Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

Đông Chu liệt quốc (Hồi thứ 31 - 35)

Hồi thứ 31.
Tấn Huệ-công nổi giận giết tướng
Giới Tử Thôi cắt thịt nuôi vua

Tấn Huệ-công bị giam ở Linh Đài sơn, vẫn tưởng rằng Mục Cơ thù oán mình, không biết những việc Mục Cơ lập kế để xin hộ, liền bảo Hàn Giản rằng:

- Ngày trước tiên quân ta nếu biết nghe lời Sử Tô không kết thân với Tần thì không đến nỗi có việc này!

Hàn Giản nói:

- Có phải là lỗi tại tiên quân kết thân với Tần đâu. Nếu Tần không nghĩ tình thân thuộc thì sao chúa công được về nước. Tần đã giúp cho chúa công về, mà lại đem quân sang đánh, để gây sự thù oán, thì Tần có muốn đâu thế, chúa công nên nghĩ lại.

Huệ-công nín lặng. Chẳng bao lâu, Tần Mục-công sai Công Tôn Chi đến Linh Đài sơn bảo Huệ-công rằng:

- Các quan nước tôi, ai cũng căm giận nhà vua, nhưng chúa công tôi nể lời phu nhân mà không dám dứt tình. Ngày trước nhà vua có hẹn với chúa công tôi xin nộp năm thành, nay nhà vua nên nộp ngay đi, rồi sai thế tử Ngữ sang Tần làm con tin, thì chúa công tôi sẽ cho nhà vua về nước.

Bấy giờ Tấn Huệ-công mới biết Mục Cơ có lòng thương mình mà xin hộ, nên xấu hổ không biết dường nào, liền sai quan đại phu là Khước Khuất về nước Tấn bảo Lã Di Xanh lo việc nộp đất và đem thế tử Ngữ sang. Lã Di Xanh đem địa đồ và những sổ sách đinh điền trong năm thành sang dâng nộp Tần Mục-công. Tần Mục-công hỏi:

- Sao còn thế tử Ngữ chưa thấy đến?

Lã Di Xanh nói:

- Bởi nay trong nước không được yên, vậy nên thế tử tôi còn phải ở lại, chờ khi chúa công tôi về thì sẽ cho thế tử sang.

Mục-công hỏi:

- Vì cớ gì mà nước Tấn không được yên?

Lã Di Xanh nói:

- Trong nước tôi ngày nay chia thành ra hai phái: phái quân tử thì tự nhận lỗi mình, mà biết cám ơn quý quốc; còn phái tiểu nhân thì không tự xét lỗi mình, mà đem lòng thù oán quý quốc, bởi thế thành ra không được yên.

Mục-công nói:

- Người nước Tấn có còn mong cho vua trở về hay không?

Lã Di Xanh nói:

- Phái quân tử thì chắc thế nào chúa công tôi cũng được về nên muốn đưa thế tử sang để giảng hòa với quý quốc, còn phái tiểu nhân thì chắc là chúa công tôi không về được, nên muốn tôn lập thế tử để chống với quý quốc. Cứ như tôi nghĩ thì quý quốc bắt được chúa công tôi, cũng đã đủ lập uy mà tha chúa công tôi lại càng tỏ được lòng nhân đức. Vừa có uy, vừa có đức, ấy là cái sự nghiệp cúa một bậc bá chủ đấy! Nếu ngày nay quý quốc không tha chúa công tôi thì chỉ làm cho phái quân tử đau lòng và phái tiểu nhân căm giận, phỏng có ích gì cho quý quốc? Tôi dám chắc quý quốc không khi nào chịu bỏ cái sự nghiệp bá chủ ấy!

Mục-công cười mà nói rằng:

- Nhà ngươì nói cũng hợp ý ta lắm!

Nói xong, liền sai Mạnh Minh (con Bách Lý Hề) đi nhận lấy địa giới năm thành và đặt quan trấn thủ. Lại sai Công Tôn Chi đem quân cùng với Lã Di xanh đưa Tấn Huệ-công về nước. Các quan đại phu nước Tấn bị bắt từ trước cũng đều theo về cả, chỉ có Quắc ốm chết ở nước Tần.

Nga Tích nghe tin Tấn Huệ-công sắp về, bảo Khánh Trịnh rằng:

- Ngày trước nhà ngươi gọi Hàn Giản đi cứu chúa công, khiến chúa công bị bắt, nay chúa công được về, nhà ngươi tất phải tội, âu là nhà ngươi liệu mà trốn sang nước khác thì hơn.

Khánh Trịnh nói:

- Cứ theo binh pháp nói thì làm tướng đem quân đi đánh giặc mà bị thua, cũng còn đáng tội chết, huống chi ta làm cho chúa công bị bắt thì tội to biết dường nào! Nếu chúa công không về, ta cũng định đem gia quyến sang nước Tần xin chịu chết. Nay chúa công được về thì ta để cho chúa công trị tội ta mà làm gương cho kẻ khác, chứ việc gì phải trốn.

Nga Tích nghe nói, thương mà thở dài. Huệ-công về gần đến đất Giáng thì thế tử Ngữ đem các quan ra nghênh tiếp. Huệ-công trông thấy Khánh Trịnh, có ý tức giận mà hỏi rằng:

- Nhà ngươi còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa!

Khánh Trịnh nói:

- Lần trước chúa công biết theo lời tôi mà báo ơn nước Tần thì nước Tần tất không sang đánh; lần thứ hai biết theo lời tôi mà giảng hòa với Tần thì Tần cũng không sang đánh; đến lần thứ ba, biết theo lời tôi mà không dùng ngựa tiểu tứ thì cũng không đến nỗi thua, thế là tôi tận trung với chúa công đó, sao tôi lại không dám ra đây để nghênh tiếp chúa công?

Huệ-công nói:

- Bây giờ nhà ngươi còn nói gì nữa không?

Khánh Trịnh nói:

- Tôi có ba tội đáng chết: có lời nói trung mà khiến vua không nghe, thế là một tội; bói được làm chức xa hữu mà khiến vua không dùng, thế là hai tội; đi gọi người cứu vua mà khiến vua bị bắt, thế là ba tội. Vậy tôi xin chịu tội chết!

Huệ-công không biết nói thế nào, sai Lương Do Mỵ kể tội Khánh Trịnh. Lương Do Mỵ bảo Khánh Trịnh rằng:

- Bấy nhiêu điều nhà ngươi nói đều không phải tội đáng chết, nhưng nhà ngươi có ba tội này đáng chết, nhà ngươi có biết không? Chúa công đang ở trong đám bùn lầy, gọi nhà ngươi đến cứu mà nhà ngươi không đến, đó là một tội đáng chết; ta sắp bắt được vua Tần, nhà ngươi lại gọi đi cứu chúa công, làm cho ta không bắt được vua Tần, đó là hai tội đáng chết; các quan đều cố sức đánh mà bị bắt cả, chỉ có nhà ngươi thoát thân trốn về, đó là ba tội đáng chết.

Khánh Trịnh bèn ngảnh lại bảo các quân sĩ rằng:

- Các quân sĩ nghe tôi nói một lời: có ai là người không dám cố sức đánh giặc, mà dám ngồi yên để xin chịu tội chết bao giờ không?

Nga Tích nói với Huệ-công rằng:

- Khánh Trịnh biết tội chết mà không bỏ trốn thì thật là một kẻ dũng sĩ, chúa công nên tha cho y rồi sai y đi đánh báo thù.

Lương Do Mỵ nói:

- Đánh nhau đã thua rồi, bây giờ lại dùng người có tội để đi đánh báo thù, như thế chỉ làm cho thiên hạ cười nước Tấn ta là không còn ai nữa?

Gia Bộc Đỗ cũng can Huệ-công rằng:

- Khánh Trịnh ba lần dâng lời nói trung, cũng đủ chuộc tội chết, bây giờ theo phép giết đi, chi bằng nghĩ lại mà tha cho thì chúa công cũng được cái tiếng nhân từ.

Lương Do Mỵ lại nói:

- Nước được cường thịnh là nhờ có phép nước; nếu không tuân theo phép nước thì ai còn sợ hãi? Tôi chắc rằng nếu tha Khánh Trịnh thì từ nay trở đi, ta không còn có thể dùng binh được nữa.

Huệ-công truyền đem Khánh Trịnh ra chém. Lương Do Mỵ khi trước vây Tần Mục-công, đã sắp bắt được, bị Khánh Trịnh gọi đi cứu Tấn Huệ-công, thành ra không bắt được vua nước Tần, bởi vậy thâm thù Khánh Trịnh nên cố nói với Huệ-công để giết Khánh Trịnh. Khi Khánh Trịnh bị giết, trời đất tối tăm, các quan đại phu có nhiều người thương mà chảy nước mắt. Nga Tích xin đem thi thể Khánh Trịnh về làm ma, để đền ơn Khánh Trịnh cứu mình khi trước (khi đánh nhau với Tần, Nga Tích bị thương, Khánh Trịnh vực lên xe đem về).

Tấn Huệ-công đã về nước rồi, bèn sai thế tử Ngữ theo Công Tôn Chi sang ở nước Tần để làm tin, và xin thi thể Đồ Ngạn Di đem về làm ma, phong cho con trai Đồ Ngạn Di làm chức trung đại phu. Một hôm, Tấn Huệ-công bảo Khước Nhuế rằng:

- Trong ba tháng ta ở nước Tần, chỉ lo Trùng Nhĩ nhân dịp biến loạn mà đem quân về cướp ngôi, đến bây giờ ta mới yên tâm.

Khước Nhuế nói:

- Còn Trùng Nhĩ ở ngoài thì vẫn còn một cái họa tâm phúc, ta nên nghĩ cách mà trừ bỏ đi, để khỏi hại về sau.

Huệ-công hỏi các quan rằng:

- Có ai vì ta mà giết được Trùng Nhĩ thì ta sẽ trọng thưởng.

Khước Nhuế nói:

- Bột Đề năm trước đi đánh đất Bồ, đã chém đứt vạt áo Trùng Nhĩ, hắn vẫn sợ Trùng Nhĩ được về nối ngôi thì tất trị tội hắn. Nếu chúa công muốn giết Trùng Nhĩ thì tất phải dùng hắn mới được việc.

Tấn Huệ-công liền gọi Bột Đề vào, mật bảo việc giết Trùng Nhĩ.

Bột Đề nói:

- Trùng Nhĩ ở nước Địch đã hai mươi năm nay, người nước Địch đánh nước Cao Như, bắt được hai người con gái: Thúc Ngỗi và Quý Ngỗi, đều có nhan sắc. Người nước Địch đem Quý Ngỗi gả cho Trùng Nhĩ đem Thúc Ngỗi gả cho Triệu Thôi. Hai người đã có con cả, đều vui cảnh vợ con, mà không lo gì đến việc về phía ta cả. Nay tôi đem quân sang tất người nước Địch giúp Trùng Nhĩ mà sinh sự đánh nhau, chưa chắc ta đã bắt được Trùng Nhĩ, chi bằng để tôi thuê mấy người lực sĩ, lén sang nước Địch, rình lúc Trùng Nhĩ ra chơi bên ngoài mà giết đi là tiện hơn cả.

Huệ-công khen phải, rồi cho Bột Đề một trăm nén vàng để đi tìm kẻ lực sĩ, hạn trong ba ngày phải khởi hành sang nước Địch.

Hồ Đột là một vị lão quốc cữu ở nước Tấn bấy giờ, thấy Bột Đề tìm kẻ lực sĩ gấp lắm, dẫu tổn phí bao nhiêu tiền bạc, cũng không quản ngại, mới sinh nghi, đi hỏi dò nhứng kẻ nội thị. Trong đám nội thị có người biết chuyện, thuật lại cho Hồ Đột nghe. Hồ Đột giật mình kinh sợ, tức khắc viết một bức thư sai người sang nước Địch báo cho Trùng Nhĩ biết.

Trùng Nhĩ đang cùng với Hồ Mao, Hổ Yển (hai con của Hồ Đột) theo vua nước Địch đi săn ở bến sông Vị. Bỗng có người xin vào yết kiến, nói có thư của lão quốc cữu đưa sang. Hồ Mao và Hồ Yển nói:

- Thân phụ ta vốn không hay viết thư, tất là trong nước có việc gì đây!

Nói xong, liền cho vào yết kiến. Người nhà đệ trình bức thư của Hồ Đột. Hồ Mao và Hồ Yển mở thư ra xem. Trong thư nói:

- Chúa công lập mưu định giết công tử, hiện sai Bột Đề trong ba ngày thôi phải khởi hành sang nước Địch. Anh em mày nên bẩm với công tử liệu mau mau trốn sang nước khác, chớ có chậm trễ mà mắc nạn.

Hồ Mao và Hồ Yển kinh sợ, vội vàng đem bức thư đệ trình Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ nói:

- Vợ con ta đều ở đây cả thì đây tức là nhà ta, bây giờ ta biết trốn đi đâu được?

Hồ Yển nói:

- Chúng ta tới đây, không phải có ý định lập nhà, mà là có chí muốn lập nước, chỉ vì sức chưa đi xa được, vậy phải tạm dừng chân ở đây mà thôi. Nay ta ở đây đã lâu, cũng nên tìm sang nước lớn khác. Việc Bột Đề đến đây, chẳng qua cũng là lòng trời xui khiến, để giục công tử phải lập chí.

Trùng Nhĩ nói:

- Nay định đi thì nên sang nước nào?

Hồ Yển nói:

- Nay Tề hầu dẫu già, nhưng sự nghiệp bá chủ hãy còn, ta nên sang Tề.

Trùng Nhĩ khen phải, mới không đi săn nữa, trở về nói chuyện với vợ là Quý Ngỗi rằng:

- Vua nước Tấn sai người đến đây để định giết ta, vậy ta phải tránh nạn mà sang nước khác, để rồi sẽ kết liên với Tần và Sở để về phục quốc. Nàng ở nhà trông nom hai con cái cho ta, đợi ta trong hai mươi nhăm năm, nếu không thấy ta về thì nàng cứ đi lấy chồng.

Quý Ngỗi khóc mà nói rằng:

- Làm tài trai chí ở bốn phương, thiếp không dám ngăn trở, nhưng nay thiếp đă hai mươi nhăm tuổi, lại chờ hai mươi nhăm năm nữa thì thiếp già đời mất, còn lấy ai nữa. Thôi thì thế nào thiếp cũng cố chí mà đợi công tử, xin công tử chớ lo ngại.

Triệu Thôi cũng từ giã với vợ là Thúc Ngỗi. Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ sai Hồ Thúc sắp sửa xe ngựa và Đầu Tu thu xếp tiền bạc để khởi hành. Bỗng thấy Hồ Mao và Hồ Yển hoảng chạy đến, nói là Hồ Đột ở nhà thấy Bột Đề đã khởi hành rồi, nên không kịp viết thư, lại sai người sang giục công tử phải đi ngay. Trùng Nhĩ nghe tin, kinh sợ mà rằng:

- Sao Bột Đề đến chóng như vậy?

Nói xong, không kịp chỉnh đốn hành trang, liền tức khắc cùng với Hồ Mao và Hồ Yển đi ngay. Hồ Thúc thấy Trùng Nhĩ đã đi rồi, vội sửa soạn được một cái xe bò để đem theo cho Trùng Nhĩ ngồi, còn bọn Triệu Thôi thì lục tục đi đất theo sau. Trùng Nhĩ hỏi đến Đầu Tu, thì không thấy Đầu Tu đâu, thì ra Đầu Tu đã cuốn hết vàng bạc bỏ trốn mất rồi! Trùng Nhĩ đã không có chỗ nương tựa lại mất hết cả tiền bạc, tình trạng lúc ấy, rất đỗi thảm thương.

Trùng Nhĩ đi đã nửa ngày rồi, vua nước Địch mới biết, muốn đưa tặng đồ tư trang, nhưng không thể nào theo kịp được. Vua nước Địch biết chuyện Tấn Huệ-công sai Bột Đề sang chực giết Trùng Nhĩ, mới truyền cho các nơi quan ải phàm người qua lại, phải khám xét thật kỹ. Bột Đề ở nước Tấn, nguyên là một kẻ hoạn quan, nay thay hình cải dạng để đi giết Trùng Nhĩ, nên mỗi khi bị quân nước Địch khám xét, Bột Đề không biết đằng nào mà ứng đối, thành ra không sang qua được nước Địch, lại phải uất ức mà trở về. Tấn Huệ-công cũng không biết nghĩ cách gì khác nữa.

Công tử Trùng Nhĩ định sang nưởc Tề, đường đi qua nước Vệ, quan giữ ải nước Vệ hỏi lai lịch tự đâu mà đến. Triệu Thôi nói:

- Thày ta là công tử Trùng Nhĩ ở nước Tấn đi tránh nạn, định sang nước Tề, phải mượn đường của quý quốc.

Quan giữ ải vội vàng phi báo cho Vệ Văn-công biết. Quan thượng khanh nước Vệ là Ninh Tốc nói với Vệ Văn-công mời Trùng Nhĩ vào thành Vệ Văn-công nói:

- Khi trước ta đắp thành ở đất Sở Khâu này, không nhờ gì đến nước Tấn. Và Trùng Nhĩ là một người đi trốn, có quan trọng gì, nếu mình đón vào thì lại phải thết đãi, tốn phí nhiều lắm, chi bằng cứ không tiếp là hơn.

Nói xong, liền truyền quân sĩ cấm không cho công tử Trùng Nhĩ vào thành. Trùng Nhĩ phải vòng quanh phía ngoài thành mà đi. Ngụy Thù và Điêu Hiệt nói với Trùng Nhĩ rằng:

- Vệ-hầu vô lễ như vậy, công tử nên sai người trách.

Triệu Thôi nói:

- Rồng vàng khi thất thế thì cũng chẳng khác gì con giun, công tử chớ nên trách người ta làm gì?

Ngụy Thù và Điên Hiệt nói:

- Hắn đã tệ bạc như thế thì ta cướp dân thôn để lấy lương ăn, chắc hẳn cũng không trách ta vào đâu được!

Trùng Nhĩ nói:

- Cướp phá như vậy thì chỉ là quân đạo tặc, chẳng thà ta chịu nhịn đói còn hơn!

Ngày hôm ấy, mấy thầy trò chưa ai ăn cơm sáng cả, vừa nhịn đói, vừa đi. Trưa đi đến một chỗ gọi là đất Ngư Lộc, trông thấy bọn thợ cày ngồi ăn cơm ở trên bờ ruộng, Trùng Nhĩ bèn sai Hồ Yển đến xin cơm.

Bọn thợ cày hỏi:

- Các ngươi tự đâu đến đây?

Hồ Yển nói:

- Ta là người nườc Tấn, thầy ta ngồi ờ trên xe kia. Chúng ta đi đường hết cả lương ăn, xin các người làm ơn cho một bữa.

Bọn thợ cày cười mà nói rằng:

- Người khỏe mạnh thế kia, không làm gì được mà ăn, lại đến xin cơm chúng ta. Chúng ta đi cày ruộng, có ăn no mới làm nổi việc, còn cơm đâu mà cho các người!

Hồ Yển nói:

- Các ngươi không cho cơm thì cho ta xin một cái bát.

Bọn thợ cày bèn chơi nghịch, cầm một nắm đất đưa cho Hồ Yển mà bảo rằng:

- Nắm đất này đem nặn làm bát được đấy.

Ngụy Thù tức giận, mắng người thợ cày, rồi giằng lấy cái bát, đập vỡ tan ra. Trùng Nhĩ cũng tức giận, toan giơ roi đánh. Hồ Yển vội vàng ngăn lại mà nói rằng:

- Được cơm thì dễ, chứ được đất thì khó? Được đất tức là cái điềm được nước. Đó chẳng qua cũng là trời mượn tay người thợ cày để cho công tử đấy, sao công tử lại giận? Công tử nên lạy tạ mà nhận lấy!

Trùng Nhĩ theo lời xuống xe lạy tạ. Bọn thợ cày chẳng hiểu ý tứ ra sao, đều xúm nhau lại, cười mà bảo rằng:

- Anh này thật là người điên rồ!

Lại đi hơn mười dặm, thầy trò đều đói lả, không thể đi được nữa, bèn ngồi nghỉ ở dưới gốc cây. Trùng Nhĩ đói quá, gối đầu vào Hồ Mao mà nằm. Hồ Mao nói:

- Triệu Thôi đi sau, hãy còn hồ cháo, ta nên đợi hắn đến.

Ngụy Thù nói:

- Có còn hồ cháo nữa thì một mình Triệu Thôi ăn cũng chẳng đủ no, lấy đâu làm thừa!

Bọn người bèn bảo nhau đi lấy rau sam về luộc lên mà ăn.

Trùng Nhĩ không thể nào nuốt được. Bỗng thấy Giới Tử Thôi đem một bát cháo thịt đến dâng. Trùng Nhĩ ăn lấy làm ngon lắm. Ăn xong, Trùng Nhĩ hỏi Giới Tử Thôi rằng:

- Nhà ngươi lấy đâu được cái này thế?

Giới Tử Thôi nói:

- Ấy là thịt đùi của tôi đó! Tôi nghe nói người hiếu tử bỏ thân để thờ cha mẹ, người trung thần bỏ thân để thờ vua. Nay công tử không có gì ăn, vậy nên tôi phải cắt thịt đùi tôi mà dâng công tử.
Trùng Nhĩ ứa nước mắt mà rằng:

- Ơn này biết bao giờ đền lại được!

Giới Tử Thôi nói:

- Tôi chỉ mong công tử về được nước Tấn, ấy là trọn cái đạo thần tử của tôi, khi nào dám mong được đền ơn.

Được một lúc, Tnệu Thôi đến, mọi người xúm lại hỏi:

- Vì cớ gì mà đi chậm như vậy?

Triệu Thôi nói:

- Tôi bị gai đâm vào chân, không thể đi nhanh được.

Nói xong, liền mở tráp ra, đem hồ cháo dâng lên Trùng Nhĩ.

Trùng Nhĩ nói:

- Nhà ngươi không biết đói hay sao mà lại không ăn hồ cháo này?

Triệu Thôi nói:

- Tôi đâu đói, nhưng khi nào dám quên công tử mà ăn một mình.

Hồ Mao ngảnh lại, nói bỡn Ngụy Thù rằng:

- Giả sử hồ cháo này vào tay anh thì anh đã tiêu hóa nó hết rồi!

Ngụy Thù có ý hổ thẹn. Trùng Nhĩ cầm hồ cháo ấy đưa cho Triệu Thôi, Triệu Thôi đem hòa thêm nước lã vào rồi đun sôi lên, chia cho tất cả mọi người.

Trùng Nhĩ đến nước Tề, Tề Hoàn-công vốn biết tiếng Trùng Nhĩ là người hiền, liền sai người ra mời vào nhà công quán, bày tiệc thết đãi. Trong khi ăn tiệc, Tề Hoàn-công hỏi Trùng Nhĩ rằng:

- Công tử có đem nội quyến đi không?

Trùng Nhĩ nói:

- Cái thân đi trốn tránh này một mình còn chẳng kham nổi, dám đâu đem cả gia quyến đi.

Tề Hoàn-công cười mà bảo rằng:

- Tôi quen tính hễ đêm nằm ngủ một mình thì lấy làm khó chịu, coi dài như một năm. Nay công tử đi thế này mà không có người nâng khăn sửa túi, tôi lấy làm buồn cho công tử lắm!

Nói xong, liền chọn một người con gái đẹp ở trong họ gả cho Trùng Nhĩ, lại tặng cho hai mươi cỗ ngựa. Từ bấy giờ những người theo hầu Trùng Nhĩ đều có xe ngựa đi cả. Tề Hoàn-công lại sai người đưa cấp các đồ lương thực. Trùng Nhĩ bằng lòng mà than rằng:

- Trước ta vẫn nghe nói Tề Hoàn-công là người biết trọng đãi kẻ hiền sĩ, nay quả nhiên như vậy? Người ấy làm nên việc bá chủ, cũng là phải lắm?

Tề Hoàn-công từ khi giao quyền chính cho Bão Thúc Nha, lại theo lời Quản Di Ngô đuổi bỏ Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương, thì ăn không được ngon, ngủ không được yên, trông mặt lúc nào cũng buồn bã. Trưởng Vệ Cơ nói với Tề Hoàn-công rằng:

- Chúa công đuổi Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương đi mà chính trị trong nước chẳng thấy hơn được cái gì! Thiếp thấy dung nhan chúa công mỗi ngày một giảm, chắc rằng những người hầu hạ xung quanh có nhiều điều không vừa ý, sao chúa công chẳng cho triệu mấy người cũ về?

Tề Hoàn-công nói:

- Ta cũng nhớ mấy người ấy lắm, nhưng đã đuổi đi mà lại triệu về thì sợ mất lòng Bão Thúc Nha chăng?

Trưởng Vệ Cơ nói:

- Đến Bão Thúc Nha cũng cần phải có người hầu, nay chúa công già rồi, tội gì mà khổ thân? Chúa công cứ mượn cớ không có người nấu ăn mà triệu Dịch Nha về thì tự khắc Thụ Điêu và Khai Phương không phải triệu, họ cũng về cả.

Tề Hoàn-công nghe theo, sai người triệu Dịch Nha về để nấu ăn.

Bão Thúc Nha can rằng:

- Chúa công quên mất lời của Trọng phụ rồi hay sao?

Tề Hoàn-công nói:

- Ba người ấy có ích cho ta mà không làm hại gì đến nước, lời nói của Trọng phụ ngày xưa cũng khắc nghiệt quá?

Nói xong, liền không nghe lời Bão Thúc Nha, lại triệu cả Thụ Điêu và Khai Phương về nữa. Dịch Nha, Thu Điêu và Khai Phương đều được phục chức như cũ, lại ngày đêm hầu hạ Tề Hoàn-công. Bão Thúc Nha tức giận, thành ra ốm nặng, uất ức mà chết. Từ bấy giờ nước Tề lại sinh ra biến loạn.

------------------------------------------- 

Hồi thứ 32.
Án Nga Nhi thủ tiết chết theo
Tề công tử tranh ngôi nổi loạn

Lúc về già, Tề Hoàn-công, trái với lời dặn của Quản Di Ngô, lại dùng Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương. Bão Thúc Nha can ngăn không được, uất lên mà chết. Từ bấy giờ ba người ấy lại càng không sợ hãi gì nữa, khinh Tề Hoàn-công già nua không làm gì được, mới thông đồng nhau mà chuyên quyền. Bấy giờ có một người nước Trịnh tên là Tần Hoãn, tên tự là Việt Nhân, làm thuốc giỏi lắm sang ở đất Lư Thôn nước Tề, bởi vậy mới gọi là Lư-y. Lúc Tần Hoãn còn nhỏ, mở một nhà quán xá, có Trường Tang Quân đến trọ, Tần Hoãn biết là người khác thường, không lấy tiền trọ, Trưởng Tang Quân cảm ơn, cho uống một viên thần được, tự nhiên mắt sáng như gương, trông thấy cả ma quỷ và người đứng cách bên kia tường, bởi vậy khi đi làm thuốc, trông rõ hết cả lúc phủ ngũ tạng, được người ta ví với Biển Thước ngày xưa cho nên cũng gọi là Biển Thước tiên sinh.

Biển Thước (tức là Tần Hoãn) sang chơi nước Quắc, gặp thế tử nước Quắc ngộ cảm mà chết. Biển Thước nói chuyện với người nội thị rằng:

- Tôi có thể chữa được thế tử.

Người nội thì nói:

- Thế tử đã chết rồi, còn sống lại thế nào được nữa?

Biển Thước nói:

- Hãy thử cho tôi chữa xem.

Người nội thị vào báo với vua nước Quắc. Vua nước Quắc cho triệu Biển Thước vào. Biển Thước sai học trò là Dương Lệ đem cái kim đá chích cho thế tử. Được một lúc, thế tử sống lại.

Biển Thước lại cho thuốc chén, hơn hai tuần nữa thì khỏi hẳn. Từ bấy giờ Biển Thước nổi tiếng có tài cải tử hoàn sinh. Biển Thước đi chơi khắp thiên hạ, cứu được nhiều người lắm. Một hôm đi đến đất Lâm Tri, vào yết kiến Tề Hoàn-công, nói với Hoàn-công rằng:

- Chúa công có bệnh ở thớ thịt; nếu không chữa thì thành ra bệnh nặng.

Hoàn-công nói:

- Ta chẳng có bệnh gì cả!

Biển Thước lui ra. Sau năm ngày lại vào yết kiến; nói với Tề Hoàn-công rằng:

- Bệnh chúa công đã ở mạch máu, làm thế nào cũng phải chữa.

Hoàn-công không trả lời. Sau năm ngày nữa lại vào yết kiến, nói với Hoàn-công rằng:

- Bệnh chúa công đã ở trong ruột và dạ dày rồi, phải chữa ngay đi! Hoàn-công lại không trả lời.

Biển Thước lui ra. Hoàn-công than rằng:

- Tệ quá? Thầy thuốc chỉ nghề hay vẽ trò! Người ta không có bệnh mà cứ bảo là có bệnh?

Qua năm ngày nữa, Biển Thước lại vào yết kiến Tề Hoàn-công, vừa trông thấy nét mặt Hoàn-công đã vội lui ra mà bỏ chạy. Hoàn-công sai người hỏi. Biển Thước nói:

- Bây giờ bệnh chúa công đã vào đến tủy rồi! Bệnh ở da thịt còn xoa thuốc được, bệnh ở mạch máu thì còn tiêm thuốc được, bệnh ở ruột và dạ dày còn uống thuốc được, nay bệnh đã vào đến tủy thì dẫu trời cũng không chữa được nữa, bởi vậy tôi không nói mà lui ra.

Lại qua năm ngày nữa. Hoàn-công quả nhiên ốm nặng, sai triệu Biển Thước. Người nhà Biển Thước nói:

- Thầy tôi bỏ đi đã năm hôm rồi?

Hoàn-công hối hận vô cùng. Nguyên trước kia Hoàn-công có ba vị phu nhân là: Vương Cơ, Từ Cơ và Sái Cơ. Ba người đều không có con trai. Vương Cơ và Từ Cơ đều ốm chết cả, còn Sái Cơ thì cho về nước Sái. Sau lại lấy thêm sáu vị phu nhân nữa, đều có con trai cả:

1.      Trưởng Vệ Cơ, sinh công tử Vô Khuy;

2.      Thiếu Vệ Cơ, sinh công tử Nguyên (tức là Tề Huệ-công);

3.      Trịnh Cơ, sinh công tử Chiêu (tức là Tề Hiếu-công);

4.      Cát Doanh, sinh công tử Phan (tức là Tề Chiêu công);

5.      Mật Cơ, sinh công tử Thương Nhân (tức là Tề Y công);

6.      Tống Hoa Tử, sinh công tử Ung.

Còn những tỳ thiếp có con cũng nhiều, không ở trong số sáu vị phu nhân ấy. Trong sáu vị phu nhân ấy, chỉ có Trưởng Vệ Cơ là hầu hạ Hoàn-công đã lâu; trong sáu vị công tử thì Vô Khuy là nhiều tuổi hơn cả. Trưởng Vệ Cơ thông đồng với Dịch Nha và Thụ Điêu, nói với Hoàn-công xin lập công tử Vô Khuy làm thế tử. Sau Hoàn-công lại yêu công tử Chiêu vì thấy Chiêu là người hiền, và bàn với Quản Di Ngô, đem công tử Chiêu ủy thác cho Tống Tương-công. Khai Phương là bạn thân của công tử Phan, cũng mưu việc nối ngôi cho Phan. Công tử Thương Nhân tính hay bố thí, nhiều người có lòng mến, lại nhân người mẹ được Hoàn-công yêu, cũng có ý muốn dòm ngó ngôi báu.

Trong đám sáu vị công tử ấy, chỉ có công tử Ung là biết yên phận, còn năm vị công tử kia đều lập vây cánh riêng, nghi kỵ lẫn nhau. Hoàn-công dẫu là một ông vua anh hùng, nhưng vốn say mê tửu sắc, và nay tuổi đã già rồi, chí khí cũng đã mỏi mệt, trí lực cũng đã mờ tối, lại tin dùng lũ tiểu nhân, bởi vậy năm vị công tử đều nói với mẹ để xin với Tề Hoàn-công lập làm thế tử.

Hoàn-công vẫn trù trừ không quyết định, đến bây giờ ốm nặng, phải nằm một chỗ; Dịch Nha thấy Biển Thước bỏ không chữa, biết là bệnh Hoàn-công nguy, mới cùng Thụ Điêu thương nghị, rồi giả cách phụng mệnh Hoàn-công, mà yết thị ra ngoài cửa cung rằng:

- Ta đang ốm, không muốn nghe tiếng người nói, phàm các quan, các công tử và thân thuộc, không ai được vào cung cả; truyền cho Thụ Điêu phải nghiêm giữ cửa cung, còn Dịch Nha thì đem quân đi tuần phòng xung quanh. Bao nhiêu chính sự trong nước, đợi khi ta khỏi rồi, sẽ vào tâu.

Thụ Điêu và Dịch Nha chỉ cho công tử Vô Khuy cùng Trưởng Vệ Cơ được ra vào trong cung, còn các vị công tử khác, dẫu muốn hỏi thăm cũng không được vào. Qua ba ngày nữa, Tề Hoàn-công cũng chưa chết, Thụ Điêu và Dịch Nha lại đuổi hết các thị vệ xung quanh, bất cứ trai gái, bắt ra ngoài tất cả, rồi đem khóa chặt cửa cung lại. Lại đắp một bức tường cao ba trượng ở xung quanh chỗ ngủ của Tề Hoàn-công làm cho trong ngoài ngăn cách, không giao thông được với nhau; chỉ để một cái lỗ ở dưới chân tường, sớm tối sai một kẻ tiểu nội thị chui vào để dò xem Hoàn-công đã chết hay chưa.

Hoàn-công đang nằm ở trên giường, muốn dậy mà không được, mới lên tiếng gọi, cũng chẳng thấy ai thưa. Hoàn-công mở to hai mắt ngơ ngác nhìn xung quanh. Bỗng nghe đánh xịch một tiếng, có người đẩy cửa sổ bước vào. Hoàn-công mở to mắt nhìn xem ai thì ra đó là người tiện thiếp tên gọi Án Nga Nhi. Hoàn-công nói:

- Trong bụng ta thấy đói, chỉ muốn ăn cháo, nhà ngươi đi lấy cho ta.

Án Nga Nhi nói:

- Bây giờ lấy đâu cho được cháo!

Tề Hoàn-công nói:

- Được chén nước nóng thì cũng đỡ khát.

Án Nga Nhi nói:

- Nước nóng cũng không lấy đâu được!

Tề Hoàn-công hỏi:

- Tại sao thế?

Án Nga Nhi nói:

- Dịch Nha và Thụ Điêu làm loạn, nghiêm giữ cửa cung, đã đắp một bức tường cao ba trượng, làm cho trong ngoài ngăn cách, không giao thông với nhau được, còn ai đem được các thức ăn, thức uống vào đây!

Tề Hoàn-công nói:

- Nhà ngươi làm thế nào mà vào được?

Án Nga Nhi nói:

- Thiếp chịu ơn chúa công thương đến vậy nên liều thân trèo qua tường vào đây, để được trông thấy chúa công lúc nhắm mắt.

Tề Hoàn-công nói:

- Thế tử Chiêu ở đâu?

Án Nga Nhi nói:

- Hai người ngăn cấm không cho thế tử vào cung.

Hoàn-công than rằng:

- Trọng phụ ngày xưa thật là bậc thánh! Vì ta không minh, đến nỗi nên cơ sự này!

Nói xong, liền cố sức kêu lên một tiếng thật to rằng:

- Trời ôi! Ai ngờ ta đến nỗi này!

Hoàn-công kêu luôn mấy tiếng, hộc máu ra đằng miệng, rồi bảo Án Nga Nhi rằng:

- Ta có sáu người vợ yêu và mười người con, mà không một người nào ở trước mặt cả, thành ra lúc ta chết chỉ có một mình nhà người; ta tiếc ngày xưa ta không biết trước mà trọng đãi nhà ngươi.

Án Nga Nhi nói:

- Chúa công cứ yên lòng, một mai có điều gì, thiếp xin tình nguyện chết theo chúa công.

Hoàn-công than rằng:

- Ta chết xuống âm phủ, còn mặt mũi nào mà trông thấy Trọng phụ nữa!

Nói xong, lấy vạt áo phủ vào mặt, rồi thở dài mấy tiếng mà chết. Án Nga Nhi thấy Hoàn-công đã chết rồi, khóc lóc một hồi, muốn gọi người ngoài, nhưng tường cao, gọi bên ngoài cũng không nghe tiếng được; muốn trèo tường ra, thì phía trong tường không có chỗ nào mà bám chân, nghĩ quanh nghĩ quẩn, lại thở dài mà than rằng:

- Ta đã nói xin chết theo chúa công, thì ta phải chết, còn việc khâm liệm không dự gì đến ta cả.

Nói xong, liền cởi áo trùm lên thi thể Tề Hoàn-công, bưng hai cánh cửa sổ mà đậy lại, rồi ngồi dưới chân giường, lạy mấy lạy mà khấn rằng:

- Xin linh hồn chúa công chớ đi xa vội, đợi thiếp theo cùng.

Khấn xong, đập đầu vào cột, vỡ óc ra mà chết. Đêm hôm ấy, đứa tiểu nội thị chui vào, trông thấy ở dưới chân cột, máu chảy lênh láng, có một cái thây người chết, giật mình kinh sợ, vội vàng bỏ ra, báo với Thụ Điêu và Dịch Nha rằng:

- Chúa công đã đập đầu vào cột mà tự tử rồi!

Thụ Điêu và Dịch Nha không tin, sai bọn nội thị đục rộng tường ra, rồi hai người thân hành vào xem, thấy một thi thể đàn bà, thì giật mình sợ hãi. Trong đám nội thị có người nhận đước mặt Án Nga Nhi mới nói với Thụ Điêu và Dịch Nha rằng:

- Đây là thi thể của Án Nga Nhi.

Lại mở hai cánh cửa ở trên đầu giường, thấy thi thể Tề Hoàn-công, không biết chết từ bao giờ. Thụ Điêu bàn đến việc phát tang.

Dịch Nha nói:

- Thong thả! Ta hãy nên tôn lập công tử Võ Khuy đã, rồi sau sẽ phát tang thì mới khỏi tranh nhau được.

Thụ Điêu lấy làm phải. Hai người đến thương nghị với Trưởng Vệ Cơ rằng:

- Chúa công nay đã mất rồi, cứ theo thứ tự lớn nhỏ thì nên lập công tử Vô Khuy, nhưng khi chúa công hãy còn nhỏ, đã có đem công tử Chiêu ủy thác cho Tống hầu để lập làm thế tử, các quan ai cũng biết cả, nếu nay nghe tin chúa công mất tất nhiên họ về phe với thế tử Chiêu. Cứ như ý chúng tôi thì đêm nay nên đem giáp sĩ đi giết thế tử Chiêu rồi lập công tử Vô Khuy.

Trưởng Vệ Cơ nói:

- Ta là đàn bà, còn biết ít, tùy ý các người đấy!

Bấy giờ Thụ Điêu và Dịch Nha đem quân đến Đông cung định bắt thế tử Chiêu. Thế tử Chiêu từ khi không được vào cung hỏi thăm, có ý buồn bã; tối hôm ấy đang ngồi ở dưới bóng đèn, mơ mơ màng màng, bỗng trông thấy một người đàn bà đến bảo rằng:

- Thế tử không đi ngay thì tai vạ sắp đến nơi! Thiếp là Án Nga Nhi, phụng mệnh chúa công đến đây để báo cho thế tử biết.

Công tử Chiêu vừa toan hỏi chuyện đầu đuôi thì người đàn bà ấy lấy tay đẩy một cái, Chiêu ngã lăn xuống vực sâu; giật mình tỉnh dậy, chẳng thấy người đàn bà đâu cả, té ra là một giấc chiêm bao.

Công tử Chiêu thấy lạ, vội vàng sai người thắp đèn mở cửa sau đi sang nhà quan thượng khanh là Cao Hổ, thuật lại đầu đuôi giấc chiêm bao.

Cao Hổ nói:

- Chúa công mắc bệnh đã hơn nửa tháng nay, bị đứa gian thần làm cho trong ngoài ngăn cách, nay thế tử chiêm bao thấy như vậy, tất là sự chẳng lành, nên tạm tìm nơi để tránh nạn.

Công tử Chiêu nói:

- Bây giờ biết tránh đi đâu được?

Cao Hổ nói:

- Ngày xưa chúa công đã đem thế tử ủy thác cho vua nước Tống, nay thế tử nên sang nước Tống, thế nào vua Tống cũng có lòng giúp.

Hổ này là kẻ bề tôi giữ nước, không dám đi theo thế tử, nhưng có một tên người nhà là Thôi Yển hiện đang làm chức giữ thìa khóa ở cửa Đông, để tôi sai người bảo hắn mở cửa thành cho thế tử đêm hôm nay trốn ra.

Cao Hổ nói chưa dứt lời thì bỗng nhiên nghe tin có quân đến vây nhà, thế tử Chiêu sợ xám cả mặt. Cao Hổ bảo thế tử Chiêu thay hình đổi dạng, rồi sai mấy người tâm phúc đưa ra cửa đông, dặn Thôi Yển mở cửa thành cho thế tử Chiêu ra. Thôi Yển nói:

- Nay chúa công chưa biết còn hay là mất, tôi mở cửa thành cho thế tử đi trốn, tất là có tội; mà thế tử đang thiếu người theo hầu, nếu có lòng yêu mà cho tôi cùng theo sang nước Tống thì tôi xin đi theo.

Thế tử Chiêu mừng lắm, nói:

- Nhà ngươi cùng đi thì còn gì hơn nữa!

Thôi Yển bèn mở cửa thành, rồi lấy xe ngựa cùng với thế tử Chiêu thẳng đường trốn sang nước Tống. Thụ Điêu và Dịch Nha đem quân vây nhà thế tử Chiêu, chằng tìm thấy tông tích đâu cả.

Bấy giờ đã sang trống canh tư, Dịch Nha nói:

- Chúng ta vây bắt thế tử Chiêu là muốn nhân lúc bất ngờ để làm cho được việc, nếu chậm đến sáng ngày mai mà các vị công tử khác biết tin, vào chiếm giữ lấy ngôi vua thì hỏng mất cả; chi bằng ta hãy trở về, tôn lập công tử Vô Khuy đã, rồi dò xem ý các quan ra làm sao, sẽ liệu xử sau.

Thụ Điêu nói:

- Tôi cũng nghĩ như vậy?

Nói xong, hai người cùng thu quân trở về.

Các quan đại phu nghe tin Thụ Điêu và Dịch Nha đem quân đi, mới kéo nhau đến cửa cung để dò tin tức đã thấy nói Hoàn-công mất rồi; lại nghe tin thế tử Chiêu bị vây, biết là lũ gian thần thừa cơ làm loạn, mới bàn nhau rằng:

- Thế tử Chiêu là do chúa công ta khi xưa lập nên, nếu thế tử có sự gì thì chúng ta còn mặt mũi nào làm quan ở nước Tề này nữa!

Khắp các quan đều nhao nhao bàn nhau đi cứu thế tử Chiêu.

Bỗng gặp Thụ Điêu và Dịch Nha kéo quân về, các quan đều xúm lại trước mặt mà hỏi:

- Thế tử đâu?

Dịch Nha chắp tay vái mà đáp lại rằng:

- Thế tử Vô Khuy hiện đang ở trong cung.

Các quan đều nói:

- Vô Khuy chưa được lập làm thế tử bao giờ, không phải là vua chúng ta; phải lập thế tử Chiêu mới được.

Thụ Điêu chống thanh kiếm xuống đất mà quát to lên rằng:

- Thế tử Chiêu ta đã đuổi đi rồi! Nay ta phụng di mệnh tiên quân lập công tử Vô Khuy lên nối ngôi, nếu ai không bằng lòng theo thì chém cổ đi.

Các quan đều hầm hầm nổi giận, xỉ mắng rầm lên rằng:

- Lũ chúng bay là bọn gian thần, dối người chết, lừa người sống; dám thừa cơ làm loạn; nếu lập công tử Vô Khuy thì chúng ta quyết không chịu theo.

Quan đại phu là Quản Bính (con Quản Di Ngô) bước ra nói rằng:

- Nay ta hãy đánh chết hai đứa gian thần này đi, để trừ gốc loạn; rồi sau sẽ thương nghị.

Nói xong, giơ cái hốt ngà, đánh ngay vào đầu Thụ Điêu. Thụ Điêu giơ thanh kiếm lên đỡ. Các quan đang sắp sửa xông vào giúp Quản Bính, bỗng thấy Dịch Nha quát to lên rằng:

- Quân giáp sĩ đâu, sao không kéo vào!

Mấy trăm giáp sĩ tức khắc xông đến, đâm chém bừa đi. Các quan bấy giờ, mười phần đã chết mất ba, còn bị thương nhiều lắm, đều bỏ chạy cả. Dịch Nha và Thụ Điêu đánh tan bọn các quan rồi thì trời vừa sáng rõ, liền vào trong cung đem công tử Vô Khuy ra triều, sai nội thị rung chuông nổi trống, rồi bắt quân giáp sĩ bày hàng phục lạy để tôn Vô Khuy lên nối ngôi. Các triều thần chỉ có Dịch Nha và Thụ Điêu mà thôi. Vô Khuy vừa thẹn, vừa giận. Dịch Nha nói:

- Nay ta chưa phát tang, vậy nên các triều thần chưa được tống cựu thì đã nghinh tân làm sao được! Việc này nên phải triệu họ Cao và họ Quốc đến, mới sai bảo các quan được?

Vô Khuy theo lời, mới sai nội thị đi triệu họ Cao và họ Quốc.

Nguyên Quốc Ý Trọng và Cao Hổ là hai vị đại thần có sắc mệnh của thiên tử, nối đời làm chức thượng khanh, trong hàng các quan, ai cũng kính phục, bởi vậy Vô Khuy mới sai người đến triệu. Cao và Quốc biết là Hoàn-công đã mất rồi, tức khắc mặc tang phục đi vào triều. Dịch Nha và Thụ Điêu đón ở ngoài cửa mà bảo rằng:

- Ngày nay vua mới lên ngôi, xin hai lão đại phu hãy tạm giữ cát phục đã.

Quốc Ý Trọng và Cao Hổ nói:

- Chưa tống tang vua cũ mà đã lạy vua mới sao cho phải lễ? Trong các công tử, ai chẳng phải là con của tiên quân, lão phu này có ý gì đâu, hễ ai làm chủ được việc tang thì lão phu xin theo.

Dịch Nha và Thụ Điêu im lặng, không nói gì được nữa! Quốc Ý Trọng và Cao Hổ khóc rầm lên rồi trở ra. Vô Khuy nói:

- Nay chưa phát tang, mà các quan lại có ý không phục thì biết làm thế nào?

Thụ Điêu nói:

- Công việc ngày nay cũng như bắt hổ, hễ có sức khỏe thì được, xin chúa công cứ ngồi yên, chờ khi các công tử vào triều, ta sẽ lấy binh lực mà hiếp bức.

Vô Khuy nghe lời. Trưởng Vệ Cơ bắt các nội thị trong cung đều mặc quân trang cả, các cung nữ có người nào to lớn khỏe mạnh, cũng bắt mặc quân trang, chia làm hai đội, một đứng ở tả vu, một đứng ở hữu vu. Khai Phương nghe tin Dịch Nha và Thụ Điêu tôn lập Vô Khuy liền bảo công tử Phan (con nàng Cát Doanh) rằng:

- Thế tử Chiêu bây giờ không biết đi đâu, nếu Vô Khuy được lập thì công tử lại không đáng lập hay sao?

Nói xong, liền cùng với công tử Phan đem quân vào chiếm điện bên phải. Công tử Thương Nhân (con nàng Mật Cơ) cùng với công tử Nguyên bàn với nhau rằng:

- Chúng ta cùng là máu mủ của tiên quân cả, cơ nghiệp giang sơn ai cũng có phần. Nay công tử Phan đã chiếm điện bên phải thi chúng ta cũng chiếm điện bên trái, hễ thế tử Chiêu về đây chúng ta sẽ nhường, bằng không chúng ta nhất định bắt chia nước Tề ra mới được.

Công tử Nguyên lấy làm phải, liền đem quân vào chiếm điện bên trái. Còn công tử Thương Nhân đem quân đóng ở triều môn, để cùng với công tử Nguyên tiếp ứng lẫn nhau. Dịch Nha và Thụ Điêu sợ thế ba vị công tử, không dám ra đánh. Ba vị công tử cũng sợ thế Dịch Nha và Thụ Điêu, không dám xung đột, thành ra cứ giữ lẫn nhau. Bấy giờ chỉ có công tử Ung là không muốn sinh sự, bỏ trốn sang nước Tần. Tần Mục-công dùng làm quan đại phu. Các vị công tử giữ nhau đến hơn hai tháng, không ai chịu lui.

Cao Hổ nói:

- Các vị công tử chỉ biết tranh ngôi, mà không nghĩ gì đến việc tang, nay ta nên liều chết mà nói việc này mới được.

Quốc Ý Trọng nói:

- Ngài vào nói trước, rồi tôi xin theo; hai ta cùng liều chết để báo ơn nước.

Cao Hổ nói:

- Chỉ có hai người thì làm gì được âu là ta rủ thêm nhiều người nữa cùng đến chốn triều đường, để tôn công tử Vô Khuy làm chủ tang, phỏng có nên chăng?

Quốc Ý Trọng nói:

- Vô Khuy nhiều tuổi hơn cả, thì lập Vô Khuy cũng là phải chứ sao!

Bấy giờ Quốc Ý Trọng và Cao Hổ rủ được bọn các quan cùng mặc tang phục kéo vào trong triều. Thụ Điêu ngăn lại mà hỏi rằng:

- Lão đại phu đến đây có ý gì?

Cao Hổ nói:

- Các vị công tử cứ tranh nhau mãi thì không biết bao giờ mới thôi, nay chúng tôi định đến đây để tôn công tử Vô Khuy lên làm chủ tang.

Thụ Điêu vái chào Cao Hổ mà mời vào. Cao Hổ lấy tay vẫy một cái, Quốc Ý Trọng và các quan kéo nhau cùng vào, nói với công tử Vô Khuy rằng:

- Chúng tôi nghe nói ơn cha mẹ to bằng trời đất, vậy nên lúc cha mẹ sống thì con phải tôn kính, lúc cha mẹ chết thì con phải phụng thờ không có bao giờ cha chết nằm đất chưa tống tang mà các con cứ tranh nhau phú quý như thế này; với lại vua làm gương cho bề tôi, nếu vua bất hiếu sao cho bề tôi trung được? Nay tiên quân chết đã sáu mươi bảy ngày rồi mà còn chưa nhập quan, công tử nghĩ có yên lòng không?

Nói xong, các quan đều phục xuống đất mà khóc. Vô Khuy cũng ứa nước mắt mà nói rằng:

- Cái tội bất hiếu của tôi, thật là to lắm! Nào phải là tôi không nghĩ đến, nhưng bọn công tử Nguyên xử như vậy thì biết làm thế nào?

Quốc Ý Trọng nói:

- Thế tử đã bỏ đi mất rồi, nay chỉ có công tử là nhiều tuổi hơn cả nếu công tử làm chủ tang được thì ai còn vào đấy mà nối ngôi; tôi xin lấy đại nghĩa mà trách bảo thì bọn công tử Nguyên cũng phải theo thôi.

Vô Khuy gạt nước mắt mà nói rằng:

- Tôi cũng muốn như vậy?

Cao Hổ bảo Dịch Nha và Thụ Điêu cứ nghiêm giữ cửa cung, hễ các vị công tử có mặc tang phục thì mới cho vào, nếu ai dám đem binh khi vào thì tức khắc trị tội. Vô Khuy vào trong cung để định khâm liệm Hoàn-công. Thi thể Hoàn-công để đã lâu ngày, thịt nát cả ra, hôi thối không thể chịu được, dòi bọ bò ra cả ngoài tường. Vô Khuy vật mình lăn khóc. Các quan cũng đều khóc cả. Vô Khuy sai người lấy áo gấm bọc lại để nhập quan. Còn thi thể Án Nga Nhi thì vẫn tươi như lúc sống; Cao Hổ khen là một người đàn bà trung liệt, cũng sai người nhập quan. Cao Hổ và các quan tôn Vô Khuy đứng làm chủ tang, rồi đêm hôm ấy cùng ngủ cả ở bên linh cữu Hoàn-công. Công tử Nguyên, công tử Phan và công tử Thương Nhân nghe tin các quan đã khâm liệm Hoàn-công và tôn Vô Khuy lên làm chủ tang, biết là không thể tranh nổi, cũng đều rút quân về, và mặc tang phục để vào cung.

Thế tử Chiêu chạy sang nước Tống, vào yết kiến Tống Tương-công, sụp lạy ở dưới đất, thuật lại những chuyện Dịch Nha và Thụ Điêu nổi loạn. Tống Tương-công bèn họp các quan lại mà hỏi rằng:

- Ngày xưa Tề Hoàn-công có đem công tử Chiêu ủy thác cho ta để lập làm thế tử, thấm thoát đã mười năm trời, ta vẫn còn đinh ninh nhớ trong lòng. Nay Dịch Nha và Thụ Điêu làm loạn mà đuổi thế tử Chiêu, ta muốn hội các nước để đem quân giúp cho thế tử Chiêu về nước. Nếu làm xong việc này thì ta có thể nối được cái công nghiệp bá chủ của Tề Hoàn-công ngày trước, các ngươi nghĩ thế nào?

Bỗng có một viên đại thần đứng ra mà tâu rằng:

- Nước Tống ta có ba điều không bằng nước Tề, làm bá chủ thế nào được!

Tống Tương-công nhìn xem ai thì tức là người thứ huynh của Tống Tương-công tên gọi là công tử Mục Di, năm trước nhường ngôi cho Tống Tương-công không chịu làm vua, và được Tống Tương-công cho làm chức thượng khanh.

Tống Tương-công hỏi công tử Mục Di rằng:

- Nhà ngươi nói ta có ba điều không bằng nước Tề là những điều gì?

Mục Di nói:

- Nước Tề có núi Thái Sơn, bể Bột Hải là nơi hiểm trở; có đất Lang Gia, đất Tức Mặc là chỗ phì nhiêu; mà ta thì nước nhỏ đất xấu, quân ít, lương ít, thế là một điều không bằng; nước Tề có họ Cao và họ Quốc, lại có Quản Di Ngô, Ninh Thích, Thấp Bằng và Bão Thúc Nha để sửa sang chinh trị, mà ta thì trong triều không có người hiền tài thế là hai điều không bằng; Tề Hoàn-công đi đánh đông dẹp bắc, thường thấy những sự tốt lành, mà ta thì trong nước chỉ thấy những điều tai dị, thế là ba điều không bằng. Có ba điều không bằng nước Tề thì giữ mình còn chẳng nổi, lấy sức đâu mà chăm lo cho người khác được.

Tống Tương-công nói:

- Ta vốn lấy điều nhân nghĩa làm chủ; nếu không cứu người mồ côi thì sao gọi là nhân! Đã nhận lời người ta mà lại bỏ đi thì sao gọi là nghĩa!

Nói xong, liền truyền hịch đi các nước, hẹn đến tháng giêng năm sau thì cùng hội nhau đem quân đưa thế tử Chiêu về nước. Khi tờ hịch đến nước Vệ, quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc nói với Vệ Văn-công rằng:

- Không có con đích thì lập con trưởng, đó là lẽ thường nay, công tử Vô Khuy nhiều tuổi hơn cả, và ngày trước có công đem quân sang giữ hộ nước Vệ ta, tức là ân nhân của ta, xin chúa công chớ nên dự vào việc ấy.

Vệ Văn-công nói:

- Chiêu được lập làm thế tử, thiên hạ ai cũng bỉết cả. Việc giữ hộ nước Vệ ta là tư ân, việc lập thế tử là công nghĩa, nếu vì tư ân mà bỏ công nghĩa thì ta không muốn.

Khi tờ hịch đến nước Lỗ, Lỗ Hi-công nói:

- Tề Hoàn-công ngày xưa đem thế tử Chiêu ủy thác cho vua nước Tống, chứ có ủy thác cho ta đâu. Nay ta chỉ biết người nào nhiều tuổi hơn thì nên lập, nếu Tống đánh Vô Khuy, ta quyết đem quân đi cứu.

Đến năm sau, Tống Tương-công hội quân nước Vệ, nước Tào và nước Châu cùng giúp thế tử Chiêu để sang đánh Vô Khuy, Vô Khuy sai Dịch Nha đem quân đi đánh, lại sai Thụ Điêu cầm quyền chinh trong nước, còn Cao Hổ và Quốc Ý Trọng thì chia giữ các nơi hiểm yếu Cao Hổ bảo Quốc Ý Trọng rằng:

- Trước ta lập Vô Khuy là vì bấy giờ chưa có ai đứng lên mà lo việc tang cho tiên quân, nay thế tử Chiêu đã về, lại được quân nước Tống giúp thì lý thuận mà thế mạnh lắm? Vả Dịch Nha và Thụ Điêu giết hại các quan, chuyên giữ quyền chính, tất có ngày nên loạn, chi bằng ta trừ bỏ đi mà đón thế tử Chiêu về, lập lên làm vua, cho các công tử khỏi có lòng dòm ngó, họa may nước Tề ta mới yên được.

Quốc Ý Trọng nói:

- Dịch Nha hiện đang cầm quân ở ngoài cõi, nay ta mời Thụ Điêu đến, giả cách bàn việc, nhân đó mà giết đi, rồi đem các quan đi đón thế tử Chiêu về để thay Vô Khuy, ta chắc Dịch Nha không làm gì nổi.

Cao Hổ nói:

- Kế ấy hay lắm!

Nói xong, liền sai quân sĩ phục cả xung quanh, cho người mời Thụ Điêu đến để bàn việc.

-------------------------------------------

Hồi thứ 33.
Thế tử Chiêu trở về nước Tề
Tống Tương-công mắc lừa nước Sở

Cao Hổ nhân khi Dịch Nha đã đem quân đi rồi, mới sai người mời Thụ Điêu đến để bàn việc. Thụ Điêu không có ý nghi ngờ, ngang nhiên đến ngay. Cao Hổ bày tiệc để thết đãi. Uống được vài chén, Cao Hổ hỏi Thụ Điêu rằng:

- Nay vua nước Tống hội quân chư hầu đưa thế tử Chiêu về đây thì ta biết dùng cách gì mà chống lại được?

Thụ Điêu nói:

- Tôi chả có tài năng gì, nhưng ngài có sai việc gì thì tôi xin vâng mệnh.

Cao Hổ nói:

- Ta muốn mượn cái đầu của nhà ngươi để xin lỗi với nước Tống. Thụ Điêu ngạc nhiên, liền đứng ngay dậy. Cao Hổ quát to lên rằng:

- Quân giáp sĩ đâu?

Quân giáp sĩ xông vào chém chết Thụ Điêu. Cao Hổ sai người mở rộng toang cửa thành ra, rồi truyền bá cho dân trong nước biết rằng:

- Thế tử Chiêu đã sắp về tới nơi rồi, ai bằng lòng thì đi theo ta.

Dân trong nước vốn ghét Dịch Nha và Thụ Điêu, bởi vậy không phục Vô Khuy, nay thấy Cao Hổ đi đón thế tử Chiêu, thì đều rủ nhau đi theo, đến hơn nghìn người. Quốc Ý Trọng vào cung nói với Vô Khuy rằng:

- Nay dân trong nước mến phục thế tử Chiêu, kéo nhau đi đón, lão phu không thể ngăn lại được, xin chúa công nên mau mau tìm kế.

Vô Khuy hỏi:

- Dịch Nha và Thụ Điêu đâu?

Quốc Ý Trọng nói:

- Dịch Nha đem quân đi, chưa biết được thua thế nào còn Thụ Điêu thì đã bị dân trong nước giết chết rồi.

Vô Khuy nổi giận nói:

- Dân trong nước giết Thụ Điêu lẽ nào nhà ngươi lại không biết?

Nói xong, toan sai người bắt Quốc Ý Trọng. Quốc Ý Trọng bỏ chạy. Vô Khuy tay chống thanh kiếm, đi ra cửa cung, truyền nội thị gọi dân để đi đánh giặc. Nội đi gọi khắp mọi nơi, chẳng ai theo cả. Những người nhà trong bọn các quan khi trước bị Dịch Nha và Thụ Điêu giết hại, vì nỗi không theo Vô Khuy, nay nghe tin Cao Hổ giết Thụ Điêu mà đi đón thế tử Chiêu, đều có ý mừng rỡ, cùng kéo nhau cầm binh khí đến cửa đông để dò la tin tức, lại gặp Vô Khuy đi vừa đến đấy, liền xúm nhau lại vây bắt Vô Khuy. Nội thị quát rầm lên rằng:

- Sao các ngươi dám vô lễ với chúa công?

Mọi người đều nói:

- Nào ai là chúa công?

Nói xong, liền xông vào chém giết lũ nội thị. Vô Khuy chống cự không nổi, vội vàng xuống xe bỏ chạy, cũng bị giết chết nốt. Trong ngoài náo động cả lên, sau Quốc Ý Trọng phải đi phủ dụ, mọi người mới đâu về đấy. Quốc Ý Trọng sai người phi báo cho Cao Hổ biết. Dịch Nha đóng quân ở ngoài cõi, chống nhau với quân Tống, tự nhiên đang đêm thấy quân sĩ náo động, tuyên truyền nhau rằng:

- Thụ Điêu và Vô Khuy đều chết cả rồi, Cao Hổ đem người đi đón thế tử Chiêu về làm vua, chúng ta không nên theo bọn phản nghịch nữa.

Dịch Nha biết là quân sĩ có ý nổi loạn, liền cùng với mấy tên người nhà tâm phúc, bỏ trốn sang nước Lỗ. Sáng hôm sau, Cao Hổ đến phủ dụ quân sĩ, rồi cùng nhau đi đón thế tử Chiêu. Cao Hổ đưa thế tử Chiêu về đến Lâm Tri, ở tạm nhà công quán, rồi sai người vào báo Quốc Ý Trọng biết để đem các quan ra đón. Công tử Nguyên và công tử Phan nghe tin thế tử Chiêu đã về, đến rủ Thương Nhân cùng đi đón. Công tử Thương Nhân không bằng lòng mà nói rằng:

- Khi phát tang tiên quân ta thế tử Chiêu có đến dự đâu, mà nay lại cậy thế nước Tống để về nối ngôi, thật là một sự trái lẽ; bây giờ quân các nước đã rút về cả, chúng ta nên đem quân ra giết thế tử Chiêu đi, để báo thù cho công tử Vô Khuy, rồi trong bọn ba người chúng ta, tùy ý các quan đại thần, lập một người lên nối ngôi, việc gì phải sợ hãi quân Tống, làm cho uy phong bá chủ của tiên quân ta khi xưa phải giảm mất đi.

Công tử Nguyên nói:

- Nếu vậy thì ta nên vào nói với Trưởng Vệ Cơ, rồi phụng mệnh mà làm thì phải lẽ hơn.

Trưởng Vệ Cơ khóc mà nói rằng:

- Nếu các ngươi vì Vô Khuy mà báo thù được thì ta dẫu chết cũng thỏa trong lòng.

Nói xong, liền đem những người tâm phúc của Vô Khuy trước, hợp với bọn công tử Nguyên, công tử Phan và công tử Thương Nhân cùng ra để chống cự với thế tử Chiêu. Những người tâm phúc của Thụ Điêu cũng muốn vì chủ báo thù, mới nhập bọn với ba vị công tử, đem quân giữ các cửa thành.

Quốc Ý Trọng sợ hãi, đóng chặt cửa lại, không dám ra đối địch. Cao Hổ bảo thế tử Chiêu rằng:

- Vô Khuy và Thụy Điêu dẫu chết rồi, nhưng phe phái hãy còn. Vả chúng có ba vị công tử làm chủ, đóng cửa thành không cho ta vào; nay ta muốn vào thì tất phải đánh, đánh mà không được thì thành ra lắm sự lỡ, chi bằng ta lại sang cầu cứu nước Tống là hơn.

Thế tử Chiêu nói:

- Việc này tùy ý quốc lão.

Cao Hổ liền đem thế tử Chiêu chạy sang nước Tống. Tống Tương-công mới thu quân về đến bờ cõi, lại thấy thế tử Chiêu đến, giật mình kinh sợ, hỏi vì cớ gì. Cao Hổ kể hết sự tình đầu đuôi. Tống Tương-công nói:

- Điều đó chỉ vì ta thu quân về vội quá, nhưng còn ta đây, thế tử lo gì chẳng vào được thành Lâm Tri.

Nói xong, lại đem quân đưa thế tử Chiêu trở về nước Tề. Công tử Thương Nhân bảo công tử Phan và công tử Nguyên rằng:

- Chúng ta cứ hợp sức nhau đem quân ra mà đánh, nếu đánh không được, khi ấy ta sẽ tìm phương tránh nạn.

Công tử Nguyên và công tử Phan lấy làm phải, đêm hôm ấy mở cửa thành cùng với công tử Thương Nhân đem quân ra đánh, bị quân Tống đánh cho một trận thất điên bát đảo. Công tử Nguyên biết sức không địch nổi, liền cùng với mấy người tâm phúc bỏ trốn sang nước Vệ. Công tử Phan và công tử Thương Nhân rút quân vào thành, toan đóng cửa lại, nhưng đóng không kịp, quân Tống kéo ồ vào. Thôi Yển đánh xe cho thế tử Chiêu vào thẳng trong thành. Quốc Ý Trọng nghe tin thế tử Chiêu đã vào thành rồi, liền cùng với Cao Hổ đem các quan ra đón, tôn thế tử Chiêu lên nối ngôi, tức là Tề Hiếu-công.

Tề Hiếu-công được lên làm vua phong cho Thôi Yển làm đại phu, và đem vàng lụa ban thưởng cho quân nước Tống. Tống Tương-công ở lại nước Tề mấy ngày, mới rút quân về.

Lỗ Hi-công đem đại binh sang nước Tề định giúp công tử Vô Khuy. Đi đến nửa đường, nghe tin Tề Hiếu-công đã lên ngôi rồi, liền thu quân trở về và từ bấy giờ nước Lỗ và nước Tề thành ra hiềm khích nhau. Công tử Phan và công tử Thương Nhân bàn nhau đổ lỗi cá nhân cho công tử Nguyên. Quốc Ý Trọng và Cao Hổ cũng biết, nhưng muốn cho Tề Hiếu-công bỏ những điều hiềm khích, nên làm thinh không nói đến, chỉ trị tội mấy đứa thủ xướng là Dịch Nha và Thụ Điêu, giết hết bọn vây cánh, còn thì tha tội cả.

Đến tháng tám năm ấy Tề Hiếu-công làm lễ an táng Tề Hoàn-công ở trên núi Ngưu Thủ, và đem Án Nga Nhi phụ táng ở bên cạnh.

Lại vì cớ công tử Vô Khuy và công tử Nguyên, mà đem hết cả nội trong hai cung Trưởng Vệ Cơ và Thiếu Vệ Cơ bắt chôn theo cả, kể hàng mấy trăm người.

Tống Tương-công từ khi đưa được thế tử Chiêu về làm vua nước Tề, tự lấy làm có công to lắm, muốn đại hội chư hầu để thay Tề Hoàn-công làm bá chủ, nhưng lại sợ khó lòng thu phục được các nước lớn, mới ước với các nước nhỏ là nước Đằng, nước Tào, nước Châu và nước Tắng đến hội ở phía nam nước Tào. Vua nước Tào và vua nước Châu đã đến rồi, bấy giờ vua nước Đằng là Anh Tề mới đến. Tống Tương-công không cho Anh Tề dự hội, bắt giam vào một chỗ. Vua nước Tắng sợ uy nước Tống, cũng vội vàng đến dự hội, nhưng đã quá mất hai ngày rồi, Tống Tương-công hỏi các quan rằng:

- Nay ra mới khởi xướng việc dự hội chư hầu, mà nước Tắng là nước nhỏ đã dám khinh thường, bỏ quá hai ngày mới đến, nếu ta không trị tội thì còn uy lệnh gì nữa?

Quan đại phu là công tử Đảng nói:

- Ngày xưa Tề Hoàn-công đánh Nam dẹp Bắc, chỉ còn có nước Đông Di là chưa đánh nổi, nay chúa công muốn lập uy cho người ta sợ thì nên dùng vua nước Tắng để mà thu phục lấy nước Đông Di.

Tống Tương-công nói:

- Dùng vua nước Tắng thì làm thế nào?

Công tử Đảng nói:

- Nước Đông Di có thờ thần gió và thần mưa ở bến sông Thư Thủy, nay chúa công giết vua nước Tắng đi để dùng làm lễ vật mà tế các vị thần ấy thì chẳng những là các vị thần giáng phúc cho chúa công mà nước Đông Di nghe thấy việc ấy, tất cũng tưởng rằng chúa công có quyền sinh sát chư hầu mà sợ hãi rồi quy phục. Bấy giờ ta lại mượn sức Đông Di để đánh các nước khác, như thế chắc làm nên được sự nghiệp bá chủ.

Công tử Mục Di can rằng:

- Không nên! Đời xưa lấy việc sát sinh làm hệ trọng, vậy nên việc tế lễ nhỏ không dám sát sinh, huống chi lại giết người mà tế lễ. Việc tế lễ là để cầu phúc cho người ta, nếu lấy người làm tế vật thì quỷ thần nào còn chứng giám. Vả thần gió mưa ở sông Thư Thủy, chẳng qua là giống yêu quái mà thôi, nay chúa công lại theo tục Đông Di mà tế vị thần ấy thì còn ai là người phục chúa công nữa? Tề Hoàn-công làm bá chủ trong bốn mươi năm, chỉ đi cứu giúp những kẻ hèn yếu để làm ơn cho thiên hạ, nay chúa công mới hội chư hầu mà đã giết người để tế giống yêu quái, tôi chắc rằng các nước ai cũng khiếp sợ mà phản lại chúa công, chứ không khi nào người ta chịu phục.

Công tử Đãng nói với công tử Mục Di rằng:

- Công tử nghĩ lầm? Công việc bá chủ của chúa công ta ngày nay cùng với Tề Hoàn-công khác nhau nhiều lắm: Tề Hoàn-công sửa sang chính trị trong nước hơn hai mươi năm mới hội chư hầu, nay chúa công ta có đợi được như thế hay không? Việc hoãn thì nên dùng ân, việc cấp thì nên dùng uy, một đằng chóng, một đằng chậm, nên phải xét rõ mới được, nếu ta không dùng Đông Di thì Đông Di tất có lòng nghi ngờ, ta không dọa chư hầu thì chư hầu tất có lòng khinh bỉ; trong thì chư hầu khinh bỉ, ngoài thì Đông Di nghi ngờ, sao cho nên nghiệp bá được? Ngày xưa Vũ-vương nhà Chu khi còn là chư hầu mà dám chém đầu thiên tử là vua Trụ, bởi thế lấy được thiên hạ, huống chi vua Tắng là một nước nhỏ, phỏng có hề gì, xin chúa công cứ làm.

Tống Tương-công liền giết vua Tắng để tế thần sông Thư Thủy, rồi sai người triệu vua nước Đông Di đến hội tế. Các nước Đông Di không ai đến cả. Vua nước Đằng là Anh Tề thấy vậy sợ hãi, sai người đem nhiều lễ vật đến để xin với Tống Tương-công. Tống Tương-công tha cho về.

Quan đại phu nước Tào là Hi Phụ Cơ bảo vua Tào rằng:

- Vua nước Tống là người nóng nảy mà bạo ngược như vậy chắc không làm gì nên, chi bằng ta bỏ về là hơn.

Vua nước Tào bèn bỏ về. Tương-công nổi giận, toan đem quân đánh nước Tào.

Công tử Mục Di lại can rằng:

- Nước Tào bỏ về, cũng chẳng hại gì đến chúa công, cần gì mà chúa công phải đem quân đi đánh.

Tương-công không nghe, liền sai công tử Đãng đem quân sang vây kinh đô nước Tào. Hi Phụ Cơ nghĩ kế để chống nhau với công tử Đãng, trong ba tháng mà công tử Đãng không đánh nổi.

Bấy giờ Trịnh Văn-công ước với Lỗ, Tề, Trần, Sái cùng với Sở Thành-vương hội ở đất nước Tề. Tống Tương-công nghe tin, sợ nước Tề và nước Sở tranh mất quyền bá chủ, vội vàng triệu công tử Đãng thu quân về. Vua nước Tào sợ quân Tống lại đến đánh, bên sai người sang xin lỗi,, từ bấy giờ Tào và Tống lại giảng hòa với nhau. Tống Tương-công muốn làm bá chủ, nhưng thấy có nhiều nước nhỏ không phục, còn các nước lớn thì lại cùng với Sở hội thề, có ý tức giận, mới cùng với công tử Đãng thương nghị. Công tử Đãng nói:

- Các nước ngày nay, có Tề và Sở là lớn hơn cả, Tề dẫu là dòng bá chủ, nhưng con cháu tranh nhau, thế nước suy yếu chỉ có nước Sở là cường thịnh, nay tiếm hiệu xưng vương, ai cũng phải sợ, chúa công nên sai người sang lễ nước Sở để mượn thế Sở mà hội chư hầu, rồi lại mượn thế chư hầu để trị lại nước Sở, ấy là kế quyền nghi tạm trong một thời.

Công tử Mục Di lại can rằng:

- Nước Sở dẫu vì ta mà hội chư hầu, nhưng khi nào nước Sở chịu nhường quyền cho ta, tôi e rằng làm như thế thì lại gây ra sự tranh chấp nhau thôi.

Tống Tương-công không nghe lời công tử Mục Di, liền sai công tử Đãng đem lễ vật sang nói với Sở Thành-vương. Sở Thành-vương hẹn đến đầu năm sau thì hội ở đất Lộc Thượng (đất nước Tề). Công tử Đãng về nói với Tống Tương-công, Tương-công nói:

- Lộc Thượng là đất nước Tề, vậy thì ta cũng nên phải báo cho vua Tề biết.

Tề Hiếu-công cũng bằng lòng.

Đến tháng giêng năm sau, Tống Tương-công lập đàn sẵn ở đất Lộc Thượng để chờ Tề Hiếu-công và Sở Thành-vương đến. Sang đầu tháng hai, Tề Hiếu-công đến, Tống Tương-công cậy cái công giúp Tề Hiếu-công khi truớc, nên trong khi tiếp kiến, cũng có vẻ đắc ý. Tề Hiếu-công cũng cảm ở nước Tống, vậy nên tỏ lòng kính nể. Lại qua đến hơn hai mươi ngày nữa, Sở Thành-vương mới đến. Khi trèo lên đàn, Tống Tương-công tự cho mình là minh chủ, tay nắm tai trâu không hề khiêm nhượng. Sở Thành-vương thấy vậy có ý không bằng lòng. Tống Tương-công nói với Sở Thành-vương và Tề Hiếu-công rằng:

- Tôi muốn nhờ uy linh của hai nhà vua để đến tháng tám năm nay đại hội chư hầu ở nước tôi, nếu hai nhà vua có lòng yêu mà xướng xuất các nước chư hầu cho thì tôi được đội ơn nhiều lắm.

Tề Hiếu-công chắp tay vái nhường Sở Thành-vương. Sở Thành-vương cũng chắp tay vái nhường Tề Hiếu-công. Hai vua cứ nhường lẫn nhau mãi, không ai chịu ký tên trước. Tống Tương-công nói:

- Nếu hai nhà vua có lòng đoái tưởng đến tôi, thì xin cùng ký tên một lượt.

Nói xong, lấy tờ điệp triệu tập chư hầu, không đưa cho Tề Hiếu-công, mà lại đưa cho Sở Thành-vương trước. Tề Hiếu-công cũng có ý không bằng lòng. Sở Thành-vương mở xem tờ điệp, thấy Tống Tương-công đã ký tên trước rồi, cười thầm và bảo Tống Tương-công rằng:

- Nhà vua cũng có thể hội được chư hầu, cần gì phải mượn đến tôi.

Tống Tương-công nói:

- Nước Trịnh lâu nay vẫn chịu ơn với quý quốc, mà nước Trần và nước Sái thì mới rồi cũng cùng với quý quốc hội thề ở đất nước Tề, nếu không nhờ uy linh của nhà vua thì tôi e rằng các nước không chịu đến hội.

Sở Thành-vương nói:

- Thế thì vua nước Tề nên ký tên trước, rồi sau sẽ đến tôi.

Tề Hiếu-công nói với Sở Thành-vương rằng:

- Nước tôi chỉ là một nước chịu ơn của nước Tống mà thôi, cho nên Tống hầu muốn nhờ uy linh của quý quốc là đúng.

Sở Thành-vương cười mà ký tên, rồi cầm bút đưa cho Tề Hiếu-công.

Tề Hiếu-công nói:

- Có nước Sở ký tên là đủ, bất tất phải có nước Tề.

Nói xong, nhất định không chịu ký. Chỉ vì Tề Hiếu-công thấy Tống Tương-công trọng Sở mà khinh Tề, thì lấy làm bất bình mà không chịu ký tên. Tống Tương-công vẫn cậy mình có ơn với Tề Hiếu-công, cho nên tưởng là Tề Hiếu-công nói thực, liền cầm tờ điệp cất đi.

Sở Thành-vương về nước, nói chuyện lại cho quan lệnh doãn là Tử Văn nghe. Tử Văn nói:

- Vua nước Tống là người ngông cuồng như vậy, sao đại vương lại giúp nước Tống để hội chư hầu làm gì?

Sở Thành-vương cười mà nói rằng:

- Ta muốn làm chủ hội ở Trung quốc đã lâu lắm, nhưng chưa có dịp nào cả, nay ta nhân nước Tống mà hội chư hầu, chẳng cũng nên lắm ru!

Quan đại phu là Thành Đắc Thần nói:

- Vua nước Tống là người hiếu danh mà không có mưu trí gì cả, khi hội chư hầu, ta đem quân giáp sĩ đến phục sẵn là có thể bắt được.

Sở Thành-vương nói:

- Ta cũng nghĩ như vậy!

Tử Văn nói:

- Giúp người ta hội chư hầu mà lại bắt người ta thì sao cho các nước chịu phục được?

Thành Đắc Thần nói:

- Vua nước Tống muốn làm chủ hội, tất có ý kiêu ngạo với chư hầu, bấy giờ ta bắt vua nước Tống để thị uy, rồi lại làm ơn mà tha cho, như vậy thì chư hầu phải phục mà theo nước Sở ta cả; chớ nên câu nệ điều nhỏ nhặt ấy mà bỏ mất cơ hội hay.

Sở Thành-vương liền sai Thành Đắc Thần và Đấu Bột mỗi người tuyển năm trăm giáp sĩ để đến ngày hội chư hầu thì phục sẵn mà bắt Tống Tương-công.

Tống Tương-công từ khi ở đất Lộc Thượng về, thì hớn hở vui mừng mà bảo công tử Mục Di rằng:

- Nước Sở đã thuận giúp ta để hội chư hầu rồi!

Công tử Mục Di can rằng:

- Nước Sở là giống man di, ngoài miệng nói như vậy, nhưng trong lòng chưa biết thế nào, tôi e rằng chúa công mắc lừa nước Sở thôi.

Tống Tương-công nói:

- Nhà ngươi đa nghi lắm, ta đem lòng trung tín mà đãi người ta, khi nào người ta lại nỡ lừa dối.

Nói xong, liền sai người truyền hịch đi các nước, hẹn đến hội ở đất vu Địa (đất nước Tống); lại sai người sửa sang các nhà công quán để nghênh tiếp vua chư hầu. Đến tháng bảy năm ấy, Tương-công sắp sửa xa giá đến đất Vu Địa. Công tử Mục Di can rằng:

- Nước Sở cậy sức mạnh mà không biết giữ nghĩa, chúa công nên đem quân sĩ đi theo mới được. Tương-công nói:

- Ta đã ước với chư hầu cùng nhau hòa hiếu, không dùng đến quân sĩ, nếu nay ta lại đem quân sĩ đi theo thì sao cho các nước chư hầu tin phục?

Công tử Mục Di nói:

- Chúa công muốn thủ tín mà không dùng đến quân sĩ thì xin chúa công cứ đi trước, tôi sẽ đem quân sĩ phục sẵn ở ngoài ba dặm, để phòng sự nguy cấp, chúa công nghĩ thế nào?

Tương-công nói:

- Không nên! Nhà người đem quân sĩ đi theo thì khác nào như ta dùng quân sĩ.

Khi Tương-công sắp đi, lại sợ công tử Mục Di ở nhà đem quân đi tiếp ứng thì thành ra mình thất tín với chư hầu, mới bảo công tử Mục Di cùng đi. Công tử Mục Di nói:

- Tôi ở nhà cũng không thể đành lòng được, vậy xin đi theo chúa công.

Bấy giờ Tống Tương-công và công tử Mục Di cùng đi. Vua sáu nước: Sở, Trần, Sái, Hứa, Tào và Trịnh đúng hẹn cùng đến cả. Chỉ có Tề Hiếu-công có ý không bằng lòng và Lỗ Hi-công chưa giao thiệp với nước Sở bao giờ là không đến. Tương-công sai nghênh tiếp vua sáu nước vào nghỉ ở các nhà công quán. Tương-công thấy các nước đều không có quân sĩ đi theo bằng lòng mà nói rằng:

- Ta vẫn biết nước Sở không khi nào đánh lừa ta!

Quan thái sử chọn ngày để khai hội. Đầu trống canh năm hôm ấy ở trên đàn có đốt cây đình liệu sáng rực như ban ngày. Tống Tương-công đến trước để đợi các vua chư hầu. Có năm nước chư hầu là:

1.      Trần Mục-công (Cốc)

2.      Sái Trang công (Giáp Ngọ)

3.      Trịnh Văn-công (Tiếp)

4.      Hứa Hi công (Nghiệp)

5.      Tào Cung-công (Tương)

Mọi người đều lục tục đến dần. Đợi mãi đến sáng rõ, Sở Thành-vương (Hùng Vận) mới đến. Tống Tương-công giữ lễ chủ vái chào các vua chư hầu, rồi sắp hàng cùng đứng hai bên. Các vua chư hầu đều sợ uy Sở Thành-vương, nhường Sở Thành-vương đứng đầu. Thành Đắc Thần và Đấu Bột đứng hầu sau lưng Sở Thành-vương. Vua các nước cũng đều có người đi theo hầu cả. Tống Tương-công muốn làm chủ hội, nhưng tự mình nói ra không tiện, mới đưa mắt để cho Sở Thành-vương nói.

Sở Thành-vương cứ cúi đầu im lặng, không nói gì cả. Các vua chư hầu cũng đều nhìn nhau, không ai dám nói trước. Tống Tương-công không thể nhịn được, mới nghiễm nhiên đứng ra mà nói rằng:

- Ngày nay tôi muốn theo gương Tề Hoàn-công thuở trước, trên thì phụng mệnh thiên tử, dưới thì giao hiếu với các nước chư hầu, các quý quốc nghĩ thế nào?

Các vua chư hầu nghe nói, cũng chưa ai đáp lại thế nào thì Sở Thành-vương đứng thẳng ra phía trước mà nói rằng:

- Nhà vua nói phải lắm! Nhưng không biết trong cuộc hội thề này, ai làm chủ.

Tống Tương-công nói:

- Một là người có nhiều công trạng, hai là người cao phẩm tước thì được làm chủ, còn phải nói gì nữa?

Sở Thành-vương nói:

- Nước tôi tự đặt vào hàng vương tước đã lâu rồi, nước Tống dẫu là tước công, cũng không ở trên tước vương được, như vậy thì tôi xin lỗi các nước mà nhận đứng ra làm chủ.

Nói xong, liền bước lên đứng ở đầu hàng trên nhất. Công tử Mục Di giằng tay áo Tống Tương-công, ý muốn bảo Tống Tương-công hãy chịu nhịn đi, rồi sau sẽ liệu. Tống Tương-công vẫn đinh ninh ngôi chủ minh đã nắm vững trong tay mình, nay thấy tình hình giở giang như vậy, tài nào mà không tức giận, liền vùng vằng bảo Sở Thành-vương rằng:

- Nước tôi là tước công, lại là con cháu sau thiên tử nhà ân trước, dẫu thiên tử nhà Chu ta bây giờ, cũng phải có lòng kính trọng; nước Sở nay chẳng qua là tiếm hiệu xưng vương, vậy khi nào tước vương giả lại được ở trên tước công thật!

Sở Thành-vương nói:

- Tôi đã là tước vương giả thì ai bảo nhà vua mời tôi đến đây?

Tống Tương-công nói:

- Nhà vua đến đây là theo lời ước ở đất Lộc Thượng, có phải tôi không giao hẹn trước đâu.

Thành Đắc Thần đứng bên cạnh quát to lên rằng:

- Công việc ngày nay, thử hỏi các vua chư hầu là vì nước Sở mà đến đây hay là vì nước Tống mà đến?

Các chư hầu xưa nay vốn sợ thế nước Sở, đồng thanh mà đáp rằng:

- Chúng tôi phụng mệnh vua nước Sở, vậy nên phải đến đây.

Sở Thành-vương cười khanh khách mà nói với Tống Tương-công rằng:

- Vua Tống còn nói gì nữa không?

Tống Tương-công toan cãi lại thì Thành Đắc Thần và Đấu Bột cởi ngay lễ phục bên ngoài ra, thì thấy trong đã mặc sẵn áo giáp, sau lưng đeo một lá cờ lệnh. Thành Đắc Thần và Đấu Bột cầm lá cờ lệnh giơ cao lên rồi vẫy một cái, quân sĩ của Sở Thành-vương ở dưới đàn, đến hơn nghìn người đều cầm binh khí kéo lên. Các vua chư hầu sợ mất vía cả. Thành Đắc Thần nắm ngay lấy hai tay áo Tống Tương-công mà trói chặt lại, rồi cùng với Đấu Bột truyền cho quân sĩ thu hết các đồ vàng ngọc bày ở trên đàn. Tống Tương-công trông thấy công tử Mục Di đứng ở bên cạnh, liền ghé tai mà bảo thầm rằng:

- Ta tiếc đã không nghe lời nói của công tử, nên mới đến nỗi thế này. Công tử nên mau mau về đi, để giữ lấy nước nhà, đừng nghĩ gì đến ta nữa?

Công tử Mục Di biết là đi theo cũng vô ích, mới bỏ Tống Tương-công mà trốn về.

------------------------------------------------

Hồi thứ 34.
Tống Tương-công lá cờ nhân nghĩa
Tề Khương-thị chén rượu biệt ly

Sở Thành-vương bắt Tống Tương-công đem về công quán, rồi cho mời tất cả các vua chư hầu đến, kể sáu tội của Tống Tương-công:

1.  Nước Tề đang có tang mà dám đem quân sang đánh, bỏ người nọ lập người kia, đó là một tội.

2.  Vua nước Đằng đến hội, hơi chậm một chút, mà dám giam trói làm nhục, đó là hai tội.

3.  Giết vua nước Tắng để tế dâm thần, đó là ba tội.

4.  Vua nước Tào bỏ về là một điều lỗi nhỏ, mà dám cậy sức mạnh, đem quân đến vây đánh, đó là bốn tội.

5.  Con cháu sau một nước đã mất mà không biết tự lượng tài đức lại mưu toan làm bá chủ, đó là năm tội.

6.  Nhờ sức ta để hội các nước chư hầu, mà lại kiêu ngạo tự đắc, không biết gia lễ, đó là sáu tội.

Sở Thành-vương lại nói với các vua chư hầu rằng:

Lòng trời không tựa nước Tống, làm cho vua Tống mê mẩn, một mình dẫn thân đến đây để bị bắt, nay ta quyết đem quân vào phá thành Thư Dương (kinh đô nước Tống) báo thù do nước Đằng và nước Tằng, xin các vua hãy ở cả lại đây, chờ khi tôi lấy được nước Tống rồi, sẽ cùng với các vua uống rượu chơi trong mươi ngày.

Các vua chư hầu vâng vâng dạ dạ. Tống Tương-công cứ ngây người ra như tượng gỗ, hai hàng nước mắt chảy xuống dòng dòng. Sở Thành-vương khao thưởng quân sĩ, nhổ trại lên đường đem theo cả Tống Tương-công mà tiến vào thành Thư Dương. Các vua chư hầu đều phụng mệnh Sở Thành-vương, ở cả lại đất Vu Địa, không ai dám về.

Công tử Mục Di từ khi ở Vu Địa trốn về đến nước Tống, đem chuyện Tống Tương-công bị bắt kể lại cho quan tư mã là Công Tôn Cố nghe, rồi lại bảo Công Tôn Cố rằng:

- Quân nước Sở chẳng bao lâu sẽ kéo đến đây, ta nên nghĩ cách để phòng bị.

Công Tôn Cố nói:

- Trong nước chớ nên để một ngày nào không có vua, nay công tử hãy quyền nhận ngôi vua để giữ lấy quyền chính thì mới yên việc nước được.

Công tử Mục Di ghé tai Công Tôn Cố mà nói thầm, bảo rằng tất phải như thế, như thế, thì nước Sở mới tha cho chúa công ta trở về.

Công Tôn Cố khen phải, liền tuyên cáo với các quan trong triều rằng:

- Chúa công ta vị tất đã về được, chúng ta nên tôn lập công tử Mục Di lên nối ngôi.

Các quan biết công tử Mục Di là người hiền, đều bằng lòng cả.

Công tử Mục Di lên nối ngôi, rồi truyền cho quân sĩ canh giữ các cửa thành rất nghiêm mật. Sở Thành-vương kéo đại binh đến, sai Đấu Bột nói với quân Tống rằng:

- Vua Tống đã bị ta bắt tại đây rồi, sống chết ở trong tay ta, nước Tống phải mau mau nộp đất đầu hàng thì vua Tống mới được toàn tính mệnh.

Công Tôn Cố ở trên mặt thành đáp lại rằng:

- Nước ta đã lập vua mới rồi, không khi nào chịu đầu hàng.

Đấu Bột nói:

-Vua Tống hãy còn đây, sao nước ngươi lại dám lập vua khác?

Công Tôn Cố nói:

- Vua làm chủ trong nước, nước đã không có chủ nữa thì tất phải lập vua khác.

Đấu Bột nói:

- Nếu chúng ta trả lại vua Tống thì nước Tống định lấy gì để tạ ơn?

Công Tôn Cố nói:

- Vua cũ đã bị bắt, thế là làm nhục cho nước, dẫu về cũng không được làm vua nữa. Trả lại hay là không trả lại, điều đó tùy ý. Nếu Sở cố ý sinh sự đánh nhau Tống tôi cũng xin vâng mệnh. Đấu Bột thấy Công Tôn Cố nói ngang như vậy, liền tâu với Sở Thành-vương. Sở Thành-vương nổi giận, truyền cho quân sĩ xông vào phá thành. Quân Tống ở trên mặt thành bắn tên xuống như mưa. Quân Sở chết và bị thương nhiều lắm. Quân Sở đánh luôn ba ngày mà không thắng nổi quân Tống. Sở Thành-vương nói:

- Kẻ kia đã không thiết đến vua nữa thì ta giết quách Tống Tương-công đi.

Thành Đắc Thần nói:

- Ngày trước đại vương bẻ vua Tống về tội giết vua Tắng, bây giờ đại vương lại giết vua Tống còn ra thế nào? Vả lại giết vua Tống cũng không ích gì, đã chẳng lấy được nước Tống mà lại còn thêm oán, chi bằng tha cho vua Tống là hơn!

Sở Thành-vương nói:

- Ta không đánh nổi nước Tống mà lại phải tha cho vua Tống thì còn ra thế nào?

Thành Đắc Thần nói:

Tôi có một kế: mới rồi chỉ có Tề và Lỗ là không dự hội ở đất Vu Địa. Nước Tề đã hai ba lần cùng ta giao hiếu, chẳng kể làm gì; còn nước Lỗ là một nước lễ nghĩa, xưa nay vẫn giao hiếu với Tề, không biết Sở là gì cả, nay ta đem những vật lấy được của nước Tống đưa biếu vua Lỗ, và mời vua Lỗ đến hội ở đất Bạc Đô, Lỗ và Tống vốn thân thuộc với nhau, tất nhiên vua Lỗ phải thương tình mà xin hộ cho vua Tống, bấy giờ ta sẽ tha vua Tống để làm ơn với Lỗ, khiến cho cả hai nước cùng phải quy phục ta.

Sở Thành-vương vỗ tay cười lớn mà nói rằng:

- Nhà ngươi thật là cao kiến!

Nói xong, liền rút quân về đóng ở đất Bạc Đô, rồi sai người đem những đồ lấy được của nước Tống sang biếu Lỗ Hi-công và đệ trình một bức thư. Thư rằng:

“Vua nước Tống là người kiêu ngạo vô lễ, tôi đã bắt giam lại ở Bạc Đô rồi. vậy xin đem các đồ lấy được của nước Tống sang dâng quý quốc và mời nhà vua sang hội đế xử việc ấy”.

Lỗ Hi-công xem thư giật mình, trong lòng thương xót thay cho Tống Tương-công; lại biết rằng nước Sở đem biếu các đồ lấy được của nước Tống là có ý khoe khoang để dọa mình, nhưng sợ thế nước Sở, cũng phải nhận lời sang đất Bạc Đô hội với vua Sở. Bấy giờ năm nước chư hầu: Trần, Sái, Trịnh, Hứa và Tào, khi trước đóng ở đất Vu Địa, cũng kéo sang đất Bạc Đô cả, kể cả Lỗ Hi-công, cộng thành sáu nước.

Sáu vị chư hầu cùng hợp nhau ở một chỗ để thương nghị. Trịnh Văn-công muốn tôn Sở Thành-vương làm bá chủ. Các vua chư hầu đều ấp úng không ai dám nói. Lỗ Hi-công cả quyết nói rằng:

- Ngôi bá chủ tất phải chọn người nào có nhân nghĩa thì người ta mới phục, nay vua nước Sở cậy sức mạnh bắt giam vua Tống, làm cho lòng người nghi sợ. Chúng ta cùng với Tống cũng là bạn đồng minh với nhau, nay ta cúi đầu chịu theo nước Sở mà không biết cứu vua Tống chắc rằng thiên hạ chê cười. Nếu nước Sở tha cho vua Tống để giữ lấy tình hòa hiếu thì chúng ta sẽ vâng mệnh.

Các vua chư hầu đều nói rằng:

- Vua Lỗ nói phải lắm?

Thành Đắc Thần đem lời nói của Lỗ Hi-công tâu với Sở Thành-vương. Sở Thành-vương nói:

- Các vua chư hầu thuận tôn ta làm bá chủ thì có đâu ta lại dám trái ý.

Nói xong, truyền lập đàn để cùng với các vua chư hầu hội thề. Ngày hôm sau, Sở Thành-vương tha cho Tống Tương-công và cho được gặp mặt các vua chư hầu. Tống Tương-công vừa theo vừa giận, buồn rầu khôn xiết, nhưng bất đắc dĩ cũng phải vào tạ ơn các vua chư hầu.

Trịnh Văn-công cùng với các vua chư hầu tôn Sở Thành-vương lên làm bá chủ.

Khi hội thề xong, các vua chư hầu đều về nước cả. Tống Tương-công nghe tin công tử Mục Di đã lên làm vua nước Tống rồi, toan bỏ trốn sang nước Vệ. Công tử Mục Di sai người sang nói với Tống Tương-công rằng:

- Tôi phải tạm lên ngôi là để giữ nước cho chúa công đó mà thôi, xin chúa công cứ về.

Rồi sắp đặt xa giá đi rước Tương-công về. Công tử Mục Di lại lui xuống làm bề tôi.

Tống Tương-công chỉ chăm chăm muốn làm bá chủ, bị Sở Thành-vương một phen làm nhục, nghĩ oán đến cốt tủy chỉ giận sức mình không thể địch nổi; lại thấy Trịnh Văn-công xướng nghị tôn Sở Thành-vương làm bá chủ, thì lại càng căm tức, vẫn muốn đem quân đánh nước Trịnh. Đến năm sau, Trịnh Văn-công lại sang triều kiến Sở Thành-vương; Tống Tương-công nghe tin, giận lắm, liền cử đại binh sang đánh Trịnh, giao quyền chính cho công tử Mục Di để giúp thế tử Vương Thần giữ nước. Công tử Mục Di can rằng:

- Trịnh đang giao hiếu với Sở, nếu ta đánh Trịnh thì Sờ tất sang cứu, vị tất ta đã đánh nổi, chi bằng ta hãy sửa sang chính trị trong nước để đợi thời là hơn.

Quan tư mã là Công Tôn Cố, cũng tìm lời khuyên can. Tống Tương-công nổi giận mà nói rằng:

- Nhà ngươi không muốn đánh thì để ta đi một mình!

Công Tôn Cố không dám nói nữa, liền cùng với Tống Tương-công đem quân sang đánh Trịnh. Có quân thám tử báo tin cho Trịnh Văn-công Trịnh Văn-công sợ lắm, vội vàng sai người sang cáo cấp với Sở Thành-vương. Sở Thành-vương nói:

- Nước Trịnh thờ ta như cha, ta nên đem quân sang cứu mới được.

Thành Đắc Thần nói:

- Cứu Trịnh không bằng đánh Tống.

Sở Thành-vương hỏi:

- Tại sao?

Thành Đắc Thần nói:

- Từ khi vua Tống bị bắt, người nước Tống đều sợ mất vía, nay vua Tống không tự lượng sức mình, dám cử đại binh đi đánh Trịnh, tất là trong nước bỏ không, ta đem quân sang đánh, chắc hẳn phải được; dẫu vua Tống kéo quân về, cũng không thể nào địch nổi.

Sở Thành-vương khen phải, liền sai Thành Đắc Thần làm chánh tướng, Đấu Bột làm phó tướng, đem quân đi đánh Tống. Tống Tương-công đánh nhau với Trịnh, nghe tin quân nước Sở kéo sang đánh Tống, vội vàng thu quân trở về, đóng ở phía Nam sông Hoằng Thủy để đối địch với quân Sở. Thành Đắc Thần sai người đưa chiến thư cho Tống Tương-công.

Công Tôn Cố báo Tống Tương-công rằng:

- Nước Sở đem quân tới đây là cốt để cứu nước Trịnh, nay ta buông nước Trịnh ra để xin lỗi nước Sở thì nước Sở tất rút quân về.

Tống Tương-công nói:

- Ngày xưa Tề Hoàn-công thân đem quân sang đánh Sở, nay Sở đến đánh mình mà mình lại thôi thì sao nối được sự nghiệp bá chủ của Tề Hoàn-công?

Công Tôn Cố lại nói:

- Ngày nay áo giáp của ta, không bền bằng của nước Sở; gươm giáo của ta, không sắc bằng của nước Sở; quân sĩ của ta, không mạnh bằng của nước Sở. Người nước Tống ta sợ quân Sở như sợ giống rắn rết, chúa công chắc vào cái gì mà dám đánh?

Tống Tương-công nói:

- Kể binh giáp thì Sở hơn ta, nhưng kể nhân nghĩa thì ta hơn Sở. Ngày xưa Vũ-vương nhà Chu chỉ có ba nghìn quân mà đánh nổi ức vạn quân của vua Trụ, cũng nhờ có nhân nghĩa đó thôi, can chi mà sợ!

Nói xong, liền phê vào chiến thư hẹn ngày giao chiến. Tống Tương-công sai chế một lá cờ thật to để cắm ở trên xe; trong lá cờ có đề hai lớn "Nhân nghĩa". Công Tôn Cố phàn nàn riêng với quan đại phu là Dược Bộc Y rằng:

- Tranh chiến cốt phải sát phạt mà lại nói đến nhân nghĩa, thì tôi thật không hiểu cái nhân nghĩa của chúa công ra thế nào! Chẳng qua là trời thu mất hồn phách của chúa công, tôi thấy nguy lắm. Bây giờ chúng ta nên nghĩ thế nào để giữ cho không đến nỗi mất nước Tống.

Thành Đắc Thần đóng quân ở phía Nam sông Hoằng Thủy. Đến ngày khai chiến, Đấu Bột nói với Thành Đắc Thần xin bắt đầu trống canh năm cho quân sĩ sang đò, kẻo sợ người nước Tống đánh chặn ở bên kia bờ sông. Thành Đắc Thần cười mà nói rằng:

- Vua nước Tống là người gàn dở, có biết binh pháp là gì! Ta sang sớm thì đánh được sớm, sang trưa thì đánh được trưa, có gì mà sợ!

Trời sáng rõ, quân Sở mới lục tục kéo sang. Công Tôn Cố nói với Tống Tương-công rằng:

- Quân nước Sở chờ trời sáng rõ, mới kéo sang đò, thế là có ý khinh ta. Nay ta nhân lúc họ đang sang đò mà xông vào đánh thì tất có thể phá vỡ được, nếu để cho quân Sở sang xong thì quân Sở nhiều quân ta ít, địch làm sao nổi?

Tống Tương-công trỏ vào lá cờ mà bảo Công Tôn Cố rằng:

- Nhà ngươi không trông thấy hai chữ "Nhân nghĩa" hay sao? Ta dùng binh rất đường hoàng, lẽ nào lại nhân lúc người ta đang sang đò mà xông vào đánh bao giờ!

Công Tôn Cố lại nghĩ thầm mà phàn nàn một mình. Được một lúc quân Sở sang đò xong rồi, Thành Đắc Thần đầu đội mũ ngọc, mình mặc áo giáp, tay cầm roi, đang chỉ bảo cho quân sĩ sắp hàng bày trận, khi thế ngang nhiên, trông bộ không sợ ai cả. Công Tôn Cố lại nói với Tống Tương-công rằng:

- Quân Sở còn đang sắp hàng bày trận, xin chúa công cho quân xông vào đánh ngay đi thì tất quân Sở phải vỡ.

Tống Tương-công nhổ vào mặt Công Tôn Cố mà mắng rằng:

- Nhà ngươi chỉ tham cái lợi một lúc, mà không nghĩ đến điều nhân nghĩa muôn đời hay sao! Ta dùng binh rất đường hoàng, lẽ nào lại nhân lúc người ta chưa sắp hàng bày trận xong mà xông vào đánh bao giờ!

Công Tôn Cố lại vò đầu bứt tai mà phàn nàn mãi. Quân Sở đã sắp hàng bày trận xong, quân Tống trông thấy quân Sở khí thế hùng dũng, đều có ý sợ hãi. Tống Tương-công truyền cho quân sĩ nổi hiệu trống. Quân Sở cũng nổi hiệu trống. Tống Tương-công cầm giáo dài, xông vào đánh trước, bị quân Sở vây kín lại. Công Tôn Cố theo vào để hộ giá thì bị tướng nước Sở là Đấu Bột đón đánh, may có tướng nước Tống là Hoa Tú Lão xông đến giao chiến với Đấu Bột. Công Tôn Cố ra sức phá vòng vây của quân Sở, bỗng gặp Hướng Xi Thủ (tướng nước Tống) máu me đầy mặt, gọi Công Tôn Cố mà bảo rằng:

- Ngài mau mau vào mà cứu lấy chúa công!

Khi Công Tôn Cố vào đến nơi thấy công tử Đãng bị thương nặng nằm ở trên xe, lá cờ "Nhân nghĩa" đã bị quân Sở lấy mất rồi. Tống Tương-công mình bị mấy đấu thương, phía đùi chân phải lại bị một mũi tên, đứt gân không đứng dậy được. Công tử Đãng trông thấy Công Tôn Cố đến, trừng mắt nhìn mà bảo rằng:

- Quan tư mã cố sức mà cứu lấy chúa công, tôi đành chết ở đây thôi!

Nói xong thì chết ngay. Công Tôn Cố thương xót vô cùng, vực Tống Tương-công lên xe, rồi cố sức phá vòng vây mà chạy. Hướng Xi Thủ đi sau để ngăn quân Sở. Công Tôn Cố và Tống Tương-công luôn đêm chạy về. Quân Tống chết hại không biết bao nhiêu mà kể, những cha mẹ vợ con đều khóc lóc than thở, oán Tống Tương-công không nghe lời Công Tôn Cố để đến nỗi thua.

Tống Tương-công nghe nói, thở dài mà than rằng:

- Người quân tử ra trận, không đâm người đã bị thương rồi, không bắt người già hai thứ tóc, ta đây cũng chỉ cốt lấy điều nhân nghĩa, bắt chước chi những thói tàn bạo ấy.

Người trong nước nghe thấy Tống Tương-công nói như vậy, ai cũng chê cười.

Quân Sở đã thắng trận rồi, lại thu quân mà sang sông Hoằng Thủy định trở về nước Sở; vừa ra khỏi địa giới nước Tống thì nghe báo Sở Thành-vương đem đại binh đến tiếp ứng, hiện đang đóng quân ở đất Kha Trạch (đất nước Trịnh). Thành Đắc Thần bèn sang đất Kha Trạch để yết kiến Sở Thành-vương và dâng các đồ lấy được của nước Tống, Sở Thành-vương nói:

- Ngày mai vua nưởc Trịnh đem cả phu nhân đến đây khao thưởng quân sĩ; ta nên bày các phẩm vật lấy được của nước Tống để khoe với vua Trịnh.

Nguyên Trịnh Văn-công lấy em gái Sở Thành-vương là Vu-thị, tức là nàng Văn Vu. Văn Vu nghĩ tình anh em, cũng theo Trịnh Văn-công đến đất Kha Trạch để yết kiến Sở Thành-vương. Sở Thành-vương cho xem các phẩm vật lấy được của nước Tống. Vợ chồng Trịnh Văn-công cùng chúc mừng Sở Thành-vương, và khao thưởng các hàng quân sĩ.

Ngày hôm sau, Trịnh Văn-công mời Sở Thành-vương vào trong thành rồi bày tiệc long trọng để thết đãi, Văn Vu sinh được hai người. con gái là Bá Vu và Thúc Vu, bấy giờ chưa gả chồng. Văn Vu sai hai con lấy lễ cậu cháu ra yết kiến Sở Thành-vương. Sở Thành-vương mừng lắm. Trịnh Văn-công cùng với vợ vả con gái thay đổi nhau để mời rượu từ giờ Ngọ đến giờ Tuất làm cho Sở Thành-vương say tít. Sở Thành-vương bảo Văn Vu rằng:

- Nay ta quá vui, uống rượu say lắm, em và hai cháu nên đưa ta về. Văn Vu xin vâng lời. Trịnh Văn-công tiễn Sở Thành-vương ra đến cửa thành, rồi trở về trước, còn Văn Vu và hai con gái theo Sở Thành-vương sang tận chỗ quân dinh. Sở Thành-vương thấy hai cháu gái đều có nhan sắc thì đưa vào phòng rồi cậu cháu mây mưa cùng nhau. Văn Vu biết chuyện tức giận, một mình trằn trọc trong màn, cả đêm không ngủ được, nhưng sợ uy Sở Thành-vương, không dám nói ra. Ngày hôm sau, Sở Thành-vương đem các phẩm vật lấy được của nước Tống chia cho Văn Vu một nửa, rồi bắt hai cháu gái đem về nước Sở. Quan đại phu nước Trịnh là Thúc Thiêm than rằng:

- Vua Sở khinh miệt lễ giáo như vậy thì toàn vẹn thế nào được?

Lại nói chuyện công tử Trùng Nhĩ nước Tấn sang đến nước Tề, ở được bảy năm, đến khi Tề Hoàn-công mất, các con tranh nhau nối ngôi, trong nước đại loạn. Rồi Tề Hiếu-công lên ngôi, lại đổi hết cả chính sự: giảng hòa với Sở, gây thù với Tống, thành ra nhiều chuyện lôi thôi. Bọn Triệu Thôi bàn riêng với nhau rằng:

- Chúng ta theo công tử Trùng Nhĩ sang đây là muốn nhờ binh lực nước Tề để về lấy lại nước, nay nước Tề lắm việc như vậy, tất là không giúp được công tử ta rồi, chi bằng chúng ta sang nước khác để lo liệu thì hơn.

Nói xong, định thương nghị với công tử Trùng Nhĩ. Bấy giờ công tử Trùng Nhĩ say đắm nàng Khương-tề, ngày đêm chỉ uống rượu vui, chẳng thiết đến việc gì cả. Bọn Triệu Thôi chầu chực đến mười ngày mà không được gặp mặt. Ngụy Thù giận lắm, nói:

- Chúng ta tưởng công tử là người có chí, vậy nên lặn lội mà theo tới đây. Nay ở nước Tề, thấm thoát đã bảy năm trời, mà công tử lười biếng đắm say như vậy, khiến chúng ta đợi đến mười ngày nay mà không được gặp mặt, thế thì bao giờ mới thành sự được?

Hồ Yển nói:

- Đây không phải là chỗ chúng ta họp nhau nói chuyện, các ngươi theo ta đến đằng kia.

Nói xong, liền kéo nhau ra ngoài cửa Đông, đến một chỗ gọi là Tang-âm. Chỗ ấy là một bãi dâu, dâu mọc xanh um cả, bóng mặt trời không rọi xuống đến mặt đất. Triệu Thôi cùng với các vị hào kiệt ngồi xúm quanh một vòng. Triệu Thôi hỏi Hồ Yển rằng:

- Nhà ngươi định thế nào?

Hồ Yển nói:

- Công tử đi hay không, cũng do chúng ta mà thôi. Chúng ta cứ thu xếp sẵn các đồ hành trang, rồi giả cách mời công tử đi săn mà bắt ép phải đi, thì mới được việc. Nhưng trước hết ta hãy bàn xem nên đi nước nào cái đã.

Triệu Thôi nói:

- Nay vua Tống đang có chí muốn làm bá chủ, mà tính lại hiếu danh, ta nên sang đấy; bằng sang đấy mà không được, bấy giờ ta sẽ sang Tần và Sở, tất thế nào cũng có nước giúp ta.

Hồ Yển nói:

- Tôi cùng với quan tư mã nước Tống là Công Tôn Cố, có quen biết nhau, nay sang qua đấy, thử xem họ xử ra sao!

Mọi người cùng nhau bàn định một lúc xong, vẫn tưởng bãi dâu vắng vẻ không có ai biết được, ngờ đâu trong bụi dâu có một bọn thị nữ của Tề-khương hơn mười người đang hái dâu về nuôi tằm, nghe tiếng người nói chuyện, liền đứng nép một chỗ để rình xem sự tình ra sao. Khi nghe được hết cả câu chuyện rồi, họ bèn về nói lại với Khương-thị. Nàng mắng rằng:

- Chúng bay chỉ nói càn, đâu có những việc ấy.

Nói xong, liền bắt bọn thị nữ giam vào một phòng kín, đợi đến nửa đêm đem giết chết cả, để giữ cho công việc khỏi tiết lộ ra ngoài, rồi vào đánh thức công tử Trùng Nhĩ dậy mà bảo rằng:

- Các người theo hầu công tử, định đem công tử đi nước khác, có mấy đứa thị nữ hái dâu nghe được, về nói với thiếp, thiếp sợ công việc tiết lộ ra ngoài, có sinh ra sự ngăn trở gì chăng, hiện đã giết bỏ mấy đứa ấy đi rồi. Công tử nên mau mau thu xếp để khởi hành.

Trùng Nhĩ nói:

- Người ta ở đời, quý hồ được vui vẻ sung sướng thì thôi, ta chỉ muốn ở đây cho yên thân, nhất định không đi đâu cả!

Tề-khương nói:

- Từ khi công tử đi trốn đến giờ, nước Tấn không năm nào được yên, ấy là lòng trời có ý đợi công tử đó. Công tử đi chuyến này, tất thu phục được nước Tấn, xin công tử phải quyết đoán mới được.

Trùng Nhĩ ham mê Khương-tề, vẫn không chịu đi. Ngày hôm sau, bọn Triệu Thôi đứng ở ngoài cửa cung, sai người vào nói mời công tử Trùng Nhĩ đi săn. Trùng Nhĩ còn đau nằm nghỉ chưa dậy, sai người ra bảo rằng:

- Công tử hơi mệt trong mình, chưa dậy chải gội được, hôm nay không đi.

Khương-thị nghe nói, sai người mời một mình Hồ Yển vào, đuổi hết người xung quanh đi mà bảo Hồ Yển rằng:

- Nhà ngươi mời công tử đi săn là có ý gì?

Hồ Yển nói:

- Khi trước công tử ở nước Địch, chẳng ngày nào không đi săn; từ khi sang đây, đã lâu lắm không đi, chúng tôi sợ công tử sinh lười biếng, vậy phải đến mời, chứ có ý gì đâu!

Khương-thị cười tủm tỉm mà rằng:

- Lần này đi săn, không sang nước Tống thì tất sang nước Tần và nước Sở, có phải thế không?

Hồ Yển giật mình kinh sợ, nói:

- Đi săn có đâu lại đi xa như vậy!

Tề Khương nói:

- Các ngươi muốn đem công tử trốn đi, ta đã biết cả rồi, lại còn giấu giếm gì nữa? Đêm mới rồi, ta cũng cố khuyên công tử, nhưng công tử nhất định không nghe, âu là để chiều hôm nay tôi bày một tiệc rượu, đổ cho công tử uống thật say, rồi các người vực công tử lên xe mà đem đi thì mới được việc.

Hồ Yển sụp lạy mà nói rằng:

- Nếu phu nhân dứt bỏ tình riêng, để giúp nên việc lớn cho công tử thì cái hiền đức ấy thật là xưa nay ít có?

Nói xong, Hồ Yển cáo từ lui ra, về nói chuyện với bọn Triệu Thôi rồi thu xếp các đồ hành trang, kéo nhau ra đợi sẵn ở ngoài cõi, chỉ có Hồ Yển, Ngụy Thù và Điên Hiệt, ba người đem hai cái xe nhỏ chực ở ngoài cửa cung, để chờ tin Khương-thị. Chiều hôm ấy, Khương-thị bày tiệc ở trong cung mời công tử Trùng Nhĩ uống rượu. Trùng Nhĩ nói:

- Có việc gì mà nàng bày tiệc làm vậy?

Khương-thị nói:

- Thiếp nghe nói công tử có chí muốn về nước, gọi là có chén rượu nhạt để tiễn chân.

Trùng Nhĩ nói:

- Người ta ở đời, khác nào như bóng ngựa câu qua cửa sổ, quý hồ yên phận thì thôi, còn cầu cạnh làm chi nữa!

Khương-thị nói:

- Đã gọi là trượng phu thì nên lập chí! Nay các người theo hầu hết sức giúp công tử, công tử phải nghe lời mới được.

Trùng Nhĩ có ý giận, bỏ chén rượu không uống nữa. Khương-thị hỏi:

- Công tử thật không muốn đi, hay là nói dối thiếp?

Trùng Nhĩ nói:

- Ta quyết không đi, khi nào lại nói dối!

Khương-thị vùa cười vừa nói:

- Đi là cái chí của công tử, mà không đi là cái tình của công tử. Tiệc rượu này thiếp đặt ra định để tiễn công tử bây giờ lại dùng để lưu công tử chớ sao. Thiếp xin cùng với công tử uống rượu thật vui!

Trùng Nhĩ bằng lòng. Hai vợ chồng cùng nhau chén thù chén tạc, Khương-thị lại sai các thì nữ múa hát để dâng rượu cho Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ không thể uống được nữa, Khương-thị lại cố ép mãi, thành ra Trùng Nhĩ say quá, nằm phục xuống giường. Khương bèn lấy chăn đắp lại, rồi sai người gọi Hồ Yển. Hồ Yển biết là Trùng Nhĩ đã say rượu rồi, vội vàng đem Ngụy Thù và Điên Hiệt vào cung, cứ để nguyên cả chăn chiếu mà khiêng Trùng Nhĩ ra đặt lên trên xe. Hồ Yển cáo từ Khương-thị, rồi lên xe đem Trùng Nhĩ đi. Khương-thị ứa nước mắt trở vào. Bọn Hồ Yển đi đến ngoài cõi nước Tề, liền hợp làm một với bọn Triệu Thôi, đi suốt đêm hôm ấy được năm sáu mươi dặm.

Gà gáy bốn phía, trời đã gần sáng, Trùng Nhĩ ở trong xe, mới tỉnh dậy, gọi người lấy nước uống. Bấy giờ Hồ Yển đương cầm cương xe ngồi ở bên cạnh bèn trả lời:

- Công tử muốn uống nước thì xin đợi đến lúc trời sáng đã.

Trùng Nhĩ thấy chỗ nằm lúc lắc không được êm, lại nói:

- Các ngươi đỡ ta xuống khỏi cái giường này.

Hồ Yển nói:

- Giường đâu, xe đây mà?

Trùng Nhĩ trừng mắt nhìn, hỏi:

- Ai thế?

Hồ Yển nói:

-  Tôi là Hồ Yển.

Trùng Nhĩ hoảng hốt, tung chăn ngồi dậy, quát mắng:

- Các ngươi không nói trước cho ta biết, định đem ta đi đâu thế này?

Hồ Yển nói:

- Chúng tôi định đem nước Tấn mà dâng công tử đó!

Trùng Nhĩ nói:

- Tấn chưa thấy đâu, đã bỏ mất Tề, ta không muốn đi?

Hồ Yển nói dối rằng:

- Bây giờ đi khỏi nước Tề đã hơn trăm dặm rồi? Nếu vua Tề biết công tử trốn đi, tất nhiên cho quân đuổi bắt, ta chớ nên trở lại!

Trùng Nhĩ hầm hầm nổi giận, trông thấy Ngụy Thù cầm ngọn giáo ở bên cạnh, liền giật lấy mà đâm Hồ Yển.

--------------------------------------------
Hồi thứ 35.
Tấn Trùng Nhĩ trở về nước nhà
Tấn Hoài Doanh vui vầy duyên mới

Công tử Trùng Nhĩ tức giận Hồ Yển dùng kế đánh lừa mình bèn giật lấy ngọn giáo của Ngụy Thù để đâm Hồ Yển. Hồ Yển vội vàng xuống xe bỏ chạy. Trùng Nhĩ cũng xuống xe, cầm giáo đuổi theo.

Bọn Triệu Thôi xúm nhau lại để khuyên can. Trùng Nhĩ vứt ngọn giáo xuống đất mà vẫn chưa nguôi cơn giận. Hồ Yển sụp lạy xin lỗi mà rằng:

- Công tử giết tôi mà nên việc được thì tôi chết cũng còn hơn sống!

Trùng Nhĩ nói:

- Chuyến này đi mà được việc thì thôi, bằng không được việc thì ta quyết ăn thịt nhà ngươi?

Hồ Yển cười mà đáp rằng:

- Nếu không được việc thì Hồ Yển này chưa biết sống chết ở đâu, công tử muốn ăn thịt cũng không được; nhược bằng được việc thành bấy giờ công tử chẳng thiếu gì nem công chả phượng, thịt Hồ Yển này tanh hôi, bõ gì mà ăn!

Bọn Triệu Thôi nói:

- Chúng tôi thấy công tử là người có chí, vậy nên bỏ cả cửa nhà, vợ con mà theo công tử, cũng mong được chút sự nghiệp lưu truyền sử sách về sau. Nay Di Ngô là người vô đạo, người trong nước ai cũng muốn cho công tử về làm vua nhưng công tử không chịu nghĩ cách để về thì ai sang đây mà đón công tử cho được? Việc này thật là tự ý chúng tôi bàn nhau, không phải tại một mình Tử Phạm (tên tự Hồ Yển), xin công tử chớ nghĩ lầm.

Ngụy Thù cũng nói to lên rằng:

- Kẻ trượng phu nên lặp chí để lưu truyền danh tiếng về sau, cớ sao lại cứ khư khư ham mê tình nhi nữ mà không nghĩ đến sự nghiệp to tát của mình?

Trùng Nhĩ dịu nét mặt lại mà đáp rằng:

- Đã như vậy thì ta xin theo ý các ngươi. Hồ Mao mang lương khô, Giới Tử Thôi dâng nước uống, Trùng Nhĩ cùng mọi người đều ăn. Bọn Hồ Thúc đi cắt cỏ cho ngựa, rồi sửa soạn hành trang, thẳng đường tiến sang nước Tào.

Tào Cung-công tính hay chơi bời, không thiết gì đến chinh sự, chỉ tin dùng những kẻ tiểu nhân xu nịnh. Bọn tiểu nhân ấy thấy những người theo hầu công tử Trùng Nhĩ đều là tay hào kiệt cả, nên đem lòng ghen ghét, không muốn cho ở lâu tại nước Tào, liền bảo Tào Cung-công chớ nên tiếp đãi.

Quan đại phu là Hi Phụ Cơ can rằng:

- Nước Tào ta cùng nước Tấn nguyên vẫn thân nhau. Nay công tử Trùng Nhĩ gặp lúc cùng khổ mà qua nước ta, thì ta nên tiếp đãi mới phải.

Tào Cung-công nói:

- Tào là một nước nhỏ ở giữa các nước, những công tử các nước lại qua nhiều lắm, nếu ai ta cũng hậu đãi cả thì tốn kém vô cùng.

Hi Phụ Cơ nói:

- Công tử Trùng Nhĩ có tiếng là người hiền, vả lại mỗi mắt hai con ngươi, hai xương sườn dính liền nhau, ấy là một người có quý tướng, không nên coi như các vị công tử tầm thường khác.

Tào Cung-công nói:

- Trùng Nhĩ mỗi mắt hai con ngươi thì ta đã biết rồi, còn xương sườn dính liền với nhau là thế nào?

Hi Phụ Cơ nói:

- Nghĩa là mấy cái xương sườn dính liền với nhau làm một, đó là tướng quý lắm!

Tào Cung-công nói:

- Ta không tin, vậy hãy để Trùng Nhĩ ở công quán, đợì khi nào hắn tắm ta sẽ đến xem sao.

Nói xong, liền sai người mời Trùng Nhĩ vào công quán, chỉ cung cấp cơm nước, không đặt tiệc và cũng không làm lễ tiếp khách. Trùng Nhĩ giận lắm, không ăn. Người hầu lại mời Trùng Nhĩ ra tắm. Trùng Nhĩ nhân khi đi đường bụi bậm cũng muốn tắm rửa cho được sạch sẽ, mới cởi áo để đi ra tắm. Tào Cung-công cùng mấy người cận thần thay đổi y phục, giả dạng người thường, xông vào buồng tắm, đến sát bên cạnh Trùng Nhĩ để xem xương sườn, nói nói cười cười một lúc rồi kéo nhau ra. Bọn Hồ Yển thấy nói có người lạ vào, vội vàng chạy đến, cũng nghe tiếng cười nói rầm rĩ, hỏì người trong quán mới biết là vua nước Tào. Trùng Nhĩ và bọn Hồ Yến đều tức giận.

Hi Phụ Cơ từ khi can Tào Cung-công không nghe, trở về đến nhà, vợ là Lã-thị trông thấy nét mặt âu sầu, liền hỏi rằng:

- Chẳng hay trong triều hôm nay có việc gì mà phu quân lại ra ý buồn bã như vậy?

Hi Phụ Cơ bèn đem chuyện Trùng Nhĩ đến mà Tào Cung-công không tiếp đãi kể lại cho vợ nghe. Lã-thị nói:

- Mới rồi thiếp đi hái dâu ở ngoài thành, thấy bọn Trùng Nhĩ đi qua. Thiếp không trông rõ Trùng Nhĩ, nhưng thấy các người theo hầu đều là tay hào kiệt cả, xem thế đủ biết rằng Trùng Nhĩ tất có ngày lấy lại được nước Tấn, bấy giờ họ đem quân sang đánh nước Tào ta thì ta hối sao cho kịp! Chúa công đã không nghe lời, thì phu quân nên nghĩ cách mà tư giao với Trùng Nhĩ, thiếp xin sửa soạn mấy bàn thực phẩm, rồi để lẫn ngọc bích trắng vào mà dâng Trùng Nhĩ. Phu quân nên đi ngay.

Hi Phụ Cơ theo lời, đêm hôm ấy đến công quán yết kiến Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ đang đói bụng, ngồi một mình, nghĩ đến Tào Cung-công mà tức giận. Bỗng nghe có quan đại phu nước Tào là Hi Phụ Cơ xin vào yết kiến và dâng thực phẩm. Trùng Nhĩ cho mời vào. Hi Phụ Cơ sụp lạy trước hết hãy xin lỗi hộ cho vua Tào, rồi sau mới thuật đến cái tình tư giao của mình và dâng thực phẩm. Trùng Nhĩ khen rằng:

- Không ngờ nước Tào mà có người bầy tôi hiền như thế này, nếu tôi may mà được phục quốc, thì sẽ xin báo ơn lại.

Trùng Nhĩ ngồi ăn, trông thấy trong mâm cơm có ngọc bích trắng, mới hỏi Hi Phụ Cơ rằng:

- Quan đại phu có lòng tử tế mà cho ăn, để tôi được khỏi đói thế là quý lắm rồi, sao lại còn dùng đến ngọc bích?

Hi Phụ Cơ nói:

- Đó là tấm lòng kính mến của chúng tôi, xin công tử cứ nhận cho.

Trùng Nhĩ nhất định không lấy ngọc bích. Hi Phụ Cơ lui về, nói riêng một mình rằng:

- Trùng Nhĩ cùng khổ như vậy, mà không tham ngọc bích của ta, chí khí to tát biết thế nào mà lường được!

Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ ra đi. Hi Phụ Cơ lại tiễn ra ngoài thành, đến mười dặm đường, rồi mới trở về. Trùng Nhĩ bỏ nước Tào sang nước Tống. Hổ Yển vào yết kiến quan tư mã nước Tống là Công Tôn Cố. Công Tôn Cố nói:

- Chúa công tôi không tự lượng sức mình, cùng với nước Sở đánh nhau, để đến nỗi thua trận bị thương, bây giờ cũng chưa dậy được; nhưng chúa công tôi vẫn nghe tiếng công tử Trùng Nhĩ, vốn có lòng kính mến đã lâu, nay công tử Trùng Nhĩ đến, thế nào chúa công tôi cũng trọng đãi.

Công Tôn Cố vào nói với Tống Tương-công. Tống Tương-công bãy giờ đang căm tức nước Sở, nghe nói Trùng Nhĩ đến, nghĩ thầm trong lòng rằng Tấn là một nước lớn, công tử Trùng Nhĩ lại là người hiền, mai sau tất trị nổi nước Sở, mới có ý mừng rỡ ngặt vì vết thương chưa khỏi, không ra nghênh tiếp được, liền sai Công Tôn Cố mời Trùng Nhĩ vào công quán, trọng đãi như là vua chư hầu. Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ cáo từ xin đi Công Tôn Cố lại phụng mệnh Tống Tương-công ra mời ở lại, và hỏi riêng Hồ Yển rằng:

- Khi công tử qua nước Tề thì Tề Hoàn-công tiếp đãi thế nào?

Hồ Yển kể lại chuyện Tề Hoàn-công gả Khương-thị cho Trùng Nhĩ và tặng các đồ xe ngựa. Công Tôn Cố về tâu với Tống Tương-công.

Tống Tương-công nói:

- Công tử năm xưa đã lấy con gái nước Tống ta rồi, nay ta xin tặng các đồ xe ngựa.

Trùng Nhĩ cảm tạ vô cùng, ở lại mấy ngày nữa. Hồ Yển thấy bệnh của Tống Tương-công không có cơ khỏi được, liền đem việc phục quốc bàn riêng với Công Tôn Cố. Công Tôn Cố nói:

- Công tử nay đi đường nhọc, muốn tạm nghỉ ở nước tôi thì nước tôi dẫu nhỏ, cũng có thể cung cấp được; nhược bằng muốn nhờ binh lực nước tôi để lấy lại nước thì nước tôi vừa mới bại trận xong, khó lòng giúp nổi, xin công tử đi cầu nước khác.

Hồ Yển nói:

- Ngài báo thực như thế là phải lắm!

Nói xong, liền bảo Trùng Nhĩ, rồi thu xếp àhảnh trang để đi. Tống Tương-công nghe nói Trùng Nhĩ đi, lại sai người đưa tặng lương thực và y phục. Trùng Nhĩ đi rồi, Tống Tương-công bệnh mỗi ngày một nặng, chẳng được bao lâu thì mất. Lúc gần mất, Tương-công bảo thế tử Vương Thần rằng:

- Ta không nghe lời Tử Ngư (công tử Mục Di) đến nỗi thua trận, nay con lên nối ngôi, việc gì cũng phái hỏi Tử Ngư mới được. Sở là một nước thù với ta, chớ cùng với Sở giao hiếu; còn công tử Trùng Nhĩ khi về nước Tấn, tất có cơ làm chủ các nước được, con nên giao hiếu với Tấn để giữ yên lấy nước nhà.

Thế tử Vương Thần sụp lạy. Tống Tương-công mất, thế tử Vương Thần lên nối ngôi, tức là Tống Thành-công. Trùng Nhĩ bỏ nước Tống đến nước Trịnh. Có người báo với Trịnh Văn-công. Trịnh Văn-công bảo các quan rằng:

- Trùng Nhĩ phản cha mà đi trốn, các nước không ai tiếp đãi cả, đi đến đâu đói khát đến đấy, đó là người bất hiếu, ta chớ nên trọng đãi.

Quan thượng khanh là Thúc Thiêm can rằng:

- Trùng Nhĩ có ba điều trợ lực, thật là lòng trời muốn giúp, ta chớ nên coi thường.

Trịnh Văn-công hỏi:

- Thế nào gọi là ba điều trợ lực?

Thúc Thiêm nói:

- Trùng Nhĩ xưa nay vẫn có tiếng là người hiền, đó là một điều trợ lực; từ khi đi trốn đến giờ, nước Tấn không lúc nào được yên, có cái cơ hội phục quốc được, đó là hai điều trợ lực; Triệu Thôi, Hồ Yển là những bậc hào kiệt đời bây giờ, đều theo giúp Trùng Nhĩ cả, đó là ba điều trợ lực. Trùng Nhĩ đã có ba điều ấy, chúa công nên trọng đãi mới được.

Trịnh Văn-công nói:

- Trùng Nhĩ nay già rồi, còn làm gì được?

Thúc Thiêm nói:

- Nếu chúa công không trọng đãi Trùng Nhĩ thì nên giết đi, chớ để thù oán về sau.

Trịnh Văn-công vừa cười vừa nói:

- Nhà ngươi nói kỳ quá, đã bảo ta trọng đãi, lại bảo ta giết đi. Có ân gì mà trọng đãi, có oán gì mà giết đi kia chứ!

Nói xong, truyền đóng cửa thành không cho Trùng Nhĩ vào. Trùng Nhĩ thấy Trịnh Văn-công không nghênh tiếp, liền thẳng đường đi sang nước Sở, vào yết kiến Sở Thành-vương. Sở Thành-vương cũng trọng như vua các nước chư hầu. Trùng Nhĩ khiêm nhượng, không dám nhận lễ. Triệu Thôi đứng ở bên cạnh, bảo Trùng Nhĩ rằng:

- Công tử trốn đi ở ngoài, hơn mười năm nay, các nước nhỏ còn có ý khinh bỉ, huống chi là nước lớn; nay nước Sở lại trọng đãi như vậy cũng là lòng trời xui khiến, xin chúa công cứ nhận.

Trùng Nhĩ đành nhận lễ. Sở Thành-vương tiếp đãi cung kính. Trùng Nhĩ ứng đối cũng rất lễ phép. Hai người rất tương đắc. Trùng Nhĩ mới ở yên nước Sở. Một hôm, Sở Thành-vương cùng Trùng Nhĩ đi săn ở chằm Vân Mộng. Sở Thành-vương muốn khoe khoang võ nghệ, bắn luôn hai phát, trúng được một con hươu và một con thỏ. Các tướng đều sụp lạy để chúc mừng. Bỗng có một con gấu chạy qua trước xe, Sở Thành-vương trông thấy liền bảo Trùng Nhĩ rằng:

- Sao công tử không bắn đi?

Trùng Nhĩ tay rút mũi tên, đặt vào dây cung, miệng lẩm nhẩm khấn rằng:

- Nếu ta được về làm vua nước Tấn thì xin cho phát tên này trúng vào chân phải con gấu.

Nói xong, giương cung ra bắn, mũi tên trúng ngay vào chân phải con gấu. Sở Thành-vương phục tài Trùng Nhĩ khen rằng:

- Công tử bắn giỏi lắm!

Được một lúc, bỗng nghe tiếng quân sĩ huyên náo, Sở Thành-vương bèn sai người ra hỏi. Quân sĩ về báo rằng:

- Có một con thú ở trong hang núi chạy ra, giống con gấu mà không phải gấu, mũi như mũi voi, đầu như đầu sư tử, chân như chân hổ, lông như lông sài, bờm như bờm lợn rừng, đuôi như đuôi trâu, mình to hơn mình ngựa, vằn nó đen trắng nham nhở, gươm, giáo, cung, tên cũng không giết chết nó được. Nó ăn sắt như ăn bùn, dẫu những thỏi sắt bằng cái trục xe, nó cũng nhai biến ra được. Nó lại nhanh nhẹn lắm, người ta không thể trị nổi, bởi thế nên quân sĩ sợ hãi mà huyên náo cả lên!

Sở Thành-vương bảo Trùng Nhĩ rằng:

- Công tử sinh trưởng ở Trung Quốc, tất biết tên giống thú ấy.

Trùng Nhĩ ngảnh lại nhìn Triệu Thôi, Triệu Thôi nói:

- Giống thú ấy tên là con Mạc, do kim khí ở trong đất mà sinh ra, đầu nhỏ chân thấp, hay ăn các thứ đồng và sắt. Đem nước tiểu của nó mà tưới vào các loài kim thì các loài kim đều chảy ra nước cả. Xương nó rắn mà đặc, trong không có tủy, dùng làm gậy chống được. Da nó dùng làm chăn đắp, có thể trừ được những thứ lam chướng.

Sở Thành-vương nói:

- Thế thì dùng cách gì mà trị nó được?

Triệu Thôi nói:

- Da thịt nó đều như sắt cả, chỉ có một đường lỗ mũi là có thể dùng ngọn giáo bằng thép mà đâm vào, hoặc dùng lửa mà đốt lên thì nó chết ngay, bởi loài kim thường hay kỵ lửa.

Triệu Thôi vừa nói xong, Ngụy Thù ở bên cạnh quát to lên rằng:

- Tôi không cần phải dùng đồ binh khi, xin bắt sống được con thú ấy đem về dâng đại vương.

Nói xong, liền ở trên xe bước xuống, chạy đi để bắt con thú ấy. Sở Thành-vương bảo Trùng Nhĩ rằng:

- Tôi và công tử, ta cùng đi xem ra làm sao.

Nói xong, liền giục đánh xe đi để xem. Ngụy Thù trông thấy con thú ấy, tức khắc nắm tay xông vào, đánh luôn mấy cái. Con thú ấy không sợ hãi gì cả, kêu lên như tiếng trâu rống, rồi chồm đứng dậy, thè lưỡi liếm Ngụy Thù mất một mảnh áo giáp, Ngụy Thù nổi giận, liền nhảy phắt một cái, cưỡi ngay lên mình con thú, hai tay bóp chặt lấy cổ nó. Con thú vừa chồm vừa giãy, Ngụy Thù vẫn cưỡi trên lưng nó. Được một lúc, con thú ngạt hơi, nằm phục xuống, không thể cựa quậy được. Ngụy Thù bên nhảy xuống, nắm lấy vòi con thú lôi đến trước mặt Sở Thành-vương và Trùng Nhĩ. Triệu Thôi sai quân sĩ lấy lửa hun vào đầu vòi, hơi lửa thấm vào, con thú ấy mềm cả mình mẩy ra, bấy giờ Ngụy Thù mới buông tay, rút thanh bảo kiếm để chém, nhưng chém không đứt. Triệu Thôi nói:

- Muốn lột lấy da con thú ấy phải hun lửa mới được.

Sở Thành-vương theo lời, truyền cho quân sĩ đem lửa ra hun rồi lột da con thú ấy. Sở Thành-vương bảo Trùng Nhĩ rằng:

- Các người theo hầu công tử, thực là những tay hào kiệt, nước tôi không ai được như thế!

Bấy giờ tướng nước Sở là Thành Đắc Thần đứng ở bên cạnh, có ý không phục, liền nói với Sở Thành-vương rằng:

- Đại vương khen bầy tôi nước Tấn là người có dũng lực, tôi xin cùng với người nước Tấn đấu võ.

Sở Thành-vương không cho, lại bảo Thành Đắc Thần rằng:

- Người ta là khách, mình nên kính trọng mới phải.

Ngày hôm ấy đi săn về, Sở Thành-vương bày tiệc uống rượu, rất là vui vẻ. Trong khi ăn tiệc, Sở Thành-vương bảo Trùng Nhĩ rằng:

- Khi công tử về nước rồi, công tử định lấy gì để đền ơn nước Sở tôi?

Trùng Nhĩ nói:

- Châu ngọc và nữ sắc thì đại vương chẳng thiếu gì, còn sản vật thì quý quốc lại nhiều hơn nước tôi, tôi biết lấy gì mà đền ơn đại vương được.

Sở Thành-vương vừa cười vùa nói:

- Dẫu thế nào cũng tất có đền ơn, xin công tử cho biết trước?

Trùng Nhĩ nói:

- Nhờ uy linh của đại vương mà tôi về nước Tấn được thì tôi xin cùng với Đại vương giao hiếu để cho dân hai nước được yên ổn; hoặc bất đắc dĩ mà cùng với đại vương giao chiến nữa thì tôi xin lui ba xá để nhường đại vương.

Tiệc xong, Thành Đắc Thần có ý tức giận, nói với Sở Thành-vương rằng:

- Đại vương trọng đãi Trùng Nhĩ như thế, mà Trùng Nhĩ nói nhiều câu không được lịch sự, vậy thì ngày khác y về nước Tấn, tất nhiên phụ ơn nước ta, xin đại vương cho phép tôi giết đi.

Sở Thành-vương nói:

- Công tử Trùng Nhĩ là người hiền, các người đi theo hầu cũng đều là những bậc tài giỏi cả, tự hồ như có trời giúp, nước Sở ta cũng không nên trái ý Trời.

Thành Đắc Thần nói:

- Nếu đại vương không giết Trùng Nhĩ thì nên bắt lấy mấy người trong bọn Hồ Yển và Triệu Thôi, chớ để cho hổ thêm cánh.

Sở Thành-vương nói:

- Dẫu bắt người ta ở lại, mình cũng không dùng được người ta, chỉ thêm làm cho người ta oán, nay ta đang làm ơn với Trùng Nhĩ, không nên như thế.

Bấy giờ vua nước Lương vô đạo, không biết thương dân, chỉ chăm về sự đắp thành đào hào, dân trong nước ai cũng oán giận, nhiều người bỏ trốn sang nước Tần. Tần Mục-công thấy lòng dân oán vua Lương như vậy, liền sai Bách Lý Hề cử binh sang đánh nước Lương. Con Tấn Huệ-công là thế tử Ngữ vẫn ở làm con tin bên nước Tần đã lâu, nay nghe tin Tần Mục-công đem quân sang đánh nước Lương mới sinh lòng oán giận nước Tần (nguyên mẹ thế tử Ngữ là người nước Lương). Sau nghe tin Tấn Huệ-công bị bệnh ốm mới nghĩ thầm trong bụng rằng:

- Nay ta một mình ở nước ngoài, vạn nhất mà phụ thân ta mất đi, các quan đại phu lại lập người khác lên nối ngôi? thì làm thế nào, chi bằng ta trốn về là hơn.

Nghĩ xong, đêm hôm ấy bèn đem chuyện nói với vợ là Hoài Doanh, rồi rủ vợ cùng trốn về nước Tấn. Hoài Doanh ứa nước mắt mà đáp rằng:

- Chúa công sai thiếp nâng khăn sửa túi hầu thế tử, là muốn cho thế tử khỏi nhớ nhà, nếu thiếp lại đi theo thế tử thì tội thiếp to lắm! Thế tử muốn về cũng là phải, xin thế tử cứ tùy tiện, đừng nói chuyện với thiếp. Thiếp không dám theo thế tử, nhưng cũng xin giấu kín việc ấy cho thế tử.

Thế tử Ngữ trốn về nước Tấn. Tần Mục-công nghe tin thế tử Ngữ trốn đi, giận lắm, bảo các quan đại phu rằng:

- Hai cha con Di Ngô đều phụ ơn ta, ta tất phải báo thù. Nói xong, lại phàn nàn rằng:

- Tiếc thay, trước kia ta không lập Trùng Nhĩ lên làm vua nước Tấn!

Tần Mục-công tức khắc sai người đi dò la tông tích Trùng Nhĩ xem ở nước nào, thì biết Trùng Nhĩ ở nước Sở đã được mấy tháng, liền bảo Công Tôn Chi sang nước Sở để đón Trùng Nhĩ.

Trùng Nhĩ nói với Sở Thành-vương rằng:

- Tất cả, tôi đều nhờ dựa vào đại vương, không muốn lại phiền đến vua Tần nữa.

Sở Thành-vương nói:

- Nước Sở tôi cùng với nước Tấn xa cách nhau lắm! Mà nước Tần thì tiếp giáp với nước Tấn. Vua nước Tần vốn là người hiền nay lại không bằng lòng với Di Ngô, ấy là một cơ hội trời giúp cho công tử đó, công tử nên đi.

Trùng Nhĩ tạ ơn Sở Thành-vương, rồi đi sang nước Tần, Tần Mục-công nghe tin Trùng Nhĩ đến, thì vui mừng hớn hở ra tận ngoại thành tiếp đón, rất là long trọng. Mục Cơ (vợ Tần Mục-công) cũng kính mến Trùng Nhĩ mà ghét thế tử Ngữ, mới nói với Tần Mục-công, xin đem nàng Hoài Doanh gả cho Trùng Nhĩ, Tần Mục-công bảo Mục Cơ báo trước cho Hoài Doanh biết. Hoài Doanh nói:

- Thiếp đã gả mình cho thế tử Ngữ rồi, nay lại đem thân hầu hạ người khác hay sao!

Mục Cơ nói:

- Thế tử Ngữ quyết không sang đây nữa. Nay Trùng Nhĩ là người hiền mà lắm kẻ giúp, tất nhiên được về làm vua; nếu con kết duyên với Trùng Nhĩ thì khi Trùng Nhĩ về làm vua, tất nhiên con được lập lên làm phu nhân, thành ra Tấn-Tần hai nước, đời đời cùng kết thân với nhau mãi.

Hoài Doanh nín lặng giờ lâu, rồi nói rằng:

- Nếu như vậy thì thiếp có tiếc gì một thân thiếp mà chẳng khiến cho hai nước giữ được tình hòa hiếu.

Tần Mục-công lại sai Công Tôn Chi nói chuyện với Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ ngại về một điều công tử Ngữ là cháu gọi mình bằng chú, toan từ chối không nhận. Triệu Thôi nói với Trùng Nhĩ rằng:

- Tôi nghe nói nàng Hoài Doanh là người đẹp mà có tài, vua Tần vẫn có lòng yêu lắm, nếu ta muốn nhờ sức nước Tần thì nên lấy con gái nước Tần mới phải, xin công tử chớ từ chối.

Trùng Nhĩ lại bàn với Hồ Yển. Hồ Yển nói:

- Nay công tử về nước, định làm tôi thế tử Ngữ, hay định thay thế tử Ngữ mà làm vua?

Trùng Nhĩ nín lặng, không nói gì cả. Hồ Yển nói:

- Nếu công tử định làm tôi thế tử Ngữ thì Hoài Doanh là quốc mẫu; nếu công tử định thay thế tử Ngữ mà làm vua thì Hoài Doanh tức là vợ của kẻ thù, còn ngại gì nữa?

Trùng Nhĩ còn có ý thẹn, Triệu Thôi nói:

- Nước còn muốn lấy, huống chỉ là vợ. Muốn làm nên việc lớn mà còn giữ cái tiết nhỏ thì sau sẽ hối không kịp?

Trùng Nhĩ nghe nói, mới thuận kết duyên với nàng Hoài Doanh. Công Tôn Chi vào nói với Tần Mục-công. Tần Mục-công chọn ngày tốt, rồi cho làm lễ cưới. Hoài Doanh có nhan sắc hơn Khương-thị nước Tề, Trùng Nhĩ mừng lắm, quên hết những sự khó nhọc trong khi đi đường. Tần Mục-công vốn trọng công tử Trùng Nhĩ, lại thêm có tình thân thuộc, càng hậu đãi Trùng Nhĩ lắm. Bọn Triệu Thôi và Hồ Yển cũng nhân dịp mà được kết giao với các quan đại phu nước Tần là bọn Kiển Thúc, Bách Lý Hề và Công Tôn Chi để bàn việc phục quốc.

Thế tử Ngữ từ khi ở nước Tần trốn về, vào yết kiến Tấn Huệ-công. Tấn Huệ-công mừng lắm, nói:

- Ta yếu đau đã lâu ngày, đang buồn không có người phó thác, nay con trốn về đây được, ta mới yên lòng.

Tháng chín năm ấy Tấn Huệ-công đau nặng quá, mới gọi Lã Di Xanh và Khước Nhuế vào mà dặn rằng:

- Hai ngươi nên cố sức giữ gìn cho thế tử Ngữ. Hiện nay các vị công tử, ta không phải lo ngại ai cả, chỉ nên đề phòng có Trùng Nhĩ mà thôi.

Lã Di Xanh và Khước Nhuế sụp lạy xin vâng mệnh. Đêm hôm ấy, Tấn Huệ-công mất. Lã Di Xanh và Khước Nhuế tôn thế tử Ngữ lên nối ngôi, tức là Tấn Hoài-công. Tấn Hoài-công lo Trùng Nhĩ ở ngoài, tất có ngày sinh biến, mới hạ lệnh rằng:

- Phàm những người bầy tôi nước Tấn theo Trùng Nhĩ đi trốn, thì hạn trong bảy tháng, họ hàng ở nhà phải viết thư gọi về. Ai đúng hạn mà về thì tha không bắt tội, lại cho được phục chức cũ; nếu quá hạn không về, đều xóa tên trong sổ quan và chịu án tử hình, cha con, anh em ở nhà cũng phải tội chết.

Lão quốc cữu là Hồ Đột có hai con là Hồ Mao và Hồ Yển, đều theo Trùng Nhĩ ở nước Tần. Khước Nhuế khuyên Hồ Đột nên viết thư gọi về. Hồ Đột nhất định không chịu. Khước Nhuế vào nói với Tấn Hoài-công rằng:

- Hai con của Hồ Đột đều là người tài giỏi, nay lại theo Trùng Nhĩ thì khác nào như hổ thêm cánh. Nay Hồ Đột không chịu gọi hai con về thì cũng đáng nghi lắm, chúa công thứ gọi Hồ Đột vào mà bảo, xem ý tứ lão quốc cữu ra sao?

Tấn Hoài-công sai người đến triệu Hồ Đột. Hồ Đột biết ý, liền cùng với người nhà từ giã, rồi vào triều nói với Tấn Hoài-công rằng:

- Lão thần già ốm ở nhà, chẳng hay chúa công có việc gì mà triệu đến?

Tấn Hoài-công nói:

- Hồ Mao và Hồ Yển ở nước ngoài, lão quốc cữu có viết thư gọi về hay không?

Hồ Đột nói:

- Tôi chưa viết thư gọi.

Tấn Hoài-công nói:

- Ta đã có hạ lệnh rằng: "Quá hạn không về thì bắt tội thân thuộc ở nhà" lão quốc cữu không biết hay sao?

Hồ Đột nói:

- Hai con tôi theo hầu Trùng Nhĩ cũng đã lâu ngày, tất phải một lòng trung thành với Trùng Nhĩ, cũng như các quan tại triều trung thành với chúa công. Giả sử nay hai con tôi có trốn về, tôi cũng kể tội mà giết đi, huống chi tôi lại còn gọi về làm gì!

Tấn Hoài-công nổi giận, sai hai người lực sĩ tuốt hai lưỡi gươm kề vào cổ Hồ Đột mà bảo rằng:

- Nếu nhà ngươi chịu gọi hai con về thì ta sẽ tha cho tội chết.

Tấn Hoài-công lại sai người đem giấy bút đến trước mặt Hồ Đột.

Khước Nhuế cầm lấy tay Hồ Đột, bắt Hồ Đột phải viết. Hồ Đột kêu to lên rằng:

- Không phải nắm tay, tự khắc ta viết!

Nói xong, liền viết mấy chữ thật to: "Con không hai cha, bầy tôi không hai vua", Tấn Hoài-công giận lắm, nói:

- Mày không sợ chết à?

Hồ Đột nói:

- Tôi chỉ sợ làm con không giữ được đạo hiếu, làm tôi không giữ được đạo trung mà thôi! Còn như chết là chuyện thường, việc gì mà sợ!

Hồ Đột vươn cổ ra để chờ chém. Tấn Hoài-công sai dẫn Hồ Đột ra chém ở ngoài chợ. Quách Yển trông thấy, thở dài mà than rằng:

- Chúa công mới lên nối ngôi, chưa có ân huệ gì cả, mà đã giết chết một lão thần, chẳng bao lâu tất cũng hỏng việc thôi!

Nói xong, tức khắc cáo ốm, không ra khỏi cửa. Người nhà Hồ Đột vội vàng trốn sang nước Tần, để báo tin cho Hồ Mao và Hồ Yển biết.

----------------------------


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét