mật.
Sóc tỏ ý khó chịu, thoái thác lui
về, trong lòng rất căm phẫn.
Về đến cung, Sóc làm bộ khóc lóc,
nói với mẹ:
- Con vì lòng tốt mà dự tiệc với Cấp
Tử, thế mà Cấp Tử lúc say rượu lại giở trò đùa, gọi con bằng con và nói:
- Mẹ của mày tức là vợ của ta,
mày phải gọi ta bằng cha mới phải.
Con rất lấy làm xấu hổ, xin mẹ
xét nghĩ.
Tuyên-khương tin là thực, chờ Vệ
Tuyên-công vào cung, khóc lóc thuật lại mọi điều, lại nói thêm rằng:
- Cấp Tử cố tình muốn làm nhục
thiếp nên đã có lúc nói nhiều câu lỗ mãng.
Vệ Tuyên-công hỏi:
- Thằng súc sinh ấy đã nói những
lời gì phạm đến ái-khanh?
Tuyên-khương sụt sùi nói:
- Thiếp được nghe nó nói rằng: Mẹ
ta là Khương-di vợ của ông nội ta, mà phụ thân ta còn lấy làm vợ được thay, huống
hồ Tuyên-khương là vợ của ta mà ta không lấy được sao! Nay ta chỉ cho phụ thân
ta mượn đỡ mà thôi. Ngày nào đó ta sẽ lấy lại, và lấy luôn cả ngôi nước Vệ nữa.
Vệ Tuyên-công nghe nói cả giận,
kêu Công tử Thọ vào hỏi.
Công tử Thọ nói:
- Tâu phụ thân, Cấp Tử là đưa con
chí hiếu, chẳng bao giờ lại có những lời nói lỗ mãng như thế đâu.
Vệ Tuyên-công không biết phải
phân xử lẽ nào, bèn đòi Khương-di đến trách mắng đủ điều.
Khương-di đau đớn, không chịu nổi,
thắt cổ tự-vận.
Cấp Tử quá thương mẹ, nhưng không
dám nói ra, chỉ ôm bụng khóc thầm.
Giết được Khương-di, mẹ con Công
tử Sóc vẫn chưa thôi, ngày đêm ép buộc Vệ Tuyên-công phải làm cách nào giết cho
được Cấp Tử mới nghe.
Vệ Tuyên-công nói:
- Cấp Tử không có tội chi, nếu
đem giết đi thiên-hạ sẽ chê cười.
Tuyên-khương nói:
- Khương-di thác oan, thế nào Cấp
Tử cũng vì mẹ mà trả thù, nếu Chúa công không giết Cấp Tử, mẹ con tôi không làm
sao ở trong cung này được.
Vệ Tuyên-công cực chẳng đã phải
nghe theo, tìm cách giết Cấp Tử cho ổn thỏa để che mắt thiên hạ.
Gặp lúc Tề Hi-công cho người sang
mượn quân nước Vệ.
Vệ Tuyên-công mới bày mưu với Công
tử Sóc sai Cấp Tử cầm cờ tiết trắng đi sứ nước Tề, rồi cho võ sĩ phục giữa đường
mà giết.
Công tử Sóc được kế rất mừng, triệu
tập bọn côn đồ, dặn đến núp nơi Sằng-giả là chỗ đường thủy giáp liền với đường
bộ. Hễ thấy có người cầm cây cờ trắng đi ngang qua là nhảy ra giết lập tức.
Sắp đặt xong Công tử Sóc trở về
cung thuật lại với Tuyên-khương hay.
Tuyên-khương mừng rỡ vô cùng.
Công tử Thọ thấy mẹ mình mặt mày
hớn hở, sanh nghi, dò hỏi sự tình.
Tuyên-khương ngỡ là Công tử Thọ
cũng đã biết việc ấy nên không hề giầu diếm gì cả, nói rõ sự việc.
Công tử Thọ thất kinh, nhưng biết
rằng âm mưu đã định sẵn dù can gián cũng chẳng ích chi, bèn lén qua nói với Cấp
Tử.
Cấp Tử ngồi thẫn thờ không đáp.
Công tử Thọ nói:
- Ðường đi từ đây sang Tề thế nào
cũng phải qua Sằng-giả, mà đã qua đó tánh mạng anh ắt dữ nhiều lành ít. Chi bằng
trốn sang nước khác rồi sẽ lo toan.
Cấp Tử đáp:
- Ðạo làm con, nếu không nghe lời
cha mẹ đâu còn là hiếu thảo. Vả lại, nếu Phụ-vương đã có ý muốn ta chết thì dẫu
có sống cũng chẳng ích chi.
Nói xong, sửa soạn hành trang, từ
biệt Công tử Thọ, xuống thuyền đi theo đường thủy.
Công tử Thọ khuyên can đến bực
nào Cấp Tử cũng không nghe.
Công tử Thọ đứng nhìn theo, đôi
dòng lệ không vơi, nghĩ thầm:
- Anh ta quả là một người hiếu hữu,
nếu để anh ta chết sau này mặt mũi nào mà ta nối ngôi. Vả lại trong hoàn cảnh
này chỉ có cái chết của ta, may ra mới đánh thức được lòng thương xót của cha mẹ
ta, đem lại một gia đình thảo thuận được.
Nghĩ rồi liền dọn một chiếc thuyền,
đem đủ vật thực gọi vài tên tùy tùng bảo chèo theo cho kịp thuyền của Cấp Tử để
cùng dự tiệc rượu tiễn biệt. Chẳng bao lâu hai thuyền gặp nhau, Công tử Thọ gọi
Cấp Tử sang thuyền mình.
Cấp Tử nói:
- Anh đi đường xa, em muôn dâng
cho anh một chén rượu tiễn hành, để tỏ tình mong nhớ.
Nói rồi rót một chén rượu đầy
dâng cho Cấp Tử.
Nhưng vừa lòng chén chưa kịp nói
thì nước mắt đã tuôn tràn, chảy vào ly rượu.
Cấp Tử vội vã bưng chén rượu uống
một hơi cạn chén.
Công tử Thọ sụt sùi nói:
- Em khóc làm cho nước mắt nhỏ
vào rượu thực là vô lễ.
Cấp Tử nói:
- Anh chỉ muốn uống những giọt nước
mắt ấy để được giữ mãi vào lòng tấm thâm tình của em.
Thọ rót thêm một chén nữa trao
cho Cấp Tử.
Hai anh em vừa uống, vừa khóc.
Nước mắt càng hòa với rượu bao
nhiêu thì rượu càng nồng bấy nhiêu.
Công tử Thọ cốt phục rượu cho Cấp
Tử thực say, nên một lúc sau Cấp Tử say mèm nằm vật xuống khoan thuyền ngủ thiếp.
Công tử Thọ ôm anh khóc một lúc
lâu, rồi bảo bọn thủ hạ:
- Lệnh vua phải đi gấp mà anh ta
say nên trễ nải vậy, ta phải đi thế mới được.
Nói rồi cầm cây cờ trắng cắm lên
mũi thuyền mình, và viết một bức thư, dặn tên quân hầu lúc nào Cấp Tử tỉnh dậy
sẽ đưa.
Ðoạn Công tử Thọ cứ thẳng đường
cho thuyền đến Sằng-giả.
Vừa đến nơi, bọn côn đồ thấy có
ngọn cờ trắng, kéo nhau chạy ào ra bắt.
Công tử Thọ đứng dậy chỉ vào mặt
bọn chúng mắng lớn:
- Ta là Cấp Tử, Thế tử nước Vệ,
phụng mệnh sang nước Tề đi sứ, sao chúng bây dám cản trở.
Bọn côn đồ nói:
- Ngươi đã là Cấp Tử thì đừng có
xưng hô làm gì cho uổng tiếng. Chúng ta tuân lệnh Vệ-hầu ra đây lấy đầu ngươi.
Nói xong, bọn côn đồ áp lại, chém
đầu Công tử Thọ, bỏ vào một cái hộp rồi đoạt lấy cờ tiết mang về.
Bọn gia đinh theo hầu Công tử Thọ
sợ hãi, chạy tán loạn.
Còn Cấp Tử khi tỉnh rượu, mở mắt
ra không thấy Thọ đâu, lại nhận được bức thư, trong lòng hoảng hốt.
Mở thư ra xem, trong thư chỉ thấy
một hàng chữ như sau:
- Em đi thay anh, anh tìm nơi
lánh nạn.
Cấp Tử khóc oà, vội vã bảo bọn
tùy tùng:
- Hãy chèo thuyền đi cho mau, kẻo
chúng lầm mà giết mất em ta.
Bọn tùy-tùng tuy không hiểu gì cả,
nhưng cũng cố sức chèo đi rất mau.
Thuyền lướt sóng, dưới ánh trăng
vằng vặc, lăn tăn trên mặt sông đài, cảnh vật êm đềm nhưng lòng người rộn rã.
Cấp Tử chỉ nghĩ đến sinh mạng em
mình, nên hối thúc liên hồi làm cho mấy tên quân chèo thuyền mệt không kịp thở.
Một lát sau, thấy đàng xa có bóng
thuyền nhấp nhô, Cấp Tử mừng rỡ, hét to:
- Em ta còn sống! Thật lòng trời
không phụ!
Một tên quân hầu đưa mắt nhìn một
lúc rồi nói:
- Thưa Thế tử, thuyền đó đang đi
tới phía chúng ta!
Cấp Tử ngơ ngác, chưa biết thế
nào, thì chiếc thuyền nọ đã từ đàng xa phăng phăng rẽ nước đi đến.
Trên thuyền không thấy Công tử Thọ,
chỉ thấy một bọn côn đồ, gươm giáo sáng lòa.
Cấp Tử lòng nghi ngại, hỏi:
- Các ngươi phụng mệnh Chúa công
đã làm xong nhiệm vụ chưa?
Bọn côn đồ nghe hỏi, tưởng người
của Công tử Sóc sai đến tiếp-ứng nên bưng chiếc hộp có đựng đầu của Công tử Thọ
đưa ra và nói:
- Chúng tôi đã thành công.
Cấp Tử vừa cầm đến chiếc hộp vùng
ngã ra, khóc to, nói:
- Ôi thôi! còn gì em ta nữa!
Bọn côn đồ ngơ ngác đưa mắt nhìn
nhau.
Cấp Tử nói tiếp:
- Ta đây mới là Cấp Tử, vì ta có
tội nên cha ta sai giết, chớ Công tử Thọ là em ta, nào có tội chi.
Bọn côn đồ biết mình đã giết lầm,
thất kinh, nói nhỏ với nhau:
- Thế này thì phải giết cả nó nữa,
mới chuộc nổi tội chúng ta đã lầm lẫn.
Nói xong, bọn côn đồ áp lại chặt
đầu Cấp Tử, bỏ chung vào một hộp, rồi chèo thuyền đi, để mặc cho bọn quân hầu của
Cấp Tử ngồi run rẩy trong thuyền, mặt mày tái ngắt.
Về đến thành Vệ, bọn côn đồ đem
chiếc hộp và cờ trắng vác dâng cho Công tử Sóc, kể lại sự giết lầm, và rất lo sợ
Công tử Sóc trách phạt.
Chẳng dè Công tử Sóc đã không giận
mà lại còn vui mừng, đem vàng lụa thưởng cho bọn chúng rất trọng hậu, rồi vào
cung nói với mẹ.
Tuyên-khương buồn vui lẫn lộn. Buồn
vì mất con, vui vì đã giết được Cấp Tử, trừ được hậuhọa cho mình. Vì biết Vệ
Tuyên-công thương yêu Công tử Thọ, nên Tuyên-khương bảo Sóc hãy khoan cho Vệ
Tuyên-công biết.
Sau người nước Vệ có làm thơ vịnh
hai anh em Cấp Tử và Thọ rằng:
Hồn oan ôm hận khóc xuân xanh
Lòng cha ví có không thương xót
Thà chết cho tròn nghĩa đệ huynh
Nguyên trước kia Vệ Tuyên-công có
ủy thác Cấp Tử cho Công tử Tiết để lên ngôi còn Công tử Thọ cũng được uỷ thác
cho Công tử Chức, nay hai người nghe được tin dữ, liền họp nhau vào tâu với Vệ Tuyên-công.
Vệ Tuyên-công tuy ghét Cấp Tử song
rất yêu Thọ, nên sau khi nghe Thọ chết, lòng bàng hoàng đau đớn, nằm vật xong
long sàng than rằng:
- Ôi! Chính con Tề-nữ đã hại nhà
ta rồi.
Liền cho đòi Công tử Sóc vào khiển
trách.
Công tử Sóc chối dài.
Từ đó, Vệ Tuyên-công buồn rầu sinh
bệnh.
Mỗi khi nằm mê lại thấy Di-khương,
Cấp Tử và Thọ hiện đến trước mặt khóc than.
Cách nửa tháng sau Vệ Tuyên-công tạ
thế.
Công tử Sóc lên nối ngôi, tức là
Vệ Huệ-công.
Vệ Huệ-công lên ngôi chưa được ba
ngày đã cách chức Công tử Tiết và Chức.
Hai người này oán hận vô cùng chờ
dịp trả thù cho Công tử Thọ và Cấp Tử.
Còn Công tử Ngoạn là anh của Vệ
Huệ-công không chịu phục bỏ trốn sang Tề trú ẩn.
Từ hôm Vệ Huệ-công bị quân Trịnh
đánh tan tành, lòng oán hận Trịnh Lệ-công không xiết, xảy nghe có sứ Trịnh đến,
mới hay Trịnh Lệ-công đã bỏ ngôi mà trốn, và sứ nước Trịnh đến xin rước Trịnh
Chiêu-công tức là Thế tử Hốt, về nước.
Vệ Huệ-công cho vào.
Sứ nước Trịnh là Tế Túc trông thấy
Trịnh Chiêu-công vội vã sụp lạy xin tội về việc phế lập trước kia.
Trịnh Chiêu-công tuy không bắt tội
Tế Túc, song đã mất lòng tin, tỏ ra lãnh đạm.
Vì vậy sau khi Trịnh Chiêu-công phục-nghiệp,
Tế Túc thường cáo bệnh ít vào triều.
Cao Cừ Di cũng bị Trịnh
Chiêu-công oán ghét nên có ý muốn giết Trịnh Chiêu-công mà lập Công tử Vĩ.
Trịnh Lệ-công tức Công tử Ðột, từ
ngày bỏ ngôi, trốn sang nước Sái, liền mượn người nói với Đàn-Bá xin được dung
thân nơi đất Lịch.
Đàn-Bá không chịu cho, nên Trịnh
Lệ-công mưu với người nước Sái giết Đàn-Bá đi, chiếm lấy đất Lịch, rồi lo chiêu
mộ binh sĩ định về đương đầu với Trịnh Chiêu-công mà cướp ngôi Trịnh.
Tế Túc hay được tin ấy, lòng lo sợ,
vào triều tâu với Trịnh Chiêu-công hay.
Trịnh Chiêu-công liền khiến quan
Ðại phu Phó Hà đem quân đến đất Ðại-lăng để phòng ngừa việc binh biến.
Trịnh Lệ-công dò biết, liệu thế
khó bề khởi sự, bèn cho người sang nhờ Lỗ Hoàn-công thương thuyết với Tống Trang-công
nếu lần này giúp cho mình được về nước phục nghiệp sẽ nạp đủ đất ba thành cùng
lễ vật đã hứa trước kia.
Lỗ Hoàn-công liền sai sứ sang Tống.
Tống Trang-công tuy việc cũ đã mờ
phai, song nghe nhắc đến động lòng tham, liền kết liên với Sái và Vệ để giúp Trịnh
Lệ-công.
Vệ Huệ-công từ khi cho Tế Túc rước
Trịnh Chiêu-công về nước mãi đến nay chưa thấy tạ ơn mình lòng hậm hực bèn nhận
lời hợp binh với Tống Trang-công, sang đánh Trịnh.
Hai Công tử Tiết và Chức thấy vậy
bàn với nhau:
- Nếu Vệ-Sóc định kéo binh sang Tống
để đánh Trịnh, thì lúc này chính là lúc chúng ta có thể báo thù cho Công tử Cấp
Tử và Thọ đó.
Công tử Chức hỏi:
- Nếu phế được Vệ-Sóc thì nên đưa
ai lên kế vị?
Hai người đang bàn luận thì bỗng
có quan Ðại phu Ninh Quy vào thăm.
Hai Công tử mời vào.
Ninh Quy nói:
- Nhị vị đã quên việc Công tử Thọ
và Cấp Tử trước kia sao?
Công tử Chức đáp:
- Chúng tôi nào có quên đặng.
Song chưa biết phải lập ai kế vị.
Quan Ðại-phu Ninh Quy nói:
- Tôi xem trong hàng Công tử chỉ
có Kiềm Mâu là người hiền. Hơn nữa Kiềm Mâu là Phò-mã của nhà Châu, nếu lên
ngôi ắt lòng người chịu phục.
Ba người bàn xong lập lời ước thệ,
rồi làm một tờ thông báo, chờ cho Vệ Huệ-công kéo binh ra đi phao tin trong dân
chúng rằng:
- Vệ Huệ-công sang đánh Trịnh bị
từ trần, nên phải lập Công tử Kiềm Mâu lên thay.
Kế hoạch quả thành tựu.
Công tử Kiềm Mâu tức vị, hạch tội
Vệ-Sóc việc giết anh và làm cho Vệ Tuyên-công vì buồn rầu mà chết.
Ðoạn thọ tang hai vị Công tử Thọ
và Cấp Tử rồi cho sứ sang triều Châu báo tin việc phế lập ấy.
Ninh Quy lại dẫn quân ra đóng nơi
biên giới nước Vệ để chặn đường Vệ-Sóc.
Công tử Tiết muốn đem
Tuyên-khương ra hài tội, nhưng Công tử Chức can rằng:
- Tuyên-khương là em của vua Tề,
nếu hành tội e mất việc giao hảo, chi bằng giữ niềm hòa hiếu với Tề là hơn.
Bèn bàn với Kiềm Mâu cho
Tuyên-khương ra ở một biệt cung, cấp lương bổng hàng tháng.
Lỗ, Tống, Sái và Vệ bốn nước cũng
đem binh đánh Trịnh, bị Tế Túc cử binh chận nơi Ðại-lăng hiệp với Phó Hà mà chống
giữ.
Bốn nước đánh không lại, phải rút
binh về.
Vệ Sóc kéo binh về nữa đường,
nghe tin hai Công tử Tiết và Chức đã lập Kiềm Mâu lên ngôi liền bỏ sang nước Tề
cầu viện.
Tề Tương-công hay được việc ấy
nói:
- Vệ-Sóc là cháu gọi ta bằng cậu
lẽ nào ta lại không đem quân đi giúp.
Vệ Sóc khóc lóc nói:
- Nếu cháu được phục nghiệp tất cả
vàng bạc châu báu trong nước Vệ, cháu xin dâng biếu cho Quốc-trượng.
Tề Tương-công rất mừng. Còn đang
bàn bạc, bỗng có sứ nước Lỗ đến.
Nguyên vì trước đây Tề Tương-công
có sang cầu hôn nhà Châu, nên nhà Châu sai Lỗ Hoàn-công đứng làm chủ hôn coi việc
gã nàng Vương-cơ cho vua Tề. Vì vậy, hôm nay Lỗ hoàn Công mới đến.
Nghe nhắc đến Lỗ Hoàn-công, Tề
Tương-công sực nhớ đến mấy lời hẹn ước riêng với em mình là Văn-khương, đã lâu
chưa đặng gặp, lúc này cũng nên nhờ cơ hội Lỗ Hoàn-công đến, mà rước luôn nàng
Văn-khương về Tề một phen. Vì vậy lúc các quan Ðại- phu hỏi thăm bao giờ thì cử
binh đánh Vệ?
Tề Tương-công nói:
- Kiềm Mâu là rể của Thiên tử,
còn ta thì đang cầu hôn với vua nhà Châu, việc ấy phải thư thả đã.
Tuy nhiên, Tề Tương-công lại sợ
nước Vệ giết mất nàng Tuyên-khương nên cho Công-tôn Vô Tri đem Công tử Thạc về
nước Vệ.
Lại dặn riêng Vô Tri bày cách cho
Công tử Thạc tư thông với Tuyên-khương, để ngày sau liệu kế đem Vệ-Sóc về nước.
Công-tôn Vô Tri lãnh mạng dẫn Công
tử Thạc về Vệ, ra mắt Tân quân Kiềm Mâu.
Lúc ấy vợ Công tử Thạc đã qua đời.
Công-tôn Vô Tri bàn mưu với Công
tử Chức:
- Nếu ngài giúp cho việc này, ắt
Tề-hầu mến phục mà hai nước giao hòa.
Công tử Chức vẫn có ý muốn giao hảo
với Tề, lại ghét Tuyên-khương, muốn cho Tuyên-khương mang tiếng với thiên hạ,
nên chịu làm việc đó.
Về phần Công tử Thạc nghĩ tình
cha con, nên chẳng chịu.
Công tử Chức bèn ép Công tử Thạc
uống rượu say rồi bắt bỏ vào phòng Tuyên-khương.
Gặp Tuyên-khương là người háo
dâm, nên ép uổng Công tử Thạc, cuối cùng phải mang tội bất hiếu cùng cha.
Công tử Thạc và Tuyên-khương kết
làm vợ chồng, sau sanh đặng năm người con.
Nhắc qua việc nước Trịnh, Tế Túc đem
quân ra đất Ðại-lăng đương cự với Công tử Ðột, sau khi các chư hầu rút quân về
hết mà Công tử Ðột vẫn đóng quân nơi đất Lịch, phá rối mãi.
Tế Túc tìm hết kế để ngăn ngừa.
Ngày kia, Tế Túc nhớ lại rằng trước
kia nước Tề có thù với Công tử Ðột, trong lúc đánh nước Kỷ, lại nghe nước Lỗ hiện
đang đứng ra làm chủ-hôn cho nước Tề, bèn vào triều tâu với Trịnh Chiêu-công xin
đem lễ vật qua Lỗ và Tề thông-biếu, để nhờ hai nước ấy giúp mình cự với Tống.
Trịnh Chiêu-công y tấu.
Tế Túc lãnh mạng ra đi.
Trong lúc Tế Túc bận lo về việc
trừ khử Công tử Ðột thì Cao-Cừ Di trái lại âm-mưu muốn hại Trịnh chiêu-công,
nhưng vì sợ Tế Túc là kẻ đa mưu nên chẳng dám thi hành.
Nay nhân dịp Tế Túc đi xa liền
sai người đi rước Công tử Vĩ về nhà, rồi nhơn lúc Trịnh Chiêu-công đi tế lễ phục
binh giết chết.
Công tử Vĩ lên ngôi sai người sang nước Tề đòi Tế Túc về để cùng với Cao Cừ Di lo việc quốc-chánh.
---------------------------------
Lỗ-hầu cùng vợ sang Tề
Trịnh-Vĩ, chúa tôi bị giết
Tề Tương-công thấy sứ Trịnh là Tế
Túc đem lễ vật đến rất nhiều, nên tiếp đón niềm-nở. Kế nghe việc Cao Cừ Di giết
Trịnh Chiêu-công lập Công tử Vỉ, cả giận muốn hưng binh vấn tội. Nhưng lại có
tin vợ chồng Lỗ Hoàn-công đã sắp đến nước Tề.
Tề Tương-công liền gác chuyện
đánh Trịnh, thân hành qua sông Lạc-thuỷ đón tiếp.
Nguyên nàng Văn-khương nghe sứ Tề
sang mời Lỗ Hoàn-công, sực nhớ đến anh, nên xin với Lỗ Hoàn-công cho đi theo về
thăm quê quán, Lỗ Hoàn-công vốn chiều vợ nên nhận lời.
Khi đến sông Lạc-thuỷ, vợ chồng Lỗ
Hoàn-công đã thấy Tề Tương-công đón sẵn.
Hai bên tay bắt mặt mừng cùng
nhau trở về Kinh đô Lâm-tri.
Lỗ-hầu đặt bày chiếu mạng vua
Châu, nghị việc hôn nhân.
Tề-hầu cảm động bày tiệc đãi đằng
rất trọng hậu.
Tiệc mãn Tề Tương-công xin phép Lỗ
Hoàn-công đưa nàng Văn-khương vào cung để thăm viếng các cung phi.
Lỗ Hoàn-công thuận ý Tề
Tương-công dẫn Văn-khương vào trong một phòng kín đã sắp đặt sẵn, hai anh em uống
rượu vui vầy rồi bày cuộc gió mưa.
Người sau có bài thơ cười Tề
Tương-công như vầy:
Hôn quân dâm loạn nghĩ mà ghê
Gái xinh thiên hạ, đời không thiếu
Mà lấy em mình chịu tiếng chê!
Sáng hôm sau mặt trời đã cao, mà
hai người vẫn còn ôm nhau nằm ngủ mãi.
Lỗ Hoàn-công ở ngoài đợi lâu quá,
sanh buồn, lại có ý nghi hoặc vợ mình, chẳng biết bên trong cánh cửa cung thăm
thẳm ấy có việc gì rối lòng chăng?
Mà dù có nghi hoặc cũng không làm
sao hiểu thấu, khi mà tường cao vòi vọi, bức rèm châu đã khép cánh song thưa.
Tuy nhiên, lòng thấy nao nao không thể nào chịu được.
Lỗ Hoàn-công bèn cho người dò xét
mới hay Tề Tương-công chưa có Chánh phi, chỉ có Thứ-phi là Liên-thị em họ của
quan Đại-phu Liên Xứng, mà Tề Tương-công đã ghét bỏ từ lâu rồi.
Lại nghe nói đêm vừa rồi, chỉ có
anh em Tề Tương-công tư tình chứ không có phi tần nào cả.
Lỗ Hoàn-công uất hận vô cùng, bỏ
ra ngoài thơ thẩn nơi hiên Tây, bỗng gặp Văn-khương từ đàng xa lểnh mểnh đi đến.
Lỗ Hoàn-công đưa mắt nhìn từ đầu
đến chân, rồi nói:
- Đêm hôm ái-khanh uống rượu với
ai?
Văn-khương nũng-nịu đáp:
- Thần thiếp vui vầy với Liên-thị.
Lỗ Hoàn-công hỏi:
- Vui đến bao lâu mới hết?
Văn-khương đáp:
- Đã lâu quá chưa gặp nhau, nên
vui mãi cho đến lúc trăng lên đỉnh đầu mới thôi.
- Anh của phu nhân có đến đó dự
tiệc chăng?
- Không, anh tôi đâu có lại đó dự
tiệc?
- Chẳng lẽ anh em lâu ngày xa
cách lại không cùng nhau uống một chén rượu cho vui sao?
Văn-khương có vẻ lưỡng lự, đáp:
- Lúc mãn tiệc, anh tôi có đến uống
một chung rượu rồi đi ngay.
Xét thấy lời nói và thái độ
Văn-khương có điều uẩn-khúc.
Lỗ Hoàn-công lại càng nghi ngờ
nói:
- Tiệc mãn sao ái-khanh không ra
ngay còn ở trong đó làm gì?
- Vì đêm khuya quá, thần thiếp thấy
ra ngoài bất tiện.
- Thế thì ái-khanh đã ngủ lại nơi
đâu?
- Trong cung thiếu gì nơi nghỉ
ngơi, sao quân hầu lại hỏi lẩn thẩn như thế?
- Tại sao ái-khanh lại dậy trưa?
- Vì uống rượu quá say nên mệt mỏi,
không thể dậy sớm nổi.
- Ái khanh ngủ chung với ai?
- Thần thiếp ngủ chung với mấy
người cung nhân nơi Tây cung.
- Còn anh của ái-khanh ngủ ở đâu?
Văn-khương sợ sệt, làm ra mặt giận
đáp:
- Anh ngủ ở đâu làm sao em gái biết
mà nói rõ được!
Lỗ Hoàn-công cũng giận dữ nói:
- Thế mà ta biết anh của ái-khanh
đã ngủ đâu và ngủ với ai rồi? Ái khanh đừng có giấu diếm làm gì.
Văn-khương hổ thẹn, khóc oà.
Lỗ Hoàn-công lòng đầy hậm hực
nhưng biết mình đang ở trên đất Tề khó lòng nói năng được, nên vào từ giã Tề
Tương-công về nước.
Tề Tương-công nghỉ lại việc xấu của
mình lấy làm hối hận, sợ Lỗ Hoàn-công hay được, nên sai người tâm phúc là Thạch-chi
Phân Như theo dõi.
Phân Như trở về kể lại những lời
cãi vã vừa rồi của vợ chồng Lỗ Hoàn-công cho Tề Tương-công nghe.
Tề Tương-công bối-rối, nói:
- Ta không ngờ Lỗ-hầu lại có thể
biết được việc ấy. Như thiên hạ hay được thì việc cầu hôn của ta với vua nhà
Châu ắt bại sự.
Bèn khiến Phân Như đòi Công tử
Bành Sinh đến dạy việc.
Công tử Bành Sinh vào chầu, Tề
Tương-công nói:
- Nay ta muốn lập kế giết Lỗ-hầu,
chẳng hay khanh có bằng lòng giúp sức chăng?
Bành Sinh ngạc nhiên hỏi:
- Lỗ-hầu đến đây để làm chủ hôn
cho Chúa công, sao Chúa công lại có ý ấy?
- Tề Tương-công cực chẳng đã phải
đem câu chuyện mình thố lộ cho Bành Sinh biết.
Tuy không bằng lòng hành động của
Tề Tương-công, song Bành Sinh có cựu thù với Lỗ trong lúc đánh nước Kỷ, bị Lỗ bắn
trúng tim gần chết, nên nhận lời.
Tề Tương-công cả mừng, đặt tiệc
nơi quán địch sai người mời Lỗ Hoàn-công đến dự trước khi về nước.
Tề Tương-công tiếp đãi rất ân cần,
nhưng Lỗ Hoàn-công mặt dầu dầu, ngồi gục đầu xuống đất, không nói năng gì cả.
Tề Tương-công truyền cho bọn cung
nga mỹ nữ rất đẹp, ca múa và dâng rượu.
Lỗ Hoàn-công nhân lúc đau đớn
trong lòng cũng muốn dùng rượu để khuây khoả, nên lần uống hết.
Đến lúc quá say, Lỗ Hoàn-công không
còn biết gì nữa, nằm gục trên ngự-ỷ.
Tề Tương-công liền sai Công tử
Bành Sinh phò Lỗ Hoàn-công lên xe, về sứ quán.
Bành Sinh ngồi bên cạnh, khi ra
khỏi quốc môn vài dặm thấy Lỗ-hầu ngủ say.
Bành Sinh cho hai ngón tay vào cạnh
sườn, bóp rất mạnh.
Lỗ Hoàn-công bị gãy xương sườn,
la lên một tiếng rồi hộc máu chết tươi.
Bành Sinh mới hô hoán rằng Lỗ-hầu
bị say rượu nên cảm gió mà chết.
Tề Hi-công hay tin, giả cách khóc
lóc thảm thương, cho người tẩm liệm theo vương lễ, rồi tin về nước Lỗ.
Quân sĩ đi theo Lỗ Hoàn-công trở
về thuật lại chuyện vua nước Lỗ bị chết trên xe.
Quan Đại-phu Thân Nhu nói:
- Trong nước không nên để một
ngày không có vua.
Công tử Khánh Phủ nói:
- Tề-hầu vô đạo, loạn luân làm hại
tính mệnh phụ thân tôi, vậy để tôi cử đại binh sang vấn tội mà báo thù.
Thi Bá can rằng:
- Việc này còn ám muội, vả lại nước
ta yếu, nước Tề mạnh, vị tất đã trả được thù mà còn bươi tiếng xấu. Chi bằng viết
thư sang Tề buộc Tề-hầu giết Bành Sinh đi. Nếu tướng Bành Sinh chết sau này ta
tính chuyện báo thù rất dễ.
Thân Nhu nói lại với Công tử
Khánh Phủ rồi sai Thi Bá viết thư đưa qua Tề.
Lúc đó Thế tử Đồng đang cư-tang
không ký tên, nên Thân Nhu đứng thay.
Thư ấy như sau:
“Ngoại thần Thân Nhu kính gởi
Tề-hầu ngự lãm. Chúa tôi vâng mệnh Thiên tử qua quí quốc để bàn định việc hôn
nhân không biết lâm bịnh thế nào mà chết trên xe. Đường xa cách trở, lại nghe
thiên hạ đồn nhiều tiếng xấu, nước tôi thật lấy làm hổ thẹn. Nếu muốn giữ tiếng
tăm, xin hiền hầu hãy bắt Bành Sinh mà trị tội, nước tôi lấy làm may mắn”.
Tề Tương-công được thư, cho người
gọi Bành Sinh đến.
Bành Sinh cậy mình có công, ngang
nhiên bước vào.
Sứ nước Lỗ cũng có nặt nơi đấy.
Tề Tương-công làm mặt giận quở
trách:
-Ta thấy Lỗ-hầu quá say nên sai
ngươi phò tá, ngươi lại không giữ gìn để Lỗ-hầu phải chết như vậy tội thật đáng
chém.
Nói xong hô vô sĩ trói lại, dẫn
ra chợ mà gia-hình.
Bành Sinh uất hận hét lớn:
- Hôn quân! Đã dâm loạn với em
gái mình, lập mưu giết Lỗ-hầu, lại còn đổ lỗi cho ta sao? Dầu có chết, ta quyết
làm quỷ mà banh thây ngươi ra muôn mảnh!
Tề Tương-công ngồi chết điếng.
Cả quân sĩ và triều thần ai nấy đều
bụm miệng, nín cười.
Cách đó không lâu, Tề Tương-công
vào triều Châu xin cưới nàng Vương-cơ và làm ma chay, đưa linh cữu Lỗ Hoàn-công
về nước.
Còn nàng Văn-khương vì hổ thẹn, ở
luôn bên nước Tề không về nước Lỗ.
Lễ an táng vua Lỗ xong, Thế tử Đồng
lên nối ngôi, tức là Lỗ Trang-công.
Ngày Lỗ Trang-công tức-vị, các
quan đều chầu chực đủ mặt.
Lỗ Trang-công hỏi:
- Phụ thân ta trước kia vâng mệnh
Thiên tử đứng chủ hôn cho Tề Tương-công, nay công việc chưa thành mà tạ thế. Vậy
chư khanh có ý chi chăng?
Thi Bá nói:
- Nước ta hiện có ba điều nhục.
Điều thứ nhất là Tiên công ta dẫu đã an táng nhưng tiếng xấu vẫn còn. Điều thứ
hai là Quốc mẫu hiện nay lưu lại bên nước Tề, thiên hạ dị nghị. Điều thứ ba là
nước ta có tang, không làm được trọng trách của Thiên tử đã uỷ thác.
Lỗ Trang-công nghe nói buồn bã hỏi:
- Ba điều nhục ấy có cách nào rửa
được chăng?
Thi Bá nói:
- Điều thứ nhất, muốn cho Tiên
công dưới suối vàng được hài lòng thì phải làm cho danh tiết của Tiên công được
vẻ-vang. Trước kia Tiên công lên ngôi chưa đặng vương mạng, bây giờ cũng nên
nhân dịp chủ hôn mà xin vương mạng cho Tiên công. Điều thứ hai, nên rước quốc mẫu
về mà phụng dưỡng. Điều thứ ba, là việc chủ hôn thực khó lưỡng toàn. Nay phải cất
một nhà quán địch nơi ngoài đồng rồi rước Công-chúa Vương-cơ đến nhà ấy mà đưa
sang Tề.
Chúa công cáo tang không đến. Làm
như vậy, trên không nghịch chỉ vua, dưới không mích lòng các chư hầu, mà cũng hợp
với vương lễ nữa.
Lỗ Trang-công khen lời của Thi Bá
rất phải, liền sai quan Đại-phu Chuyên Tôn-sính sang triều Châu đón Công-chúa
Vương-cơ, và luôn tiện xin vua Châu phong cho Lỗ Hoàn-công.
Vua nhà Châu chuẩn tấu, bèn sai sứ
qua nước Lỗ để ban áo mão cho Lỗ Hoàn-công.
Châu-công Hắc Kiên lãnh mạng xin
đi.
Châu Trang-vương không đồng ý,
sai quan Đại-phu Vinh-Thúc qua Lỗ.
Sở dĩ Châu Trang-vương không muốn
Châu-công Hắc Kiên ra ngoài nước là vì Châu Trang-vương có một người em tên
Vương tử Khắc, trước kia Châu Hườn-vương còn sống có lời phó thác cho Châu-công
Hắc Kiên, nay sợ Châu-công Hắc Kiên liên kết với các ngoại bang tạo nên vây
cánh.
Hắc-kiên thấy Châu Trang-vương không
muốn cho mình đi sứ, hiểu ngay nội ý, đêm ấy qua dinh Vương tử Khắc kể tỏ sự
tình.
Vương tử Khắc nói:
- Đã bị nghi ngờ thì làm cách nào
thoát khỏi tai nạn?
Châu-công Hắc Kiên nói:
- Nếu đã bị vua nghi ngờ thì tai
nạn không tránh khỏi, chỉ có cách sớm liệu là hơn.
Đoạn Hắc-kiên bàn mưu, nhân đám
cưới của Vương-Cơ mà nổi loạn, cướp ngôi Châu Trang-vương.
Quan Đại-phu Tần Bá biết được liền
đem thuật lại với Châu Trang-vương.
Châu Trang-vương nổi giận bắt Châu-công
Hắc Kiên đem chém, và dẫn quân bao vây tư dinh bắt Vương tử Khắc.
Nhưng Vương tử Khắc hay tin trốn
qua nước Yên tị nạn.
Quan Đại-phu Chuyên tôn-Sính được
phụng mạng đưa Công-chúa Vương-cơ sang Tề, rồi lại được Lỗ Trang-công ủy nhiệm
rước nàng Văn-khương về Lỗ.
Tề Tương-công bịn rịn không nỡ để
nàng Văn-khương trở về nhưng vì sợ dư luận thành thử cuối cùng phải gạt lệ chia
ly.
Văn-khương buồn tủi lên đường,
lòng đầy hổ thẹn.
Khi qua đến đất Chướng, nơi biên
giới Tề-Lỗ, thấy phong cảnh tốt tươi, muôn hoa tươi đẹp, Văn-khương nghĩ thầm:
- Đã trót lầm lỗi, nay về Lỗ làm
gì. Đất này không thuộc Lỗ, cũng không phải Tề thế thì ta ở đây mà dung thân
cho an phận.
Nghĩ rồi cho bọn tùy tùng về tâu
lại với vua Lỗ rằng:
- Gái góa bụa này muốn tìm chỗ
thanh tịnh ở cho an nhàn, lúc nào sắp chết mới về cung.
Bọn tùy tùng trở về tâu lại.
Lỗ Trang-công biết mẹ mình hổ thẹn
mà không về nước nên khiến cất một nhà quán nơi Chúc-khâu để Văn-khương yên
trú.
Từ đó, Văn-khương vui với phong cảnh
mà khuây khỏa mảnh hồng nhan.
Nhắc qua Tề Tương-công từ khi âm mưu
giết Lỗ Hoàn-công, người trong nước đều cho là vô đạo, tiếng xấu đồn khắp xa gần.
Nay tuy cưới được Công-chúa Vương-cơ đem về nhưng miệng đời vẫn chưa thôi mai mỉa.
Muốn trấn áp lòng dân, Tề Tương-công dự tính phải ra oai làm một vài việc đại
nghĩa, để nâng phẩm giá của mình.
Tề Tương-công nghĩ ngay đến nước
Vệ và Trịnh, hai nước ấy có việc soán nghịch. Nhưng vua nước Vệ lại là phò mã của
vua, chỉ có nước Trịnh là có thể đánh được, song chưa chắc đã thắng.
Tề Tương-công nghĩ ngay một kế,
sai sứ sang mời Trịnh-vĩ đến phó hội nơi đất Thủ-chỉ.
Công tử Vĩ được lời mời có ý mừng
thầm, nói:
- Tề-hầu chịu giao-hảo với ta thì
cơ-nghiệp ta sẽ vững bền.
Bèn đòi Cao Cừ Di và Tế Túc, khiến
theo bảo giá.
Tế Túc cáo bịnh, từ chối.
Cao Cừ Di phò Công tử Vĩ lên xe,
chúa tôi cùng khởi hành rất vui vẻ.
Tế Túc ung dung trở về dinh, gặp Nguyên
Phồn đón lại hỏi:
- Chúa công sang phó hội với Tề,
vì cớ gì ngài lại cáo bịnh mà không theo phò.
Tế Túc mỉm cười đáp:
- Vua Tề là một kẻ loạn dâm, tàn
bạo. Trước kia Tiên công ta vì có công lớn nên Tề mới khâm phục mà giao hảo.
Nay bỗng dưng mời Chúa công đi phó hội, tôi e không khéo cả vua tôi đều bị giết.
Nguyên Phồn nghe nói trố mắt nhìn
Tế Túc hỏi:
- Ngài đoán thực như thế sao?
Tế Túc đáp:
- Việc đó xảy đến không bao lâu,
ngài cứ chờ đợi kết quả sẽ rõ.
Nguyên Phồn hỏi:
- Nếu quả đúng như lời ngài thì
nước Trịnh sẽ về tay ai?
Tế Túc nói:
- Tất nhiên sẽ về Công tử Nghi. Công
tử Nghi là người quý tướng, trước kia Tiên công thường vẫn nói thế.
Nguyên Phồn nói:
- Người ta cho rằng ngài là một kẻ
tiên tri, nếu việc này quả đúng như lời thì tôi mới tin.
Dự đoán của Tế Túc quả không sai.
Trước ngày phó hội, Tề Tương-công
đã đem một trăm quân giáp sĩ phục nơi nhà Công-quán, và hôm ấy truyền cho Thạch-chi
Phân Như đứng hầu một bên.
Công tử Vĩ và Cao Cừ Di đến nơi
bước vào yết kiến.
Vua Tề cầm tay Công tử Vĩ nói:
- Hân hạnh được gặp ngài! Đã từ
lâu tôi muốn biết một điểu mà không sao biết được.
Công tử Vĩ nói:
- Nay hiền hầu có lòng tốt hạ cố
đến tôi, nếu có điều gì xin hiền hầu cứ vui lòng chỉ giáo.
Tề Tương-công nói:
- Tại sao ngày trước Trịnh
Chiêu-công bị chết Công tử Vĩ nghe hỏi việc ấy, mồ hôi toát ướt áo, lúng túng
không biết trả lời làm sao.
Cao Cừ Di rước lời nói:
- Tiên quân tôi bị bịnh mà tạ thế.
Nhưng vì cớ gì mà hiền hầu lại thắc mắc?
Tề Tương-công nói:
- Ta nghĩ Trịnh Chiêu-công bị giết,
tạ thế, chứ đâu phải bị đau mà tạ thế.
Cao Cừ Di liệu không thể giấu được
bèn tìm lời bào chữa:
- Vâng một phần cũng vì Tiên-quân
tôi có tâm bệnh nên khi thấy giặc thì sợ mà chết.
Tề Tương-công cười lớn nói:
- Vua đi tất có phòng bị, sao lại
để giặc giết được?
Cao Cừ Di đáp:
- Trong nước tôi có lắm phe đảng,
thực khó mà đề phòng.
Tề Tương-công nói:
-Vậy có bắt được tên giặc đã giết
vua chăng?
Cao Cừ Di nói:
-Hiện nay nước tôi đang cho người
lùng kiếm khắp nơi mà vẫn chưa bắt được.
Tề Tương-công trợn mắt, chỉ vào mặt
Cao Cừ Di nói:
-Giặc chính là ngươi mà sao ngươi
lại không biết? Người chịu ơn vua lộc nước thế mà vì oán riêng dám thí vua, lại
đem ba tắc lưỡi làm bức màn thưa để che thắt thiên hạ. Ta phải vì tiên-quân của
ngươi mà bắt tên giặc ấy.
Nói rồi gọi Thạch-chi Phân Như bắt
Cao Cừ Di trói lại.
Công tử Vĩ thất kinh, sụp lạy,
nói:
- Việc đó Cao Cừ Di chủ mưu, xin hiền
hầu rộng lượng.
Tề Tương-công hét lớn:
- Đã giết anh cướp ngôi mà còn lắm
lời xảo trá. Nếu có điều gì oan ức thì ngươi cứ xuống dưới âm phủ mà kêu nài.
Nói xong, truyền bọn giáp sĩ bắt Công
tử Vĩ đem chém.
Cao Cừ Di hoảng vía, lạy lúc mãi.
Tề Tương-công nói:
- Chúa mi đã chết mà mi sống được
sao?
Nói rồi truyền đem Cao Cừ Di ra cửa
Nam cột tay chân vào bốn cỗ xe trâu, đánh trâu cho chạy bốn ngã.
Xác của Cao Cừ Di bị xé ra làm bốn
mảnh.
Đoạn Tề Tương-công truyền chặt đầu
Cao Cừ Di treo lên cửa, thành, yết một tấm bãng lớn đề chữ như vầy: "Tấm
gương của những kẻ làm tôi bất trung".
Việc ấy xong, Tề Tương-công sai
người sang Trịnh nói cho biết là nước Tề đã trừ xong đứa phản nghịch, hãy đưa
vua khác lên thay.
Nguyên Phồn hay được tin ấy tấm tắc
khen thầm:
- Tế Túc quả là một người sáng suốt
ít ai bì kịp.
Các quan nước Trịnh họp nhau lại
bàn việc lập vua mới.
Thúc Thiềm nói:
- Vua cũ là Trịnh Lệ-công hiện
nay đang ở nơi đất Lịch, ta nên rước về tôn lên ngôi.
Tế Túc nói:
- Vua cũ đã bõ nước mà trốn đi
thì không nên lập lại. Ta nên lập Công tử Nghi mới phải lẽ.
Nguyên Phồn khen là hợp lý.
Các quan cũng đồng thanh đưa Công
tử Nghi lên ngôi.
Tế Túc vẫn giữ chức Thượng Đại-phu,
Thúc Thiềm làm Trung Đại-phu, còn Nguyên Phồn làm Hạ Đại-phu.
Việc triều chính giao cho Tế Túc lo
việc giao hảo với các nước Tề, Trần... và sang cống nước Sở.
Còn Trịnh Lệ-công vẫn phải chịu
tá túc nơi cõi ngoài.
------------------------------------------------
Trái lệnh, Châu Thiên tử nổi sung
Gặp ma, Tề Tương-công hoảng hốt
Công-chúa Vương-cơ từ lúc về với
Tề Tuyên-công lòng sầu khôn xiết. Vương-cơ vốn là một người thông minh, tề chỉnh
nay gặp tánh nết Tề Tương-công lòng đã bất bình, lại biết được câu chuyện nàng
Văn-khương nên buồn bã mà thọ bệnh, chẳng bao lâu từ trần.
Từ ngày Vương-cơ thác rồi, Tề
Tương-công không còn kiêng nể ai nữa, hễ lúc nào nhớ Văn-khương thì giả đi săn
bắn nơi đất Chước rồi sai người đến Chúc-khâu rước Văn-khương đến đó mà vui vầy.
Tuy nhiên, lại sợ Lỗ Trang-công hay được mà sanh sự, bèn lấy việc binh đao ra
hăm dọa.
Tề Tương-công cất binh sang đánh
nước Kỷ lấy ba thành ở đất Bình, đất Tư và đất Ngô, rồi kéo thẳng đến Hề-thành
kêu Kỷ-hầu bảo rằng:
- Nếu muốn cho nước Kỷ còn, phải
đầu hàng lập tức.
Kỷ-hầu đau đớn than thầm:
- Tề là một nước cựu thù, lẽ nào
ta lại quên lấy thù mà cầu an sao!
Nghĩ rồi bèn khiến vợ là Bá-Cơ,
con gái Lỗ Huệ-công viết thư về nước cầu cứu viện binh.
Tề Tương-công hay được tin ấy, dọa
rằng:
- Nước nào đem binh cứu nước Kỷ,
nước đó sẽ bị quân Tề kéo đến tàn phá ngay.
Lỗ-hầu nghe nói cũng sợ, cho sứ
sang nước Trịnh yêu cầu nước Trịnh họp binh với mình cứu nước Kỷ.
Nhưng, Trịnh-nghi vì sợ Trịnh Đột
đem binh từ đất Lịch về cướp ngôi nên từ chối việc hợp tác.
Lỗ Trang-công thấy mình cô thế
không dám xuất quân.
Còn vua nước Kỷ thấy không ai cứu
viện, bèn giao quyền lại cho em là Doanh-quý, rồi bỏ trốn ra nước ngoài.
Doanh-quý họp triều-thần bàn rằng:
- Bây giờ chỉ có hai việc, một là
liều chết giữ nước, hai là đầu làng để bảo vệ sinh linh. Vậy ta nên theo đằng
nào?
Các quan đều nói:
- Nay nước Kỷ bị cô thế, dầu có
hy sinh đến đâu, cuối cùng cũng chịu thảm bại chi bằng đầu hàng để cứu vớt mạng
dân và giữ gìn tôn miếu của tiên-quân.
Doanh-quý theo lời, viết thư sai
sứ dâng cho Tề Tương-công, cùng nạp các sổ sách dinh điền, cầu xin đầu hàng.
Tề Tương-công chấp thuận, cho
Doanh-quý được thâu thuế ba mươi bộ trong nước để phụng thờ tôn miếu.
Vợ vua Kỷ là Bá-Cơ, buồn bã nhuốm
bệnh rồi chết.
Tề Tương-công an táng rất trọng
thể, mục đích để mua lòng nước Lỗ.
Trong thời gian đó, tại nước Sở,
vua Hùng Thông lên kế vị, tự xưng vương-hiệu là Sở Võ-vương, trách Tùy không đến
chầu mình nên cử binh sang đánh. Song đi mới nửa đường mang bệnh mà thác.
Quan Lệnh doãn là Đấu Kỳ, Mạc Ngao
và Khuất Trọng giấu nhem việc ấy không phát tang, kéo quân thẳng đến vây thành
của Tùy.
Tùy-hầu sợ sệt, xin cầu hòa.
Khuất Trọng thay mặt đứng ra làm
lễ chiêu an rồi kéo binh về nước, tôn con Hùng Thông là Hùng Xi lên nối ngôi, lấy
Vương-hiệu là Sở Văn-vương.
Còn Tề Tương-công sau khi thắng
được nước Kỷ kéo quân về ngang đất Chúc-khâu, rước nàng Văn-khương qua đất Chước
để vui câu tình tự. Nào tiệc nào tùng, đàn ca hát xướng vui say ngày đêm trong
hoan lạc.
Tề Tương-công lại khiến
Văn-khương viết thư mời Lỗ Trang-công đến đó để phó hội.
Lỗ Trang-công vốn sợ oai Tề, lại
không dám trái lời mẹ, nên vội đến đất Chước mà ra mắt Văn-khương.
Văn-khương khiến Lỗ Trang-công,
theo lễ cậu cháu ra mắt Tề Tương-công và tạ ơn Tề Tương-công việc chôn cất
Bá-Cơ.
Lỗ Trang-công không vui, nhưng phải
tuân lời mẹ.
Tề Tương-công rất đẹp dạ, bày tiệc
đãi đằng, say sưa tưởng như trời nghiêng đất ngửa.
Văn-khương nghe Tề Tương-công mới
sinh được một gái bèn nói với Lỗ Trang-công:
- Con chưa định người nội chủ, mà
cậu con vừa sanh đặng một gái, mẹ tưởng đó cũng là dịp may, con nên đính ước
đi.
Lỗ Trang-công nhìn mẹ, ngơ ngác,
nói:
- Con đã chừng này tuổi, còn con
gái của cậu mới sanh, lẽ nào đính việc hôn nhân.
Văn-khương giận dữ nói:
- Con không muốn gần gũi với họ
ngoại sao?
Lỗ Trang-công thưa:
- Thưa mẹ, con đâu có ý ấy, song
tuổi tác cách biệt rất khó lòng làm cái chuyện đó được!
Văn-khương nói:
- Cứ đợi đến hai mươi năm nữa sẽ
cưới không được sao?
Lỗ Trang-công nín lặng không dám
cãi.
Tề Tương-công cũng nễ lời, hai
đàng cùng nhau uống ly rượu hứa hẹn cuộc hôn nhân ấy.
Đã cậu ruột mà lại là cha vợ nữa
thì còn gì thân thiết bằng! Có lẽ vì thế mà Tề và Lỗ càng thắt chặt mối dây
thân mật hơn trước!
Ngày kia, Lỗ Trang-công cùng Tề
Tương-công rủ nhau đi săn bắn.
Lỗ Trang-công có tài thiện-xạ, bắn
mười phát trúng cả mười, ai này đều khâm phục, riêng Tề Tương-công lại càng đẹp
lòng hơn.
Trong đám quân sĩ, ngoài những lời
tấm tắc ngợi khen lại còn có cả lời châm biếm nữa.
Họ thì thào:
- Chàng rể hờ của Chúa công ta
đó.
Lỗ Trang-công lấy làm hổ thẹn,
truyền bắt những người đã thốt ra lời nói vô lễ ấy đem chém.
Nhưng Tề Tương-công vẫn thản nhiên
không trách cứ.
Từ ấy Văn-Khương không kiêng nể nữa,
thường thường ở chung với Tề Tương-công, khi thì đất nhau ở đất Phong, khi thì
gặp nhau nơi đất Cốc, có lúc lại về Tề đô mà vui với Tề Tương-công đến sáu bảy
ngày liền rồi mới trở về đất Chước.
Một hôm Tề Tương-công ở đất Chước
về xảy thấy Vệ-Sóc ra đón tiếp và nhắc lại lời hứa trước kia.
Vệ-Sóc nói:
- Trước kia Chúa công có hứa sẽ cử
binh đánh Vệ giúp cho tôi phục-nghiệp, từ ấy đến nay việc chưa thành.
Tề Tương-công nói:
- Sở dĩ ta chưa đánh Vệ vì Kiềm
Mâu là phò-mã của vua Châu. Nay nàng Vương-cơ đã thác, ta không còn e ngại gì nữa.
Tuy-nhiên muốn đánh Vệ, phải hiệp binh với chư hầu thì mới thắng nỗi. Cháu phải
chờ đợi ít hôm đã.
Vệ-Sóc tạ ơn lui ra.
Cách vài ngày sau Tề Tương-công
làm một tờ hịch, sai sứ đểrr qua các nước Lỗ, Tống, Trần và Sái hẹn hợp binh
đánh Vệ Kiềm Mâu để đưa Vệ-Sóc về nước phục nghiệp.
Tờ hịch như sau:
Nước Vệ không may bị bọn nghịch
thần Tiết và Chức tác loạn, phế vua này, lập vua khác, Vệ Huệ-công (Vệ-Sóc) phải
bỏ chạy ẩn tránh nơi nước tôi đã bảy năm trời. Lẽ ra phải trừng phạt để bảo vệ
công bình, song lâu nay nước tôi bận nhiều công việc chưa tính đặng. Lại nghĩ rằng
để lâu ngày bất tiện, nên nay tôi nguyện đem hết binh lực nước Tề hiệp cùng quý
quốc giúp cho Vệ-Sóc hưng binh vấn tội kẻ tặc loàn. Được quý-quốc tưởng đến thật
lấy làm may mắn.
Nhận được tờ hịch ấy bốn nước đều
hưng binh.
Riêng Tề Tương-công đem năm trăm
cỗ xe, cùng với Vệ-Sóc kéo thẳng đến biên giới nước Vệ.
Vệ Kiềm Mâu hay tin, lòng lo lắng,
cho đòi Công tử Tiết và Công tử Chức vào thương nghị.
Công tử Chức nói:
- Nay binh năm nước đồng kéo binh
đến một lượt, nước Vệ ta không tài nào đũ sức cản ngăn, xin Chúa công cho người
sang cầu cứu với vua nhà Châu mới được.
Vệ Kiềm Mâu y lời, viết tờ cáo-cấp
sai quan Đại-phu Ninh Quý vào triều Châu cầu cứu.
Châu Trang-vương xem văn biểu rồi
hỏi các quan:
- Ai dám thay mặt trẫm đem binh cứu
nước Vệ chăng?
Châu-công Hắc Kiên quỳ tâu:
- Tâu Bệ-hạ, từ khi nhà Châu thua
Trịnh, lòng quân giải đải nay nếu đi chinh phạt e khó thắng. Vả lại, các chư hầu
lấy cớ lập lại Chúa Trịnh là danh chánh ngôn thuận. Mà đã danh chánh ngôn thuận
thì binh ắt mạnh, ta khó thắng nổi.
Quách-công Kỵ Phủ cũng cho lời
nói đó là phải.
Bỗng có một người bước ra tâu:
- Lời nói của hai ông không đúng.
Nếu nói rằng binh các chư hầu mạnh hơn binh của triều thì có lý. Nhưng nếu cho
việc lập Chúa Trịnh lại là danh chánh ngôn thuận thì thật quả đã lầm.
Các quan xem lại, người ấy là Tử
Đột, đang làm chức Hạ-sĩ.
Châu-công Hắc Kiên quắc mắt nhìn Tử
Đột, hỏi:
- Một nước chư hầu bị tiếm ngôi,
các nước khác đem binh tới cứu, thế mà không danh chánh ngôn thuận ư.
Tử Đột nói:
- Việc lập Kiềm Mâu lên ngôi Trịnh
đã có Vương-mạng thì sao gọi là tiếm-vị? Vương-mạng mà không kể, lại lấy việc chư
hầu này lập chư hầu kia mà cho là thuận sao?
Quách-công Kỵ Phủ nói:
- Đừng nói đến thuận nghịch gì cả,
việc binh-gia phải căn-cứ vào sức mạnh. Cái mạnh bao giờ cũng có hễ lý mà có lý
tức là lẻ phải rồi.
Tử Đột nói:
- Lý lẽ và sức mạnh là hai việc
khác nhau. Mạnh yếu là tại sức còn hơn thua là tại lý. Nếu bỏ lý mà vẫn nên việc
ắt thiên hạ phải đảo điên không còn một ai theo lẽ phải nữa.
Châu-công Hắc Kiên đỏ mặt nói:
- Ấy vậy nếu đem binh cứu Vệ,
ngươi có dám gánh vác việc ấy chăng?
Tử Đột nói:
- Cứ lấy lý mà nói thì tôi sẽ thắng
vì tôi sẽ đem lý lẽ của tôi mà khuyến dụ các chư hầu. Một khi các chư hầu đã
nhìn nhận lẻ phải thì gươm giáo không còn là vật đáng sợ nữa.
Các quan nghe Tử Đột lý lẽ như vậy
ai nấy đều muốn thử thách tài năng, nên tâu với vua cho phép Tử Đột được hưng
binh cứu Vệ.
Châu Trang-vương nhậm lời, khiến Ninh
Quý về báo với Vệ-hầu trước.
Đoạn, truyền cho Quách-công Kỵ Phủ
phát cho Tử Đột ba muôn binh ròng.
Châu-công Hắc Kiên đã có ý ghét Tử
Đột nên chỉ phát có hai trăm cỗ binh xa mà thôi.
Tử Đột ngạc nhiên hỏi:
- Sao ngài lại phát quân cho tôi
ít như vậy?
Châu-công Hắc Kiên nói:
- Nếu ngươi dùng sức mạnh mà thắng
giặc thì ta sẽ phát binh nhiều, nhưng nay ngươi chỉ dùng lý lẽ để thắng giặc
thì cần chi đến quân sĩ cho đông?
Tử Đột làm thinh, qua nhà Thái-miếu
lạy tạ rồi kéo binh ra đi.
Lúc ấy binh của năm nước Chư hầu đã
đến vây đánh nước Vệ đông nghẹt.
Công tử Tiết và Công tử Chức
không dám chống cự chỉ thủ thành chờ cứu binh đến.
Nhưng thảm thay! Tử Đột đến với một
toán binh quá ít, người lao mã liệt, xe cộ ngửa nghiêng như một nhóm tàn quân vừa
thất trận.
Tử Đột mới tới, chưa kịp đóng trại,
binh của năm nước đã áp lại đánh nhầu một trận, quân sĩ chạy tán loạn, không kịp
thốt ra nửa lời.
Tở đột ngước mặt lên trời than:
- Ta vâng mạng Thiên tử đến đây dầu
có thác cũng được làm con ma trung nghĩa.
Nói rồi, liều chết vung đao giết
đặng hơn mười người rồi mới tự vận.
Quân sĩ trong thành Vệ thấy binh
thiên triều bị thua, lớp tử trận, lớp bỏ trốn, hoảng hốt mở cửa thành mà chạy.
Các nước chư hầu đốc quân tràn
vào.
Công tử Tiết và Công tử Chức cùng
Ninh Quý thu góp tàn quân, phò Kiềm Mâu chạy trốn.
Nhưng vừa lọt qua khỏi vòng vây
thứ nhất thì bị địch quân bắt lại.
Duy có Ninh Quý lanh trí, cởi bỏ
xiêm giáp, lộn vào đám quân Tề thoát ra khỏi thành chạy qua nước Tần lánh nạn.
Chiến trận vừa tan, các chư hầu
đưa Vệ-Sóc vào thành, dẫn Kiềm Mâu, Công tử Tiết và Công tử Chức vào nạp.
Tề Tương-công sai đao phủ-thủ dẫn
Tiết và Chức ra chém đầu, còn Kiềm Mâu vì nghĩ tình anh em bạn rể, nên bỏ vào
tù xa sai người đem về nạp cho vua nhà Châu.
Vệ-Sóc lên tức vị, lấy hiệu cũ là
Vệ Huệ-công rồi đem vàng bạc châu báu trong kho nạp cho Tề để đến ơn.
Tề Tương-công nói:
- Bắt được Kiềm Mâu là công của Lỗ-hầu,
vậy nước Lỗ phải tấu trình xin Thiên tử nhà Châu cho được hướng công đầu.
Nói rồi chia hai của ấy cho Lỗ, lại
khiến Vệ-hầu thu góp các báu vật khác thưởng cho Tống, Trần, Sái.
Sau khi mở tiệc đãi đằng, các chư
hầu lần lượt kéo quân về.
Tề Tương-công về đến Kinh đô lòng
rất lo lắng. Bụng bảo dạ: Thắng Kiềm Mâu thì chẳng nói làm chi, nay lại thắng cả
binh thiên triều là điều đáng ngại. Vua Châu ắt cử binh sang vấn tội, ta nên đề
phòng trước thì hơn.
Nghĩ rồi liền sai Liên Xứng làm
Chánh-tướng Quản Chí Phủ làm Phó tướng đem binh ra đồn trú nơi đất Quý-châu để
trấn giữ mặt Đông-Nam.
Hai tướng vâng lệnh, kiểm điểm
binh mã kéo đi.
Nhưng trong lúc bái biệt, hai tướng
tâu với Tề Tương-công:
- Tâu Chúa công, việc đồn trú nơi
biên ải là một công lao cực nhọc cần phải có hạn kỳ để quân sĩ khối nản lòng vì
buồn chán.
Tề Tương-công đang ngồi ăn dưa hấu,
nghe tâu, đáp vội:
- Đến mùa dưa hấu năm sau ta sẽ
cho người ra thay.
Hai tướng cúi lạy giã từ.
Tháng ngày thắm thoát trôi, trôi
trên sự mong chờ của đoàn lính xa nhà, gối tuyết màn sương, nơi chốn biên cương
lạnh lẻo.
Rồi, mùa dưa đến, đoàn quân biên khu
khoắc khoải mơ ước được hồi hương, mà tin vua biền biệt không thấy đến.
Hai tướng Liên Xứng và Quản Chí
Phủ cho người về kinh đô do thám.
Quân về báo:
- Chúa công ở nơi Cốc-thành vui
riêng với nàng Văn-khương đã một tháng nay chưa về triều.
Liên Xứng nghe báo nổi giận, nói:
- Vương-cơ đã thác, lẽ thì em gái
ta là Liên-thị đặng làm phu-nhân, nhưng hôn quân vô đạo, đã không đoái tưởng mà
lại còn tiếp tục việc dâm loạn với Văn-khương, thật là quá lắm. Thân ta cực nhọc
đồn trú nơi biên thùy biết bao giờ mới được về triều?
Quản Chí Phủ nói:
- Chúa công đã hứa với ta, đến
mùa dưa hấu cho người đến thay, vậy ta làm sớ về triều nhắc lại. Nếu Chúa công
bỏ qua, chừng ấy lòng quân sanh oán, ta sẽ tùy cơ ứng biến.
Liên Xứng khen phải, sai người
đem sớ về Kinh trình tấu.
Tề Tương-công xem sớ, nổi giận mắng
lớn:
- Việc binh dời đổi là quyền của
ta, cớ sao lại được xin?
Nói rồi ra lệnh cho người dâng sớ
trở về nói lại với hai tướng chờ đến mùa dưa năm sau nữa sẽ định liệu.
Liên Xứng được tin, mặt giận hầm
hầm, nói với Quản Chí Phủ:
- Hôn quân vô đạo đã không giữ lời
hứa, ta há lại đem thân trung thành với kẻ thất tín sao. Ý ta muốn thí-quân lập
vua khác, tướng công liệu lẽ nào?
Quản Chí Phủ nói:
- Nếu muốn thí Tề Tương-công trước
hết phải định người thay thế. Công-tôn Vô Tri là con của Di Trọng Niên, thuộc
dòng thứ. Trong lúc Tiên-quân còn sống rất mực yêu mến Vô Tri. Từ ngày Chúa
công lên ngôi có sự xích mích, nên đem lòng oán ghét.
Liên Xứng hỏi:
- Tại sao có sự xích mích ấy?
Quản Chí Phủ nói:
- Nguyên trước kia Vô Tri ở trong
cung hay cãi nhau với Tề Tương-công. Một hôm Vô Tri nổi giận đá Tề Tương-công
ngã xuống ghế. Lại một hôm nọ, Vô Tri tranh với quan Đại-phu Ung Lẫm đi trước
nên Tề Tương-công rất ghét. Tôi xem ý Vô Tri muốn mưu loạn, ngặt không ai giúp
sức, nay ta viết thư về nhờ Vô Tri làm nội ứng thì việc cả ắt nên.
Liên Xứng nói:
- Thế thì nên thừa cơ hội nào mà
thực hiện ý định.
Quản Chí Phủ nói:
- Tề Tương-công là người giỏi
binh pháp, nhưng tính lại ưa săn bắn, vậy phải dụ cọp ra khỏi hang thì mới trị
nổi. Ta cứ chờ dịp nào Tề Tương-công ra ngoài là hành sự.
Liên Xứng nói:
- Em gái tôi là Liên-thị, bị thất-sủng,
lâu nay cũng rất oán ghét Tề Tương-công, bây giờ viết thư dặn Vô Tri tư-thông với
Liên-thị, lúc nào Tề Tương-công đi săn bắn phải lập tức cho chúng ta biết.
Quản Chí Phủ khen phải bèn viết
thư sai người đem đến cho Vô Tri.
Thư ấy như vầy:
“Tiên quân ngày trước rất yêu
mến Công-tôn, thế mà nay Tề Tương-công ỷ mình quyền theo không kể mình anh em tộc
họ. Vả lại, Tề Tương-công lại là một hôn quân dâm loạn, trong bỏ bê việc triều
chính, ngoài không nghĩ đến lương dân. Chúng tôi đi đồn trú suốt cả năm đã
không ngó ngàng đến lại còn trách cứ. Lòng quân rất oán hận muốn khởi loạn, ngặt
chưa có dịp. Nếu nay Công-tôn đồng lòng với chúng tôi phế bỏ hôn-quân, thật là
một dịp tốt. Trong cung lại có Liên-thị, có thể giúp Công-tôn làm nội ứng được.
Xin chớ bỏ qua”.
Công-tôn Vô Tri được thư, lòng mừng
khấp khởi, vội viết thư phúc đáp:
Lòng trời đã chán ghét hôn quân
nên mới xui tướng quân nghĩ đến việc ấy. Tôi xin thành tâm hiệp lực, và lúc nào
có dịp, sẽ tin cho tướng quân hay.
Đoạn Vô Tri cho người vào cung
bàn tính với Liên-thị, lại hứa với Liên-thị rằng: Nếu chiếm được ngai vàng sẽ lấy
Liên-thị làm phu nhân.
Liên-thị mừng lắm.
Mùa đông năm ấy, Tề Tương-công sắp
đặt đến núi Bối-Kỳ nơi đất Cô-phần để săn bắn.
Liên-thị hay tin, sai người nói lại
với Công-tôn Vô Tri.
Công-tôn Vô Tri liền viết một mật
thư, đưa ra biên giới cho Liên Xứng hẹn ngày khởi sự.
Liên Xứng bàn với Quản Chí Phủ:
- Hôn quân đi săn bắn, trong nước
không có ai bọn ta kéo binh về thẳng Tề đô mà lập Công-tôn lên ngôi cho rồi.
Quản Chí Phủ nói:
- Tuy Tề Tương-công là một hôn
quân dâm loạn, song có liên kết với các chư hầu, và các chư hầu cũng hết lòng
tương trợ. Nếu để hôn quân còn sống viện
binh nước ngoài về đánh chúng ta cự sao lại. Chi bằng phục binh mà giết quách
đi, rồi sau sẽ tôn Vô Tri lên cũng chẳng muộn.
Hai tướng bàn bạc xong, kéo binh
sang đất Cô-phần phục sẵn.
Chỉ mấy ngày sau, Tề Tương-công sắm
sửa xe giá, dẫn đoàn ngự lâm quân cùng hai viên cận-tướng là Thạch-chi Phân Như
và Mạnh Dương theo hầu, cùng nhau đến núi Bối-Kỳ.
Cạnh núi Bối-kỳ rất đẹp, có khe,
có suối hai bên đá dựng chập chồng, rừng cây rậm rạp.
Tề Tương-công truyền đốt lửa ở
hai bên ven rừng để dồn các muông thú vào giữa mà săn bắn.
Lửa cháy rần rần, gió reo vi vút,
những loài điểu thú sợ lửa bay nhảy tán loạn.
Vua tôi được một dịp trổ tài xạ
kích.
Bỗng từ nơi ven rừng một con quái
vật xuất hiện, hình dung kỳ dị, to bằng con trâu, nửa giống cọp nửa giống heo,
chạy đến trước mặt Tề Tương-công rồi dừng lại.
Tề Tương-công quay lại, gọi Mạnh
Dương bảo:
- Ngươi hãy bắn con quái vật đó
cho ta.
Mạnh Dương, tay rút tên, mắt nhìn
chăm chăm con quái vật đó, rồi nói to:
- Tâu Chúa công, con quái vật này
giống Công tử Bành Sinh quá!
Tề Tương-công nói:
- Bành Sinh đã chết, sao còn dám
đến đây phạm giá.
Nói rồi giật lấy cung tên, bắn một
mũi.
Quái vật kia né tên.
Tề Tương-công bắn luôn ba phát mà
vẫn không trúng.
Bỗng quái vật đứng dậy, đi hai
chân như người, lại khóc lóc rất thê thảm.
Tề Tương-công cả người rởn ốc, té
nhào xuống xe, trượt chân rơi ra một chiếc giày.
Quái vật chạy đến tha chiếc giày
biến mất.
Kẻ tả hữu vội chạy đến đỡ Tề
Tương-công lên xe, rồi phò về ly-cung nơi Cô-phần an nghỉ.
Đêm ấy, Tề Tương-công lòng nóng
như đốt, không làm sao ngủ được, lại bị trật chân, đau nhức vô cùng, mới bảo Mạnh
Dương đỡ mình đi lại trong phòng cho thư thả.
Nhìn lại, thấy mất một chiếc giày,
Tề Tương-công cho đòi Đồ Nhân Phí là kẻ hầu cận vào, hỏi:
- Sao giày ta chỉ còn một chiếc
thế này?
Đồ Nhân Phí tâu:
- Tâu Chúa công, lúc Chúa công bị
té, chiếc giày văng ra, con quái vật ngoạm lấy tha đi mất.
Tề Tương-công cả giận hét:
- Ngươi giữ việc y-quan, thế mà để
con quái vật đó tha mất chiếc giày của ta, mà ngươi vẫn còn sống sao?
Nói xong rút roi da đánh bổ vào
lưng Đồ Nhân Phí.
Đánh đến máu chảy dầm dề mới chịu
thôi.
Đồ Nhân Phí vừa khóc lóc, vừa bước
ra cửa.
Bỗng gặp Liên Xứng đi với hai người
tùy tùng đến đó mà thám thính.
Thấy Đồ Nhân Phí, Liên Xứng liền
thộp ngực, hỏi:
- Hôn-quân hiện giờ ở đâu?
Đồ Nhân Phí ngạc nhiên không hiểu
Liên Xứng đang trấn nơi biên thùy, sao lại đến đây tác-loạn, bèn hỏi:
- Sao tướng quân lại đến đây và
có ý gì đó?
Liên Xứng nói:
- Ta quyết giết đứa hôn quân để
đem lại hạnh phúc cho bá tánh. Ngươi đừng có nhiều lời, hãy nói mau.
Liên Xứng vừa nói, vừa giơ đao muốn
chém.
Đồ Nhân Phí cả sợ nói:
- Tôi vừa bị hôn-quân đánh một trận,
thịt còn sưng, máu còn chảy đây. Xin tướng quân tha chết cho tôi để tôi làm nội
ứng cho.
Liên Xứng xem lại thấy Đồ Nhân
Phí áo quần lem luốc những vệt máu, mới tin lời, và dặn:
- Hãy vào xem hôn quân ngủ ở đâu,
rồi ra báo với ta lập tức.
Nói xong, quay lại gọi Quản Chí
Phủ bảo dẫn quân sĩ thẳng vào ly-cung.
Đồ Nhân Phí vào khỏi cửa gặp Thạch-chi
Phân Như liền kể lại chuyện Liên Xứng khởi loạn.
Hai người dắt nhau đến báo cho Tề
Tương-công hay.
Tề Tương-công cả sợ, chưa biết
tính lẽ nào, Đồ Nhân Phí tâu:
- Việc đã quá gấp, xin Chúa công
cho một người giả Chúa công, liều chết thay mạng nằm trên giường, còn Chúa công
lo ẩn núp sau cửa, may có cơ hội thoát nạn.
Mạnh Dương nói:
- Tôi mang ơn Chúa công rất trọng,
nay nguyện liều mình chết thế.
Nói rồi trèo lên giường, nằm ngoảnh
mặt vào trong.
Tề Tương-công cởi áo cẩm-bào
khoác lên mình Mạnh Dương rồi lẻn ra phía sau mà trốn.
Thấy Đồ Nhân Phí không theo mình,
Tề Tương-công hỏi:
- Ngươi không đi trốn sao?
Đồ Nhân Phí tâu:
- Tôi phải hiệp sức với Thạch-chi
Phân Như để cự địch.
Tề Tương-công nhìn Đồ Nhân Phí nói:
- Lưng của ngươi đau như thế mà
không ngại sao?
- Dẫu chết còn chưa tiếc thì cái
đau đó đâu đáng kể.
Tề Tương-công than dài:
- Ôi! Ngươi quả là đấng trung thần,
tiếc rằng ta đã không có con mắt nhận xét.
Đồ Nhân Phí bảo Phân Như cầm dao
đứng chặn nơi cửa.
Lúc ấy Liên Xứng cũng vừa phá được
cửa ngoài, ồ ạt bước vô.
Đồ Nhân Phí xốc đến toan chém,
nhưng Liên Xứng đã lẹ tay đâm một gươm lòi ruột, nhào xuống đất chết ngay.
Phân Như thấy vậy nhảy tới cũng bị
Liên Xứng vớt cho một gươm, đầu lìa khỏi cổ.
Giết xong hai viên cận vệ, Liên Xứng
bước đến bên giường ngủ của Tề Tương-công, không thấy bọn cận vệ đâu cả, chỉ thấy
một người nằm đắp cẩm bào sau bức màn thêu. Ngỡ đó là Tề Tương-công, Liên Xứng
liền vung gươm chém một nhát, đầu văng ra khỏi gối.
Liên Xứng lượm đầu lên xem, thấy
không râu, biết mình đã lầm, vội khiến quân lục lạo khắp nơi.
Khi ra đến phòng sau, Liên Xứng bắt
gặp một chiếc giày thêu bỏ nơi cửa hậu. Chiếc giày ấy chính là chiếc giày mà
con quái vật đã tha đi. Vì vậy ai cũng tin là Công tử Bành Sinh báo oán.
Trông thấy chiếc giày, Liên Xứng
nghi Tề Tương-công núp đâu đây vội phá cửa bước ra.
Quả thật, lúc đó Tề Tương-công
đang núp ở xó cửa.
Liên Xứng nắm cổ, đè xuống đất,
hét lớn:
- Hôn quân dâm loạn! Mi không kể
đến sự nghiệp Tiên-quân, gây nên nhiều tội ác, khiến dân chúng lầm than khổ sở.
Không nghe lời cha dạy khinh bỏ việc công ấy là bất hiếu, gian dâm với em gái
mình, đó là phi nghĩa, bắt người đi đồn thú rồi sai ước, đó là bội tín, cậy sức
mạnh, giết oan mọi người đó là bất nhân. Cả nhân nghĩa, hiếu, tín đều phạm phải,
dầu ta có phân thây mi làm mấy mảnh cũng vẫn chưa đền được tội.
Nói xong, chặt Tề Tương-công ra
làm hai khúc, rồi cùng với Quản Chí Phủ kéo quân trở về Tề đô.
Công-tôn Vô Tri hay tin mở cửa
thành nghênh tiếp.
Hai tướng vào thành tôn Công-tôn Vô
Tri lên kế vị.
Công-tôn Vô Tri lập Liên-thị làm phu
nhân phong Liên Xứng làm Chánh-khanh, Quản Chí Phủ làm á-khanh còn các quan Đại
phu đều giữ nguyên chức.
Triều thần tuy không ai phản đối
nhưng ít ai khâm phục.
Riêng có Ung Lẫm, trước kia vì có
tội dành đi trước với Vô Tri nên nay cúi lạy xin lỗi, còn Cao Quốc là người có
thân thế nhất tại triều, cáo bịnh không vào chầu.
Vô Tri lên ngôi được mấy hôm, thì
Quản Chí Phủ khuyên Vô Tri nên treo bảng cầu người hiền ra giúp nước, lại tiến
cử người cháu họ của mình là Quản Di Ngô, yêu cầu Vô Tri thu dụng để chung lo
việc triều chính.
------------------------------------------
Ung Lẫm lập mưu giết tân chúa
Lỗ-công bại trận nơi Kiều-thời
Nói về Quản Di Ngô tên chữ là Trọng,
một người tướng mạo khôi ngô, thông minh xuất chúng, học rộng, mưu cao, đủ tài
kinh thiên vĩ địa. Lúc còn là hàn sĩ, làm bạn với Bão Thúc Nha. Hai người thường
đi buôn chung. Nhưng mỗi khi kiếm được lời, Quản Di Ngô bao giờ cũng nhận lấy
phần hơn, chỉ chia cho Bão Thúc Nha chút ít mà thôi. Tuy nhiên, Bão Thúc Nha chẳng
hề tỏ ý phàn nàn.
Người ngoài thấy, nói với Bão
Thúc Nha:
- Cùng công cán như nhau, sao ông
lại để cho Quản Di Ngô hiếp mình như thế?
Bão Thúc Nha đáp:
- Quản Di Ngô đâu phải tham lam, ấy
chỉ vì nhà nghèo, tiêu không đủ, nên ta nhường cho va đó.
Sau đến lúc ra phò Tề Tương-công
giúp việc quân vụ, mỗi lần ra trận, Quản Di Ngô đi sau, nhưng đến lúc lui binh
về thì Quản Di Ngô lại đi trước. Ai nấy cho Quản Di Ngô là nhát gan.
Bão Thúc Nha nói:
- Không phải Quản Di Ngô nhát gan
đâu, chỉ vì va còn mẹ già nên muốn giữ lấy thân để phụng dưỡng mẹ.
Việc làm của Quản Di Ngô phần nhiều
bị thất bại. Ai nấy cho là kẻ bất trí.
Bão Thúc Nha nói:
- Đó là con người chưa gặp thời.
Nếu lúc Quản Di Ngô đã gặp thời, thì nói mười lời không sai một.
Quản Di Ngô nghe Bão Thúc Nha nhận
xét mình như thế, lòng rất khâm phục, than thầm:
- Sinh ra ta ấy là cha mẹ, mà hiểu
biết ta thì trong đời chỉ có một Bão Thúc Nha mà thôi.
Từ lúc đó, hai người trở nên
tương đắc.
Quản Di Ngô cũng như Bão Thúc Nha
được tiếng là học rộng, đều được Tề Tương-công chọn làm Sư-phó.
Nguyên Tề Tương-công có hai người
con, người lớn là Công tử Củ mẹ người nước Lỗ, người nhỏ là Tiểu Bạch, mẹ người
nước Cử.
Hai vị Công tử này tuy không phải
con dòng đích, nhưng Tề Tương-công thấy đã khôn lớn cần phải tìm thầy dạy dỗ.
Quản Di Ngô nói với Bão Thúc Nha:
- Tề-hầu có hai người con tuy là
dòng thứ mặc lòng, song không có dòng đích thì ngày sau dòng thứ phải được nối
ngôi. Bây giờ chúng ta lãnh mỗi đứa một người mà dạy dỗ, sau này nếu người nào
được nối ngôi thì chúng ta tiến cử lẫn nhau để được trọng dụng.
Bão Thúc Nha khen phải.
Hai người vào triều yết kiến Tề
Tương-công.
Bão Thúc Nha thì lãnh Công tử Tiểu
Bạch còn Quản Di Ngô lãnh Công tử Củ, có Thiệu Hốt giúp đỡ.
Một thời gian sau Tề Tương-công
ham mê săn bắn, thường đến đất Chước để tư tình với Văn-khương.
Thúc Nha mới tỏ ý với Tiểu Bạch rằng:
- Chúa công dâm loạn, dân tình
không phục, tôi e trong nước sanh biến chẳng lâu, Công tử nên có lời can gián.
Tiểu Bạch y lời.
Một hôm vào tâu với Tề Tương-công:
- Lỗ-hầu bị thác, thiên hạ dị nghị
rất nhiều, xin phụ thân nên tị hiềm, đừng đi săn bắn mà sinh hậu hoạn.
Tề Tương-công nổi giận xách giày
liệng Tiểu Bạch, hét:
- Mày là đứa con nít biết gì đến
công việc ta mà nói.
Tiểu Bạch thất kinh, bỏ chạy về
nói lại với Thúc Nha.
Thúc Nha buồn bã nói:
- Đã không bỏ được lòng tà, ắt
tai họa phải đến. Vậy Công tử nên cùng tôi sang một nước khác lánh nạn, ngày
sau sẽ tính.
Tiểu Bạch hỏi:
- Bây giờ phải qua nước nào?
Thúc Nha nói:
- Nước lớn thường cậy thế cậy thần,
tính tình hay thay đổi. Còn nước nhỏ thủ phận, ít sinh chuyện lôi thôi. Vậy ta
nên sang nước Cử, gần gũi với nước Tề, sau này có trở về cũng dễ.
Tiểu bạch thuận tình. Hai người
cùng trốn qua nước Cử.
Cách đó không lâu, Tề Tương-công
bị giết. Công-tôn Vô Tri lên đoạt ngôi và sai người đến triệu Quản Di Ngô vào
triều nghị việc.
Quản Di Ngô nói:
- Bọn ấy gươm đã sắp kề cổ mà
không biết đến mình còn muốn làm phiền luỵ đến kẻ khác nữa sao?
Nói rồi bàn với Thiệu Hốt phò Công
tử Củ chạy sang nước Lỗ.
Nước Lỗ vốn là bên ngoại của Công
tử Củ, nên Công tử Củ được Lỗ Trang-công trọng đãi, cho ở nơi đất Sinh-đậu.
Còn Vô Tri từ khi lên kế vị, quần
thần không phục, Liên Xứng và Quản Chí Phủ được tin dùng nên mỗi lúc một làm
cao, khiến ai nấy bất bình ra mặt.
Ung Lẫm thấy tình trạng ấy, một
hôm tìm cách thử lòng mọi ngươi, bèn phao lên một tin đồn, nói:
- Có người nước Lỗ cho biết Lỗ-hầu
sắp đem quân phạt Tề. Tề đưa Công tử Củ lên ngôi. Chẳng hay các ngài có ai nghe
tin ấy chăng?
Các quan đều ngơ ngơ ngác nhìn
nhau thầm tỏ vẻ đắc ý.
Khi bãi triều, các quan lần lượt
đến dinh Ung Lẫm để thăm dò.
Ung Lẫm hỏi:
- Nếu việc đó là sự thật các ngài
sẽ tính sao?
Đông Quách Nha nói:
- Tiên-quân ta vô đạo, nhưng con
của người đâu có tội chi, lẽ nào chúng ta lại phò một người khác.
Ung Lẫm đưa mắt nhìn mọi người thấy
ai nấy đều có vẻ cảm động, bèn nói:
- Trước kia sở dĩ tôi lạy lục xin
tha tội là có ý muốn dành thân này đặng dùng vào việc ngày nay. Nếu các ngài
giúp tôi trừ bọn phản-nghịch đem ngôi lại cho con cái Tiên-quân thì thật là việc
đại nghĩa.
Đông Quách Nha hỏi:
- Nhưng ngài đã có kế hoạch gì để
mưu việc đại nghĩa ấy chưa?
Ung Lẫm nói:
- Cao Quốc là một lão thần, được
nhiều người kính trọng, cả đến Liên Xứng và Quản Chí Phủ cũng phải sợ, chẳng
dám cậy quyền-uy mà lên mặt. Nay ta đến bàn với Cao Quốc mở một tiệc rượu mời Liên
Xứng và Quản Chí Phủ đến dự thì thế nào hai đứa ấy cũng đến. Lúc bấy giờ chúng
ta vào triều, gạt Vô Tri ra khỏi cung mà giết, đồng thời, đóng cửa nhốt Quản
Chí Phủ và Liên Xứng nơi dinh Cao Quốc, để lo việc lập vua mới.
Đông Quách Nha nói:
- Cao Quốc lâu nay vì ghét bọn nịnh
thần nên chẳng thèm ngó đến việc triều chính. Nay đem mưu ấy mà bàn ắt Cao Quốc
không từ chối. Vậy tôi xin lãnh việc ấy cho.
Nói rồi, Đông Quách Nha vội vã đến
dinh Cao Quốc, đem ý kiến của Ung Lẫm thuật lại.
Cao Quốc nhận lời, sai Đông Quách
Nha đi mời Liên Xứng và Quản Chí Phủ.
Liên Xứng và Quản Chí Phủ lâu nay
thấy Cao Quốc không trọng mình nên lòng không vui.
Nay được tin Cao Quốc đặt tiệc
khoản đãi lấy làm hớn hở, lập tức đến dự.
Trong bữa tiệc, Cao Quốc nói với Liên
Xứng và Quản Chí Phủ:
- Xưa Tiên-quân thất đức, lão phu
chỉ sợ e nước phải mất, không ngờ được nhị vị tướng quân ra tay cứu nước, lập
lên tân quân nắm giữ giềng mối thật là may mắn. Nay phận tôi già yếu, không còn
sức lực để chung lo việc triều chính, vậy có chén rượu lạt này nhờ nhị vị tướng
quân tưởng tình mà che chở cho con cháu tôi, tôi rất mang ơn.
Liên Xứng và Quản Chí Phủ tỏ lời
khiêm nhượng, rồi cả hai uống đến say vùi.
Cao Quốc khiến người đóng chặt cửa
dinh lại.
Giữa lúc ấy, Ung Lẫm dắt dao
trong mình, đi vào cung nói với Vô Tri:
- Công tử Củ sắp đem quân Lỗ về
đánh, xin Chúa công lâm triều mà nghị kế.
Vô Tri hỏi:
- Liên Xứng và Quản Chí Phủ không
có mặt ở đây sao?
Ung Lẫm tâu:
- Hai người ấy đi uống rượu chưa
về, song việc binh rất gấp các quan đã hội đủ mặt xin Chúa công ra mà thương nghị.
Vô-Trị tin lời, khoác long bào bước
ra.
Ung Lẫm bước theo sau thừa cơ hội
đâm lén Vô Tri một dao, ngã quỵ xuống đất máu tuôn lai láng.
Giết Vô Tri xong, Ung Lẫm liền
khiến đốt lửa làm hiệu.
Cao Quốc cùng với Liên Xứng và Quản
Chí Phủ uống rượu trong dinh, thấy lửa cháy, biết việc đã thành, liền đứng dậy
hô võ sĩ bắt Liên Xứng và Quản Chí Phủ trói lại, dẫn ra ngoài chợ chém đầu.
Ung Lẫm cùng các quan lại nhóm họp
nơi nhà Cao Quốc để bàn việc cho người sang nước Lỗ, rước Công tử Củ về nối
nghiệp.
Còn Liên-thị, vợ Vô Tri hay được
tin cả sợ, rút gươm tự-vận.
Tính lại, từ lúc Vô Tri lên ngôi
đến nay chỉ có một tháng mà thôi.
Ngày kia, Lỗ Trang-công đang ngồi
nghị việc, xảy có nước Tề đem thư đến, kể rõ việc giết Vô Tri và xin rước Công
tử Củ về nước.
Lỗ Trang-công cả mừng, muốn cho
người cất quân đưa Công tử Củ đi.
Xảy có Thi Bá bước vào tâu:
- Tâu Chúa công, nước Tề bị tai
biến, đó là việc tốt. Hễ Tề yếu thì Lỗ mạnh xin Chúa công hãy thư thả mà tính
việc.
Lỗ Trang-công nghe nói lòng dù dự
chưa quyết.
Lại nói đến nàng Văn-khương, từ
khi nghe Tề Tương-công bị giết liền bỏ đất Chước trở về Lỗ, khuyên Lỗ Trang-công
cất quân đánh Tề để báo thù cho anh mình. Nay được nghe kẻ thù Vô Tri bị giết
liền hối thúc Lỗ Trang-công đưa Công tử Củ về kế vị.
Lỗ Trang-công tuy nể lời Thi Bá nhưng
không dám cãi lời mẹ, liền khiến người đem quân hộ tống Công tử Củ về nước.
Quản Di Ngô nghe được tin vội vã
vào triều tâu với Lỗ Trang-công:
- Tâu Chúa công, Tề Tương-công hiện
còn hai đứa con là Công tử Củ và Công tử Tiểu Bạch.
Hiện nay Tiểu Bạch đang trú nơi
nước Cử là nước giáp liền với Tề. Tôi e Tiểu Bạch được tin về nước trước mà lên
ngôi. Vậy xin Chúa công cho tôi mượn một con ngựa hay và một ít quân binh đặng
đón đường Tiểu Bạch. Như thế mới tranh ngôi cho Công tử Củ được.
Lỗ Trang-công hỏi:
- Ngươi muốn đem bao nhiêu quân?
Quản Di Ngô đáp:
- Không cần nhiều lắm. Chỉ độ ba
mươi cỗ xe là đủ.
Lỗ Trang-công liền phát binh.
Quản Di Ngô lãnh mạng kéo quân
đi.
Ngay lúc ấy, bên nước Cử, Công tử
Tiểu Bạch cũng đã hay tin Vô Tri bị giết, liền bàn với Bão Thúc Nha mượn một
trăm cỗ xe của nước Cử, hộ tống trở về Tề.
Cử và Tề sát biên giới, Công tử Tiểu
Bạch đi chưa bao lâu đã khỏi biên giới nước Cử.
Còn Quản Di Ngô đem binh đuổi
theo, đến biên giới thì đã nghe tin Tiểu Bạch đi qua rồi.
Quản Di Ngô vội vã đuổi theo hơn
ba mươi dặm nữa mới theo kịp.
Vừa thấy Tiểu Bạch, Quản Di Ngô gọi
lớn:
- Từ ngày các mặt nhau đến nay Công
tử vẫn được mạnh giỏi chứ? Chẳng hay Công tử cất binh đi đâu mà gấp lắm vậy?
Công tử Tiểu Bạch đáp:
- Tôi muốn về nước lo việc
cư-tang cho phụ thân tôi.
Quản Di Ngô nói:
- Việc cư-tang đã có Công tử Củ
là anh cả, còn Công tử là em thì vội làm gì. Xin hãy đình lại đã.
Thúc Nha nói:
- Chúng ta, ai vì chúa nấy xin Di
Ngô chớ nhiều lời.
Nói xong, thúc quân tiến bước.
Quản Di Ngô muốn cản lại, nhưng
thấy binh của Tiểu Bạch đông hơn binh mình gấp bội, liệu thế khó đương bèn rút
cung tên nhắm ngay Tiểu Bạch bắn một mũi.
Tiểu Bạch la lên một tiếng, trào
máu miệng té ngửa trong xe.
Thúc Nha thất kinh, lật đật đến cứu.
Bọn tùy tùng trông thấy khóc rống
lên.
Quản Di Ngô tin chắc Tiểu Bạch đã
thác, vội vã quảy xe lui binh trở về lòng hớn hở, nghĩ thầm:
- Công tử Củ có phước lắm! Thế là
ngôi báu kia không còn ai tranh đoạt nữa!
Khi về đến nơi, Quản Di Ngô thuật
rõ câu chuyện bắn chết Tiểu Bạch cho Lỗ-hầu nghe.
Lỗ-hầu lấy làm thích thú, truyền
dọn tiệc ăn mừng rồi lo việc đưa Công tử Củ về nước.
Tuy-nhiên, Quản Di Ngô đã lầm,
mũi tên kia không giết được Công tử Tiểu Bạch, vì mũi tên đó xẹt qua chiếc dây
đai thắt lưng. Còn Công tử Tiểu Bạch là người lanh trí, biết tài bắn của Quản Di
Ngô nên giả vờ cắn chót lưỡi phun máu ra, rồi ngã ngửa trên xe, để Quản Di Ngô khỏi
bắn tiếp mũi tên thứ hai. Trí của Tiểu Bạch lanh như vậy đến nỗi Thúc Nha cũng
không ngờ. Khi thấy Tiểu Bạch không bị thương tích gì, Thúc Nha vội thay quần
áo và giấu vào trong một cỗ xe riêng, hối quân tiến gấp.
Ðến nơi, Thúc Nha vào thành, ra mắt
các quan, tiến cử Công tử Tiểu Bạch và xin lập lên kế vị.
Các quan nói:
- Chúng tôi đã cho người qua nước
Lỗ, rước Công tử Củ rồi, nếu bây giờ tôn Tiểu Bạch lên nay mai Công tử Củ về tới
biết liệu.
Thúc Nha nói:
- Nước không nên để một ngày
không có vua. Các quan đi rước Công tử Củ mà Công tử Củ chưa về, còn Công tử Tiểu
Bạch lại có mặt. Ðó là lòng trời muốn Tiểu Bạch lên ngôi. Vả lại, nếu để nước Lỗ
đem binh đưa Công tử Củ trở về phục nghiệp thế nào nước Lỗ cũng kể công ơn mà
đòi hối lộ như trường hợp nước Tống với Trịnh Hốt ngày trước, thật là xấu hổ.
Các quan Ðại-phu lại nói:
- Nếu vậy chúng ta phải dùng kế
chi mà trả lời với Lỗ-hầu?
Thúc Nha nói:
- Hễ nước đã có vua tự nhiên Lỗ-hầu
phải kéo binh về, không cần phải dụng kế gì cả.
Quan Ðại-phu Thấp Bằng và Ðông Quách
Nha đều khen phải.
Bèn mở cửa thành rước Công tử Tiểu
Bạch vào tôn lên ngôi, tức là Tề Hoàn-công.
Tề Hoàn-công được Thúc Nha giúp đỡ,
chỉnh đốn việc triều chính, ban bố ân đức cho mọi người.
Các quan tuy tôn Tề Hoàn-công lên
ngôi, song lòng hồi họp lo lắng, sợ binh Lỗ kéo đến bất ngờ.
Bão Thúc Nha tâu với Tề Hoàn-công:
- Bây giờ muốn cho cả triều thần
được an tâm, xin Chúa công cho một đạo binh ra đón nơi biên thùy để ngăn quân Lỗ
thì khỏi lo gì cả.
Tề Hoàn-công chuẩn tấu, sai Trọng
Tôn Thu dẫn ba trăm chiến xa ra đóng nơi quan ải, nếu binh Lỗ kéo đến thì nói
cho Lỗ-hầu biết là nước Tề đã có vua.
Ngày kia, Lỗ Trang-công kéo binh
rần rộ, đưa Công tử Củ về nước để phục nghiệp. Nhưng vừa tới biên giới, hay được
sự tình lòng hậm hực, nói:
- Theo thứ tự, hễ lớn thì được nối
ngôi, nay Tiểu Bạch là em lại tranh giành như vậy thật là vô lễ. Ta quyết không
chịu lui binh.
Trọng-thu thấy thái độ giận dữ của
Lỗ-hầu lập tức viết thư về triều cáo cấp.
Tề Hoàn-công hỏi Thúc Nha:
- Quân Lỗ không chịu lui thì làm
thế nào?
Thúc Nha đáp:
- Nếu không lui binh thì ta phải
đem binh chống cự.
Tề Hoàn-công lập tức khiến
Vương-tử Thành-phù và Ninh Việt cầm đạo binh bên tả, Ðông Quách Nha cầm đạo
binh bên hữu, Ung Lẫm đi tiên phong còn Thúc Nha thì phò xe giá đi trung quân.
Ðông Quách Nha quỳ tâu:
- Quân Lỗ thế nào cũng sợ ta dự bị
trước, chẳng dám tiến gấp, nay xin đem quân ra nơi đất Kiều-thời mà mai phục,
chờ cho quân Lỗ đến đó đồn binh, chúng ta xuất kỳ bất ý xua binh hỗn chiến, làm
cho hàng ngũ binh Lỗ rối loạn thì thế nào cũng đặng trọn thắng.
Thúc Nha khen phải, khiến Trọng
Tôn Thu và Ninh Việt kéo binh đi trước, chận đường mai phục sẵn, còn Vương-tử Thành
Phủ và Ðông Quách Nha thì đi đường tắt, chận đường về. Lại khiến Ung Lẫm dẫn một
đạo binh đi dọ thám, hễ gặp binh Lỗ thì giả thua mà dụ địch. Các tướng tuân lệnh,
kéo binh ra đi.
Khi Lỗ Trang-công và Công tử Củ
kéo binh đến đất Kiều-thời, Lỗ Trang-công ra lệnh đóng quân đồn trú.
Quản Di Ngô nói:
- Tiểu Bạch vừa lên ngôi, việc
quân chưa định, nay phải đánh gấp, nếu diên trì e khó thắng.
Lỗ Trang-công nói:
Tiểu Bạch đoạt ngôi anh, thế nào
cũng đề phòng, nếu ta ào ạt kéo đến không khỏi lầm kế. Vậy cứ đóng quân nơi đây
dò xét tình hình rồi sẽ liệu.
Lỗ Trang-công nói vừa dứt lời, có
quân thám thính về báo:
- Binh Tể đã đến, Ung Lẫm dẫn một
đoàn binh đến đây cách chừng vài dặm.
Lỗ Trang-công nói:
- Nếu ta không đề phòng ắt lầm kế
của quân Tề rồi.
Liền khiến Lương Tử và Tần Tử dàn
quân ra hai đạo tiếp ứng.
Còn Lỗ Trang-công đốc quân tiến tới.
Vừa gặp Ung Lẫm, Lỗ Trang-công chỉ
vào một mắng:
- Ngươi đã ra công giết Vô Tri,
cho người sang Lỗ rước Công tử Củ về tức vị, cớ sao ngươi lại lập Tiểu Bạch lên.
Thế thì còn gì là tín nghĩa?
Nói rồi trương cung bắn Ung Lẫm.
Ung Lẫm giả đò hổ ngươi đem binh
trở lại.
Lỗ Trang-công khiến Tào Muội đuổi
theo.
Ung Lẫm quay xe trở lại đánh.
Nhưng đánh chưa được mười hiệp lại
bỏ chạy nữa.
Tào Muội tức giận, đốc binh tiến
tới.
Lỗ Trang-công sợ Tào Muội có điều
sơ thất, liền khiến Tần Tử và Lương Tử kéo binh theo tiếp ứng.
Hai tướng kéo binh đi chưa khỏi
vài dặm đường bỗng gặp đạo quân của Bão Thúc Nha chặn lại.
Hai bên giao chiến rất hăng.
Lỗ Trang-công được tin vội vã kéo
đại binh đến tiếp cứu, chẳng ngờ vừa tới nơi thì binh phục của Ninh Việt và Tôn
Trọng Thu đã chờ sẵn, nổi dậy phủ vây bốn mặt.
Binh Lỗ bị chận đánh nhiều đoạn,
quân lực không đủ, lại bị đánh bất ngờ, hàng ngũ rối loạn bỏ chạy.
Bão Thúc Nha xua binh chém giết một
hồi, rồi hô lớn:
- Ai bắt được Lỗ-hầu thì được trọng
thưởng.
Binh Tề được lịnh xông vào đạo
trung quân vây rất ngặt.
Tần Tử thất kinh vội rút cây cờ
hiệu của Lỗ Trang-công quăng xuống đất.
Lương Tử lại nhặt lên, cắm vào xe
mình.
Tần Tử hỏi:
- Ta đã muốn cứu nguy cho Chúa
công nên mới quăng cờ đi, sao Tướng quân lượm làm chi?
Lương Tử đáp:
- Ta cũng vì muốn cứu nguy cho Chúa
công mà lượm đó.
Lỗ Trang-công hiểu ý cởi cả áo
mão bỏ trên xe Lương Tử, rồi sang qua xe khác mà trốn.
Lương Tử tiếp lấy áo mão mặc vào,
rồi đốc binh cự địch.
Ninh Việt thấy trên xe có cắm cờ
hiệu, lại có người mặc long bào, ngỡ là Lỗ Trang-công, nên dồn cả quân lực về
phía đó, quyết bắt sống cho được để lãnh thưởng.
Lương Tử chống cự một lúc, rồi cởi
áo, nói lớn:
- Ta đây là Lỗ-tướng chứ đâu phải
Lỗ-hầu mà chúng bay đánh hăng như vậy?
Quân Tề nghe nói, xem lại thấy tướng
Lỗ là Lương Tử, nỗi giận chưởi rủa om sòm, rồi áp lại bắt sống, đem nạp cho Tề Hoàn-công.
Tề Hoàn-công truyền chém đầu tại
chỗ.
Bão Thúc Nha biết Lỗ Trang-công đã
trốn thoát liền xua quân đuổi theo truy kích.
Quân sĩ la ó vang trời.
Lúc đó, Quản Di Ngô đang phòng thủ
nơi hậu dinh, nghe tin báo trung quân của Lỗ-hầu bị bại trận, liền khiến Thiệu
Hốt ở lại phò Công tử Củ, còn mình xuất quân cứu ứng.
Vừa ra khỏi dinh đã gặp Lỗ Trang-công
hớt hải dẫn một số tàn quân chạy về.
Lỗ Trang-công nói:
- Quân ta đại bại, thế giặc rất
hăng. Phải gấp gấp nhổ trại lui binh kẻo không kịp.
Quản Di Ngô tuân lệnh, truyền nhổ
trại tức khắc.
Ði chưa được bao xa, xảy thấy trước
mặt có một đạo binh kéo đến.
Ấy là binh của Vương-tử Thành Phủ
và Ðông Quách Nha vâng lệnh Bão Thúc Nha phục binh đón đường về.
Lỗ Trang-công thất kinh than rằng:
- Ta đã lầm kế phục binh, trận này
ắt khó thoát!
Tào Muội thấy thế vội nói lớn:
- Chúa công hãy mau đi trước, để
tôi liều thác đây mà cự với giặc.
Nói xong, quay qua hỏi Tần Tử:
- Tướng quân có vui lòng cùng tôi
hy sinh chăng?
Tần Tử nói:
- Ðiểu đó ngài khỏi phải bận tâm.
Hai người giục ngựa tới trước,
vung gươm cản Vương-tử Thành-phù và Ðông Quách Nha lại.
Còn Quản Di Ngô thì phò Lỗ Trang-công,
Thiệu Hốt phò Công tử Củ tìm đường tắt mà chạy về nước Lỗ.
Hai tướng Tề thấy Lỗ-hầu chạy
thoát liền bỏ Tào Muội và Tần Tử, giục ngựa đuổi theo.
Lỗ Trang-công vội vàng rút cung
tên bắn trở lại.
Quản Di Ngô cũng tiếp tay.
Lỗ Trang-công và Quản Di Ngô là
hai tay thiện-xạ, nên tướng Tề cả sợ chẳng dám tới gần.
Đến lúc Tào Muội và Tần Tử theo kịp
thì hai tướng Tề không dám đuổi theo nữa, quay lại đánh.
Tào Muội chống cự một lúc rồi mở
huyết lộ thoát thân, còn Tần Tử thì bị chết giữa trận tiền.
Giết được tướng Lỗ, quân Tề đắc
thắng trở về.
Bão Thúc Nha ra lệnh tập họp các
toán binh sĩ, rồi cùng nhau hộ giá hồi loan.
Về đến Lâm-tri, Tề Hoàn-công mở
tiệc khao thưởng ba quân. Chúa tôi vui mừng hỉ hả.
Bão Thúc Nha nói:
- Công tử Củ còn ở bên Lỗ, có Quản
Di Ngô và Thiệu Hốt phò tá lại thêm Lỗ-hầu bị thất bại vừa rồi, hết tình giúp đỡ,
như thế thì mầm khởi loạn vẫn còn, chưa phải lúc chúng ta hoan hỉ.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Vậy muốn trừ hậu hoạn phải làm
thế nào?
Bão Thúc Nha nói:
- Nay nhân Lỗ-hầu vừa thất trận,
quân sĩ kinh hoàng, chúa tôi thất đởm, ta nhân cơ hội này kéo binh đến đóng nơi
biên giới, ép Lỗ-hầu phải nạp Công tử Củ. Tôi chắc rằng Lỗ-hầu phải sợ mà tuân
lời.
Tề Hoàn-công nói:
- Mọi việc ta cũng ủy thác cho
khanh, vậy khanh hãy liệu lượng.
Bão Thúc Nha được lệnh, kiểm điểm
ba vạn binh ròng và hai trăm cỗ chiến xa, kéo đến đóng nơi mé sông Vạn thủy. Rồi
viết một phong thư sai Công tôn Thấp Bằng đem dâng cho Lỗ Trang-công.
Bức thư như sau:
“Ngoại-thần Bão Thúc Nha kính
đệ Lỗ-hầu ngự lãm. Thuở nay, nhà không hai chủ, nước không thể để hai vua. Nay
Chúa tôi đã thuận theo lòng dân, lên tức vị, nối nghiệp Tiên-quân thế mà Công tử
vẫn còn tranh lập là trái lẽ. Tuy nhiên, Chúa tôi vì tình ruột thịt không nỡ
nhúng tay trong việc cốt nhục tương tàn, cho nên cậy tay hiền-hầu vì Chúa tôi,
mà giúp việc ấy. Còn Quản Di Ngô và Thiệu Hốt là ngươi thù của Chúa tôi, xin hiền-hầu
bắt nạp về cho Chúa tôi trị tội. Được thế, tình thân của hai nước Tề và Lỗ sẽ bền
vững muôn đời”.
Khi Thấp Bằng lãnh thư ra đi, Thúc
Nha lại dặn thêm:
- Quản Di Ngô là người kỳ tài
trong thiên hạ, tôi đã tâu với Chúa công xin đem va về dùng. Vậy tướng quân đến
đó phải tùy cơ ứng biến, đừng để cho Quản Di Ngô bị chết hoặc liều mình.
Thấp Bằng nói:
- Nếu Lỗ-hầu muốn giết, thì tôi
biết lấy lời gì mà can đặng?
Thúc Nha nói:
- Tướng quân nhắc lại chuyện bắn Chúa
công, ắt Lỗ-hầu phải nghe theo.
Thấp Bằng tuân lệnh, lãnh thư ra
đi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét