Quản Trọng đoán thần Du Nhi
Tề-hầu đánh nước Cô-trúc
Quân Sơn-nhung tức là nước Linh-chi, phía Tây giáp nước Yên, phía Đông Bắc giáp với Tề và Lỗ. Chúa nước Linh-chi ỷ mình là nơi hiểm địa, không ai dám xâm lấn nên chẳng chịu tùng phục ai, lại còn phá phách nhiều nơi, cướp bóc của cải.
Trước đây, đã một lần xâm lấn nước
Tề, bị Thế tử Hốt nước Trịnh, đem binh giúp Tề đánh một trận phải lui về. Nay
nghe nước Tề làm bá chủ, nên cử đại binh sang đánh nước Yên, mục đích làm cho
nước Yên sợ oai mình, không dám tùng phục Tề nữa.
Nước Yên cự không lại, phải sai sứ
sang Tề cầu cứu.
Tề Hoàn-công hay tin hỏi Quản Trọng:
- Nước Yên bị giặc Sơn-nhung xâm
lấn, ta phải làm cách nào để cứu nước Yên.
Quản Trọng nói:
- Yên là một nước trong hội minh
chủ, nay đã cầu cứu thì không bỏ qua được. Vả lại, quân Sơn-Nhung lâu nay không
tùng phục nhà Châu, ta cũng nên mượn cớ mà đem quân chinh phạt.
Tề Hoàn-công nhậm lời, kiểm điểm
binh mã kéo đi.
Khi qua đến sông Tề-thức thuộc địa
giới nước Lỗ, Lỗ Trang-công thân hành đến nơi tiếp đón, làm tiệc đãi đằng.
Lỗ Trang-công nói:
- Minh công đánh được quân
Sơn-nhung chẳng những nước Yên đội ơn, mà nước Lỗ tôi cũng lấy làm toại nguyện.
Vậy xin Minh-công cho tôi được đem quân giúp sức.
Tề Hoàn-công nói:
- Tôi không dám làm phiền Hiền hầu
đến những nơi hiểm địa ấy. Nếu tôi không thắng được, lúc ấy cần đến sự giúp đỡ
của Hiền hầu cũng chẳng muộn.
Nói xong từ biệt Lỗ Trang-công kéo
quân đi.
Chúa nước Linh-chi tên Mật Lư,
đem quân quấy nhiễu nước Yên đã hai tháng rồi, cướp bóc của cải, bắt đàn bà con
gái không biết bao nhiêu mà kể. Nay nghe tin binh Tề đến cứu, bèn lật đật rút
lui về nước.
Tề Hoàn-công đem binh đến nơi.
Yên Trang-công khai thành nghinh
tiếp, và tạ ơn khó nhọc đã đem binh đến cứu.
Quản Trọng nói:
- Quân Sơn-nhung chưa thua mà kéo
về, nếu quân ta trở về ắt chúng lại đến phá rối nữa. Bây giờ phải thừa thế thẳng
đến nội địa mà đánh mới dứt hậu hoạn được.
Tề Hoàn-công khen phải, truyền tiến
binh.
Yên Trang-công thưa:
- Tôi xin đem binh đi tiên phong
mà giúp Minh công.
Tề Hoàn-công nói:
- Nước Yên vừa bị quân giặc tàn
phá, ta nỡ nào để hiền-hầu đi tiên phong. Xin Hiền-hầu cứ đem binh đi sau làm
tiếp ứng mà trợ oai cũng đủ.
Yên Trang-công nói:
- Cách đây tám mươi dặm có một nước
gọi là Vô-chung cũng là giống người Sơn-nhung nhưng không thuộc nước Linh-chi,
Minh công nên sai người đi dụ để mượn chúng đưa đường thì mới tinh.
Tề Hoàn-công đắc ý, liền sai Thấp
Bằng đem vàng bạc đến dụ vua nước Vô-chung.
Vua nước Vô-chung sai tướng Hồ
Nhi Bang đem hai ngàn quân đến giúp.
Hồ Nhi Bang theo Thấp Bằng đến ra
mắt Tề Hoàn-công.
Tề Hoàn-công hậu thưởng, và khiến
đi tiền đội.
Đi độ ba ngày, đến một nơi rừng
núi hiểm trở, hai bên đá dựng chập chồng, Tề Hoàn-công hỏi Yên Trang-công:
- Chỗ này kêu là chỗ gì?
Yên Trang-công thưa:
- Đây là Quy-từ, yết lộ của
Sơn-nhung ra vào.
Tề Hoàn-công thương nghị với Quản
Trọng rồi cho đốn cây lập đồn, khiến Bão Thúc Nha ở lại đó trấn thủ, coi việc vận
lương.
Cách hai ngày sau, đại binh tiến
bước.
Chúa nước Linh-chi, hay được tin
binh Tề đến đánh, liền sai mời đại tướng Tốc Mãi đến thương nghị.
Tốc Mãi nói:
- Quân Tề từ xa đến đây, binh lao
mã liệt, ta phải đánh gấp chớ nên trì hoãn.
Mật Lư y lời, đem quân mai phục
trong rừng, rồi sai Tốc Mãi dẫn một ngàn binh, đợi nghênh chiến.
Hồ Nhi Bang vừa kéo binh thì gặp Tốc
Mãi đã dàn quân sẵn.
Hai bên đánh nhầu một trận.
Tốc Mãi giả thua, kéo binh chạy. Hồ
Nhi Bang đuổi theo, vừa đến giữa rừng, binh phục của Mật Lư nổi dậy, ó lên một
tiếng, áp đến chém giết, quân của Hồ Nhi Bang bị chết rất nhiều, bỏ chạy trở lại,
còn Hồ Nhi Bang bị quân của Mật Lư bắt trói.
May thay, đại binh của Tề
Hoàn-công đền kịp đánh đuổi Mật-Lư, giải cứu cho Hồ Nhi Bang khỏi tay giặc đem
về trại.
Hồ Nhi Bang có ý thẹn thuồng. Tề
Hoàn-công vỗ về, an ủi:
- Ra trận thắng bại lẽ thường, tướng
quân chớ lấy thế làm áy náy.
Nói xong chọn một con ngựa tốt tặng
cho Hồ Nhi Bang. Hồ Nhi Bang cảm tạ lui ra.
Tề Hoàn-công tiến quân đến núi Phục-long
truyền quân đóng trại nơi đỉnh núi. Lại khiến Vương-tử Thành Phủ và Tân Tu Vô đóng
trại dưới núi, đem những binh xa kết liền với nhau làm một bức thành giả, canh
giữ rất nghiêm nhặt.
Sáng hôm sau, Mật Lư cũng với Tốc
Mãi đem hơn một vạn quân đến khiêu chiến. Nhưng vì bị bức thành binh xa ngăn
đón không làm sao tiến quân được, phải đánh cầm chừng.
Quản Trọng trèo lên ngọn núi cao
xem thấy quân sĩ Sơn-nhung lớp nằm lăn xuống đất lớp ôm nhau nô đùa, bỏ cả ngựa
xe, vũ khí… bèn vỗ vai Hồ Nhi Bang nói:
- Lúc này là lúc tướng quân có thể
đem quân ra đánh trả thù đó.
Hồ Nhi Bang trợn mắt, nhìn số
quân Sơn-nhung đang nằm dưới bãi rồi hậm hực kéo quân ra đi.
Thấp Bằng nói:
- Tôi e giặc Sơn-nhung dùng kế để
dụ ta chăng?
Thực vậy, quân Sơn-nhung thấy
quân Tề không ra đánh nên cho hai đội quân phục nơi mé rừng, rồi khiến một số
quân sĩ giả cách trễ biếng mà dụ địch.
Tuy nhiên, Quản Trọng đâu phải
không biết binh pháp, nhìn Thấp Bằng mỉm cười nói:
- Ta đã liệu trước cả rồi.
Nói xong khiến Thành Phủ đem một
toán quân đi về phía tả, Tân Tu Vô dẫn một toán quân đi về phía hữu, để chặn
quân mai phục.
Hồ Nhi Bang vừa kéo quân xuống khỏi
núi quân giặc ào ào bỏ chạy. Hồ Nhi Bang giục ngựa đuổi theo. Nhưng nghe trên
núi có tiếng kẻng thu quân, nên Hồ Nhi Bang quay ngựa trở lại.
Mật Lư thấy Hồ Nhi Bang không đuổi
theo lòng tức tối, ra hiệu cho hai toán quân trong rừng ùa ra truy kích. Vừa
lúc ấy hai đạo quân của Thành Phủ và Tân Tu Vô cũng vừa kéo đến đổ ra đánh.
Hai bên sáp chiến một hồi, hai đạo
binh Sơn-nhung vỡ loạn bỏ chạy, bị chết không biết bao nhiêu mà kể.
Mật Lư thu góp tàn quân, thấy hao
hơn nữa, lòng buồn bã nói với tướng Tốc Mãi.
- Xưa nay chưa hề có nước nào đem
binh đánh nước ta mà thắng trận như vầy. Nay ngươi có kế chi chăng?
Tốc Mãi nói:
- Quân Tề đóng trên đỉnh
Phúc-long sơn xung quanh không có suối nước, chỉ có con sông Nhụ-thuỷ mà thôi.
Nay ta đắp ngang nguồn sông, làm cho nước sông không chảy tới, ắt binh Tề phải
chết khát.
Mật Lư nói:
- Kế ấy tuy hay, song phải kéo
dài thời gian. Hiện nay, quân ta hao hụt quá nhiều, nếu quân Tề thiếu nước uống
liều chết mà tiến binh thì ta lấy gì cự địch.
Tốc Mãi, nói:
- Một mặt phải sai sứ qua nước
Cô-trúc viện binh thêm.
Mật Lư đẹp ý, truyền quân chặt
cây, đào đất lấp dòng sông Nhụ-thuỷ, rồi sai người qua cầu cứu nước Cô-trúc.
Tề Hoàn-công đang ở trên núi
Phúc-long bàn bạc với các tướng sĩ mưu việc tiến quân, xảy nghe quân vào báo:
- Giặc Sơn-nhung lấp lòng sông Nhụ-thuỷ,
quân sĩ không còn nước uống.
Mọi người kinh hãi ngơ ngác nhìn
nhau.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Xung quanh núi này không có một
khe nước nào sao?
Quân sĩ tâu:
- Chúng tôi đã tìm kiếm khắp nơi,
nhưng không thấy một vũng nước nào cả.
Quản Trọng nói:
- Xin cho quân sĩ đào giếng, lấy
nước mà uống.
Tề Hoàn-công truyền đào giếng lấy
nước, hễ ai đào được giếng có nước trước thì sẽ trọng thưởng.
Quân sĩ thi nhau đào khắp nơi
nhưng tuyệt nhiên, không chỗ nào có mạch nước cả. Phần thì mệt phần lại khát ai
nấy chán nản. Tề Hoàn-công muốn rút quân về.
Thấp Bằng nói:
- Xin Chúa công hãy chậm rãi, tôi
còn có cách này.
Nói xong dẫn quân đi tìm ổ kiến.
Tề Hoàn-công trông thấy hỏi:
- Trong lúc quân sĩ thiếu nước,
khanh lại đi tìm ổ kiến làm chi?
Thấp Bằng thưa:
- Giống kiến là một linh vật, nơi
nào có nước ắt nó làm tổ mà ở.
Quân sĩ đi tìm một lúc lâu, bắt gặp
một tổ kiến nơi hướng mặt trời mọc. Thấp Bằng cho đào nơi đó. Quả nhiên, tìm được
một mạch nước rất trong trẻo. Quân sĩ reo hò, không còn sợ chết khát nữa. Tề Hoàn-công
khen Thấp Bằng là bậc kỳ tài và đặt tên giếng nước ấy là Thánh-tuyền.
Chúa nước Linh-chi, sau khi đắp
xong dòng sông Nhụ-thuỷ cho người dò xét, thấy binh Tề lâu ngày mà không thiếu
nước, lấy làm lạ hỏi tướng Tốc Mãi:
- Đã lâu sao binh Tề vẫn chưa thiếu
nước?
Tốc Mãi nói:
- Tôi có nghe quân Tề vừa đào được
suối nước, đặt tên là Thánh-tuyền. Nhưng đó chỉ là sống tạm với thời gian, thế
nào cũng phải kéo binh về. Ta chờ họ rút binh, đem quân truy kích, đoạt một số
vũ khí mà dùng. Chúa tôi đắc ý, cả ngày say sưa không còn lo nghĩ gì nữa.
Bỗng một hôm, có tin báo:
- Quân Tề đem đại binh đến vây
thành.
Mật Lư và Tốc Mãi kinh hãi bỏ trốn.
Quân Sơn-nhung mất Chúa, chạy tán loạn, lớp thì đầu hàng, lớp ôm nhau kêu khóc.
Tề Hoàn-công không cho quân sĩ giết
hại một người nào, kéo quân vào thành mở ngục thả một số đàn bà con gái rất
đông, mà trước đây bọn Sơn-nhung đã bắt bên nước Yên, đoạn chiêu an bá tánh.
Quân Sơn-Nhung thấy vua Tề nhân đức,
rủ nhau ra đầu hàng hết.
Tề Hoàn-công hỏi quân Sơn-nhung:
- Chúa bay hiện giờ trốn nơi nào?
Quân Sơn-nhung thưa:
- Nước tôi giáp với nước Cô-trúc,
hai nước vốn giao hảo với nhau. Trước đây Chúa công tôi có cho người sang mượn
quân, nhưng chưa kịp đi. Nay Chúa công tôi tất trốn qua nước đó.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Nước Cô-trúc mạnh hay yếu, đường
sá thế nào?
Quân Sơn-nhung thưa:
- Cô-trúc là một nước lớn, địa thế
hiểm trở, cách đây chừng trăm dặm, có suối Tỵ-Nhỉ làm giới hạn.
Quản Trọng nói:
- Người Sơn-nhung chiếm miền rừng
núi, tuyệt địa khó lòng, sớm đánh tối đầu, rất nên nguy hiểm. Nay nước Linh-chi
và Cô-trúc đã kết giao, nếu lấy được Linh-chi mà không phá được Cô-trúc thì
Linh-chi không thể giữ nổi. Xin Chúa công kéo quân đánh Cô-trúc một thể.
Tề Hoàn-công nhậm lời, truyền nghỉ
binh lại đó ba ngày, rồi kéo sang đánh Cô-trúc.
Nói về Chúa nước Linh-chi là Mật
Lư sau khi bỏ thành chạy trốn sang nước Cô-trúc, đem việc bại binh thuật lại. Chúa
nước Cô-trúc là Đáp Lý Kha nghe nói than rằng:
- Ta vừa toan cất binh đến giúp,
chẳng ngờ Hiền-hầu lại bị thảm bại như vầy. Thôi thì cứ ở lại đây, chờ ta chỉnh
tu binh mã dõng sẽ mưu việc phục quốc cho.
Mật Lư cúi đầu cảm tạ, lòng buồn
không vơi. Xảy có quân vào báo:
- Quân nước Tề chiếm nước
Linh-chi, nay lại cử binh sang đánh Cô-trúc nữa.
Đáp Lý Kha cười lớn nói:
- Đã lấy được nước Linh-chi, còn
mạo hiểm đến đây mà chịu chết!
Nói rồi truyền quân thu hết các
thuyền bè nơi suối Tỵ-Nhỉ để ngăn giặc. Đại tướng Hoàng Hoa thưa:
- Tôi sợ quân Tề có thể đóng bè
qua suối, xin Chúa công cho quân sĩ phục nơi mé rừng mà phòng bị trước là hơn.
Đáp Lý Kha nói:
- Việc đóng bè để đổ binh qua
sông không phải chốc lát mà làm xong. Ta không cần phải lo sớm.
Nói rồi cùng Mật Lư uống rượu say
sưa cả ngày không lo gì cả.
Trong lúc đó, binh Tề đã kéo đến
bên Tỵ-nhỉ. Nơi đây núi đá lởm chởm cỏ cây rậm rạp chặn kín đường đi.Quản Trọng
liền khiến lấy diêm tiêu, lưu hoàng rải khắp nơi rồi đốt lửa. Lửa cháy rần rần
cây cối hai bên đường thành tro, mở đường cho xe ngựa đi được. Tuy nhiên, núi
đá lởm chởm, những xe lương thực đi rất chậm chạp khó khăn. Quân sĩ đem lòng
chán nản. Quản Trọng thấy thế đặt vài bài hát, để quân sĩ hát cho vui mà quên cực
nhọc.
Bài hát như vầy:
Mây trôi man mác bên trời
Khó khăn đâu dễ làm vơi được lòng
Bánh xe dù long, bàn tay người đỡ
Thân trai là nợ, há sợ gian truân
Quyết lòng xẻ núi lấp sông
Núi dầu cao mấy, chẳng bằng quân ta
Quân sĩ vừa hát, vừa đẩy xe đi,
quên cả mệt nhọc.
Chẳng mấy chốc, xe đã qua khỏi đồi
núi hiểm nghèo. Tề Hoàn-công ngoảnh đầu nhìn lại, tấm tắc khen thầm:
- Sức mạnh của câu ca, lời hát quả
thực nhiệm màu!
Quản Trọng nói:
- Thể xác và tinh thần của con
người là hai mối tương quan, thể xác mệt mỏi, tinh thần tất yếu đuối. Ngược lại
như tinh thần hưng khởi, thể chất ắt sung mãn. Do đó, kích thích tinh thần là
điều cần thiết.
Tề Hoàn-công nói:
- Trọng-phụ qua là một kẻ thấu
đáo nhân tình.
Qua khỏi vài hòn núi nữa, lại đến
một cụm núi cao, xe cộ phải dừng lại, không có lối đi. Trước mặt hai bên đá dựng
như vách, chỉ có một con đường nhỏ ở giữa vừa một người một ngựa.
Tề Hoàn-công biến sắc, nói:
- Chỗ này nếu bị phục binh, chúng
ta sẽ không còn một mạng.
Nói vừa dứt lời mặt vua xây xẩm,
thoáng thấy trong kẹt đá nhảy ra một quái thú, nửa người nửa vật, mình mặc áo đỏ,
đầu đội mũ đen, bước đến trước mặt Tề Hoàn-công cúi đầu thi lễ, rồi giơ tay một
vén vạt áo lên đoạn chạy biến vào núi.
Tề Hoàn-công kinh hãi, quay qua hỏi
Quản Trọng:
- Khanh có thấy gì chăng?
Quản Trọng đáp:
- Tôi không thấy gì cả.
Tề Hoàn-công thuật lại quái-trạng
vừa rồi cho Quản Trọng nghe.
Quản Trọng đáp:
- Theo tôi đoán, đó là thần
Du-nhi. Một vị thần núi đến mách bảo với Chúa công đó.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Tại sao lại vén áo lên để làm
gì?
Quản- trọng đáp:
- Vén áo là ý nói, phía trước mặt
có nước, mà vén phía tay mặt là ý nói phía tay mặt nước sâu, bảo phải đi phía
trái. Nay xin đóng quân nơi đây do thám thì biết.
Tề Hoàn-công khiến quân thám tử
đi dò xét.
Quân về báo:
- Phía trước có suối Tỵ-nhỉ, sâu
lắm. Chúa nước Cô-trúc đã thâu đoạt hết thuyền bè, không thể qua đặng.
Tề Hoàn-công còn đang suy nghĩ, bỗng
có toán quân khác về báo:
- Suối Tỵ-nhỉ phía mặt sâu thăm
thẳm, nhưng về phía trái thì cạn, lội không quá gối.
Tề Hoàn-công vỗ tay, cười lớn:
- Thế thì đúng theo lời thần
Du-nhi đã mách bảo rồi.
Yên Trang-công nói:
- Thuở nay tôi không nghe nói suối
Tỵ-Nhỉ có chỗ nào cạn như vậy. Đây chắc là thần Du-nhi muốn độ Minh-công qua
sông đó.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Từ đây đến Cô-trúc còn bao xa?
Yên Trang-công đáp:
- Thành quách nước Cô-trúc mới dựng
lên từ đời nhà Thương. Qua khỏi suối Tỵ-nhỉ có ba hòn núi cách nhau ba mươi dặm
gọi là Tiên đoàn sơn, Mã tiên sơn và Song tử sơn. Ba hòn núi ấy chính là ba
ngôi mộ của Tiên-quân xứ Cô-trúc. Khỏi ba hòn núi ấy đến Vô đệ thành tức là
Kinh đô rồi.
Tề Hoàn-công cả mừng, truyền quân
theo triền núi tiến về hướng trái mà lội qua suối.
Lúc ấy Chúa nước Cô-trúc đang ăn
uống, nghe quân báo rằng quân Tề đã qua suối rồi lòng hoảng sợ, sai tướng Hoàng
Hoa đem năm ngàn quân ra cự địch.
Mật Lư nói:
- Tôi tới đây đã lâu chưa lập được
công trạng gì, xin đi với Tốc Mãi làm tiên phong.
Tướng Hoàng Hoa cười lớn:
- Thôi thôi, một vị vua mất nước,
một bại tướng không còn một tên quân, lại muốn theo tôi mà làm gì?
Nói xong, tướng Hoàng Hoa kéo
quân ra đi.
Mật Lư có ý trẽn tràng.
Đáp Lý Kha thấy vậy nói:
- Hiền-hầu kéo binh đi trước mà
tiếp ứng cho Hoàng Hoa, rồi tôi sẽ đem quân đến sau.
Mật Lư tuân lệnh, kéo quân đến Mã
tiên sơn, nghĩ đến lời nói của Hoàng Hoa lòng không nguôi giận.
Hoàng Hoa kéo quân vừa đến mé suối
Tỵ-nhỉ, gặp đại binh của Tề Hoàn-công, cầm đầu là tướng Cao Hắc.
Hai bên khai chiến đánh với nhau
một lúc.
Cao Hắc yếu thế gần bỏ chạy, xảy
có Vương-tử Thành Phủ đem binh tiếp ứng.
Hai bên đánh với nhau dư trăm hiệp,
bất phân thắng bại.
Vương-tử Thành Phủ cả giận hét:
- Sơn cẩu! Mi tài cán chi mà dám
đương sức với ta!
Nói xong, giục trống cho ba quân
áp trận.
Hoàng Hoa vẫn là tay thao lược,
có sức mạnh hơn người, nên không lấy thế làm nao núng, trợn mắt, chỉ vào mặt
Vương-tử Thành Phủ nói:
- Ta quyết xây nấm mồ để vùi xác
chúng bay!
Hai bên đánh năm mươi hiệp nữa
thì đạo trung quân của Tề Hoàn-công tiếp đến, bên hữu có Công tử Khai Phương,
bên tả có Thụ Điêu, áp tới đánh nhầu. Tướng Hoàng Hoa tuy có sức mạnh, song
binh Tề quá đông. Nhắm cự không lại quày ngựa bỏ chạy.
Binh Tề rượt theo, chém giết binh
Cô-trúc không biết bao nhiêu mà kể.
Tướng Hoàng Hoa một mình một ngựa
chạy riệt đến Đoàn tử sơn, thấy trên núi quân Tề đã chiếm mất rồi, bèn quày ngựa
chạy vòng ra sau núi tẩu thoát. Chạy một đỗi nữa đến chân núi Mã tiên sơn, thấy
quân của Mật Lư vừa kéo đến, lòng mừng rỡ cho ngựa lần tới.
Thấy tướng Hoàng Hoa mặt mày hơ hải,
Mật Lư mỉm cười hỏi:
- Tướng-quân chưa bao giờ biết thất
trận, sao nay lại bỏ cả binh sĩ chạy về đây một mình?
Tướng Hoàng Hoa thẹn thùng cúi mặt
xuống đất không đáp, biết Mật Lư muốn trả thù cử chỉ khinh dễ của mình vừa rồi,
song cũng bỏ qua, xin một ít lương khô ăn cho đỡ đói rồi sẽ hay.
Mật Lư sai lấy gói cơm, móc đưa
cho Hoàng Hoa ăn. Ăn xong, Hoàng Hoa xin một con ngựa cưỡi. Mật Lư lựa một con
ngựa ốm trao cho.
Tướng Hoàng Hoa lòng đầy căm tức,
nhưng chẳng biết nói sao, đành lủi thủi trở về Vô đệ thành ra mắt Đáp Lý Kha.
Đáp Lý Kha nói:
- Bởi ta không nghe lời khanh nên
mới thất trận.
Hoàng Hoa nói:
- Bởi Mật Lư trốn sang nước ta,
nên binh Tề mới đem quân đến đánh. Chi bằng chém Mật Lư nạp đầu cho Tề-hầu, thà
giảng hoà thì hơn.
Đáp Lý Kha nói:
- Mật Lư cùng khốn về đây với ta,
ta nỡ nào lại xử bạc như vậy.
Quan Tể tướng Ngột Luật Cổ nói:
- Tôi xin dâng một kế có thể phá
binh Tề dễ như chơi.
Đáp Lý Kha hỏi:
- Kế gì vậy?
Ngột Luật Cổ nói:
- Phía Bắc nước ta có một cái bể
cát, không có nước non, cây cối gì cả. Xưa nay người trong nước chết, thường
đem thây ra bỏ nơi đây, xương chất thành đống, ban ngày cũng như ban đêm, bóng
ma hiện hình kêu khóc rất ghê rợn. Đặc biệt là thỉnh thoảng có luồng gió độc thổi
đến, ai ngộ phải đều xây xẩm mặt mày rồi chết ngay. Nếu gạt quân Tề đến đó, tự
nhiên phải bỏ mạng.
Đáp Lý Kha nói:
- Quân Tề dại gì mà đến nơi đó?
Ngột Luật Cổ nói:
- Chúa công hãy tạm đem cung quyến
ẩn trú nơi Dương-sơn, rồi sai người nói dối với Tề hầu rằng Chúa công trốn đi cầu
cứu nước khác, thế nào Tề-hầu cũng đem quân đuổi theo.
Hoàng Hoa nói:
- Tôi xin đem quân đến giả cách đầu
hàng, rồi dụ binh Tề đến đó cho.
Đáp Lý Kha nhậm lời.
Hoàng Hoa kéo quân ra đi, nghĩ bụng:
- Nếu ta không chém đầu Mật Lư đem
nạp thì Tề-hầu đâu có tin ta. Vả lại đó cũng là dịp để ta trả thù quân bội
nghĩa.
Nghĩ rồi kéo binh đến Mã tiên
sơn, vào ra mắt Mật Lư.
Lúc ấy Mật Lư đang đốc quân chống
lại cuộc tấn công của binh Tề, nghe Hoàng Hoa kéo binh đến tiếp ứng thì mừng lắm,
vội ra tiếp đón.
Hoàng Hoa thừa lúc Mật Lư bất ý,
rút gươm chém một nhát bay đầu.
Tốc Mãi thấy vậy nổi giận, giục
ngựa đến quyết giết cho được Hoàng Hoa trả thù cho chúa mình.
Hai đàng đánh nhau được một lúc, Tốc
Mãi mồ hôi ướt giáp, biết mình cự không lại, bỏ cả quân sĩ chạy sang trại Hồ
Nhi Bang xin đầu hàng.
Hồ Nhi Bang cho là giả dối, khiến
quân bắt Tốc Mãi đem chém. Còn Hoàng Hoa xách đầu Mật Lư thẳng đến trại Tề
Hoàn-công xin vào ra mắt. Tề Hoàn-công cho vào.
Hoàng Hoa quỳ móp dưới trướng
tâu:
- Chúa công tôi đã đem cả gia quyến
đến nước Sa-tích mà viện binh. Tôi can mãi không được nên đến đây đầu hàng. Nếu
Minh-công không chê tôi hèn yếu, tôi xin đi trước dẫn đường để đưa Minh-công
vào thành.
Tề Hoàn-công thấy đầu Mật Lư, nên
tin thật bèn cho Hoàng Hoa làm tiên phong. Rồi kéo rốc binh mã vào thành nước
Cô-trúc.
Khi đến nơi, thấy thành quách đều
bỏ trống, Tề Hoàn-công lại càng tin lời Hoàng Hoa là thật.
Hoàng Hoa nói:
- Nay Đáp Lý Kha dẫn gia quyến đi
cầu vinh, sớm tối ắt đem quân về báo thù. Xin Minh-công cho người theo truy cản,
bắt Đáp Lý Kha mà giết đi thì mới giữ thành này được.
Tề Hoàn-công khen phải, liền sai Cao
Hắc dẫn một ngàn quân theo Hoàng Hoa đi tiền bộ, lại giao thành cho Yên Trang-công
trấn giữ rồi kéo đại binh theo sau, để phòng binh viện kéo về.
Đi được một lúc thì trời gần tối,
không còn thấy đạo binh của Cao Hắc và Hoàng Hoa đâu nữa, trước mặt chỉ thấy một
bãi sa mạc rộng thênh thang, bốn bề hoang vắng, gió thổi lạnh lùng, xa xa văng
vẳng những tiếng ma kêu, quỷ khóc lẫn với tiếng huýt, tiếng gầm của loài hổ mang
và thú dại.
Quân sĩ người người rởn ốc, và cứ
thỉnh thoảng một luồng gió thổi đến một số quân binh ngã gục, ngất thở.
Quản Trọng thất kinh nói với Tề
Hoàn-công:
- Tôi được nghe xứ này có cái bể
cát rất độc, chắc bể cát ấy là đây. Xin chớ đến nữa.
Tề Hoàn-công truyền thu quân.
Nhưng quân sĩ lạc đường không biết
hướng nào trở lại.
Trong lúc trời tối mịt mùng, rải
rác những đống xương khô ngổn ngang trên bãi, cứ mỗi tên quân lạc ra khỏi đoàn
là bị một con ác điểu từ đâu bay đến mổ vào sọ, như một nhát búa, hút lấy tuỷ
óc mà ăn.
Quản Trọng truyền đánh kẻng lên
thu quân vào một chỗ, rồi bảo vệ Tề Hoàn-công tìm đường cũ trở lại. Nhưng, đường
cũ đã mịt mù, không còn dấu vết.
Quản Trọng nói:
- Nước Chung-vô tiếp giáp với nước
này, những con ngựa già xứ Chung-vô ắt thuộc đường, vậy thì bảo Hồ Nhi Bang chọn
lấy vài con ngựa già thả cho đi trước, quân ta theo sau, ắt thoát đặng.
Tề Hoàn-công làm theo kế ấy, quả
nhiên ra khỏi sa mạc.
Nhắc lại tướng Hoàng Hoa, có ý đi
trước để đánh lừa binh Tề, và lập kế đưa Cao Hắc đến núi Dương-sơn.
Nhưng đi được một lúc, Cao Hắc thấy
Hoàng Hoa cứ một mạch đi thẳng, không chờ đại binh theo sau, lòng nghi ngại,
không dám đi nữa.
Hoàng Hoa biết ý, lập tức bắt sống
Cao Hắc, rồi thẳng đường đến núi Dương-sơn, vào yết kiến Đáp Lý Kha, và nói:
- Mật Lư thua trận ở Mã tiên sơn,
bị quân Tề giết, nay tôi đã trá hàng, gạt được quân Tề vào nơi bể cát, lại bắt
sống được tướng Cao Hắc đem về đây, xin Chúa công định liệu.
Đáp Lý Kha bảo Cao Hắc:
- Nếu nhà ngươi chịu đầu hàng, ta
tha chết.
Cao Hắc trừng mắt nhìn lên, hét lớn:
- Ta là quan nước Tề, có bao giờ
lại thần phục loài khuyển dương. Chúng bay đừng có nói những lời vô lễ đó!
Hoàng Hoa cả giận, rút gươm chém Cao
Hắc một nhát bay đầu.
Đoạn họp binh lại, cùng với Đáp
Lý Kha kéo quân về thu phục Kinh-thành.
Yên Trang-công chống giữ, nhưng
không lại, phải bỏ thành, đem binh chạy về Đoàn tử sơn.
Trong khi ấy, đại binh của Tề Hoàn-công
đã ra khỏi biển cát, kiểm điểm binh mã thấy hao hơn hai phần mười.
Tề Hoàn-công nói:
- Không giao tranh mà binh mã bị
tổn thương thật là đau đớn.
Quản Trọng nói:
- Bây giờ trở lại nơi Kinh-thành
Cô-trúc để quân sĩ nghỉ ngơi rồi sẽ tính.
Tề Hoàn-công y lời, truyền quân
kéo về thành Cô-trúc.
Về gần đến nơi bỗng thấy nhân dân
già trẻ, dắt nhau đi lũ lượt.
Quản Trọng sai người đến dò hỏi,
mới biết Đáp Lý Kha đã đánh đuổi Yên Trang-công mà chiếm thành rồi. Nhân dân nước
kia tránh vào rừng nay nghe thành đã lấy lại nên trở về yên trú.
Tề Hoàn-công thất kinh đưa mắt
nhìn Quản Trọng.
Quản Trọng nói:
- Tôi đã có cách lấy lại kinh
thành Cô-trúc rồi!
Nói xong, khiến Hồ Nhi Bang cho
quân thay hình đổi dạng lẫn với đám đông người, lẻn vào thành để làm nội ứng.
Đoạn truyền quân vây kín ba mặt thành chỉ chừa cửa phía Bắc để phục binh mà bắt
Đáp Lý Kha.
Đêm ấy Đáp Lý Kha hay tin quân Tề
kéo đến, liền đốc quân lên mặt thành chống giữ.
Bỗng trong thành lửa cháy sáng ngời,
đoàn quân nội ứng của Hồ Nhi Bang nổi dậy, ó lên một tràng, tràn ra mở bét bốn
cửa thành. Bên ngoài quân Tề kéo vào ba mặt.
Đáp Lý Kha thất kinh vội lên ngựa
chạy thoát ra cửa phía Bắc. Đi được vài ba dặm xảy nghe một tiếng pháo lệnh,
binh Tề phục hai bên rừng kéo ra đông như kiến.
Đáp Lý Kha bị bắt, còn tướng Hoàng
Hoa và Ngột Luật Cổ bị chết trong đám loạn quân.
Tề Hoàn-công kéo binh vào thành
truyền chém đầu Đáp Lý Kha bêu nơi Bắc-môn, rồi treo bản phủ dụ nhân dân. Dân
Cô-trúc thuật lại chuyện Cao Hắc bị giết. Tề Hoàn-công thương tiếc vô cùng, khiến
ghi công vào sổ để khi về nước gia ân.
Yên Trang-công đang đóng binh ở
Đoàn tử sơn, nghe Tề Hoàn-công đã chiếm được kinh thành Cô-trúc liền kéo binh đến
chúc mừng. Tề Hoàn-công nói với Yên Trang-công:
- Tôi đem binh sang giúp Quý-quốc,
may thu phục được hai nước Linh-chi và Cô-trúc này rộng hơn năm trăm dặm, vậy
xin biếu.
Yên Trang-công nói:
- Tôi đã làm phiền Minh-công quá
nhiều, và mang ơn quá trọng, lẽ đâu còn dám hưởng ơn huệ ấy.
Tề Hoàn-công nói:
- Linh-chi và Cô-trúc, hai nước
giáp liền với nước Yên, nếu giao cho người khác ắt bị quấy nhiễu. Hiền-hầu chớ
nên chối từ, hãy nhận lấy mà mở mang bờ cõi rồi sai sứ vào triều cống nhà Châu,
như thế tôi cũng đã được một phần vinh dự rất lớn.
Yên Trang-công từ chối không được,
phải nhận lời. Tề Hoàn-công truyền mở tiệc khao thưởng ba quân, lại cắt một thuở
ruộng nơi chân núi Tiên đoàn sơn thưởng công cho Hồ Nhi Bang, rồi kéo binh về
nước. Yên Trang-công đưa tiễn Tề Hoàn-công ra khỏi nước Yên, rồi mới trở về.
Từ đấy, nước Yên trở nên một nước
hùng mạnh ở phía Bắc.
Khi Tề Hoàn-công về đến sông Nhụ-thủy,
địa giới nước Lỗ. Lỗ Trang-công ra đón tiếp, mở tiệc nơi mé sông khoản đãi để
chúc mừng.
Tề Hoàn-công đem những bảo vật lấy
được ở hai nước Linh-chi và Cô-trúc đem chia cho Lỗ Trang-công.
Lỗ Trang-công vì mến tài Quản Trọng,
lại biết được Quản Trọng có một cái ấp riêng gọi là Tiểu-cốc ở địa phận nước Lỗ,
bèn cho người đến đó sửa sang, xây thành quách rất tử tế.
Trong thời gian Lỗ Trang-công còn
ở ngôi, nước Lỗ được thái bình cường thịnh. Nhưng vào tháng tám năm đó, Lỗ
Trang-công tạ thế khiến cho nước Lỗ sinh ra rối loạn.
Quý Hữu đảm đương nước Lỗ
Tề-hầu trông thấy yêu ma
Nguyên Lỗ Trang-công có một người em cùng mẹ là Công tử Quý, trong bàn tay của Công tử Quý có chữ hữu nên gọi là Quý-hữu (Quý Hữu).
Quý Hữu vốn tính cương trực, lại
cùng một mẹ, nên Lỗ Trang-công rất yêu quý.
Lỗ Trang-công lại còn có một thứ
huynh là Khánh Phủ, và một thứ đệ là Thúc Nha, hai người này gian xảo, nên Lỗ
Trang-công chẳng phục.
Quý Hữu, Khánh Phủ, Thúc Nha cả
ba đều làm chức Đại-phu trong triều.
Trong thời gian Lỗ Trang-công mới
lên ngôi, ra chơi nơi đất Lang-đài, gặp người con gái họ Đảng tên là Mạnh Nhâm,
nhan sắc tuyệt trần, Lỗ Trang-công đem lòng yêu dấu, sai người đi thỉnh. Mạnh
Nhâm không đến. Lỗ Trang-công sai người đến hứa với Mạnh Nhâm nếu kết duyên tơ
tóc sẽ được phong làm chánh thất. Mạnh Nhâm bắt Lỗ Trang-công phải chích huyết
ăn thề mới nhận lời.
Sau khi thề nguyền xong, Lỗ
Trang-công đem Mạnh Nhâm về cung chung sống.
Qua một thời gian Mạnh Nhâm sanh
đặng một trai là Công tử Ban.
Lỗ Trang-công muốn giữ lời thề, lập
Mạnh Nhâm lên làm chánh thất, người mẹ Lỗ Trang-công là Văn-khương nhất thiết
không thuận, bảo phải lấy nàng Ai-khương, con gái Tề Tương-công về làm chánh-thất.
Lỗ Trang-công không dám cãi lời mẹ.
Tuy nhiên lúc bây giờ nàng Ai-khương còn bé lắm, phải chờ đợi hai mươi năm trời
nữa mới cưới được.
Bởi vậy, Mạnh Nhâm dù chưa lập
chánh thất nhưng trong hai mươi năm ấy vẫn làm chủ trong cung. Đến lúc
Ai-khương về làm phu nhân thì Mạnh Nhâm đã qua đời rồi.
Nàng Ai-khương không con. Em gái
Ai-khương là Thúc-khương theo Ai-khương sang, lấy Lỗ Trang-công sinh được Công
tử Khải.
Trước kia, Lỗ Trang-công lại còn
lấy nàng Phong-thị làm tiểu-thiếp, có sanh đặng một trai là Công tử Thân nữa.
Như vậy, Lỗ Trang-công có ba
trai: Công tử Ban, Công tử Khải và Công tử Thân.
Về phần nàng Ai-khương, tuy được
lập làm chánh-thất, song đã chẳng con, lại hận vì trước kia Tề Tương-công giết
cha mình, nên bề ngoài kính trọng Lỗ Trang-công, mà bên trong ghét thầm.
Ai-khương thấy Khánh Phủ mặt mũi
khôi ngô, đem tình dan díu tư thông với nhau, lại kết đảng với Thúc Nha em cùng
mẹ của Khánh Phủ để mưu lập Khánh Phủ lên ngôi, Thúc Nha làm Tể tướng.
Một hôm nhân tiết trời không mưa,
Lỗ Trang-công đi tế đảo vũ, truyền bọn nữ nhạc tập dượt nơi sân nhà quan Đại-phu
Lương-thị.
Quan Đại-phu Lương-thị có một đứa
con gái khá đẹp, thường đi lại với Công tử Ban. Hai bên trao tình cá nước, và Công
tử Ban hứa sau này nối ngôi sẽ phong cho nàng làm phu nhân.
Hôm ấy con gái Lương-thị bắc
thang lên tường xem diễn nhạc, chẳng may gặp Ngữ Nhân Lạc là tên giữ ngựa, đứng
ngoài tường trông thấy.
Dẫu là phận tôi đòi, nhưng khát vọng
của con người đâu cách biệt, Ngữ Nhân Lạc cất lên vài giọng hát đưa tình để ghẹo
hoa.
Hát rằng:
Tiếc thay! Ong bướm chưa vào vườn xuân
Tường cao vòi vọi
Bóng nguyệt mông lung
Ước ao cá nước tương phùng
Ấp yêu mộng đẹp cho lòng phôi pha!
Công tử Ban nghe tiếng hát chạy đến,
trông thấy Ngữ Nhân Lạc, lòng căm tức truyền bắt vào, đánh ba trăm roi, máu
tuôn lai láng.
Ngữ Nhân Lạc khóc lóc van xin, Công
tử Ban mới tha cho và đem việc ấy thuật lại với Lỗ Trang-công.
Lỗ Trang-công nói:
- Đối với đứa tiểu nhân vô lễ, một
là bỏ qua, hai là giết đi. Con đánh nó như vậy không khỏi gây thù oán. Vả lại
Ngữ Nhân Lạc là đứa có sức mạnh phi thường, mọi người ai cũng biết, con khá cẩn
thận.
Quả vậy, Ngữ Nhân Lạc tuy là một
kẻ tôi đòi, song sức mạnh ít ai sánh kịp. Đã có lần Ngữ Nhân Lạc từ trên chòi
canh cao hai mươi trượng nhảy xuống đất mà vẫn đứng dậy như chơi, lại cầm cột
chòi canh rung rinh làm cho mọi người phải khiếp sợ.
Bị Công tử Ban đánh đập, Ngữ Nhân
Lạc đem lòng thù oán, đến xin làm tôi cho Khánh Phủ. Khánh Phủ liền thu dùng.
Năm sau Lỗ Trang-công bệnh biết
mình không sống được lâu, lại nghi Khánh Phủ muốn cướp ngôi, nên gọi Thúc Nha
và hỏi dò ý kiến. Quả nhiên Thúc Nha khen Khánh Phủ, và khuyên Lỗ Trang-công nên
truyền ngôi lại cho Khánh Phủ. Lỗ Trang-công buồn bã, nhưng không tỏ ý cho Thúc
Nha biết.
Thúc Nha bái tạ lui ra.
Lỗ Trang-công lại cho đòi Quý Hữu
vào hỏi.
Quý Hữu nói:
- Chúa công ngày trước đã có lời
ước với Mạnh Nhâm. Tuy không lập Mạnh Nhâm lên chánh-thất nhưng vẫn phải coi
con của Mạnh Nhâm là chính.
Lỗ Trang-công nói:
- Thúc Nha khuyên ta nên truyền
ngôi cho Khánh Phủ, việc ấy nên chăng?
Quý Hữu nói:
- Khánh Phủ là một kẻ thiếu đạo đức,
không đủ tư cách làm vua. Thúc Nha muốn mưu cầu quyền lợi, xin Chúa công chớ
nghe theo. Tôi xin hết sức phò Công tử Ban để cứu lấy nước Lỗ.
Lỗ Trang-công gật đầu nở một nụ
cười tươi nhìn Quý Hữu tỏ vẻ trìu mến.
Quý Hữu lui ra, nghĩ thầm:
- Nếu không chặt bớt vây cánh của
Khánh Phủ, sau này ắt khó trừ đặng. Nghĩ rồi, giả chiếu của Lỗ Trang-công triệu
Thúc Nha đến tư dinh quan Đại-phu Hàm Quý để nghe lệnh.
Thúc Nha ngỡ thật bôn ba đến.
Quý Hữu bỏ thuốc độc vào một ly
rượu, đưa cho Hàm Quý bắt Thúc Nha uống. Lại viết cho Thúc Nha một bức thư, đại
ý nói Chúa công có lệnh bắt Công tử phải phục độc dược mà chết đi thì con cháu
mới được phong chức bằng không toàn gia phải bị tru lục.
Thúc Nha không chịu uống.
Hàm Quý phải đè Thúc Nha xuống đất,
đổ thuốc độc vào miệng.
Thúc Nha hộc máu chết ngay.
Chiều hôm ấy, Lỗ Trang-công từ trần.
Quý Hữu lập Công tử Ban lên nối ngôi.
Chưa bao lâu, ông ngoại của Công
tử Ban qua đời, Công tử Ban nghĩ đến tình mẹ mình là Mạnh Nhâm, nên đến tận nhà
thăm viếng.
Khánh Phủ hay được, kêu Ngữ Nhân
Lạc đến nói nhỏ:
- Ngươi không nhớ cái thù thuở
xưa? Ngày nay con giao long đã ra khỏi mặt nước thì sức một người có thể bắt được,
sao nhà ngươi không đến nhà họ Đảng mà báo thù.
Ngữ Nhân Lạc nói:
- Nếu có điều gì xin nhờ Công tử
bênh vực thì tôi mới dám.
Khánh Phủ nói:
- Điều đó ngươi khỏi lo.
Ngữ Nhân Lạc liền giấu một con
dao găm vào mình, thừa lúc đêm tối trèo tường vào nhà họ Đảng, đứng núp trước cửa
phòng.
Trời tang tảng sáng, nội thị mở cửa
ra lấy nước. Ngữ Nhân Lạc lén vào buồng ngủ.
Lúc ấy, Công tử Ban cũng đã thức
dậy, vừa bước chân xuống đất. Thấy Ngữ Nhân Lạc, Công tử Ban sợ hãi, hét lớn:
- Mày đến đây để làm gì.
Ngữ Nhân Lạc nói:
- Ta đến để báo thù trận đòn năm
trước.
Công tử Ban liền rút thanh kiếm ở
đầu giường chém một nhát vào trán Ngữ Nhân Lạc đến lòi tuỷ óc ra. Ngữ Nhân Lạc vốn
có sức mạnh, tay trái nắm lưỡi kiếm, tay phải cầm dao đâm vào cạnh sườn Công tử
Ban đến lút cán.
Công tử Ban té nhào xuống đất tắt
thở.
Bọn nội thị sợ hãi kêu ầm lên.
Còn Ngữ Nhân Lạc, sau khi đâm được
Công tử Ban một nhát trả thù, cũng té xỉu xuống đất chết ngay.
Quý Hữu nghe tin Công tử Ban chết
biết mưu của Khánh Phủ. Liệu mình cô thế, liền bỏ qua nước Trần tị nạn.
Khánh Phủ tuy mưu giết vua, nhưng
bên ngoài vẫn làm ra vẻ đạo đức để che mắt thiên hạ, liền đổ tội cho Ngữ Nhân Lạc,
và bắt cả nhà Ngữ Nhân Lạc đem chém.
Lúc bấy giờ nàng Ai-khương muốn lập
Khánh Phủ lên ngôi, nhưng Khánh Phủ lòng sâu độc, muốn cho tăm tiếng được vẹn
toàn, nói với Ai-khương:
- Chưa giết được Công tử Thân và Công
tử Khải thì chưa nên nối ngôi.
Ai-khương hỏi:
- Thế thì có nên lập Công tử Thân
hay không?
Khánh Phủ nói:
- Công tử Thân đã trưởng thành,
khó kiềm chế, nên lập Công tử Khải thì hơn.
Công tử Khải là con nàng
Thúc-khương cháu ngoại của Tề-hầu, nên Khánh Phủ thân hành sang nước Tề mang lễ
vật lo lót với Thụ Điêu, yêu cầu Tề Hoàn-công thừa nhận Công tử Khải lên nối
ngôi.
Lúc đó Công tử Khải mới có tám tuổi,
tuy được lên ngôi, song bên trong thì sợ Ai-khương, bên ngoài thì sợ Khánh Phủ,
không dám quyết đoán điều gì cả.
Cách nửa tháng sau, Công tử Khải
mới làm lễ tức vị xưng hiệu là Lỗ Mẫn-công, rồi sai sứ sang Tề xin hội ở đất Lạc-cô
thuộc Tề.
Đến ngày hội, Lỗ Mẫn-công nắm áo Tề
Hoàn-công khóc oà, kể lể chuyện Khánh Phủ hiếp chế mình.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Các quan Đại phu ở nước Lỗ bây
giờ có hiền sĩ nào chăng?
Lỗ Mẫn-công nói:
- Chỉ có Quý Hữu trung trực hơn cả,
nay cánh trốn sang nước Trần.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Sao không triệu về mà dùng.
Lỗ Mẫn-công nói:
- Nếu triệu Quý Hữu về thì Khánh
Phủ nghi ngờ khó lòng lắm.
Tề Hoàn-công nói:
- Không sao! Cứ bảo là theo ý nước
Tề thì ai dám trái mạng.
Nói xong, sai sứ sang nước Trần
triệu Quý Hữu về. Lỗ Mẫn-công chờ Quý Hữu đến. Rồi mới cùng về nước Lỗ. Về đến
nơi, Lỗ Mẫn-công phong cho Quý Hữu làm Tể-tướng.
Tề Hoàn-công lại sợ nước Lỗ có loạn
nên sai Trọng Tôn Thu đến dò xét tình hình. Sau khi nhận xét mọi điều, Trọng
Tôn Thu vào yết kiến Công tử Thân.
Công tử Thân bàn bạc tình hình nước
Lỗ rất rành mạch, khiến Trọng Tôn Thu cũng phải khen là một kẻ có tài trị nước.
Trọng Tôn Thu dặn nhỏ Quý Hữu nên
bảo vệ Công tử Thân và phải trừ Khánh Phủ đi mới được.
Quý Hữu lắc đầu, giơ lên một cánh
tay.
Trọng Tôn Thu biết Quý Hữu muốn
nói mình cô thế, liền đáp:
- Để tôi về tâu với Chúa công
tôi. Nếu có gì cần giúp đỡ, xin ngài cho biết. Trong thời gian Trọng Tôn Thu
lưu lại nơi nước Lỗ, Khánh Phủ đem vàng bạc, lễ vật đến mua lòng, nhưng Trọng
Tôn Thu nhất quyết không nhận, nói:
- Nếu ngôi là kẻ trung quân ái-quốc,
hà tất phải nhọc lòng làm cái việc đó.
Khánh Phủ sợ hãi lui ra, lòng áy
náy không an.
Khi về đến nước Tề, Trọng Tôn Thu
kể lại nội tình nước Lỗ cho Tề Hoàn-công nghe, và nói:
- Nếu không trừ được Khánh Phủ thì
nước Lỗ không thể nào yên được.
Tề Hoàn-công nói:
- Ta đem quân sang mà trừ đi, phỏng
có nên chăng?
Trọng Tôn Thu nói:
- Tội ác Khánh Phủ chưa rõ ràng,
xin cứ chờ cho Khánh Phủ làm loạn sẽ giết cũng chẳng muộn.
Tề Hoàn-công khen phải, bỏ qua việc
ấy không bàn đến nữa. Thế rồi, thời gian trôi trong âm mưu đen tối của Khánh Phủ.
Khánh Phủ lúc nào cũng mong cướp
ngôi nước Lỗ, chỉ vì Lỗ Mẫn-công là cháu ngoại của Tề Hoàn-công, lại có Quý Hữu
hết lòng phò tá nên chưa dám làm vội.
Một hôm, có quan Đại-phu Bốc Kỳ đến
chơi.
Khánh Phủ mời vào thư trang, Bốc
Kỳ mặt hầm hầm nói:
- Thế này thiệt quá ức!
Khánh Phủ ngạc nhiên hỏi:
- Việc gì thế?
Bốc Kỳ đáp:
- Tôi có một thửa ruộng tiếp giáp
với thửa ruộng quan Thái-phó Thân Bất Hại, bị Thân Bất Hại xâm lấn. Tôi vào tâu
với Chúa công để định lẽ công bằng. Chúa công bênh vực quan Thái-phó, bảo tôi
nhường thửa ruộng ấy. Thưa Công tử, như thế còn gì ức hiếp bằng. Nếu Công tử
nói giúp, tôi sẽ nhớ ơn suốt đời.
Khánh phủ cười lớn nói:
- Chúa công còn bé, chưa rõ được
tình đời. Đem điều phải quấy mà bàn thực vô ích. Nếu nhà ngươi có thể làm được
đại sự, ta sẽ vì nhà ngươi mà giết Thân Bất Hại cho.
Bốc Kỳ đưa mắt nhìn Khánh Phủ, tỏ
ý dò xét rồi hỏi:
- Công tử muốn phế lập.
Khánh Phủ chúm chím cười, không
đáp.
Bốc Kỳ nói tiếp:
- Nay Quý Hữu đang bỉnh-chánh,
thì việc đại sự ấy không phải dễ. Nếu thất bại làm sao thoát nạn?
Khánh Phủ nói:
- Thành bại do mưu lược và lòng
cương quyết. Nếu sợ sệt, tính toán chẳng bao giờ làm nên đại sự!
Bốc Kỳ mỉm môi, hỏi:
- Xin Công tử cho tôi biết ý.
Khánh Phủ nói:
- Chúa công hãy còn trẻ tính, nhiều
khi đang đêm vẫn ra ngoài phố chơi. Nếu đón đường giết đi rồi đổ tội cho quân
trộm cướp có khó gì. Bấy giờ ta phụng mệnh Ai-khương quốc-mẫu mà nối ngôi, lại
đuổi Quý Hữu đi, thì còn ai ngăn cản.
Bốc Kỳ vâng lời, trở về nhà tìm
được một võ-sĩ tên Thu Á, đưa cho một con dao găm, sai đến phục ở ngoài cửa
cung.
Đêm ấy, quả nhiên Lỗ Mẫn-công ra
ngoài bị Thu Á đâm một dao chết ngay tại chỗ.
Bọn thị vệ kêu ầm lên, xúm đến
vây bắt Thu Á.
Trong lúc đó Khánh Phủ lợi dụng
cơ hội đến tận nhà giết chết Thân Bất Hại.
Quý Hữu đang ở nơi tư dinh hay
tin, biết Khánh Phủ làm loạn vội vã đến gõ cửa nhà Công tử Thân thuật lại mọi
việc, rồi bàn với Công tử Thân trốn sang nước Châu tị nạn.
Nhân dân nước Lỗ lâu nay rất tin
phục Quý Hữu, nghe tin Lỗ Mẫn-công bị giết, Quý Hữu phải chạy trốn, cả nước đều
hậm hực, căm tức Khánh Phủ vô cùng, rủ nhau đến vây nhà Khánh Phủ đông như kiến.
Khánh Phủ hoảng hốt, không dám
nghĩ đến việc tiếm ngôi, định trốn ra nước ngoài để tránh mối căm phẫn của dân
chúng.
Lại sực nhớ đến nước Cử, trước
kia Tề Hoàn-công cũng nhờ mượn binh nước Cử về phục nghiệp, vả lại Văn-khương
trước kia có tư thông với thầy thuốc nước Cử, nay Ai-khương là cháu, ta cùng
Ai-Khương đến đó ắt dung thân được… bèn sắp sửa hành trang, tin cho Ai-khương
biết, rồi trốn đi.
Ai-khương hay được tin Khánh Phủ bỏ
trốn, cũng muốn đi theo.
Các cung nhân bàn rằng:
- Vì Khánh Phủ mà phu nhân lỡ
mang tai tiếng, lòng dân oán ghét, nay còn theo Khánh Phủ nữa e họa đến không
tránh kịp. Chi bằng qua nước Châu, bàn với Quý Hữu mưu lo việc nước để tránh tiếng
tăm.
Ai-khương nghe lời, bỏ sang nước
Châu vào xin yết kiến Quý Hữu.
Quý Hữu nghe được tin Khánh Phủ đã
trốn đi, không chịu tiếp kiến Ái-khương, lập tức đem Công tử Thân về nước.
Lúc đó Tề Hoàn-công được tin nước
Lỗ không có vua, liền đòi Trọng Tôn Thu vào hỏi:
- Nay nước Lỗ đang rối loạn, chưa
người kế vị, ta có nên nhân cơ hội này đem binh đến chiếm chăng?
Trọng Tôn Thu nói:
- Lỗ là một nước trọng nghĩa, dân
chúng chưa quên ơn đức Châu-công. Dẫu gặp biến cố, ta cũng không nên chiếm vội.
Vả lại, Công tử Thân là người thông minh tài trí, còn Quý Hữu cũng am hiểu việc
nước, chi bằng nhân dịp này ta đem quân sang giúp, để tỏ ra nước ta là một nước
đại nghĩa.
Tề Hoàn-công nghe lời, sai quan
Thượng-khanh là Cao Hề đem ba ngàn quân sang đóng nơi nước Lỗ nhắm tình hình mà
định đoạt. Hễ Công tử Thân đủ tài trị nước thì ý giao hòa, bằng không, chiếm đoạt
ngay nước Lỗ.
Cao Hề tuân lệnh, kéo binh ra đi.
Vừa đến nước Lỗ thì Quý Hữu cũng
vừa phò Công tử Thân về đến nơi.
Cao Hề thấy Công tử Thân mặt mũi
khôi ngô, nói năng đứng đắn, tỏ ý kính trọng, nên bàn với Quý Hữu lập Công tử
Thân lên ngôi, tức là Lỗ Hi-công.
Lỗ Hi-công nhờ Cao Hề giúp sức, đắp
thành Lộc-môn để đề phòng nước Châu và nước Cử.
Đoạn sai Hề Tư theo Cao Hề sang
nước Tề để tạ ơn Tề Hoàn-công. Lại khiến người đem lễ vật sang nước Cử, nhờ vua
nước Cử giết Khánh Phủ.
Khi Khánh Phủ chạy sang nước Cử,
đã đem lễ vật cống hiến cho vua nước Cử rồi, nên mới được dung nạp, nay sứ nước
Lỗ lại đem lễ vật đến nhờ giết Khánh Phủ, vua nước Cử không biết làm sao, bèn
thu lễ vật, rồi nói với Khánh Phủ:
- Nước Cử tôi nhỏ mọn, binh lực yếu
ớt, nếu Công tử ở đây nước tôi mang họa. Xin Công tử tạm tránh nơi nước khác.
Khánh Phủ dùng dằng không chịu
đi, vua nước Cử phải sai người đến đuổi.
Khánh Phủ cùng cực nghĩ đến nước
Tề, trước kia Thụ Điêu có ăn lễ mà bênh vực cho mình. Nay liều sang đó rồi sẽ
liệu. Nghĩ rồi lểnh mểnh qua Tề.
Tướng giữ ải nước Tề, từng nghe
tiếng Khánh Phủ là gian ác, không cho vào nước.
Khánh Phủ phải tạm trú nơi bờ
sông Vạn-thủy để chờ dịp liên lạc với Thụ Điêu.
Trong lúc đó, Công tử Hề Tư, được
lệnh Lỗ Hi-công sang tạ ơn nước Tề, trở về tới Vạn-thủy gặp Khánh Phủ, bèn nói:
- Nếu đã không được nước nào cho
trú ngụ thì về nước còn hơn.
Khánh Phủ buồn bã, nói:
- Quý Hữu thấy mặt tôi ắt không
dung, nếu người có thương tôi thì về trước tâu với Chúa công nghĩ tình
tiên-quân mà tha tội, tôi mới dám về.
Hề Tư từ giã Khánh Phủ trở về ra
mắt Lỗ Hi-công, thuật lại lời Khánh Phủ.
Lỗ Hi-công động lòng muốn tha tội
cho Khánh Phủ về nước.
Quý Hữu nói:
- Nếu kẻ giết vua mà không bắt tội
thì còn gì phép nước?
Lỗ Hi-công thở dài, lòng không
quyết.
Quý Hữu kêu Hề Tư dặn nhỏ:
- Nếu Khánh Phủ chịu xử lấy mình
để làm gương cho kẻ khác, ắt con cháu không mất ngôi quyền quý.
Hề Tư đến bờ sông Vạn-thủy, định
vào ra mắt Khánh Phủ, nói rõ sự tình, nhưng xét thấy mình không đủ can đảm bắt
người tự vận nên đứng ngoài cửa khóc lớn.
Khánh Phủ nghe tiếng khóc của Hề
Tư, biết mạng mình không thể bảo toàn được, ngước mặt lên trời than dài, rồi mở
dây lưng thắt cổ tự vận.
Hề Tư trở về báo tin với Lỗ Hi-công.
Lỗ Hi-công buồn bã thở dài.
Bỗng có quân vào báo:
- Nước Cử sai tướng Doanh Nô đem
binh đánh Lỗ, đòi tiền lễ tạ về cái chết của Khánh Phủ.
Quý Hữu nói:
- Người nước Cử đã không bắt Khánh
Phủ, nay nghe Khánh Phủ chết lại đến đòi tiền công là lý gì?
Nói xong, tâu với Lỗ Hi-công xin
đem quân ra đánh.
Lỗ Hi-công cởi thanh bửu kiếm
trao cho Quý Hữu nói:
- Thanh bửu kiếm này gọi là Mạnh-lao,
tuy dài không được một thước, nhưng lưỡi bén lắm, nó là một bảo vật, xin biếu
cho thúc phụ.
Quý Hữu đeo kiếm vào lưng, cúi lạy
tạ ơn, rồi dẫn quân thẳng đến đất Lịch-trì mà cự với tướng Doanh Nô.
Đến nơi, tướng Doanh Nô đã bày trận
sẵn sàng.
Quý Hữu nhủ thầm:
- Chúa ta mới lên ngôi, uy thế
chưa vững, nếu rủi ro bị thất trận ắt lòng dân không phục. Vả lại tướng Doanh
Nô là người hữu dũng vô mưu, ta phải dụng kế mới thắng nổi.
Quý Hữu liền tiến ra giữa trận,
kêu Doanh Nô nói:
- Nơi chiến trường, quân sĩ là những
kẻ vô tội chết oan để bồi đắp danh tiếng cho chủ tướng. Hôm nay ta không muốn
như thế. Ngươi vốn là một hổ tướng, nếu có tài hãy cùng ta bỏ hết vũ khí đánh bằng
tay không, nếu ai thắng sẽ định đoạt số phận kẻ bại.
Doanh Nô cười lớn, nói:
- Lỗ tướng! Ta chưa hề thấy tướng
nào ra trận với ý định lạ lùng đó. Nhưng thôi, dẫu ngươi muốn đánh bằng cách
nào ta vẫn không sợ.
Nói xong, truyền quân sĩ giang ra
hai bên, rồi cùng với Quý Hữu đấu võ.
Hai người đánh với nhau hơn năm
mươi hiệp, bất phân thắng bại.
Quý Hữu có một đứa con trai tên Hạnh
Phủ, lúc bấy giờ mới lên tám tuổi, nhưng có ý kiến ngộ nghĩnh lắm, do đó Quý Hữu
yêu mến vô cùng, đi đâu cũng đem theo.
Hạnh Phủ thấy cha mình không thắng
nổi tướng Doanh Nô liền gọi lớn:
- Thanh Mạnh-lao ở đâu, sao không
dùng đến nó?
Quý Hữu nhớ lại thanh gươm báu
đeo bên mình, liền sụt lại một bước chờ cho Doanh Nô chồm tới, rút lưỡi kiếm
chém sả một nhát.
Đầu Doanh Nô toét từ trán xuống đến
vai, mà thanh kiếm không vấy giọt máu nào. Thật là một thanh gươm sắc bén phi thường.
Quân binh nước Cử thấy chủ tướng
mình đã thác, bỏ chạy rồi.
Quý Hữu đắc thắng thu quân trở về.
Lỗ Hi-công thân hành đón tiếp thưởng
một chung ngự tửu, phong cho Quý Hữu làm Thượng-tướng, lại thưởng cho đất Phí-ấp.
Quý Hữu tâu:
- Tôi cùng Khánh Phủ và Thúc Nha
đều là cháu của tiên-công, nay vì nước phải ép Thúc Nha uống thuốc độc, buộc Khánh
Phủ thắt cổ, nếu cho đó là công trạng, hưởng lấy lộc nước thật xấu hổ với lương
tâm, tôi chẳng dám nhận lãnh.
Lỗ Hi-công thông cảm nỗi lòng
trung nghĩa của Quý Hữu nói:
- Thế thì khanh muốn thế nào?
Quý Hữu nói:
- Khánh Phủ và Thúc Nha tuy phạm
tội với nước nhưng con cháu không can hệ gì, xin Chúa công tặng phong cho con
cháu để gánh vác việc nước.
Lỗ Hi-công y lời, phong cho con Khánh
Phủ ở đất Thành-ấp tức dòng Mạnh-tôn, phong cho con Thúc Nha ở đất Hậu-ấp, tức
dòng Thúc-tôn, phong cho Quý Hữu đất Phí-ấp, tức dòng Quý-tôn. Ba dòng Mạnh,
Thúc, Quý đều cầm quyền chính nước Lỗ, gọi là Tam hoàn.
Chỉnh đốn xong nước Lỗ, Lỗ
Hi-công cho người sang viếng nước Tề để kết thêm tình giao hảo.
Tề Hoàn-công nghĩ đến Ai-khương
là gái nước Tề, nay lại trốn sang nước Châu ấy là điều xấu hổ, liền hỏi Quản Trọng:
- Lỗ Hoàn-công và Lỗ Mẫn-công đều
bị chết do tay Văn-khương và Ai-khương, gái nước Tề, nếu không trừng phạt e xấu
lây đến quốc-thể.
Quản Trọng nói:
- Tuy hai người ấy là gái nước Tề
song đã gả về Lỗ rồi, hễ con gái xuất giá tùng phu, hành động đâu còn liên quan
đến cố quốc. Nếu Chúa công muốn trị tội cũng được, nhưng phải âm thầm thì hay
hơn.
Tề Hoàn-công liền sai Thụ Điêu sang
nước Châu đưa Ai-khương về Lỗ.
Ai-khương tuân-lệnh, đi đến đất
Di-địa thì trời vừa xẩm tối phải tìm quán xá nghỉ ngơi.
Thụ Điêu nói với Ai-khương:
- Phu nhân một tay làm hại hai
vua, nay còn mặt mũi nào về Lỗ. Chi bằng tự xử lấy mình là hay hơn.
Ai-khương nghe nói, quay lưng vào
phòng đóng cửa lại.
Đêm ấy Thụ Điêu nghe tiếng khóc sụt
sùi suốt đêm trường. Mãi cho đến lúc trời hừng sáng mới dứt.
Thụ Điêu chờ mãi không thấy
Ai-khương ra liền xô cửa vào xem, thấy Ai-khương đã treo cổ tự vận. Máu hồng
còn ướt đẫm, đôi dòng lệ chưa nhòa.
Thụ Điêu lập tức sai người qua nước
Lỗ phi báo.
Lỗ Hi-công đưa linh cữu Ai-khương
về nước tống táng, và tin cho Tề Hoàn-công hay.
Tề Hoàn-công tuy cũng có động
lòng nhưng không lấy thế làm buồn bã.
Lúc bấy giờ, mọi việc trong nước Tề
Hoàn-công đều giao cho Quản Trọng gánh vác, còn mình chỉ uống rượu, hoặc săn bắn
để hưởng lạc.
Một hôm, Tề Hoàn-công đi săn nơi
Đại-trạch, có Thụ Điêu theo hầu.
Bỗng Thụ Điêu thấy Tề Hoàn-công mặt
mày ngơ ngác, đôi mắt chăm chăm, đứng nhìn sững về một hướng. Thụ Điêu lấy làm
lạ, hỏi:
- Chúa công nhìn thấy gì vậy?
Tề Hoàn-công nói:
- Ta vừa trông thấy một giống ma quỷ,
hình thù rất ghê sợ vụt chốc lại biến đi mất, chắc là điềm không tốt.
Thụ Điêu nói:
- Ma quỷ thuộc về âm, lẽ nào lúc
ban ngày lại hiện lên được?
Tề Hoàn-công nói:
- Ngày trước tiên-quân ta cũng đi
săn trong lúc ban ngày, thấy beo mà bỏ mạng. Ngươi mau mời Trọng-phụ ra đây ta
hỏi.
Thụ Điêu nói:
- Quản Trọng làm gì biết được
chuyện ma quái?
Tề Hoàn-công nói:
- Ngày trước đi đánh Cô-trúc, Quản
Trọng đã đoán biết được thần Du-nhi, thì ắt cũng biết đưa giống ma quỷ chớ chẳng
không.
Thụ Điêu thưa:
- Trước kia Chúa công tả hình
dáng thần Du-nhi nên Quản Trọng phỏng theo đó nói càn, để Chúa công an lòng đi
đánh Cô-trúc. Nay Chúa công muốn thử tài Quản Trọng, Chúa công đừng nói rõ hình
dáng, nếu Quản Trọng biết được mới thực là thánh.
Tề Hoàn-công nghe lời thu quân trở
về. Tối hôm đó vì quá sợ sệt nên Tề Hoàn-công sanh bệnh sốt. Rạng ngày, các
quan chầu chực đủ mặt để vấn an. Tề Hoàn-công hỏi Quản Trọng:
- Hôm qua nơi Di-trạch, ta thấy một
giống ma quỷ hiện lên, chẳng hay khanh có biết được đó là giống gì chăng? Hình
dáng ra sao?
Quản Trọng không biết trả lời
sao, xin hẹn lại để suy xét. Thụ Điêu tủm tỉm cười bước đến nói với Tề
Hoàn-công:
- Tôi đã biết Quản Trọng không phải
là vị thánh.
Tề Hoàn-công mỗi ngày một đau nặng.
Quản Trọng rất lo lắng sai người yết bảng khắp nơi, hễ ai biết mà nói được hình
dáng giống ma quỷ mà Tề Hoàn-công đã thấy thì được trọng thưởng.
Yết bảng chưa được ba ngày, có một
người mặc áo rách, đội nón mê, xin vào yết kiến. Quản Trọng cho vào hỏi:
- Ngươi biết được hình dáng ma quỷ
sao?
Người ấy thưa:
- Không có giống ma quái nào tôi
không thạo. Xin ngài cho tôi được phép vào yết kiến Chúa công.
Quản Trọng vội vã đưa vào cung,
giữa lúc Tề Hoàn-công đang ngồi trên long sàng, có hai thị-nữ đấm bóp và Thụ
Điêu đang dâng nước trà. Quản Trọng thưa:
- Có người nói được hình dáng ma
quái, tôi đã đem đến đây, xin Chúa công cho phép yết-kiến.
Tề Hoàn-công cho vào. Người ấy
quì móp trước long sàng, cúi đầu thi lễ. Thấy người áo rách, nón mê, Tề
Hoàn-công có ý khinh dễ, hỏi:
- Một kẻ quê mùa như ngươi lại có
thể biết được chuyện ma quái sao?
Người ấy tâu:
- Chúa công gặp ma quái nơi đâu?
Tề Hoàn-công nói:
- Ta thấy giống ấy nơi Đại-trạch,
lúc ban ngày.
Người ấy nói:
- Chúa công tự làm hại lấy mình,
chứ ma quái đâu có làm hại được Chúa công.
Tề Hoàn-công hỏi lớn:
- Nhà ngươi bảo rằng không có ma
quái sao?
Người ấy tâu:
- Hạ thần vẫn cho là có ma quái,
như ở dưới nước có giống Võng-tượng, ở gò thì có giống Trăn, ở núi thì có giống
Quỷ, ở đồng bằng thì có giống Bàng-hoàng, còn nơi Đại-trạch thì chỉ có giống Uy-đà
mà thôi.
Tê hoàn-công hỏi:
- Giống Uy-đà hình dáng thế nào?
Người ấy thưa:
- Giống Uy-đà to lớn như người, mặc
áo đỏ đội mũ đỏ. Giống ấy sợ tiếng xe chạy. Hễ nghe tiếng xe chạy rầm rĩ thì ôm
đầu mà đứng. Ai trông thấy giống ấy tất dựng nên nghiệp bá đặng.
Tề Hoàn-công nghe xong, vùng đứng
dậy, nét mặt tươi tỉnh, không còn đau đớn gì cả, nói:
- Chính ta đã thấy giống ấy, nhà
ngươi tên gì ở đâu mà lại có tài xét đoán như vậy?
Người ấy nói:
- Tôi tên Hoàng-tử, một kẻ nông
phu sống nơi cõi Tây nước Tề.
Tề Hoàn-công nói:
- Nhà ngươi ở đây ta sẽ phong cho
nhà ngươi làm chức Đại-phu.
Hoàng-tử từ chối, nói:
- Tôi không muốn làm quan, chỉ
mong Chúa công sửa sang chính trị, trừ gian diệt nịnh, làm cho nước mạnh dân
giàu, khiến cho tôi được yên nghiệp làm ăn là tôi mãn nguyện rồi.
Tề Hoàn-công khen là người cao
sĩ, ban cho thóc lúa, rồi sai người đến tận nhà viếng thăm. Lại thưởng cho Quản
Trọng rất hậu.
Thụ Điêu nói:
- Hoàng-tử nói được chứ Quản Trọng
có nói được đâu mà Chúa công trọng thưởng?
Tề Hoàn-công nói:
- Nếu không có Trọng-phụ thì sao
ta được nghe lời nói của Hoàng-tử.
Thụ Điêu không dám nói nữa.
Lúc bây giờ, nước Vệ bị nước Bắc-địch
đem quân xâm chiếm. Vệ Ý-công sai sứ sang Tề cầu cứu. Tề Hoàn-công nói:
- Quân ta mới đi đánh Sơn-nhung vừa
rồi, hãy còn mệt mỏi, quân lực chưa dùng đặng. Nếu nước Vệ thấy nguy cấp nên cầu
viện ở nước khác. Sứ nước Vệ nghe Tề Hoàn-công nói, buồn bã ra về.
Cuối năm ấy, có quan Đại-phu nước
Vệ là Ninh Tốc sang Tề báo tin Vệ Ý-công đã bị quân Bắc-địch giết, nay phải
sang đón Công tử Hủy về nước nối ngôi.
Tề Hoàn-công hay tin, thở dài,
nói:
- Không sang cứu nước Vệ kịp thời
là lỗi tại ta!
Giống chim này tính ưa sạch sẽ,
hình dung đã tao nhã lại hát hay, múa khéo.
Người trong nước thấy vua ưa
thích, đua nhau bắt chim hạc đem đến dâng rất nhiều. Hễ chim nào tốt thì được Vệ
Ý-công phong hàm phẩm, cấp lương bổng, chim nào đẹp thì được ăn lộc Đại-phu,
xem như một triều đình chim hạc.
Mỗi khi Vệ Ý-công đi chơi đâu
trên các cỗ xe loan, chim hạc đậu bao quanh, gọi là Hạc tướng quân. Các người
nuôi hạc lúc bấy giờ ăn lương rất hậu. Triều đình phải thâu thuế của dân thật nặng,
để đủ tiền cấp lương cho hạc.
Lúc bấy giờ việc triều chính do
tay Thạch Kỳ con cháu Thạch Thác và Ninh Tốc đảm đương.
Hai người này là hai tôi trung liệt
đã nhiều lần can gián nhưng Vệ Ý-công không nghe.
Công tử Hủy là thứ huynh của Vệ Huệ-công,
thấy cháu mình như vậy, biết nước Vệ một ngày nào đó tất sanh biến, bỏ sang nước
Tề cư ngụ.
Tề Hoàn-công chọn con gái dòng
Tôn-thất gả cho, rồi cho ở luôn bên nước Tề.
Nước Vệ sang trong tình trạng ngoắc
ngoải ấy mãi cho đến lúc quân Bắc-địch đến xâm lấn bờ cõi. Bắc-địch là một nước
cường thịnh, lâu nay có ý xâm chiếm Trung-nguyên, vừa rồi lại nghe Tề Hoàn-công
đi đánh Sơn-nhung lấy làm tức tối. Vua nước Bắc-địch là Sưu-man, vỗ án hét:
- Quân Tề đem quân đi đánh
Sơn-nhung là có ý khinh dễ nước ta lắm, nếu không nghĩ cách mà trị trước, ắt
quân Tề còn dễ ngươi nữa.
Nói xong, kéo binh sang đánh nước
Hình.
Tề Hoàn-công toan đem binh sang cứu
nước Hình, thì quân Bắc-địch lại kéo sang đánh nước Vệ.
Lúc ấy, Vệ Ý-công đang sai người
đẩy xe chim bạc đi chơi, nghe báo có quân Bắc-địch đến đánh thất kinh, hạ lệnh
gọi quân đi đánh giặc.
Dân nước Vệ bỏ trốn cả, không ai
dám ra đi lính. Vệ Ý-công sai quan Tư đồ đi bắt khắp nơi mới được hơn một trăm
người đem về tra hỏi. Dân nước Vệ thưa:
- Chúa công chỉ dùng một giống vật
cũng đủ đẹp được quân Bắc-địch, hà tất phải gọi lính làm gì?
Vệ Ý-công hỏi:
- Giống vật gì lại có thể đuổi được
giặc?
Dân nước Vệ thưa:
- Giống chim hạc!
Vệ Ý-công quát mắng:
- Giống chim hạc làm thế nào mà
đánh giặc, các ngươi đám dùng lời khi quân như thế sao?
Dân nước Vệ vẫn không sợ sệt,
đáp:
- Chim hạc không đánh được giặc,
thì đó là vật vô dụng thế mà Chúa công đã dùng vật vô dụng cho hưởng ơn vua lộc
nước, còn kẻ hữu dụng lại bỏ đi như vậy làm sao trong cơn hữu sự dân chúng
không bỏ trốn?
Vệ Ý-công tỉnh ngộ, dịu giọng
nói:
- Nay ta đã hối lỗi. Ta sẽ theo ý
dân đuổi hết chim hạc đi.
Thạch Kỳ tâu:
- Xin Chúa công thực hành ngay ý
định ấy. Tôi e bây giờ đã trễ lắm!
Vệ Ý-công tức khắc sai người đi
đuổi chim hạc, nhưng chim hạc lâu nay được nuôi nấng, quen nơi ăn, chốn ở nên cứ
quanh quẩn mãi trong cung không chịu bay đi.
Thạch Kỳ và Ninh Tốc thân hành ra
đứng giữa chợ, giảng dụ dân chúng, nói rõ lòng hối hận của Vệ Ý-công, dân chúng
mới chịu nhập vào quân ngũ.
Thì, lúc đó giặc Bắc-địch đã kéo
đến đất Huỳnh-Trạch rồi.
Thạch Kỳ bàn với Vệ Ý-công:
- Quân Bắc-địch mạnh lắm, chớ
khinh thường. Tôi xin sang nước Tề cầu cứu, nhờ binh Tề giúp sức mới xong.
Vệ Ý-công nói:
- Ngày trước Tề phụng mệnh
Thiên-tử đem binh chinh phạt nước ta. Dẫu không bắt tội, nhưng từ ấy đến nay ta
chưa sang tạ tội, nay chắc gì Tề chịu đem binh đến giúp. Chi bằng ta liều quyết
chiến với Bắc-địch một phen rồi sẽ liệu.
Ninh Tốc tâu:
- Nếu vậy xin Chúa công lo bảo vệ
thành trì, để tôi đem quân ra quyết chiến cho.
Vệ Ý-công nói:
- Nếu ta không thân hành ra trận,
lòng quân không cởi mở được căm hờn.
Nói xong, trao cho Thạch Kỳ một
cái ngọc-quyết và dặn:
- Ta giao việc nước cho khanh,
hãy ráng vì ta mà tận tâm.
Lại giao cho Ninh Tốc một mũi
tên, rồi nói tiếp:
- Khanh khá lo việc giữ thành. Nếu
không đánh được quân. Bắc-địch ta thề không trở về.
Thạch Kỳ và Ninh Tốc đều ứa nước
mắt nhìn Vệ Ý-công nghẹn ngào không nói được nửa lời.
Vệ ý Công cùng với tướng Cừ Khổng
khai thành, kéo quân đi.
Tuy Vệ Ý-công đã ăn năn, nhưng
lòng dân oán hận chưa nguôi. Lúc đi đường, quân lính hát lên nhiều câu ngập
tràn uất ức. Hát rằng:
Lầu son bát ngát!
Chim hạc ăn lương!
Đồng rẫy ruộng nương
Dân thường lo cày cấy!
Hạc lại chơi bay nhảy
Xuống ngựa lên xe!
Dân khổ cực trăm bề
Khi hữu sự, bắt lê ra chiến trận
Đi phen này số phận mong manh
Vệ Ý-công nghe hát, lòng buồn rũ
rượi. Khi đến đất Huỳnh-Trạch trông thấy quân Bắc-địch ngựa xe lộn xộn, hàng
ngũ không chỉnh tề, Cừ Khổng nói:
- Quân lực Bắc-địch như vậy mà bảo
rằng mạnh thì thật là lầm to.
Nói xong giục trống cho quân sĩ giáp
chiến.
Quân Bắc-địch giả thua bỏ chạy, dụ
quân Vệ đến chổ phục quân, đổ ra đánh.
Quân Vệ vốn không cố lòng đánh giặc,
thấy quân Bắc-địch quá mạnh hè nhau bỏ trốn.
Vệ Ý-công và Cừ Khổng bị quân Bắc-địch
vây vào giữa rất ngặt.
Cừ Khổng nói với Vệ Ý-công:
- Tình thế rất hiểm nghèo, xin Chúa
công bỏ cờ hiệu, thay đổi y phục rồi xuống xe mà chạy, may ra mới thoát được.
Vệ Ý-công thở dài nói:
- Ta thà liều chết để tạ tội với
bá tánh còn hơn!
Quân Bắc-địch vây mỗi lúc một dày
thêm, các tướng Vệ lần lượt bỏ mạng, quân sĩ chết không biết bao nhiêu mà kể,
máu tuôn như suối. Vệ Ý-công cầm cự đến phút cuối cùng rồi cũng chết trong đám
loạn quân.
Quân Bắc-địch bắt sống được Hoa Long
Hoạt và Lễ Không, giữ chức Thái-sử, theo Vệ Ý-công hộ giá. Chúa nước Bắc-địch
là Sưu Man truyền đem chém.
Hai người này vốn biết tinh thần
tín ngưỡng của người Bắc-địch, nên lập kế nói dối:
- Các ngươi không muốn chiếm nước
Vệ hay sao mà chém chúng ta.
Sưu Man hỏi:
- Để chúng bay mà làm gì?
Hoa Long Hoạt nói:
- Ta đây làm chức Thái-sử, giữ việc
cúng tế. Nếu sống ta sẽ vì các ngươi mà cáo trước với thần linh, nhờ thần linh
giúp sức thì mới chiếm nước được.
Sưu Man tin thực, tha cho hai người
lên xe về thành.
Lúc ấy Ninh Tốc đang tuần phòng
trên mặt thành thấy Hoa Long Hoạt và Lễ Không hơ hải chạy về, thất kinh hỏi lớn:
- Chúa công đâu?
Hoa Long Hoạt và Lễ Không nói:
- Quân ta tan vỡ, Chúa công bỏ
mình rồi! Quân giặc mạnh lắm, hãy mau lánh nạn kẻo trễ!
Ninh Tốc mở cửa thành cho hai người
vào.
Lễ Không vào thành. Vừa khóc vừa
nói:
- Lúc ra đi có Chúa công, lúc trở
về có một mình. Âu là ta chết theo Chúa công còn hơn.
Nói xong, rút gươm đâm vào cổ tự
vận.
Hoa Long Hoạt nói:
- Ta làm chức Thái-sử, giữ sổ bộ,
không nên liều mình bỏ sách sử thất lạc.
Liền vào nhà Thái-miếu ôm tất cả
sách sử đem ra.
Thạch Kỳ và Ninh Tốc đưa cung quyến
của Vệ Ý-công và Công tử Thân đi trốn. Hoa Long Hoạt cũng ôm sổ sách đi theo.
Dân chúng nước Vệ hay tin hai
quan Đại-phu Thạch Kỳ, Ninh Tốc đã bỏ trốn, đều bồng con, dắt vợ bỏ nhà ra đi,
tiếng kêu khóc rất thảm thiết.
Hay tin thành nước Vệ bỏ trống,
quân Bắc-địch kéo vào, một mặt đốt phá cung thất, vơ vét của cải, giết người cướp
của, một mặt cho tướng theo Thạch Kỳ và Ninh Tốc truy nã.
Thạch Kỳ và Ninh Tốc chạy đến
sông Hoàng hà hay tin quân Bắc-địch đuổi theo, lòng kinh hãi, tưởng không trốn
thoát, may nhờ có đạo quân nước Tống kéo đến, chận quân Bắc-địch lại, hai người
mới kịp xuống đò sang sông lánh nạn.
Quân Bắc-địch, sau khi tàn phá
Kinh-thành nước Vệ, thu góp vàng bạc, thóc lúa, rồi kéo binh về nước, để lại một
cảnh điêu tàn, tang tóc, thê lương.
Giữa lúc đó có quan Đại-phu nước
Vệ là Hoằng Diễn, khi trước lãnh mạng Vệ Ý-công sang sứ nước Trần, nay trở về
thấy nước Vệ đã bị quân Bắc-địch phá tan-tành, lại nghe Vệ Ý-công bị tử chiến
nơi Huỳnh-trạch, lòng đau xót, vội vã đến Huỳnh-trạch để tìm xác Vệ Ý-công.
Dọc đường, Hoằng Diễn chạy đâu
đâu cũng đầy những xác chết và máu me tanh hôi không thể tả. Đến Huỳnh-trạch,
Hoằng Diễn xông vào các đống xác chết kiếm tìm. Chợt thấy cây cờ hiệu bỏ dưới đất,
Hoằng Diễn mừng thầm, nói:
- Cờ hiệu nơi đây, ắt xác Chúa
công không đâu xa.
Bèn tiến đến hai bước.
Bỗng nghe trong đống thịt người lại
có tiếng rên rỉ, Hoằng Diễn bới lên xem, thì thấy một người nội thị chưa chết,
bị gãy cả chân tay, đang nằm ở đây. Hoằng Diễn hỏi:
- Ngươi có biết Chúa công chết chỗ
nào chăng?
Người nội-thị hắt hàm qua một bên
nói:
- Đây là đống thịt của Chúa công.
Quân giặc bằm nhỏ ra chính mắt tôi trông thấy. Vì vậy dầu bị gãy cả tay chân,
tôi vẫn cố nằm nơi đây, đợi người nước Vệ đến mà chỉ.
Hoằng Diễn rơi lệ, hai tay bới đống
thịt đã tan nát từng mảnh, chỉ tìm được một buồng gan còn nguyên vẹn mà thôi. Bèn
để buồng gan trước mặt vừa lạy vừa khóc.
Lạy xong, Hoằng Diễn nói:
- Nay Chúa công ta bỏ xác như vầy
không lấy gì mai táng. Vậy ta hy sinh tấm thân của ta làm áo quan mà tẩm liệm
cho Chúa công.
Nói xong quay lại bảo tên gia
nhân:
- Sau khi ta chết, ngươi đem chôn
ta vào khu vườn này, đợi lúc nào nước Vệ có vua mới, hãy tường trình câu chuyện
này lại.
Đoạn cầm dao mổ bụng xách buồng
gan của Vệ Ý-công bỏ vào.
Được một lúc thì chết.
Tên gia nhân tuân lời dặn, đem Hoằng
Diễn mai táng trong rừng, rồi sửa chữa một chiếc xe hư, đưa người nội thị về
thành để dò xét tin tức trong nước.
Lúc đó, Thạch Kỳ và Ninh Tốc đã
chiêu tập được một số dân chúng, đưa Công tử Thân vệ lập lên ngôi, tức là Vệ Đái-công.
Nhưng Vệ Đái-công trước đây bị bệnh,
lên ngôi được có mấy hôm thì từ trần.
Ninh Tốc phải sang nước Tề triệu Công
tử Huỷ về kế vị.
Tề Hoàn-công sai Công tử Vô Khuyết
đem quân hộ tống Công tử Hủy trở về, tôn lên ngôi, tức là Vệ Văn-công.
Vệ Văn-công vừa lên ngôi, được
nghe câu chuyện Hoằng Diễn mổ bụng làm áo quan để chôn buồng gan Vệ Ý-công,
lòng rất cảm động, cho người đến Huỳnh-trạch dùng vương lễ mai táng Vệ Ý-công,
rồi phong cho Hoằng Diễn và dùng con cháu Hoằng Diễn ra làm quan.
Vệ Văn-công tính tinh cần mẫn,
tuy làm vua vẫn đội mũ lụa xấu, mặc áo vải, ăn cơm đỏ canh rau, lại siêng năng
chăm lo việc liêm chính. Vì vậy, chẳng bao lâu dân tình bớt khốn đốn.
Công tử Vô Khuyết cho ba ngàn
quân đến trấn tại Tào ấp để phòng giữ quân giặc, rồi trở về nước Tề, kể lại đạo
đức của Vệ Văn-công và thuật lại chuyện Hoằng Diễn mổ bụng chôn vua cho Tề
Hoàn-công nghe.
Tề Hoàn-công khen:
- Một ông vua vô đạo mà có được bề
tôi trung nghĩa như vậy thì nước Vệ chưa đến nỗi mất.
Quản Trọng thưa:
- Nay bắt quân sĩ đóng đồn phòng
thủ cho nước Vệ thì khổ nhọc lắm, chi bằng đắp cho nước Vệ một cái thành, tuy
khó nhọc một lần, song yên ổn mãi mãi.
Tề Hoàn-công y lời, toan hội chư
hầu sang đắp thành cho nước Vệ.
Bỗng có sứ nước Hình đến cáo-cấp,
nói quân Bắc-địch lại kéo đến đánh, xin cho quân cứu viện.
Tề Hoàn-công hỏi Quản Trọng:
- Ta có nên cất binh đi cứu nước
Hình chăng?
Quản Trọng thưa:
- Sở dĩ chư hầu phục ta là vì nước
ta hay cứu vớt tai nạn các nước khác. Nay đã không cứu Vệ, lại không cứu Hình nữa
thì làm sao gọi là bá chủ.
- Thế thì bây giờ nên đi đắp
thành cho nước Vệ, hay đi cứu nước Hình trước?
Quản Trọng nói:
- Cứu binh như cứu lửa, không nên
duyên trì. Cứu xong nước Hình, rồi nhân tiện, đến đắp thành cho nước Vệ thì được
lưỡng toàn.
Tề Hoàn-công khen phải, truyền hịch
cho các chư hầu, hội nơi đất Nhiếp-bắc để cùng nhau đánh quân Bắc-địch.
Quản Trọng lại thưa với Tề
Hoàn-công:
- Quân nước Bắc-địch vừa thắng nước
Vệ, thế quân đang mạnh lắm. Còn nước Hình cầu cứu, song quân lực chưa phải suy
yếu. Nay ta đợi cho hai bên giáp chiến đã. Nước Hình dẫu thua trận, thì quân Bắc-địch
lúc đó cũng mệt mỏi. Ta thừa thế kéo binh đến đánh, ắt dễ thắng hơn.
Tề Hoàn-công nghe theo lời, đem
binh đến nơi Nhiếp-bắc, giả cách chờ đợi binh các nước chư hầu, rồi sai người
do thám tin tức nước Hình.
Quân Bắc-địch đang lúc hung hăng,
ngày đêm công thành.
Nước Hình cự không nổi, vua tôi bỏ
chạy tán loạn.
Chúa nước Hình là Thúc Nhan chạy
đến trại Tề Hoàn-công cầu cứu.
Tề Hoàn-công nói:
- Tôi không đến Quý-quốc kịp, thật
có lỗi lớn.
Nói xong, họp các chư hầu bàn mưu
phá giặc.
Vua Bắc-địch là Sưu Man chiếm được
kinh thành nước Hình, vơ vét của cải, đốt phá cung điện, lòng tham đã mãn nguyện,
không còn thiết gì nữa, lại nghe quan các nước chư hầu sắp sửa kéo đến, vội vã
rút quân về.
Vì vậy khi các nước chư hầu đến
thì chỉ còn vườn không nhà trống, cung điện hoang tàn mà thôi.
Tề Hoàn-công hỏi Thúc Nhan:
- Thành cũ còn có thể ở tạm nữa
được chăng?
Thúc Nhan thưa:
- Dân chúng đã bỏ đi quá nửa, đến
trú ngụ nơi Di-nghi, bây giờ tôi phải theo ý dân, dời đô sang Di-nghi mới được.
Tề Hoàn-công hội chư hầu, giúp
vua nước Hình xây đắp thành lũy nơi Di-nghi, và cấp cho trâu bò, lúa thóc rất
nhiều.
Vua nước Hình mến đức, ca tụng chẳng
cùng.
Tề Hoàn-công lại đem quân các chư
hầu sang nước Vệ. Vệ Văn-công ra khỏi thành nghênh tiếp. Tề Hoàn-công thấy Vệ
Văn-công đội mũ lụa xấu, mặc áo vải thô, lòng thương xót, hỏi:
- Tôi nhờ các chư hầu đến giúp
cho Quý-quốc xây thành, đắp lũy chẳng hay Quý-quốc muốn đóng đô nơi nào?
Vệ Văn-công thưa:
- Tôi đã chọn đất Sở-khâu là nơi
cát địa, có thể đóng đô được, song việc xây cất thành quách tổn phí lắm, không
thể nào làm nổi.
Tề Hoàn-công nói:
- Việc đó đã có tôi và các nước chư
hầu giúp sức, xin hiền-hầu chớ lo.
Nói xong, truyền các nước chư hầu
đền đất Sở-khâu, đốc suất việc xây thành đắp lũy cho nước Vệ.
Tiếng đồn vang đến nước Sở.
Sở Thành-vương Hùng-vận từ khi
dùng Tử Văn Đấu-cấu Ô-đồ làm Tể-tướng, chăm lo sửa sang chính-trị trong nước,
mưu việc bá-chủ chư hầu, nay nghe Tề Hoàn-công cứu nước Hình, giúp nước Vệ khiến
các chư hầu mến phục, lòng áy náy không an.
Một hôm hỏi Tử Văn:
- Hiện nay các chư hầu đều quy
thuận nước Tề, không biết đến nước Sở, ta thật lấy làm xấu hổ, khanh có ý chi
chăng?
Tử Văn tâu:
- Tề-hầu sửa sang việc quốc-chính
đã hơn ba mươi chín năm, các chư hầu đều tin phục. Ta khó địch nổi với Tề. Bây
giờ xin Đại-vương mở mang bờ cõi, thu phục nhân tâm, chuẩn bị lực lượng để ngày
sau cùng với Tề đối địch.
Sở Thành-vương nói:
- Mở rộng bờ cõi bằng cách nào?
Tử Văn thưa:
- Nay có nước Trịnh, nằm vào giữa
Nam, Bắc, làm tấm bình phong che đỡ cho các nước Trung-nguyên. Nếu Đại-vương muốn
mở mang bờ cõi tất phải đánh lấy Trịnh mới được.
Sở Thành-vương nói:
- Có ai vì ta ra sức đảm đương việc
đánh Trịnh chăng?
Quan Đại-phu Đấu Chương bước ra
xin đảm nhận.
Sở Thành-vương cấp cho ba vạn
binh hùng, khiến Đấu Chương thẳng đường kéo sang nước Trịnh.
Nước Trịnh từ khi bị nước Sở sang
quấy nhiễu ở đất Thuần-môn, ngày đêm có ý đề phòng, nay nghe binh Sở kéo đến nữa,
Trịnh Văn-công sợ hãi, một mặt sai tướng tăng cường việc phòng thủ Thuần-môn, một
mặt sai sứ sang Tề cáo cấp.
Tề Hoàn-công hay tin hội các chư
hầu bàn mưu cứu Trịnh.
Đấu Chương kéo quân đến Thuần-môn,
thấy quân Trịnh đề phòng cẩn mật, lại hay tin các chư hầu hiệp binh đến cứu liệu
thế không làm gì được phải kéo binh về.
Sở Thành-vương hay được Đấu
Chương chưa đánh đã lui binh tức giận, rút thanh gươm đeo mình đưa cho Đấu Liêm,
bảo đi chém đầu Đấu Chương.
Đấu Liêm là anh Đấu Chương nên
khi được lệnh lòng phân vân, giấu mật lệnh vào mình, không cho ai biết, rồi lén
đến cùng với Đấu Chương thương nghị.
Đấu Liêm nói:
- Em đã trái lệnh vua không tránh
khỏi tội. Nay phải tìm cách lập công chuộc tội mới được.
Đấu Chương sụp lạy nói:
- Nếu anh tưởng tình đến em, xin
anh bày kế cho.
Đấu Liêm nói:
- Nước Trịnh thấy em kéo binh về
tất không còn đề phòng nữa. Nay em phải lập tức đến đó xuất kỳ bất ý đánh một
trận, may thắng đặng.
Đấu Chương vâng lời chia quân làm
hai đạo kéo đi trước.
Còn Đấu Liêm theo sau tiếp ứng.
Quan giữ thành nơi biên giới nước
Trịnh là Đam Bá, từ lúc thấy quân nước Sở không đánh mà rút về, có ý trễ biếng.
Bất ngờ nay Đấu Chương lại kéo đến nữa không còn để phòng kịp, bị Đấu Chương
hãm thành bắt sống trên lưng ngựa, còn quân sĩ chết hơn quá nửa. Thừa thắng, Đấu
Chương kéo quân thẳng đến vây thành nước Trịnh.
Được hai ngày, Đấu Liêm bàn với Đấu
Chương:
- Ta chỉ cốt lập công để chuộc tội
chết, nay thắng trận như vầy cũng đã đủ, không nên khinh thường đóng quân trên
đất địch lâu.
Hai anh em liền rút quân về.
Đấu Chương vào yết kiến Sở
Thành-vương và tâu:
- Khi trước tôi lui binh về cốt
là để lập mưu đánh lừa giặc chứ không có ý khi quân hay sợ giặc xin Đại-vương
xét lại.
Sở Thành-vương nói:
- Ngươi đã thắng giặc, bắt được
tướng Trịnh, tội ấy có thể dung tha. Nhưng tại sao nước Trịnh chưa chịu đầu
hàng mà ngươi đã kéo binh về?
Đấu Chương nói:
- Tôi sợ quân ít, không đánh nổi
nước Trịnh làm tổn thương đến uy danh nước Sở nên phải rút binh về.
Sở Thành-vương nổi giận hét:
- Nếu đổ thừa cho quân ít thì quả
ngươi đã sợ giặc rồi! Nay ta cấp thêm quân cho ngươi, nếu không đánh được nước
Trịnh thì đừng thấy mặt ta nữa.
Đấu Liêm bước tới, quỳ tâu:
- Xin Đại-vương cho anh em tôi
cùng đi. Nếu nước Trịnh không chịu đầu hàng chúng tôi xin đem đầu Chúa Trịnh về
nạp cho Đại-vương.
Sở Thành-vương nhậm lời, phong
cho Đấu Liêm làm Đại-tướng, Đấu Chương làm phó tướng, cấp cho mỗi người năm vạn
binh ròng kéo thẳng đến nước Trịnh.
Trịnh Văn-công hay được tin Đam
Bá bị bắt, lại nghe quân Sở ồ ạt kéo đến nữa, hoảng hốt, sai sứ sang nước Tề cầu
cứu.
Quản Trọng thưa với Tề Hoàn-công:
- Mấy năm qua, Chúa công đã giúp
nước Yên, cứu nước Lỗ, lại xây thành đấp lũy cho nước Hình và Vệ. Vậy ngày nay
Chúa công có thể dùng quân các nước ấy để đánh Sở được. Mà đánh Sở tức là cứu
Trịnh vậy.
Tề Hoàn-công nói:
- Nếu hội các chư hầu đánh Sở, nước
Sở hay được tất phòng bị trước, thì khó thắng.
Quản Trọng nói:
- Nước Sái là một nước nhỏ, tiếp
giáp với Sở, trước kia có lỗi với Chúa công. Nay Chúa công mượn tiếng ấy đi
đánh Sái, rồi kéo binh qua đánh Sở, thì nước Sở không phòng bị kịp.
Nguyên trước đây Sái-hầu có em
gái là Sái Cơ, đem gả cho Tề Hoàn-công làm đệ tam phu nhân. Một hôm, Tề Hoàn-công
cùng với Sái Cơ chèo thuyền du ngoạn nơi ao sen, Sái Cơ đùa bỡn, lấy tay khuấy
nước làm tung vào mặt Tề Hoàn-công. Tề Hoàn-công phải tránh né mãi. Sái Cơ biết
Tề Hoàn-công sợ nước, mới cố ý làm cho thuyền lay động, nước bắn vào ướt áo.
Tề Hoàn-công nổi giận mắng:
- Tiện-tỳ, mi dám vô lễ với ta đến
thế ư?
Nói xong sai Thụ Điêu đuổi Sái Cơ
về nước.
Sái-hầu thấy vậy giận lắm, nói:
- Ta đã gả em gái cho, mà còn xử
bạc, xua đuổi. Thế thì còn tình nghĩa gì nữa.
Sái hầu đem Sái Cơ gả cho Sở
Thành-vương lập làm phu nhân.
Từ ấy, Tề Hoàn-công đem lòng căm
giận Sái-hầu.
Nay nghe Quản Trọng nhắc đến, Tề
Hoàn-công nói:
- Sái và Sở đáng phải trừng trị.
Nay có nước Giang và nước Hoàng, cũng tiếp giáp với Sở, bị nước Sở quấy nhiễu
đem lòng căm phẫn. Ta muốn cùng với hai nước ấy thề ước, và nhờ làm nội ứng phỏng
có nên chăng?
Quản Trọng bàn rằng:
- Nước Giang và Hoàng là hai nước
ở xa Tề lại gần Sở. Nếu quy thuận nước ta tất nước Sở giận, kéo quân sang đánh.
Chừng đó ta đến cứu thì quá xa xôi, bằng không đến cứu, mang tiếng với chư hầu,
chi bằng liên kết với nước khác là hơn.
Tề Hoàn-công nói:
- Dẫu xa xôi, nhưng họ có lòng
hâm mộ về với mình, lẽ nào lại từ chối để cho họ phải thất vọng!
Quản Trọng nói:
- Nếu Chúa công không nghe lời
thì cứ xin ghi lấy lời tôi nói, sau này sẽ thấy điều lợi hại.
Tề Hoàn-công sai mời nước Hoàng
và nước Giang đền giao hòa, rồi cùng hai nước ăn thề, họp binh đánh Sở.
Vua nước Giang và nước Hoàng bàn
với Tề Hoàn-công:
- Lâu nay nước Thư vốn giúp cho
nước Sở thi hành nhiều điều tàn ác. Ấy vậy, nên đánh nước Thư trước để chặt vây
cánh.
Tề Hoàn-công y lời viết một phong
thư sai người đem đến nước Từ. Nước Từ vốn là một nước tiếp giáp với nước Thư.
Vua nước Từ gả con gái cho Tề Hoàn-công làm đệ nhị phu nhân, lâu nay vẫn tùng
phục nước Tề, nên nay Tề Hoàn-công khiến hưng binh sang đánh nước Thư. Vua nước
Từ được lệnh hưng binh.
Chẳng bao lâu lấy được nước Thư.
Tề Hoàn-công bảo vua nước Từ đóng
quân ở Kinh-thành Thư, phòng khi cấp biến.
Giữa lúc đó, Tề Hoàn-công lại tiếp
sứ nước Lỗ sang thương nghị.
Sứ nước Lỗ là Quý Hữu vào ra mắt
và tâu:
- Nước tôi có hiềm khích nước
Châu và nước Cử, nên trước đây không sang đắp thành cho nước Vệ và nước Hình.
Nay nghe tin Quý quốc hội với nước Giang và Hoàng, sắp sửa tranh chiến, Chúa
công tôi xin đem binh giúp sức.
Tề Hoàn-công nghe nói, mừng rỡ
đem việc đánh Sở mật ước với Lỗ.
Lúc bấy giờ nước Sở đang đem quân
xâm chiếm nước Trịnh, vây thành rất ngặt.
Trịnh Văn-công muốn xin giảng hòa
để cứu dân nước khỏi cảnh lầm than.
Quan Đại-phu Khổng Thúc can:
- Xin Chúa công hãy chậm rãi. Nước
Tề đang chuẩn bị đánh Sở, mục đích để cứu Trịnh. Ta nên cố thủ chờ xem.
Trịnh Văn-công nghe lời, sai người
cáo cấp với Tề Hoàn-công.
Tề Hoàn-công lập tức hội chư hầu,
mượn cớ đánh Sái, để đem quân phạt Sở.
Tề Hoàn-công phong cho Quản Trọng
làm Đại tướng, lại khiến Thụ Điêu đem quân sang đánh nước Sái trước.
Nước Sái lâu nay vốn cậy Sở không
phòng bị gì cả. Khi thấy Thụ Điêu kéo quân đến, mới vội vàng đem quân chống giữ.
Sái-hầu thấy Thụ Điêu bỗng nhớ lại
Thụ Điêu trước kia là người hầu hạ Sái Cơ trong cung Tề, là một kẻ tiểu nhân,
bèn sai người đem vàng lụa đến cống lễ, để nhờ Thụ Điêu hoãn binh.
Thụ Điêu nhận lễ vật rồi đem các
điều dự tính của Tề Hoàn-công hội chư hầu, trước đánh Sái sau đánh Sở nói cho
nước Sái biết, bảo Sái hầu phải đem gia quyến lánh nạn kẻo bị diệt vong.
Sứ tề tâu lại, Sái-hầu thất kinh,
nội đêm ấy bỏ thành, dắt cung quyến chạy sang nước Sở.
Dân trong thành thấy vua bỏ trốn
tức khắc tìm đường lánh nạn.
Thụ Điêu kéo quân vào thành, sai
người về phi báo với Tề Hoàn-công xưng tụng công lao của mình. Còn Sái-hầu trốn
sang nước Sở. Vào ra mắt Sở Thành-vương thuật lại những lời nói của Thụ Điêu. Sở
Thành-vương biết được mưu kế của Tề Hoàn-công, liền ra lệnh cho quân sĩ canh
phòng khắp nơi cẩn mật.
Lại sai người sang nước Trịnh bão
Đấu Chương rút quân về.
Mấy hôm sau, đại binh của Tề
Hoàn-công kéo đến nước Sái.
Thụ Điêu đem quân ra nghênh tiếp,
bảy nước chư hầu cùng đến một lượt quân bị rất chỉnh tề.
Bảy nước ấy là:
2- Lỗ Hi-công (Thân)
3. Trần Tuyên-công (Xử-Cựu)
4- Vệ Văn-công (Hủy)
5- Trịnh Văn-công (Thiệp)
6.- Tào Chiêu-công (Ban)
7- Hứa Mục-công (Tân-thần)
Bảy nước ấy chịu dưới quyền điều
khiển của Tề Hoàn-công, Tiểu Bạch làm Minh-chủ.
Lúc ấy Hứa Mục-công đang bịnh
nhưng cũng ráng đem quân hội nơi nước Sái. Vì vậy, khi đến nơi, Hứa Mục-công
lâm bịnh nặng bỏ mình.
Tề Hoàn-công cảm tình ấy phong
cho nước Hứa được đứng trên hàng nước Tào.
Đóng quân nơi nước Sái được ba
ngày, an táng Hứa Mục-công xong.
Tề Hoàn-công cử đại binh thẳng đường
kéo qua nước Sở.
Vừa đến biên giới nước Sở, bống
thấy một người mũ áo chỉnh tề khép nép bên đường, cúi chào Tề Hoàn-công hỏi:
- Ngài có phải Tề-hầu chăng? Tôi
là sứ-thần nước Sở, chờ ngài nơi đây đã lâu.
Nguyên người ấy là Khuất Hoàn, hiện
làm quan Đại-phu nước Sở. Nay vâng lệnh Sở Thành-vương đến để thuyết khách.
Tề Hoàn-công lấy làm lạ, hỏi Quản
Trọng:
- Tại sao nước Sở biết được quân
ta đến đây mà cho người ra đón?
Quản Trọng nói:
- Tất có kẻ nào đem mưu kế của ta
tiết lậu cho người nước Sở biết. Tuy nhiên nay đã có thuyết khách của Sở đến
đây, xin Chúa công cho phép tôi dùng đại nghĩa mà nhắn nhủ vài lời, làm cho nước
Sở phải nhục nhã phục tùng, khỏi dùng đến binh lực cũng nên.
Nói xong bước ra tiếp kiến Khuất
Hoàn.
Hai người chắp tay cùng thi lễ.
Khuất Hoàn nói:
- Chúa công tôi hay tin Quý quốc
đem binh đến nên sai tôi thưa với Quý-quốc vài lời. Tề với Sở ai có nước nấy.
Nước Tề ở Bắc-hải, nước Sở ở Nam-hải cách nhau vạn dặm, cớ gì lại đem binh xâm
phạt?
Quản Trọng nói:
- Ngày xưa vua Thành-vương nhà
Châu phong cho Tiên-quân ta nước Tề là Thái-công, có dặn Hễ nước nào không chịu
mệnh nhà Châu, nước Tề có quyền đem binh vấn tội. Từ khi nhà Châu thiên sang
Đông Đô, các nước chư hầu đều chểnh mảng không theo vương lệnh. Chúa ta phụng mệnh
Thiên-triều giữ quyền Minh-chủ. Nay nước Sở bỏ lệ hàng năm cống hiến nhà Châu,
mặc dầu chỉ một xe cỗ thanh-mao mà không giữ lễ. Như thế nước Sở không có lỗi
sao?
Khuất Hoàn nói:
- Từ lúc nhà Châu suy yếu, các nước
đều bỏ lệ triều cống đâu phải riêng gì nước Sở. Nếu Quý-quốc cho đó là một tội
lỗi thì thật là đáng buồn cười.
Nói xong, cười lớn rồi quay xe trở
về.
Quản Trọng nói với Tề Hoàn-công:
- Người nước Sở rất tự cao, tự đắc
không thể dùng lời chinh phục được, phải dùng binh lực để thị uy mới xong.
Tề Hoàn-công truyền các nước tấn
binh, đến đánh nơi Kinh địa.
Sở Thành-vương cũng không nhịn,
phong Tử Văn làm Đại-tướng, đem quân ra đóng nơi đất Hán-nam để chống với quân
các chư hầu.
Tử Văn nói với Sở Thành-vương:
- Quản Trọng là một người giỏi
binh pháp, nay đem quân các nước chư hầu đến đây tất đã có sẵn mưu kế, xin Chúa
công cho một người nữa đến dò xét binh tình rồi sẽ tuỳ liệu.
Sở Thành-vương nói:
- Bây giờ phải sai ai?
Tử Văn nói:
- Khuất Hoàn đã biết mặt Quản Trọng,
vậy cứ sai Khuất Hoàn đi một phen nữa.
Sở Thành-vương chưa có ý kiến, Khuất
Hoàn đã nói:
- Lần trước tôi đã gặp Quản Trọng
nhưng không bàn luận được gì, nay đi nữa cũng chẳng ích chi. Nếu Đại-vương muốn
hoà, tôi sẽ lựa lời đáp ứng, còn nếu muốn đánh, xin Đại-vương sai người khác.
Sở Thành-vương nói:
- Đánh hay hoà là tuỳ ở tình hình
địch quân. Ta giao cho ngươi quyền xét đoán ấy, để định liệu việc nói năng.
Khuất Hoàn phụng mệnh sang trại Tề
thương thuyết.
Tề Hoàn-công lấy lòng đãi sứ Sở
Hội chư hầu nhất dạ phục vua Châu
Khuất Hoàn đến trại Tề xin vào yết
kiến.
Quản Trọng hay được tin, nói với Tề
Hoàn-công:
- Nước Sở sai sứ đến một lần nữa
chắc là xin giảng hoà, Chúa công nên tiếp đãi tử tế.
Tề Hoàn-công cho đòi Khuất Hoàn
vào.
Khuất Hoàn quỳ móp dưới trướng
tâu:
- Chúa công tôi chỉ vì không cống
cỏ thanh-mao, để Quý-quốc nhọc lòng đem quân đến đây thật tội rất lớn. Chúa
công tôi đã biết lỗi, xin Quý-quốc lui binh khỏi ba mươi dặm. Chúa công tôi sẽ
tuân-mệnh.
Tề Hoàn-công nói:
- Nếu vua nước Sở biết giữ bổn phận
ta còn đòi gì nữa mà không rút quân.
Khuất Hoàn lạy tạ lui ra, trở về
thưa lại với Sở Thành-vương:
- Tôi hứa với Tề-hầu, chịu cống
hiến một xe cỏ thanh-mao, và Tề-hầu cũng đã hứa rút quân khỏi ba mươi dặm.
Sở Thành-vương không tin, sai người
đi thám thính.
Bỗng có quân vào báo:
- Quân các nước chư hầu đã rút khỏi
ngoài ba mươi dặm, hiện đóng nơi đất Thiệu-lăng.
Sở Thành-vương nói:
- Tề-hầu chịu rút quân ấy là có ý
sợ ta, ta há lại giữ lời hứa làm chi?
Tử Văn thưa:
- Đại vương chớ nên làm thế! Người
ta không bội tín với mình, mà mình bội tín với họ sao phải.
Sở Thành-vương nín lặng, nét mặt
buồn buồn. Kế đó, sai Khuất Hoàn đem mấy xe vàng lúa đến đất Thiệu-lăng để ban
thưởng cho quân các nước chư hầu, lại sai sửa soạn một xe cỏ thanh-mao đem đến
trình với Tề Hoàn-công để đem vào triều cống Thiên-tử.
Lúc đó, Hứa Mục-công đã qua đời,
con Hứa Mục-công là Hiệp, lên nối ngôi, xưng hiệu Hứa Hi-công.
Hứa Hi-công sai quan Đại-phu Bách
Đà đến hội diện cùng các chư hầu nơi Thiệu-lăng để điều khiển đoàn quân của
mình.
Khuất Hoàn vào yết kiến Tề
Hoàn-công dâng vàng lụa để ban thưởng cho quân sĩ. Tề Hoàn-công đem phân phát
cho các nước. Khuất Hoàn lại dâng cỏ thanh-mao. Tề Hoàn-công xem xong giao trả
cho Khuất Hoàn, sai sứ đem vào triều cống Thiên-tử.
Tề Hoàn-công hỏi Khuất Hoàn:
- Nhà ngươi đã bao giờ được trông
thấy quân lực của các nước Trung-nguyên chưa?
Khuất Hoàn nói:
- Tôi ở nơi xa xôi hẻo lánh về
cõi Nam này, chưa từng thấy những đạo binh hùng mạnh của Trung-nguyên, nếu
Minh-công có hảo-ý, xin cho tôi được xem tường tận.
Tề Hoàn-công liền đưa Khuất Hoàn
đi xem các trại quân của các nước chư hầu.
Bấy giờ quân các nước đóng liền
nhau dài hơn mấy mươi dậm. Mỗi khi trại quân Tề nỗi trống hiệu, các trại chư hầu
đồng ứng tiếng, gióng lên như sấm.
Tề Hoàn-công đắc ý, cười lớn, nói
với Khuất Hoàn:
- Binh lực của các nước
Trung-nguyên ta như thế này đánh đâu mà chẳng thắng.
Khuất Hoàn nói:
- Minh công là bá chủ Trung-quốc,
dùng đạo đức để chinh phục lòng người, dùng đại nghĩa thắng thiên hạ. Cái đó mới
đáng sợ. Chứ như lấy binh lực cậy oai, thì nước Sở tôi, dẫu nhỏ mọn, nhưng có
Phương-thành, có sông Hán-thuỷ, thành cao, hào sâu, dẫu trăm vạn binh hùng, vị
tất đã làm gì nổi!
Tề Hoàn-công nghe nói, có ý hổ thẹn,
bảo Khuất Hoàn:
- Nhà ngươi thật là một hiền sĩ của
nước Sở. Nay ta xin cùng vua nước Sở giữ lấy chức phận của tiên quân ta ngày
xưa, nhà ngươi nghĩ thế nào?
Khuất Hoàn nói:
- Minh-công có lòng nghĩ đến Chúa
công tôi mà giảng-hoà thì còn gì may mắn hơn.
Tề Hoàn-công truyền mở tiệc đãi đằng.
Sáng hôm sau Tề Hoàn-công lập
đàn, để cùng với nước Sở ăn thề và lập điều ước giảng hoà với nhau.
Quản Trọng xin tha cho Đam Bá về
nước Trịnh.
Khuất Hoàn cũng thay mặt Sái-hầu
xin lỗi với Tề Hoàn-công.
Đoạn, hai bên từ giã nhau.
Tề Hoàn-công ra lệnh thu quân về
nước.
Trong khi đi đường, Bão Thúc Nha hỏi
Quản Trọng:
- Nước Sở tiếm xưng vương hiệu, tại
sao Trọng-phụ không đem việc ấy bắt tội khi-quân lại nhận cỏ thanh mao làm chi?
Quản Trọng nói:
- Nước Sở tiếm xưng vương-hiệu đã
ba đời. Nếu nay bắt bỏ vương-hiệu, không đời nào nước Sở chịu tuân theo. Ấy vậy,
nước ta làm sao điều khiển được. Muốn điểu khiển họ, cốt yếu phải làm cho họ
nghe lời mình trước đã. Mà muốn họ nghe lời mình, không gì hơn đừng để họ bất
mãn mình.
Bão Thúc Nha nghĩ ngợi một lúc, rồi
cũng cho là phải.
Quan Đại-phu nước Trần là Đào Đồ,
nghe tin Tề Hoàn-công đem quân về nước, liền bàn với quan Đại-phu nước Trịnh là
Thân-hầu:
- Nếu để quân Tề đi qua địa giới
nước Trần và nước Trịnh, thì ta phải cung đốn lương thực, như thế đã tốn của lại
mất công, chi bằng nói với Tề-hầu đi về phía Đông, khiến cho nước Từ và Cử phải
chịu lấy sự khó nhọc ấy thì hai nước ta mới rảnh rang được.
Thân-hầu vốn là một kẻ nham hiểm,
ngoài mặt tán thành lời nói của Đào Đồ, nhưng trong bụng có ý cười thầm, liền bảo
Đào Đồ vào tâu với Tề Hoàn-công.
Đào Đồ bước vào ra mắt, tâu:
- Minh-công đánh Sơn-nhung nơi
phía Bắc, phạt nước Sở nơi phía Nam, bây giờ nên rút quân về phía Đông, để cho
các nước trông thấy oai mà sợ.
Tề Hoàn-công nói:
- Nhà ngươi nói rất phải.
Được một lúc Thân-hầu cũng vào ra
mắt Tề Hoàn-công, tâu:
- Minh-công đem quân chinh phạt
đã lâu ngày, phải tìm cách để quân sĩ có nơi trú ngụ mà giải lao. Nay nếu kéo
binh về phía Đông rủi có nước mọi rợ nào đón đường ngăn trở, làm cho quân sĩ mệt
nhọc, ta thán thì thật là điều bất lợi!
Tề Hoàn-công như sực tỉnh, nói:
- Nếu không có nhà ngươi, ta đã lầm
lẫn rồi.
Nói xong sai người bắt Đào Đồ trị
tội, Trần Tuyên-công phải đem lễ vật xin lỗi hai ba lần Tề Hoàn-công mới chịu
tha. Lại khiến Trịnh Văn-công phải đem đất Hổ-lao thưởng cho Thân-hầu.
Trịnh Văn-công, dẫu phải nghe lời,
nhưng lòng không phục.
Tề Hoàn-công thấy Quản Trọng lập
được nhiều công lao to tát, bèn đem đất Biền-ấp, hơn ba trăm nóc nhà của quan Đại-phu
Bá Thị phong thêm cho Quản Trọng.
Sở Thành-vương thấy binh Tề và
các nước chư hầu đã rút về, ý chừng muốn đem cỏ thanh mao vào nhà Châu triều cống.
Khuất Hoàn thưa:
- Ta không nên thất tín với nước
Tề. Vả lại chỉ vì nước Sở ta không cống hiến nhà Châu, nên nước Tề mới được tiếng
là biết tôn kính Thiên-tử. Nay nhân cơ hội này, ta sai vào cống hiến thì nước
ta cũng chẳng kém gì nước Tề.
Sở Thành-vương nói:
- Chỉ ngặt một điều nước ta đã
xưng Vương-vị. Nay xưng hô thế nào cho tiện?
Khuất Hoàn nói:
- Không hề chi. Trong tờ biểu chỉ
xưng là viễn-thần cũng đủ.
Sở thành vương nhậm lời, sai Khuất
Hoàn đem mười xe cỏ thanh mao và các thư vàng lụa vào dâng vua Huệ-vương nhà
Châu.
Châu Huệ-vương mừng lắm, phán:
- Nước Sở lâu nay đã bỏ bổn phận,
bây giờ lại biết triều phục như thế thực là phước lớn của Tiên-vương ta.
Nói rồi đem lễ vật cáo yết
Thái-miếu, lại ban thưởng cho nước Sở rất hậu.
Khuất Hoàn lạy tạ, rồi cáo từ.
Chẳng bao lâu, Tề Hoàn-công lại
sai Thấp Bằng đến yết kiến Châu Huệ-vương, tâu về việc nước Sở đã chịu thần phục.
Châu Huệ-vương tiếp đãi Thấp Bằng
rất trọng thể.
Thấp Bằng tâu với Châu Huệ-vương,
xin được phép đến chúc mừng ngôi Thái-tử.
Châu Huệ-vương nghe nói vẻ mặt
lúng túng, trộn lẫn một ít u buồn, rồi sai người đòi Thái-tử Trịnh và Vương-tử
Đái đến.
Thấp Bằng lạy mừng xong, bái tạ
ra về.
Về đến nước Tề, Thấp Bằng vào ra
mắt Tề Hoàn-công tâu:
- Nhà Châu sắp có loạn!
Tề Hoàn-công thất kinh hỏi:
- Tại làm sao thế?
Thấp Bằng nói:
- Người con trưởng của Thiên-tử
là Trịnh, tức con bà Khương-hậu, đã lập lên Thái-tử. Nay bà Khương-hậu mất, bà
thứ-hậu là Trần-vỉ, được vua yêu, sinh đặng Vương-tử Đái. Thiên-tử muốn bỏ con
trưởng lập con thứ, vì vậy lúc tôi xin yết kiến, vua đòi ra cả hai người. Tôi e
rằng chẳng bao lâu nhà Châu sẽ có loạn.
Tề Hoàn-công vội vã đòi Quản Trọng
vào thương nghị.
Quản Trọng nói:
- Tôi có một kế, có thể giữ yên
được nhà Châu.
Tề Hoàn-công hỏi:
- Kế gì vậy?
Quản Trọng nói:
- Cần gây cho Thái-tử một thế lực
mạnh mẽ. Nay viết một đạo biểu dâng lên vua nhà Châu tỏ ý các chư hầu muốn yết kiến
ngôi Thái-tử, xin nhà vua cho Thái-tử ra hội với các chư hầu.
Hễ Thái-tử đã hội diện với các chư
hầu thì địa vị đã được căng co, dầu muốn thay đổi cũng không được.
Tề Hoàn-công khen phải, liền viết
hịch hẹn với các chư hầu sang năm họp mặt tại đất Thủ-chỉ thuộc nước Vệ, rồi lại
sai Thấp Bằng đến triều Châu, tỏ ý các chư hầu muốn yết kiến ngôi Thái-tử để tỏ
lòng tôn kính.
Châu Huệ-vương không muốn cho
Thái-tử đi hội, nhưng sợ thế lực nước Tề, chẳng dám từ khước.
Thấp Bằng về nước, báo với Tề
Hoàn-công.
Đầu năm sau, Tề Hoàn-công sai Trần
Kính Trọng sang đất Thủ-chỉ làm một nhà hành cung để đón Thái-tử.
Đúng kỳ hẹn Thái-tử Trịnh đến.
Các chư hầu kéo đến lạy mừng. Thái-tử Trịnh hai ba lần từ chối không dám nhận lễ.
Tề Hoàn-công tâu:
- Chúng tôi là chư hầu, đối với
Thái-tử cũng như bề tôi đối với vua, xin Thái-tử chớ tị hiềm.
Thái-tử Trịnh tỏ lời cảm tạ. Rồi
đêm ấy, mời Tề Hoàn-công đến hành cung, đem việc Vương-tử Đái muốn cướp ngôi
thuật lại. Tề Hoàn-công tâu:
- Chúng tôi cùng các Chư hầu ước
nguyện quyết bảo vệ cho Thái tử, xin Thái-tử chớ ngại.
Thái-tử Trịnh sợ ở nơi đất Thủ-Chỉ
lâu ngày làm phiền các chư hầu, nên muốn về triều. Tề Hoàn-công nói:
- Sở dĩ chúng tôi muốn lưu Thái-tử
lâu ngày là muốn Thiên-tử hiểu thấu lòng lưu luyến của chư hầu đối với Thái-tử.
Nay đang giữa mùa hè nóng nực, xin đợi đến mùa thu mát trời, chúng tôi sẽ hộ
giá hồi loan cũng chẳng muộn.
Châu Huệ-vương thấy Thái-tử Trịnh
lâu về, đoán biết Tề Hoàn-công có lòng mến phục, nên không vui. Hơn nữa, Thứ-phi
Trần-Vỉ và Vương-tử Đái ngày đêm ở bên cạnh kiếm lời gièm siểm.
Nhân lúc quan Thái-sử Chu Khổng vào
yết kiến. Châu Huệ-vương nói:
- Vừa rồi, Tề-hầu đánh được Sở,
song quân-lực nước Tề cũng không hơn gì Sở. Nay Sở lại tùng phục Thiên-triều
không hỗn láo như trước nữa, thì Sở cũng đáng tin cậy.
Chu Khổng tâu:
- Tâu Bệ-hạ, ý chừng Bệ-hạ có điều
gì bất bình nước Tề?
Châu Huệ-vương nói:
- Tề-hầu cậy thế, nhóm chư hầu quy
phục Thái-tử, như thế đã có mầm khi quân! Ta muốn nhờ khanh đem cho Trịnh-hầu một
mật chiếu, bảo Trịnh-hầu bỏ Tề theo Sở, rồi đem ý của Trẫm truyền lại với vua Sở.
Chu Khổng tâu:
- Sở về triều cống là nhờ có Tề bắt
buộc, sao Bệ-hạ lại không nghĩ đến công lao của Tề-hầu.
Châu Huệ-vương nói:
- Nếu các nước chư hầu cứ tùng phục
nước Tề mãi chắc gì Tề-hầu không sanh dị tâm, ý trẫm đã quyết khanh chớ bàn bạc
làm chi!
Chu Khổng không dám nói nữa.
Châu Huệ-vương liền viết một mật
chiếu, niêm phong rất cẩn thận trao cho Chu Khổng. Chu Khổng không hiểu trong tờ
chiếu đó đã viết gì, vội vã đem đến trao cho Trịnh Văn-công. Trịnh Văn-công mở
ra đọc.
Chiếu rằng:
Thái-tử Trịnh bất tuân phụ lệnh,
tự tập các chư hầu mưu gây rối Thiên triều. Đó là tội bất hiếu, không thể nối
ngôi được. Nay ý trẫm muốn lập Vương-tử Đái làm Thái-tử, nếu hiền-hầu bỏ Tề
theo Sở, để cùng giúp Vương-tử Đái thì trẫm sẽ giao hết quyền bính cho.
Trịnh Văn-công xem chiếu xong,
lòng mừng thầm, nói với các quan Đại phu:
- Tiên quân ta Vũ-công, Trang-công
trước kia hai đời làm Khanh-sĩ nhà Châu đến đời Lệ-công cũng có công nghiệp lớn,
giúp vua Châu, nhưng chưa giữ được quyền chính. Nay vua nhà Châu lại định giao
quyền cho ta, thực điều đáng mừng đó!
Quan Đại-phu Đỗ Thúc can:
- Nước ta chịu ơn nước Tề, nay bỏ
Tề theo Sở là điều bội nghĩa. Hơn nữa, Thái-tử Trịnh được mọi người tôn sùng,
nay bỏ đi phò Vương-tử Đái là trái với ý nguyện chung của mọi người, xin Chúa
công thận trọng việc này.
Trịnh Văn-công nói:
- Theo ý Tề-hầu sao bằng theo ý
Thiên-tử nhà Châu, việc phế lập là do ý Thiên-tử chứ đâu phải ý ta.
Đỗ Thúc nói:
- Ngôi Thái-tử nhà Châu bao giờ
cũng phải là con trưởng. Nếu lập con thứ không tránh điều rắc rối. Xem như trước
kia U-vương yêu Vương-tử Bá Phục, vua Hoàn-vương yêu Vương-tử Khắc, vua
Trang-vương yêu Vương-tử Đồi kết quả đều mang tai vạ. Nếu Chúa công không xét kỹ
e phải hối hận.
Quan Đại phu Thân-hầu cãi:
- Dù muốn dù không đó là lệnh
Thiên-tử. Ta há lại trái lệnh Thiên-tử để nghe theo Tề-hầu sao? Như vậy còn gì
đạo quân thần.
Trịnh Văn-công cho lời nói của
Thân-hầu là phải, đêm ấy bỏ ra về không hội chư hầu nữa.
Tề Hoàn-công hay tin nổi giận,
toan đem binh đánh Trịnh.
Quản Trọng can:
- Dẫu một nước Trịnh bội ước,
cũng chưa hại chi, nay xin Chúa công cứ lập minh thệ với các nước rồi tính sau.
Tề Hoàn-công nghe theo lời, lập
đàn nơi đất Thủ-chỉ, để cùng với các chư hầu ăn thề, đồng tâm giúp ngôi Thái-tử.
Lời thề như sau: “Tất cả các
nước chư hầu có mặt hôm nay đồng tâm giữ ngôi Thái-tử để giữ vững nhà Châu, nếu
ai đổi lòng sẽ bị đất trời tru diệt”.
Ngày hôm sau các nước chư hầu đưa
Thái-tử Trịnh về nước.
Trịnh Văn-công hay tin các nước
chư hầu lập minh thệ, có ý lo sợ cho mình.
Kế đó Sở Thành-vương sai người
sang Trịnh để bàn việc giao hữu.
Trịnh Văn-công lòng dụ dự không
quyết, nên không tiếp sứ.
Sở Thành-vương bèn tư thông với
Thân-hầu, để nhờ Thân-hầu xúi giục Trịnh Văn-công bỏ Tề theo Sở.
Nguyên Thân-hầu trước kia làm
quan nước Sở, được Sở văn-vương yêu chuộng. Sau Sở văn-vương gần mãn phần, sợ
người sau không dùng Thân-hầu nên mới cho Thân-hầu một số châu ngọc để trốn
sang nước khác lập nghiệp. Thân-hầu trốn sang đất Lịch, được Trịnh Lệ-công yêu
dùng. Sau Trịnh Lệ-công phục nghiệp mới phong Thân-hầu làm chức Đại phu nước Trịnh.
Đến lúc Trịnh Lệ-công qua đời. Trịnh
Văn-công lên nối nghiệp, Thân-hầu vẫn giữ chức ấy.
Nay được tin nước Sở, Thân-hầu
vào bàn với Trịnh Văn-công:
- Ta vì phụng mệnh Thiên tử mà
trái ý Tề, chỉ còn trông cậy ở nước Sở, nếu không theo Sở thì lấy đâu nương tựa?
Trịnh Văn-công nghe lời, mật sai
Thân-hầu qua kết liên với Sở.
Tề Hoàn-công hay tin tức giận cử
binh sang vây thành Tần-Mật của nước Trịnh.
Lúc bấy giờ Thân-hầu còn đang ở
nước Sở, nghe tin ấy liền tâu với Sở Thành-vương:
- Nước Trịnh sở dĩ giao kết với Sở
là cậy có Sở giúp. Nếu Đại vương không đem binh cứu nước Trịnh, ắt Trịnh phải
theo Tề.
Sở Thành-vương triệu tập quân thần
thương nghị.
Quan Tể-tướng Tử Văn tâu:
- Nước Hứa đang tùng phục nước Tề,
được Tề Hoàn-công rất ưu đãi, nay muốn cứu Trịnh, chỉ cần đem binh qua đánh Hứa,
quân Tề tất phải rút về mà cứu Hứa.
Sở Thành-vương y lời, đem quân
vây thành nước Hứa. Quả nhiên Tề bỏ Trịnh kéo thẳng qua nước Hứa để cứu viện.
Nước Sở lại rút quân về.
Thân-hầu trở về nước lòng hiu hiu
tự đắc, cho rằng mình đã có công phu rất lớn đối với nước Trịnh.
Qua năm sau, Tề Hoàn-công lại đem
quân đánh Trịnh nữa.
Quan Đại-phu nước Trần là Đào Đồ,
lúc trước theo Tề Hoàn-công đi Sở có hiềm khích với Thân-Hầu, nên nay viết một
mật thư sai người đem đưa cho quan Đại-phu nước Trịnh là Đỗ Thúc.
Thư ấy như vầy: “Thân-hầu là một
đứa ô-mị, trước kia nịnh bợ Tề-hầu được thuởng đất Hổ-lao nạp, lại ô-mị nước Sở
để làm cho Trịnh-hầu phải mang tiếng thất tín. Nếu chém đầu Thân-hầu đem tạ tội,
ắt quân Tề tức khắc lui về nước”.
Đỗ Thúc đem bức thư ấy trình với
Trịnh Văn-công.
Trịnh Văn-công cả giận truyền
chém Thân-hầu, cắt đầu bỏ vào một chiếc hộp, sai Đỗ Thúc đem nạp cho Tề
Hoàn-công và nói:
- Ngày trước sở dĩ nước Trịnh bội
ước là do Thân-hầu ô-mị, nay xin giết Thân-hầu đem dâng đầu tạ tội.
Tề Hoàn-công biết Đỗ Thúc là một
tôi hiền, thuận cho nước Trịnh giảng hoà.
Rồi, cũng trong năm ấy Tề
Hoàn-công lại triệu tập các chư hầu họp nơi đất Ninh-mãn để kiểm điểm việc
binh.
Trịnh Văn-công e ngại có chiếu mệnh
Thiên-tử, nên chẳng dám công nhiên đi dự mới sai con là Thế tử Hoa đi thế.
Nguyên Thế tử Hoa cùng với em là Công
tử Tang đều con bà Đích phu nhân. Bấy giờ Đích phu nhân được Trịnh Văn-công yêu,
mới lập Hoa lên làm Thế tử. Sau đó, Trịnh Văn-công lại lập thêm hai bà phu nhân
nữa cũng đều có con trai cả.
Cách đó chẳng bao lâu Đích phu
nhân chết. Trong cung có một nàng cung nữ tên Yên Cật, một hôm nằm mộng thấy một
người đàn ông tay cầm cành hoa đến nói: “Ta đây là thuỷ tổ nhà ngươi, nay cho
nhà ngươi cành hoa lan này, mai sau sẽ sinh Quý-tử, khiến cho nước nhà thịnh vượng”.
Nói xong cầm cành hoa lan đưa cho
Yên Cật rồi biến mất.
Yên Cật giật mình thức dậy, đem
chuyện ấy tâu với vua.
Trịnh Văn-công cho là điềm tốt,
ăn ở với Yên Cật, sinh đặng một trai đặt tên là Lan.
Thế tử Hoa thấy cha mình nhiều vợ
yêu như vậy, sợ ngày sau bỏ mình lập người khác, mới bàn riêng với các quan Đại-phu,
như Thúc Thiêm, Đỗ Thúc, Sư Thúc, để bày mưu gây uy thế cho mình.
Nhưng các quan đều khuyên Thế tử
Hoa nên giữ lấy đạo hiếu.
Do đó, Thế tử Hoa không bằng
lòng, tỏ ý hiềm khích với các quan.
Đến ngày hội chư hầu, Thế tử Hoa
vào yết kiến Tề Hoàn-công nói riêng:
- Nước Trịnh tôi ngày nay quyền
binh đều ở trong tay Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc định đoạt cả. Sở dĩ phụ thân
tôi bỏ không đi dự hội cũng vì ba người ấy. Nếu Hiền-hầu trừ được ba người ấy
thì nước Trịnh tôi mới phần phục Quý quốc mãi mãi.
Tề Hoàn-công đem chuyện để bàn lại
với Quản Trọng.
Quản Trọng nói:
- Không nên! Xét lời nói của Thế
tử Hoa tỏ ra một kẻ bất trung, bất tín. Thúc Thiêm, Sư Thúc và Đỗ Thúc đã được
tiếng là Tam-lương của nước Trịnh, ta chớ nên nghe lời mà hỏng việc.
Tề Hoàn-công bỏ qua không nói đến
nữa. Tuy nhiên Quản Trọng vốn ghét Thế tử Hoa là kẻ gian giảo, cố ý đem lời nói
của Thế tử Hoa tiết lộ cho người nước Trịnh biết.
Trịnh Văn-công hay được, đòi Thế
tử Hoa vào hỏi.
Thế tử Hoa nói dối rằng:
- Phụ thân không qua dự hội nên Tề
Hoàn-công không chịu giảng hoà. Vậy thì ta nên theo nước Sở là hơn.
Trịnh Văn-công đã rõ hết ngọn
ngành vỗ án hét:
- Nghịch tử, mi muốn bán nước lại
còn dám nói dối với ta nữa sao?
Nói xong, truyền giam Thế tử Hoa
vào ngục. Thế tử Hoa khoét tường trốn ra. Trịnh Văn-công hay được truyền đem
chém.
Em Thế tử Hoa là Công tử Tang sợ
liên luỵ liền trốn sang nước Tống, nhưng Trịnh Văn-công được sai người theo giết
chết.
Trịnh Văn-công lại cảm nghĩa Tề Hoàn-công
không nghe lời Thế tử Hoa, nên sai Đỗ Thúc đến tạ ơn.
Năm ấy Châu Huệ-vương ốm nặng,
Thái-tử Trịnh sợ có biến loạn, nên sai quan Hạ-sĩ Vương Tử Hổ đến báo với Tề
Hoàn-công.
Chẳng bao lâu Châu Huệ-vương băng
hà.
Tề Hoàn-công nay tin, vội vã họp
các chư hầu ở đất Thao (thuộc nước Tào) làm tờ ai điếu vào triều Châu dâng lễ tế.
Mỗi nước chư hầu phái một quan Đại-phu
thay mặt, kể tên sau đây:
2. Quan Đại-phu nước Tống: Hoa Tú Lão
3. Quan Đại-phu nước Lỗ: Công Tôn Ngao
4. Quan Đại-phu nước Vệ: Ninh Tốc
5. Quan Đại-phu nước Trần: Viên Tuyền
6. Quan Đại-phu nước Trịnh: Tư Nhân Sư
7. Quan Đại-phu nước Tào: Công tử Mậu
8. Quan Đại-phu nước Hứa: Bách Đà
Tuy mượn tiếng là điếu tang nhưng
kỳ thật để làm hậu thuẫn, tôn Thái-tử Trịnh lên ngôi.
Sau lễ an-táng, Thái-tử Trịnh lên
tức vị, hiệu là Châu Tương-vương.
Trần-vỉ, vợ vua Huệ-vương và
Vương-tử Đái lòng rất căm phẫn, nhưng sợ oai các chư hầu không dám kinh động.
Việc nhà Châu sắp đặt đã yên, Tề
Hoàn-công lui về nước, định triệu tập chư hầu nơi đất Quý-khâu để bàn tính mọi
việc.
Quản Trọng nói:
- Nhà Châu vừa rồi chỉ vì con trưởng,
con thứ, không nhất định mà sắp bị rối loạn. Vậy Chúa công định ngôi Thế tử trước
để khỏi di họa về sau.
Tề Hoàn-công nói:
- Ta có tất cả sáu con, đều là
con của vợ thứ: Công tử Vô Khuy lớn tuổi hơn, nếu cứ lấy người hiền thì có Công
tử Chiêu. Trưởng Vệ Cơ (mẹ Công tử Vô Khuy) hầu ta đã lâu, ta đã hứa định lập Công
tử Vô Khuy rồi. Dịch Nha và Thụ Điêu hai người ấy thường thường có nói với Vô Khuy
Công tử Chiêu là người hiền, nhưng ý ta chưa quyết, bây giờ tuỳ ý Trọng-phụ.
Quản Trọng biết Dịch Nha với Thụ
Điêu là hai tên nịnh, lại là bè đảng của Trưởng Vệ Cơ, e cho ngày sau Công tử Vô
Khuy lên nối ngôi thì nội công, ngoại ứng làm loạn Quốc-chính. Công tử Chiêu là
con của Trịnh-cơ, nước Trịnh vừa mới giảng hoà với Tề, lập Công tử Chiêu thì giữa
Tề và Trịnh càng thêm thân mật.
Nghĩ như vậy, Quản Trọng mới thưa
với Tề Hoàn-công:
- Hiện nay Chúa công không có con
hiền nối ngôi thì làm sao giữ được cơ-nghiệp bá-chủ. Chúa công đã xét đoán biết
Công tử Chiêu là người hiền, thì nên lập ngay mới phải.
Tề Hoàn-công nói:
- Ta chỉ sợ Công tử Vô Khuy cho
mình là lớn tuổi hơn, sinh ra chuyện tranh giành lẫn nhau, thì biết làm thế
nào?
Quản Di Ngô thưa:
- Nay nhân dịp Chúa công sắp đại
hội các nước chư hầu, nên chọn trong các vua chư hầu có ông nào hiền, hãy đem
việc Công tử Chiêu mà uỷ thác cho còn lo ngại gì.
Tề Hoàn-công nhậm lời.
Bây giờ Tống hoàn-công là Ngự Thuyết
Mật, Thế tử Tư Phủ nhường ngôi cho Công tử Mục Di (thứ huynh của Tư Phủ). Mục Di
không chịu làm vua. Tư Phủ phải lên nối ngôi hiệu là Tống Tương-công.
Tống Tương-công theo lệnh của bá
chủ (Tề Hoàn-công), mặc dầu có tang vẫn đến dự hội ở đất Quý-khâu. Quản Trọng tâu
với Tề Hoàn-công:
- Vua nước Tống biết nhường ngôi
cho người hiền là Công tử Mục Di. Vả lại trong lúc có tang mà đi dự hội, là họ
rất kính trọng nước ta. Chúa công nên uỷ thác Công tử Chiêu cho vua nước Tống.
Tề Hoàn-công y lời, lập tức sai Quản
Trọng đến quân xá để hầu chuyện trước cùng Tống Tương-công. Tống Tương-công đến
yết kiến Tề Hoàn-công. Tề Hoàn-công tiếp đãi rất nồng hậu rồi đem việc Công tử
Chiêu ân cần gửi gắm:
- Để giữ yên được cơ nghiệp tôi
hy vọng lòng tốt của hiền-hầu không quên chăm sóc Công tử Chiêu, khiến cho cơ
nghiệp Tề vẫn còn tồn tại vĩnh viễn.
Tuy Tống Tương-công khiêm nhượng,
không dám nhận lời, nhưng nỗi lòng đã thầm cảm lời ủy thác của Tề Hoàn-công.
Ngày hội, các chư hầu cùng họp mặt
trước đàn để vọng bái thiên-tử. Quan Thái-tế Chu Khổng đọc lời chiếu của
Thiên-tử nhà Châu. Đoạn trao phần tế cho Tề Hoàn-công.
Tề Hoàn-công bái lĩnh toan bước
xuống ngai tạ lễ, Chu Khổng nói:
- Hiền-hầu nay tuổi đã già, xin
miễn việc ấy.
Tề Hoàn-công toan bố lễ tạ, Quản
Trọng vội vã nói:
- Xin Chúa công lấy lễ nghĩa làm
trọng, để nêu gương cho các chư hầu.
Như sực tỉnh, Tề Hoàn-công nói lớn:
- Dẫu Thiên-tử thương tình, song
kẻ làm tôi có bao giờ vô lễ được.
Nói xong phục xuống trước đàn lạy
hai lạy. Các nước chư hầu thấy vậy đều khâm phục.
Tề Hoàn-công nhân các nước chư hầu
còn đủ mặt, tuyên đọc năm điều cấm của vua nhà Châu:
2. Không được cấm đong thóc
3. Không được đổi con trưởng
4. Không được lấy tiểu thiếp làm chánh
5. Không được cho đàn bà dự vào việc chính trị
Đoạn Tề Hoàn-công lập thệ với các
nước chư hầu rằng: “Phàm là nước đồng minh, phải cùng nhau giao hiếu, lúc hoạn nạn
phải cứu nhau”.
Xong cuộc lễ Tề Hoàn-công hỏi Chu
Khổng:
- Ta nghe đời Tam Đại (nhà Hạ,
nhà Thương và nhà Châu), ngày xưa có lễ Phong-thiện, chẳng hay lễ ấy có nghĩa
như thế nào?
Chu Khổng nói:
- Đời Tam Đại làm lễ
"Phong" ở núi Thái-sơn làm lễ "Thiện" ở núi Lương-phù. Lễ
Phong là tế trời, lấy nghĩa trời cao, nên phải đắp đất lên mà tế. Còn lễ Thiện
là tế đất, lấy nghĩa đất thấp, nên quét sạch đất mà tế, ấy là cái lễ của đời
Tam đại vậy.
Tề Hoàn-công nói:
- An-ấp là thủ đô của nhà Hạ, Bậc-ấp
là thủ đô của nhà Thương, Phong-kiều là thủ đô của nhà Châu, chốn Đô-thành rất
xa núi Thái-sơn và núi Lương-phủ, núi này lại nằm trong địa giới nước ta, ý ta
cũng muốn làm cái lễ ấy, các ngài nghĩ sao?
Thấy Tề Hoàn-công có ý kiêu ngạo
và tự đắc, Chu Khổng không hài lòng, liền đáp:
- Hiền-hầu cho là phải, thì còn
ai dám bảo là không phải?
Tề Hoàn-công nói:
- Thôi, hoãn lại ngày mai ta sẽ
bàn.
Các vua chư hầu đều lui về tửu
quán.
Chu Khổng đến nói riêng với Quản
Trọng:
- Lễ Phong-thiện là cái lễ trọng
thể của Thiên-tử, tôi thiết tưởng nước chư hầu không nên nói đến. Sao Trọng-phụ
không can được một câu nào?
Quản Trọng ôn tồn đáp:
- Bản năng hiếu thắng của Chúa
công tôi, không thể nào can thẳng một cách đột ngột được, phải tìm phương chữa
lần, vậy hôm nay tôi sẽ liệu nói.
Tối đến, Quản Trọng vào yết kiến Tề
Hoàn-công:
- Chúa công có thật lòng muốn làm
lễ Phong-thiện không?
Tề Hoàn-công đáp:
- Đã nói, sao lại không thật!
Quản Trọng thưa:
- Lễ Phong-thiện bắt đầu có từ đời
Vô hoài-thị đến đời Chu thành-vương, tất cả 73 nhà, đều là tuân mệnh trời làm
Thiên-tử, nên mới được phép làm lễ Phong-thiện.
Tề Hoàn-công tỏ ý không hài lòng,
nói lớn:
- Ta đây, đánh nước Sở ở phía
Nam, tiến quân vào đất Thiệu-Lăng, phía Bắc đánh Sơn-nhung, Linh-chi và
Cô-trúc; phía Tây qua bãi Lư-sa đến tận núi Thái-hàng. Các chư hầu ấy không ai dám
trái ý, ba lần hội chư hầu về việc xa, sáu lẫn hội chư hầu về việc y thường. Dầu
đời Tam đại chịu mệnh trời làm Thiên-tử cũng không thể có một sức mạnh nào hơn!
Vậy giờ đây ta có làm lễ Phong-thiện để cho con cháu noi theo tưởng cũng là lẽ
phải!
Quản Trọng nói:
- Các bậc đế-vương thời xưa lúc
nào gặp điềm lành mới làm lễ Phong-thiện, nay Chúa công bỗng nhiên tổ chức lễ ấy
ắt những thức giả sẽ chê cười.
Tề Hoàn-công không nói đến việc
đó nữa.
Hôm sau kéo binh về nước lọ sửa
sang cung thất rất rực rỡ, mỗi dụng cụ của nhà vua, món gì cũng sang trọng như
đồ dùng của Thiên-tử nhà Châu.
Người trong nước ai cũng chê Tề
Hoàn-công cố ý tiếm phạm.
Quản Trọng cũng đắp một cái đài
cao ba từng gọi là "Tam quy".
Nghĩa là cả ba hạng người: Nhân
dân, chư hầu, mọi rợ đều tùng phục mình cả. Lại còn lập ra Tắc-môn để che cửa,
Phạn điếm để tiếp sứ thần các nước.
Bão Thúc Nha thấy vậy có ý nghi
hoặc hỏi:
- Vua xa xỉ, mình cũng xa xỉ. Vua
tiếm phạm mình cũng tiếm phạm như thế sao phải?
Quản Trọng nói:
- Dẫu một ông vua hay một thường
dân mà đã có công khổ nhọc gây dựng cơ đồ, tất có ngày phải được hưởng sung sướng
để bù lại công khó nhọc của mình chứ. Nếu cứ đem lễ nghĩa bó buộc đời sống mình
thì ai lại không chán. Vả lại việc làm của tôi cũng chỉ vì Chúa công, mà muốn
chia cái tiếng chê cười của thiên hạ đó.
Bão Thúc Nha nghe nói tuy làm
thinh không cãi lại, song lòng không phục.
Trong lúc đó quan Thái-Tể nhà
Châu là Chu Khổng cáo biệt trở về triều.
Đi đến nữa đường gặp Tần Hiến-công
đi dự hội trễ.
Chu Khổng nói:
- Hội đã tan rồi sao đến bây giờ
hiền-hầu mới đến?
Tần Hiến-công dậm chân, than:
- Nước tôi xa quá nên đến trễ,
không được trong thay cảnh uy nghiêm của ngày hội, thực tiếc thay!
Chu Khổng nói:
- Tôi tưởng không phải là điều
đáng tiếc. Tề-hầu cậy mình có công to, tỏ ý kiêu ngạo, làm lắm điều trái đạo. Hễ
trăng tròn thì phải khuyết, nước đầy tất phải tràn. Chẳng bao lâu nước Tề sẽ
suy đốn.
Tấn Hiến-công nghe nói quay xe trở
về. Nhưng di dọc đường bị bệnh, nên về đến nước Tấn thì tạ thế.
Từ đó, nước Tấn sinh lắm điều rối
loạn.
Đánh nước Quắc, Tuân Tức mượn đường
Nuôi trâu giỏi, Lý Hề làm tướng
Nhắc lại chuyện nước Tấn, Tấn Hiến-công
mê nàng Ly Cơ, yêu dùng bọn nịnh như Lương Ngũ, Đông Quan Ngũ, lại đem lòng
ghét bỏ Thế tử Thân Sinh, yêu Hề Tề là con trai của Ly Cơ, ý muốn lập lên ngôi Thế
tử, nhưng vì Thế tử Thân Sinh đã lập được công trạng lại một lòng thảo thuận,
nên không biết lấy cớ gì để phế được. Nàng Ly Cơ thấy con mình chưa có địa vị,
đêm ngày lo lắng, bàn với Ưu Thi:
- Bây giờ phải làm cách nào để phế
Thân Sinh, lập Hề Tề lên làm Thế tử? Ưu Thi đáp:
- Hiện nay ba vị Công tử (Thế tử Thân
Sinh, Công tử Di Ngô và Công tử Trùng Nhĩ) đã ra trấn nơi cõi ngoài, phu nhân
còn sợ gì nữa?
Ly Cơ nói:
- Tuy vậy, ba vị Công tử đó đã
trưởng thành, giữ quyền chính lâu ngày, lại được các quan trong triều kính mến,
khó làm chi được.
Ưu Thi nói:
- Chi có cách là nghĩ kế trừ dần
đi thì mới tiện.
Ly Cơ hỏi:
- Cần phải trừ ai trước?
Ưu Thi nói:
- Trước hết phải trừ cho được Thế
tử Thân Sinh, vì Thân Sinh hiện được dân chúng mến phục, cho là một kẻ nhân từ,
chính trực.
Ly Cơ thở dài nói:
- Làm thế nào để trừ được con người
nhân từ, chính trực?
Ưu Thi nói:
- Đã chính trực thì không bao giờ
chịu tiếng xấu, và đã nhân từ thì chẳng bao giờ làm hại ai.
Như vậy phu nhân tìm cách nói xấu
Thân Sinh, ắt Thân Sinh không chịu nổi. Nhưng đã mang tiếng xấu mà không muốn hại
người, ắt phải tự hại mình.
Ly Cơ nói:
- Nói xấu một người hiền từ nhân
đức đâu phải dễ. Làm sao người ta tin được lời mình?
Ưu Thi nói:
- Điều đó cũng khó thực. Song nhờ
tài khéo léo của phu nhân có thể làm lay lòng Chúa công được.
Đêm ấy Ly Cơ khóc nức nở. Tấn Hiến-công
trông thấy ngạc-nhiên hỏi:
- Vì cớ gì mà phu nhân khóc? Lòng
quý mến của ta không làm cho phu nhân vui sao?
Ly Cơ sụt sùi nói:
- Chính lòng quý mến của Chúa
công đã làm cho thần-thiếp sợ không được hầu Chúa công trọn đời.
Tấn Hiến-công hỏi:
- Tại sao phu nhân lại có ý lạ
lùng đó?
Ly Cơ gạt nước mắt nói:
- Thiếp trộm nghĩ Thân Sinh là
người rất mực nhân từ, hiện nay ở đất Khúc-ốc. Thân Sinh ra ơn với thiên-hạ. Ai
nấy một lòng kính phục!
Tấn Hiến-công hỏi:
- Nếu thế thì tại sao phu nhân lại
buồn? Phu nhân không muốn Thân Sinh trở nên người tốt sao? Ly Cơ nói:
- Nếu chỉ có vậy, lòng thiếp mừng
chưa hết, có đâu lại than khóc đêm ngày. Đằng này Thân Sinh lại thường nói với
mọi người rằng:
Chúa công quả say mê thiếp, tất một
ngày nào đó, triều đình phải sinh biến. Mục đích Thân Sinh thi-ân với mọi người
chỉ để gây thế lực mà trừ cho được thiếp. Ấy vậy trước sau gì thiếp cũng phải
chết, xin Chúa công cứ giết thiếp đi để sau này khỏi phải mang tiếng với muôn
dân. Tấn Hiến-công nói:
- Thân Sinh là một kẻ hiền từ,
nhân đức, lẽ nào lại không biết giữ hiếu đối với cha? Ly Cơ nói:
- Lòng nhân từ của một kẻ tầm thường
với lòng nhân-từ của một vị anh hùng không thể giống nhau. Kẻ tầm thường lấy
lòng thương người làm nhân, nhưng kẻ anh hùng lấy sự yêu nước làm nhân. Tình
thương cá nhân phải hy sinh cho tình thương tổ quốc. Những kẻ đặt tình thương tổ
quốc lên trên sẽ không còn nghĩ đến gia đình bản thân nữa. Tấn Hiến-công nói:
- Dầu sao, Thân Sinh cũng không
thể nào làm những việc ác, để tiếng trong thiên hạ. Ly Cơ nói:
- Nhiều khi con giết cha, thiên hạ
vẫn không cho là xấu. Tấn Hiến-công cười to, nói:
- Phu nhân điên rồi sao. Có đời
nào con giết cha mà thiên hạ lại không chê cười? Ly Cơ nói:
- Ngày xưa U-vương không giết
Nghi Cữu, đuổi ra nước Thân. Sau Thân-hầu đem quân Khuyển Nhung về giết
U-vương, tôn Nghi Cữu lên làm vua tức là Châu Bình-vương, thuỷ tổ nhà Đông-chu
ta. Thế mà cho đến ngày nay người ta chỉ biết điều ác của U-Vương chứ có ai chê
Châu Bình-vương điều gì đâu. Tấn Hiến-công nghe nói ngẫm nghĩ một lúc rồi vén
áo đứng dậy nói:
- Phu nhân nói có lý! Song bây giờ
ta biết phải làm sao? Ly Cơ nói:
- Thôi thì Chúa công nên mượn tiếng
già yếu mà giao quyền quốc chánh cho Thế tử. Như thế ắt Thế tử thỏa lòng, không
còn nghi ngờ Chúa công và hiềm thù thiếp nữa. Vả chăng trước kia Vũ-Công chiếm
Khúc-ốc thu phục giang-sơn nước Tấn, nay Thế tử Thân Sinh cũng cùng một ý đó. Tấn
Hiến-công nói:
- Không thể như thế được! Đối với
các nước chư hầu, nước ta là một nước có đủ uy vũ. Nay không trị nổi đứa con
thì sao gọi là uy, còn chịu mất ngôi thì sao gọi là vũ. Vũ uy mà mất đi thì
thiên hạ sẽ chê cười. Thôi phu nhân chớ lo ngại, để rồi ta sẽ tính. Ly Cơ nói:
- Việc này không lo sớm e khó
thành. Nay quân Xích-địch thường đến quấy rối nước ta. Chúa công hãy sai Thân
Sinh đem quân đi đánh, để xem tài năng Thân Sinh ra thể nào. Nếu không thắng giặc,
ta mượn cớ ấy mà bắt tội. Còn thắng giặc, thế nào Thân Sinh cũng ỷ công trạng
mà làm càn, bây giờ ta sẽ tìm cách nghiêm trị. Như thế vừa dẹp yên được bờ cõi,
vừa thực hiện được ý muốn của Chúa công.
Tấn Hiến-công khen phải, liền
truyền lệnh sai Thế tử Thân Sinh đem quân ở Khúc-ốc đi đánh nước Xích-địch.
Quan Thái-phó là Lý Khắc hay được, vào can:
- Thế tử là người nối dõi nhà
vua, chức vụ Thế tử là ngày đêm hầu hạ Chúa công, nay sai đi đánh giặc sao phải.
Tấn Hiến-công nói:
- Thân-sinh đã thân chinh dẹp giặc
nhiều rồi. Việc ấy không hại! Lý Khắc nói:
- Ngày trước Thế tử đem quân theo
Chúa công, chứ nay sai đi một mình thì không nên. Tấn Hiến-công lãnh đạm nói:
- Ta có chín người con, nào đã định
ai làm Thế tử đâu, nhà ngươi chớ can gián nhiều.
Lý Khắc không dám nói nữa, thở
dài lui ra, đem chuyện ấy thuật lại với Hồ Đột. Hồ Đột cũng buồn bã nói:
- Thế thì nguy cho Thế tử rồi.
Nói xong liền viết một mật thư cho người đến Khúc-ốc đưa cho Thân Sinh, khuyên Thân
Sinh không nên đi đánh. Vì thắng giặc càng làm cho người ta thêm ghét, còn thua
thì thiệt mạng. Thân Sinh tiếp được thư, thở dài than:
- Phụ vương sai ta đi đánh giặc
không phải có ý yêu ta, chỉ muốn thử lòng ta coi xem ta làm sao. Nay ta trái mệnh
vua là lỗi lớn, thà đánh giặc mà chết, còn giữ được danh tiếng về sau.
Bèn đem quân sang đánh Xích-địch.
Quân Xích-địch cự không lại phải bỏ chạy. Thân Sinh sai người về báo tin với Tấn
Hiến-công. Ly Cơ nói:
- Thế tử quả là người tài năng xuất
chúng, bây giờ biết liệu làm sao? Tấn Hiến-công nói:
- Thế tử chưa có lỗi gì phải đợi
dịp khác mới được.
Chẳng bao lâu có nước Ngu và nước
Quắc, hai nước giáp liền với Tấn, đem quân quấy nhiễu. Đã vậy Chúa nước Quắc là
Xú một người có tánh kiêu ngạo, dùng nhiều lời lẻ rất vô lễ khinh miệt nước Tấn.
Tấn Hiến-công cả giận, muốn hưng binh sang đánh nước Quắc. Ly Cơ nói:
- Sao Chúa công không sai Thân
Sinh đi. Thân Sinh là người đã được nhiều uy danh, ắt thắng giặc dễ hơn. Tấn Hiến-công
vẫn biết thế, song sợ Thân Sinh đánh thắng nước Quắc thì uy-thế càng lớn khó
lòng kiềm chế nổi, mới hỏi quan Đại-phu Tuân Tức:
- Ta có nên đánh nước Quắc chăng?
Tuân Tức nói:
- Quắc và Ngu hai nước giao hữu
nhau. Ta đánh Quắc thì Ngu tất cứu còn đánh Ngu thì Quắc tất cứu. Vậy một nước
địch với hai nước tôi e khó thắng. Tấn Hiến-công hỏi:
- Nếu vậy ta cứ để cho hai nước
Ngu, Quắc quấy rối mãi sao? Tuân Tức thưa:
- Tôi được nghe vua nước Quắc là
người háo sắc, vậy Chúa công lựa những người gái đẹp trong nước dạy nghề múa
hát, cho ăn mặc rất lịch sự, đem hiến cho vua Quắc mà giảng hoà. Hễ vua Quắc được
gái đẹp ắt say mê, bỏ bê triều chính, chừng đó ta đem lễ vật lo lót cho vua
Khuyển-Nhung, nhờ vua Khuyển-Nhung cử binh sang đánh. Liệu chừng binh nước Quắc
đã yếu, ta mới đem binh sang chinh phạt.
Tấn Hiến-công y lời đem bộ nữ-nhạc
dâng cho vua nước Quắc. Vua nước Quắc mừng rỡ thu nhận. Quan Đại-phu Chu Nhi Kiều
can:
- Đó là cái lưỡi câu của nước Tấn
muốn câu nước ta đó, xin Chúa công chớ thấy thế mà mừng.
Vua nước Quắc không nghe, nhất định
giảng-hoà với Tấn, rồi đem đoàn nữ nhạc về nước. Từ ấy, vua nước Quắc ngày đêm
say đắm tửu sắc, không còn thiết đến việc triều-chính nữa. Chẳng bao lâu, quân
Khuyển-nhung ham lễ vật của nước Tần đem binh sang quấy nhiễu nước Quắc.
Tuy-nhiên, quân Khuyển-Nhung đánh không lại, phải bỏ chạy về nước. Vua nước
Khuyển-nhung nổi giận, liền cử đại binh sang đánh. Nước Quắc cũng không nhịn,
hai bên dàn quân, lập trận nơi đất Tang điền, quyết tranh thắng phụ. Tin ấy đến
nước Tấn, Tấn Hiến-công hỏi Tuân Tức:
- Ngày nay nước Quắc và nước Khuyển-nhung
đang đánh nhau ta có nên đem binh đánh nước Quắc không? Tuân Tức nói:
- Tôi có một kế, có thể lấy được
cả hai nước Ngu và Quắc. Tấn Hiến-công hỏi:
- Kế gì vậy? Tuân Tức nói:
- Ngu và Quắc hai nước giao hữu
nhau. Nay ta đem lễ vật lo lót cho nước Ngu, mượn đường sang đánh Quắc. Hễ nước
Ngu nhận lễ vật cho mượn đường thì sẽ không sang cứu Quắc. Mà Ngu không cứu Quắc
ắt mất. Lúc đã lấy Quắc rồi thì Ngu muốn lấy lúc nào chẳng được. Tấn Hiến-công
nói:
- Kế ấy rất hay song nước ta mới
giảng hoà với nước Quắc, nay lấy cớ gì gây chiến để cho nước Ngu tin. Tuân Tức
thưa:
- Giữ hoà hiếu thật khó, chứ gây
xích mích có khó chi. Nay Chúa công mật sai một số người sang biên giới nước Quắc
quấy rối, thế nào nước Quắc cũng nổi giận trách móc. Ta thừa dịp ấy làm duyên cớ
nói với vua Ngu.
Tấn Hiến-công y kế. Quả nhiên nước
Quắc cho người sang trách, hai bên gây sự bất hoà. Tấn Hiến-công lại hỏi Tuân Tức:
- Nay phải đem lễ vật gì để dâng
cho nước Ngu mà mượn đường. Tuân Tức nói:
- Việc này quan hệ! Nước ngu và
Quắc lâu nay giao hữu, nếu không dâng báu vật, khó làm cho nước Ngu chấp thuận.
Xin Chúa công hãy hy-sinh vài món quý của mình. Tấn Hiến-công hỏi:
- Ý định nhà người thế nào, cứ
nói cho ta nghe thử. Tuân Tức thưa:
- Vua nước Ngu thích nhất là ngọc
quý và ngựa quý. Nay Chúa công có ngọc Thuỳ-cúc và ngựa Khuất-sản, xin đem hai
món ấy dâng cho Chúa nước Ngu tất phải thành công. Tấn Hiến-công nói:
- Hai thứ ấy là hai bảo vật quý
giá của ta, lẽ nào lại đem dâng. Tuân Tức nói:
- Mượn đường đánh nước quốc là việc
lớn, nếu Chúa công không dứt bỏ chút ít quyền lợi riêng thì sao thành công được.
Vã lại hễ mượn đường được thì Ngu và Quắc ắt về tay ta, thì ngọc và ngựa có mất
đi đâu mà sợ. Chẳng qua chỉ gửi tạm cho người khác giữ một thời gian nào đó
thôi! Tấn Hiến-công còn đang dụ dự, quan Đại-phu Lý Khắc nói:
- Nước Ngu có hai người tôi hiền
là Cung Chi Kỳ và Bách Lý Hề. Hai người ấy thông minh hiểu rộng, chắc gì đã để
cho vua Ngu nhận lễ vật? Tuân Tức nói:
- Vua nước Ngu là người tham lam,
dầu có tôi hiền can gián vị tất đã nghe.
Tấn Hiến-công nghe theo, liền đem
ngọc bích và ngựa giao cho Tuân Tức để sang dâng cho nước Ngu mượn đường đánh
Quắc. Thoạt đầu vua nước Ngu nghe sứ nước Tần sang mượn đường đánh Quắc nổi giận
la hét om sòm, nhưng đến lúc thấy ngọc tốt và ngựa Quý lại đổi giận làm vui, hỏi
Tuân Tức:
- Ðó là những vật chí-bảo của nước
ngươi, cớ sao lại chịu đem dâng cho ta? Tuân Tức nói:
- Chúa công tôi mến lòng của hiền-hầu,
nên mới đem những vật ấy mà dâng, nếu được hiền-hầu thu nhận thì Chúa công tôi
không còn gì sung sướng bằng. Vua nước Ngu hỏi:
- Thế thì Quý quốc có muốn yêu cầu
ta điều chi chăng? Tuân Tức nói:
- Người nước Quắc thường sang quấy
nhiễu bờ cõi nước tôi. Chúa công tôi muốn dân chúng hai nước yên vui, đã nhiều
phen hòa giải, thế mà nước Quắc lại sinh sự lôi thôi. Nay Chúa công tôi muốn mượn
đường Quý quốc để sang đánh Quắc. Hễ đánh được Quắc rồi, thì bao nhiêu tiền của
lấy được, xin hiến cho Quý quốc để cùng với Quý quốc giao hảo. Vua nước Ngu có
ý mừng thầm. Cung Chi Kỳ bước ra, nói:
- Chúa công chớ nên nghe! Xưa nay
sở dĩ nước Tấn không dám quấy rối nước ta là vì nước ta giao hảo với nước Quắc
bảo vệ lấy nhau. Nay để mất nước Quắc, nước Ngu sẽ mất. Vua nước Ngu nói:
- Vua Tấn không tiếc đồ chí bảo
đem đến dâng cho ta, lẽ nào ta tiếc một lối đi nhỏ hẹp mà không thuận, vả lại
thế lực nước Tấn mạnh hơn nước Quắc nhiều. Mất lòng nước Quắc mà được lòng nước
Tấn thì hại gì? Thôi, các ngươi chớ bàn bạc nhiều lời. Cung Chi Kỳ toan nói nữa
nhưng thấy Bách Lý Hề nháy nhó nên thôi, cúi đầu lui ra. Lúc bãi triều, Cung
Chi Kỳ hỏi Bách Lý Hề:
- Việc như vậy sao ngài không
cùng tôi can vua, lại nháy nhỏ không cho tôi nói? Bách Lý Hề nói:
- Tôi thiết tưởng đem lời nói phải
mà nói với người ngu chẳng khác nào đem ngọc vãi ra đường cái. Ngày xưa vua Kiệt
giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ Can cũng chỉ vì hai người ấy cố tình can gián.
Nếu ngài không chịu nghe lời tôi ắt nguy đến tính mạng. Cung Chi Kỳ nói:
- Thế thì đành để nước Ngu bị mất
hay sao? Bách Lý Hề nói:
- Thà kẻ ngu chịu mất nước đã
đành, còn người hiền không thể để cho kẻ ngu hại mạng.
Cung Chi Kỳ nói:
- Nếu vậy chúng ta đi nơi khác
còn hơn chứ ở đây mà ích gì? Bách Lý Hề nói:
- Ngài đi là phải, nhưng rủ thêm
một người nữa cùng đi là có tội. Vậy cứ để tôi ở lại đây đã.
Cung Chi Kỳ đem cả gia quyến ra
đi. Không ai biết đi đâu. Còn Tuân Tức trở về nói với Tấn Hiến-công:
- Vua nước Ngu đã nhận ngọc bích
và ngựa để cho ta mượn đường rồi.
Tấn Hiến-công mừng rỡ, toan cử
binh sang đánh Quắc.
Lý Khắc can:
- Nước Quắc lấy dễ như trở bàn
tay cần gì Chúa công phải thân chinh cho mệt.
Tấn Hiến-công hỏi:
- Nhà ngươi có kế gì sao? Lý Khắc
nói:
- Nước Quắc tuy đóng đô ở Hướng-dương,
nhưng Hạ-dương là nơi hiểm địa. Lấy được Hạ-dương tức như đã lấy được nước Quắc
rồi. Dẫu tôi hèn mạt xin đảm đương cái việc nhỏ nhặt đó cho, nếu đánh không thắng
tôi xin chịu tội.
Tấn Hiến-công liền khiến Lý Khắc
làm chủ tướng, Tuân Tức làm phó-tướng, đem quân qua nước Ngu mở đường đánh Quắc.
Lý Khắc tin cho vua nước Ngu trước ngày kéo binh đến. Vua nước Ngu ra đón tiếp,
và nói:
- Quý-quốc đem đồ quý-bảo đến cho
tôi, ơn ấy không lấy gì đền đáp. Nay tôi xin đem binh theo giúp sức.
Tuân Tức nói:
- Hiền-hầu đem binh theo giúp đâu
bằng cho chúng tôi lấy đất Hạ-dương.
Vua nước Ngu nói:
- Hạ-dương là đất của nước Quắc
do người nước Quắc chiếm giữ, tôi làm cách nào cho được?
Tuân Tức nói:
- Vua nước Quắc hiện tranh chiến
với Khuyển-nhung nơi đất Tang-điền chưa phân thắng bại. Nếu hiền-hầu giả đem
binh đến giúp nước Quắc, rồi để cho quân nước Tấn tôi trà trộn vào mà lấy Hạ-dương.
Vua nước Ngu nghe lời, giả cách
đem quân sang giúp nước Quắc. Quan trấn thủ đất Hạ-dương là Chu Chi Kiều mở cửa
cho quân nước Ngu kéo sang. Chẳng ngờ quân nước Tấn lộn vào đó, nên sau khi qua
khỏi cửa thành nổi dậy đánh rất dữ. Quân nước Quắc vỡ chạy tứ tán. Chu Chi kiều
sợ vua nước Quắc bắt tội, phải xin đầu hàng nước Tấn.
Lý Khắc và Tuân Tức thừa thế kéo
quân thẳng đến lấy Thượng-dương. Vua nước Quắc đang ở đất Tang-điền, hay tin
Thượng-dương bị vây lập tức kéo quân về cứu. Lại bị quân Khuyển-nhung rượt
theo, đánh một trận tơi bời.
Khi về đến Thượng-dương, vua nước
Quắc luống cuống không biết làm cách nào nữa, đành phải đóng cửa thành cố thủ.
Chẳng bao lâu, lương thực hết, quân sĩ đói khát, tình trạng rất nguy ngập. Biết
không thế giữ thành được nữa, vua nước Quắc dẫn cả gia quyến bỏ trốn sang nhà
Châu lánh nạn.
Tuân Tức và Lý Khắc kéo binh vào
thành chiêu-an bá tánh, vơ vét kho tàng, bảo vật đem biếu cho vua Ngu. Vua Ngu
lòng mừng khôn xiết. Kế đó, Tuân Tức một mặt cho người về nước báo tin cho Tấn
Hiến-công biết, một mặt kéo quân sang đóng bên thành nước Ngu giả đau, đồn binh
dưỡng bệnh. Vua nước Ngu ngỡ thật, cứ thỉnh thoảng sang thăm viếng. Cách một
tháng sau có tin Tấn Hiến-công kéo binh đến. Vua nước Ngu ngạc nhiên ra ngoài
thành hỏi Tuân Tức:
- Chẳng hay Tấn-hầu đem binh đến
đây có việc gì? Tuân Tức nói:
- Chúa công tôi sợ chưa đánh nổi
nước Quắc nên đem binh sang cứu viện.
Vua nước Ngu nói:
- Ta đã có ý muốn hội kiến với Tấn-hầu
nhưng chua có dịp, nay Tấn-hầu lại đến đây thì may mắn lắm!
Nói xong vội vàng đem quân ra
nghênh-tiếp. Tấn Hiến-công rất đẹp lòng. Hai vua ân cần tâm sự. Chưa bao lâu, Tấn
Hiến-công tỏ ý mời vua Ngu đi săn bắn nơi núi Cơ-sơn. Vua nước Ngu muốn nhân cơ
hội ấy phô diển binh lực của mình nên đem cả đoàn quân giáp sĩ trong thành ra
đi. Vừa đến núi Cơ-sơn nghe tin trong thành nước Ngu phát hỏa. Tấn Hiến-công
nói:
- Ðó là dân chúng vô ý, gây lửa
cháy, chẳng bao lâu rồi cũng dập tắt được, có chi mà sợ. Quan Ðại-phu nước Ngu
là Bách Lý Hề mật tâu:
- Tôi nghe đồn trong thành có biến,
xin Chúa công phải về ngay mới được. Vua Ngu vội vã xin phép Tấn Hiến-công trở
về. Nhưng về được nửa đường đã thấy dân trong thành bồng con, dắt vợ chạy trong
kêu khóc như ri. Vua Ngu thất kinh, hỏi:
- Tại sao thế? Dân nước Ngu thưa:
- Quân nước Tấn đã chiếm mất
Ðô-thành rồi. Vua Ngu nổi giận, kéo quân thẳng về Thành đô. Vừa đền nơi thấy một
viên tướng nước Tấn, đứng trên mặt thành nói lớn:
- Ngày trước hiền-hầu cho nước ta
mượn đường, thì nay cho nước ta mượn thành để đóng quân xin hiền-hầu chớ buồn!
Vua Ngu cả giận, xua quân phá
thành. Bên trong nổi lên một hồi trống, tức thì trên thành tên bắn xuống như
mưa. Vua Ngu vội vã lui quân lại, bỗng có quân Tấn Hiến-công kéo đến đánh dồn.
Vua Ngu ngước mặt lên trời than:
- Bởi ta không nghe lời can gián
của Cung Chi Kỳ nên ngày nay phải mất nước. Nói xong, ngoảnh lại thầy Bách Lý Hề
đứng bên cạnh, vua Ngu trách:
- Sao trước đây ngươi không chịu
can ta?
Bách Lý Hề nói:
- Chúa công đã không nghe lời Cung
Chi Kỳ thì có khi nào Chúa công lại nghe lời tôi? Tôi không can là ý muốn lưu lại
cái thân này để theo hầu Chúa công lúc hoạn nạn. Vua nước Ngu vua không biết
tính sao, xảy có Chu Nhi Kiều là quan nước Quắc mới vừa đầu hàng Tấn, ngồi xe
tiến đến.
Vua Ngu trông thấy thẹn đỏ mặt. Chu
Nhi Kiều nói:
- Hiền-hầu nghĩ lầm, bỏ nước Quắc
tôi đó là điều đáng tiếc. Tuy nhiên, việc đã qua không nhắc đến làm chi. Nay nước
Ngu đã mất, hiền hầu còn nghĩ gì mà không đầu Tấn. Vả chăng, Tấn Hiến-công là một
kẻ đại lượng, sẽ không đối xử tệ bạc với hiền-hầu đâu. Xin chớ ngại!
Vua Ngu chưa biết nói sao, kế có
người vâng mệnh Tấn Hiến-công đến mời vua Ngu hội kiến.
Vua Ngu bắt đắc dĩ phải tuân lời.
Tấn Hiến-công tiếp đón vua Ngu và nói:
- Tôi đến đây chỉ để đòi lại ngựa
Quý và ngọc bích. Nói xong, cùng với vua Ngu vào thành. Bách Lý Hề vẫn đi theo
vua Ngu hầu hạ. Có người thấy thế nói:
- Sao nhà ngươi không bỏ đi, còn
theo làm gì? Bách Lý Hề nói:
- Ta làm quan, ăn lộc nước Ngu đã
lâu, nay cố theo để đền ơn. Tấn Hiến-công vào thành nước Ngu. Tuân Tức ra
nghênh đón, tay trái cầm bích ngọc, tay phải dắt ngựa nói:
- Ngày nay mưu kế tôi đã thành, vậy
xin đem ngựa và ngọc quý trao lại cho Chúa công.
Tấn Hiến-công rất đẹp lòng. Lại
muốn bắt vua Ngu giết đi. Tuân Tức thưa:
- Vua nước Ngu là người ngu, giết
mà ích chi.
Tần hiến-công khen phải, tiếp đãi
tử tế, rồi tặng cho một viên bích ngọc và một con ngựa khác, nói:
- Ta không dám quên ơn đã cho mượn
đường sang đánh nước Quắc.
Ðoạn, phong cho Chu Nhi Kiều làm
quan Ðai-phu. Chu Nhi Kiều biết Bách Lý Hề là người hiền, nên tiến cử với Tấn
Hiến-công. Tấn Hiến-công sai Chu Nhi Kiều đến dụ. Bách Lý Hề nói:
- Bao giờ Chúa công tôi mãn đời,
tôi mới phò kẻ khác. Chu Nhi Kiều nói:
- Không chịu làm quan, phò kẻ mất
nước mà ích gì? Bách Lý Hề cười lớn, nói:
- Dẫu muốn làm quan, cũng không
thể làm quan nước địch.
Câu nói ấy làm cho Chu Nhi Kiều
chạm tự ái, bỏ về thưa lại với Tấn Hiến-công.
Giữa lúc ấy có tin sứ nước Tần đến.
Nguyên Tần Mục-công là Nhâm Hiên
lên ngôi đã sáu năm mà chưa lấy vợ, nay sai Công tử Trí sang hỏi con gái Tấn Hiến-công
là Bá Cư đem về lập làm phu nhân.
Tấn Hiến-công mời vào, tiếp đãi sứ
Tần rất hậu, và đồng ý gả Bá Cư cho Tần Mục-công. Công tử Trí lạy tạ lui về nước.
Ði đến nữa đường Công tử Trí gặp một người, mặt đỏ như son, mũi cao, râu rậm,
tay cầm cây đang cày ruộng, mà lưỡi cày ngập xuống đến mấy thước. Công tử Trí lấy
làm lạ, sai người nhắc cái cày lên xem, nhưng quân sĩ không ai nhắc nỗi. Bèn hỏi
người cày ruộng:
- Ngươi tên họ gì, quê quán nơi
đâu? Người cày ruộng thưa:
- Tôi tên là Công Tôn Chi, tự là
Tử-tang vốn dòng họ vua nước Tấn. Công tử Trí hỏi:
- Nhà ngươi có tài, tại sao lại
phải đi cày ruộng? Công Tôn Chi thưa:
- Chỉ vì không có ai tiến dẫn. Công
tử Trí nói:
- Hay nhà ngươi theo ta sang nước
Tần, ta sẽ tâu xin Chúa công ta trọng dụng?
Công Tôn Chi nói:
- Kẻ sĩ gặp người tri kỷ dầu chết
cũng cam. Nếu ngài có lòng tốt tôi còn mong gì hơn.
Công tử Trí cho Công Tôn Chi cùng
ngồi chung với xe mình về nước Tần, tâu với Tần Mục-công. Tần Mục-công cho Công
Tôn Chi làm quan Ðại-phu. Lại sai Công tử Trí đem lễ vật sang nước Tấn, cưới
nàng Bá Cư đem về nước. Công tử Trí phụng mệnh, bèn đi nạp lễ vật, và xin rước
nàng Bá Cư. Tấn Hiến-công hỏi các quan:
- Bây giờ nên cho ai theo hầu Bá
Cư? Chu Chi Kiều thưa:
- Bách Lý Hề không có ý giúp nước
Tấn, lòng thực khó lường. Xin Chúa công sai Bách Lý Hề làm việc ấy.
Tấn Hiến-công nhận lời sai Bách
Lý Hề đi theo hầu Bá Cư.
Bách Lý Hề vốn là người nước Ngu
tên tự là Tỉnh Bá, lúc nhỏ nghèo khổ, ngoài ba mươi tuổi mới lấy nàng Ðỗ-thị
làm vợ, sinh đặng một ngươi con trai. Trong cảnh túng thiếu ấy, Bách Lý Hề muốn
đi lập công danh, song vợ con đơn độc, không biết nhờ cậy ai, vì vậy cứ quyến
luyến mãi, không rỡ dứt tình. Ðỗ-thị thấy vậy thưa:
- Thiếp nghe nói làm trai phải lập
chí, nay phu quân không tìm công danh, cứ vượng bận gia đình, biết bao giờ làm
lên đại sự. Phận thiếp tuy yếu đuối nhưng cũng có thể kiếm ăn được, xin phu
quân đừng ngại.
Nói xong, Ðỗ-thị bắt con gà mái mập
làm thịt để tiễn chân Bách Lý Hề.
Nhà hết củi, Ðỗ-thị phải bẻ phên
làm củi, nấu một nồi cơm gạo đỏ bưng cho Bách Lý Hề ăn.
Bách Lý Hề ăn no, từ giã vợ con
ra đi. Ðỗ-thị tay ẵm con, tay níu áo chồng, trối:
- Lúc phú quý xin chớ phụ nhau.
Bách Lý Hề sang nước Tề, muốn xin
vào yết-kiến Tề Tương-công nhưng không có ai tiến dẫn, đành phải đi ăn xin nơi
đất Diệt (thuộc nước Tề) trong thời gian khá lâu.
Lúc đó, Bách Lý Hề đã bốn mươi tuổi.
Một hôm, lang thang nơi thôn dã, Bách Lý Hề gặp một người tên Kiển Thúc, tính
tình hiền hậu, có dạ thương người. Kiển Thúc thấy Bách Lý Hề tướng mạo khôi
ngô, lấy làm lạ hỏi:
- Người như ngươi lẽ nào đến nỗi
phải đi ăn xin? Bách Lý Hề nói:
- Không gặp vận, không thể ngồi
không mà có cơm ăn được.
Kiển Thúc mời Bách Lý Hề về nhà
làm cơm thết đãi, rồi lưu lại trong nhà, kết làm anh em.
Kiển Thúc hơn Bách Lý Hề một tuổi
nên Bách Lý Hề gọi bằng anh. Kiển Thúc nhà cũng nghèo nên Bách Lý Hề phải đi
chăn trâu thuê cho người trong làng để sinh sống. Ðến lúc Công tử Vô Tri giết Tề
Tương-công lên nối ngôi, treo bảng cầu hiền. Bách Lý Hề muốn ra làm quan, Kiển
Thúc nói:
- Tiên-quân còn một người con trốn
đi nước khác, nay Vô Tri cướp ngôi tất không giữ được lâu.
Bách Lý Hề nghe theo, không tính
chuyện ra làm quan nữa. Kế đó, nghe tin Vương-tử Đồi nhà Châu thích chơi trâu,
những người nuôi trâu được ăn lương rất hậu, Bách Lý Hề nói với Kiển Thúc xin
sang nhà Châu tìm cơ hội. Kiên Thúc nói:
- Kẻ trượng phu không nên khinh
thường đem thân giao cho kẻ khác. Nếu làm quan với người ta, đến khi hoạn nạn lại
bỏ đi là bất trung, còn nếu không bỏ đi là bất trí. Em có đi phải cẩn thận
trong việc đó mới được. Lúc nào anh thu xếp xong việc nhà cũng sẽ vào Kinh đô
nhà Châu để thăm em. Bách Lý Hề vào nhà Châu, yết kiến Vương-tử Ðồi, nói về
cách nuôi trâu.
Vương-tư Ðồi mừng lắm toan dùng Bách
Lý Hề làm gia nhân. Gặp lúc Kiển Thúc đến thăm, Bách Lý Hề đưa Kiển Thúc vào yết-kiến
Vương-tử Ðồi. Sau khi ra về, Kiển Thúc nói với Bách Lý Hề:
- Vương-tử Đồi chí lớn, nhưng bất
tài, lại gần gũi kẻ nịnh tất có ngày làm bậy. Chi bằng chúng ta bỏ đi là hơn.
Bách Lý Hề nói:
- Em xa cách quê hương đã lâu
ngày, nay trở về nước Ngu thăm vợ con có đặng không?
Kiển Thúc nói:
- Nước Ngu có một người tôi hiền
là Cung Chi Kỳ, người ấy quen biết với anh. Nay nếu em muốn về nước Ngu thì anh
cùng đi với, sang đó thăm Cung Chi Kỳ luôn thể.
Nói xong, liền cùng với Bách Lý Hề
trở về nước Ngu.
Lúc bấy giờ vợ Bách Lý Hề là Ðỗ-thị,
vì nghèo quá không lấy gì nuôi sống, phải lưu lạc tha phương không rõ đi vào
đâu. Bách Lý Hề không thấy mặt vợ con, thương xót vô cùng. Kiển Thúc vào yết kiến
Cung Chi Kỳ thuật chuyện Bách Lý Hề là người hiền tài, đề nghị tiến cử với vua
nước Ngu. Vua nước Ngu cho đòi Bách Lý Hề vào phong làm quan Trung đại-phu. Kiển
Thúc nói:
- Ta xét thấy vua nước Ngu là người
thiếu kiến thức, mà tự đắc thì không phải là vua hiền vậy.
Bách Lý Hề nói:
- Em lâu nay nghèo khổ, có khác
nào như cá bị cạn, ngóng chờ nước để đồng thân! Dẫu chưa phải vua hiền cũng cứ
tạm dung thân đã.
Kiển Thúc nói:
- Vì nghèo khổ mà em phải ra làm
quan anh không thế nào ngăn em được, nhưng mai sau em có nhớ anh đến thăm, em cứ
đến làng Minh-lộc nước Tống. Nơi ấy phong cảnh tịch mịch, nên anh có ý định ở
đó.
Nói xong, Kiển Thúc từ giã. Bách
Lý Hề ở lại làm quan nước Ngu.
Ngày tháng trôi qua, chẳng bao
lâu vua Ngu mất nước, Bách Lý Hề không nỡ bỏ đi, cứ quanh quẩn phàn nàn một
mình:
- Tiếng bất trí ta đã mang lấy
thì có lẽ nào còn gánh chịu chữ bất trung nữa.
Lúc bấy giờ Bá Cư sang nước Tấn, Tấn
Hiến-công sai Bách Lý Hề đi theo hầu. Bách Lý Hề than:
- Tài của ta mà không gặp được đấng
minh-quân để thi thố, cứ mãi đi hầu hạ người ta, có khác gì tên đầy tớ, thì còn
gì nhục bằng. Tuy nhiên, lệnh vua không thể không tuân.
Vừa đi được nửa đường, Bách Lý Hề
tìm cách trốn sang nước Tống, nhưng đường bị nghẽn nên lại qua nước Sở, đến đất
Uyển-thành (đất nước Sở). Lúc ấy người đi săn ở đất Uyển-thành trông thấy Bách
Lý Hề, ngỡ là quân phiến loạn, nên bắt trói lại. Bách Lý Hề điềm tĩnh nói:
- Nước Ngu của tôi bị thất thủ,
nên tôi phải trốn đến đây. Người đi săn hỏi:
- Nhà ngươi có biết làm nghề gì
không? Bách Lý Hề đáp:
- Tôi có tài nuôi trâu.
Người đi săn cởi trói cho Bách Lý
Hề và đem về cho nuôi trâu. Bách Lý Hề nuôi trâu rất mau lớn và tốt đẹp, mọi
người đều khen tặng, tiếng ấy đến tai vua nước Sở. Nhà vua bèn triệu Bách Lý Hề
vào, hỏi:
- Nhà ngươi nuôi trâu như thế nào
mà chóng, bén tốt vậy? Bách Lý Hề tâu:
- Cho ăn có điều độ, không bắt nó
làm quá sức luôn luôn chăm sóc, không bỏ quên nó.
Vua nước Sở nói:
- Nhà ngươi nói rất phải! Không
riêng cho nuôi trâu như vậy mà nuôi ngựa cũng cần phải thế.
Bách Lý Hề được vua Sở cho làm chức
Ngữ-nhân ra xứ Ðông-hải chăn ngựa.
Một hôm Tần Mục-công ngồi xem sổ
những người đi theo hầu Bá Cư, có tên Bách Lý Hề, mà không thấy người, lấy làm
lạ, liền gọi Công tử Trí hỏi. Công tử Trí thưa:
- Trước đây Bách Lý Hề là bề tôi
của nước Ngu, nhưng hiện giờ người đã trốn đi rồi!
Tần Mục-công bảo Công Tôn Chi:
- Nhà ngươi lúc trước có ở nước Tấn.
Chắc cũng được biết Bách Lý Hề là người thế nào?
Công Tôn Chi thưa:
- Bách Lý Hề là người hiền, biết
vua nước Ngu không thể can nên không nói đến. Ấy là người trí, theo vua nước
Ngu sang ở nước Tấn, song không chịu phò Tấn. Ấy là người trung, kẻ có tài như
vậy mà chưa gặp được cơ hội, cũng phải đành chịu. Tần Mục-công nói:
- Nếu ta dùng được Bách Lý Hề thật
là hay lắm! Công Tôn Chi thưa:
- Tôi được tin đồn vợ con Bách Lý
Hề cư trú tại nước Sở, chắc Bách Lý Hề trốn sang nước đó. Vậy ta sai người đến
nước Sỏ tìm hiểu tin tức.
Tần Mục-công liền sai người đi.
Trong thời gian dò hỏi, người ấy đã hiểu được rõ ràng, nên về tâu lại với Tần Mục-công:
- Bách Lý Hề chăn ngựa cho vua nước
Sở, hiện nay ở tại xứ Nam-hải. Tần Mục-công nói:
- Ta muốn sai ngươi đem lễ vật
sang xin rước về, không biết vua Sở có thuận chăng? Công Tôn Chi thưa:
- Ðem lễ vật, chưa chắc nước Sở
đã chịu cho Bách Lý Hề về. Tần Mục-công hỏi:
- Tại sao? Công Tôn Chi thưa:
- Vua nước Sở dùng Bách Lý Hề
chăn ngựa tức là không biết Bách Lý Hề là tôi hiền. Nay Chúa công đem lễ vật
sang, chẳng khác nào bảo cho vua nước Sở biết Bách Lý Hề là hiền-sĩ. Chi bằng lấy
cớ Bách Lý Hề trốn đi, xin chuộc về để trị tội, ấy là kế của Quản Trọng ngày
xưa đánh lừa nước Lỗ mà thoát thân đó.
Tần Mục-công khen phải, sai người
đem năm bộ da dê biếu vua nước Sở, và nói:
- Nước tôi có một kẻ tiện-nhân trốn
sang Quý-quốc tên Bách Lý Hề. Chúa công tôi muốn bắt đem về trị tội để làm
gương, nên gửi biếu Quý quốc năm tấm da dê, để xin chuộc mạng tội nhân.
Vua Sở sợ mất lòng vua Tần liền
sai bắt Bách Lý Hề giao trả. Thấy Bách Lý Hề bị bắt, mọi người đều có ý thương
xót, lại có kẻ ứa nước mắt, buồn cho số phận kẻ long đong. Bách Lý Hề mỉm cười
nói:
- Tôi nghe vua nước Tần có chí lớn
từng mưu đồ đại sự. Một người như vậy đâu có thiết gì một kẻ theo hầu mà bắt tội.
Ðây chắc vua Tần muốn đem tôi về để dùng, vậy xin các bạn chớ có than khóc làm
chi.
Nói xong dõng dạc bước vào tù xa
để cho quân sĩ giải về nước Tần. Vừa về đến nơi, đã thấy Công Tôn Chi được lệnh
Tần Mục-công ra tận biên ải đón rước, để triệu vào triều yết kiến.
Tần Mục-công hỏi Bách Lý Hề:
- Năm nay nhà ngươi đã bao nhiêu
tuổi? Bách Lý Hề nói:
- Tôi đã hơn bảy mươi. Tần Mục-công
thở dài nói:
- Ðáng tiếc thay. Tuổi nhà ngươi
đã quá cao. Bách Lý Hề nói:
- Nếu là việc lên rừng bắt hổ, xuống
biển chèo ghe thì tuổi tôi già thực. Nhưng nếu bàn về chính trị, luận việc
"phải trái" ở đời thì tuổi tôi vẫn còn trẻ lắm. Ngày xưa, ông Lã-vọng
hơn tám mươi tuổi đầu, đi câu ở bên sông Vị, vua Văn-vương đem về làm Tương phụ,
rồi giúp nên cơ nghiệp nhà Châu. Nay tôi gặp Chúa công, thiết tưởng còn sớm hơn
ông Lã Vọng đến mười tuổi.
Tần Mục-công nghe Bách Lý Hề nói
khí khái như vậy có ý kính trọng, hỏi tiếp:
- Nay nước ta tiếp giáp với Nhung-địch
là một nước bất tuân vương mạng, thường quấy rối, thế thì ta phải làm sao cho
nước Tần ta cường thịnh? Bách Lý Hề nói:
- Nếu Chúa công không khinh tôi
là kế bất tài, hỏi đến, tôi đâu dám tiếc lời. Ðất Ung-kỳ là nơi hiểm yếu, trước
kia Văn-vương, Võ-vương cũng đều dùng nơi đó để lập nghiệp. Thế mà nay nhà Châu
không biết, cắt cho nước Tần, ấy là lòng trời muốn cho nước Tần dựng nên nghiệp
bá. Vả lại, phía Tây này có hơn vài mươi nước nhỏ. Các nước đó rất lợi hại cho
ta. Lúc chưa chinh phục được họ, là hại. Vì họ sẽ đem binh quấy rồi làm cho nước
ta bất an. Nhưng nếu lúc đã chinh phục được họ, thì nước ta sẽ nắm trong tay một
sức mạnh oai hùng, có thể dùng chinh phục Trung-nguyên nổi.
Tần Mục-công nghe nói như người
chiêm bao mới tỉnh, đứng dậy xá Bách Lý Hề một cái, nói:
- Ta được nhà ngươi giúp sức,
khác nào nước Tề được Quản Trọng.
Tần Mục-công cùng với Bách Lý Hề
nói chuyện với nhau trong ba ngày mà không thấy chán. Bách Lý Hề được phong làm
chức Thượng-khanh nắm giữ quyền bính trong nước. Vì vậy người ta gọi là Ngũ cỗ
Thượng-khanh.
Việc Bách Lý Hề đang là một kẻ
chăn trâu mà được vua Tần đem về dùng phong chức lớn như vậy, ai lại không ngạc
nhiên.
--------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét