Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

Đông Chu liệt quốc (Hồi thứ 16 - 20)

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

Hồi thứ 16.
Giữ lời hứa, Thúc Nha tiến Quản Trọng
Lập mưu cao, Tào Quới thắng binh Tề

Thấp Bằng qua đến nước Lỗ, dâng thư cho Lỗ Trang-công.

Lỗ Trang-công vội vã cho đòi Thi Bá đến, nói:

Ngày trước vì ta không nghe lời ngươi nên mới bị thua, nay binh lao mã liệt, Tiểu Bạch lại còn sai Bão Thúc Nha đem quân đến biên giới, đòi nạp Công tử Củ nữa. Nay chỉ có hai đường. Một là giết Công tử Củ, hai là quyết sống chết với Tề một phen, ý khanh liệu thế nào?

Thi Bá nói:

- Tiểu Bạch mới lập lên mà được lòng quân mến phục. Đánh một trận nơi Kiều-thời, ta đã thấy rõ Tiểu Bạch tài trí hơn Công tử Củ nhiều. Nếu vì tình mà bảo vệ Công tử Củ, e nước Lỗ phải lâm nguy. Còn giết Công tử Củ để bảo vệ nước Lỗ, lại tổn thương đến tình nghĩa. Hai việc rất khó tính.

Lỗ Trang-công suy nghĩ một lúc rồi hỏi:

- Khanh có cách gì tính cho song toàn chăng?

Thi Bá nói:

- Đành phải hy sinh Công tử Củ vậy.

Lỗ Trang-công ứa nước mắt, ruột xót như bào.

Lúc bấy giờ Công tử Củ, Quản Di Ngô và Thiệu Hốt đang ở tại Sanh-đầu.

Lỗ Trang-công sai Công tử Yến đem binh đến giết Công tử Củ, bắt Quản Di Ngô và Thiệu Hốt bỏ vào tù xa.

Thiệu Hốt thấy vậy than rằng:

- Làm con nên vì cha mẹ mà chết, làm tôi nên vì Chúa mà hy-sinh, ấy mới phải đạo. Nay Công tử Củ đã chết thì Hốt này còn sống mà làm chi.

Nói rồi đập đầu vào một cây cột mà tự vận.

Quản Di Ngô nói:

- Nếu Thiệu Hốt đã liều chết theo Chúa, thì ta cũng nên vì Chúa mà giữ thân này lại, để có ngày minh oan cho Chúa ta.

Nói rồi bó tay chịu trói mà vào tù xa.

Công tử Yến giải Quản Di Ngô về triều.

Thi Bá thấy Quản Di Ngô liền tâu với Lỗ Trang-công:

- Công tử Củ đã chết, lẽ ra Quản Di Ngô phải vì Chúa và buồn rầu, nhưng tôi trông sắc mặt của va vẫn tươi tỉnh như thường, tỏ rằng va không sợ nước Tề bắt về giết. Nếu Tề đã không giết ắt dùng va, mà va là một nhân tài có thể đồ vương, định bá được. Vậy xin Chúa Công lưu lại mà dùng.

Lỗ Trang-công nói: “Quản Di Ngô là kẻ thù của Tiểu Bạch, lẽ nào Tiểu Bạch lại chịu dùng?”

Thi Bá nói:

- Một ông vua chí lớn, biết mưu đồ đại sự sẽ không vì một tư thù nhỏ mọn mà giết đi một nhân tài. Nếu Chúa công không muốn dùng, xin đem giết đi rồi trả xác lại cho Tề mới khỏi lo về sau.

Lỗ Trang-công còn đang dụ dự, Thấp Bằng vội quỳ tâu:

- Quản Di Ngô trước kia đã bắn Chúa công, Chúa công tôi muốn tự tay mình giết chết mới hả lòng. Nay nếu quý quốc đem giết đi, rồi trả xác lại, ắt Chúa công tôi sẽ không nguôi được giận.

Lỗ Trang-công giết Công tử Củ cốt làm hài lòng nước Tề, nay sứ nước Tề tỏ ý như thế, nên không dám giết Quản Di Ngô, bèn truyền đem Quản Di Ngô giao cho sứ Tề giải về nước.

Thấp Bằng lãnh tù xa, rồi bái biệt lui về.

Ngồi trong tù xa, Quản Di Ngô đoán biết đó là mưu của Bão Thúc Nha muốn cứu mình. Song lại sợ Thi Bá ăn năn cho người đuổi theo bắt giết đi, nên nóng lòng, muốn cho quân sĩ mau mau vượt qua khỏi biên giới Lỗ.

Quản Di Ngô bèn đặt ra bài hát cho vui mà quên cực nhọc, để đi cho mau.

Bài hát như vầy:

Thương chim hồng hộc mắc lồng
Ngoài kia bát ngát chập chổng núi non
Tấm lòng son, dạ không mòn
Rừng cây còn đó, chim càng ước mong
Màn vũ trụ, thu phong man mác
Kiếp hải hồ, mây bạc lửng lơ
Lồng son của kín bây giờ
Ngày mai ai biết mà ngờ ngày mai

Thực vậy nhờ bài hát ấy mà quân sĩ quên cả mệt nhọc đi rất mau không mấy lúc qua khỏi biên giới nước Lỗ.

Lỗ Trang-công sau khi đàm luận với Thi Bá, ăn năn hối hận, vội sai Công tử Yến đem quân đuổi theo để bắt Quản Di Ngô lại, nhưng theo không kịp, đành phải trở về.

Quản Di Ngô ngước mặt lên trời cười lớn, nói:

- Mạng ta chắc đặng sống rồi.

Khi đi tới đất Đường-phụ, Bão Thúc Nha đã chờ sẵn nơi đó để nghênh-tiếp.

Vừa thấy mặt Quản Di Ngô, Thúc Nha mừng rỡ chạy đến mở tù xa đưa Quản Di Ngô ra.

Quản Di Ngô nói:

- Chưa có quân-mạng sao lại mở tù xa.

Bão Thúc Nha nói:

- Không hề chi, tôi sẽ tiến cử ông với Tề-hầu. Ông đã quên lời hứa của chúng ta ngày trước rồi sao?

Quản Di Ngô nói:

- Làm sao mà quên được. Nhưng trước kia khác, nay khác. Tôi với Thiệu Hốt phò Công tử Củ mà chẳng làm nên việc, lại không trọn tiết làm tôi, còn mặt mũi nào dám chịu ơn kẻ địch!

Bão Thúc Nha nói:

- Câu chấp những việc nhỏ nhặt không thể thành danh được, cũng như không nhẫn nhục được những tiếng xấu nhỏ nhen, chẳng bao giờ làm nên đại sự. Ông có tài trị thiên hạ nhưng chưa gặp thời, còn chúa tôi là một người đại lượng, nhưng thiếu người giúp. Nếu ông không tị hiềm phò chúa tôi, chẳng khác nào như cây nước gặp nhau, dựng nên nghiệp bá, oai danh lừng lẫy trong thiên hạ, để tiếng muôn đời, thật là quí hóa.

Quản Di Ngô làm thinh như đang suy nghĩ điều gì.

Bão Thúc Nha mở trói, dắt Quản Di Ngô vào nhà công quán đãi đằng, rồi cầm Quản Di Ngô ở lại nơi Đường-phụ, một mình trở về triều ra mắt Tề Hoàn-công, tâu rằng:

- Tôi về đây để chia buồn và đồng thời cũng chia vui với Chúa công.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Có việc gì buồn, vui ta chưa hề biết?

Bão Thúc Nha nói:

- Việc buồn là Công tử Củ, anh ruột của Chúa công đã bỏ mình. Biết rằng vì nước bất đắc dĩ phải để Công tử Củ chết, nhưng tình cốt nhục không thể không buồn!

Tề Hoàn-công nghe nói thở dài.

Bão Thúc Nha nói tiếp:

- Còn việc vui là Quản Di Ngô chưa chết, và đã được đưa về nước Chúa công sẽ gặp được một nhân tài lẽ nào lại chẳng vui.

Tề Hoàn-công nói:

- Quản Di Ngô bắn ta một mũi tên, hiện nay mũi tên ấy ta còn giữ, lòng oán hận chưa nguôi, lẽ nào ta lại dùng va được sao?

Bão Thúc Nha nói:

- Làm tôi thì ai cũng phải hết lòng vì Chúa. Quản Di Ngô bắn Chúa công là vì lúc đó Quản Di Ngô phò Công tử Củ, trong lòng chỉ biết có Công tử Củ mà không biết đến Chúa công. Nay Chúa công dùng Quản Di Ngô, thì Quản Di Ngô lại vì Chúa công mà bắn thiên hạ. Chính những kẻ như thế mới đáng là trung thần.

Tề Hoàn-công tươi ngay nét mặt, như hiểu được sự kỳ diệu của lòng người, nói:

- Nếu khanh không nói, thì ta đã nghĩ đến điều oán hận nhỏ nhen mà quên cả đại sự.

Bão Thúc Nha cả mừng cúi lạy lui ra, đến đón Quản Di Ngô, mời về tư dinh mà bàn bạc.

Tề Hoàn-công nghị thưởng các công thần đã có công với nước, phong cho Cao Quốc làm chức Thế-khanh, và Bão Thúc Nha làm Thượng khanh, lại muốn giao hết việc triều-chính cho Bão Thúc Nha.

Bão Thúc Nha tâu:

- Chúa công ban ơn cho tôi được no ấm thì cũng đủ rồi, còn việc trị nước, tài tôi thật không đủ.

Tề Hoàn-công nói:

- Ta hiểu tài đức của khanh lắm, khanh chớ khiêm nhượng làm chi.

Bão Thúc Nha nói:

- Chúa công biết tôi là người kính cẩn, có thể giữ đúng bổn phận của mình chứ không phải có tài chính trị. Tài chính trị phải là kẻ nhìn xa thấy rộng, trên hiểu lòng vua, dưới rõ bụng dân, biết sức mình, lượng sức địch, lúc thái bình cũng như cơn nguy biến, đủ sức làm chủ được mình mà điều khiển công việc. Những điều đó tôi không thể có được.

Tề Hoàn-công nghe nói mỉm cười, bước đến bên Thúc Nha hỏi nhỏ:

- Người mà khanh vừa nói đến, trong đời này có thể có được chăng?

Bão Thúc Nha nói:

- Có người đó đang ở trong nước chúng ta. Nếu Chúa công xét thấy cần người như vậy thì đã sẵn có Quản Di Ngô.

Tề Hoàn-công nói:

- Tài Quản Di Ngô lại hơn khanh được sao?

Bão Thúc Nha nói:

- Có năm điều tôi không bằng được Quản Di Ngô: Thứ nhất, rộng rãi mềm mỏng, ra ơn với dân, tôi không bằng được. Thứ hai, lấy trung tín mà mua lòng bá tánh, tôi không bằng được. Thứ ba, trị nước không sai giềng mối, tôi không bằng được. Thứ tư, chế lễ nghĩa ra khắp bốn phương, tôi không bằng được. Thứ năm, cầm dùi thẳng đứng giữa ba quân giục lòng quân sĩ, tôi không bằng được.

Tề Hoàn-công nói:

- Nếu Quản Di Ngô là kẻ có tài thì khanh cho đòi vào yết kiến, để ta xem thư tài học vấn của Quản Di Ngô đến bực nào?

Bão Thúc Nha nói:

- Người hèn không dám gần gũi với kẻ sang, kè sơ không dám sánh với người thân. Nếu Chúa công muốn dùng Quản Di Ngô thì phải cho va làm đến chức Tướng-quốc, đối đãi như sư phụ, thì con người tài ấy mới đem hết sở năng của mình mà hiến cho Chúa công được.

Tề Hoàn-công nói:

- Theo ý của khanh thì ta phải làm cách nào để triệu Quản Di Ngô?

Bão Thúc Nha nói:

- Quản Di Ngô là bậc phi thường trong thiên hạ. Các bậc Tiên-vương thuở xưa muốn được người hiền phải thân hành đem lễ vật đến cầu. Lúc người hiền đã về triều thì phải để ăn chung một bàn, ngồi chung một chiếu. Xin Chúa công hãy noi gương ấy để thiên hạ thấy Chúa công là người biết quý kẻ hiền sĩ.

Tề Hoàn-công nghe lời, đòi quan Thái-bốc đến hỏi ngày lành, rồi thân hành đi đón Quản Di Ngô.

Bão Thúc Nha tin cho Quản Di Ngô biết trước để nghinh đón.

Tề Hoàn-công và Quản Di Ngô cùng ngồi chung một xe mà về triều.

Mọi người đón xem đông đặc, ai nấy đều lấy làm lạ lùng.

Quản Di Ngô về đến Kim-loan điện, phục lạy Tề Hoàn-công, và tâu:

- Tâu Chúa công, tôi là kẻ trọng tội, đáng chết, được Chúa công dung thứ đã là may lắm. Nay Chúa công lại nhọc lòng ban ơn nữa. Thật tôi không biết phải lấy gì đến đáp cho xứng đáng.

Tề Hoàn-công nói:

- Tiên-quân ta có âm đức rất lớn, mới khiến ta được gặp khanh. Vậy khanh hãy vì ta mà có đôi lời chỉ giáo, chẳng những ta mang ơn, mà cả dân chúng nước Tề cũng lấy làm vinh hạnh.

Nói xong, đỡ Quản Di Ngô dậy, mời ngồi nơi chiếc cẩm đôn bên cạnh.

Quản Di Ngô sụp lạy rồi mới lên ghế ngồi.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Nước Tề ta vốn là một nước lớn, Tiên-quân ta là Hi-công đã làm cho các chư hầu kính nể. Đến đời Tương-công chính lệnh bất thường, đến nỗi xảy ra tai biến. Nay ta vừa mới lên ngôi, lòng dân chưa định thế nước chưa yên, nay muốn cho nước mạnh dân an phải làm điều gì trước?

Quản Di Ngô nói:

- Lễ, nghĩa, liêm, sỉ là bốn điều cốt yếu để trị nước. Nếu thiếu một trong bốn điều đó tai biến sẽ xảy ra. Nếu cả bốn điều đó không có, thì nước sẽ mất.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Nếu đã có bốn điều đó thì dùng cách nào mà trị dân?

Quản Di Ngô nói:

- Muốn trị dân trước hết phải yêu dân.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Muốn yêu dân phải làm cách nào?

Quản Di Ngô nói:

- Yêu dân phải dạy dân lấy đạo thân ái, chăm sóc đời sống hàng ngày cho dân, bớt xâu giảm thuế, làm cho dân giàu. Hễ dân giàu tức là nước mạnh.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Dân giàu, nhưng binh-khí, quân-cụ trong nước thiếu thốn thì phải làm sao?

Quản Di Ngô đáp:

- Muốn đủ binh khí, quân cụ thì hình pháp trong nước nên đặt lệ cho chuộc tội: Tội nặng cho chuộc một cái tê giáp, tội nhẹ cho chuộc một cái quy thuẫn, tội nhỏ cho nạp kim khí, tội nghi thì tha hẳn. Kẻ nào tụng lý tương đối thì bắt nộp một bó tên rồi giải hòa. Làm như thế ắt quân dụng không thiếu.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Đã làm như vậy nhưng không đủ dùng thì phải làm sao?

Quản Di Ngô nói:

- Khai mỏ, đúc tiền, nấu nước bể làm muối, trữ hàng hóa lấy lãi, cắt ba trăm nhà nữ-lưu cho các khách buôn bán đi lại tụ họp ở đó mà đánh thuế. Như vậy, công quỹ phải đủ dùng.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Của dùng đã đủ, nhưng quân lính còn ít, không đủ sức mạnh thì làm sao?

Quản Di Ngô nói:

- Quân không cần nhiều, chỉ cần tinh nhuệ. Mạnh không vì sức, mà cốt ở tinh thần. Do đó, Chúa công muốn có binh mạnh chỉ cần giữ vững lòng quân, rèn luyện kỹ thuật chiến đấu là đủ.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Binh thế đã mạnh, có nên đi đánh các nước chư hầu chăng?

Quản Di Ngô đáp:

- Chưa nên đánh vội. Làm chủ các chư hầu không phải đem sức mạnh hăm dọa, mà phải đem đạo đức ra chinh phục. Trước hết, phải đặt mình lên một địa vị chính đáng đã, sau sẽ dùng cái địa vị đó mà trấn an các chư hầu.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Làm thế nào để đặt mình vào địa vị chính đáng?

Quản Di Ngô đáp:

- Danh chính ngôn thuận là ý muốn của mọi người. Các chư hầu đều có bổn phận phải tuân vương-mạng. Vậy trước tiên, Chúa công phải kính trọng nhà Châu và bắt các chư hầu cũng phải kính trọng như mình.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Rồi làm thế nào để trấn an các chư hầu.

Quản Di Ngô đáp:

- Phải đem đạo đức mà giao hữu với họ. Đem tất cả các đất đai đã chiếm được trả cho họ để tỏ ra mình không tham lam, lại đem lễ vật đến khắp nơi cầu người hiền đem về nước mà dùng. Nước chư hầu nào bị loạn tặc, đem quân đến cứu. Làm như vậy nước nào không mến phục.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Xưa nay đất rộng, dân đông là biểu hiệu cho nước giàu mạnh mà khanh lại bảo không nên đem quân lấn đất giành dân thì làm sao cho nước hùng?

Quản Di Ngô nói:

- Đem sức mạnh chiếm đất cũng chỉ chiếm được một phần nhỏ nào thôi, vì chiếm rồi còn phải giữ, nếu không đủ sức giữ sẽ bị mất. Còn đem đạo đức mà chiếm đặt thì đặt không cần phải giữ, do đó có thể chiếm bao nhiêu cũng được.

Tề Hoàn-công cùng Quản Di Ngô nói chuyện trong ba ngày đêm, mà không biết chán.

Tề Hoàn-công lấy làm đắc ý, phong cho Quản Di Ngô làm Tể-tướng.

Quản Di Ngô từ chối không nhận.

Tề Hoàn-công nói:

- Bởi ta muốn theo sách lược của khanh nên phải dùng khanh bỉnh chánh, cớ gì khanh lại từ chối?

Quản Di Ngô nói:

- Không phải sức một cây gỗ có thể làm nên một nhà lớn, không phải sức một giòng nước tạo nỗi một bể cả. Nếu Chúa công đã có chí lớn thì nên dùng đến năm kiệt sĩ.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Năm kiệt-sĩ ấy là ai? Tài năng như thế nào?

Quản Di Ngô nói:

- Có tài giao thiệp, biết giữ lễ phép thì tôi không bằng Thấp Bằng, xin cho Thấp Bằng làm Đại Tư-hanh. Có tài khai khẩn, biết cách trồng trọt thì tôi không bằng Ninh Việt, xin cho Ninh Việt làm Đại Tư-điền. Có tài luyện tập quân sĩ, khiến cho người ta quên chết thì tôi không bằng Thành Phủ, xin cho Thành Phủ làm Đại Tư-mã. Có tài xử đoán, khiến người ta khỏi bị hàm oan, thì tôi không bằng Tân Tu Vô, xin cho Tân Tu Vô làm Đại Tư-lý. Có tính cương trực, thấy điều trái tất phải nói ngay, thì tôi không bằng Đông Quách Nha, xin cho Đông Quách Nha làm Đại Giám-quan. Chúa công trọng dụng năm người ấy ắt trong nước được cường thịnh.

Tề Hoàn-công nghe theo lời Quản Di Ngô phong chức cho năm người ấy, và quyết định phong cho Quản Di Ngô làm Tể-tướng.

Quản Di Ngô nói:

- Chúa công đã có chí lớn, dẫu tài tôi hèn mọn cũng xin cố sức mà vâng lệnh Chúa công.

Tề Hoàn-công lại hỏi:

- Ta bình sanh có tánh ưa săn bắn, lại thích nữ sắc chẳng hay hay điều ấy có hại đến nghiệp bá chăng?

Quản Di Ngô đáp:

- Đã rõ được nhược điểm của mình tất không hại.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Thế thì điều gì mới có hại cho nghiệp bá?

Quản Di Ngô nói:

- Không biết người hiền là hại. Biết người hiền mà không dùng là hại. Dùng người hiền mà không dám phú thác việc lớn là hại. Phú chác việc lớn mà để kẻ tiểu nhân xen vào là hại.

Tề Hoàn-công khen phải.

Từ đó công việc triều chính đều phó thác cho Quản Di Ngô, lại gọi Quản Di Ngô bằng Trọng-phụ. Hễ có việc gì lớn, đều hỏi ý kiến Quản Di Ngô trước. Tề Hoàn-công lại cấm người trong nước không được gọi Quản Di Ngô, mà chỉ gọi là Quản Trọng. Vì Trọng là tên chữ, còn Di Ngô là tên tộc.

Nhắc qua Lỗ Trang-công, từ ngày thả Quản Trọng về nước Tề có ý hơi tiếc, nay lại được nghe Tề-hầu phong cho Quản Trọng làm Tướng-quốc, lòng tức tối không an, kéo binh sang đánh trả thù việc thất trận ngày trước.

Tề Hoàn-công hay đặng tin, hỏi Quản Trọng:

- Ta mới lên ngôi, không muốn để cho nước ngoài tới đánh, vậy nên tính chuyện phạt Lỗ trước là hơn.

Quản Trọng nói:

- Quân chính chưa yên, chưa thể dùng chinh phạt được.

Tề Hoàn-công không nghe khiến Bão Thúc Nha làm tướng, đem binh thẳng đến đất Trường-thược mà đánh Lỗ.

Lỗ Trang-công hay tin, hỏi Thi Bá:

- Nước Tề khinh ta thái thậm. Ta muốn đem binh phạt Tề nhưng chưa kịp, thì Tề đã sai tướng sang đánh nước ta. Vậy khanh có kế chi cự địch chăng?

Thi Bá nói:

- Tôi xin tiến cử một người đủ tài trí, có thể đánh lui binh Tề đặng.

Lỗ Trang-công cả mừng, hỏi:

- Chẳng hay người ấy là ai?

Thi Bá nói:

- Tôi có quen biết ai một người ở ẩn tại làng Đông-bình, tên là Tào-quới, thuở nay chưa ra làm quan, nhưng kinh luân thao lược gồm đủ.

Lỗ Trang-công chuẩn tấu, khiến Thi Bá đến Đông-bình rước Tào-quới về triều.

Thi Bá đến nơi, nói rõ ý định của mình.

Tào-Quới vừa cười vừa nói:

- Người ăn thịt còn lo chưa nổi, huống hồ kẻ đang ăn rau.

Thi Bá nói:

- Ăn rau mà có tài rồi cũng đến ngày ăn thịt vậy.

Hai người dắt nhau đến yết kiến Lỗ Trang-công.

Lỗ Trang-công hỏi Tào-quới:

- Muốn cự binh Tề phái liệu kế chi?

Tào-quới tâu:

- Việc binh phải tùy cơ ứng biến. Chưa nắm được địch tình không thể định trước.

Lỗ Trang-công khen phải, bèn cùng với Tào-Quới cử binh kéo đến Trường-thược.

Bão Thúc Nha vì trước đây đã thắng binh Lỗ, nên nay có ý khinh địch. Nghe tin Lỗ-hầu kéo binh tới thì lập tức hạ lệnh tiến quân.

Trại quân Lỗ vừa đóng xong binh Tề đã ào tới.

Lỗ Trang-công muốn đem binh xuất trận, Tào Quái can rằng:

- Quân Tề ỷ mạnh, thế quân đang hăng. Ta nên chống giữ đã.

Nói xong, truyền cho quân sĩ chống giữ các cửa trại, nhất thiết không được trái lệnh.

Quân Tề thấy quân Lỗ không đánh, buộc phải rút lui.

Bão Thúc Nha nghĩ thầm:

- Quân Lỗ bị thất trận trước kia đến nay còn khiếp sợ, nếu ta giục trống đến cướp trại, ắt chúng phải bỏ chạy.

Nghĩ rồi giục trống cho quân sĩ ào tới trại Lỗ một lần nữa.

Quân Lỗ vẫn cố-thủ, quân Tề không làm sao xông vào nỗi, nên một lần nữa lại phải rút lui.

Lúc đó Tào-quới tâu với Lỗ Trang-công:

- Lúc này có thể phá quân Tề được, xin Chúa công ra lệnh tiến quân.

Lỗ Trang-công nghe theo, giục trống ra lệnh cho quân Lỗ ào ra khối trại, áp tới đánh quân Tề như vũ bão.

Tề cả thua, bỏ chạy.

Lỗ Trang-công muốn giục trống đuổi theo.

Tào-quới nói:

- Hãy khoan, xin để tôi xem lại thế trận đã. Nói xong, liền xuống xe, leo lên chỗ cao xem xét một hồi, rồi nói: Đúng là nên đuổi theo truy cản.

Lỗ Trang-công xua binh đuổi theo chém giết binh Tề, đoạt khí giới và lương thực không biết bao nhiêu mà kể.

---------------------------------------------

Hồi thứ 17.
Nước Tống ăn lễ giết Trường-vạn
Vua Sở tham sắc bắt Tức-hầu

Lỗ Trang-công phá xong binh Tề, đắc thắng kéo kinh về kinh đô, người người lòng vui khôn xiết.

Lỗ Trang-công mới hỏi Tào-quới:

- Thế chiến vừa rồi, tại sao ta lại thắng được giặc?

Tào-quới nói:

- Phàm việc quân lấy oai làm sức mạnh. Quân Tề xông trận đã hai phen, mà hai phen phải bị đẩy lui, thì oai của địch đã mất. Ta thừa lúc địch mất oai ta thị oai, như thế tất thắng.

Lỗ Trang-công nói:

- Lúc quân Tề đã thua chạy, ý gì khanh lại chưa cho truy cản.

Tào-quới đáp:

- Trong binh pháp có chỗ dĩ hư vi thiệt. Nhiều lúc địch-quân giả thua để mà thắng nếu không đề phòng ắt lầm kế. Vì vậy, trước khi truy cản phải nắm địch tình.

Lỗ Trang-công nghe nói khen ngợi chẳng cùng, phong cho Tào-Quới làm Đại-phu, và trọng thưởng Thi Bá về việc tiến cử hiền tài.

Quân Tề thất trận, kéo nhau về nước, manh giáp tơi bời.

Bão Thúc Nha vào yết kiến Tề Hoàn-công mà tạ tội.

Tề Hoàn-công tức giận nói:

- Không thắng được binh Lỗ thì làm sao các chư hầu kính nể?

Bão Thúc Nha nói:

- So với quân lực nước ta không kém Lỗ. Trước đây Lỗ đem binh đánh nước ta, Lỗ là khách, ta là chủ, nên ta thắng được Lỗ. Ngày nay ta kéo binh sang đánh Lỗ, ta là khách, Lỗ là chủ vì vậy mà Lỗ thắng ta. Xin Chúa công cho sang Tống mượn thêm quân mà báo thù.

Tề Hoàn-công nhận lời, sai sứ sang nước Tống cầu viện.

Lúc bấy giờ, vua nước Tống là Tống Mẫn-công đang kế vị. Vì muốn giao hảo với Tề, nên Tống Mẫn-công sai Nam-cung Trường-vạn làm Chánh-tướng, Mạnh Hoạch làm Phó-tướng, hiệp binh với Tề do Bão Thúc Nha cầm quân, kéo đến đóng nơi đất Lang-thành.

Lỗ Trang-công được tin, triệu tập quần thần bàn kế.

Lỗ Trang-công nói:

- Bão Thúc Nha vì thù trước, quyết hợp binh với Tống mà đánh ta. Tướng Nam-cung Trường-Vạn ai có sức mạnh phi thường, nước ta làm sao cự nổi?

Quan Đại-phu là Công tử Yến, tâu:

- Tôi xin ra trận để đò xét quân địch rồi sẽ trở về nghị kế.

Lỗ Trang-công nhận lời.

Công tử Yến ra Lang-thành xem xét rồi trở về tâu:

- Bão Thúc Nha lần này không khinh địch như lần trước, có ý đề phòng cẩn mật lắm. Duy có tướng Nam-cung Trường-vạn ỷ có sức mạnh không ai địch nổi, nên để binh mã lộn xộn. Tôi thiết tưởng nếu quân ta xuất kỳ bất ý đánh úp một trận ắt binh Tống phải chạy. Hễ Tống mà thua thì Tề đâu dám đánh.

Lỗ Trang-công nói:

- Ta e không ai cự nổi Nam-cung Trường-vạn!

Công tử Yến nói:

- Xin Chúa công cho tôi thử thi hành mưu chước ấy.

Lỗ Trang-công nói:

- Nếu khanh đã quyết ta cũng bằng lòng song phải cẩn-thận.

Công tử Yên bái mạng, kéo quân ra đi.

Lỗ Trang-công nói:

- Ta phải tiếp ứng cho Công tử Yến mới xong.

Bèn điểm binh kéo theo sau, cách vài dặm.

Đêm ấy trăng lờ mờ sáng, Công tử Yến lấy vài trăm tấm da cọp bao lên mình ngựa, rồi khiến quân dẹp cờ giấu trống, âm thầm kéo qua cửa Vu-môn.

Đi đã gần tới dinh Tống mà chẳng ai hay biết gì cả.

Công tử Yến bèn cho quân ó lên một tiếng, phất cờ giục trống, xông vào trại Tống.

Binh Tống thấy xa xa có một bầy cọp kéo tới, thảy đều run sợ, bỏ chạy tán loạn.

Nam-cung Trường-vạn thấy quân-sĩ mình chạy hết, cũng quày xe bỏ chạy, không dám cự địch.

Kế đó Lỗ Trang-công tiếp binh tới, rượt theo chém binh Tống rất nhiều.

Nam-cung Trường-vạn thấy thế nói với Mạnh Hoạch:

- Bây giờ nếu không tử chiến ắt bị giặc bắt.

Mạnh Hoạch nghe nói quày ngựa lại đánh với Công tử Yến.

Còn Nam-cung Trường-vạn hươi thương xông vào đám quân Lỗ gặp ai đâm nấy.

Lỗ Trang-công nói với Siềng Tôn-sanh:

- Người có tiếng là mạnh, nay dám đương đầu với Nam-cung Trường-vạn một phen chăng?

Siềng Tôn-sanh nói:

- Dẫu va có sức mạnh đến đâu mà một ngựa một thương cũng chưa đủ sợ.

Nói rồi hét lên một tiếng, vung đao lướt tới đâm ngay vào bụng tướng Nam-cung Trường-Vạn.

Nam-cung Trường-Vạn đỡ ra một đao nẩy lửa làm cho Siềng Tôn-sanh bủn rủn cả tay chân.

Lỗ Trang-công biết Siềng Tôn-sanh không cự nổi, vội bảo kẻ tả hữu:

- Hãy lấy kim-hộc-cô ra cho ta.

Kẻ tả hữu dâng tên, Lỗ Trang-công lắp cung nhắm tướng Trường-vạn bắn ra một mũi.

Mũi tên bay đèn găm vào vai phía hữu của Trường-vạn thấu xương.

Trường-vạn hét lên một tiếng, đưa tay rút mũi tên ra.

Siềng Tôn-sanh thừa cơ hội đâm bồi một giáo trúng nơi cánh tay phía tả, Trường-Vạn bị té xuống đất toan vùng dậy chạy, Siềng Tôn-sanh liền nhảy xuống xe, bắt sống trói lại.

Mạnh Hoạch thấy chúa-tướng bị bắt vội bỏ xe chạy trốn.

Lỗ Trang-công trọn thắng thu binh về, truyền dẫn Trường-vạn vào dưới trướng.

Trường-vạn tuy bị thương song vẫn còn đủ sức mạnh đi đứng như thường, chẳng hề tỏ về đau đớn gì cả.

Lỗ Trang-công mến tài Trường-vạn nên lấy lễ mà đãi.

Còn Bão Thúc Nha thấy binh Tống bị thua nghĩ mình cô thế, phải rút binh về.

Tề Hoàn-công thấy Thúc Nha hai phen thua nước Lỗ, mặt buồn dau dàu, tuy không nói ra nhưng lòng hậm hực không an.

Năm ấy, Tề Hoàn-công sai quan Đại hành là Thấp Bằng sang nhà Châu để cầu hôn.

Qua năm sau Châu hoàn-vương sai sứ qua nước Lỗ, khiến Lỗ Trang-công đứng làm chủ hôn đặng gả Công-chúa Vương-cơ cho Tề Hoàn-công.

Nhân việc chủ hôn ấy mà Tề và Lỗ lại giao hảo như xưa bỏ hết những thù oán cũ.

Bấy giờ nước Tống bị một trận lụt rất lớn, các Chư hầu đều cho sứ đến viếng thăm.

Lỗ Trang-công trước kia có thù với Tống, nay đã thân thiện với Tề thì không còn ghét gì Tống nữa, nên cũng cho sứ sang viếng thăm.

Nước Tống cảm nghĩa, cũng cho sứ sang trả lễ và xin tha cho Trường-vạn về nước.

Lỗ Trang-công nhận lời.

Nam-cung Trường-vạn được đưa về ra mắt Tống Mẫn-công.

Tống Mẫn-công trông thấy Trường-vạn bèn nói đùa rằng:

-Ngày trước ngươi là tướng, ta rất mực kính yêu, nhưng nay người là tù của nước Lỗ, ta không còn kính yêu nữa.

Nam-cung Trường-vạn nghe nói thẹn đỏ mặt, cáo từ lui ra.

Quan Đại-phu Cửu Mục hiểu ý nói riêng với Tống Mẫn-công:

- Vua tôi giao tiếp với nhau cần phải đứng đắn, không nên đùa bỡn. Nếu đùa bỡn là mất lễ nghi sinh điều khinh lờn phản nghịch. Xin Chúa công xét lại. Tống Mẫn-công nói:

- Ta cùng Nam-cung Trường-vạn quá ư thân thiết. Đã thân thiết mà còn giữ lễ thì sao gọi là thân? Ta tưởng điều ấy chẳng tai hại gì.

Năm ấy vua Trang-vương nhà Châu mất, Thái tử Hồ Tề lên nói gối tức là vua Hi-vương.

Châu hi-vương gởi tờ cáo phó khắp các chư hầu. Lúc đến nước Tống thì gặp lúc Tống Mẫn-công đang cùng các cung-phi vui chơi nơi Mông-trạch. Lại khiến Nam-cung Trường-vạn ném kích làm trò vui: Nguyên Nam-cung Trường-vạn có tài ném kích lên trời cao đến mấy trượng rồi lại giơ tay bắt lấy, trăm cái không trật một. Cung-nhân nghe nói ai nấy cũng muốn xem, nên Tống Mẫn-công cho Nam-cung Trường-vạn theo hầu, và bảo làm trò ném kích ấy.

Các cung-nhân xem thấy tài của Trường-vạn đều vỗ tay khen ngợi không dứt lời.

Tống Mẫn-công không bằng bằng lòng, có ý ghen tài, liền sai nội thị đem bàn cờ ra để đánh với Nam-cung Trường-vạn, hễ ai thua phải uống một bát rượu rất lớn.

Tống Mẫn-công vốn là tay cao cờ, Trường-vạn thua luôn năm ván.

Trường-Vạn đã ngà ngà say nhưng lòng chưa thua, xin đánh thêm ván nữa.

Tống Mẫn-công nói:

- Tù-nhân thì tất phải thua, dù đánh thêm mấy ván cũng chẳng thắng nổi.

Nam-cung Trường-vạn xấu hổ, ngồi lặng thinh không nói.

Bỗng có tin sứ nhà Châu đem thiệp cáo phó đến.

Tống Mẫn-công nói:

- Thế thì ta phải sai ngươi vào triều Châu điếu tang và chúc mừng vua mới. Nam-cung Trường-vạn nói:

- Tôi nghe Kinh đô nhà Châu đẹp lắm, mà mắt chưa từng xem, xin Chúa công cho tôi đi sứ.

Tống Mẫn-công vừa cười, vừa nói:

- Khi nào nước Tống không còn ai nữa thì mới sai tù-nhân đi sứ.

Các cung-nhân đều cười ầm lên.

Trường-Vạn mặt đỏ bừng, vì thẹn quá mà hoá giận, lại đang lúc say rượu chẳng còn nghĩ gì đến đạo vua tôi, cả tiếng mắng:

- Hôn quân vô lễ! Ngươi phải biết rằng tù nhân có thể giết người được!

Tống Mẫn-công nổi giận, nói:

- A! Thằng tù nhân! Mày dám nói càn đến thế sao?

Nói xong giật cây kích của Trường-vạn, toan đâm một nhát.

Nam-cung Trường-vạn giật ngay bàn cờ đập vào đầu Tống Mẫn-công té xuống, rồi phang luôn mấy cái, Tống Mẫn-công chết tươi.

Bọn cung nhân sợ hãi, bỏ chạy tán loạn.

Nam-cung Trường-vạn hơi giận chưa nguôi cầm kích ra khỏi ly-cung, gặp quan Đại-phu Cửu Mục.

Cửu Mục hỏi:

- Chúa công có ở trong đó chăng?

Nam-cung Trường-vạn đáp:

- Hôn quân vô lễ! Ta đã giết chết rồi, chớ hỏi làm gì!

Cửu Mục ngỡ Nam-cung Trường-vạn say rượu, nói sảng, nên mỉm cười nói:

- Uống bao nhiêu rượu mà say đến thế?

Nam-cung Trường-vạn nói:

- Ta không say rượu. Ta nói thật đấy.

Vừa nói Nam-cung Trường-vạn vừa giơ bàn tay lên cho Cửu Mục xem. Máu me còn dính ràn rụa.

Cửu Mục thất kinh mắng lớn:

- Đồ phản-nghịch giết vua! Tội ấy khó dung.

Nói rồi liền giơ cái hốt lên đánh Nam-cung Trường-vạn.

Nam-cung Trường-vạn bỏ cây kích xuống đất, tay trái đỡ văng cái hốt đi, tay mặt đấm mạnh vào đầu Cửu Mục.

Đầu Cửu Mục vỡ nát ra từng mảnh, răng gãy bắn vào một chánh cửa, ghìm sâu vào đấy.

Giết xong Cửu Mục, Nam-cung Trường-vạn lượm kích lên cầm tay thủng thẳng bước lên xe, coi như không có việc gì cả.

Quan Thái-tể Hoa Đốc hay tin, vội vàng dẫn quân đến bắt.

Khi đến gần Đông-cung, gặp Nam-cung Trường-vạn đi tới, nét mặt lầm lì.

Hoa Đốc chưa kịp múa gươm đã bị Nam-cung Trường-vạn xáng cho một kích, chết không kịp mắng chửi tiếng nào.

Nam-cung Trường-vạn vào triều, tôn Công tử Du lên nối ngôi.

Các Công tử khác nghe tin đều bỏ trốn ra nước ngoài, trong số đó có Công tử Nghị Thuyết trốn sang nước Bạc.

Nam-cung Trường-vạn nói:

- Nghị Thuyết là người học giỏi có tài, nay trốn sang nước Bạc, ắt về sau sinh biến. Chỉ cần giết được Nghị Thuyết là xong, còn các Công tử khác chẳng làm chi nỗi mà sợ.

Nói rồi liền sai con là Nam Cung Ngưu, cùng với Mạnh Hoạch đem quân vây đất Bạc.

Công tử Nghị Thuyết hay tin bàn với Bạc-chúa sai người qua nước Tiêu cầu cứu.

Chúa nước Tiêu đem binh đến, lại họp với các Công tử vừa chạy đi lánh nạn, mà giải vây.

Công tử Nghị Thuyết thấy có cứu binh đến vội mở cửa thành tiếp ứng.

Hai bên đánh dồn lại, quân Tống vỡ loạn, đầu hàng Công tử Nghị Thuyết rất nhiều.

Tướng Nam Cung Ngưu bị tử nạn, còn Mạnh Hoạch không dám trở về, trốn qua đất Vệ cư trú.

Dẹp được binh Tống, Đái Thúc Bì bày kế cho Nghị Thuyết dựng cờ hiệu của binh Tống, kéo về kinh đô giả làm đoàn quân của Nam Cung Ngưu chiến thẳng kéo về.

Nam-cung Trường-vạn ngỡ thiệt không chút đề phòng.

Các Công tử kéo quân thẳng vào trong thành, hô lớn:

- Hãy bắt tên phản nghịch Nam-cung Trường-vạn mà giết!

Nam-cung Trường-vạn thất kinh, lật đật vào cung phò Công tử Du lánh nạn, nhưng vừa vào đến cửa đã nghe tin Công tử Du bị giết.

Trường-vạn thở dài nghĩ thầm:

- Các nước chư hầu đều có giao-hảo với Tống cả, nay chỉ có nước Trần là nghịch với Tống mà thôi. Vậy ta qua đó mới yên thân.

Nghĩ rồi toan thoát ra cửa, nhưng sực nhớ đến mẹ già hơn tám mươi tuổi, còn ở nơi dinh thất, bèn quay về nhà ôm mẹ lên xe, tay trái cầm kích, tay phải đẩy xe cho mẹ, phá cửa thành chạy nhanh như bay, không một ai dám cản trở cả.

Từ Tống sang Trần đường xa hơn ba trăm dặm, mà Nam-cung Trường-vạn chỉ 41 một ngày đã đến nơi. Thật là một người sức khỏe lạ lùng, xưa nay ít có!

Công tử Du bị chết, Công tử Nghị Thuyết lên nối ngôi xưng hiệu là Tống Hoàn-công.

Tống Hoàn-công phong cho Đái Thúc-bì làm Đại-phu, lại sai sứ sang nước Trần, yêu cầu Trần bắt giao Nam-cung Trường-vạn về nước.

Lúc bấy giờ Công tử Mục đi mới lên năm tuổi, đứng bên cạnh Tống Hoàn-công, nghe nói cười lớn, thưa:

- Không bắt được Nam-cung Trường-vạn đâu.

Tống Hoàn-công hét:

- Mi là con nít, biết chi mà nói.

Công tử Mục Di nói:

- Người có sức khoẻ ai mà chẳng kính trọng. Tống bỏ đi thì Trần tất dùng. Nếu không có lễ vật để mua lòng, chẳng bao giờ Trần chịu bắt Trường-vạn.

Tống Hoàn-công nghĩ lại, khen phải, liền sai sứ đem nhiều lễ-vật châu-báu sang cống hiến cho Trần. Đồng thời cũng sai sứ sang nước Vệ yêu cầu bắt Mạnh Hoạch nữa.

Sứ Tống qua đến Vệ, vào ra mắt.

Vệ Huệ-công hỏi quần thần.

Quần thần đều thưa:

- Mạnh Hoạch trong lúc nguy cấp sang đầu ta, lẽ nào ta lại bỏ.

Quan Đại-phu Công-tôn Nhĩ can:

- Dung dưỡng kẻ hung ác thật chẳng ích chi. Nước Vệ và Tống xưa nay vẫn giao hảo với nhau nay chỉ vì muốn giữ Mạnh Hoạch làm cho hòa khí hai nước mất đi, đó là thất sách!

Vệ Huệ-công khen phải, truyền trói Mạnh Hoạch giải sang nước Tống.

Lại nói qua việc sứ Tống sang Trần yêu cầu bắt Nam-cung Trường-vạn.

Sứ Tống mang lễ vật rất nhiều, vào ra mắt.

Trần Tuyên-công tham lễ, thuận trả Nam-cung Trường-Vạn, nhưng lại sợ sức
mạnh của Nam-cung Trường-vạn khó mà bắt được bèn bảo Công tử Kết đến nói với Nam-cung Trường-vạn rằng:

- Chúa công tôi được tướng quân đến đây khác nào như được mười thành, dẫu nước Tống cố xin đến đâu, Chúa công tôi cũng chẳng nghe. Chúa công tôi sợ tướng quân có lòng nghi, nên sai tôi ngỏ lời tâm-phúc để tướng quân được biết. Nếu tướng quân có chê nước Trần là nhỏ mọn, muốn đi đến một nước khác thì cũng xin thư thả. Chúa công tôi sẽ vì tướng quân mà sắp sửa hành trang.

Nam-cung Trường-vạn cảm động nói:

- Chúa công có lòng bao dung, tôi rất mến phục, xin ở đây để đem sức mình mà đền ơn.

Công tử Kết bày tiệc rượu đãi đằng, rồi xin cùng Trường-vạn kết làm anh em.

Ngày hôm sau, Nam-cung Trường-vạn thân hành đến tư dinh Công tử Kết để tạ ơn.

Công tử Kết cũng bày tiệc thết đãi, khiến các tỳ-thiếp dâng rượu cho Trường-vạn uống đến say mèm.

Công tử Kết lấy một tấm da dê rất lớn khiến bọn võ sĩ bó Trường-vạn lại, bên ngoài dùng dây gân trâu cột rất chắc. Lại bắt cả bà mẹ của Trường-vạn nữa, rồi áp giải một lượt qua Tống.

Đi đến nữa đường, Nam-cung Trường-Vạn tỉnh rượu, vùng vẫy rất dữ, nhưng da dê bền và trói chặt quá không làm sao tung ra được. Khi đến gần thành Tống, tấm da dê rách, tay chân Trường-vạn lòi ra ngoài, bọn quân-sĩ lấy gậy đánh đến dập cả xương ống.

Tống Hoàn-công truyền đem Nam-cung Trường-vạn và Mạnh Hoạch ra lóc từng mảnh thịt để làm mắm, rồi chia cho các quan mỗi người một ít và bảo:

- Kẻ nào làm tôi không trọn đạo thờ vua hãy trông vào thứ mắm đó.

Mẹ Nam-Cung Trường-vạn già hơn tám mươi tuổi cũng bị giết chết.

Nhắc qua Tề Hoàn-công từ khi thua Lỗ ở đất Trường-thược, lấy làm hối hận, nghĩ thầm:

- Bởi ta không nghe lời Quản Trọng nên mới thất binh như vậy. Từ đó, giao tất cả quyền chính cho Quản Trọng, ngày nào cũng ở trong cung uống rượu với các cung phi.

Nếu có ai đem việc nước nói đến thì Tề Hoàn-công bảo:

- Sao nhà ngươi không nói với Quản Trọng?

Bầy giờ có Thụ Điêu là đầy tớ yêu của Tề Hoàn-công, từ khi Tề Hoàn-công giao việc quốc chính cho Quản Trọng, thường ở trong cung, ít ra ngoài, nên Thụ Điêu không làm sao thân cận đặng, vì ra vào nội đình là chuyện cấm.

Thụ Điêu bèn tự thiến mình rồi xin cho vào cung hầu hạ.

Tề Hoàn-công thấy vậy thương tình, cho hầu cận một bên.

Lại có Dịch Nha là người rất thạo về nghề đánh xe, bắn giỏi, nấu ăn rất khéo.

Ngày kia, Công-chúa Vương-Cơ có bệnh, Dịch Nha nấu đồ ăn dâng lên, Vương-cơ ăn xong khỏi bịnh. Do đó, Vương-cơ đem lòng yêu mến.

Dịch Nha lại đem nghề nấu ăn của mình khoe với Thụ Điêu, nhờ Thụ Điêu tiến cử mình được yết kiến vua.

Thụ Điêu tâu lại với Tề Hoàn-công.

Một hôm Tề Hoàn-công gọi Dịch Nha đến hỏi:

- Ngươi có phải là kẻ nấu ăn khéo không?

Dịch Nha tâu:

- Tâu Chúa công, tài ấy không ai sánh kịp.

Tề Hoàn-công nói đùa:

- Các giống điểu thú trùng ngư ta đã dùng đũ, bây giờ chỉ có thịt người ta chưa biết vị mà thôi.

Dịch Nha lui ra. Đến bữa trưa đem vào dâng một mâm thịt chín, mềm như thịt dê non, mùi thơm ngào ngạt.

Tề Hoàn-công ăn xong, hỏi Dịch Nha:

- Thịt gì mà ngon thế?

Dịch Nha tâu:

- Đó là thịt người.

Tề Hoàn-công giật mình, kinh ngạc, hỏi:

- Nhà ngươi lấy ở đâu?

Dịch Nha tâu:

- Đứa con trai đầu lòng của tôi mới lên ba tuổi. Tôi thiết tưởng đã trung với vua thì còn kể gì đạo nhà, nên làm thịt con đem dâng cho Chúa công ăn.

Tề Hoàn-công trầm mặt nói:

- Thôi, ngươi hãy lui ra.

Từ ấy Tề Hoàn-công cho rằng Dịch Nha có lòng trung nghĩa, nên vẫn yêu quí như Thụ Điêu vậy.

Thụ Điêu và Dịch Nha không ưa Quản Trọng, nay thấy mình được vua tin dùng, bèn tâu với Tề Hoàn-công:

- Tâu Chúa công, chúng tôi thiết tưởng quyền hạn vua tôi có giới hạn, nay mỗi mỗi Chúa công đều giao cho Quản Trọng, tựa hồ như nước Tề không còn có vua.

Tề Hoàn-công vừa cười vừa nói:

- Ta đối với Trọng-phụ chẳng khác nào như thân thể đối với tay chân nếu tay chân mà mất, thân thể bị tàn phế, có dùng được việc gì? Chúng bay là tiểu nhân biết gì mà nói.

Thụ Điêu và Dịch Nha từ đó không dám nói nữa.

Quản Trọng từ ngày bỉnh chánh, đem lại cho nước Tề khá thịnh vượng.

Thời bấy giờ nước Sư đương hồi cường thạnh, mấy nước nhỏ ở miệt Hớn đông đều phục tùng cống lễ, duy có nước Sái, cậy thế kết thân với Tề, nên không chịu tùng phục.

Nước Sái và nước Tức đều kết-hôn với nước Trấn. Sái-hầu cưới người chị, Tức-hầu cưới người em. Tức phu nhân là Tức Vĩ nhan sắc tuyệt vời, đã đẹp mà tánh tình lại đoan chính trông rất khả ái.

Một hôm Tức Vĩ được phép Tức-hầu cho về nước Trần để viếng quê hương. Khi đi ngang qua thành nước Sái.

Sái-hầu hay tin, bụng bảo dạ:

- Tức phu nhân là em vợ ta, nhân lúc đi ngang qua đây lẽ nào ta lại không rước vào thành hội kiến.

Bèn sai người đón Tức phu nhân rước vào cung đãi tiệc.

Trong lúc ăn uống, Sái-hầu dùng lời trêu ghẹo, tỏ ra không đứng đắn.

Tức phu nhân nổi giận, bỏ tiệc ra đi.

Tức-hầu hay được chuyện Sái-hầu vô lễ, chọc ghẹo vợ mình, lòng căm phẫn nghĩ cách báo thù, liền sai sứ vào triều-cống nước Sở và mật-cáo với Sở Văn-vương rằng:

- Sái-hầu cậy thế có Tề che chở nên không phục Sở. Vậy xin Sỡ cứ cất binh qua đánh nước tôi. Nước tôi sẽ sang cầu cứu nước Sái. Sái-hầu là người nông nổi, thì tất đem binh đến cứu. Bấy giờ quí-quốc sẽ hiệp binh với nước tôi mà bắt Sái-hầu trị tội.

Sở Văn-vương được kế, mừng lắm, cất quân sang nước Tức.

Quân-sĩ rần rộ kéo đến vây thành.

Tức hầu liền viết mật thư sai sứ sang nước Sái cầu cứu.

Đúng như lời Tức-hầu đã dự tính.

Sái-hầu không suy nghĩ gì cả cơ binh đến nước Tức mà giải vây.

Nhưng vừa đến nơi thì bị binh Sở phục nơi yếu lộ, đánh một trận tơi-bời, quân sĩ rối loạn.

Sái-hầu thất kinh, toan chạy vào thành nước Tức mà trốn. Nhưng Tức-hầu đóng chặt cửa thành không cho vào.

Biết mình đã mắc kế, oán hận thấu trời, Sái-hầu đành bó tay nộp mình cho nước Sở.

Sở Văn-vương dẫn Sái-hầu về nước, truyền quân đem xử trảm.

Dực Quyền bước ra can rằng:

- Đại vương đang muốn mở mang thế lực khắp Trung-quốc đáng gì một Sái-hầu mà không thể tha thứ, để cho thiên hạ cho nước Sở ta không phải là một nước đại độ.

Sở Văn-vương nói:

- Sái hầu là một đứa ngạo nghễ, lâu nay không đầu phục, hận ấy chưa nguôi. Nay đã bắt được lẽ nào lại tha đi.

Nói rồi truyền quân đem chém.

Dực Quyền cản lại nói:

- Không, không, xin Đại-vương nghĩ lại, lẽ nào vì một oán nhỏ mà quên đại-sự. Nếu Đại-vương cho Sái-hầu về nước ắt từ nay Sái-hầu không còn dám ngạo mạn nữa. Đã vậy các chư hầu khác trông thấy gương nấy mà mến đức Đại-vương.

Sở Văn-vương nhất định không nghe.

Dực Quyền nổi giận một tay nắm áo Sở Văn-vương một tay rút gươm nói lớn:

- Thà tôi cùng chết với Đại-vương còn hơn để Đại-vương làm mất nghiệp cả.

Sở Văn-vương thay thế sợ sệt nói vội:

- Thôi, thôi ta chịu nghe theo lời khanh.

Nói xong, truyền tha cho Sái-hầu.

Dực Quyền thấy vua đã tha chết cho Sái-hầu, vội vã quăng gươm, quỳ tâu:

- Tâu Đại-vương Đại-vương đã nghe lời can gián của tôi, thật may mắn cho nước Sở. Nhưng tôi phạm tội hiếp vua thực đáng chết. Vậy xin cúi đầu chịu tội.

Sở Văn-vương nói:

- Lòng trung thành của ngươi đã vượt quá tội lỗi. Ta không thể vì lỗi nhỏ ấy mà làm cho lu mờ tấm gương trung nghĩa.

Dực Quyền tâu:

- Tâu Đại-vương. Đại-vương tưởng tình tha cho tôi, nhưng tôi tôi không thể tha cho tôi được.

Nói xong, cúi xuống, lượm thanh gươm cắt đứt một chân, rồi hét to:

- Kẻ nào làm tôi vô lễ với vua thì hãy xem đây.

Sở Văn-vương quá cảm động truyền đem cái chân của Dực Quyền cất vào kho, để ghi cái lỗi mình không chịu nghe lời can gián.

Đoạn sai ngự y chuyên chữa cho Dực Quyền.

Sau một thời gian, Dực Quyền được lành bệnh, nhưng không đi được.

Sở Văn-vương phong cho làm chức Đại-hôn để giữ cửa thành.

Kế đó, Sở Văn-vương mở tiệc tiễn hành đưa Sái-hầu về nước.

Trong tiệc, Sở Văn-vương truyền bọn vũ nữ đàn ca hát xướng tưng bừng. Lại truyền cho mỹ nữ dâng rượu. Trong lúc đang đối ẩm, Sở Văn-vương chỉ vào một mỹ nữ, nói:

- Nàng này đã đẹp lại có tài hát hay.

Nói xong, bảo mỹ nữ ấy dâng cho Sái-hầu một chung rượu.

Sái-hầu tiếp lấy uống cạn, rồi tự tay rót một chén đầy bước đến dâng cho Sở Văn-vương để tạ ơn.

Sở Văn-vương tiếp lấy chén rượu vừa cười vừa hỏi:

- Sái-hầu đã bao giờ trông thấy một người nào đẹp tuyệt trần chưa?

Sái hầu nghe nói, sực nhớ đến mối thù của Tức-hầu vừa rồi đã xui Sở đánh Sái, bèn tâu:

- Tâu Đại-vương, theo nhận xét của tôi, trên thế gian này không ai đẹp bằng Tức Vĩ. Nàng ấy quả sánh với tiên nga trên cung Quản.

Sở văn Vương hỏi:

- Cái đẹp của Tức Vĩ như thế nào?

Sái-hầu nói:

- Mắt trong như thu thủy, má ửng như nhuỵ đào mình mai, vóc liễu gót sen uyển chuyển như án mây chiều trước gió, tưởng không tài nào tả hết.

Sở Văn-vương nói:

- Người đẹp đến thế, tiếc rằng ta không làm sao thấy mặt.

Sái hầu nói:

- Uy đức của Đại-vương dẫu Tề-khương, Tống-tử cũng chẳng khó gì, huống chi Tức Vĩ chỉ là một người đàn bà trong vòng thế lực của mình.

Sở Văn-vương nghe nói rất đẹp lòng.

Tiệc mãn, Sái-hầu bái tạ về nước.

Sở Văn-vương muốn thấy mặt Tức Vĩ liền giả kế đi tuần du qua nước Tức.

Tức-hầu hay tin ra khỏi thành tiếp đón rất trọng thể.

Hai vua cùng dắt nhau vào thành mở tiệc chung vui.

Tức-hầu bưng chén rượu dâng cho Sở Văn-vương mừng cuộc hội ngộ.

Sở Văn-vương tiếp lấy, vui vẻ nói:

- Ngày trước ta cũng có chút công mọn với quí phu nhân, vậy nay xin mời quí phu nhân ra đây tương kiến mà mời ta một chung rượu cho vui.

Tức-hầu không dám trái ý, vội bước vào cung, gọi Tức Vĩ ra.

Giữa lúc ấy, Sở Văn-vương ngồi một mình mắt mơ màng nhìn vào hậu cung, tay mân mê ly rượu, tỏ vẻ nóng lòng.

Cánh màn se sẽ động, những chuỗi ngọc lóng lánh với ánh huyền đăng, nàng Tức Vĩ từ từ bước ra, gót hài thoăn thoắt, hơi hương ngạt ngào, khiến cho Sở Văn-vương cảm thấy như mình đang lạc vào chốn tiên bồng.

Tức Vĩ đến sụp lạy Sở Văn-vương rồi đưa tay lấy ly rượu rất đầy.

Bàn tay ngọc, với ly ngày không phân biệt màu sắc.

Sở Văn-vương ngẩn ngơ nhìn, rồi đứng dậy toan tiếp lấy chén rượu, nhưng Tức Vĩ đã trao cho một cung-nữ để dâng lên cho Sở văn-vương.

Sở Văn-vương vừa cạn chén thì Tức Vĩ đã bái tạ lui vào cung.

Rèm châu khép kín bóng hồng, hơi hương còn thoảng, rượu nồng chưa phai.

Ngày hôm sau, Sở Văn-vương lại bày tiệc nơi quán dịch cho quân giáp sĩ phục xung quanh, rồi mời Tức hầu ra dự tiệc.

Lòng đã định trước, nên tiệc đến nửa chừng, Sở Văn-vương mượn giọng say rượu quở trách Tức-hầu:

- Ta có công với quí phu nhân rất nhiều nay quân đến đây, quí phu nhân lại không vì ta mà khao thưởng?

Tức-hầu nói:

- Nước tôi nhỏ bé, không sẳn vật thực để khao thưởng quân sĩ cho đủ, xin Đại-vương cho phép tôi được sắp đặt đã.

Sở Văn-vương đập tay xuống bàn, làm mặt giận, nói:

- Thật là đứa bội phản, tìm lời khéo léo để từa ta, bay đâu, hãy bắt đứa vong-ân trói lại.

Quân giáp sĩ nhảy xổ ra bắt Sái-hầu tức khắc.

Nàng Tức Vĩ hay tin chồng bị bắt, ngửa mặt lên trời than:

- Ôi! Đi rước cọp về nhà nên mới sinh họa.

Than rồi chạy thẳng ra vườn hoa, toan nhảy xuống giếng tự vận.

Giữa lúc đó, Sở Văn-vương đã kéo binh vào cung để tìm bắt Tức Vĩ, nhưng không thấy Tức Vĩ đâu, mới truyền các tướng toa? ra khắp nơi lục soát.

Nàng Tức Vĩ chưa kịp tự vận, liền bị tướng nước Sở là Đấu Đan bắt lại và nói:

- Phu nhân không muốn sống để mà cứu mạng cho chồng sao? Tội gì cả hai vợ chồng chịu chết.

Tức Vĩ lặng thinh.

Đấu Đan dẫn vào nạp cho Sở văn-vương.

Sở Văn-vương kiếm lời dịu ngọt dỗ dành:

- Nếu nàng chịu về Sở, ta sẽ tha chết cho Tức-hầu.

Tức Vĩ đôi dòng lệ đọng trên đôi mí mắt long lanh như mặt nước hồ thu nỗi sóng, đứng im không thốt ra lời.

Sở Văn-vương phong cho nàng làm phu nhân. Và thấy đôi má nàng tựa hoa đào, nên gọi nàng là Đào-hoa phu nhân.

Kế đó Sở Văn-vương đày Tức-hầu ra đất Nhữ-thủy, chẳng bao lâu Tức-hầu vì đau buồn mà lìa trần.

-------------------------------------------------------

Hồi thứ 18.
Tào Muội vung gươm dọa Tề-hầu
Hoàn-công thắp đuốc phong Ninh Thích

Năm ấy, vào năm thứ nhất của vua Ly-Vương nhà Châu, Tề Hoàn-công sau một thời gian giao việc triều chính cho Quản Trọng, thấy trong nước dân tình yên ổn, binh lương dồi dào bèn hỏi Quản Trọng:

- Trước kia nước Tề chưa đủ sức, trong thì việc triều chính chưa an, ngoài lòng dân chưa ổn, nay đã tạm yên, chẳng hay cái mộng làm bá-chủ các nước chư hầu đã nên thực hiện chưa?

Quản Trọng đáp:

- Các chư hầu còn nhiều nước mạnh hơn Tề. Như phía Nam có Sở phía Tây có Tần và Tấn. Tuy nhiên, nước nào cũng chỉ mạnh về binh-lực chứ không phải mạnh về chính nghĩa, vì họ không biết tôn vua nhà Châu. Nhà Châu dẫu có suy yếu, vẫn là Thiên tử chung của thiên hạ, thế mà từ khi quân Trịnh bắn vua Hoàn Vương, quân Vệ chống vua Trang-vương, các nước chư hầu khinh khi bỏ cả việc triều cống. Thậm chí ở nước Sở, Hùng Thông tiếm xưng Vương hiệu nước Trịnh, nước Tống giết vua mà không ai dám hỏi tội.

Nước Tề ta, muốn mạnh phải nắm cho chính nghĩa, luôn luôn thi hành theo mệnh lệnh thiên triều. Nay nước Tống tuy vừa giết được Nam-cung Trường-vạn, khôi phục ngôi vua, nhưng Tống-hầu vẫn chưa được các nước công nhận. Chúa công nên vào triều Châu, xin Vương mệnh, hợp các chư hầu, công nhận vua nước Tống, còn các chư hầu nào suy yếu ta nên giúp đỡ, các chư hầu nào ngang-ngược, ta nên họp sức nhau mà vấn tội. Làm như thế các chư hầu phải tùng phục Tề, không cần phải dùng đến binh lực.

Tề Hoàn-công nghe nói rất hài lòng, vội sai sứ vào triều Châu, xin phép được tổ chức hội họp.

Vua Ly-vương nói:

- Lâu nay các nước chư hầu đều dễ ngươi không ai về triều bái, nay Tề hầu đã có lòng tưởng đến trẫm, vậy trẫm cho phép được thay mặt trẫm mà lo việc ấy.

Sứ giả trở về báo lại với Tề Hoàn-công.

Tề Hoàn-công phụng mệnh Thiên tử, bố cáo khắp chư hầu triệu-tập các nước họp nhau nơi đất Bắc-hạnh thuộc đất Tề.

Tề Hoàn-công lại hỏi Quản Trọng:

- Lần này hội chư hầu ta phải dùng bao nhiêu binh sĩ?

Quản Trọng nói:

- Hội họp là để bàn luận với nhau, nếu dùng đến quân sĩ tỏ ra dùng sức mạnh áp bức, làm sao mọi người phục?

Tề Hoàn-công theo lời sai cất một cái đài cao ba trượng, chính giữa lập bàn hương án để vọng bái Thiên tử, còn chung quanh bày trí các lễ vật đâu đó rất uy nghi.

Đến ngày hội, Tống Hoàn-công (Nghị Thuyết) đến trước, vào tạ ơn Tề Hoàn-công. Kế đến nước Trần, nước Châu đến một lượt, sau cùng là nước Sái, vì Sái-hầu oán nước Sở bắt mình ngày nọ, quyết đến hội để minh oan.

Bốn nước Tống, Trần, Châu, Sái thấy Tề không dùng đến quân sĩ, nhìn nhau khen thầm:

- Tề-hầu quả đem lòng chân thật mà đối đãi với chúng ta.

Bốn nước đều bàn với nhau lui quân ra ngoài cách mười dặm.

Tề Hoàn-công hỏi Quản Trọng:

- Nay chư hầu không hội đông đủ, có nên hoãn lại một ngày khác chăng?

Quản Trọng nói:

- Nay đã có bốn nước đến đũ, như vậy cũng có thể bàn luận được, nếu hẹn lại tức là thất tín. Mà đã thất tín thì sau này mời sẽ không ai đến.

Sáng hôm ấy, Tề Hoàn-công thay mặt vua Châu, đứng ra tuyên-bố:

- Tôi phụng mệnh Thiên tử, mời quí quốc đến đây, mục đích gặp nhau thảo luận việc chính trị, chỉnh đốn các cơ-cấu tương-quan giữa các chư hầu. Được như thế, chúng ta mới cùng nhau giữ vững đạo vua tôi và sự công bình trong thiên hạ. Muốn làm được việc đó, điều cần thiết chúng ta phải tôn lên một nước làm minh chủ, có quyền hạn điều khiển các nước chư hầu.

Các nước chư hầu đều thì thào bàn bạc không dứt. Người thì muốn tôn nước Tống vì nước Tống đã rộng mà phẩm tước lại cao hơn nước Tề. Nhưng có kẻ cho rằng vua nước Tống mới lập, còn phải nhờ Tề đại diện cho Thiên tử mà tấn phong.

Cuộc bàn cãi kéo dài mãi không dứt. Cuối cùng, nước Trần đứng lên nói:

- Nay Thiên tử đã giao quyền cho nước Tề đứng ra triệu-tập chư hầu, thì đã mặc nhiên công nhận nước Tề là minh chủ rồi, lựa phải bàn cãi làm chi, xin tôn nước Tề làm minh chủ.

Các nước đồng thanh nói:

- Chỉ có nước Tề mới đảm đương nổi nhiệm vụ đó.

Tề Hoàn-công đôi ba phen từ chối, rồi mới bước lên đàn tuyên bố thứ vị:

- Nước Tề làm minh chủ, thứ đến nước Tống, nước Trần, nước Sái, và sau cùng là nước Châu.

Định thứ vị xong, các nước lần lượt vào trước đài bái mạng Thiên tử, rồi Trọng Tôn Thu thay mặt Tề hầu, đọc tờ ước-thệ như sau:

Châu ly-vương năm đầu, tháng ba, ngày mồng một.

Chúng tôi là: Tề-hầu Tiểu Bạch, cùng với Tống, Trần, Sái, Châu, vâng lệnh Thiên tử, hội nơi Bắc-hạnh để làm ước thệ, nguyện trung thành với vua Châu và giúp đỡ nhau trong lúc cần thiết. Hễ ai trái ước, các nước có quyền họp binh vấn tội.

Nghe xong, các nước chư hầu đều nghiêng mình bái mạng.

Quản Trọng bước lên thềm nói lớn:

- Các nước Lỗ, Vệ, Trịnh, Tào có ý khinh khi Thiên tử, miệt hạ chư hầu, lẽ ra phải hiệp binh vấn tội trước, xin các nước quyết định.

Ba nước Trần, Sái, Châu đồng thanh nói:

- Chúng tôi xin vâng mệnh.

Duy có nước Tống, làm thinh không nói gì cả.

Chiều hôm ấy, Tống Hoàn-công về nhà quánđịch, nói với Đái Thúc Bì:

- Tề-hầu có ý tự đắc, không kể ngôi thứ, vượt lên làm minh chủ, lại còn có ý lấy binh các nước mà thị oai. Nếu ta vâng theo ý ấy ắt sau này ta phải bị phục tùng mãi mãi.

Thúc Bì nói:

- Hiện nay chư hầu không phải một ý, kẻ theo, người không, dầu Tề có muốn làm bá chủ cũng chưa thể được. Nếu ta chịu giúp Tề, đánh Lỗ và Trịnh, chẳng khác nào ta củng cố địa vị cho Tề. Như thế có hại cho Tống. Hiện nay, trong bốn nước đến dự, chỉ có Tống là lớn, nếu Tống không giúp thì ba nước kia cũng phải thôi.

Tống Hoàn-công nói:

- Mục đích ta đến đây dự hội là để nhận lấy Vương-mạng. Nay Vương-mạng đã nhận xong, còn ở đây làm gì?

Đêm hôm ấy Tống Hoàn-công lẳng lặng đem quân về nước.

Tề Hoàn-công hay tin tức giận nói:

- Chưa chi mà nước Tống đã tính chuyện bội ước rồi.

Bèn sai Trọng Tôn Thu đuổi theo.

Quản Trọng nói:

- Tống đã làm sai, mà mình đuổi theo lại là việc trái. Nếu muốn phạt Tống phải tâu với Thiên tử đem quân đến đánh mới được.

Tề Hoàn-công nói:

- Nếu vậy, ta cho sứ về triều Châu xin việc ấy.

Quản Trọng nói:

- Đánh Tống chưa lợi. Tống là nước xa, Lỗ là nước gần, muốn cho Tống phục, trước phải đánh Lỗ.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Muốn đánh Lỗ phải lập mưu chi?

Quản Trọng thưa:

- Phía Đông-Bắc có nước Toại, thuộc Lỗ. Nước ấy nhỏ lắm, dân cư có bốn họ, ta đem quân lấy nước ấy không khó. Mà chiếm được nước ấy rồi, Lỗ phải sợ. Chừng ấy ta sai sứ sang trách Lỗ-hầu về việc không đi dự hội, một mặt thông tin cho Văn-khương biết việc xích mích giữa Tề, Lỗ hiện nay. Hễ Văn-khương biết được Lỗ-hầu không hòa hiếu với bên ngoại, ắt khiển trách. Trong thì sợ mẹ, ngoài sợ uy ta, làm sao Lỗ-hầu không xin hòa. Lúc bấy giờ ta mới đem quân đánh Tống.

Tề Hoàn-công khen phải, liền hưng binh đi đánh nước Toại.

Lỗ trangCông hay tin vội họp triều thần bàn kế.

Công tử Khánh Phủ thưa:

- Binh Tề đã đem binh đến nước ta hai lần, lần nào cũng bị thua, nay xin Chúa công cho tôi đem binh ra đánh.

Thi Bá nghe nói, can rằng:

- Không nên khinh địch. Hiện nay Quản Trọng nắm quyền bỉnh-chánh, quân luật nghiêm minh, ta khó mà thắng nổi. Vả lại, nước Lỗ ta trước đây rất nhiều ơn huệ với Tề như việc giết Công tử Củ, đứng làm chủ hôn cho Vương-cơ, mà Tề-hầu chưa thể quên được. Nay xin cứ giải hòa để giữ lấy ân huệ đó là hơn.

Các quan còn đang thương nghị, bỗng có thư Tề Hoàn-công gởi đến.

Lỗ Trang-công cả mừng, mở ra đọc.

Thư rằng:

“Tôi và hiền hầu cũng thờ một Thiên tử nhà Châu, khác nào như anh em, hơn nữa hai nước Tề, Lỗ là chỗ thân thuộc, thế mà kỳ hội vừa rồi nơi Bắc-hạnh, hiền hầukhông chịu đi dự, đã trái với lệnh Thiên tử lại thương tổn đến tình thân. Tôi rất đau lòng khi phải đem binh sang nước của hiền hầu để đạo đạt bức thư này”.

Tề Hoàn-công lại gởi riêng một bức thư cho Văn-khương, vì vậy khi được thư, Văn-khương gọi Lỗ Trang-công vào hậu cung nói:

- Tề, Lỗ là hai nước thân thuộc, nếu Tề-hầu có điều không phải với ta đi nữa, ta cũng không nên làm giảm tình thân, huống chi Tề đã có ý muốn cầu hòa với ta mà con lại không nghe sao?

Lỗ Trang-công không dám cãi lời mẹ liền sai Thi Bá viết thư phúc đáp:

- Kỳ hội nơi Bắc-hạnh, tôi bị đau không đến dự được, tự thấy mình có lỗi. Nay quí-quốc trách vấn, tôi rất ăn năn. Tuy-nhiên, nếu bắt tôi phải nhận những điều cam kết dưới thành, thật là điều quốc-sĩ. Quí-quốc lui binh ra khỏi biên-giới bấy giờ nước tôi sẽ tuân mệnh.

Tề Hoàn-công tiếp được thư rất đẹp lòng, truyền kéo binh khỏi nước Lỗ, ra đóng nơi đất Kha, để chờ Lỗ-hầu đến hội kiến.

Lỗ Trang-công sắp sửa đến đất Kha, hỏi triều thần:

- Có ai dám theo ta đến đất Kha hộiđiện với Tề chăng?

Tào Muội bước ra xin đi.

Lỗ Trang-công nói:

- Ngươi ba lần giao chiến bị thua nước Tề, nay xin ra đó không sợ nước Tề chê cười sao?

Tào Muội thưa:

- Chỉ vì bị thua nước Tề ba lần nên tôi mới xin theo Chúa công để rửa nhục!

Lỗ Trang-công nói:

- Ngươi muốn rửa nhục mà theo ta trong chuyến này chỉ thêm xấu hổ. Vì đến ăn thề với họ, tự nhiên mình đã là kẻ chiến bại rồi.

Tào Muội nói:

- Tôi quyết không để cho nước Lỗ mang cái danh biểu xấu xa ấy.

Lỗ Trang-công nhận lời cùng Tào Muội lên đường.

Khi đến đất Kha, Tề Hoàn-công đã sai người đắp một cái đài rất lớn, bày sẵn lễ vật, đợi Lỗ Trang-công đến làm lễ huyết thệ. Lại truyền lệnh chỉ cho một người được theo hầu Lỗ Trang-công lên đài thôi, còn bao nhiêu quân sĩ phải đứng xa, cách hai trăm thước.

Tào Muội trong mặc áo giáp, ngoài cầm gươm đi theo sau lưng Lỗ Trang-công.

Lỗ Trang-công có ý sợ, trái lại Tào Muội rất hùng dũng.

Hai người vừa bước khỏi thềm.

Đông Quách Nha bảo Tào Muội:

- Ngày nay hai nước giao-hòa, gặp nhau để bàn bạc, xin tướng quân hãy bỏ đồ binh khí đi.

Tào Muội trừng mắt nhìn Đông Quách Nha, hai khóe mắt toét ra, rươm rướm máu.

Đông Quách Nha thấy vậy bước lùi ra sau.

Tào Muội ung dung bước theo Lỗ Trang-công đến trước bàn hương án.

Thấp Bằng bưng bát máu dâng lên để Lỗ Trang-công cùng Tề Hoàn-công ăn thề.

Tào Muội mặt hầm hầm, một tay nắm áo Tề Hoàn-công, một tay rút gươm nói:

- Hãy khoan!

Quản Trọng vội vã xen vào giữa, hỏi Tào Muội:

- Quan Đại-phu làm gì thế?

Tào Muội đáp:

- Nước Lỗ bị suy yếu, đã hao tổn nhiều về chiến-tranh thế mà ngày nay những nước tự xưng mình là minh chủ, hối chư hầu để cứu giúp những kẻ suy yếu, lại đến làm khổ nước Lỗ nữa, như vậy dám tự hào là chính đáng sao?

Quản Trọng nói:

- Nước tôi đã làm điều gì hại cho quí-quốc?

Tào Muội nói:

- Cậy sức mạnh, đem quân chiếm lấy đất Vânđương của nước tôi, sao lại bảo là không làm hại. Nếu quí quốc thực tình giao hảo, hãy trả đất ấy lại cho Lỗ, Chúa công tôi mới chịu ăn thề. Bằng không tôi nhất định liều chết.

Quản Trọng ngoảnh lại, nói với Tề Hoàn-công:

- Xin Chúa công chấp thuận lời xin ấy.

Tề Hoàn-công nói:

- Thôi, quan Đại-phu hãy buông ra. Tôi hứa sẽ trả đất ấy lại.

Tào Muội nghe nói vội bỏ thanh kiếm xuống, bưng lấy bát máu thay cho Thấp Bằng mà dâng lên.

Lỗ Trang-công cùng với Tề Hoàn-công làm lễ huyết thệ.

Xong Tào Muội lại nói:

- Quản Trọng giữ quyền binh nước Tề, tôi xin cùng Quản Trọng ăn thề để khỏi có điều hối hận.

Tề Hoàn-công nói:

- Bất tất phải làm như vậy, lời ta đã hứa lẽ nào lại lành trái được sao.

Lễ tuyên thệ xong các quan nước Tề ai nấy hậm hực, muốn tìm cách trả thù Tào Muội.

Tề Hoàn-công nói:

- Ta đã hứa với Tào Muội rồi! Dẫu kẻ thất phu đã ước với ai câu gì cũng không nên sai lời, huống hồ ta là Chúa một nước.

Bấy giờ các quan mới chịu thôi.

Sáng hôm sau, Tề Hoàn-công lại bày tiệc ở nhà công quán để tiễn biệt Lỗ Trang-công, rồi đem đất Vân-dương trả lại cho nước Lỗ.

Các nước chư hầu nghe được việc ấy, kêu Tề Hoàn-công là người tín nghĩa. Hai nước Vệ và Tào sai sứ đến tạ tội và xin ăn thề.

Tề Hoàn-công sai sứ vào tâu với vua Ly-vương nhà Châu, xin cất quân phạt Tống.

Châu Ly-vương nhậm lời, khiến quan Đại-phu Đơn-miệt, kéo binh sang hội với binh Tề.

Lúc ấy nước Trần, nước Tào hay tin cũng xin đem binh giúp sức.

Tề Hoàn-công khiến Quản Trọng dẫn một đạo binh đi trước để đón binh hai nước Trần và Tào. Còn mình thì đi với Thấp Bằng, Vương-tử Thành Phủ và Đông Quách Nha, thống lãnh đại binh, hẹn hội nhau nơi đất Thượng-kỳ.

Quản Trọng lãnh mệnh kéo quân ra đi.

Quản Trọng vốn có một người tiểu thiếp tên Tĩnh-nương, nàng này tuy phận quần thoa, nhưng lại thông minh học rộng. Vì vậy Quản Trọng đi đâu cũng đem nàng theo hầu.

Ngày kia, Quản Trọng vừa kéo binh đến núi Dao-sơn, bỗng gặp một người chăn trâu, mình mặc áo cộc, đầu đội nón rách ngồi trên lưng trâu, gõ sừng ca hát.

Quản Trọng nghe tiếng ca biết không phải là người tầm thường khiến quân sĩ đem rượu thịt đến cho.

Người chăn trâu ăn xong hỏi quân sĩ:

- Tôi muốn được yết kiến quan Tể-tướng.

Quân sĩ đáp:

- Xe của quan Tể-tướng đã đi xa rồi. Vậy thì cứ ăn cho no mà thôi, cần chi phải gặp mặt.

Người chăn trâu nói:

- Tôi có một lời muốn nói cùng quan Tể-tướng.

Quân sĩ hỏi:

- Lời gì? Nếu chỉ nói một lời thì bọn ta nói giúp cho cũng được.

Người chăn trâu nói:

- Nước trong leo lẻo.

Quân sĩ đem lời ấy nói lại với Quản Trọng.

Quản Trọng không hiểu gì cả, liền hỏi Tĩnh-nương.

Tĩnh-nương nói:

- Thiếp có nghe, xưa có một bài thơ "Nước trong".

Bài thơ ấy có câu rằng: "Nước trong leo lẻo, cá lội giữa dòng, người đến triệu ta, ta cũng bằng lòng". Ý chừng người ấy muốn ra làm quan.

Quản Trọng khiến dừng xe lại, rồi sai người đòi gã chăn trâu đến hỏi.

Gã chăn trâu cúi đầu thi lễ chứ không lạy.

Quản Trọng hỏi tung tích, ng­ười chăn trâu nói:

- Tôi là Ninh Thích, người đất Vệ, được nghe T­ướng-quốc là kẻ ưa hiền, chuộng sĩ, nên tìm qua n­ước Tề để tiến thân, ngặt không có ai tiến dẫn nên phải chăn trâu cho người trong làng mà nuôi sống.

Quản Trọng thử thách trình độ học thức.

Ninh Thích ứng đáp rất rành mạch.

Quản Trọng nói:

- Kẻ hào kiệt lúc chưa gặp vận cũng khó thi thố tài năng của mình được. Đại binh của Chúa công ta cũng sắp đến đây, ta viết cho nhà ngươi một phong thơ, nhà ngươi an lòng ở đây mà chờ, lúc nào Chúa công ta đến, hãy xin yết kiến mà trình thơ, ắt đ­ược trọng dụng.

Nói xong Quản Trọng viết một phong thơ, trao cho Ninh Thích.

Ninh Thích lãnh thơ, rồi ở nơi núi Dao-sơn chăn trâu như cũ.

Cách ba ngày sau, đại binh của Tề Hoàn-công kéo đến.

Ninh Thích lại gõ sừng trâu ca hát vang trời.

Hát rằng:

Mặt Thường-lan nhấp nhô đá trắng
Thân lý-ngư thầm lặng xuôi dòng
Đời không hiền-sĩ
Đất thiếu minh-quân
Thương thân, ta lại tủi thầm
Hởi con trâu trắng
Hơi cụm rừng thâm
Hùng anh sống với âm thầm mãi ư?

Tề Hoàn-công nghe giọng ca lấy làm lạ, khiến kẻ tả hữu bắt dẫn đến hỏi thăm họ tên, quê quán.

Ninh Thích tâu:

- Tôi người nước Vệ, lưu lạc nơi đây.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Ngươi là một đứa chăn trâu, cớ sao lại dám chê bai thiên hạ?

Ninh Thích nói:

- Tôi đâu có chê bai. Tôi chỉ tiếc rằng đời nay không có người hiền.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Sao ngươi lại dám chê rằng "đời thiếu minh-quân", trong lúc Thiên tử nhà Châu đang trị vì thiên-hạ, còn ta một nước chư hầu giàu mạnh, trên phục tùng Thiên tử, dưới chế-ngự chư hầu đem lại thái bình cho thiên hạ.

Ninh Thích nói:

- Một minh-quân tất phải biết mình, hiểu người rõ được thời bình, thấy được lúc biến, đem ân đức rãi khắp nhân gian, lấy lòng nhân mà trị thiên hạ. Như nhà Châu hiện nay vận nước mỗi lúc một suy, trong thì dân tình không phục, ngoài thì chư hầu bất tuân, tài trị nước không có, sao gọi là minh quân? Đến như Chúa công, giết anh ruột mình mà cướp ngôi, mượn uy thiên tử để chế ngự chư hầu, nlưng chư hầu đều không phục, sao gọi là giàu mạnh?

Tề Hoàn-công nghe nói nỗi giận mắng lớn:

- Đứa thất phu, dám nói càn.

Liền hô kẻ tả hữu bắt Ninh Thích đem chém.

Ninh Thích không chút sợ hãi, ngước mặt lên trời than:

- Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỉ Can, nay tôi cùng với hai ông ấy kể là ba người?

Thấp Bằng thấy thế tâu với Tề Hoàn-công:

- Người ấy lời nói không dua mị, lòng không sợ uy nghiêm, chắc không phải là kẻ tầm thuờng, xin Chúa công chớ nên giết.

Tề Hoàn-công sực nghĩ lại cơn giận đã nguôi, bước tới mở trói cho Ninh Thích, và nói:

- Ta thử nhà ngươi đó thôi. Nhà ngươi quã là một người khí phách.

Ninh Thích thò vào túi lấy phong thư của Quản Trọng dâng cho Tề Hoàn-công.

Tề Hoàn-công tiếp lấy đọc.

Trong thư viết:

Tôi phụng mệnh đem quân qua núi Dao-sơn, có tiếp được một người nước vệ, tên là Ninh Thích. Người này là một nhân tài trong thiên hạ, không phải những kẻ chăn trâu tầm thường, xin Chúa công thu dụng, đừng để người ấy đi nước khác mà hối tiếc.

Tề Hoàn-công nói:

- Nhà ngươi đã có bức thư của Trọng-phụ sao không tâu trình cho sớm?

Ninh Thích nói:

- Tôi nghe nói vua hiền chọn người ngay, tôi trung chọn Chúa có đức. Nếu Chúa công ghét người thẳng, ưa kẻ nịnh, thì thà tôi chết đi còn hơn là đưa thư để được trọng dụng.

Tề Hoàn-công rất đẹp lòng, truyền ngồi vào một cỗ xe theo sau.

Tối hôm ấy đóng quân lại nghĩ, Tề Hoàn-công sai thắp đuốc tìm mũ áo Tề phong chức cho Ninh Thích.

Thụ Điêu tâu:

- Từ đây đến nước Vệ không xa, xin Chúa công đợi đến đó hỏi xem Ninh Thích quả là người hiền không đã, rồi sẽ phong cũng chẳng muộn.

Tề Hoàn-công nói:

- Đã nghi thì không nên dùng, mà đã dùng thì đừng nghi. Giả thử Ninh Thích trước kia có một vài lỗi nhỏ đi nữa, nay ta cũng không nên vì lỗi nhỏ ấy mà bỏ phí một nhân tài.

Nói xong, ngay đêm ấy, phong cho Ninh Thích làm quan Đại-phu, lại khiến cùng với Quản Trọng coi việc quốc-chánh.

Ninh Thích lạy tạ lui ra.

Tề Hoàn-công truyền tấn binh.

Chẳng bao lâu, đại-binh của Tề Hoàn-công đã kéo đến biên-giới nước Tống, hợp với binh các nước chư hầu đông như kiến cỏ.

Tề Hoàn-công họp các tướng bàn kế lấy thành.

Ninh Thích tâu:

- Chúa công phụng mệnh Thiên tử đem binh chế-ngự chư hầu. Mục đích bắt họ phục tùng chứ không phải chiếm đất. Ấy vậy quân lực chỉ làm cho người ta sợ uy chứ không mến phục. Theo ý tôi, chớ nên đánh vội. Tôi dẫu hèn mạt, dám xin đem ba tấc lưỡi mà bảo vua nước Tống phải giảng hòa.

Tề Hoàn-công nghe theo, truyền đóng quân lại, sai Ninh Thích vào trước nghị hòa với Tống Hoàn-công.

Ninh Thích ngồi một chiếc xe nhỏ đem theo mấy tên gia nhân thẳng đến Thư-Đương, xin vào yết-kiến.

Tống Hoàn-công hỏi Đái Thúc Bì:

- Ninh Thích là người thế nào?

Đái Thúc Bì thưa:

- Tôi nghe người ấy là một kẻ chăn trâu, được Tề-hầu mới dùng làm quan, tất người ấy có tài ứng đối.

Tống Hoàn-công nói:

- Vậy thì nên đối xử như thế nào?

Đái Thúc Bì thưa:

- Xin Chúa công triệu vào lấy lễ mà đãi, để xem ý tứ Ninh Thích như thế nào. Nếu va có điều chi lỗ mãng, tôi sẽ vuốt giải mão làm hiệu, Chúa công khiến võ-sĩ bắt giam lại. Như thế mưu của Tề ắt phải hư.

Tống Hoàn-công gật đầu khen phải, truyền võ-sĩ mai phục xong xuôi, rồi mới cho Ninh Thích vào.

Ninh Thích mặc áo rộng, thắt đai lớn ung dung bước vào xá Tống Hoàn-công một cái.

Tống Hoàn-công ngồi yên không đáp lễ.

Ninh Thích ngước mặt lên trời than:

- Nước Tống đã đến lúc nguy khốn rồi.

Tống Hoàn-công nghe nói, lấy làm lạ hỏi:

- Ta làm đến bực Thượng-công, phẩm trật đứng trên các chư hầu, trong nước binh hùng tướng mạnh, dân chúng an vui, sao gọi là nguy khốn.

Ninh Thích nói:

- Hiền hầucó thể sánh được với Châu-công ngày xưa chăng?

Tống Hoàn-công nói:

- Châu-công là bậc thánh, ta làm sao sánh được.

Ninh Thích nói:

- Châu-công ngày xưa, trong lúc thiên-hạ thái bình thế mà còn phải hết lòng trọng người hiền sĩ. Lúc đang ăn cơm, nghe người hiền sĩ vào vội nhả miếng cơm, để ra tiếp đón. Trong lúc đang tắm nghe người hiền sĩ đến vội vẫy nắm tóc để ra mời. Nay Hiền hầu là dòng dõi một nước đã mất rồi, lại gặp buổi loạn lạc, các liệt quốc tranh hùng, dẫu bắt chước như Châu-công, hết lòng cầu kẻ sĩ, chưa chắc hiền sĩ đã chịu đến, huống hồ lại còn tự đắc, kiêu căng thì những lời trung trực có bao giờ đến trước mặt hiền-hầu được. Thế mà lại không cho là nguy khốn sao?

Tống Hoàn-công nghe nói sững sờ, giây lâu mới đứng dậy, nói với vẻ ăn năn:

- Ta mới lên ngôi, chưa được nghe lời giáo huấn của quân tử, vậy xin tiên sinh miễn chấp.

Thúc-bì đứng hầu một bên thấy Tống Hoàn-công đã tỏ ý xiêu lòng, vội đưa tay vuốt giải mão. Nhưng vuốt đến đôi ba lần mà Tống Hoàn-công vẫn không thèm nói tới.

Tống Hoàn-công hỏi Ninh Thích:

- Chăng hay tiên sinh đến đây có điều chi dạy bảo tôi chăng?

Ninh Thích nói:

- Nay Thiên tử suy yếu, chư hầu đoạt quyền, việc tranh chấp càng ngày càng khốc liệt, dân gian đồ thán. Tề-hầu không nỡ để cho thiên hạ lâm cảnh tóc tang, phải phụng mệnh Thiên tử liên kết chư hầu để lo việc tương thân và trách phạt. Hiền hầubội tín làm cho Thiên tử nổi cơn thịnh nộ, nên sai chư hầu đến đây vấn tội. Nếu Hiền hầu cự với binh triều thì chưa đợi giao binh đã thấy được lẽ thắng phụ rồi.

Tống Hoàn-công hỏi:

- Theo sở kiến của Tiên sinh thì việc này phải thế nào?

Ninh Thích nói:

- Theo ý tôi, Hiền hầu nên dùng chút đỉnh lễ vật mà cầu hôn. Trên chẳng trái với Châu-vương, dưới vẫn đặng quyền cùng minh-chúa. Như thế nước Tống không cần phải động binh mà vẫn vững vàng thư non thái.

Tống Hoàn-công nói:

- Trước kia ta đã không trọn ước, nữa đêm kéo quân bỏ về không dự hội. Nay Tề-hầu đã đem binh đến đây biết có chấp thuận việc hòa ước của ta chăng?

Ninh Thích nói:

- Tề-hầu là một người đại nhân đại độ, không kể đến lỗi lầm của kẻ khác. Trước đây Lỗ-hầu không chịu dự hội, sau đến xin ăn thề nơi đất Kha, Tề-hầu vẫn đem đất Vânđương trả lại. Huống chi Hiền hầu là kẻ đã có lòng đến dự hội, lẽ nào Tề-hầu lại không cho giảng hòa.

Tống Hoàn-công hỏi:

- Bây giờ phải dùng những lễ vật chi để cống hiến?

Ninh Thích nói:

- Là một kẻ đại nhân đại độ, không bao giờ xem của cải là trọng. Hiền hầu chỉ dùng một vật mọn cũng đủ.

Tống Hoàn-công mừng rỡ, sai sứ mang lễ vật xin hòa ước với Tề.

Đái Thúc Bì hổ thẹn lui ra.

Sứ Tống đến trại Tề dâng mười cặp bạch-ngọc, ngàn nén vàng ròng, mà tạ tội.

Tề Hoàn-công nói:

- Có chỉ mạng của Thiên tử, ta đâu dám tự chuyên. Phải cậy đại thần của Thiên tử chuyển tấu về triều Châu mới đặng.

Bèn giao những vàng ngọc ấy lại cho Đơn Miệt.

Đơn Miệt nói:

- Quân hầu đã rộng lòng tha lỗi, nay lại cậy tôi chuyển tấu về triều, tôi đâu dám từ chối.

Tề-hầu tin cho Tống Hoàn-công hay để sắm sửa qua triều Châu, rồi các nước thâu binh về.

---------------------------------------------

Hồi thứ 19.
Trịnh Lệ-công lập mưu về nước
Châu Huệ-vương tìm kế phục thù

Tề-hầu kéo binh về nước, mở tiệc khao quân.

Quản Trọng tâu rằng:

- Từ ngày nhà Châu thiên sang Đông đô đến nay, các nước chư hầu không nước nào mạnh bằng Trịnh. Kinh đô nước Trịnh là nơi Đông-quách, chỗ ấy phía trước có núi Trung-sơn, phía sau có sông Hà, phía hữu có sông Lạc, phía tả có sông Tề, thật là nơi hiểm địa.

Hơn nữa, từ lúc Trịnh Trang-công thắng được Tống và Hứa, lại kết thân với Sở là nước tiếm xưng vương hiệu, đất rộng binh hùng. Hai nước ấy cấu kết với nhau, nước Tề ta khó bề thắng được.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Như thế thì biết làm thế nào cho hai nước ấy tùng phục?

Quản Trọng nói:

- Nhất định phải hạ cho được Sở. Mà muốn hạ Sở trước phải dẹp Trịnh.

Tề Hoàn-công nói:

- Ta vẫn biết Trịnh là nơi cốt yếu, muốn thâu đoạt đã lâu, song không biết dùng kế gì đặng.

Ninh Thích nói:

- Công tử Đột bên nước Trịnh, trước kia lên ngôi chỉ có hai năm, bị Tế Túc đuổi ra nước ngoài, cư trú nơi đất Lịch. Hiện nay nước Trịnh, Công tử Nghi đang ở ngôi. Tế Túc là tôi mà dám đuổi Chúa, Công tử Nghi là em mà chiếm ngôi anh đó trái là lễ. Xin Chúa công cho người đến đất Lịch đưa Trịnh Đột về nước, lập lên ngôi, ắt Trịnh Đột phải mang ơn Chúa công mà tùng phục nước Tề.

Tề Hoàn-công khen phải, khiến Tân Tu Vô đem hai trăm binh ra đóng đồn nơi đất Lịch, rồi sai người đến tỏ ý với Trịnh Đột.

Lâu nay Trịnh Đột nghe Tế Túc đã qua đời thường cho người dò xét tình hình nước Trịnh để tính việc phục nghiệp, xảy được tin nước Tề muốn giúp mình về nước, lòng mừng khôn xiết cho người đến đón Tân Tu Vô vào thành thết đãi.

Trong lúc đang ăn uống, Tân Tu Vô hỏi:

- Chẳng hay nước Trịnh hiện nay ai thay cho Tế Túc?

Trịnh Đột đáp:

- Thay Tế Túc là Thúc Thiêm. Người này có tài trị nước, nhưng không có tài cầm binh.

Giữa lúc ấy, bỗng có quân vào báo rằng:

- Kinh-thành nước Trịnh vừa xảy ra một chuyện rất lạ: Phía trong cửa Nam môn có một con rắn dài tám thước, đầu xanh đuôi vàng, cắn lộn với một con rắn phía ngoài cửa dài hơn một trượng, đầu đỏ đuôi xanh. Hai con cắn nhau đến mười bảy ngày thì con rắn trong bị con rắn ngoài cắn chết. Con rắn ngoài chạy thẳng vào thành, đến nhà Thái miếu thì biến mất. Thiên hạ đến xem đông nghẹt, nhưng chẳng ai dám lại gần.

Tân Tu Vô nghe nói đứng dậy chúc mừng Trịnh Đột:

- Như thế chắc chắn hiền hầu sẽ khôi phục được ngôi nước Trịnh.

Trịnh Đột hỏi:

- Sao ngài biết được?

Tân Tu Vô đáp:

- Con rắn ngoài cửa tức là hiền-hầu, vì hiền hầu là anh, nên rắn ấy dài hơn một trượng, còn con rắn trong cửa tức là Công tử Nghi. Công tử Nghi là em nên có tám thước. Đến ngày thứ mười bẩy, con rắn bên trong chết, nghĩa là từ khi hiền hầu bỏ ngôi đến nay đã mười bảy năm, nay trở về phục quốc được thành công. Đó là điềm trời cho biết trước.

Trịnh Đột mừng rỡ nói:

- Nếu quả đúng như vậy, dù trọn đời tôi chẳng đám quên ơn Tề-hầu.

Nói xong, rót rượu đưa mời Tân Tu Vô uống.

Hai người rất tương đắc.

Sáng hôm sau, Tân Tu Vô bàn với Trịnh Đột đem quân lẻn về lấy đất Đại-lăng.

Quan giữ thành Đại-lăng là Phó Hà, nghe được tin Trịnh Đột kéo quân đến đánh, vội điểm quân khai thành đối địch.

Chẳng ngờ Tân Tu Vô phục binh nơi phía sau, tràn vào chiếm thành.

Phó Hà tưởng quân Trịnh đột, sau biết được có binh Tề giúp sức, liệu thế không chống lại, phải xin đầu hàng.

Trịnh Đột vốn căm hờn Phó Hà trong mười bảy năm qua, đã giữ thành rất gắt chống lại quân mình, nên truyền quân đem chém.

Phó Hà la lớn:

- Nếu muốn về nước Trịnh mà Chúa công đem giết tôi thật là thất sách.

Trịnh Đột nghe nói, liền bảo đao phủ thủ dừng lại hỏi:

- Ngươi có kế gì hay sao?

Phó Hà nói:

- Tôi có thể lấy đầu Công tử Nghi được!

Trịnh Đột lắc đầu nói:

- Ngươi là một tiểu-tướng, tài cán, mưu mô chi mà làm được chuyện đó, chẳng qua ngươi tham sanh úy tử, kiếm lời gạt ta để khỏi chết mà thôi.

Phó Hà nói:

- Quyền chính trong nước ngày nay thuộc về tay Thúc Thiêm. Tôi cùng với Thúc Thiêm thân nhau lắm. Nếu Chúa công không chê tôi bất tài, để tôi sống, tôi sẽ về bàn mưu với Thúc Thiêm giết Công tử Nghi đem đầu nạp cho Chúa công.

Trịnh Đột hét to:

- Tên lão tặc! Đừng gạt ta. Mi muốn trở về bàn với Thúc Thiêm đem quân đến đây chống cự với ta, ta đã biết rõ.

Nói rồi truyền đao phủ thủ đem chém.

Tân Tu Vô cản lại, nói:

- Vợ con Phó Hà nay còn trên đất Đại-lăng này. Ta hãy giam lại để làm tin.

Phó Hà nghe nói quỳ móp xuống đất rên rỉ:

- Vợ con tôi còn đó, chẳng lẽ tôi ham sống một mình, bỏ vợ bỏ con tôi sao?

Nói xong ngước mặt lên trời thề.

Lúc đó Trịnh Đột mới tin, truyền quân mở trói thả đi.

Đêm ấy, Phó Hà lẻn về Kinh đô nước Trịnh, vào yết kiến Thúc Thiêm.

Trông thấy Phó Hà, Thúc Thiêm ngạc nhiên hỏi:

- Nhà ngươi đang trấn thủ Đại-lăng sao lại về đây?

Phó Hà nói:

- Tề-hầu sai tướng Tân Tu Vô đem quân đưa Công tử Đột về nước, nay đã chiếm được Đại-lăng. Nay mai ắt đại binh kéo đến Kinh-thành. Ngài nên làm cách nào chém được Công tử Nghi, đem đầu dâng cho Công tử Đột thì mới khỏi mất ngôi Công-khanh. Vả lại Công tử Đột là anh, đáng lý phải ở ngôi mới thuận.

Thúc Thiêm ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

- Trước kia ta đã có ý đưa Công tử Đột là vua cũ, về nước nối ngôi, nhưng bị Tế Túc ngăn cản. Nay Tế Túc đã thác, việc này không khó.

Phó Hà hỏi:

- Nếu vậy thì liệu kế nào?

Thúc Thiêm nói:

- Tin cho binh Tề kéo đến. Lúc đó ta giả đò mở cửa thành đem quân đối địch, tất nhiên Công tử Nghi phải lên mặt thành đứng xem. Nhà ngươi theo hầu, rút gươm chém đầu Công tử Nghi, còn ta, ta mở cửa rước Công tử Đột vào tôn lên ngôi.

Hai người bàn tính xong, mật sai người báo tin với Trịnh Đột.

Phó Hà lại vào ra mắt Công tử Nghi, nói:

- Quân Tề giúp Công tử Đột chiếm được Đại-lăng rồi.

Công tử Nghi giật mình nói:

- Thế thì phải viết thư qua nước Sở cầu cứu mới được.

Thúc Thiêm bên ngoài tuân lệnh, nhưng bên trong cố ý chần chờ, đã hai ngày mà không sai sứ qua nước Sở. Bỗng có tin quân Tề kéo đến vây thành.

Thúc Thiêm xin phép Công tử Nghi khai chành chống cự, rồi hẹn Phó Hà lên mặt thành mà phòng giữ.

Công tử Nghi lầm kế, cũng theo Phó Hà lên mặt thành xem xét binh tình. Vừa đến nơi Phó Hà rút gươm đâm Công tử Nghi một nhát, ngã quỵ xuống đất tắt thở.

Bên ngoài Thúc Thiêm mở cửa đón Công tử Đột và Tân Tu Vô, vào Thanh-cung bắt hai con của Công tử Nghi giết đi, rồi cùng nhau tôn Công tử Đột lên ngôi, lấy hiệu cũ xưng là Trịnh Lệ-công.

Người nước Trịnh lâu nay vẫn mến Trịnh Lệ-công, nên dân tình vẫn được yên ổn.

Trịnh Lệ-công cảm tạ Tân Tu Vô, lo việc đãi đằng, khao thưởng binh Tề rồi tiễn Tân Tu Vô về nước.

Lúc bấy giờ Trịnh Lệ-công mới đòi Phó Hà đến nói:

- Ngươi giữ đất Đại-lăng trong mười bẩy năm, cố sức cùng ta chống cự, thật đã hết lòng với chúa cũ. Nay tham sống, sợ chết, vì ta mà giết bỏ vua cũ, như thế ngươi là một kẻ nham hiểm, tâm địa không biết đâu mà lường. Ta phải giết nhà ngươi đi, mới khỏi lo hậu hoạn.

Nói xong, truyền võ sĩ đem Phó Hà ra chém, còn vợ con thì cho về.

Nguyên Phồn trước kia tán thành việc lập Công tử Nghi, nay sợ Trịnh Lệ-công bắt tội nên xin từ chức.

Trịnh Lệ-công sai người đến trách mắng.

Nguyên Phồn thắt cổ tự vận.

Trịnh Lệ-công lại bắt trị tội những người đuổi mình khi trước.

Cường Thủ trốn vào nhà Thúc Thiêm, nhờ Thúc Thiêm xin cho mới khỏi, nhưng cũng phải bị chặt chân.

Định Thúc trốn sang nước Vệ, nhưng cách ba năm sau Trịnh Lệ-công lại cho triệu về.

Thúc Thiêm vẫn giữ chức Chính-khanh, Đổ-thúc và Sư Thúc đều được phong chức Đại-phu.

Người nước Trịnh gọi là "tam lương" nghĩa là ba người hiền.

Đây nói qua việc Sở Văn-vương, từ khi lấy được nước Tức, bắt nàng Tức Vĩ làm vợ, đêm ngày ấp ủ không rời. Chỉ ba năm mà sanh đặng hai con. Người lớn là Hùng Hi, người nhỏ là Hùng Vận.

Trong ba năm trời, Tức Vĩ không nói chuyện với Sở Văn-vương câu nào. Sở Văn-vương lấy làm lạ, một hôm cố hỏi Tức Vĩ vì cớ gì mà không chịu nói. Tức Vĩ chỉ ứa nước mắt, không đáp.

Sở Văn-vương năn nỉ hết lời, nàng mới tấm tức thưa:

- Thần thiếp phải thờ hai chồng, đã không biết giữ tiết thì còn mặt mũi nào mà chuyện trò với ai.

Sở Văn-vương nói:

- Việc này cũng bởi Sái-hầu trước kia giới thiệu phu nhân cho ta, nên ngày nay mới sanh ra thảm cảnh này. Ta sẽ vì phu nhân đem quân đến bắt Sái hầu đền tội.

Nói xong, cất binh đi đánh nước Sái.

Sái hầu hay tin thất kinh, thân hành đến đất Phu, quì móp giữ đường đợi Sở Văn-vương đến mà tạ tội. Lại đem tất cả vàng bạc châu báu trong kho ra mà cống lễ.

Sở Văn-vương nhận lễ vật, rồi rút binh về.

Vừa về đến nước Sở, lại có tin Trịnh Lệ-công sai sứ đến tỏ việc mình đã phục-vị và xin cầu hoà.

Sở Văn-vương cả giận nói:

- Trịnh Đột về nước đã hai năm, nay mới cho cho sứ đến ra mắt nước ta thật là vô lễ.

Bèn đem binh phạt Trịnh.

Trịnh Lệ-công phải ra ngoài thành tạ tội, xin dâng lễ vật, Sở Văn-vương mới chịu thâu quân.

Từ đó Trịnh Lệ-công sợ oai nước Sở không dám cho sứ sang chầu nước Tề. Tề Hoàn-công biết được tâm trạng ấy cho người đến trách cứ.

Trịnh Lệ-công không biết phải làm sao, bèn sai sứ đến thưa với Tề Hoàn-công rằng:

- Chúa công tôi vì bận lo việc kiên-thủ sợ binh Sở đến đánh, không có dịp để triều cống Tề.

Nếu Minh-công lấy oai trị được nước Sở thì Chúa tôi mới an lòng vâng mạng Tề được.

Tề Hoàn-công nghe lời nói của sứ nước Trịnh không được khiêm tốn, tức giận, bắt giam vào ngục.

Sứ nước Trịnh trốn thoát, về nước.

Từ đó, nước Trịnh lại phản, về đầu Sở như cũ.

Giữa lúc đó, bên nhà Châu, vua Ly-vương thăng hà, con là Ngân lên nối ngôi, tức Châu Huệ-vương.

Nhân lúc nhà Châu mới lập, các chư hầu bận việc điếu tang, và chúc tụng vua mới, Sở Văn-vương kéo quân quấy nhiễu nước Ba, đánh nước Thân, làm lắm điều hiếp chế.

Nước Ba căm thù, kéo quân lẻn sang nước Sở chiếm đất Na.

Tướng giữ đất Na là Diêm Ngao cự không lại bỏ thành trốn về tâu lại với Sở Văn-vương.

Sở Văn-vương truyền đem Diêm Ngao ra chém.

Thân tộc của Diêm Ngao uất hận vô cùng, quyết lòng rửa nhục, mới tư thông với nước Ba, yêu cầu đem binh phạt Sở, và hứa sẽ đứng ra làm nội ứng.

Nước Ba nghe theo, cử binh kéo đến vây thành.

Sở Văn-vương thân hành đem binh ra đối địch, chẳng ngờ thân tộc của Diêm Ngao lẻn vào vòng binh đốt dinh phá trại.

Binh Sở không đề phòng nên rối loạn.

Quân nước Ba thừa thế đánh tan được quân Sở.

Sở Văn-vương bị một mũi tên nơi gò má, giục xe chạy dài.

Tuy thắng trận, nhưng nước Ba là nước nhỏ, không dám đuổi theo, vội vã thâu quân về nước.

Còn thân tộc Diêm Ngao cũng theo về nước Ba mà cư trú.

Sở Văn-vương về đến Phướng thành đã nửa đêm, bèn gọi quan giữ cửa là Dực Quyền khai thành đón tiếp.

Dực Quyền hỏi:

- Chúa công thắng trận chăng?

Sở Văn-vương đáp:

- Không, ta vừa bị thất trận.

Dực Quyền nói:

- Tiên-vương xưa ra đánh trận nào cũng thắng, nay Đại-vương thân chinh đánh nước Ba là một tiểu quốc mà bị thua ắt thiên hạ chê cười. Xin chớ vào thành.

Sở Văn-vương hỏi:

- Việc đã rồi, khanh bảo ta phải làm thế nào bây giờ?

Dực Quyền nói:

- Gần đây có nước Hoàng, không chịu chầu Sở đã lâu, nếu Đại vương đem binh đánh nước Hoàng mà đắc thắng thì mới rửa bớt điều nhục ấy.

Sở Văn-vương quay lại nói với quân sĩ:

- Nếu ta đánh không thắng nước Hoàng quyết không về Sở.

Nói xong lập tức kéo binh sang đánh nước Hoàng.

Đến nơi, Sở Văn-vương cầm trống giục quân tử chiến.

Quân nước Hoàng không làm sao cự lại kéo nhau bỏ chạy, thây nằm chật đất, gướm bỏ đầy đường.

Sở Văn-vương truyền đóng trại nghĩ ngơi.

Đêm ấy, Sở Văn-vương ngủ trong dinh, nằm mộng thấy Tức-hầu, mặt hầm hầm chạy đến trước mặt hét lớn:

- Ta có lỗi gì mà mi giết ta, xâm chiếm đất ta, gian dâm với vợ ta. Nay ta đã minh oan với thượng đế rồi!

Nói xong giơ tay tát vào mặt Sở Văn-vương một cái.

Sở Văn-vương giật mình thức dậy, thấy vết thương nơi mặt lỡ toét ra, máu chảy đầm đìa, đau nhức khôn xiết.

Sở Văn-vương liền truyền lệnh thu quân về nước.

Nhưng vừa về đến Thu địa, thuộc đất Sở, thì từ trần.

Tướng sĩ phò thi thể của Sở Văn-vương về Kinh đô tẩn liệm, làm ma chay. Con trưởng Sở Văn-vương là Hùng Hi lên nối ngôi.

Dực Quyền sau khi lo việc ma chay cho Sở Văn-vương tự nghĩ:

- Ta đã hai lần phạm đến chúa ta, dẫu vua không bắt tội, ta cũng không có quyền sống.

Nghĩ rồi kêu con cháu dặn rằng:

- Ta có chết, chúng bây đem chôn ta nơi cửa thành, để con cháu đời sau biết ta là người gác cửa.

Nói xong rút gươm tự vận.

Hùng Hi động lòng, phong cho con cháu nối đời làm chức Đại-hôn.

Trịnh Lệ-công được tin Sở Văn-vương chết, có ý mừng thầm nói:

- Sở Văn-vương đã chết, ta không còn lo gì nữa.

Thúc Thiêm nói:

- Nước Trịnh nay phải thần phục nước người, một bên là Tề, một bên là Sở cố tranh nhau bắt chẹt. Tôi tưởng đó là điều quốc-sĩ. Thuở xưa, tiên-quân ta Hoàn-công, Võ-công, Trang-công đều làm đến bực Khanh-sĩ nơi triều Châu, đứng đầu liệt quốc, xử phạt chư hầu, nay xin Chúa công vào triều Châu nhờ ơn Thiên tử gia phong để lấy oai mà chế lại các chư hầu thì mới khỏi bị ai lấn áp.

Trịnh Lệ-công khen phải sai quan Đại-phu là Sư Thúc qua Châu triều Cống.

Sư Thúc đi chưa được mấy ngày trở về báo:

- Nhà Châu lúc này loạn lắm.

Trịnh Lệ-công hỏi:

- Sao mà loạn?

Sư Thúc nói:

- Nguyên trước kia, vua Trang-vương nhà Châu yêu nàng Diên-cơ, có sanh đặng một con là Vương-tử Đồi, Châu Trang-vương mến Vương-tử Đồi lắm sai quan Đại-phu Vỉ-quốc làm chức sư-phó để dạy dỗ. Vương-tử Đồi có tánh thích chơi trâu. Một mình nuôi trong nhà hơn hai trăm con trâu, ngày nào cũng cho ăn uống, chăm sóc rất kỹ lưỡng, lại cho trâu mặc toàn là gam vóc, và đặt tên là văn thú.

Vương-tử Đồi đi đâu đều có đàn trâu đi theo, dậm nát cả ruộng nương, vườn tược mà không ai dám nói. Hơn nữa Vương-tử Đồi còn kết thân với năm quan Đại-phu là: Vĩ Quốc, Biên Bá, Tử Cầm, Chúc Quỵ và Thiêm Phủ, là những kẻ có thế lực trong triều. Vì vậy trong lúc Châu ly-vương còn ở ngôi cũng phải kính nể.

Vừa rồi, vua Huệ-vương lên ngôi, Vương-tử Đồi ỷ mình là chú, càng lên mặt kiêu ngạo hơn nữa.

Châu Huệ-vương rất ghét, tìm cách trấn áp Vương-tử Đồi cùng bè đảng. Chẳng ngờ một hôm tên thiện phu là Thạch Tốc, dâng đồ ngự thiện không được tinh sạch.

Châu Huệ-vương cách chức không dùng nữa.

Thạch Tốc bất bình nhập bọn với Vương-tử Đồi làm nội ứng, bày mưu cho Vương-tử Đồi đem quân đánh Châu Huệ-vương để cướp ngôi, may nhờ có Châu-công Kỵ-phủ và Châu Bá-Liên cố sức chống giữ nên bọn Vương-tử Đồi bị thua chạy trốn sang đất Tô.

Trịnh Lệ-công hỏi:

- Chúa đất Tô là ai?

Sư Thúc đáp:

- Chúa đất Tô tên Phận Sanh, trước kia có nhiều công trạng với đời Võ-vương nên được phong làm Tô-công. Đến sau Phận Sanh thác, con Phận Sanh bị nước Địch hiếp chế cho nên phải bỏ vua thờ địch. Qua đến đời Châu Hoàn-vương mới lấy đất Tô-công phong cho Trịnh, vì vậy Tô-công mất đất đem lòng oán hận nhà Châu gặp lúc Vương tử Đồi trốn sang, bàn mưu mượn binh nước Vệ để phản loạn. Còn Vệ Huệ-công tức Vệ-Sóc trước kia có cư hiềm với vua Châu việc phong lập cho Kiềm Mâu, nên cố lòng giúp sức, cử đại binh sang đánh. Châu công Kỵ-phủ và Châu bá-Liên cự không lại phải phò Châu Huệ-vương chạy sang đất Yên. Hiện nay Vương tử Đồi đã chiếm ngôi, nhưng lòng dân không phục. Nếu Chúa công đem quân đến đất Yên rước Châu Huệ-vương về Lạc-vương, khôi phục được vương-vị thì ắt đặng công lớn với triều đình.

Trịnh lệ Công khen phải, những lại nghĩ rằng:

- Vương tử Đồi là nhu nhược, đặng thành công là nhờ sự giúp đỡ của nước Vệ. Nay trước tiên phải đem lời lẽ phân giải, nếu Vương-tử Đồi không nghe ta sẽ dùng đến binh lực cũng chẳng muộn.

Nghĩ như vậy, một mặt sai người đến đất Yên đón Châu Huệ-vương, một mặt sai người đưa thư cho Vương-tử Đồi.

Thư rằng:

Tôi, Trịnh Đột, được nghe người ta nói: hễ làm tôi phạm đến vua là bất trung, làm em nghịch với anh là bất thuận. Người đã bất trung bất thuận ắt trời chẳng dung. Nay Vương-tử nghe lời bọn dua nịnh, đuổi Thiên tử đoạt ngôi là điều quấy. Nếu Vương-tử biết ăn năn, rước Thiên tử về bó mình chịu tội, sẽ không mất phú-quí, xin Vương-tử nên xét lại.

Vương-tử Đồi tiếp được thư, lòng lưỡng lự, Vỉ-Quốc quỳ tâu:

- Tâu Bệ-hạ, ngày nay Bệ-bạ chẳng khác nào như người đang cưỡi trên lưng cọp. Nếu bước xuống ắt bị cọp phân thây. Vả lại mình đang làm Thiên tử lại trở xuống làm tôi là chuyện không thể được. Trịnh Đột muốn lừa Bệ-hạ đó, xin Bệ-hạ chớ nghe theo.

Vương-tử Đồi bèn đuổi sứ Trịnh trở về nước.

Trịnh Lệ-công-tức giận họp lực với Quắc-công (chúa nước Quắc), cất quân phò Châu Huệ-vương kéo đến Lạc-dương vấn tội.

Quân-sĩ Vĩ Quốc thất kinh chạy vào cung tâu lại với Vương-tử Đồi.

Lúc đó vương-tử Đồi đang bận cho Trâu ăn nên không ra tiếp.

Vĩ Quốc nói lớn:

- Việc nguy cấp lắm rồi!

Nói xong giả mệnh vua sai các tướng đem quân đối địch.

Quân sĩ nhà Châu vốn không phục Vương-tử Đồi nên ra khỏi thành đều bỏ chạy về phía Châu Huệ-vương.

Vĩ Quốc thấy vậy vội vã thảo chiếu sang nước Vệ cầu cứu. Nhưng tờ chiếu thảo chưa xong, đã nghe quân báo:

- Châu Huệ-vương đã vào thành ngự triều rồi.

Vĩ Quốc biết không thể thoát nổi, liền đâm gươm vào cổ tự vận.

Chúc Quy và Tử Cầm bị chết giữa đám loạn quân, còn Biên Bá và Thiềm Phủ thì bị bá tánh bắt trói đem nộp.

Vương-tử Đồi thì chạy ra cửa phía Tây, khiến Thạch Tốc lùa trâu đi trước. Nhưng vì trâu quá mập nên đi chậm, quân Trịnh hay được đuổi theo bắt lại.

Châu Huệ-vương khiến quân dẫn Vương-tử Đồi, Biên-Bá, Thiềm-phủ và Thạch Tốc ra pháp trường xử trảm.

Đoạn cắt đất Hô-lao thưởng cho nước Trịnh, và lấy đất Tử-toàn thưởng cho nước Quắc.

Trịnh Lệ-công và Quắc-công cáo từ về nước.

Trịnh Lệ-công về mới nửa đường bị mang bệnh mà thác.

Quần thần lo việc an-táng rồi tôn Thế tử Tiệp lên ngôi, hiệu là Trịnh Văn-công.

Lúc đó, Trịnh Lệ-công lại còn có một người con tên Công tử Huấn, tên chữ là Kỉnh Trọng, có chơi thân với Công tử Ngự Khấu. Về sau Công tử Ngự Khấu toan cướp ngôi Trần Tuyên-công, nên bị Trần Tuyên-công giết đi. Công tử Kỉnh Trọng sợ liên luỵ đến mình, bỏ nhà trốn sang nước Tề, được Tề Hoàn-công phong chức Công-chính.

Một hôm, Tề Hoàn-công đến chơi nhà Kỉnh Trọng, uống rượu đàm đạo rất vui. Gặp trời tối, Tề Hoàn-công sai thắp đèn lên để uống thêm cho trọn cuộc.

Kỉnh Trọng nói:

- Tôi không tính đãi tiệc Chúa công lúc ban đêm, vì vậy nên không dám đốt đèn, xin Chúa công miễn chấp.

Tề Hoàn-công cười lớn, nói:

- Kỉnh Trọng giữ lễ với ta như thế thực là hiếm có.

Nói xong, từ giã ra về.

Từ ngày ấy Tề Hoàn-công thường khen Kỉnh Trọng là một hiền thần, và cắt đất phong cho Kỉnh Trọng. Đến sau con cháu của Kỉnh Trọng nối nghiệp và Kỉnh Trọng là Thỉ-tổ của họ Điền.

Lại nhắc qua việc Văn-khương từ ngày Tề Tương-công qua đời, lòng thương tiếc chẳng cùng.

Và cũng vì thương tiếc thái quá mà mang tâm bệnh.

Một hôm, nội thị đưa viên thầy thuốc nước Cử đến xem mạch điều trị, Văn-khương chạnh lòng nhớ đến chuyện xưa, liền lưu vị thầy thuốc lại trong cung để ăn uống và vui hưởng hoan lạc.

Thấy Văn-khương quá dâm dục, biết mình không phải là tay đối thủ, vị thầy thuốc vội từ giã trở về nước Cử.

Văn-khương lại giả cách đi tìm thầy thuốc, ghé qua nước Cử, đến nhà vị thầy thuốc đó đôi ba phen.

Vị thầy thuốc không biết tính sao phải tìm người khác thay mình để làm cho Văn-khương vừa ý. Nhưng Văn-khương vẫn không hài lòng, tiếc rằng không bằng được Tề tướng-công thuở trước.

Qua năm thứ tư của Châu Huệ-vương, bệnh của Văn-khương càng ngày càng nặng, tính không sống được lâu, bèn trở về nước Lỗ mà thác.

Trong lúc lâm chung, Văn-khương trối với con là Lỗ Trang-công:

- Con của anh ta đã đặng mười tám tuổi, theo lời hứa thuở nọ, con nên mau cưới về, đừng câu chắp. Được như thế mẹ mới mát lòng nơi cửu tuyền.

Lỗ Trang-công cúi đầu tuân lời mẹ, Văn-khương lại dặn:

- Nước Tề đương dựng nghiệp bá, oai thế càng ngày càng mạnh, con chớ nên bỏ việc giao hảo.

Nói rồi trút hơi thở cuối cùng.

Nhắc đến Văn-khương, người sau có thơ rằng:

Non nước đầy vơi thật khó lường
Ngàn đời còn mãi gái Văn-khương
Trăm năm miệng túi càn khôn khép
Lòng chửa phôi-pha mảnh má hường.

Lỗ Trang-công chôn cất xong, tính theo lời di-chúc nghị việc hôn nhân.

Quan Đại-phu Tào Quới can:

- Đại tang chửa mãn, xin Chúa công hãy thư thả đã.

Lỗ Trang-công nói:

- Lời mẹ ta đã dạy, nếu trái lời e bất hiếu. Song cưới vợ trong lúc tang chế lòng ta không an. Vậy thì, chờ đến giáp năm sẽ tính việc ấy.

Qua năm sau, Lỗ Trang-công cho người qua Tề cầu hôn.

Tề Hoàn-công nói:

- Lỗ-hầu chửa mãn tang. Xin chờ đến hai năm nữa đã.

Vào năm thứ bảy của Châu Huệ-vương, Lỗ Trang-công hết tang mẹ thì đã ba mươi bẩy tuổi, mới cưới được con gái Tề tướng-công đem về Lỗ, tức là nàng Ái-khương.

Từ ngày Khương-thị về Lỗ, Tề và Lỗ giao-hảo rất thân thiết.

Tề Hoàn-công lại khiến Lỗ Trang-công hiệp binh đánh nước Từ và nước Nhung.

Hai nước này không dám chống cự, phải đem lễ vật triều cống, chịu làm tôi nước Tề.

 ----------------------------------------------------------

Hồi thứ 20.
Tấn Hiến-công mê sắc lập Ly-cơ
Sở Thành-vương chuộng tài phong Đấu Cấu

Trịnh Văn-công thấy uy thế nước Tề mỗi ngày một mạnh, sợ đem binh đến đánh nước mình, bèn sai sứ cầu hòa.

Vào năm Châu Huệ-vương thứ mười, Tề Hoàn-công họp các nước Tống, Lỗ, Trần, Trịnh nơi đất U làm lễ huyết-thệ.

Từ ấy, các nước đều tùng phục nước Tề.

Sau lễ huyết-thệ, Tề Hoàn-công trở về nước bày tiệc khao thưởng các quan. Tiệc nửa chừng, Bão Thúc Nha rót một chén rượu đầy dâng cho Tề Hoàn-công và chúc thọ.

Tề Hoàn-công rất đẹp lòng nói:

- Tiệc rượu ngày hôm nay vui vẻ biết bao!

Bao Thúc Nha tâu:

- Bậc minh-quân, hiền-sĩ tuy vui mà chẳng quên lo. Chúa công chớ nên quên những ngày chạy trốn sang nước Cử, Quản Trọng chớ quên những ngày ở trong tù xa, Ninh Thích đừng quên lúc cưỡi trâu dưới núi.

Tề Hoàn-công cười lớn, đứng dậy xá hai cái, và nói:

- Nếu chúng ta không bao giờ quên những lúc gian nan, đó là phúc lớn cho nước ta đó.

Ngày ấy Chúa tôi vui vầy, rượu càng say, lòng người càng hoan-hỉ.

Một hôm, có sứ nhà Châu sai đến.

Tề Hoàn-công vội vã ra nghinh-tiếp.

Sứ triều truyền chỉ phong cho Tề-hầu làm Phương-bá, có quyền đem quân vấn tội các chư hầu.

Lại giao cho Tề Hoàn-công một tờ mật chiếu như sau:

Vệ-hầu Sóc, đem quân giúp Vương-tử Đồi, gây loạn Thiên-triều, lòng trẫm tích oán đã mười năm, song chưa chinh phạt đặng. Nay trẫm cậy khanh toan liệu việc ấy mà rửa hờn cho trẫm.

Tề Hoàn-công bái mạng, rồi đưa Thiên-sứ về nước.

Cách đó không lâu, Tê Hoàn-công hưng binh phạt Vệ.

Lúc ấy Vệ Huệ-công (tức Vệ Sóc) đã qua đời, con là Thế tử Xích lên nối ngôi xưng hiệu Vệ Ý-công.

Vệ Ý-công nghe binh Tề kéo đến, không cần hỏi nguyên do, cứ việc đem quân ra thành chống cự. Nhưng đánh không lại, bị thua một trận khá lớn, phải kéo binh trở về cố thủ.

Tề Hoàn-công đem binh vây thành hạch tội Vệ Huệ-công thuở trước.

Vệ ý-công nói:

- Đó là lỗi của Tiên-quân ta, đâu có can hệ gì đến ta mà sợ!

Nói rồi sai con trưởng là Khai-phương đem lễ vật xin giảng hòa.

Tề Hoàn-công nói:

- Theo phép nhà Châu ta thì không bắt tội đến con cháu. Nay Vệ Huệ-công đã chết, ta cũng nên khoan thứ.

Nói rồi, thâu lễ vật, thừa nhận việc cầu hòa, rồi rút quân về nước.

Công tử Khai-phương thấy nước Tề cường-thịnh, xin được làm quan nơi nước Tề.

Tề Hoàn-công nói:

- Ngươi là con trưởng của Vệ-hầu, tất ngày sau lên nối ngôi, tại sao lại bỏ ngôi của mình mà sang làm tôi ở nước ta?

Công-tở Khai-phương tâu:

- Chúa công là bậc hiền đức trong thiên-hạ, nếu được hầu hạ Chúa công tôi tưởng còn sung sướng hơn là làm vua.

Tề Hoàn-công suy nghĩ, rồi phong cho Khai-phương làm quan Đại phu, và cũng thân yêu như bọn Thụ Điêu và Dịch Nha vậy. Người nước Tề gọi ba người này là "Tam quí", nghĩa là ba người được vua tin nhất.

Công tử Khai-phương lại nói với Tề Hoàn-công rằng:

- Vệ Huệ-công trước kia còn lại một người con gái rất đẹp, chưa định vu-quy.

Tề Hoàn-công hỏi:

- Con gái Vệ Huệ-công là Vệ-Cơ ta đã cưới về làm phu nhân rồi, nay còn một người em nữa sao?

Công tử Khai Phương nói:

- Tâu Chúa công, thật đúng vậy. Nàng này là em nhưng nhan sắc còn mặn mà hơn.

Tề Hoàn-công mừng rỡ sai người đến thương lượng với Vệ Ý-công, xin rước về làm tiểu thiếp.

Vệ Ý-công không dám trái lời, phải đưa Vệ-Cơ sang Tề.

Tề Hoàn-công gọi người chị là Trưởng Vệ-cơ, người em là Thiếu Vệ-cơ để phân biệt. Hai chị em đều được Tề Hoàn-công yêu chuộng cả.

Đây nói qua việc Tấn. Chúa nước Tấn lúc bấy giờ là Tấn Hiền-công, con của Xưng đại tức là Tấn Võ-công.

Hiến-công lúc còn làm Thế tử, cưới nàng Giả-thị làm chánh thất nhưng không con, bèn cưới cháu gái của Khuyển-Nhung là Hồ-Cơ làm thứ thất, sinh đặng một trai là Trùng Nhĩ. Sau đó lại cưới thêm con gái họ Doãn, sinh đặng một trai là Di Ngô.

Lại nữa, trong lúc Tấn Võ-công còn sang có cưới nàng Tề-Khương, con nhà tôn-thất nước Tề làm tiểu thiếp. Nhưng Tấn Võ-công đã già, còn nàng Tề-khương còn trẻ, nên Hiến-công tư thông với Tề-khương (tiểu thiếp của cha) ăn ở với nhau sinh đặng một trai là Thân-sanh.

Đến lúc Hiến-công lên ngôi, thì chánh thất Giả-thị đã qua đời.

Tấn Hiến-công bèn lập nàng Tề-khương lên làm chánh-thất, và con nàng Tề-khương là Thân Sanh lên làm Thế tử, mặc dầu lúc đó Trùng Nhĩ, Di Ngô cũng là con của Tấn Hiến-công, đã lớn tuổi hơn.

Sau đó Tề-khương sinh thêm được một gái nữa, mới mãn phần.

Nàng Tề-khương chết, Tấn Hiến-công cưới em gái nàng Giả-thị là Giả-quân làm tiểu thiếp, nhưng Giả-quân cũng không con, Tấn Hiến-công bảo phải nuôi con gái mới sinh của Tề-khương làm con nuôi.

Chưa hết, Tấn Hiến-công lên ngôi được mười lăm năm, cử binh sang đánh nước Ly-nhung. Chúa Ly-nhung bị thua, dâng hai người con gái cho Tấn Hiến-công mà cầu hòa. Hai người con gái ấy, người lớn là Ly-cơ, người nhỏ là Thiếu-cơ. Nàng Ly-cơ xinh đẹp phi thường, nhan sắc không thua Tức Vĩ, tướng mạo không nhường Đắc-Kỷ, lại thêm lòng dạ nham hiểm, đủ mánh khoé làm say lòng người, do đó Tấn Hiến-công rất yêu chuộng.

Chẳng bao lâu, Ly-cơ sanh đặng một trai là Hề Tề, còn Thiếu-cơ cũng sanh đặng một trai là Trác Tử.

Vì quá yêu nàng Ly-cơ, Tấn Hiến-công không còn thiết gì đến mối tình nàng Tề-khương thuở trước, muốn lập Ly-Cơ lên làm chánh-thất, bèn đòi quan Thái-bốc là Quách Yến vào triều bảo:

- Khanh thử bói một quẻ xem ta lập Ly-cơ lên chánh-thất có đặng chăng?

Quách Yến tuân lời gieo quẻ, rồi nói:

- Quẻ không tốt. Điềm ứng việc thay đổi lộn xộn không hay.

Tấn Hiến-công không tin, truyền quan Sử Tô bói lại.

Quan Sử Tô cũng cho là xấu, và nói:

- Tâu Chúa công, chư hầu không đặng cưới vợ hai lần, nay Chúa công đã lập chánh thất rồi, mặc đầu chánh thất sớm lìa trần nhưng vẫn có con trai. Nếu Chúa công lập chánh-thất nữa thật trái lẽ.

Tấn Hiến-công không nghe, chọn ngày cáo với Thái-miếu, rồi lập Ly-cơ làm Chánh-cung, Thiếu-cơ làm Thứ-phi.

Sử Tô thấy vậy thở dài, nói riêng với quan Đại-phu Lý Khắc:

- Nước Tấn ta sắp mắt rồi! Biết làm sao!

Lý Khắc nghe nói giật mình hỏi:

- Sao thế! Ai làm mất nước Tấn?

Sử Tô đáp:

- Nước Tấn ắt phải bị mất về tay nước Ly-nhung. Ngày xưa vua Kiệt nhà Hạ, đánh nước Thi, người nước Thi dâng nàng Muội Hỉ, vua Kiệt yêu Muội Hỉ mà nhà Hạ mất. Vua Trụ nhà Ân đánh nước Tô, người nước Tô dâng Đát Kỷ, vua Trụ yêu Đát Kỷ mà nhà Ân mất. Vua U-vương nhà Châu đánh nước Bao, người nước Bao dâng Bao Tự, vua U-vương yêu Bao Tự nên nhà Tây Châu suy mất. Nay Chúa công đi đánh nước Ly-Nhung, người Ly-Nhung dâng gái đẹp mà Chúa công say mê như thế, lẽ nào nước Tấn còn được.

Lúc đó có quan Thái-bốc là Quách Yến bước vào, Lý Khắc đem những lời của Sử Tô thuật lại.

Quách Yến nói:

- Cứ theo quẻ, thì nước Tấn ta bị loạn chứ chưa mất, vì tiên-quân ta mới được thọ phong ở nước Tấn này, nên vận nước còn dài.

Lý Khắc hỏi:

- Đến bao giờ thì loạn?

Quách Yến nói:

- Chi trong mười năm nữa mà thôi.

Ba vị đại thần nhìn nhau buồn bã rồi lui về.

Kế đó, Tấn Hiến-công tỏ ý muốn lập con trai nàng Ly-cơ lên làm Thế tử. Một hôm nói với Ly-cơ:

- Nay phu nhân ở chức chánh cung, chẳng lẽ không lập Hề-Tề, con trai của phu nhân, lên làm Thế tử sao phải lẽ?

Ly-cơ nghe nói lòng mừng khấp khởi, nhưng nàng vốn là một kẻ mưu mô, thâm hiểm, bèn nghĩ thầm:

- Thân Sanh được phong Thế tử đã lâu, nay vô cớ mà phế đi ắt quần thần chẳng phục. Hơn nữa Trùng Nhĩ và Di Ngô lại thân mật với Thân Sanh lắm. Nếu bây giờ nói ra chưa làm chi được, mà họ lại biết trước đề phòng, thì sau này rất khó.

Nghĩ như vậy, bèn tâu với Tấn Hiến-công:

- Khi Chúa công lập Thế tử Thân Sanh, cả chư hầu đều biết. Nay Thế tử không có tội gì mà Chúa công tính việc phế lập, thiếp thà chết chứ không dám vâng mệnh.

Tấn Hiến-công ngỡ Ly-cơ có lòng tốt, khen ngợi vô cùng, rồi bỏ qua việc ấy không nói đến nữa.

Trong triều có hai người tôi được Tấn Hiến-công rất yêu mến.

Một người là Lương Ngũ và một người là Đông Quang Ngũ. Cả hai họp sức với Tấn Hiến-công lo việc quốc chính. Vì được yêu dùng nên hai người này làm lắm chuyện lộng quyền, đến nỗi người nước Tần gọi là "nhị-ngũ". Nghe tiếng "nhị-ngũ" ai cũng phải sợ.

Cũng trong lúc ấy, có một phường hát tên Ưu Thi, trẻ tuổi, đẹp trai, có tài khôi hài rất duyên dáng, vì vậy Tấn Hiến-công rất thích, cho phép được tự do ra vào cung điện, không ai ngăn cấm cả.

Ly-cơ được thế, tư tình với Ưu Thi, hai bên tỏ ra tương đắc.

Một hôm, Ly-cơ đem ý muốn lập Thế tử Hề Tề nói với Ưu Thi.

Ưu Thi đáp:

- Ba vị Công tử kia còn ở tại Kinh đô, việc đó khó thực hiện được. Nay phải tìm cách đưa ba người ra trấn cõi ngoài rồi tùy cơ ứng biến.

Ly-cơ hỏi:

- Thế thì ta đem ý ấy bàn với Chúa công có đặng chăng?

Ưu Thi nói:

- Không nên, nay trong triều có "nhị ngũ" nói gì mà Chúa công chẳng nghe. Phu nhân nên đem vàng bạc mua lòng mà giao kết với họ. Hễ "nhị ngũ" thưa thuận thì việc chẳng khó gì.

Ly-cơ liền đưa vàng bạc cho Ưu Thi đem lo lót cho Lương Ngũ và Đông Quang Ngũ.

Ưu Thi lãnh mạng, đến nhà Lương Ngũ trước và nói:

- Thưa ngài, phu nhân muốn làm đẹp lòng ngài nên sai tôi đem lễ vật đến đây, mong ngài không từ chối.

Lương Ngũ nghe nói, ngạc nhiên hỏi:

- Phu nhân có dặn điều chi chăng? Nếu không nói rõ tôi đâu dám nhận?

Ưu Thi đem mưu kế của Ly-cơ, thuật lại.

Lương Ngũ nói:

- Việc này phải có Đông Quan Ngũ giúp sức mới xong.

Ưu Thi nói:

- Phu nhân cũng có lễ vật biếu Đông Quan Ngũ như ngài.

Hai người liền dắt nhau đến nhà Đông Quan Ngũ để cùng nhau đàm luận.

Sáng hôm sau, Lương Ngũ vào triều thưa với Tấn Hiến-công:

- Đất Khúc-ốc là chỗ Tiên-quân thuở xưa lập nghiệp, hiện nay tôn miếu hãy còn. Còn đất Bồ và đất Khuất, tiếp giáp với Nhung định là một nơi trọng địa. Ba chỗ ấy cần phải có người ra trấn thủ, xin Chúa công sai Thế tử Thân Sanh ra trấn nơi Khúc-ốc, Công tử Trùng Nhĩ ra trấn nơi đất Bồ và Công tử Di Ngô ra trấn nơi đất Khuất. Được như vậy giang-san nước Tấn mới vững vàng.

Tấn Hiến-công nói:

- Đất Khúc-ốc thì phải rồi, còn đất Bồ và đất Khuất là hai nơi hoang địa, tại sao lại phải cho hai vị Công tử ra trấn giữ?

Đông Quang Ngũ quỳ tâu:

- Tuy hoang địa nhưng lại là nơi trọng địa. Nếu xây thành sửa sang cho kiên cố thì đất ấy trở nên trù mật. Và nước Tấn sẽ giàu mạnh hơn các chư hầu.

Tấn Hiến-công nghe lời sai Thế tử Thân Sanh ra trấn thủ nơi Khúc-ốc, có quan Thái-Phó Đỗ Nguyên Khoản theo hầu. Công tử Trùng Nhĩ ra trấn nơi đất Bồ, có Hồ Mao theo hầu. Công tử Di Ngô ra trấn nơi đất Khuất, có Lã Di Sảnh theo hầu.

Ba vị Công tử đi rồi trong triều chỉ còn có Hề Tề và Trác Tử gần gũi Tấn Hiến-công.

Nàng Ly-cơ lại tìm hết mánh khóe để làm say lòng vua Tấn.

Lức bấy giờ Tấn hiền-công chia quân ra làm hai đạo: Thượng quân và Hạ quân. Đạo thượng quân thì do Tấn Hiến-công điều khiển, còn đạo hạ quân thì giao cho Thế tử Thân Sanh sử dụng.

Thân Sanh cùng với quan Đại-phu Triệu Túc và Tất Vạn kéo quân sang chinh phục nước Cảnh, nước Quắc và nước Ngụy.

Ba nước này đánh không lại phải đầu hàng.

Vì vậy công lao của Thế tử Thân Sanh rất lớn.

Mà cũng vì vậy, nàng Ly-cơ ngày đêm buồn bã, tính chưa ra kế để làm hại Thế tử Thân Sanh được.

Đây nói đến việc nước Sở. Từ khi Sở Văn-vương tạ thế, Hùng Hi lên nối ngôi. Hùng Hi và Hùng Vận cùng là con nàng Tức Vĩ sinh ra, nhưng Hùng Vận tài trí hơn anh, do đó Tức Vĩ có lòng yêu dấu. Cả đến người trong nước cũng mến phục.

Hùng Hi thấy vậy muốn tìm kế giết Hùng Vận đi để khỏi di họa về sau, ngặt vì Hùng Vận được các quan trong triều hết lòng che chở, nên Hùng Hi không tìm ra kế.

Lần hồi, Hùng Hi chán nản, bỏ bê việc triều chính, thích săn bắn nơi chốn hoang vu. Vì vậy, Hùng Hi lên ngôi đã hơn ba năm mà chưa chỉnh đốn được việc gì cả.

Một hôm, Hùng Vận mật sai người đón đường giết Hùng Hi đi, rồi nói dối với Tức Vĩ là Hùng Hi đi săn gặp tai nạn mà thác.

Tức Vĩ lòng nghi ngờ nhưng không tiện nói ra, bèn truyền cho các quan lập Hùng Vận lên nối ngôi, hiệu là Sở Thành-vương.

Sở Thành-vương phong cho người chú là Vương-tử Nguyên làm Tể-tướng.

Vương-tử Nguyên từ khi Sở Văn-vương chết đi, đã có ý muốn cướp ngôi, lại thấy chị dâu là Tức Vĩ, nhan sắc tuyệt vời, đem lòng ham muốn. Trước kia, vì sợ Đấu Bá Tỷ là một Đại-thần cương trực, lại có nhiều tài trí nên chẳng dám làm càn. Nay Đấu Bá Tỷ đã chết, Vương-tử Nguyên không còn kính trọng ai nữa, mới lập lên một ngôi nhà bên cạnh cung Tức Vĩ, ngày đêm bắt vũ nhạc múa hát, cốt làm cho Tức Vĩ say lòng.

Tức Vĩ nghe tiếng, hỏi bọn thế nữ:

- Tiếng đàn ca ở đâu mà gần thế?

Bọn thế-nữ tâu:

- Đó là tiếng nữ nhạc bên nhà mới của quan Tể-tướng đó.

Tức Vĩ thở dài nói:

- Tiên quân ngày xưa chăm lo luyện tập binh-sĩ đánh dẹp các chư hầu, vì vậy các nước đều thần phục. Bây giờ quân nước Sở ta đã mười năm nay, không tiến được nữa bước trên đất Trung Quốc, thế mà quan Tể-tướng không nghĩ những điều xấu hổ ấy lại bày việc đờn ca, hát xướng bên cung gái góa này, thật lạ lùng làm sao!

Nội-thị đem mấy lời ấy thuật lại với Vương-tử Nguyên.

Vương-tử Nguyên lấy làm xấu hổ, nghĩ thầm:

- Một người đàn bà còn có chí như vậy, lẽ nào ta đây là một đấng trượng-phu lại chẳng nghĩ đến sao! Nếu không đánh được nước Trịnh quyết chẳng làm người.

Nói rồi, điểm sáu trăm cỗ binh xa, khiến Đấu Ngự Cương và Đấu Ngô làm tiên phong, Vương-tôn Du và Vương-tôn Gia đi hậu tập rầm rộ kéo đến nước Trịnh.

Trịnh Văn-công nghe tin binh Sở kéo đến đánh liền hội quần-thần thương nghị.

Đỗ Thúc nói:

- Quân Sở rất hùng mạnh, ta làm sao địch lại, chi bằng xin giảng hòa rồi sẽ tính.

Sư Thúc nói:

- Nước ta đã có minh thệ với Tề, nếu cầu cứu ắt Tề đem binh đến giúp. Xin cứ cố thủ chờ viện binh.

Thế tử Hoa bấy giờ còn trẻ tuổi, lòng bồng bột nghe nói vội xin đem quân ra đối địch.

Trịnh Văn-công chưa quyết lẽ nào, Thúc Thiêm quỳ tâu:

- Trong ba lời nói vừa rồi, chỉ có lời của Sư Thúc là hợp ý tôi. Tôi đoán binh Sở chẳng bao lâu phải kéo về.

Trịnh Văn-công hỏi:

- Vương-tử Nguyên đã đem binh đến đây, nếu không bị thua lẽ nào chịu lui về.

Thúc Thiêm nói:

- Xưa nay nước Sở đi đánh nước ngoài chưa bao giờ dùng binh lực nhiều như thế. Lần này Vương-tử Nguyên cốt ý làm cho vừa lòng Tức Vĩ. Nhưng đã cố thắng tất sẽ thua. Vì vậy không đáng sợ.

Các quan còn đang thương nghị bỗng có tin báo:

- Binh Sở đã phá đặng Kiết-Thất quan, nay đã vào đến Thuần-môn rồi.

Đỗ Thúc nói:

- Ấy vậy, nếu không muốn giảng hòa thì phải qua nơi đất Đồng-khâu để tránh nhuệ khí của giặc.

Thúc Thiêm nói:

- Đừng sợ gì cả! Tôi đã có kế làm cho quân giặc phải lui.

Nói xong, sai quân giáp sĩ mai phục trong thành, rồi khiến mở bét cả bốn cửa thành ra. Dân sự, chợ búa vẫn đi lại như thường.

Tướng nước Sở là Đấu Ngự Cương vừa kéo quân đến thầy vậy lòng nghi ngờ, nói với Đấu Ngô:

- Ta đến đây mà quân Trịnh không chút gì xao dộng, tất có mưu kế chi đây. Ta không nên tiến quân vội, phải án binh đợi quan Tể-tướng đã.

Nói xong, truyền đóng quân ngoài thành, cách xa năm dặm.

Được một lúc, đại binh của Vương-tử Nguyên kéo đến, Đấu Ngự Cương cáo báo lại quân tình.

Vương-tử Nguyên lấy làm lạ, trèo lên chỗ cao xem, thấy trong thành Trịnh quân sĩ có thứ lớp, cờ xí rộn-ràng, liền thở dài, nói:

- Nước Trịnh có ba người tài (ý nói Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc) ắt có mưu kế chi đây. Nếu ta sơ suất còn mặt mũi nào trông thấy nàng Tức Vĩ. Chi bằng cho quân thám thính kỹ, nắm được địch mình rồi sẽ liệu.

Ngày hôm sau, có quân thám thính về báo:

- Quân nước Tề, Lỗ, Tống đồng hưng binh qua cứu Trịnh.

Vương-tử Nguyên giật mình, bảo các tướng:

- Nay các nước chư hầu đem binh đến đây, trong đánh ra, ngoài đánh vào, quân ta cự sao lại.

Thôi thì ta tiến quân được đến đây cũng gọi là thắng trận rồi. Bây giờ rút lui về nước thì tiện hơn.

Nói xong, truyền quân sĩ cuốn cờ im trống, ngay đêm hôm ấy lẻn ra khỏi địa-giới nước Trịnh.

Nhưng khi về đến biên giới nước Sở lại truyền mở cờ đánh trống lên ầm ĩ.

Về chưa đến Kinh-thành Vương-tử Nguyên đã sai người đến báo cho Tức Vĩ hay tin quân Sở đắc thắng khải-hoàn.

Tức Vĩ nói:

- Nếu quan Tể-tướng đắc thắng thì cáo-tế với nhà Thái-miếu, rồi truyền bá cho dân chúng biết chứ nói với gái góa này làm chi?

Quân về báo lại. Vương-tử Nguyên thẹn thùng, lểnh mểnh đem quân vào thành mặt buồn khôn xiết.

Cũng trong đêm ấy, tại nước Trịnh, Thúc Thiêm thấy bốn bề yên lặng, mới cho người ra dò xét.

Quân vào báo:

- Trại quân Sở không còn một bóng người.

Thúc Thiêm dẫn các quan lên mặt thành xem, rồi chỉ vào trại địch nói:

- Quân Sở đã bỏ trốn rồi.

Các tướng không tin hỏi:

- Tại sao ngài biết được?

Thúc Thiêm nói:

- Dinh quan Đại tướng bao giờ cũng phải có quân canh gác cẩn mật, nay thấy có đàn quạ đậu trên cây mà kêu thì biết đó là trại không người. Tôi chắc rằng quân Sở hay tin các nước chư hầu kéo đến nên đã âm thầm rút lui.

Đang lúc bàn bạc, bỗng có quân vào báo:

- Quân các nước chư hầu vừa kéo đến biên giới, hay tin quân Sở đã bỏ về nên các chư hầu đem binh trở lại.

Ai nấy vỗ tay reo hò, khen ngợi Thúc Thiêm là người cao kiến.

Trịnh Văn-công mừng rỡ, mở tiệc vui vầy, Chúa tôi hỉ hả.

Còn Vương-tử Nguyên, từ khi đi đánh nước Trịnh không được công-trạng gì lại bị Tức Vĩ thờ ơ, lãnh đạm, lòng áy náy muốn cướp ngôi nước Sở. Tuy nhiên, Vương-tử Nguyên lại định ý tư thông với Tức Vĩ trước đã.

Gặp lúc Tức Vĩ bị bệnh, Vương-tử Nguyên giả cách vào thăm, rồi ở mãi trong cung, không chịu về.

Quan Đại-phu là Đấu Liêm hay được, liền vào cung thấy Vương-tử Nguyên đang soi gương, chải đầu.

Đấu Liêm nói:

- Quan Tể-tướng dẫu là chú vua, nhưng vẫn là kẻ bề tôi. Vả lại, quốc mẫu góa chồng, nam nữ nên tị hiềm, sao Tể-tướng không nghĩ đền điều ấy?

Vương-tử Nguyên nổi giận nói:

- Quyền bỉnh nước Sở hiện ở trong tay ta. Sao ngươi dám nói càn.

Liền sai bọn thủ-hạ bắt Đấu Liêm trói lại, giam vào ngục.

Tức Vĩ thấy hành động lăng loàn của Vương-tử Nguyên liền sai nội thị đến báo với Đấu-cấu Ô-đồ (con của Đấu Bá Tỷ) tìm mưu diệt loạn.

Đấu-cấu Ô-đồ tâu với Sở Thành-vương, rồi cùng với Đấu Ngự Cương, Đấu Ngô và Đấu Bàn (con của Đấu-cấu) đem quân vào cung.

Vương-tử Nguyên đang vui say với bọn cung-nữ, nằm ngủ mơ màng, nghe tiếng quân reo, giật mình thức dậy, cầm gươm chạy ra.

Vừa đền cửa, gặp Đấu Ban bên ngoài cầm kiếm xốc tới.

Vương-tử Nguyên hét to:

- Thằng ranh con này, mày dám đến đây tác loạn sao?

Đấu Ban nói:

- Ta đâu có làm loạn, ta đến để trừ loạn đấy chứ!

Nói xong vung kiếm chém Vương-tử Nguyên.

Hai bên đánh một lúc thì Đấu Ngô và Đấu Ngự Cương đến tiếp ứng.

Vương-tử Nguyên nhắm thế cự không lại bỏ chạy.

Đấu Ban rượt theo chém một nhát, rơi đầu.

Giết được Vương-tử Nguyên rồi, Đấu-cấu Ô-đồ mở trói cho Đấu Liêm rồi cùng nhau đến thăm Tức Vĩ.

Xảy có lệnh Sở Thành-vương triệu tập quần thần để chọn người thay thế Vương-tử Nguyên làm chức Tể-tướng.

Các quan tề tựu đủ mặt.

Sở Thành-vương muốn chọn Đấu Liêm, nhưng Đấu Liêm một mặt chối từ, nói:

- Hiện nay nước ta có một đối thủ đáng sợ là nước Tề.

Nước Tề dùng Quản Trọng và Ninh Thích mà nước giàu, quân mạnh, nay Đại-vương muốn chỉnh đốn lại nước Sở tất phải dùng Đấu-cấu Ô-đồ mới được.

--------

🔙   Hồi tiếp theo   🔜

MỤC LỤC

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét