🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Thương Thần giết cha ở trong cung
Quân Tần chết trận được cúng tế
Vua nước Ðịch là Bạch Bộ Hồ bị giết rồi, quân sĩ trốn về báo với Bạch Ðôn. Bạch Ðôn khóc rằng:
- Khi trước ta đã nói là nước Tần có trời giúp, không dễ đánh nổi, mà anh ta không nghe lời, để đến nỗi bị hại!
Bạch Ðôn sai người sang nói với quân Tấn, xin đem thi thể Tiên Chẩn đổi lấy thi thể Bạch Bộ Hồ.
Lại nói chuyện Khước Khuyết chém được thủ cấp Bạch Bộ Hồ, cùng với các tướng đem về nộp Trung quân nguyên soái, nhưng không thấy Tiên Chẩn đâu cả, liền hỏi các quân sĩ, quân sĩ đều nói:
- Nguyên soái vừa đi khỏi, có truyền cho chúng tôi phải canh giữ cẩn mật, không biết ngài đi đâu!
Tiên Thả Cư nghe nói, có ý nghi ngờ, bỗng thấy trên án thư có một tờ biểu, vội vàng lấy xem. Tờ biểu nói như sau:
- “Trung quân đại phu là Tiên Chẩn có lời tâu lên chúa công: Tôi đây là kẻ bề tôi mà đã vô lễ với vua, chúa công đã không trị tội, lại dùng cho làm nguyên soái. Ngày nay thắng trận, tất sao chúa công cũng ban thưởng, nếu tôi về mà chịu thưởng thì thành ra kẻ vô lễ cũng được quận công còn lấy gì làm phép cho kẻ khác. Vậy tôi xin liều thân xông vào quân Ðịch, để mượn tay quân Ðịch thay cho sự trừng phạt của nhà vua! Con tôi là Tiên Thả Cư có tướng tài, có thể thay tôi được. Ðứng trước cái chết tôi mạo muội dâng thư”.
Tiên Thả Cư nói:
- Như vậy thì thân phụ tôi xông vàp quân Ðịch mà chết mất rồi!
Nói xong, khóc òa lên một hồi, rồi toan xông vào quân Ðịch để tìm Tiên Chẩn. Các tướng xúm lại can ngăn, xin hãy sai người đi dọ thám trước xem nguyên soái sống chết thế nào, rồi sẽ tiến binh. Bỗng có quân báo em vua Ðịch là Bạch Ðôn sai người đến xin đổi thi thể Tiên Chẩn lấy thi thể Bạch Bộ Hồ. Tiên Thả Cư nghe tin cha chết, liền vật mình lăn khóc, rồi hẹn với quân Ðịch đến ngày hôm sau thì đem hai thi thể đổi lẩn cho nhau. Sứ nước Ðịch cao từ lui về. Tiên Thả Cư lại bảo các tướng rằng:
- Quân Ðịch hay gian dối lắm, ngày mai ta cũng nên phòng bị mới được!
Nói xong, truyền cho các tướng đều phục quân sẵn để phòng khi có việc giao chiến. Ngày hôm sau, Tiên Thả Cư mặc tang phục, ra nơi trận tiền để nhận thi thể Tiên Chẩn. Bạch Ðôn sợ vong hồn Tiên Chẩn thiêng, mới nhổ hết những mũi tên ở mình Tiên Chẩn ra, đem nước trầm hương tắm rửa, lại phủ thêm cái áo cẩm bào, đạt lên trên xe, trông như người còn sống, rồi đưa ra trận tiền, giao trả Tiên Thả Cư. Quân Tấn cũng đem thủ cấp Bạch Bộ Hồ giao trả cho quân Ðịch. Bạch Ðôn trông thấy quân Tấn chỉ giao trả có thủ cấp Bạch Bộ Hồ thôi, không được đủ thân thể, liền không bằng lòng mà nói rằng:
- Nước Tấn thật hay lừa người! Sao không giao đủ thân thể?
Tiên Thả Cư sai người truyền bảo Bạch Ðôn rằng:
- Có muốn lấy đủ thân thể thì nhà ngươi phải vào thung lũng mà tìm ờ trong đống xác người chết ấy.
Bạch Ðôn giận lắm, cầm cái khai sơn đại phủ, vẫy quân xông vào đánh. Tướng nước Tấn là Hồ Xạ Cô đem quân ra đối địch. Hai bên vừa giao chiến được mấy hợp thì phía tả có Khước Khuyết, phía hữu có Loan Tần đổ ra đón đánh. Bạch Ðôn thấy quân Tấn đông quá, vội vàng quay ngựa bỏ chạy. Quân Tấn tranh nhau đuổi theo Bạch Ðôn. Khi đuổi gần đến nơi, Bạch Ðôn trông thấy, liền hỏi Hồ Xạ Cô rằng:
- Ta trông tướng quân quen mặt lắm, có phải Hồ Xạ Cô đó không?
Hồ Xạ Cô nói:
- Phải!
Bạch Ðôn nói:
- Vậy tôi xin có lời chào tướng quân! Cha con tướng quân khi trước ở nước tôi mười hai năm trời, nước tôi có điều gì bạc đãi đâu, ngày nay tướng quân nên nghĩ lại một chút, tôi chính là em ruột Bạch Bộ Hồ, tên gọi Bạch Ðôn đây.
Hồ Xạ Cô thấy Bạch Ðôn nhắc lại chuyện cũ, không nỡ giết chết, liền đáp lại rằng:
- Thôi thì ta khoan tha cho nhà ngươi, nhà ngươi nên mau mau thu quân về ngay, chớ ở đây nữa!
Hồ Xạ Cô quay ngựa trở lại. Ðêm hôm ấy, Bạch Ðôn rút hết quân kéo về nước Ðịch. Bạch Bộ Hồ không có con trai, Bạch Ðôn phát tang, rồi lên nối ngôi làm vua nước Ðịch. Quân Tấn thắng trận rồi các tướng về yết kiến Tấn Tương-công và đệ trình tờ di biểu của Tiên Chẩn. Tương công thương xót vô cùng, truyền đem thi thể Tiên Chẩn ra xem, trông thấy hai mắt vẫn mỡ trừng trừng như lúc còn sống, vội vàng ôm lấy thi thể mà khóc rằng:
- Tướng quân vì việc nước mà chết! Sống khôn chết thiêng! Xem mấy lời di biểu nầy thì đủ biết tướng quân là người trung nghĩa.
Tấn Tương-công nói xong, sụp lạy ở trước linh cữu Tiên Chẩn, phong cho Tiên Thả Cư làm nguyên soái. Bấy giờ hai mắt Tiên Chẩn mới nhắm lại. Về sau, người nước Tấn có lập đền thờ Tiên Chẩn ở đất Cơ Thành.
Tấn Tương-công lại khen Khước Khuyết có công giết được Bạch Bộ Hồ, phong cho đất Ký Ấp mà bảo rằng:
- Nhà ngươi biết đền bồi cáo lỗi của thân phụ nhà ngươi ngày xưa, vậy nên ta trả lại cho đất Ký Ấp là đất ăn lộc của thân phụ nhà ngươi trước.
Tấn Tương-công lại bảo Tư Thần rằng:
- Nhà ngươi có công tiến cử Khước Khuyết, nếu không có nhà ngươi thì sao ta biết Khước Khuyết mà dùng.
Tấn Tương-công bèn đem đất Tiêu Mao thưởng cho Tư Thần.
Nước Hứa và nước Sái từ khi Tấn Văn-công mất đi, lại thần phục nước Sở. Tấn Tương-công cho Dương Xử Phủ làm đại tướng, đem quân sang đánh nước Hứa và nước Sái. Sở Thành-vương sai Ðấu Bột và Thành Ðại Tâm đem quân đi cứu. Ði đến bến sông Chi Thủy, trông thấy quân Tấn ở bờ bên kia, liền truyền cho quân sĩ đóng lại ở bờ sông nên này. Hai bên chỉ cách nhau một dòng nước chảy. Quân Tấn bị quân Sở ngăn trở, không qua sông được, đã hơn hai tháng, thành ra hết cả lương ăn. Dương Xử Phủ định rút quân về, nhưng sợ người nước Sở đuổi theo, lại e rằng người ta cười mình chịu kém quân Sở, mới lập kế sai sứ sang nói với tướng nước Sở là Ðấu Bột rằng:
- “Ðã đến thì không sợ, đã sợ thì không đến”, tướng quân muốn đánh nhau với quân Tấn tôi thì quân Tấn tôi xin rút quân lùi lại một xá, để nhường cho tướng quân qua sông mà bày trận, rồi ta sẽ cùng nhau giao chiến, nếu tướng quân không muốn qua sông thì tướng quân cũng lùi lại một xá, để nhường cho quân Tấn tôi qua sông mà bày trận và xin định ngày giao chiến. Bằng nay không lui thì hai bên cùng nhọc công tốn của, phỏng có ích gì! Xin tướng quân nghĩ lại.
Ðấu Bột nổi giận nói:
- Nước Tấn khinh ta không dám qua sông sao!
Nói xong, toan đem quân qua sông để đánh Tấn. Thành Ðại Tâm vội vàng ngăn lại mà nói rằng:
- Người nước Tấn xin rút quân lùi lại một xá là nói dối để dụ quân ta sang đó mà thôi, ngài chớ nên tin vội. Nếu quân ta sang được một nửa, tất quân Tấn đánh ngay, bấy giờ ta tiến cũng dở mà thoái cũng dở, chi bằng ta hãy rút quân, nhường cho quân Tấn sang trước.
Ðấu Bột khen phải, rồi truyền quân sĩ lùi ra ba mươi dặm (tức là một xá) để nhường cho quân Tấn sang sông. Sứ nước Tấn về nói với Dương Xử Phủ. Dương Xử Phủ đôn đốc trong quân rằng:
- Tướng nước Sở là Ðấu Bột sợ thế quân ta,hiện đã rút quân trốn đi rồi.
Quân sĩ tưởng thực, đem chuyện ấy truyền cho nhau. Dương Xử Phủ lại nói:
- Quân Sở đã trốn đi rồi thì ta còn qua sông làm gì nữa! Bây giờ ngày hết Tết đến, tiết trời lại rét, âu là hãy thu quân về nghỉ, rồi sau sẽ liệu.
Dương Xử Phủ bèn thu quân về nước. Ðấu Bột chờ đã hai ngày không thấy quân Tấn qua sông, sai người đi dò thám thì ra quân Tấn rút về đã xa rồi, mới cũng truyền lệnh thu quân về nước.
Lại nói chuyện Sở Thành-vương có người con trưởng tên là Thương Thần, khi trước Sở Thành-vương muốn lập làm thái tử hỏi ý kiến Ðấu Bột. Ðấu Bột nói:
- Nước Sở ta mấy đời nay vẫn lập con thứ, không lập con trưởng, và tôi xem tướng mạo Thương Thần, mắt như mắt cú, tiếng như tiếng heo; là người có tính tàn nhẫn, ngày nay đại vương yêu mà lập nên, ngày khác lại ghét mà trút đi, tất hẳn nổi loạn.
Sở Thành-vương không nghe, liền lập Thương Thần làm thái tử và cho Phan Sùng làm chức thái phó. Thương Thần nghe nói Ðấu Bột không muốn lập mình làm thái tử, có ý căm tức, đến lúc Ðấu Bột đem quân về, Thương Thần mới đem lời dèm pha với Sở Thành-vương rằng:
- Ðấu Bột ăn lễ của Dương Xử Phủ, vậy nên mới rút quân về.
Sở Thành-vương tin lời, khi Ðấu Bột về, không cho vào yết kiến, lại sai người đưa cho một thanh kiếm đâm cổ mà chết. Thành Ðại Tâm vào yết kiến Sở Thành-vương, sụp lạy kêu khóc, thuật lại cái cớ Ðấu Bột rút quân về, không phải ăn lễ của Dương Xử Phủ, nếu bắt tôi về việc rút quân thì Thành Ðại Tâm cũng xin chịu tội. Sở Thành-vương nói:
- Nhà ngươi nói mà chi nữa! Ta cũng lấy việc ấy làm hối hận.
Sở Thành-vương từ bấy giờ có ý nghi thái tử Thương Thần, sau Sở Thành-vương lại yêu người con thứ tên là Chức; muốn bỏ Thương Thần mà lập Chức làm thái tử, nhưng lại sợ Thương Thần nổi loạn, mới định tìm cớ để giết đi. Có người cũng nhận nghe được tin ấy, nói với Thương Thần. Thương Thần còn ngần ngừ chưa cho điều ấy làm thực, thuật chuyện lại cho quan thái phó là Phan Sùng nghe. Phan Sùng nói:
- Tôi xin hiến một kế, có thể dò xét được điều ấy thực hay là giả.
Thương Thần hỏi:
- Kế gì?
Phan Sùng nói:
- Em gái đại vương ta lấy chồng ở nước Giang, gọi là nàng Giang Vu, nay về thăm đại vương ta, ở chơi trong cung lâu ngày, tất biết rõ điều ấy. Thái tử nên bày một tiệc rượu, mời Giang Vu đến ăn tiệc, rồi trong khi ăn tiệc, cố ý làm ra bộ khinh bỉ, để khiến cho Giang Vu phải tức giận. Giang Vu đã tức giận, tất thế nào cũng nói lộ điều ấy ra.
Thương Thần nghe lời, bày tiệc rượu để mời Giang Vu. Lúc Giang Vu mới đến thì Thương Thần tiếp đãi rất lễ phép, khi uống rượu tới nửa chừng, dần dần làm ra bộ khinh bỉ, sai người nhà bếp đưa món ăn mà không thèm đứng dậy mời, lại cố ý ngảnh mặt nói chuyện riêng với mấy đứa thị nữ hầu rượu. Giang Vu hai lần hỏi chuyện Thương Thần đều không trả lời. Giang Vu giận lắm, đạp bàn đứng dậy mà xỉ mắng Thượng Thần rằng:
- Mày tệ quá như thế, thảo nào mà đại vương định giết mày để lập công tử Chức.
Thương Thần giả cách xin lỗi. Giang Vu không thèm nhìn mặt, lên xe đi ngay, vừa đi vừa mắng Thương Thần thậm tệ. Ngay đêm hôm ấy, Thương Thần đến bảo Phan Sùng, và hỏi kế để thoát nạn. Phan Sùng nói:
- Thái Tử có thể cúi đầu mà thần phục công tử Chức được không?
Thương Thần nói:
- Ta là con trưởng mà phải thần phục con thứ thì chịu đựng thế nào được?
Phan Sùng nói:
- Nếu không chịu thần phục người ta thì chi bằng trốn sang nước khác.
Thương Thần nói:
- Trốn cũng vô ích, chỉ thêm nhục thôi!
Phan Sùng nói:
- Ngoài hai cách ấy ra thì chẳng còn cách gì nữa!
Thương Thần lại cố ý hỏi mãi. Phan Sùng nói:
- Có một kế này rất thần diệu, nhưng chỉ sợ thái tử không nỡ làm.
Thương Thần nói:
- Trong lúc đang nguy cấp này lại còn điều gì là điều không nỡ!
Phan Sùng ghé tai mà bảo rằng:
- Chỉ làm đại sự thì mới có thể đổi họa làm phúc được.
Thương Thần nói:
- Việc đó ta làm được!
Nói xong, liền tụ tập quân sĩ, đến nửa đêm vào vây cung Sở Thành-vương. Phan Sùng tay cầm thanh kiếm, cùng với mấy người lực sĩ đi thẳng đến trước mặt Sở Thành-vương. Các nội thị sợ hãi đều bỏ chạy tán loạn cả. Thành-vương hỏi:
- Nhà ngươi vào đây có việc gì?
Phan Sùng nói:
- Ðại vương làm vua đã bốn mươi sáu năm rồi, cũng nên thôi đi! Nay người trong nước đều mong có vua mới, xin đại vương truyền ngôi lại cho thái tử.
Thành-vương kinh sợ mà nói rằng:
- Ta bằng lòng nhường ngôi lại cho, nhưng chẳng biết các người có để ta sống hay không?
Phan Sùng nói:
- Vua nọ chết đi thì vua kia mới lập lên, có lẽ nào một nước hai vua bao giờ! Sao đại vương đã già mà còn chưa hiểu việc đời?
Thành-vương nói:
- Ta vừa mới sai nhà bếp nấu món chân gấu, đợi chín cho ta ăn một miếng thì dẫu chết ta cũng cam lòng.
Phan Sùng quát to lên rằng:
- Món chân gấu thì còn lâu mới chín được, hay là đại vương định dùng dằng đợi người đến cứu đó chăng? Xin đại vương tự liệu đi, chớ để tôi phải động thủ.
Phan Sùng cởi dây lưng ném trước mặt Thành Vương. Thành-vương ngửa mặt lên trời mà kêu rằng:
- Ôi Ðấu Bột! Ôi Ðấu Bột! Ta không nghe lời nói của trung thần, đến nổi phải tai vạ, còn nói gì nữa!
Nói xong, liền cầm lấy giây lưng mà buộc vào cổ. Phan Sùng sai mấy người đứng hai bên nắm đầu giây mà kéo, được một lúc thì Thành-vương tắt hơi. Giang Vu nghe tin, thở dài mà than rằng:
- Thôi! Chính ta làm hại anh ta rồi đó!
Giang Vu cũng thắt cổ tự tử. Thương Thần đã giết xong Thành-vương, nói dối là Sở Thành-vương bị cảm mà chết, sai người báo tang cho chư hầu biết, rồi lên nối ngôi, tức là Sở Mục-vương.
Sở Mục-vương gia phong cho Phan Sùng làm chức thái sư và giao binh quyền cho, để coi giữ vương cung. Quan lệnh doãn nước Sở là Ðấu Ban cùng các quan đều biết là Sở Thành-vương bị giết mà không dám nói. Ðấu Nghi Thân nghe tin Sở Thành-vương bị giết, liền cùng với quan đại phu là Trọng Quy bàn mưu để giết Sở Mục-vương, chẳng ngờ việc tiết lộ, Mục-vương truyền cho quan tư mã là Ðấu Việt Tiêu bắt Ðấu Nghi Thân và Trọng Quy mà giết đi. Ngày trước có người thầy đồng tên là Duật Tự đã nói: “Sở Thành-vương cùng với Thành Ðắc Thần và Ðấu Nghi Thân, ba người đều bất đắc kỳ tử” đến bây giờ quả nhiên ứng nghiệm. Ðấu Việt Tiêu có ý muốn làm lệnh doãn mới nói với Sở Mục-vương rằng:
- Tôi thấy Ðấu Ban nói chuyện với người ta, thường phàn nàn về nỗi cha con nhà hắn chịu ơn tiên vương nhiều lắm; mà không giúp nên được cái chí lớn của tiên vương ngày xưa thì lấy làm xấu hổ. Hắn muốn lập công tử Chức lên làm vua, mới rồi Ðấu Nghi Thân làm phản là mưu tự Ðấu Ban, nay Ðấu Nghi Thân đã bị giết rồi, Ðấu Ban có ý lo sợ, tôi e rằng hắn lại bày mưu khác, đại vương nên phải phòng bị mới được.
Sở Mục-công đem lòng nghi Ðấu Ban, mới triệu Ðấu Ban vào, sai đi giết công tử Chức. Ðấu Ban chối từ không chịu đi, Mục-vương nổi giận, nói:
- Nhà ngươi muốn giúp nên cái chí lớn của tiên vương ngày xưa có phải không?
Mục-vương liền cầm cái dùi đồng đánh chết Ðấu Ban. Công tử Chức sợ hãi, định chạy sang nước Tấn. Ðấu Việt Tiêu đuổi theo đến ngoài cõi, giết chết công tử Chức. Sở Mục-vương cho Thành Ðại Tâm làm lệnh doãn, chưa được bao lâu thì Thành Ðại Tâm chết, Mục-vương liền cho Ðấu Việt Tiêu làm lệnh doãn, và nhớ đến công tử Văn ngày xưa, mới cho Ðấu Khắc Hoàng (con Ðấu Ban, cháu Tử Văn) làm quan châm doãn.
Tấn Tương-công nghe tin Sở Thành-vương chết, bảo Triệu Thuẫn rằng:
- Thế là lòng trời đã chán nước Sở rồi!
Triệu Thuẫn nói:
- Vua nước Sở trước dẫu là bạo ngược, nhưng còn có thể đem điều lễ nghĩa mà giáo hoá được, Thương Thần là đứa vô phụ, cha còn không tha huống là người khác! Tôi e rằng cái vạ chư hầu chưa thật là hết!
Mấy năm sau, quả nhiên Sở Mục-vương đem quân đi đánh các nước, đúng như lời nói của Triệu Thuẫn.
Tướng nước Tần là Mạnh Minh nói với Tần Mục-công xin đem quân đánh Tấn, để báo thù trận thua ở Hào Sơn khi trước. Tần Mục-công khen mà cho đi. Mạnh Minh liền cùng với Kiển Binh và Tây Khất Thuật đem quân đi đánh Tấn. Tấn Tương-công vẫn lo nước Tần đem quân sang báo thù, ngày nào cũng sai người đi dò thám, khi được tin mạnh Minh lại sắp sang đánh, mới cười mà bảo rằng:
- Nước Tần nay đã sắp sang tạ ơn ta đó!
Tấn Tương-công bèn cho Tiên Thả Cư làm chánh tướng, Triệu Thôi làm phó tướng, Hồ Cúc Cư làm chức xa hữu, để đợi quân Tần sang đến nơi thì đánh. Khi đại binh sắp khởi hành, Lang Ðàm nói với Tiên Thả Cư xin đi theo. Tiên Thả Cư cho đi. Bấy giờ bọn Mạnh Minh chưa sang đến nơi, Tiên Thả Cư bảo các tướng rằng:
- Ðợi quân Tần đến mới đánh, chi bằng ta kéo sang mà đánh quân Tần.
Tiên Thả Cư nói xong, liền kéo quân sang đất Bành Nha (đất nước Tần) để đón quân Tần. Khi quân Tần đến nơi, hai bên đã bày thành trận thế, Lang Ðàm nói với Tiên Thả Cư rằng:
- Tiên nguyên soái ngày xưa chê tôi là người vô dũng, vậy nên truất bỏ không dùng, ngày nay tướng quân hãy thử cho tôi ra trận, tôi không dám cầu công, chỉ mong rửa được cái điều xấu hổ trước mà thôi.
Tiên Thả Cư bằng lòng.
Lang Ðàm cùng với bạn là Tiên Bá đem hơn một trăm người xông thẳng vào trong đám quân Tần. Bọn Lang Ðàm đi đến đâu thì quân Tần tan rã đến đấy, Tiên Bá bị Kiển Binh giết chết. Tiên Thả Cư đứng ở trên xe, trông thấy quân Tần rối loạn, mới giục quân tiến vào. Bọn Mạnh Minh không thể chống lại được, tức thì bỏ chạy. Tiên Thả Cư tìm cứu Lang Ðàm ra thì thân thể Lang Ðàm chỗ nào cũng bị thương cả, được hơn một ngày thì chết. Quân Tấn đã được thắng trận kéo nhau trở về. Tiên Thả Cư tâu với Tấn Tương-công rằng:
- Ngày nay thắng trận là nhờ sức của Lang Ðàm chứ không dự gì đến tôi.
Tấn Tương-công truyền theo lễ quân thượng đại phu mà an táng Lang Ðàm ở Tây Quách, bắt các quan triều thần phải đi đưa cả.
Mạnh Minh thua trận, chạy về nước Tần, tự nghĩ mình lần này tất phải tội chết, ai ngờ Tần Mục-công chẳng trách giận gì cả, lại sai người ra đón, và vẫn giao quyền chính cho như trước. Mạnh Minh tự nghĩ xấu hổ vô cùng, mới dốc một lòng sửa sang quyền chính, lại đem hết những của riêng ra để tư cấp cho những nhà có người chết trận để đánh báo thù nước Tấn. Cuối năm ấy, Tấn Tương-công lại sai Tiên Thả Cư liên hợp với quan đại phu nước Tống là công tử Thành, quan đại phu nước Trần là Viên Tuyển, quan đại phu nước Trịnh là công tử Quý Sinh, cung đem quân sang đánh Tần, chiếm lấy đất Giang và đất Bành Nha, rồi rút quân về, lại nói giỡn một câu rằng:
- Mới rồi, nước Tần sang tạ ơn ta thì ngày nay ta đáp lại đó!
Mạnh Minh không đem quân đi đánh quân Tấn, chỉ vì chưa gặp thời đó thôi.
Ðến thắng năm năm sau, Mạnh Minh luyện tập quân sĩ đều đã tinh nhuệ cả rồi, mới xin Tần Mục-công thân hành đi đánh, lại nói với Tần Mục-công rằng:
- Nếu lần này tôi không báo thù được nước Tấn thì quyết không sống mà về làm gì!
Tần Mục-công nói:
- Quân ta đã ba lần bị quân Tấn đánh thua rồi! Nếu lần này lại thua thì ta cũng chẳng còn mặt mũi nào mà về nước nữa!
Tần Mục-công nói xong, liền chọn ngày cử đại binh đi đánh Tấn, phàm các quân sĩ phải đi tòng chinh, đều tư cấp cho người nhà rất hậu. Các quân sĩ thấy vậy, đều hăng hái xin hết sức. Khi đại binh đã qua sông Hoàng Hà, Mạnh Minh truyền đem bao nhiêu thuyền bè đốt hết sạch cả. Tần Mục-công lấy làm lạ hỏi rằng: Tại sao nguyên soái lại đốt hết cả thuyền bè như vậy?
Mạnh Minh nói:
- Quân có khí thế mới đánh được giặc! Quân ta thua luôn mãi, khí thế đã mất hết cả rồi, nay tôi đốt thuyền bè đi là tỏ cho quân ta biết rằng: Chỉ có tiến chứ không có thoái, khiến cho khí thế quân ta được thêm hăng hái, nếu quân ta đã thắng trận rồi, thì lo gì không có thuyền bè trở về.
Tần Mục-công khen phải. Mạnh Minh kéo quân đi tiên phong, xông vào đánh lấy thành Vương Quan. Quân nước Tấn phi báo Tấn Tương-công. Tấn Tương-công hợp triều thần lại để thương nghị. Triệu Thôi nói:
Nước Tần căm tức ta nhiều lần, lần nay vua Tần thân hành cử đại binh sang, cố chết mà đánh ta, ta không thể địch nổi, chi bằng ta hãy tạm tránh, khiến cho quân Tần thỏa lòng, để dập tắt mối oán thù hai nước.
Tiên Thả Cư cũng nói với Tấn Tương-công rằng:
- Vua Tần lấy việc ngày trước thua ta làm xấu hổ, mà các tướng nước Tần cũng đều hăng hái,nếu không thắng được ta thì thế tất không thôi. Tướng công nên nghe lời Tử Dư.
Tấn Tương-công truyền cho quân sĩ các nơi, đều một mực cố thủ, không được giao chiến với quân Tần, Do Dư bảo Tần Mục-công rằng:
- Quân Tấn sợ ta rồi! Ta nên nhân dịp này đem quân đến dãy núi Hào Sơn,thu nhặt lấy hài cốt của quân sĩ ta ngày trước để mai táng,cho khỏi điều Hổ thẹn.
Tần Mục-công theo lời,kéo quân thẳng tới Hào Sơn,quân Tấn không thấy có một người nào dám ra ngăn trở cả.Tần Mục-công sai người thu nhặt lấy hài cốt quân Tấn chết trận khi trước, đem mai táng ở một nơi,rồi giết trâu bò đế cúng tế.Tần Mục-công mặc tang phục đứng rót rượu để làm lễ,lại ứa nước mắt rồi khóc òa lên.Mạnh Minh và các tướng đều sụp lạy mà khóc cả.Quân sĩ trọng thấy ai cũng chảy nước mắt.Dân ở đất Giang và đất Bành Nha nghe tin Tần Mục-công thắng được quân Tấn,liền cùng nhau tụ hợp, đuổi các quan trấn thủ nước Tấn đi,rồi lại theo về nước Tần.
Tần Mục-công thu quân về nước ban thưởng cho Mạnh Minh, Kiển Binh và Tây Khất Thuật.
Vua Tây Nhung là Xích Ban, khi trước thấy quân Tần hai ba lần bị thua, có ý khinh nước Tần hèn yếu, định làm phản nước Tần. Ðến lúc Tần Mục-công thắng được quân Tấn, thu quân trở về,toan sẽ sang đánh Tây Nhung. Do Dư mới nói với Tần Mục-công, xin truyền hịch cho Tây Nhung bắt phải triều cống, nếu không chịu triều cống, bấy giờ sẽ đánh.
Xích Ban nghe tin Mạnh Minh nước Tần thắng được quân Tấn, đang có lòng lo sợ, thấy có tờ hịch thì vội vàng rủ nhau hai mươi nước nhỏ ở phía Tây cùng vào triều cống nước Tần, tôn Tần Mục-công làm bá chủ tất cả các nước ở Tây Phương. Uy danh Tần Mục-công đồn đến chốn kinh sư nhà Chu. Chu Tương-vương bảo Doãn Vũ Công rằng:
- Ngày xưa Trùng Nhĩ (tức là Tống Văn-công) nước Tấn đại hội chư hầu, trẫm sách phong cho làm bá chủ, nay Nhâm Hiếu (tức là Tần Mục-công ) nước Tấn cường thịnh, chẳng kém gì nước Tần,trẫm cũng muốn sách phong cho, nhà ngươi nghĩ thế nào?
Doãn Vũ công nói:
- Nước Tần dẫu cường thịnh, nhưng chưa có công trạng gì với nhà Chu ta, nay lại có ý bất hòa với Tấn, mà Tấn hầu ngày nay, đang nối được nghiệp cha. Nếu ta sách phong cho Tần thì mếch lòng Tấn, chi bằng ta sai sứ ban thưởng cho Tần, thế thì Tấn biết ơn ta, mà Tấn cũng chẳng oán gì ta được.
Chu Tương-vương theo lời.
---------------------------------------------------------
Lộng Ngọc cưỡi phượng theo Tiêu Sử
Triệu Thuẫn bội Tần lập Di Cao
Tần Mục-công đã làm bá chủ các nước ở Tây phương. Chu Tương-vương sai Doãn Vũ Công đem một cái trống đồng ban thưởng cho Tần Mục-công. Tần Mục-công viện lẽ tuổi già, không vào triều được, sai công tông Chỉ sang nhà Chu để tạ ơn. Năm ấy Do Dư ốm chết, Mục công thương tiếc vô cùng, liền cho Mạnh Minh thay Do Dư làm chức hữu thứ trưởng. Công tôn Chỉ khi ở nhà Chu về, biết ý Mục công có một người con gái bé; lúc mới sinh, có kẻ đem dâng viên ngọc phách, Tần Mục-công sai thợ đẽo giũa đi, thành một viên ngọc sắc biếc mà đẹp lắm. Ðến lúc con gái Mục công đầy tuổi tôi, trong cung bày đồ toái bàn, người con gái nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, bởi vậy Mục công đặt tên cho con là Lộng Ngọc.
Lộng Ngọc lớn lên, nhan sắc tuyệt trần, lại thêm tính trời thông minh, tài thổi ống sinh lắm, không học ai cả, mà thành âm điệu. Mục công sai thợ làm một cái ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổi. Nàng thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng. Mục công yêu lắm, lại lập một cái lầu cho nàng ở, đặt tên là Phượng lâu, trước lầu có xây một cái đài. Năm Lộng Ngọc đã mười lăm tuổi, Tần Mục-công muốn kén rể cho nàng, Lộng Ngọc tự thề với mình rằng:
- Người nào có tài thổi sinh, có thể họa với ta được, ta mới chịu lấy làm chồng, còn ai thì ta cũng chẳng thiết.
Mục công sai người đi tìm, chẳng được một người nào vừa ý. Một hôm Lộng Ngọc ở trên lầu cuốn rèm lên ngắm cảnh, thấy trời tạnh mây trong, trăng sáng như gương, gọi thị nữ đốt lên một nén hương, rồi đi cái ống sinh bằng ngọc bích, đến bên cửa sổ mà thổi. Tiếng sinh véo von vọng lên vòm trời gió hây hây thổi, bỗng nghe như có người họa lại, khi gần khi xa. Lộng Ngọc không khỏi băng khoăn, bèn ngừng lại không Thổi nữa, có ý để nghe xem sao. Tiếng họa bỗng im đi, nhưng dư âm còn lẽo đẽo không dứt. Lộng Ngọc bâng khuâng trước gió, như một người vừa đánh mất vật gì. Chốc đã nửa đêm, trăng xế hương tàn, nàng đem ống sinh để trên đầu giường, gắng gượng đi nằm. Nàng đang thiêm thiếp, bỗng thấy về phía tây nam trên trời, cửa mở rộng ra, hào quang ngũ sắc, rực rỡ như ban ngày, có một chàng trẻ tuổi, mũ lông áo hạc, cưỡi con chim phượng ở trên trời xuống, đứng trước Phượng đài bảo nàng rằng:
- Ta đây làm chủ ở núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng thượng đế cho ta kết duyên với nàng, đến ngày Trung thu này thì đôi ta gặp nhau, ấy là duyên số định sẵn như vậy!
Chàng trẻ tuổi ấy nói xong, thò tay vác bên mình, cởi ống ngọc tiêu, rồi đứng dựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên, cũng vươn cánh ra, vừa kêu vừa múa.
Tiếng phượng cùng với tiếng ngọc tiêu xướng họa, cùng nhịp với nhau như một, theo điệu cung thương, nghe rất êm ái. Lộng Ngọc mê mẩn tâm thần, hỏi rằng:
- Khúc này là khúc ở đâu?
Chàng trẻ tuổi ấy nói:
- Ấy là khúc “Họa Sơn Ngâm” đó!
Lộng Ngọc lại hỏi:
- Khúc này có học được không?
Chàng trẻ tuổi ấy nói:
- Khi đã kết duyên với nàng rồi thì khó gì mà ta không dạy nàng được.
Chàng trẻ tuổi ấy đến gần trước mặt, cầm lấy tay của Lộng Ngọc; Nàng giật mình tỉnh dậy, thì ra một giấc chiêm bao. Sáng hôm sau, Lộng Ngọc thuật lại chuyện chiêm bao cho Mục công nghe. Mục công sai Mạnh Minh cứ theo như hình tượng người trong mộng mà đến dò tìm ở núi Họa Sơn. Kẻ nông phu ở đấy trỏ lên núi mà bảo Mạnh Minh rằng:
- Hôm rằm tháng bảy mới rồi, có một người lạ mặt, đến làm nhà ở trên núi này, ngày nào cũng xuống mua rượu uống, đến buổi chiều lại thổi chơi khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng lấy làm thích lắm, không biết là người ở đâu. Mạnh Minh lên núi, quả nhiên thấy có một người mũ lông áo bạc, trông như một vị thần tiên. Mạnh Minh biết là không phải người thường, mới đến trước mặt vái chào, mà hỏi họ tên người ấy. Người ấy nói:
- Tôi họ Tiêu, tên Sử, chẳng hay ngài là ai? Ðến đây có việc gì?
Mạnh Minh nói:
- Tôi là chức hữu thứ trưởng nước này, tên gọi Mạnh Minh. Chúa công tôi có một người con gái yêu, còn đang kén chồng. Người con gái chúa công tôi, tài Thổi ống sinh, muốn tìm một người như thế nữa mà kết duyên, nay nghe ngài am hiểu âm nhạc, vậy chúa công tôi sai đến đón!
Tiêu Sử nói:
- Tôi không có tài cán gì, chỉ gọi là có biết âm nhạc đôi chút mà thôi, có đâu tôi dám vâng mệnh.
Mạnh Minh nói:
- Xin ngài cứ đi cùng tôi xuống yết kiến chúa công.
Khi về đến kinh thành, Mạnh Minh vào tâu Mục công trước, rồi sau đưa Tiêu Sử vào. Mục công ngồi ở trên Phượng đài, Tiêu Sử sụp lạy mà tâu rằng:
- Chùng tôi ở thão dã chưa biết lễ nghi, có điều gì sơ suất, xin chúa công miễn thứ cho.
Mục công thấy Tiêu Sử hình dung thanh tú, không phải là người thường, trong lòng đã có mấy phần vui vẻ, mới cho ngồi ở bên cạnh mà nói rằng:
- Ta nghe nhà ngươi tài thổi ống tiêu, tất cũng tài thổi cả ống sinh nữa!
Tiêu Sử nói:
- Tôi chỉ biết thổi tiêu, không biết thổi ống sinh.
Mục công nói:
- Ta định tìm một người tài Thổi ống sinh, nếu chỉ biết thổi ống tiêu thì không sánh đôi với con ta được!
Tần Mục-công nói xong, bảo Mạnh Minh đưa Tiêu Sử ra. Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Mục công rằng:
- Tiêu với sinh cũng là một loài, người ta đã biết thổi ống tiêu thì sao chúa công không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài.
Mục công lấy làm phải, lại bảo Tiêu Sử thổi ống tiêu. Tiêu Sử mới thổi một khúc thì thấy có gió mát hây hây; Thổi đến khúc thứ hai thì mây che bốn mặt, đến khúc thứ ba thì có đôi hạc trắng múa lượn trên không, lại có mấy đôi khổng tước bay về, và các giống chim kêu ríu rít; một lúc lâu rồi mới tan đi. Mục công rất bằng lòng. Bấy giờ Lộng Ngọc đứng ở trong rèm trông thấy, cũng bằng lòng mà nói rằng:
- Người ấy thật đánh làm chồng ta!
Mục công lại hỏi Tiêu Sử rằng:
- Nhà ngươi biết ống sinh và ống tiêu làm ra từ đời nào không?
Mục công nói:
- Nhà ngươi hãy thử kể rõ nguyên ủy cho ta nghe.
Tiêu Sử nói:
- Nghề tôi ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguyên ủy ống tiêu: Ngày xưa vua Phục Hi ghép trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng, tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn gọi là nhã tiêu, ghép liền hai mươi ba ống, dài một thước bốn tấc, thứ nhỏ gọi là tụng tiêu, ghép liền mười sáu ống, dài hai thước một tấc. Cả hai thứ gọi chung một tiếng là tiêu quản, còn thứ không có đáy thì là đồng tiêu. Về sau vua Hoàng Ðế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê, chế làm ống địch, ống địch có bảy lỗ, cầm ngang mà Thổi, cũng giống tiếng chim phượng, trông giản dị lắm! Người đời sau thấy tiêu quản nhiều ống quá, mới chỉ dùng một ống địch rồi cầm mà thổi dọc. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch, bởi vậy ống tiêu đời nay, không phải như ống tiêu đời xưa.
Mục công lại hỏi:
- Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có giống chim bay đến?
Tiêu Sử nói:
- Ống tiêu dẫu mỗi đời một khác, nhưng tiếng thổi bao giờ cũng vẫn giống tiếng chim phượng. Chim phượng là đầu các giống chim, bởi vậy các giống chim nghe tiếng phượng, đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc “Tiêu Thiều” mà chim phượng còn hay bay đến, huống chi là các giống chim khác!
Tiêu Sử ứng đối trôi như nước chảy, tiếng nói lại sang sảng. Mục công càng bằng lòng lắm, bảo Tiêu Sử rằng:
- Ta có một người con gái, tên gọi Lộng Ngọc, cũng có biết âm nhạc, không muốn gả cho phường ngu ngốc, vậy xin cùng với nhà ngươi kết duyên.
Tiêu Sử nghe nói, nghiêm nét mặt lại, rồi sụp lạy hai lạy mà từ chối rằng:
- Tôi vốn là người thôn giã, có đâu dám sánh với bậc tôn quý!
Mục công nói:
- Con gái ta vốn có lời thề nguyện, có chọn được người nào tài thổi ống sinh thì mới lấy làm chồng. Nay nhà ngươi mới thổi ống tiêu mà lại cảm động được đến trời đất và muôn vật, như vậy thì lại hơn người thổi ống sinh nhiều lắm. Vả con gái ta khi trước đã có điềm mộng, ngày nay lại chính là tiết trung thu rằm tháng tám, duyên trời định sẵn, nhà ngươi chớ nên chối từ.
Tiêu Sử lạy tạ. Mục công sai quan thái sử chọn ngày để làm lễ cưới. Quan thái sử nói:
- Hôm nay là ngày Trung thu, trăng vừa tròn bóng, xin chúa công cho làm lễ cưới, để hợp cái nghĩa ân ái vẹn tròn.
Tần Mục-công truyền cho Tiêu Sử tắm gội, thay mũ áo mới, rồi sai người đưa đến phượng lâu, để cùng với Lộng Ngọc kết duyên. Ngày hôm sau, Tần Mục-công phong cho Tiêu Sử làm trung đại phu. Tiêu Sử dẫu làm trung đại phu, nhưng không dự gì đến quyền chính cả, ngày nào cũng vui chơi ở chốn Phượng lâu, lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu mà thôi. Lộng Ngọc học được phép tiên của Tiêu Sử, cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy nàng thổi ống tiêu. Vợ chồng ở với nhau ước được nửa năm thì một đêm, bóng trăng vằng vặc, hai vợ chồng đem ống tiêu ra thổi, bỗng thấy một con phượng xuống đậu ở bên tả, và một con rồng xuống phục ở bên hữu.
Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc rằng:
- Ta vốn là người tiên trên trời, Ngọc Hoàng thượng đế thấy sử sách ở trần gian, nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu nhà Chu để sửa sang lại. Người nhà Chu thấy ta có công về sử sách, mới gọi là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng thượng đế cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn. Vì ta cùng nàng có tiền duyên với nhau, nhưng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay rồng cùng phượng đã đến đón ở đây, chúng ta nên cùng đi.
Lộng Ngọc toan vào từ biệt với cha, Tiêu Sử can rằng:
- Không nên! Ðã là thần tiên thì chớ nên quyến luyến chút tình riêng!
Bấy giờ Tiêu Sử cưỡi con Rồng, Lộng Ngọc cỡi con Phượng cùng bay lên trời. Ngày hôm sau, nội thị vào báo với Mục công. Mục công thở dài mà than rằng:
- Giả sử bây giờ rồng phượng đến đón ta thì ta cũng chẳng thiết gì ngôi vua nữa!
Mục công liền sai người đến núi Họa Sơn để tìm, nhưng chẳng thấy Tiêu Sử đâu cả, mới truyền lập đền thờ, gọi là đền Tiêu Nữ. Mục công bấy giờ chán việc chiến tranh, giao hết quốc chính cho Mạnh Minh, rồi ngày nào cũng ham mê đường tu luyện. Chẳng bao lâu, Công Tôn Chí cũng mất, Mạnh Minh tiến dẫn ba con Tử Xa Thị là Yêm Tức, Trọng Hàng và Kiểm Hồ, Mục công đều cho làm quan đại phu. Một hôm Mục công ngồi ở trên Phượng đài, ngắm cảnh trăng sáng, lại nhớ đến Lộng Ngọc, bỗng chợp mắt ngủ đi, trông thấy Tiêu Sử và Lộng Ngọc đem một con phượng đến đón, Mục công cưỡi phượng lên chơi cung trăng, khí lạnh buốt vào tận xương. Ðến lúc tỉnh dậy, liền bị bệnh cãm hàn, sau mấy ngày thì tạ thế. Ai cũng cho là Tần Mục-công đắc đạo thành tiên.
Nguyên trước Mục công lấy con gái Tấn Hiếu-công sinh thế tử Oánh, đến bấy giờ thế tử Oánh lên nối ngôi, tức là Tần Khang-công. Tần Khang-công an táng Mục công theo tục nước Tần, dùng một trăm bảy mươi bảy người đem chôn sống. Trong số người bị chôn theo ấy có cả ba con Tử Xa Thị, người trong nước ai cũng thương tiếc.
Lại nói chuyện Tấn Tương-công lập con là Di Cao làm thế tử, cho thứ đệ là công tử Lạc sang làm quan ở nước Trần. Bấy giờ Triệu Thôi, Loan Chi, Tiêu Thả Cư và Tư Thần đều dần dần chết cả. Năm sau Tấn Tương-công ra duyệt binh ở đất Di (đất nước Tấn), rồi muốn bổ dụng Si Cốc và Lương Ích Nhĩ làm tướng ở đạo trung quân, Cơ Trịnh Phủ và Tiên Ðô (con Tiên Chẩn) làm tướng ở đạo thượng quân. Con Tiên Thả Cư là Tiên Khắc nói với Tương-công rằng:
- Họ Hồ và họ Triệu có công to với nước Tấn, chúa công chớ nên bỏ con cháu của hai họ ấy mà không dùng. Nay Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ đều chưa có chiến công, đã cho làm ngay đại tướng, sao cho người ta phục?
Tương-công theo lời, mới cho Hồ Xạ Cô làm trung quân nguyên soái, mà lấy Triệu Thuẫn làm phó tướng; cho Cơ Trịnh Phủ làm thượng quân nguyên soái, mà lấy Tuân Lâm Phủ làm phó tướng; cho Tiên Miệt làm hạ quân nguyên soái, mà lấy tiên đô làm phó tướng.
Hồ Xạ Cô trèo lên tướng đài, tuyên bố hiệu lệnh cho các tướng sĩ, có ý kiêu ngạo, không coi ai ra gì cả. Quan tư mã là Du Biền can rằng:
- Tôi nghe trong quân phải có nhân hoà, nay các tướng đều là những bậc lão luyện thế thần, nguyên soái chớ nên coi khinh. Ngày xưa Thành Ðắc Thần chỉ vì kiêu ngạo mà phải thua nước Tấn, nguyên soái nên lấy làm răn.
Hồ Xạ Cô nổi giận, quát to lên rằng:
- Nay ta đang tuyên bố hiệu lệnh cho các tướng sĩ, kẻ thất phu kia sao dám nói càn!
Nói xong, truyền nọc Du Biền đánh một trăm roi. Các tướng sĩ trông thấy, đều có ý không phục. Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ nghe nói Tiên Khắc nói với Tấn Tương-Công không nên dùng mình nên đem lòng oán giận. Tiên Ðô không được giữ chức thượng quân nguyên soái, cũng có ý oán giận Tiên Khắc. Bấy giờ Dương Xử Phủ đang sang sứ nước Vệ, không dự biết việc ấy, đến lúc về nước, nghe tin Hồ Xạ Cô được làm nguyên soái, liền mật tâu với Tấn Tương-công rằng:
- Hồ Xạ Cô là người cương cường mà hiếu thắng, không được lòng dân, không thể làm đại tướng, chỉ có con Triệu Thôi là Triệu Thuẫn, rất có đức độ, mà lại có tài, chúa công muốn chọn nguyên soái thì nên dùng Triệu Thuẫn.
Tấn Tương-công theo lời, liền ra duyệt binh ở đất Ðồng. Hồ Xạ Cô chưa biết ý Tấn Tương-công muốn dùng người khác, vẫn nghiễm nhiên tự nhận làm trung quân nguyên soái. Tấn Tương-công gọi Hồ Xạ Cô mà bảo rằng:
- Ngày trước ta cho nhà ngươi làm nguyên soái, nay ta muốn để cho Triệu Thuẫn chức ấy, mà cho nhà ngươi làm phó tướng giúp Triệu Thuẫn.
Hồ Xạ Cô không dám nói gì, vâng dạ mà lui xuống. Tấn Tương-công liền cho Triệu Thuẫn làm trung quân nguyên soái, mà lấy Hồ Xạ Cô làm tướng, còn thượng quân và hạ quân vẫn dể yên như cũ. Triệu Thuẫn từ khi cầm quyền chính trong nước, chỉnh đốn pháp lệnh, người trong nước ai cũng kính phục. Có người bảo Dương Xử Phủ rằng:
- Ngài dám nói thẳng mà không kiêng nể ai, thật là một lòng vì nước, nhưng ngài không sợ người ta thù oán hay sao?
Dương Xử Phủ nói:
- Nếu có lợi cho nước thì ta chẳng sợ gì thù oán!
Ngày hôm sau, Hồ Xạ Cô vào yết kiến Tấn Tương-công, nhân lúc vắng vẻ mới hỏi Tấn Tương-công rằng:
- Chúa công nghĩ dến công lao của tiên nhân tôi ngày xưa mà cho tôi làm nguyên soái, nay lại đổi cho ngưòi khác, chẳng hay tôi có tội gì, xin chúa công chỉ bảo cho biết. Hay là vì cái công lao của tiên nhân tôi là Hồ Yến không bằng cái công lao của Triệu Thôi chăng?
Tấn Tương-công nói:
- Không phải có gì khác đâu! Chỉ vì Dương Xử Phủ nói với ta rằng nhà ngươi không mấy người phục, khó làm được đại tướng, nên ta mới dùng người khác.
Hồ Xạ Cô nín lặng lui ra. Ðến tháng ba năm sau, Tấn Tương-công ốm nặng, khi sắp chết, triệu quan thái phó là Dương Xử Phủ và quan thượng khanh là Triệu Thuẫn với nhiều vị triều thần đến cạnh giường nằm mà dặn rằng:
- Ta đây nối theo nghiệp cha, đánh đông dẹp bắc, chưa hề chịu kém ai, ngày nay chẳng may cùng với các người từ biệt, thế tử Di Cao tuổi hãy còn nhỏ, các khanh nên hết lòng giúp thế tử mà giao hiếu với các nước láng giềng, để giữ lấy sự nghiệp bá chủ.
Các quan đều sụp lạy xin vâng mệnh. Tấn Tương-công mất. Ngày hôm sau, triều thần định tôn thế tử Di Cao lên nối ngôi. Triệu Thuẫn nói:
- Nước ta ngày nay gặp lúc lắm việc, phải đối địch với nước Tần và nước Ðịch, không nên lập vua nhỏ, nay có công tử Ung, hiện đang làm quan ở nước Tần, ta nên đón về làm vua.
Các quan không ai dám nói gì. Hồ Xạ Cô nói:
- Chi bằng ta lập công tử Lạc! Công tử Lạc nay đang làm quan ở nước Trần, mà nước Trần lại thân với nước ta, không như nước Tần là một nước cừu địch, từ nước ta sang nước Trần, chỉ sáng đi thì chiều đến nơi mà thôi.
Triệu Thuẫn nói:
- Không được! Trần là một nước nhỏ mà ở xa, Tần là nước lớn mà ở gần. Ta sang nước Trần đón vua, cũng khônh thêm được tình thân ái, mà sang nước Tần đón vua thì lại bỏ được cái điều thù oán năm xưa và còn thêm vây cánh cho ta nữa. Như thế thì tất phải đón công tử Ung mới được!
Các quan đều nín lặng cả; Triệu Thuẫn liền sai Tiên Miệt làm chánh sứ, Sĩ Hội làm phó sứ; sang nước Tần báo tang, và đón công tử Ung về làm vua. Lúc Tiên Miệt sắp đi, Tuân Lâm Phủ ngăn lại mà bảo rằng:
- Phu nhân và thế tử đều ở đây cả, mà lại sang nước khác để đón vua, tôi e rằng nếu việc không thành thì tất có biến, sao nhà ngươi không cáo ốm mà từ chối đi?
Tiên Miệt nói:
- Quyền chính ở tay Triệu Thuẫn, sao lại có biến được!
Tuân Lâm Phủ nói riêng với người khác rằng:
- Ta cùng với Tiên Miệt là bạn đồng liêu với nhau, nên ta mới thực lòng mà bảo, nhưng hắn không nghe, ta e hắn khó lòng đã về được!
Hồ Xạ Cô thấy Triệu Thuẫn không theo ý mình, trong lòng tức giận mà nói rằng:
- Họ Hồ và họ Triệu, có kém gì nhau! Ta quyết phen này có họ Triệu thì không họ Hồ!
Hồ Xạ Cô bèn mật người sang nước Tần đón công tử Lạc về, để tranh lấy ngôi vua. Có người báo tin với Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn sai công tôn Chử Cữu đem hơn một trăm người phục sẵn ở dọc đường, đón công tử Lạc mà giết đi. Hồ Xạ Cô thấy thế càng tức giận mà nói rằng:
- Làm cho Triệu Thuẫn được cầm quyền chính là bởi Dương Xử Phủ, nay có các nước đến hộ tang, Dương Xử Phủ ra ngủ ở ngoài thành để tiếp đón, nếu ta sai người ra đâm chết hắn thật dễ như chơi! Và Triệu Thuẫn đã giết chết công tử Lạc thì ta giết Dương Xử Phủ chứ sao!
Hồ Xạ Cô bèn bàn mưu với em ruột là Hồ Cúc Cư. Hồ Cúc Cư nói:
- Việc ấy tôi có thể làm được!
Hồ Cúc Cư liền cùng với người nhà giả hình làm kẻ trộm, nửa đêm trèo tường vào chỗ Dương Xử Phủ ở. Dương Xử Phủ đang ngồi xem sách ở bên cây nến, Hồ Cúc Cư xông đến mà đánh, trúng vào vai Dương Xử Phủ. Dương Xử Phủ giật mình bỏ chạy. Hồ Cúc Cư đuổi theo giết chết, rồi cắt đầu đem về. Người nhà Dương Xử Phủ có kẻ nhận được mặt Hồ Cúc Cư, chạy vào báo với Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn giả cách không tin mà mắng rằng:
- Dương thái phó bị kẻ trộm giết chết, sao nhà ngươi dám vu oan cho Hồ Cúc Cư?
Triệu Thuẫn bèn sai người khâm liệm cho Dương Xử Phủ. Ðến tháng mười năm ấy, làm lễ an táng Tấn Tương-công ở đất Khúc Ốc. Tương phu nhân là Mục Doanh và thế tử Di Cao cũng đi đưa đám. Mục Doanh bảo Triệu Thuẫn rằng:
- Tiên quân có tội gì, thế tử có tội gì, mà ngài nỡ bỏ thế tử, để đi đón vua ở nước khác?
Triệu Thuẫn nói:
- Ðó là việc quan trọng của nước nhà, không phải ý riêng của một mình tôi!
Khi đã làm xong lễ an táng Tương-công rồi, lúc rước thần chủ vào nhà miếu, Triệu Thuẫn đứng ở trong miếu, bảo các quan đại phu rằng:
- Tiên quân ngày xưa, chỉ vì biết dùng pháp luật mà làm bá chủ được chư hầu, nay linh cữu hãy còn để đấy, mà Hồ Cúc Cư dám tự tiện giết chết quan thái phó; khiến cho triều thần ai cũng lo sợ, tội ấy không thể tha được!
Triệu Thuẫn bèn cho bắt Hồ Cúc Cư giao cho quan tư khấu kết án mà chém đi. Triệu Thuẫn lại sai người đến khám nhà Hồ Cúc Cư, tìm thấy đầu Dương Xử Phủ, rồi đem chắp vào thi thể Dương Xử Phủ để an táng. Hồ Xạ Cô sợ Triệu Thuẫn biết cái mưu ấy tự mình bày ra, nhân lúc đêm hôm trốn sang nước Ðịch, vào đầu với vua nước Ðịch là Bạch Ðôn. Bấy giờ nước Ðịch có người tên gọi Kiều Như, mình dài một trượng năm thước, bởi vậy mới gọi là Trường Ðịch. Trường Ðịch có sức khỏe, mang nổi nghìn cân, đầu rắn như đồng trán cứng như sắt, cầm gạch ngói mà đập vào, cũng không thể xây xát được. Bạch Ðôn dùng làm tướng, sai đi đánh nước Lỗ. Lỗ Văn-công sai Thúc Tôn Ðắc Thần đem quân ra đối địch. Bấy giờ đang tiết mùa đông, sương mù nhiều lắm, quan đại phu là Phú Phủ Chung Sanh biết rằng trời sắp mưa tuyết, mới bảo Thúc Tôn Ðắc Thần rằng:
- Kiều Như là người vũ dũng lạ thường, không lấy sức khỏe mà địch nổi, phải dùng mưu kế mới đánh được.
Nói xong, lisền sai người đào hố ở các nơi hiểm yếu, rồi đem đất và cỏ phủ kín trên mặt. Ðêm hôm ấy quả nhiên trời mưa tuyết to lắm, mặt đất phủ đầy những tuyết, không biết chỗ nhận là hầm hố cả. Phú Phủ Chung Sanh đem một toán quân đến cướp phá đồn trại của Kiều Như. Kiều Như đem quân ra đánh. Phú Phủ Chung Sanh giả cách thua chạy. Kiều Như vội vàng đuổi theo. Phú Phủ Chung Sanh đã có ý đi tránh những nơi có đào hầm có hố còn Kiều Như vô tình ngã lăn xuống hố. Thúc Tôn Ðắc Thần đem quân ra đuổi đánh; Phú Phủ Chung Sanh cầm giáo đâm suốt qua cổ họng Kiều Như. Kiều Như chết, Phú Phủ Chung Sanh đem xác để lên một cái xe lớn rồi kéo đi, ai trông thấy cũng phải kinh sợ. Năm ấy Thúc Tôn Ðắc Thần nhân sinh được đứa con trai trưởng, mới đặt tên là Thúc Tôn Kiều Như, để kỷ niệm trận tháng ấy. Từ bấy giờ nước Lỗ, nước Tề và nước Vệ cùng hợp nhau dể đánh nước Ðịch. Hồ Xạ Cô lại chạy sang Xích Ðịch nương tựa vào quan đại phu nước Xích Ðịch là Phong Thư.
Triệu Thuẫn nói:
- Hồ Xạ Cô có công với tiên quân ta nhiều lắm, ta giết Hồ Cúc Cư là muốn cho Hồ Xạ Cô yên lòng, ai ngờ hắn lại sợ tội bỏ trốn, nay ta nỡ lòng nào mà khiến cho hắn phải bơ vơ một mình ở nơi đất khách!
Nói xong, liền sai Du Biền đưa vợ con Hồ Xạ Cô sang nước Xích Ðịch giao trả cho Hồ Xạ Cô. Khi Du Biền vừa sắp sửa khởi hành, thì người nhà Du Biền nói vói Du Biền rằng:
- Ngày trước ngài đã bị Hồ Xạ Cô làm sỉ nhục một lần, cái thù ấy cũng nên báo lại, nay quan nguyên soái sai người đưa vợ con Hồ Xạ Cô sang nước Xích Ðịch, đó là trời cho ta cái dịp để báo thù! Ta nên giết cả đi.
Du Biền gạt đi mà bảo rằng:
- Không nên! Không nên! Nguyên soái đem việc ấy giao cho ta là có lòng tin cậy ta. Nguyên soái muốn giao trả người ta, mà ta lại giết đi thì tất nguyên soái giận ta lắm. Nếu ta nhân lúc người ta nguy cấp mà làm hại thì không phải là nhân, làm một việc mà để cho người ta giận thì không phải là trí.
Du Biền liền mời vợ con Hồ Xạ Cô lên xe đưa đi, còn bao nhiêu gia tài của Hồ Xạ Cô, đều biên vào trong một quyển sổ, mà đem sang trả tận nơi, không để mất tí gì cả. Hồ Xạ Cô thấy vậy, thở dài mà than rằng:
- Du Biền là người có hiền đức mà ta không biết! nay ta phải chạy trốn thế này, cũng là đáng lắm!
Triệu Thuẫn từ bấy giờ kính trọng Du Biền, có ý muốn trọng dụng. Tiên Miệt và Sĩ Hội sang đến nước Tần, xin đón công tử Ung về làm vua. Tần Khang-công mừng mà nói rằng:
- Tiên quân ta ngày xưa hai lần lập vua cho nước Tấn nay ta lại lập công tử Ung, như vậy thì các vua nước Tấn đều tự tay nước Tần ta lập cả.
Tần Khang-công sai Kiển Bính đem quân đưa công tử Ung về nước Tấn. Phu nhân Mục Doanh từ khi đưa đám Tấn Tương-công xong rồi, ngày nào cũng cứ mờ mờ sáng đã ẵm thế tử Di Cao vào chốn triều đường ngồi khóc và bảo các quan đại phu rằng:
- Con trưởng của tiên quân đây, sao các ngài lại bỏ đi?
Lúc đã tan buổi triều, lại đi xe đến nhà Triệu Thuẫn, nói với Triệu Thuẫn rằng:
- Khi quân sắp mất, có đem đứa bé này ủy thác cho ngài, nay tiên quân dẫu khuất mặt đi rồi, nhưng lời nói ấy bên tai ta hãy còn văng vẳng, nếu ngài lập ngưòi khác thì định để đứa bé này vào chỗ nào? Thôi thì mẹ con tôi cũng liều một thác cho rồi!
Nói xong, lại vật mình lăn khóc. Người trong nước nghe nói, ai cũng có lòng thương xót mà đổ lỗi cho Triệu Thuẫn. Các quan đại phu cũng lấy việc đi đón công tử Ung làm thất sách. Triệu Thuẫn lo lắm, bàn mưu với Khước Khuyết rằng:
- Tiên Miệt đã sang nước Tần đón công tử Ung rồi, có lẽ nào ta lại lập thế tử Di Cao được.
Khước Khuyết nói:
- Ngày nay bỏ thế tử Di Cao mà lập công tử Ung, ngày khắc thế tử Di Cao lớn lên, tất lại sinh biến, chi bằng ta kíp sai người sang nước Tấn để gọi Tiên Miệt về.
Triệu Thuẫn nói:
- Ta lập vua đã rồi sẽ sai sứ đi!
Triệu Thuẫn bèn hợp các quan triều thần, lập thế tử Di Cao lên nối ngôi, tức là Tấn Linh-công. Bấy giờ Tấn Linh-công còn bé, mới lên bảy tuổi. Các quan triều thần vừa lạy mừng xong thì bỗng nghe có báo đại binh nước Tần hiện đã đưa công tử Ung về đến sông Hoàng Hà rồi. Các quan đại phu nói:
- Nay ta thất tính với nước Tần, biết nói lại làm sao cho được!
Triệu Thuẫn nói:
- Nếu ta lập công tử Ung thì Tần là nước thân tình với ta, nay ta không chịu lập thì Tần lại thành ra một nước cừu địch, chi bằng ta cứ đem quân ra đánh.
Triệu Thuẫn sai quan thượng quân nguyên soái là Cơ Trịnh Phủ ở nhà để phù tá Tấn Linh-công, còn mình thì đem quân đi đối địch với quân Tần. Quân Tần đến đất Linh Hồi, nghe báo phía trước có quân Tấn, vẫn tưởng là đến đón công tử Ung, vậy nên không phòng bị gì cả. Tiên Miệt đi trước đến chỗ quân Tấn đóng, vào yết kiến Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn nói cho biết là đã lập thế tử Di Cao rồi. Tiên Miệt trừng mắt lên mà bảo rằng:
- Tự ai bàn mưu đi đón công tử Ung, mà nay lại lập thế tử Di Cao?
Nói xong, liền đứng ngay dậy, quay mình đi ra, lại gặp Tuân Lâm Phủ, Tiên Miệt bảo Tuân Lâm Phủ rằng:
- Tiếc thay, ta không nghe lời nhà ngươi trước, để đến nỗi thế này!
Tuân Lâm Phủ can rằng:
- Ngài là bề tôi nước Tấn, bỏ nước Tấn sao được!
Tiên Miệt nói:
- Ta đã phụng mệnh sang nước Tần để đón công tử Ung thì công tử Ung tức là vua ta, mà nước Tần tức là một nước phù tá cho vua ta, nay ta chịu trái lời nói trước mà cứ lấy sự phú quý ở chốn cố hương hay sao!
Tiên Miệt nói xong, đi thẳng sang trại quân Tần. Triệu Thuẫn nói:
- Tiên Miệt đã không chịu theo Tấn thì ngày mai quân Tấn tất tiến sang đánh ta, chi bằng đêm hôm nay nhân lúc quân Tần bất ngờ, ta sang đánh ngay thì có thể thắng được.
Nói xong, truyền cho quân sĩ sữa soạn binh mã để đêm hôm ấy sang đánh quân Tần, thì vừa canh ba, quân Tần đang ngủ, hoảng hốt vùng dậy, bỏ chạy tán loạn cả. Quân Tấn đuổi mãi tận đất Hoa Thủ (giáp giới Tấn và Tần), Kiển Bính liều chết mới chạy thoát được, còn công tử Ung thì chết ở trong đám loạn quân, Tiên Miệt than rằng:
- Triệu Thuẫn bội ước với ta, nhưng ta không nên bội ước với Tần!
Nói xong, liền chạy sang nước Tần. Sĩ Hội cũng than rằng:
- Ta cùng với Tiên Miệt cùng đi sứ, nay Tiên Miệt đã trốn sang nước Tần, ta cũng không nên trở về nước Tấn một mình nữa!
Nói xong, cũng theo Tiên Miệt trốn sang nước Tần, Tần Khang-công đều cho làm quan đại phu. Tuân Lâm Phủ nói với Triệu Thuẫn rằng:
- Ngày xưa Hồ Xạ Cô chạy sang nước Ðịch, ngài nghĩ tình đồng liêu, sai người đưa vợ con đi theo, nay Tiên Miệt và Sĩ Hội cùng tôi, cũng là đồng liêu với nhau, tôi xin bắt chước lối cũ.
Triệu Thuẫn nói:
- Nhà ngươi trọng nghĩa như vậy, chính hợp với ta.
Triệu Thuẫn bèn sai người gia quyến và tài sản của Tiên Miệt cùng Sĩ Hội đưa sang nước Tần.
Việc đánh nhau mới rồi, các tướng nước Tần đều có công thắng trận cả; chỉ có Khoái Ðắc, bộ tướng của Tiên Khắc (trung quân phó nguyên soái) cứ thẳng đường đuổi theo mãi, bị quân Tần đánh thua. Tiên Khắc đã toan theo quân luật đem Khoái Khắc ra chém. Các tướng đều xin hộ Khoái Khắc. Tiên Khắc nói với Triệu Thuẫn, rồi truất bỏ lộc điền của Khoái Khắc. Khoái Khắc đem lòng căm tức.
Cơ Trịnh Phủ, Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ vốn chơi thân với nhau, từ khi Triệu Thuẫn lên làm trung quân nguyên soái, Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ đều mất hết quyền thế, mới cùng với Cơ Trịnh Phủ cùng oán giận Triệu Thuẫn. Bấy giờ Triệu Thuẫn đem quân đi đánh quân Tần, Cơ Trịnh Phủ cùng Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ hợp nhau mà thương nghị rằng:
- Triệu Thuẫn chuyên quyền, tự ý bỏ người nọ lập người kia, nay đại binh nước Tần đưa công tử Ung về, Triệu Thuẫn đang đem quân ra đánh, chi bằng nhằm lúc hai bên còn giữ nhau, chúng ta nổi dậy đánh Triệu Thuẫn, bỏ Di Cao đi mà đón công tử Ung về, như vậy thì quyền chính nước Tấn sẽ ở trong tay chúng ta cả.
Thọ Dư lập kế đánh lừa Tần
Cơ Trịnh Phủ cùng với Sĩ Cốc và Lôi Ích Nhĩ, ba người bàn nhau, chỉ đợi quân Tần thắng trận thì thừa cơ nổi loạn, mà tranh lấy quyền chính của Triệu Thuẫn, chẳng ngờ Triệu Thuẫn phá tan được quân Tần, thì ba người lại càng căm tức. Bấy giờ Tiên Đô làm tướng ở đạo hạ quân, thấy chủ tướng mình là Tiên Miệt bị Triệu Thuẫn đánh lừa mà phải trốn sang nước Tấn, cũng có ý căm tức Triệu Thuẫn. Khoái Đắc bị Tiên Khắc truất mất lộc điền, đem lòng oán giận, mới bàn mưu với Sĩ Cốc, Sĩ Cốc nói:
- Tiên Khắc cậy thế Triệu Thuẫn, làm nhiều điều ngang ngược, nếu được một người can đảm, giết chết Tiên Khắc đi thì Triệu Thuẫn thế cô không làm gì được nữa, nhưng việc này trừ phi Tiên Đô ra thì không ai dám làm nổi.
Khoái Đắc nói với Sĩ Cốc rằng:
- Tiên Đô thấy chủ tướng là Tiên Miệt bị Triệu Thuẫn đánh lừa, phải trốn qua Tần, cũng có ý căm tức Triệu Thuẫn đấy.
Sĩ Cốc nói:
- Nếu vậy thì khó gì mà không giết được Tiên Khắc.
Nói xong, liền ghé vào tai Khoái Đắc mà bảo thầm mưu kế giết Tiên Khắc. Khoái Đắc mừng lắm, nói:
- Để ta sẽ nói với Tiên Đô!
Nói xong, tức khắc đến yết kiến Tiên Độ. Tiên Đô nói với Khoái Khắc rằng:
- Triệu Thuẫn bội ước với Tiên Miệt, lại lén đánh quân Tần, chẳng có tín nghĩa chút nào cả, ta cũng khó lòng mà ở với hắn được!
Khoái đắc đem lời Sĩ Cốc nói với Tiên Đô. Tiên Đô nói:
- Nếu vậy thì là phúc cho nước Tần lắm!
Bấy giờ hết mùa đông, sang mùa xuân, Tiên Khắc đi ra Cơ Thành để bái yết miếu tổ là Tiên Chẩn. Tiên Đô sai người phục ở ngoài Cơ Thành, khi Tiên Khắc đi đến nơi thì đổ ra giết chết. Những người theo hầu Tiên Khắc thấy vậy, đều bỏ chạy tán loạn cả. Triệu Thuẫn nghe tin Tiên Khắc bị giết, tức thì nổi giận, truyền cho quân tư khấu phải lùng để bắt quân gian, hạn trong năm ngày phải bắt cho bằng được. Bọn Tiên Đô luống cuống, cùng với Khoái Đắc bàn mưu với nhau, rồi xui giục Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ khởi sự gấp. Lương Ích Nhĩ lúc rượu say, nói lộ chuyện cho Lương Hoàng biết. Lương Hoàng kinh sợ mà nói rằng:
- Nếu vậy thì chết cả họ, chứ chẳng chơi đâu!
Lương Hoàng tức thì mật báo cho Du Biền. Du Biền bèn vào nói với Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn tức khắc truyền cho quân sĩ phải sẵn sàng đợi lệnh.
Tiên Đô thấy vậy, vội vàng sang nhà Sĩ Cốc, giục kíp khởi sự. Cơ Trịnh Phủ muốn đợi đến ngày thượng nguyên, nhân khi Tấn Linh-công mở tiệc tứ bố thì thừa cơ nổi loạn, bởi vậy cứ phân vân, chưa quyết định. Triệu Thuẫn sai Du Biền đến vây nhà Tiên Đô, bắt Tiên Đô đem bỏ ngục. Lương Ích Nhĩ và Khoái Đắc trong khi bối rối, toan cùng Cơ Trịnh Phủ nổi loạn. Triệu Thuẫn bèn sai đem việc Tiên Đô muốn nổi loạn đến báo với Cơ Trịnh Phủ và mời Cơ Trịnh Phủ vào Triều để bàn việc. Cơ Trịnh Phủ nói:
- Triệu Thuẫn sai người mời ta đến bàn việc, thế là vẫn không có ý nghi ta!
Cơ Trịnh Phủ thản nhiên đến ngay. Nguyên Triệu Thuẫn thấy Cơ Trịnh Phủ đang làm thượng quân nguyên soái, sợ hắn hợp quân nổi loạn, nên mới giả cách đem người đến triệu. Cơ Trịnh Phủ không biết kế, vội vàng đi thẳng vào triều. Triệu Thuẫn giữ ở trong triều để bàn việc Tiên Đô, rồi mật sai Tuân Lâm Phủ, Khước Khuyết và Long Thuẫn đem quân bắt Sĩ Cốc, Lương Ích Nhĩ và Khoái Đắc cùng bỏ ngục cả. Bọn Tuân Lâm Phủ về đến trong triều, trông thấy Cơ Trịnh Phủ liền quát to lên rằng:
- Cơ Trịnh Phủ cùng là một người trong đám khởi loạn, mà làm sao không bắt bỏ ngục?
Cơ Trịnh Phủ nói:
- Lúc trước các ông đem quân đi vắng cả, tôi còn không nổi loạn, huống cho ngày nay các ngài đã thắng quân Tần rồi, tôi lại sinh sự để muốn cầu lấy cái chết hay sao!
Triệu Thuẫn nói:
- Nhà ngươi còn dùng dằng mà chưa nổi loạn, là có ý đợi Tiên Đô và Khoái Khắc đó thôi. Ta đã dò biết hết sự tình, còn cãi gì được nữa!
Cơ Trịnh Phủ cúi đầu chịu vào ngục. Triệu Thuẫn tâu với Tấn Linh-công, xin đem bọn Cơ Trịnh Phủ ra chém, cả thảy năm người (Cơ Trịnh Phủ, Sĩ Cốc, Lương Ích Nhĩ, Khoái Đắc và Tiên Đô). Linh-công hãy còn ít tuổi, chỉ vâng dạ mà thôi. Khi Linh-công đã vào cung, Tương phu nhân nghe tin bọn Cơ Trịnh Phủ bị bắt, mới hỏi Linh-công rằng:
- Tướng xử trí việc ấy thế nào?
Linh-công nói:
- Tướng quốc xin trị tội mà đem chém tất cả.
Phu nhân nói:
- Bọn Cơ Trịnh Phủ nổi loạn, là vì tranh quyền lẫn nhau, chứ không can dự gì đến thoán nghịch. Và việc mưu giết Tiên Khắc, chẳng qua chỉ một vài người chủ mưu mà thôi, xử tội phải có thủ phạm tùng phạm, lẽ nào lại tru lục như nhau. Gần đây các bậc lão thành kế tiếp mà chết, thành ra nhân tài rất hiếm. Nay một lúc giết năm đại thần thì triều đình trống trải, không đáng lo lắm sao?
Ngày hôm sau, Linh-công đem lời nói của Tương phu nhân, thuật lại cho Triệu Thuẫn nghe. Triệu Thuẫn nói:
- Bọn hắn nổi loạn, nếu không giết đi thì lấy gì làm gương cho kẻ khác!
Nói xong, truyền đem bọn Cơ Trịnh Phủ ra chém, lại cho con Tiên Khắc là Tiên Cốc làm quan đại phu. Người nước Tấn thấy Triệu Thuẫn nghiêm khắc như vậy ai cũng sợ hãi, Hồ Xạ Cô ở nước Xích Địch nghe thấy việc ấy, cũng giật mình mà nói rằng:
- May thay cho ta được khỏi chết!
Một hôm quan đại phu Xích Địch là Phong Thư hỏi Hồ Xạ Cô rằng:
- Triệu Thuẫn với Triệu Thôi, hai người ấy ai hơn?
Hồ Xạ Cô nói:
- Triệu Thôi khác nào như mặt trời mùa đông, Triệu Thuẫn khác nào như mặt trời mùa hạ. Mặt trời mùa đông ấm áp thì ai cũng yêu, mặt trời mùa hạ nóng dữ thì ai cũng sợ!
Phong Thư cười mà bảo rằng: “Nhà ngươi làm tướng đã lâu năm, có nhiều công trạng mà cũng sợ Triệu Thuẫn à?”.
Lại nói chuyện Sở Mục-vương từ khi cướp ngôi lên làm vua, cũng có chí lớn muốn làm bá chủ trung nguyên, nghe Tấn Linh-công mới lập, Triệu Thuẫn chuyên quyền, các quan đại phu giết lẫn nhau, thì muốn đem quân sang đánh Trịnh, liền hơp triều thần lại để thương nghị. Quan đại phu là Phan Sơn nói:
- Vua Tấn tuổi hãy còn nhỏ, các bề tôi chỉ tranh quyền lẫn nhau, còn nghĩ gì đến chư hầu, nay ta thừa cơ đem quân sang đánh lấy các nước ở phía bắc thì còn ai đương nổi!
Sở Mục-công bằng lòng, liền sai Đấu Việt Tiêu làm chánh tướng, Vĩ Giả làm phó tướng, đem quân đi đánh Trịnh, còn mình thì đóng đại binh ở đất Lang Uyên để tiếp ứng, lại sai công tử Tiên làm chánh tướng, công tử Phiệt làm phó tướng, đem quân đi đánh Trần. Trịnh Mục-công nghe tin quân Sở đến đánh, vội vàng sai công tử Kiên, công tử Mang và Lạc Nhĩ, ba người đem quân ra ngoài cõi để chống cự với quân Sở, lại dặn phải giữ thế thủ, chớ nên giao chiến, rồi cho người sang cáo cấp với nước Tấn. Đấu Việt Tiêu ngày nào cũng đem quân đến khiêu chiến. Quân Trịnh nhất định không ra. Vĩ Giả mật nói với Đấu Việt Tiêu rằng:
- Từ trận Thành Bộc đến giờ, quân Sở ta đã lâu không kéo sang nước Trịnh, người nước Trịnh chắc đợi có quân nước Tấn đến cứu, vậy mới cố giữ thế thủ mà không giao chiến với ta. Nay ta nên nhân lúc quân Tấn chưa đến, dụ ra mà đánh thì có thể báo được cái thù năm xưa, nếu để lâu ngày, các nước đem quân đến cứu thì e rằng lại giống như việc Thành Đắc Thần ngày trước, biết làm thế nào!
Đấu Việt Tiêu nói:
- Nay muốn dụ quân Trịnh ra thì làm thế nào?
Vĩ Giả ghé tai mà bảo mưu kế. Đấu Việt Tiêu nghe lời, liền giả cách nói lương thực sắp hết, truyền cho các quân sĩ đi ăn cướp ở các thôn xóm, còn mình thì ngày nào cũng ngồi ở trong màn uống rượu nghe hát đến nửa đêm mới thôi. Có người đến đất Lang Uyên báo tin cho Sở Mục-vương biết. Sở Mục-vương nghi lén Đấu Việt Tiêu có lòng khinh giặc, đã toan đem quân đến để đốc chiến. Phạm Sơn nói với Sở Mục-vương rằng:
- Vĩ Giả là người có trí, tất là mưu kế chi đây. Tôi chắc chỉ trong mấy ngày nữa, phải có tin thắng trận đưa về.
Bọn công tử Kiên (tướng nước Trịnh) thấy quân Sở không đến khiêu chiến nữa, trong lòng nghi hoặc, mới sai người đi dọ thám xem tình hình quân Sở ra sao. Quân thám tử về báo rằng:
- Quân Sở ngày nào cũng kéo nhau đi cướp phá các thôn xóm, còn Đấu Việt thì chỉ suốt ngày nghe hát và uống rượu, khi rượu say, lại xỉ mắng người nước Trịnh ta là hèn mạt không làm gì được!
Công tử Kiên mừng mà nói rằng:
- Quân Sở đi cướp phá thôn xóm thì trong đồn trại tất bỏ không, mà nguyên soái nước Sở ngày nào cũng nghe hát uống rượu thì trông gì đến việc quan nữa! Đêm hôm nay ta đem quân sang cướp phá đồn trại quân Sở, có thể toàn thắng được.
Công tử Mang và Lạc Nhĩ đều lấy làm phải. Đêm hôm ấy, ba người cùng đem quân lẻn đến dinh quân Sở, đứng xa trông thấy đèn đuốc sáng rực, lại nghe có tiếng hát véo von. Công tử Kiên nói:
- Đấu Việt Tiêu sắp đến ngày tận số!
Rồi tức thì vẫy quân xông vào. Quân Sở không chống cự gì cả. Công tử Kiên tiến vào tận trong trại, mấy người nhạc công bỏ chạy tán loạn, chỉ có Đấu Việt Tiêu vẫn thấy ngồi trơ, không động đậy chút nào. Công tử Kiên đến gần nhìn kỹ xem sao thì hóa ra một người bằng cỏ kết lại, chứ không phải Đấu Việt Tiêu thật, bấy giờ mới biết là trúng kế, giật mình kinh sợ, toan quay trở ra. Bỗng thấy ở phía sau trại pháo vang rầm, một viên đại tướng kéo quân ra đuổi đánh, quát to:
- Ta là Đấu Việt Tiêu đây!
Công tử Kiên vội vàng cùng với công tử Mang và Lạc Nhĩ tìm đường trốn chạy. Chạy chưa được một dặm, lại nghe có tiếng súng nổ. Vĩ Giả đem một toán quân chấn ngang giữa đường. Phía trước có Vĩ Giả, phía sau có Đấu Việt Tiêu, hai phía cùng đánh ập lại. Quân Trịnh thua to. Công tử Mang và Lạc Nhĩ bắt. Công tử Kiên chạy lại để cứu, cũng bị quân Sở bắt nốt. Trịnh Mục-công kinh sợ, báo các bề tôi rằng:
- Ba tướng nước ta đều bị bắt cả, mà vẫn chưa thấy quân Tấn đến cứu, biết làm thế nào?
Các quan triều thần nói:
- Thế quân Sở mạnh lắm! nếu ta không xin hàng thì chẳng bao lâu quân ta sẽ bị quân Sở phá vỡ, dẫu nước Tấn cũng không thể phá nổi.
Trịnh Mục-công liền sai công tử Phong (con Trịnh Mục-công ) đem các đồ lễ vật đến dinh quân Sở để xin giảng hòa. Đấu Việt Tiêu sai người tâu với Sở Mục-vương. Sở Mục-vương thuận cho, truyền tha công tử Kiên, công tử Mang và Lạc Nhĩ, rồi lại thu quân trở về nước Sở. Bấy giờ công tử Tiên (tướng nước Sở) đem quân đi đánh Trần bị thua, quan phó tướng là công tử Phiệt bị quân nước Trần bắt. Công tử Tiên mới đón đường tâu với Sở Mục-công xin thêm quân để đi đánh báo thù. Sở Mục-công giận lắm, toan kéo quân sang nước Trần. Bỗng thấy nước Trần sai sứ đem công tử Phiệt sang xin giảng hoà. Sở Mục-vương mở thư ra xem, đại lược nói rằng:
- Nước tôi nhỏ mọn, chưa từng được giao tiếp với thượng quốc, nay thượng quốc hành quân sang nước tôi, bọn ở biên giới không biết gì, có thất lễ với công tử Phiệt, tôi lấy làm lo sợ lắm, vậy phải sai sứ đem ngựa sang tạ tội. Từ nay trở đi, nước tôi một lòng thần phục, vậy xin thượng quốc dung thứ cho.
Mục-vương cười rằng:
- Nước Trần sợ ta hỏi tội mà xin qui phục, cũng là kiến cơ đó!
Nói xong, thuận cho nước Trần được giảng hoà. Mục-vương lại truyền hịch cho vua Trịnh, vua Trần, và vua Sái hẹn đến tháng mười năm ấy thì hội nhau ở đất Quyết Lạc (đất nước Tống).
Lại nói chuyện Triệu Thuẫn nước Tấn thấy người nước Trịnh đến cáo cấp liền hợp quân bốn nước Tống, Lỗ, Vệ và Hứa để cùng sang cứu nước Trịnh. Chưa sang đến nơi, đã nghe tin nước Trần cũng theo Sở. Quan đại phu nước Tống là Hoa Ngẫu cùng quan đại phu nước Lỗ là công tử Toại đến nói với Triệu Thuẫn xin đem quân sang đánh Trần và Trịnh. Triệu Thuẫn nói:
- Chỉ vì ta không đến cứu nhanh, để đến nổi hai nước phải theo Sở, chớ hai nước ấy có tội lỗi gì! Chi bằng ta rút quân về mà sửa sang chính sự trong nước còn hơn!
Nói xong liền rút quân về. Cuối mùa thu năm ấy, vua Trần (Sóc) và vua Trịnh (Lan) đều đến cả ở Tức Địa để đón Sở Mục-vương. Mục-vương hỏi:
- Khi trước tôi có hẹn đến hội ở Quyết Lạc, sao hai vua lại còn ở đây?
Vua Trần và vua Trịnh đồng thanh đáp:
- Chúng tôi sợ đến chậm thì có lỗi, vậy phải hợp ở đây để đón đại vương, rồi cùng đi một thể.
Sở Mục-vương bằng lòng. Bỗng nghe báo vua Sái (Giáp Ngọ) đã đến ở đất Quyết Lạc rồi. Sở Mục-vương liền cùng với vua Trần và vua Trịnh đi gấp đến đất Quyết Lạc. Khi Sở Mục-vương đến, vua Sái ra đón, dùng lễ thần hạ, sụp lạy hai lạy. Vua Trần và vua Trịnh giật mình, nói riêng với nhau rằng:
- Vua Sái chịu nhún mình quá như vậy, thì vua Sở tất cho chúng ta là quá vô lễ!
Vua Trần và vua Trịnh mới cùng nhau nói với Sở Mục-vương rằng:
- Đại vương thân hành đến đây mà vua Tống không đến nghênh tiếp, xin đại vương cho đem quân đi đánh.
Mục-vương cười mà rằng:
- Tôi đem quân tới đây, chính là muốn đánh nước Tống đó. Bấy gìờ Tống thành công đã mất rồi, con là Chủ Cữu (tức là Tống Chiêu-công) lên nối ngôi mới được ba năm, hay tin dùng bọn tiểu nhân, mà ruồng bỏ người trông công tộc, bởi vậy người trong công tộc nổi loạn, giết quan tư mã là công tử Ngang. Quan tư thành là Đãng Y Chư bỏ chạy sang nước Lỗ, nhờ có quan tư khấu là Hoa Ngự Sự hết sức điều đình để triệu Đãng Y Chư về, nước Tống mới được yên ổn. Hoa Ngự Sự nghe tin Sở Mục-công hội chư hầu ở đất Quyết Lạc có ý muốn dòm ngó nước Tống, mới nói với Tống Chiêu-công rằng:
- Nước nhỏ mà không chịu thần phục nước lớn thì sao giữ được, nay nước Trần và nước Trịnh đều theo Sở cả, chúa công cũng nên thân hành đến mà nghênh tiếp vua Sở, nếu chờ khi vua Sở đem quân đến đánh, rồi mới xin giảng hoà thì sao cho kịp!
Tống Chiêu-công lấy làm phải, mới thân hành đến đất Quyết Lạc để nghênh tiếp Sở Mục-vương, và mời Sở Mục-vương đi săn bắn ở rừng Mạnh Chự. Sở Mục-vương bằng lòng. Tống Chiêu-công cùng với các chư hầu theo Sở Mục-vương đi săn. Sở Mục-vương truyền lệnh cho các chư hầu đi săn, trong xe đều phải đem theo một cái mồi lửa, phòng khi lấy lửa. Đến lúc đi săn, Sở Mục-vương ngảnh lại hỏi Tống Chiêu-công lấy cái mồi lửa toan hun đốt đàn cáo. Tống Chiêu-công không đem mồi lửa đi theo. Quan tư mã nước Sở là Thân Vô Úy nói với Sở Mục-vương rằng:
- Vua Tống trái lệnh như vậy, nếu đại vương không trị tội thì cũng nên đánh người theo hầu vua Tống để giữ phép.
Nói xong, liền thét nọc người dong xe của Tống Chiêu-công đánh ba trăm roi, dể làm gương cho chư hầu. Tống Chiêu-công Hổ thẹn khôn xiết. Bấy giờ nước Sở cường thịnh, sai Đấu Việt Tiêu sang sứ nước Tề và nước Lỗ, nghiễm nhiên tự coi là bá chủ Trung nguyên. Nước Tấn biết vậy mà cũng không kiềm chế nổi.
Năm thứ tư đời Chu Khoảnh-vương, Tần Khang-công hợp các quan triều thần lại thương nghị rằng:
- Ta nghĩ đến việc Linh Hồ mà căm tức nước Tấn, đến nay đã năm năm trời, bây giờ Triệu Thuẫn nước Tấn chuyên quyền, giết hại các quan đại thần, không biết sửa sang chánh sự. Trần, Sái, Trịnh, Tống đều bỏ Tống theo Sở cả, mà Tấn cũng không làm gì nổi, xem thế đủ biết Tấn đã suy nhược lắm rồi, nay ta không đánh Tấn còn đợi đến bao giờ!
Các quan đại phu đều nói:
- Chúa công muốn đánh Tấn, chúng tôi xin hết sức.
Tần Khang-công liền giao quốc chính cho Mạnh Minh, rồi sai Tây Khất Thuật làm chánh tướng, Kiển Binh làm phó tướng, Sĩ Hội làm tham mưu, đem quân sang nước Tấn đánh lấy đất Cơ Mã. Triệu Thuẫn nghe báo, tức khắc muốn đem quân ra đối địch. Bấy giờ Triệu Thuẫn làm trung quân nguyên soái, cho Tuân Lâm Phủ làm trung quân phó nguyên soái, thay chân Tiên Khắc, dùng Đế Di Minh làm chức xa hữu, lại cho Khước Khuyết làm thượng quân nguyên soái, thay chân Cơ Trịnh Phủ. Triệu Thuẫn có người em họ tên gọi Triệu Xuyên, là con rể Tấn Tương-công, xin làm thượng quân phó nguyên soái, Triệu Thuẫn bảo Triệu Xuyên rằng:
- Nhà ngươi tuổi trẻ, chưa có lịch duyệt, không nên làm vội.
Nói xong liền cho Du Biền làm thượng quân phó nguyên soái, lại dùng Loan Thuẫn làm hạ quân phó nguyên soái, thay chân Tiên Miệt, dùng con Tư Thân là Tư Giáp làm hạ quân phó nguyên soái, thay chân Tiên Đô. Triệu Xuyên lại xin đem thân thuộc của mình phụ theo với đạo thương quân để lập công trạng. Triệu Thuẫn thuận chọ con Hàn Tử Dư tên gọi Hàn Quyết, có hiến đức mà lại có tài năng, từ lúc bé vẫn ở nhà Triệu Thuẫn. Bấy giờ khuyết chức tư mã, Triệu Thuẫn liền tiến cử lên Tấn Linh-công, mà dùng tư mã. Đại binh từ Giáng Đô kéo ra, rất là chỉnh tề, uy nghiêm! Đi chưa được mười dặm, bỗng thấy có một người rẽ hàng quân mà quay xe trở lại. Quan tư mã là Hàn Quyết hỏi. Người dong xe ấy nói:
- Triệu Tướng quốc bỏ quên các đồ uống rượu, vậy có sai tôi trở lại lấy.
Hàn Quyết nổi giận nói:
- Đại binh đang đi mà sao nhà ngươi dám rẽ hàng quân trở lại, tất phải đem chém mới được!
Người dong xe ấy khóc mà kêu rằng:
- Việc này là do lệnh quan Tướng quốc.
Hàn Quyết nói:
- Ta làm chức tư mã, chỉ biết quân pháp, chứ không biết quan tướng quốc nào cả!
Nói xong, truyền chém người dong xe của ngài, thật là một kẻ phụ ơn, xin chớ nên dùng làm gì!
Triệu Thuẫn cười, rồi sai người đi triệu Hàn Quyết. Hàn Quyết đến, Triệu Thuẫn đang ngồi đúng dậy, tỏ ý kính trọng mà bảo rằng:
- Nhà ngươi biết giữ phép như vậy, thật không uổng công ta tiến dẫn! Nhà ngươi nên gắng thêm nữa!
Hàn Quyết lạy tạ rồi lui ra. Triệu Thuẫn lại bảo các tướng rằng:
- Sau ngày Hàn Quyết tất được cầm quyền chính nước Tấn! Họ Hàn đã sắp đến ngày hưng thịnh!
Quân Tấn đóng đồn ở đất Hà Khúc. Du Biền hiến kế rằng:
- Quân Tấn dương uy sức nhuệ trong mấy năm trời, mới sang đánh ta thì không địch nổi, ta nên cố thủ mà không nên ra đánh, lâu ngày tự khắc quân Tấn phải lui. Khi quân Tần đã lui, bấy giờ ta sẽ đuổi thì tất được toàn thắng.
Triệu Thuẫn theo lời. Tần Khang-công thấy quân Tấn không đánh, mới hỏi kế Sĩ Hội. Sĩ Hội nói:
- Triệu Thuẫn mới dùng một người tên gọi Du Biền. Người ấy nhiều mưu trí lắm! Nay quân Tấn không ra đánh là theo mưu của Du Biền, muốn làm cho quân ta lâu ngày mỏi mệt. Tôi nghe Triệu Xuyên là con rể Tấn Tương-công thuở trước, có nói với Triệu Thuẫn không cho, lại dùng Du Biền, Triệu Xuyên không bằng lòng, bởi vậy xin đem thân thuộc đi theo đạo thượng quân, thì tất Triệu Xuyên cậy sức mạnh, vội vàng ra nghênh chiến. Chỉ dùng kế ấy mới đánh nổi được quân Tấn.
Tần Khang-công theo lời, liền sai Kiển Binh đến đánh đạo thượng quân. Khước Khuyết và Du Biền đều cố thủ không ra. Triệu Xuyên nghe tin quân Tần đến, tức khắc đem thân thuộc của mình ra nghênh chiến. Kiển Binh quay xe bỏ chạy. Xe chạy rất nhanh. Triệu Xuyên đuổi theo đến hơn mười dặm mà không kịp, phải trở về. Triệu Xuyên thấy bọn Du Biền không đem quân tiếp ứng, mới gọi các tướng sĩ mà mắng rằng:
- Ta đem quân đi tới đây là cốt để đánh giặc, nay giặc đến mà ra đánh, vậy thì đạo thượng quân này đều là đàn bà cả hay sao!
Các tướng sĩ nói:
- Nguyên soái đã định sẵn mưu kế để phá quân giặc, chúng tôi không dám trái lệnh.
Triệu Xuyên lại mắng rằng:
- Lũ chuột ấy lại còn có mưu kế gì! Chẳng qua là sợ chết mà thôi. Ai sợ quân Tần, chứ ta đây quyết không sợ. Ta quyết đem quân ra đánh một trận để khỏi thẹn với quân Tần.
Triệu Xuyên lại tiến quân ra đánh, vừa đi vừa reo to lên rằng:
- Ai có can đảm thì đi theo ta!
Các tướng sĩ không ai theo cả. Chỉ có quan hạ quân phó nguyên soái là Tư Giáp khen rằng:
- Người ấy thật là anh hùng, ta nên giúp mới phải!
Thượng quân nguyên soái là Khước Khuyết vội vàng sai người đem việc ấy báo cho Triệu Thuẫn biết. Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ mà nói rằng: “Thằng điên ấy đem quân đi một mình, tất bị quân Tần bắt, ta phải cứu mới được!”.
Nói xong, liền truyền cho các quân cùng ra, đế giao chiến với quân Tần.
Lại nói chuyện Triệu Xuyên tiến sang quân Tần, cùng với Kiển Binh giao chiến. Đánh được hơn ba mươi hợp, hai bên đang xung đột, thì Tây Khất Thuật vừa toan xông đến để đánh giúp Kiển Binh, bỗng thấy đại binh Tấn kéo ra, nên không dám đánh nữa, lại nổi hiệu thu quân trở về. Triệu Thuẫn thấy vậy cũng thu quân về.
Triệu Xuyên về đến dinh quân Tấn, hỏi Triệu Thuẫn rằng:
- Tôi định dốc lực ra phá vỡ quân Tần, để rửa thẹn cho các tướng, sao ngài lại nổi hiệu thu quân?
Triệu Thuẫn nói:
- Tần là một nước lớn, không nên khinh địch, phải dùng kế mới được.
Triệu Xuyên nói:
- Dùng kế! Dùng kế! Nghĩ mà chán quá!
Nói chưa dứt lời thì có người vào báo có sứ nước Tần đưa chiến thư đến. Triệu Thuẫn sai Du Biền ra tiếp kiến. Sứ nước Tần đưa bức thư cho Du Biền. Du Biền đệ trình Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn mở ra xem, thư rằng: “Các chiến sĩ của hai nước chúng ta, đều chưa thiếu ai cả, xin đến ngày mai quyết một trận được thua”.
Triệu Thuẫn nhận lời, sứ nước Tần về rồi, Du Biền bảo Triệu Thuẫn rằng:
- Tôi thấy sứ nước Tần ngoài miệng dẫu nói xin khai chiến, nhưng trông mắt ngơ ngác nhìn quanh có ý sợ hãi ta lắm. Tôi chắc đêm hôm nay quân Tần tất bỏ trốn, xin nguyên soái sai một toán quân ra phục sẳn ở bên Hoàng Hà, chờ khi quân Tần qua sông sẽ đổ ra đánh, tôi chắc là quân ta tất được toàn thắng.
Triệu Thuẫn khen phải, toan sai quân đi mai phục. Tư Giáp nghe thấy mưu ấy, liền nói với Triệu Xuyên. Triệu Xuyên liền với Tư Giáp kéo nhau đến cửa dinh quân Tấn mà reo ầm lên rằng:
- Các quân sĩ, hãy nghe ta nói một câu: nước Tấn ta dùng binh hùng tướng dũng, có kém gì nước Tần, nay nước Tần đưa chiến thư, ta đã nhận lời rồi, mà lại còn đem quân mai phục, để làm kế đánh trộm thì sao gọi là trượng phu được!
Triệu Thuẫn nghe nói, liền gọi Triệu Xuyên và Tư Giáp đến mà bảo rằng:
- Ta có ý đâu! Các người chớ làm cho quân sĩ náo động!
Thám tử của nước Tần đem chuyện ấy về báo với Tần Khang-công. Đêm hôm ấy, quân Tần bỏ trốn, rút về mạt Hà Ấp, qua ải Đào Lâm mà về nước Tần. Triệu Thuẫn cũng thu quân trở về, rồi trị tội những kẻ làm tiết lộ quân tình. Triệu Xuyên là con rể Tấn Tương-công, lại là em họ Triệu Thuẫn, được tha tội, còn Tư Giáp thì phải cách bỏ quan tước, đuổi sang ở nước Vệ. Triệu Thuẫn nói:
- Ta không nên quên công của Tư Thần ngày xưa!
Nói xong, lại cho con Tư Giáp là Tư Khắc làm hạ quân phó nguyên soái.
Triệu Thuẫn sợ quân Tần lại đến, mới sai quan đại phu là Thiêm Gia ra ở Hà Ấp để trấn thủ Ải Đào Lâm. Du Biền nói với Triệu Thuẫn rằng:
- Trận vừa rồi, bày mưu kế cho nước Tần là bởi Sĩ Hội, nếu người ấy còn ở nước Tần thì chúng ta cũng khó lòng mà ngồi yên được.
Triệu Thuẫn lấy làm phải, hợp các quan đại phu lại để thương nghị. Triệu Thuẫn hỏi rằng:
- Nay Hồ Xạ Cô ở nước Xích Địch, Sĩ Hội ở nước Tần, hai người đều lập mưu để hại nước Tấn ta, các quan nghĩ thế nào?
Tuân Lâm Phủ nói:
- Công lao của họ Hồ ngày xưa, ta cũng nên nhớ, nay xin triệu Hồ Xạ Cô về mà phục chức cho y.
Khước Khuyết nói:
- Hồ Xạ Cô nhiều công lao, nhưng có cái tội giết quan đại thần, nếu ta phục chức cho thì lấy gì làm gương cho kẻ khác, chi bằng ta triệu Sĩ Hội. Sĩ Hội là người nhu thuận mà nhiều mưu trí, dẫu có trốn sang nước Tần, nhưng không phải là có tội. Xích Địch xa mà nước Tần gần, ta muốn trừ cái hại nước Tần thì nên triệu Sĩ Hội về.
Triệu Thuẫn nói:
- Nước Tần đang trọng dụng Sĩ Hội, ta triệu thì tất nước Tần không cho về, biết làm thế nào?
Du Biền nói:
- Tôi có nghe một người tên gọi Thọ Dư, tức là cháu Ngụy Thù, hiện nay ăn lộc ở Ngụy Ấp. Người ấy khéo bày mưu kế, muốn triệu Sĩ Hội về, chi giao cho người ấy là được việc!
Nói xong, lại ghé vào tai Triệu Thuẫn mà bảo mưu kế. Triệu Thuẫn mừng lắm nói:
- Nhà ngươi đến gọi người ấy cho ta.
Chiều hôm ấy Du Biền đến nhà Thọ Dư, Thọ Dư mời vào. Du Biền xin vào phòng kín để nói chuyện, rồi đem mưu kế định triệu Sĩ Hội bảo với Thọ Dư. Thọ Dư nhận lời.Du Biền về nói với Triệu Thuẫn. Ngày hôm sau, Triệu Thuẫn vào tâu với Tấn Linh-công rằng:
- Người nước Tần thường hay xâm nhiễu nước Tấn ta, ta nên bắt các quan ấp tể ở Hà Đông phải mộ quân ra trấn thủ bến sông Hoàng Hà, lại bắt cả những người có ăn lộc, cũng phải đi đốc biện về việc ấy, nếu sai suyển thì tức khắc trị tội.
Nói xong, truyền gọi Thọ Dư, bắt phải hết sức mà đốc biện việc ấy. Thọ Dư nói với Triệu Thuẫn rằng:
- Chúa công nghĩ đến tiền nhân tôi thuở xưa mà cho tôi được ăn lộc ở Ngụy Ấp, nhưng tôi chưa hề có quen việc quân lữ bao giờ. Huống chi sông Hoàng Hà dài hơn một trăm dặm, chỗ nào quân giặc cũng có thể sang đò dược, dẫu đem quân ra trấn thủ, chẳng qua cũng vô ích mà thôi.
Triệu Thuẫn nổi giận, nói:
- Sao nhà ngươi lại dám trái lệnh ta! Hạn cho nhà ngươi trong ba ngày, phải đem quân tịch đến trình, nếu chưa làm xong thì sẽ chiếu quân pháp mà trị tội.
Thọ Dư than thở mà lui ra, khi về đến nhà, có vẻ buồn bã. Vợ con thấy vậy, xúm lại hỏi. Thọ Dư nói:
- Triệu Thuẫn ác nghiệt quá, bắt ta đem quân ra giữ các cửa sông Hoàng Hà thì biết bao giờ cho xong việc! Các người nên thu thập gia tư, cùng ta trốn sang Tần theo Sĩ Hội là hơn cả.
Nói xong, truyền cho người nhà sắp sửa xe ngựa. Đêm hôm ấy Thọ Dư uống một bữa rượu thật say, rồi nhân cớ món ăn làm không được sạch, Thọ Dư lại đánh người làm bếp hơn một trăm roi, đánh xong, vẫn còn hầm hầm tức giận đe giết người nhà bếp.
Người nhà bếp tức khắc đem việc Thọ Dư có ý định phản Tấn theo Tần báo Triệu Thuẫn.Triệu Thuẫn sai Hàn Quyết đem quân đến bắt. Hàn Quyết để Thọ Dư chạy thoát, chỉ bắt vợ con đem bỏ ngục. Thọ Dư đi suốt mấy đêm sang đến nước Tần, vào yết kiến Tần Khang-công, kể tội Triệu Thuẫn ác nghiệt, bắt giam vợ con mình, chỉ có một mình trốn thoát sang xin đầu hàng nước Tần. Tần Khang-công hỏi Sĩ Hội xem việc ấy thực hay giả?
Sĩ Hội nói:
- Người nước Tấn hay gian dối lắm, ta chớ nên tin. Nếu Thọ Dưthực lòng đầu hàng, thì có đem được vật gì sang dân nước Tần ta mới phải. Thọ Dư thò vào trong tay áo, rút ra một quyển sổ, biên những Thổ địa nhân dân tại Ngụy ấp, đem dâng Tần Khang-công mà nói rằng:
- Nếu chúa công thu dụng tôi thì tôi xin đem Ngụy ấp mà dân nộp cho chúa công.
Tần Khang-công lại hỏi Sĩ Hội rằng:
- Có nên nghe lời Thọ Dư không?
Thọ Dư đua mắt cho Sĩ Hội và sẽ giẫm vào chân Sĩ Hội. Sĩ Hội dẫu ở nước Tần, nhưng lòng vẫn nhớ nước Tấn khi thấy Thọ Dư ra hiệu, mới nói với Tần Khang-công rằng:
- Nước Tần ta khi trước bỏ năm thành ở đất Hà Đông mà không lấy, là vì có tình thân gia với Tấn. Bây giờ Tấn đánh nhau với ta luôn mấy năm nay, thì ta còn vì lẽ gì mà không chiếm lấy năm thành ở đất Hà Đông nữa. Và năm thành ở đất Hà Đông thì Ngụy ấp là lớn hơn cả, nếu ta chiếm được Ngụy ấp rồi nhân đấy mà lấy luôn cả năm thành, còn gì hơn nữa! Tôi chỉ e rằng quân trấn thủ ở Ngụy ấp, sợ uy người nước Tấn, không dám về với nước ta mà thôi.
Thọ Dư nói:
- Quan trấn thủ ở Ngụy ấp dẫu là bề tôi nước Tấn, nhưng vẫn chịu ơn họ Ngụy tôi, nếu chúa công đem một toán quân đóng đồn ở Hà Tây để làm thanh viện, thì tôi có thể dụ cho họ phải theo.
Tần Khang-công ngảnh lại bảo Sĩ Hội rằng:
- Nhà ngươi đã am hiểu việc nước Tấn, nên cùng đi với ta.
Tần Khang-công cho Tây Khuất Thuật làm chánh tướng, Sĩ Hội làm phó tướng, và thân hành sang đóng đồn ở Hà Tây.
Quân thám tử nước Tần về báo rằng:
- Phía trước có một toán quân Tấn đóng đồn, không biết là ý tứ gì.
Thọ Dư nói:
- Đó tất là người Ngụy ấp, nghe tin quân Tần kéo đến mà phòng bị sẵn đấy! Đó là vì chúng ta chưa biết có tôi ở bên này. Nay được một người nào am hiểu việc nước Tấn, cho cùng sang trước với tôi, đem sự họa phúc mà dụ bảo chúng thì chúng tất phải theo.
Tần Khang-công sai Sĩ Hội đi với Thọ Dư. Sĩ Hội sụp lạy mà nói rằng:
- Người nước Tấn tàn ác như hổ lang, không thể lường được. Chuyến này tôi phụng mệnh sang dụ bảo mà chúng chịu theo thì một sự may cho nước Tần, vạn nhất chúng không theo mà bắt tôi ở bên ấy, tôi e rằng chúa công lại cho tôi là người không làm nổi việc mà trị tội vợ con tôi. Như vậy có phải là không ích gì cho chúa công, mà vợ con tôi cũng phải chịu oan khổ, hối sao cho kịp!
Tần Khang-công bèn bảo Sĩ Hội rằng:
- Nhà ngươi cứ nên hết lòng vì ta mà đi, lấy được Ngụy ấp thì ta sẽ hậu thưởng, nếu người nước Tấn có bắt giữ nhà ngươi ỡ bên ấy, ta xin sai người đem vợ con sang trả, để tỏ tấm lòng yêu mến bấy lâu.
Nói xong lại trỏ sông Hoàng Hà mà thề với Sĩ Hội.
Quan đại phu nước Tần Nhiễu Triều can Tần Khang-công rằng:
- Sĩ Hội là một mưu thần của nước Tấn, đi chuyến này khác nào như con cá lớn được xuống vực sâu, khi nào còn trở lại nữa. Sao chúa công lại quá nghe lời Thọ Dư mà giúp cho địch thêm một mưu thần như thế?
Tần Khang-công nói:
- Việc này ta tự gánh lấy, nhà ngươi chớ có lo ngại.
Sĩ Hội và Thọ Dư từ biệt Tần Khang-công rồi đị. Nhiễu Triều ra tiễn, đem một cái roi da tặng Sĩ Hội mà bảo rằng:
- Nhà ngươi chớ khinh nước Tần ta không có trí sĩ, chỉ tiếc chúa công không nghe lời ta mà thôi! Nhà ngươi cầm cái roi này đánh ngựa mà về cho mau, nếu chậm thì chắc có tai vạ.
Sĩ Hội lạy tạ, rồi giục ngựa đi mau.
Công tử Bão phóng tiền mua nước
Tề Y-công tham sắc hại thân
Sĩ Hội cùng Thọ Dư qua sông Hoàng Hà, đi về phía đông. Đi chưa được nữa dặm, thấy một viên tướng trẻ tuổi đem môt toán quân đến đón. Viên tướng ấy ngồi trên xe, cúi đầu chào Sĩ Hội. Sĩ Hội lại gần nhìn xem ai thì tức là Triệu Sóc (con Triệu Thuẫn). Sĩ Hội hỏi Triệu Sóc rằng:
- Nhà ngươi đem quân tới đây là có ý gì?
Triệu Sóc nói:
- Tôi phụng mệnh cha tôi, tới đây để đón ngài về triều, mặt sau sắp có đại binh kéo đến.
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe có tiếng pháo nổ, quân Tấn kéo đến đông như nước chảy, đem Sĩ Hội và Thọ Dư về triều. Thám tử nước Tần về báo, Tần Khang-công nổi giận, toan đem quân qua sông để đánh Tấn. Lại nghe báo bên kia sông có Tuân Lâm Phủ và Khước Khuyết đem đại binh nước Tấn kéo đến, Tây Khất Thuật bèn nói với Tần Khang-công rằng:
- Đại binh nước Tấn đã đến tiếp ứng như thế, tất không để cho quân ta sang sông, chi bằng ta hãy rút về.
Nói xong, liền rút quân về. Bọn Tuân Lâm Phủ thấy quân Tần rút về, cũng đem quân trở về nước Tấn. Sĩ Hội trốn sang nước Tần đã ba năm trời, ngày nay lại về nước Tấn, ngẫm nghĩ trong lòng, xiết bao cảm khái, vào yết kiến Tấn Linh-công, sụp lạy tạ tội. Tấn Linh-công nói:
- Nhà ngươi có tội gì đâu!
Tấn Linh-công cho Sĩ Hội làm quan đại phu. Triệu Thuẫn tâu với Linh-công thưởng cho Thọ Dư mười cỗ xe, để đền công khổ nhọc đi triệu được Sĩ Hội. Tần Khang-công sai người đua vợ con Sĩ Hội về trả nước Tấn và bảo Sĩ Hội rằng:
- Ta không lỡ trái lời thề ở sông Hoàng Hà đâu!
Sĩ Hội cảm cái ân nghĩa của Tần Khang-công, cũng viết thư cảm tạ, và khuyên Tần Khang-công nên nghĩ việc binh, để nuôi sức dân, mà giữ yên bốn cõi. Tần Khang-công nghe lời, từ bấy giờ Tần Tấn hai nước không gây việc chiến tranh, được đến vài ba mươi năm.
Chu Khoảnh-vương lên ngôi được sáu năm thì băng hà. Thái tử Ban lên nối ngôi, tức là Chu Khuôn-vương. Sở Mục-vương mất. Thế tử Lữ lên nối ngôi, tức là Sở Trang-vương. Triệu Thuẫn thấy nước Sở mới có tang, muốn nhân cơ hội ấy khôi phục lại sự nghiệp bá chủ của nước Tấn trước, liền đại hội chư hầu ở đất Tân Thành. Tống Chiêu-công, Lỗ Thành-công, Trần Linh-công, Vệ Thành-công, Trịnh Mục-công và Hứa Chiêu công đều đến dự hội. Tống Chiêu-công, Trần Linh-công và Trịnh Mục-công đều bày tỏ sự tình ngày trước, nói phải theo Sở chỉ là việc bất đắc dĩ.
Triệu Thuẫn cũng lấy lời ngọt ngào mà phủ dụ. Chư hầu lại thần phục nước Tấn cả, chỉ có nước Sái vẫn theo Sở như cũ, không đến dự hội. Triệu Thuẫn sai Khước Khuyết đem quân đi đánh nước Sái. Nước Sái xin giảng hoà. Khước Khuyết mới thu quân về nước. Tề Chiêu-công vẫn định đến dự hội, nhưng phát bệnh nặng chưa kịp đến đã mất, con là thế tử Xá lên nối ngôi. Mẹ thế tử Xá là con gái nước Lỗ, tên gọi Thúc Cơ, tức là nàng Chiêu Cơ. Nàng Chiêu Cơ dẫu là Tề Chiêu-công phu nhân, nhưng không được yêu chuộng mà con là Thế tử Xá, thì tài học lại tầm thường, cũng không được người trong nước kính trọng. Công tử Thương Nhân là con nàng Mật Cơ (thiếp của Tề Hoàn-công) vốn có chí cướp ngôi, chỉ vì được Chiêu công hậu đãi, nên không nỡ làm vội, vẫn định chờ Chiêu công mất rồi mới khởi sự. Mấy năm sau, Chiêu công triệu công tử Nguyên ở nước Vệ về, giao quốc chính cho. Công tử Thương Nhân thấy công tử Nguyên là người giỏi, vẫn có lòng ghen ghét, lại muốn mua chuộc lòng dân, mới đem hết gia tài, cấp phát cho những kẻ nghèo khổ, bởi vậy dân trong nước ai cũng phục. Đến lúc thế tử Xá được lên nối ngôi, bỗng gặp có sao cHổi xuất hiện, công tử Thương Nhân mới sai người bói xem tốt xấu thế nào.Người thầy bói nói:
- Đó là cái triệu nước Tống nước Tề và nước Tấn có loạn, mà vua ba nước đều bị giết cả.
Công tử Thương Nhân nói:
- Nếu vậy thì làm loạn ở Tề, chắc là tay ta!
Nói xong, liền sai kẻ tử sĩ vào đâm chết thế tử Xá. Công tử Thương Nhân thấy công tử Nguyên hơn tuổi mình, mới nói dối công tử Nguyên rằng:
- Thế tử Xá không đáng làm vua, tôi làm việc này là vì anh đó!
Công tử Nguyên giật mình kinh sợ và nói rằng:
- Ta vẫn biết nhà ngươi muốn làm vua đã lâu, sao bây giờ lại trút cho tạTa thờ nhà ngươi thi được, chớ nhà ngươi không thể thờ ta được, ta chỉ mong nhà ngươi làm vua bao dung cho ta được trọn đời làm một kẻ thường dân ở nước Tề này, thế là mãn nguyện!
Công tử Thương nhân lên nối ngôi, tức là Tề Ý-công. Công tử Nguyên ghét Tề Ý-công làm những việc tàn nhẫn, mới cáo ốm về nhà, đóng cửa không đi đến đâu cả, cũng không vào triều nữa. Chiêu Cơ thương con chết oan, ngày đêm kêu khóc. Tề Ý-công thấy vậy bắt giam vào một nơi, lại cho ăn uống rất kham khổ. Chiêu Cơ đút tiền cho các cung nhân để đưa tin sang cho Lỗ Văn-công biết. Lỗ Văn-công sợ thế nước Tề mạnh, sai người sang nói với Chu Khuông-vương, muốn nhờ uy Chu Khuông-vương, xin Tề Ý-công tha cho Chiêu Cơ, Chu Khuông-vương sai Đan Bá sang nước Tề, bảo Tề Ý-công rằng:
- Đã giết con thì thôi, còn giam mẹ làm gì! Sao không tha cho người ta về nước Lỗ, để tỏ lòng quảng đại của nước Tề?
Tề Ý-công vẫn muốn giấu việc giết thế tử Xá, bấy giờ nghe lời Đan Bá, mặt đỏ bừng lên, không nói gì cả. Đan Bá về nhà công quán. Tề Ý-công truyền đem Chiêu Cơ sang cung khác, rồi sai người nói lừa Đan Bá rằng:
- Chúa công tôi đối với quốc mẫu (tức là Chiêu Cơ), chưa hề dám khinh, huống chi lại có lệnh thiên tử, kẻ nào mà không tuân theo? Sao cương sứ không vào yết kiến quốc mẫu, để tỏ tấm lòng quyền cố của thiên tử.
Đan Bá tưởng thực, vội vàng vào cung yết kiến Chiêu Cơ. Chiêu Cơ ứa nước mắt, kể những nông nỗi oan khổ. Đan Bá chưa kịp trả lời bỗng Tề Ý-công ở đâu sực đến, quát to lên rằng:
- Đan Bá sao dám tự tiện vào cung tư thông với quốc mẫu, định làm việc bậy bạ hay sao? Ta quyết đem việc này tâu với thiên tử.
Nói xong, truyền đem Đan Bá và nàng Chiêu Cơ mỗi người giam vào một nơi; lại căm tức Lỗ Văn-công dám mượn uy lệnh thiên tử mà áp chế nước mình, mới đem quân đi đánh Lỗ. Lỗ Văn-công sai quan thượng khanh là Quý Tôn Hàng Phủ (con công tử Hữu) sang cáo cấp với nước Tấn. Triệu Thuẫn vâng lệnh Tấn Linh-công hội các nước Tống, Vệ, Sái, Trần, Trịnh, Tào; và Hứa ở đất Hỗ, để bàn việc đánh Tề. Tề Ý-công bèn sai người sang lễ nước Tấn, tha Đan Bá về nhà Chu, lại cho nàng Chiêu Cơ về Lỗ. Các nước đều rút quân về cả. Lỗ Văn-công nghe tin nước Tấn không sang đánh Tề, cũng sai công tử Toại sang nước Tề để xin giảng hoà.
Lại nói chuyện Tống Tương công phu nhân là Vương Cơ, tức là chị của Chu Tương-vương, thân mẫu của Tống Thành công (Vương Thần) và tổ mẫu của Tống Chiêu-công (Chử Cữu). Tống Chiêu-công tử khi còn làm thế tử, vẫn cùng với công tử An, công tử Khổng Thúc và công tôn Chung Ly đi săn bắn, đến khi lên ngôi làm vua, việc gì cũng nghe lời ba người ấy, bỏ hết cả chính sự, chỉ hàng ngày rủ nhau đi săn bắn để mua vui. Quan tư mã Lạc biết cơ nước Tống tất loạn, mới nhường quan chức cho công tử An. Quan tư thành là công tôn Thọ cũng sợ tai vạ, xin cáo lão về hưu. Tống Chiêu-công lại dùng người con công tôn Thọ là Đăng Y Chư làm quan tư thành. Tống Tương-công phu nhân là Vương Cơ đã già mà còn đa dâm. Tống Chiêu-công có người con thứ đệ tên gọi công tử Bão uống rượu thật say, rồi ép công tử Bão thông dâm với mình và hứa sẽ lập làm vua. Từ đó Vương Cơ muốn bỏ Tống Chiêu-công mà lập công tử Bão. Tống Chiêu-công sợ các chi họ về Mục công và Tương công mạnh thế lắm, mới bàn mưu với công tử Ngang để đuổi những người ở trong hai chi ấy ra nước ngoài.
Vương Cơ biết mưu, tức khắc mật báo cho hai chi ấy biết. Hai chi ấy nổi loạn, vay bắt công tử Ngang và công tử Chung Ly ở chỗ triều môn mà giết đi. Quan tư thành là Đăng Y Chư sợ hãi trốn sang nước Lỗ. Công tử Bão vốn được lòng các quan lục khanh, bấy giờ liên kết với bọn ấy và hai chi hộ, không hỏi đến tội giết chết công tử Ngang và công tôn Chung Ly, lại sai người sang nước Lỗ triệu Đăng Y Chư về mà phục chức cho. Công tử Bão nghe nói công tử Thương Nhân (tức là Tề Ý-công) ở nước Tề, phóng tiền tài để mua lòng người, mà cướp được ngôi vua, thì cũng bắt chước đem hết gia tài chu cấp cho những kẻ nghèo khổ. Năm thứ bảy đời Tống Chiêu-công, nước Tống mất mùa, công tử Bão đem thóc gạo phát cho dân đói, lại kính kẻ già, tôn người hiền, phàm những người nào từ bảy mươi tuổi trở lên, cứ mỗi tháng lại sai người biếu thóc lụa và các thứ thực phẩm, mà cấp lương cho, các quan công, khanh, đại phu thì tháng nào công tử Bão cũng có đồ biếu, trong họ tôn thất, bất cứ thân sơ, hễ hơi có việc gì, cũng đem tiền bạc đến tư giúp. Đến năm thứ tám đời Tống Chiêu-công, nước Tống lại mất mùa to, côn tử Bão hết cả tiền của. Vương Cơ lại đem của riêng ở trong cung ra mà đưa cho công tử Bão. Bở i vậy cả nước ai cũng khen ngợi công tử Bão là người nhân đức, mà muốn cho công tử Bão lên làm vua. Công tử Bão biết là người trong nước ai cũng bằng lòng với mình mới bàn mưu với Vương Cơ để định giết Tống Chiêu-công. Vương Cơ nói:
- Nghe nói Chữ Cữu (tên Tống Chiêu-công) sắp đi săn ở đất Mạnh Chư. Hôm ấy ta dặn công tử (em cùng mẹ với công tử Bão) đóng cửa thành lại, rồi nhà ngươi đem người đi giết Chữ Cữu thì chắc phải xong việc. Công tử Bão theo lời. Quan tư thành là Đăng Y Chư vốn là người hiền, xưa nay công tử Bão vẫn kính trọng, bấy giờ nghe biết mưu của công tử Bão, liền nói với Tống Chiêu-công rằng:
- Chúa công chớ nên đi săn, nếu đi thì tất không trở về được.
Tống Chiêu-công nói:
- Nếu có kẻ nào định nổi loạn thì dẫu ta ở nhà, cũng chẳng tránh được nào!
Nói xong, liền sai quan hữu sự là Hoa Nguyên và quan tả sư là Công Tôn Hữu ở nhà để giữ nước, còn mình thì chuyên chở các thứ bảo ngọc trong kho, thẳng đường tiến ra Mạnh Chư. Tống Chiêu-công mới ra khỏi cửa thành thì Vương Cơ sai người triệu Hoa Nguyên và công tôn Hữu vào mà giữ ở trong cung, rồi sai công tử Tu đóng chặt cửa thành lại. Công tử Bão bảo quan tư mã Hoa Ngẫu tuyên cáo với quân sĩ rằng:
- Ta phụng mệnh Vương Cơ tôn lập công tử Bão lên làm vua, trừ bỏ hôn quân vô đạo đi, các người nghĩ thế nào?
Quân sĩ đều reo ầm lên:
- Xin vâng mệnh!
Người nước Tống nghe nói, ai cũng thuận cả. Hoa Ngẫu đem quân đi đuổi theo Chiêu công. Tống Chiêu-công đi đến nửa đường, nghe tin có biến, Đăng Y Chư khuyên Chiêu công chạy sang nước khác. Tống Chiêu-công nói:
- Trên từ tổ mẫu (trỏ Vương Cơ) dưới đến người trong nước, ai cũng là cừu địch với ta, huống chi là các nước láng giềng ai còn chịu giúp ta nữa. Ta chết ở nước khác, chẳng thà chết ở nước nhà còn hơn!
Nói xong, truyền đóng quân lại, rồi nấu cơm ăn, để cho các người theo hắn đều được ăn no cả. Ăn xong, Chiêu công bảo các người theo hầu rằng:
- Việc này là lỗi tại ta, chứ các người có dự gì đến! các người theo hầu ta trong mấy năm, ta chưa có gì đền công, nay có các đồ bảo ngọc ở đây, ta chia tặng cho các người. Các người nên trốn đi, kẻo mà chết oan!
Các người theo hầu đều khóc mà nói rằng:
- Xin chúa công cứ đi, nếu có quan đuổi theo, chúng tôi sẽ hết sức cố đánh.
Chiêu công nói:
- Chỉ chết uổng mà thôi, không được ích gì. Các người chớ quyến luyến ta nữa!
Được một lúc quân Hoa Ngẫu kéo đến, vây kín Tống Chiêu-công, rồi tuyên cáo với quân sĩ rằng:
- Ta phụng mệnh Vương Cơ, chỉ giết một mình đứa hôn quân vô đạo mà thôi, không hại gì đến các người cả. Chiêu công vội vàng xua đuổi những người theo hầu đi. Các người theo hầu tan chạy đến quá nửa, chỉ còn Đăng Y Chư vẫn chống gươm đứng bên cạnh Chiêu công. Hoa Ngẫu lại tuyên bố mệnh lệnh của Vương Cơ triệu Đăng Y Chư về. Đăng Y Chư thở dài mà rằng:
- Làm bề tôi mà lúc hoạn nạn lại bỏ vua thì sống làm gì cho nhục, chẳng thà chết đi còn hơn!
Hoa Ngẫu cầm giáo, xông vào giết Tống Chiêu-công. Đăng Y Chư lấy mình che cho Chiêu-công, rồi cầm gươm đánh nhau với Hoa Ngẫu. Quân Hoa Ngẫu xúm lại, giết Đăng Y Chư trước, giết Tống Chiêu-công sau. Các người theo hầu Tống Chiêu-công, ai không trốn đi cũng bị giết cả. Hoa Ngẫu đem quân về báo với Vương Cơ. Bọn Hoa Nguyên và Công Tôn Hữu cùng với các quan trong triều đều tán tụng công tử Bão là người nhân đức, nên lập làm vua. Vương Cơ truyền lập công tử Bão lên nối ngôi, tức là Tống Văn-công. Hoa Ngẫu vừa triệu hạ xong, về nhà đau bụng chết ngay lập tức. Tống Văn-công khen Đăng Y Chư là người trung thần, mới dùng người em là Đăng Huỷ làm quan tư mã, để thay cho Hoa Ngẫu. Tống Văn-công lại cho người em cùng mẹ là công tử Tu làm quan tư thành, để thay cho Đăng Y Chư. Triệu Thuẫn nghe tin giết Tống có loạn giết vua, liền sai Tuân Lâm Phủ làm đại tướng, hội quân nước Vệ, nước Trần và nước Trịnh để sang đánh Tống. Quan Hữu sư nước Tống là Hoa Nguyên đến nói với quân Tấn, kể hết những sự tình người trong nước muốn lập công tử Bão, lại đưa mấy xe vàng lụa làm lễ khao quân, và xin giảng hoà với Tấn. Tuân Lâm Phủ toan nhận. Trịnh Mục-công nói:
- Chúng tôi dựng cờ gióng trống để theo tướng quân sang đánh Tống là muốn trừ những đứa loạn lạc, tướng quân lại cho nước Tống giảng hòa thì những đứa loạn tặc còn sợ gì nữa!
Tuân Lâm Phủ nói:
- Tề và Tống có khác gì nhau, ta đã khoan dung cho Tề, có lẽ nào lại nghiêm khắc với Tống! Và người nước Tống đều muốn như vậy, ta nhân đó mà an định nước Tống chẳng là hay lắm sao?
Nói xong, liền cho nước Tống được giảng hoà. Trịnh Mục-công lui ra mà nói rằng:
- Nước Tấn không nghĩ gì đến công nghĩa, chỉ tham lễ vật mà thôi thì làm bá chủ thế nào được! Nay vua Sở mới lập, chẳng bao lâu tất cũng gây việc chiến tranh, chi bằng ta bỏ Tấn theo Sở, để giữ yên lấy nước nhà là hơn.
Trịnh Mục-công liền sai sứ sang giao hảo với nước Sở. Nước Tấn biết vậy mà không làm gì được. Tề Ý-công (Thương Nhân) là người ngang ngược, từ khi cha là Tề Hoàn-công hãy còn, đã có một lần cùng với quan đại phu là Bính Nguyên tranh nhau ruộng đất. Tề Hoàn-công giao cho Quản Di Ngô xử đoán việc ấy. Quản Di Ngô mới xử cho Bính Nguyên được nhận ruộng đất ấy. Công tử Thương Nhân tức lắm, đến lúc giết thế tử Xá mà lên làm vua, liền chiếm lấy những ruộng đất của Bính Nguyên, cũng tước bỏ phong ấp của họ Quản, họ Quản sợ tội, trốn sang nước Sở, con cháu làm quan ở nước Sở. Tề Ý-công vẫn còn căm tức Bính Nguyên, bấy giờ Bính Nguyên đã chết rồi, Tề Ý-công khi đi săn qua mộ Bính Nguyên, sai quân sĩ khai quật lên mà chặt bỏ chân đi.
Con Bính Nguyên là Bính Súc lúc ấy đang đi theo hầu ở bên cạnh Tề Ý-công. Tề Ý-công bèn hỏi Bính Súc rằng:
- Cứ như tôi thân phụ nhà ngươi thì phỏng có đáng chặt chân không? Chắc nhà ngươi oán ta lắm hẳn?
Bính Súc đáp rằng:
- Cha tôi lúc sống được khỏi tội chết, đã là may lắm rồi, huống chi bây giờ chỉ còn một nắm xương không, có đâu tôi dám oán giận.
Tề Ý-công bằng lòng mà khen rằng:
- Thế mới thật con chữa được lỗi cho cha!
Tề Ý-công lại đem những ruộng đất chiếm lấy khi trước trả lại cho Bính Súc. Bính Súc xin chôn lại hài cốt của cha mình. Tề Ý-công thuận cho. Tề Ý-công lại mua gái đẹp trong nước, ngày nào cũng dâm đãng vui chơi. Lại nghe nói quan đại phu là Diêm Chức có người vợ rất đẹp, nhân dịp tết nguyên đán Tề Ý-công mới ra lệnh cho các vợ quan đại phu đều phải vào triều ở trong nội cung. Vợ Diêm Chức cũng vâng lệnh vào triều. Tề Ý-công trông thấy bằng lòng, liền giữ lại không cho về, rồi sai người ến bảo Diêm Chức rằng:
- Phu nhân ở trong nội cung muốn kết bạn với vợ ngươi, vậy ngươi nên tìm vợ khác.
Diêm Chức tức giận lắm không nói ra.
Phía cửa tây nước Tề có cái ao, tên gọi Thân Trì, nước ao trong sạch, có thể tắm được. Bên ao có nhiều khóm trúc rườm rà. Bấy giờ đang tháng năm mùa hạ, Tề Ý-công định ra Thân Trì để nghĩ mát, mới cho Bính Trúc và Diêm Chức đi hầu. Quan hữu sư là Hoa Nguyên nói riêng với Tề Ý-công rằng:
- Chúa công chặt chân cha Bính Súc và cướp vợ Diêm Chức, hai người ấy biết đâu không căm giận chúa công. Các quan nước Tề thiếu gì người, sao chúa công lại hay thân cận hai người ấy?
Tề công nói:
- Hai người ấy chưa hề oán giận ta bao giờ, nhà ngươi chớ nghi ngại!
Nói xong, liền ngự xe ra chơi Thân Trì, uống rượu rất vui. Tề Ý-công rượu say, thấy nóng bức quá, mới sai lấy một cái giường gấm kê ở trong bụi trúc để nằm cho mát. Bính Súc và Diêm Chức cùng tắm ở dưới ao. Bính Súc oán giận Tề Ý-công lắm, vẫn muốn giết đi để báo thù cho cha, nhưng chưa được ai đồng lòng với mình. Thấy Diêm Chức cũng có cái thù mất vợ, muốn cùng bàn với Diêm Chức nhưng thấy khó nói quá, nhưng khi cùng tắm ở dưới ao, bèn nghĩ ngay một kế, cầm cái dóng trúc đánh vào đầu Diêm Chức. Diêm Chức nổi giận mà mắng rằng:
- Sao nhà ngươi dám khinh ta như vậy?
Bính Súc tủm tỉm cười mà bảo rằng:
- Người ta cườp vợ nhà ngươi mà nhà ngươi còn không giận, ta đánh một cái đã hề gì!
Diêm Chức nói:
- Mất vợ dẫu là một điều xấu hổ cho ta, nhưng so với việc cha phải chặt chân thì đằng nào nhục hơn? Nhà ngươi chẳng thiết gì đến cha, mà lại trách ta không biết nghĩ đến vợ, sao ngu tối thế?
Bính Súc nói:
- Ta có mấy lời tâm phúc, vẫn muốn bàn với nhà ngươi mà không dám nói, chỉ sợ nhà ngươi quên mất thù xưa thì dẫu ta có nói, cũng không ích gì.
Diêm Chức nói:
- Bụng người ta ai cũng vậy, bao giờ quên được, chỉ vì sức không làm nổi.
Bính Súc nói:
- Nay kẻ thù đang say rượu, nằm ngủ ở trong bụi trúc, mà theo hầu đây thì chỉ có hai ta mà thôi, ấy là trời cho ta cái dịp để báo thù, ta chớ nên bỏ hoài.
Diêm Chức nói:
- Nhà ngươi dám làm đại sự, ta xin giúp một tay.
Hai người cùng lau mình mặc áo, rủ nhau vào trong bụi trúc, trông thấy Tề Ý-công đang nằm ngủ say, tiếng ngáy như sấm, lại có mấy tên nội thị đứng bên cạnh.
Bính Súc bảo các nội thị rằng:
- Lúc chúa công tỉnh rượu, tất thế nào cũng khát nước, các ngươi nên phải sắp sẵn mới được.
Các nội thị đều đi sửa soạn nước uống. Diêm Chức bèn nắm lấy tay Tề Ý-công, Bính Sức thì bóp cổ, rồi rút gươm cắt lấy đầu. Hai người khiêng thi thể Tề Ý-công giấu vào trong bụi trúc, rồi đem đầu ném xuống dưới ao. Khi nội thị đem nước uống đến, Bính Súc bảo rằng:
- Thương Nhân giết vua mà cướp ngôi, nay ta trừ bỏ đi rồi, có công tử Nguyên là người hiền, nên lập làm vua.
Các nội thị vâng dạ, không ai dám nói câu gì. Bính Súc cùng với Diêm Chức tiến vào trong thành, lại bày tiệc uống rượu mừng rỡ với nhau. Có người báo với hai quan thượng là Cao Khuynh (con Cao Hổ) và Quốc Quy Phủ (con Quốc Ý Trọng). Cao Khuynh nói:
- Bọn Bính Súc làm càn như vậy, ta nên kể tội mà bắt giết đi, để làm gương cho kẻ khác.
Quốc Quy Phủ nói:
- Một đứa giết vua, ta đã không trừ nổi, mà người ta trừ được thì sao gọi là tội.
Bính Súc cùng Diêm Chức uống rượu xong, sai lấy một cổ xe lớn, xếp của cải lên, rồi đem vợ con ra cửa Nam. Người nhà khuyên Bính Súc nên đi mau. Bính Súc nói:
- Thương Nhân vô đạo, người trong nước nghe tin chết, ai cũng lấy làm may, ta còn sợ gì nữa!
Nói xong cứ việc thủng thỉnh mà đi sang nước Sở. Cao Khuynh và Quốc Duy Phủ hợp các quan trong triều lại để thương nghị, rồi lập công tử Nguyên lên làm vua, tức là Tề Huệ-công.
Lại nói chuyện Lỗ Văn-công, tên là Hưng, là con nàng Thanh Khương (con gái Tề Hoàn-công). Lỗ Văn-công lấy con gái Tề Chiêu-công là Khương thị làm phu nhân, sinh được hai con là Ác và Thị, lại lấy con gái nước Tần là Kinh Doanh làm thiếp, cũng sinh dược hai con là Tiếp và Thúc Miện. Trong bốn người con ấy Tiếp là lớn tuổi hơn cả, mà Ác lại là con bà đích phu nhân, bởi vậy mới lập Ác làm thế tử. Bấy giờ quyền chính nước Lỗ, đều ở tay Tam Hoàng cả.
1. Mạnh Tôn thị là công tôn Ngao, sinh con là Cốc và Nạn.
2. Thúc Tôn thị là công tôn Tư, sinh con là Thúc Trọng Bành Sinh và Thúc Tôn Đắc Thần. Lỗ Văn-công dùng Thúc Trọng Bành Sinh làm chức thái phó để dạy thế tử Ác.
3. Quý Tôn thị là Quý Vô dật (con Quý Hữu), sinh con là Quý Tôn Hàn Phủ, tức là Quý Văn Tử.
Lỗ Trang công có người con thứ là công tử Toại, tức là Trọng Toại, nhân vì công tôn Ngao đắc tội với Trọng Toại chết ở nước ngoài, bởi vậy Mạnh Tôn thị (tức là công tôn Ngao) mất quyền hành nước Lỗ đều về tay Trọng Thị (tức là Trọng Toại), cùng với Thúc Tôn thị và Quý Tôn thị.
Lại nói chuyện công tôn Ngao vì cớ gì mà đắc tội? Nguyên công tôn Ngao lấy con gái nước Cử là Đái Kỷ (sinh con là Cốc) và Thanh Kỷ (sinh con là Nạn). Đến lúc Đái Kỷ chết, công tôn Ngao lại muốn lấy con gái nước Cử là Dĩ Thị, người nước Cử từ chối rằng:
- Còn nàng Thanh Kỷ đó, nên cho làm kế thất.
Công tôn Ngao nói:
- Em tôi là Trọng Toại, chưa có vợ, xin cưới Dĩ Thị cho em tôi.
Người nước Cử bằng lòng chọ Đến năm thứ bảy đời Lỗ Văn-công, công tôn Ngao phụng mệnh sang sứ nước Cử nhân tiện xin đón Dĩ thị về cho Trọng Toại. Khi Dĩ thị về đến đất Yên Lăng (đất nước Cử), công tôn Ngao đứng trên mặt thành, trông thấy Dĩ thị có nhan sắc, đêm hôm ấy cùng Dĩ thị ép duyên, rồi đưa về nhà. Trọng Toại thấy công tôn Ngao chiếm mất vợ mình, căm tức vô cùng, mới vào nói với Lỗ Văn-công, xin đem quân đến đánh. Thúc Trọng Bành Sinh can rằng:
- Không nên, nếu vậy thì sinh biến loạn mất!
Lỗ Văn-công cho triệu công tôn Ngao đến, bắt phải đem Dĩ thị trả lại cho nước Cử, để cho Trọng Toại khỏi giận. Công tôn Ngao và Trọng Toại lại hoà nhau như cũ. Công tôn Ngao vẫn có lòng nhớ Dĩ thị, năm sau phụng mệnh sang viếng tang Chu Tương-vương, nhưng không sang nhà Chu mà đem tiền của trốn sang nước Cử, cùng với Dĩ thị đoàn tụ. Lỗ Văn-công cũng không hỏi đến việc ấy nữa, cho con công tôn Ngao là Cốc nối dòng Mạnh Tôn thị. Sau công tôn Ngao nhớ nước Lỗ muốn về, sai người nói với con là Mạnh Tôn Cốc. Mạnh Tôn Cốc liền xin với chú là Trọng Toại.
Trọng Toại bảo Mạnh Tôn Cốc rằng:
- Nếu cha mày muốn về thì phải theo ta ba điều; không được vào triều, không được dự quốc chính, không được đem Dĩ thị về.
Mạnh Tôn Cốc sai người sang nói với công tôn Ngao. Công tôn Ngao muốn về lắm, đành phải theo lời. Công tôn Ngao về Lỗ trong tám năm, quả nhiên chỉ đóng cửa, không đi đến đâu cả bỗng một hôm lại đem hết tiền của trốn sang nước Cử. Mạnh Tôn Cốc nghĩ ngợi nhớ cha, được hơn một năm thì chết. Con là Trọng Tôn Miệt (tức là Mạnh Hiến Tử) hãy còn nhỏ, Lỗ Văn-công liền cho Mạnh Tô Nạn nối làm quan khanh. Chưa được bao lâu, Dĩ thị chết, công tôn Ngao lại muốn về nước Lỗ, mới đem hết gia tài lễ đút, Lễ Văn công và Trọng Toại, mà sai con là Mạnh Tôn Nạn đứng xin lỗi cho cha. Lỗ Văn-công thuận cho.
Khi công tôn Ngao trở về đến nước Tề thì ốm không đi được nữa, rồi chết ở đất Đường Phụ. Mạnh Tôn Nạn xin đem thi thể công tôn Ngao về chôn ở nước Lỗ. Mạnh Tôn Nạn là con người có tội, không được dự quyền chính. Quý Tôn Hàng Phủ giữ mực kính nhường đối với Trọng Toại, Bành Sinh và Đắc Thần cả ba đều thuộc về hàng chú, việc gì cũng phải đến hỏi. Bành Sinh tính nết hiền hậu, làm chức thái phó mà Đắc Thần thì chuyên giữ binh quyền, thế là chỉ có Trọng Toại và Đắc Thần giữ quyền chính nước Lỗ. Nàng Kinh Doanh cậy thế Lỗ Văn-công yêu, giận rằng con mình không được làm thế tử, mới đem tiền của lễ đút Trọng Toại nhờ binh vực cho con là công tử Oạ. Trọng Toại nghĩ thầm:
- Thúc Trọng Bàng Sinh là quan thái phó của thế tử Ác, thì tất không chịu đồng mưu với mình, mà Thúc Tôn Đắc Thần, tính tham ăn lễ, có thể lấy lợi mà dụ được.
Liền đem lễ vật của Kinh Doanh cho, chia biếu Thúc Tôn Đắc Thần mà bảo rằng:
- Đây là những lễ vật của Kinh Doanh nhờ ta đưa biếu nhà ngươi.
Trọng Toại lại bảo công tử Tiếp thỉnh thoảng đến thăm Thúc Tôn Đắc Thần để tỏ lòng kính mến, bởi vậy Thúc Tôn Đắc Thần cũng có lòng yêu. Đến năm Lỗ Văn-công mất, thế tử Ác làm chủ tang, lên nối ngôi, các nước đều sai sứ đến thăm viếng. Bấy giờ Tề Huệ-công (tức công tử Nguyên) mới lên nối ngôi, muốn biến cải những chính lệnh bạo ngược của Tề Ý-công (tức là công tử Thương Nhân) khi trước, cũng sai sứ đến viếng tang Lỗ Văn-công. Trọng Toại bảo Đắc Thần rằng:
- Tề Lỗ thuở xưa vẫn giao hiếu với nhau, chỉ vì Tề Hiếu-công gây nên thù oán, kéo dài cho đến Tề Ý-công nay công tử Nguyên mới lên nối ngôi, ta chưa sai người sang mừng, mà đã đến viếng tang nước ta, là có ý muốn thân thiện với ta, ta nên sai sứ sang tạ, và nhân cơ hội này giao kết với Tề để làm vây cánh cho công tử Oa.
Hai người bên cùng sang sứ nước Tề.
Trọng Toại tôn lập Oa Công tử
Triệu Thuấn khuyên can Tấn Linh-công
Trọng Toại cùng với Thúc Tôn Ðắc Thần sang nước Tề để mừng vua mới và tạ ơn nước Tề đã sai sứ sang viến tang. Tề Huệ-công mời ăn tiệc, nhân hỏi Trọng Toại và Thúc Tôn Ðắc Thần rằng:
- Chẳng hay vua mới nước Lỗ sao lại đặt tên là Ác? Thế gian thiếu gì tên đẹp mà lại dùng cái chữ xấu xí ấy?
Trọng Toại nói:
- Tiên sinh tôi lúc mới sinh thế tử Ác, có sai quan thái sứ bói xem tốt xấu thế nào, quan thái sứ bảo rằng cứ theo số tất phải chịu ác tử không được hưởng lộc, vậy nên tiên quân tôi mới đem chữ "Ác" đặt tên để trấn yểm đi. Chỉ vì Ác là con đích mà phải lập làm thế tử chứ tiên quân tôi vẫn không có lòng yêu, tiên quân tôi chỉ yêu người con hơn tuổi nhất là công tử Oa. Công tử Oa tính nết hiền hậu, biết kính trọng các quan đại thần, người trong nước ai cũng muốn tôn làm vua.
Tề Huệ-công nói:
- Ðời xưa cũng có phép được lập người con hơn tuổi, huống chi lại là con yêu.
Thúc Tôn Ðắc Thần nói:
- Nước Lỗ tôi vẫn quen lệ lập đích tử, khi nào không có đích tử mới lập người con hơn tuổi, bởi vậy tiên quân tôi bỏ công tử Oa mà lập công tử Ác, người trong nước chẳng ai thuận cả. Nếu quý quốc có lòng vì nước tôi đối lập vua hiền thì công tử Oa xin cùng với quý quốc kết làm hôn nhân, rồi dốc một lòng mà thần phục quý quốc.
Tề Huệ-công rất bằng lòng mà nói rằng:
- Nếu đại phu giúp ở bên trong thì tôi đây cũng xin tuân mệnh.
Trọng Toại cùng với Thúc Tôn Ðắc Thần quệt máu ăn thề và lập tờ hôn ước. Tề Huệ-công thuận cho. Bọn Trọng Toại về đến nước Lỗ, bảo Quý Tôn Hàng Phủ rằng:
- Ngày nay sự nghiệp bá chủ của nước Tấn đã suy kém rồi, nước Tề sắp lại cường thịnh. Nước Tề muốn đem đích nữ gã cho công tử Oa, như vậy thì nước ta lại càng thêm vây cánh.
Quý Tôn Hàng Phủ nói:
- Chúa công bây giờ là cháu gọi vua Tề bằng cậu, vua Tề có con gái, sao không gả cho chúa công mà lại gả cho công tử Oa?
Trọng Toại nói:
- Vua Tề nghe nói công tử Oa là người hiền, muốn kết thân với công tử Oa, nhận làm rể, còn như bà phu nhân Khương thị là con Tề Chiêu công mà các con Tề Hoàn-công thì coi nhau như cừu địch, vậy nên bốn đời vua Tề đều là em lên thay anh, người ta đã chẳng nghĩ gì đến anh, đâu lại còn nghĩ gì đến cháu.
Quý Tôn Hàng Phủ nín lặng, khi ra về thở dài mà than rằng:
- Ðông Môn thị đã có ý khác rồi!
Nói xong, liền mật báo với Thúc Trọng Bành Sinh, Thúc Trọng Bành Sinh nói:
- Ngôi vua đã định rồi, ai còn dám có ý khác!
Thúc Trọng Bành Sinh cũng chẳng nghĩ gì đến nữa. Trọng Toại cùng với Kính Doanh bàn mưu đem bọn dũng sĩ phục ở trong chuồng ngựa, sai người báo là ngựa mới đẻ con đẹp lắm. Kính Doanh báo công tử Oa cùng với vua Lỗ (tức là công tử Ác) và công tử Thị thân hành ra chuồng ngựa để xem. Bọn dũng sĩ đổ ra, cầm côn gỗ đánh chết vua Lỗ lại giết chết cả công tử Thị nữa. Trọng Toại nói:
- Quan Thái phó là Thúc Trọng Bành Sinh hãy còn, nếu chưa trừ bỏ được người ấy thì tất không xong việc.
Trọng Toại liền sai nội thị giả cách phụng mệnh vua Lỗ đến triệu Thúc Trọng Bành Sinh sắp sửa vào cung. Gia Thần là Công Nhiễm Vụ Nhân vẫn biết chuyện Trọng Toại mật giao với người trong cung mới can Thúc Trọng Bành Sinh rằng:
- Thái phó chớ vào, vào thì tất chết.
Thúc Trọng Bành Sinh nói:
- Vua sai người triệu thì dẫu chết ta cũng đành lòng!
Công Nhiễm Vụ Nhân nói:
- Nếu vua triệu thật quan thái phó không chết, chỉ e rằng không phải vua triệu thì ngài sẽ chết uổng mà thôi.
Thúc Trọng Bành Sinh không nghe. Công Nhiễm Vụ Nhân nắm lấy vạt áo mà khóc. Thúc Trọng Bành Sinh dứt vạt áo, rồi đi thẳng vào cung, đến nơi không thấy vua Lỗ đâu cả, mới hỏi các nội thị. Các nội thị nói:
- Chúa công đi ra chuồng ngựa, để xem ngựa mới đẻ.
Các nội thị liền đưa Thúc Trọng Bành Sinh đi ra chuồng ngựa. Bọn dũng sĩ lại đổ ra giết chết Thúc Trọng Bành Sinh, rồi đem thi thể chôn ở trong đống phân ngựa. Rồi Kính Doanh sai người bảo Khương thị rằng:
- Chúa công cùng công tử Thị đều bị ngựa đá chết rồi.
Khương thị khóa òa, rồi đi ra chuồng ngựa để xem. Khi Khương thị đến chuồng ngựa thì thi thể vua Lỗ và công tử Thị đã được đưa ra ngoài cung môn. Quý Tôn Hàng Phủ nghe tin, biết ngay là do mưu kế của Trọng Toại, không dám nói ra, lại bảo riêng Trọng Toại rằng:
- Nhà ngươi hiểm độc quá, ta nghĩ không đang tâm!
Trọng Toại nói:
- Ðấy là mưu của Kính Doanh, chứ ta có dự đâu đến.
Quý Tôn Hàng Phủ nói:
- Giả sử nước Tấn đem quân đến hỏi tội thì ta biết nói ra thế nào?
Trọng Toại nói:
- Xem việc nước Tề và nước Tống trước thì đủ biết, người ta giết ua lớn mà chẳng ai hỏi tội, huống chi ta giết chết hai đứa trẻ con ấy, có lo ngại gì!
Quý Tôn Hàng Phủ ôm lấy thi thể vua Lỗ mà khóc, đến nổi khàn cả tiếng. Trọng Toại nói:
- Quan đại thần nên phải bàn việc lớn trong nước, sao lại bắt chước thói đàn bà!
Quý Tôn Hàng Phủ mới gạt nước mắt không khóc nữa. Thúc Tôn Ðắc Thần đến, hỏi anh mình là Thúc Trọng Bành Sinh ở đâu.
Trọng Toái chối là không biết, Thúc Tôn Ðắc Thần cười mà rằng:
- Anh ta chết đi làm người trung thần, đó là cái chí của anh ta, can gì mà phải giấu.
Trọng Toại mới nói thực với Thúc Tôn Ðắc Thần và bảo với các quan rằng:
- Công việc ngày nay, cần phải lập vua trước đã. Công tử Oa là người hiền mà lại nhiều tuổi hơn cả các công tử, nên lập lên làm vua.
Các quan đều vâng dạ xin theo, rồi cùng tôn lập công tử Oa lên làm vua, tức là Lỗ Tuyên-công. Thúc Tôn Ðắc Thần bới đống phân ngựa, đem thi thể Thúc Trọng Bành Sinh ra làm lễ an táng. Khương thị nghe tin hai con bị giết, Trọng Toại lập công tử Oa lên làm vua, vật mình lăn khóc, chết đi sống lại mấy lượt. Trọng Toại lại nịnh hót Lỗ Tuyên-công, viện lẽ "mẫu dĩ tử quy" mà xin tôn Kính Doanh lên làm quốc mẫu. Khương thị buồn rầu, ngày đêm khóc lóc, sai thị nữ thu xếp đồ đạc để sắp trở về nước Tề; Trọng Toại lại giả cách sai người lưu lại mà nói rằng:
- Chúa công bây giờ dẫu không phải phu nhân sinh ra, nhưng phu nhân vẫn là đích mẫu, bao giờ chúa công cũng kính trọng, can gì phu nhân phải về Tề?
Khương thị mắng rằng:
- Thằng giặc Trọng Toại kia! Mẹ con ta có phụ bạc gì mày; mà mày lại làm những việc tàn ác như vậy? Bây giờ lại còn định nói lừa ta, quỷ thần biết, tất chẳng dung tha cái tội ấy!
Khương thị không vào yết kiến Kính Doanh nữa, tức khắc lên xe đi ngay. Khi đi qua những chỗ chợ to phố lớn, Khương thị lại khóc to lên mà kêu rằng:
- Trời đất ơi! Trời đất ơi! Hai con nhỏ của tôi có tội gì, mà thằng giặc Trọng Toại nỡ lòng giết con đích lập con thứ? Nay tôi từ biệt nước Lỗ, không bao giờ trở về nữa!
Người trong nước nghe nói, ai cũng động lòng thương xót, có kẻ chảy nước mắt. Ngày hôm ấy nước Lỗ nhiều chợ phải tan, bởi vậy người ta mới gọi Khương thị là bà Ai Khương, lại vì Khương thị trở về nước Tề, nên cũng gọi là bà Xuất Khương. Xuất Khương về đến nước Tề, cùng với Chiêu công phu nhân, mẹ con gặp nhau, đem những sự oan khổ kể lể với nhau, rồi hai mẹ con cùng khóc lóc. Tề Huệ-công thấy vậy, không muốn nghe, mới sai người làm riêng một cái cung để hai mẹ con ở.
Lại nói chuyện em cùng mẹ của Lỗ Tuyên-công là Thúc Miện, vốn người trung trực, thấy anh mình nhờ sức Trọng Toại, giết em mà lên làm vua, trong lòng khinh bỉ, mới không vào chúc mừng. Lỗ Tuyên sai người triệu Thúc Miện, muốn dùng làm quan to. Thúc Miện từ chối, không làm. Có người bạn Thúc Miện hỏi Thúc Miện vì cớ gì mà không làm quan, Thúc Miện nói:
- Không phải là tôi có ghét gì phú quý, nhưng trông thấy anh tôi thì lại nhớ đến các em, vậy nên tôi không đành lòng.
Người bạn nói:
- Công tử đã cho anh là bất nghĩa thì sau không bỏ mà sang nước khác?
Thúc Miện nói:
- Anh tôi chưa hề tuyệt tình với tôi, sao tôi nỡ tuyệt tình trước.
Gặp bấy giờ Lỗ Tuyên-công sai sứ đến thăm hỏi và đem vàng lụa đưa tặng Thúc Miện. Thúc Miện chối từ không lấy mà nói rằng:
- Tôi đây cũng không đến nổi đói rét, có đâu lại còn dám tham!
Sứ giả hai ba lần nói mãi. Thúc Miện bảo rằng:
- Khi nào tôi có thiếu dùng, tôi sẽ xin đến lấy, chứ bây giờ thì quyết không dám nhận.
Người bạn nói:
- Công tử không chịu làm quan, cũng đủ tỏ cái nghĩa khí rồi, nay trong nhà túng tiêu, chúa công có tặng gì thì xin cứ nhận, việc gì mà từ chối! Dẫu công tử nhận, cũng không ai dám bảo là tham.
Thúc Miện chỉ cười, chẳng nói một lời nào cả. Người bạn thở dài mà lui ra. Sứ giả về nói với Lỗ Tuyên-công. Lỗ Tuyên-công nói:
- Em ta vốn nghèo, không biết lấy gì mà tiêu cho đủ.
Lỗ Tuyên-công bèn sai người đương đêm đến rình xem Thúc Miện làm gì, thì thấy Thúc Miện đang thắp đèn ngồi khâu giầy, để ngày hôm sau đem bán lấy tiền ăn. Lỗ Tuyên-công than rằng:
- Em ta muốn học Bá Di, Thúc Tề thuở xưa, hái rau vi ở núi Thú Dương mà ăn hay sao! Thôi thì ta cũng tùy ý.
Thúc Miện suốt đời không chịu ăn lộc của anh, mà cũng không nhắc đến lỗi của anh bao giờ. Người nước Lỗ ai cũng khen Thúc Miện có nghĩa khí. Ðến đời Lỗ Thành-công lại dùng con Thúc Miện là công tôn Anh Tề làm quan đại phu. Từ đó, ngoài họ Thúc Tôn thị, lại thêm có Thúc thị, Thúc Lão, Thúc Cung, Thúc Chiết, Thúc Ương, và Thúc Nghệ, đều là con cháu Thúc Miện cả. Trọng Toại nhân Tết Nguyên đán, tâu với Lỗ Tuyên-công rằng:
- Nay chúa công chưa có nội chủ ở trong cung. Trước đây tôi đã cùng với vua Tề kết lập tờ hôn thư, việc ấy chúa công chớ nên để chậm.
Tuyên công nói:
- Bây giờ nên sai ai sang sứ Tề?
Trọng Toại nói:
- Việc này tự tôi bày ra, xin chúa công cho tôi đi. Lỗ Tuyên-công liền sai Trọng Toại sang nước Tề thỉnh hôn. Tháng hai năm ấy, đón con gái nước Tề là Khương thị về lập làm phu nhân. Trọng Toại lại mật tâu với Tuyên công rằng:
- Chúa công mới lên ngôi, tất phải một phen dự hội với chư hầu thì ngôi vua mới vững bền được. Chúa công nên khấn lễ vua Tề, để vua Tề cho chúa công dự hội.
Tuyên-công khen phải, liền sai Quý Tôn Hàng Phủ sang tạ ơn vua Tề về việc kết hôn, và nói với vua Tề rằng:
- Chúa công tôi nhờ ơn nhà vua mà được nối ngôi nhưng trong lòng vẫn lo sợ không được liệt vào hàng chư hầu, để đến nổi nhà vua phải hổ thẹn. Nếu nhà vua nghĩ tình mà cho tướng công tôi được đến hội với nhà vua, thì chúa công tôi sẽ xin đem ruộng đất ở Tế Tây mà dâng lên nhà vua để tạ ơn.
Tề Huệ-công bằng lòng, ước định đến tháng năm năm ấy sẽ cùng Lỗ Tuyên-công hội nhau ở đất Bình Châu (đất nước Tề). Ðến hôm ấy, Lỗ Tuyên-công đến trước, Tề Huệ-công đến sau, hai bên làm lễ tưởng kiến. Trọng Toại bưng nhưng sổ biên ruộng đất ở Tề Tây, đưa nộp Tề Huệ-công. Tề Huệ-công nhận ngay. Lỗ Tuyên-công từ biệt Tề Huệ-công rồi về. Trọng Toại nói:
- Ngày nay ta mới có thể nằm yên được!
Từ bấy giờ nước Lỗ hết lòng phụng sự nước Tề, đến sau Tề Huệ-công cụng thương tình mà trả cho nước Lỗ những ruộng đất ở Tề Tây.
Lại nói chuyện Sở Trang-vương (Lữ) lên làm vua, đã ba năm trời, mà không làm một việc gì cả, ngày nào cũng đi săn bắn, và cùng với mỹ nữ uống rượu mua vui ở trong cung. Sở Trang-vương ra lệnh tuyên yết ở chốn triều môn rằng:
- Nếu ai can thì sẽ bắt tội chết!
Quan đại phu là Thân Vô Úy vào yết kiến, thấy Sở Trang Vương tay phải ôm Trịnh Cơ, tay trái ôm Sái Nữ, xung quanh chỗ ngồi, đầy những đàn địch chuông trống. Sở Trang-vương hỏi Thân Vô Ý rằng:
- Quan Ðại phu vào đây có muốn uống rượu không? Có muốn nghe hát không? Hay là muốn nói điều gì?
Thân Vô Uý nói:
- Tôi tới đây không phải muốn uống rượu và nghe hát, nguyên vì mới rồi tôi đang di chơi, có người đem một câu đố đố tôi, tôi không đoán ra được, vậy tôi muốn tâu lên để đại vương nghe.
Trang vương nói:
- Câu đố gì mà đại vương không đoán ra được, hãy nói cho ta nghe?
Thân Vô Uý nói:
- Có một con chim lớn, lông đủ năm sắc, đậu ở trên gò cao nước Sở, đã ba năm nay, mà không thấy hay, cũng không thấy kêu, không biết là con chim gì?
Trang vương hiểu là Thân Vô Uý có ý can mình, mới cười mà bảo rằng:
- Ta đã biết rồi! Con chim ấy không phải là con chim thường, ba năm nay không bay, bay tất cao đến tận trời, ba năm không kêu, kêu tất làm cho người phải khiếp sợ. Nhà ngươi hãy đợi mà xem.
Thân Vô Uý sụp lạy rồi đi ra. Ðợi trong mấy hôm thấy Sở vương vẫn chơi bời như cũ. Quan đại phu là Tô Tòng xin vào yết kiến. Khi vào, trông thấy Trang vương, liền khóc oà lên, Trang vương nói:
- Tại sao mà khóc lóc như vậy?
Tô Tòng nói:
- Tôi khóc vì nổi thân tôi sắp chết mà nước Sở cũng sắp mất.
Trang vương nói:
- Vì cớ gì mà nhà ngươi chết, vì sao mà nước Sở mất?
Tô Tòng nói:
- Tôi muốn can đại vương, đại vương tất không nghe mà giết tôi. Tôi chết thì nước Sở không ai dám can nữa. Mà đại vương thì cứ say đắm tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính sự, còn gì mà nước Sở không mất!
Trang vương bỗng nhiên biến sắc mà bảo rằng:
- Ta đã có lệnh: ai can thì bắt tội chết, sao nhà ngươi đã biết chết mà còn dám can, chẳng cũng ngu lắm ư?
Tô Tòng nói:
- Tôi dẫu ngu cũng chưa đến nổi ngu lắm như đại vương.
Trang vương nổi giận mà nói rằng:
- Sao nhà ngươi dám bảo là ta ngu lắm?
Tô Tòng nói:
- Ðại vương làm vua một nước, có muôn cổ xe, có đất nghìn dặm, binh mã hùng cường, chư hầu tinh phục, đó là cái lợi muôn đời, nay say đắm tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính sự, đến nổi nước lớn đến mặt ngoài, nước nhỏ phản ở mặt trong, thế là chỉ ham cái vui một lúc mà bỏ cái lợi muôn đời, không phải ngu là gì! Cái ngu của tôi chẳng qua chỉ đến chết mà thôi, nhưng đại vương giết tôi, thì đời sau tất gọi tôi là trung thần, ví tôi như Long Bàng và Tỷ Can thuở trước, vậy thì tôi chẳng ngu chút nào! Còn cái ngu của đại vương thì đến nỗi muốn làm một đứa thất phu cũng không thể được! Thôi tôi nói đến đây là hết, xin cho mượn thanh gươm của đại vương đeo để tôi đâm cổ trước mặt đại vương, cho khỏi trái với cái mệnh lệnh của đại vương đã ban bố.
Trang vương vội vàng đứng dậy, ngăn Tô Tòng mà bảo rằng:
- Tôi, xin đại phu hãy thôi! Lời nói của đại phu thật là trung thực, ta xin nghe!
Nói xong, liền bỏ hết âm nhạc, xa Trịnh Cơ, lìa Sái Cơ, mà lập Phàn Cơ làm chủ trong cung. Sở Trang-vương nói rằng:
- Khi trước ta hãy săn bắn, Phàn Cơ thường can mà ta không nghe, Phàn Cơ bèn không ăn thịt các giống cầm thú nữa. Ấy là ngươi nội trợ hiền của ta đó!
Trang vương lại bổ dụng Vĩ Giả, Phan Uông và Khuất Ðăng để chia quyền của quan lệnh doãn là Ðấu Việt Tiêu, và chỉnh đốn chính sự trong nước, rồi sai công tử Qui Sinh (người nước Trịnh sang làm quan ở nước Sở) đem quân đi đánh Tống. Qui Sinh cùng với quân nước Tống là Hoa Nguyên.Lại sai Vĩ Giả đem quân sang cứu Trịnh, cùng với quân nước Tấn đánh nhau ở Bắc Lâm, bắt được tướng nước Tấn là Giải Dương. Sang năm sau Trang vương mới tha cho Hoa Nguyên và Giải vương về nước. Từ bấy giờ thế lực nước Sở mỗi ngày một cường thịnh, Trang vương có ý muốn làm bá chủ Trung nguyên.
Thượng khanh nước Tấn là Triệu Thuẫn thấy nước Sở cường thịnh, muốn kết với Tấn để chống Sở. Triệu Xuyên hiến kế rằng:
- Nước Tấn có một thuộc quốc gọi là nước Sùng, qui phụ nước Tần đã lâu, nay ta đem quân đi đánh Sùng thì Tần tất phải cứu, bấy giờ ta phải giảng hoà với Tần.
Triệu Thuẫn theo lời, liền tâu với Tấn Linh-công, sai Triệu Xuyên đem quân đi đánh Sùng, Triệu Sóc nói với Triệu Thuẫn rằng:
- Nước Tần từ xưa vẫn thâm thù với ta, nay ta lại đánh thuộc quốc của Tần, chắc Tần giận lắm, khi nào chịu giảng hòa.
Triệu Thuẫn nói:
- Chủ ý ta đã định rồi!
Triệu Sóc lại nói với Hàn Quyết, Hàn Quyết tủm tỉm cười, rồi ghé tai Triệu Sóc mà bảo rằng:
- Triệu tướng quốc làm việc nay là muốn giúp Triệu Xuyên giữ lấy quyền thế họ Triệu, không phải là muốn giảng hoà với Tần đâu.
Triệu Sóc nín lặng lui ra. Nước Tần nghe tin nước Tấn đánh Sùng, mà lại đem quân đi đánh Tấn, vây đất Tiêu Ấp. Triệu Xuyên rút quân về cứu đất Tiêu Ấp, quân Tần mới chịu lui. Từ đó, Triệu Xuyên mới được tham dự binh quyền. Du Biền ốm chết, Triệu Xuyên lại thay chức của Du Biền.
Tấn Linh-công năm đã lớn tuổi, sinh ra hoang dâm bạo ngược, ham chơi bời, tin yêu một quan đại phu tên gọi Ðồ Ngạn Giả lập một cái vườn hoa ở trong kinh thành, đi tìm những thứ hoa đào, cứ về mùa xuân thì hoa đào nở ra trông như gấm vóc, mới đặt tên là Ðào Tiên. Trong vườn xây một cái đài cao ba từng, khỏang giữa lại lập một cái lầu gọi là Giáng Tiên lầu, cột vẽ hoàng sơn, gạch hoa ngói đỏ, bốn bề bao lơn con tiện, đứng trên ấy mà trông xuống thì phố xá thành quách đều như ở trước mặt cả. Linh-công thích ý lắm, thường thường lên lầu thưởng lãm hoăc cùng với Ðồ Ngạn Giả thi nhau bắn chim và uống rượu. Một hôm Linh-công cho gọi phường hát diễn tuồng ở trên đài, nhân dân đều đứng ở ngoài vườn để xem. Linh-công nói với Ðồ Ngạn Giả rằng:
- Bắn chim sao bằng bắn người, ta cùng với nhà ngươi hãy thử chơi, ai bắn trúng mắt thì được giải nhất, bắn trúng vai và cánh thì không kể, nếu bắn không trúng thì phạt một đấu rượu thực to.
Tấn Ling công bắn về phía hữu, Ðổ Ngạn Giả bắn về phía tả. Nhân dân ở ngoài vườn, người thì bị trúng vào mang tai, người thì bị trúng vào cạnh sườn, đều nhốn nháo bỏ chạy cả, kêu rầm lên rằng:
- Hãy còn bắn nữa đấy!
Linh-công giận lắm, truyền cho quân sĩ cùng bắn ra như mưa. Nhân dân, người thì vỡ đầu, kẻ thì sầy trán, người thì lòi mắt, kẻ thì gẫy răng, tiếng khóc như ri. Linh-công ở trên đài trông thấy, ném cái cung xuống đất cười ha hả, bảo Ðồ Ngạn Giả rằng:
- Ta chơi ở cái đài này, chưa có hôm nào vui như hôm nay!
Từ bấy giờ dân nước Tấn không ai dám đi qua đấy nữa! Lại có một người nhà Chu đem dâng một con chó dữ, tên gọi Linh ngao, mình cao ba thườc, sắc như than đỏ, mà lại tinh khôn lắm, biết theo ý người. Người có lỗi, Linh-công vẫn gọi Linh ngao sai cắn. Con Linh ngao chồm lên, cắn vào tận mặt, kỳ chết mới thôi. Linh-công dùng một người chuyên việc nuôi con Linh ngao mỗi ngày cho ăn mấy cân thịt dê. Con Linh ngao cũng khéo theo ý người nuôi, bảo sao được vậy. Người nuôi con Linh ngao ấy gọi là ngao nô, được ăn lộc quan trung đại phu. Linh-công bỏ lễ ngoại triều ở ngoài điện mà bắt các quan phải vào triều ở nội tẩm. Mỗi lần coi triều hoặc đi chơi đâu thì ngao nô vẫn dắt con Linh ngao hầu ở bên cạnh, ai trông thấy cũng phải khiếp sợ. Bọn Triệu Thuẫn thường khuyên Linh-công nên dùng người hiền, xa kẻ nịnh, và chăm nom chính sự trong nước. Linh-công cứ như người điếc, chẳng thèm để vào tai, lại có ý nghi kỵ. Một hôm tan triều, các quan đại phu đều lui về cả, chỉ có Triệu Thuẫn và Sĩ Hội còn đứng ở cửa cung. Hai người đang nói chuyện với nhau, than thở về việc nước, bỗng thấy có hai người nội thị khiêng một cái giỏ tre ở trong cung ra. Triệu Thuẫn nói:
- Sao lại có cái giỏ tre ở trong cung ra như vậy? Tất là có cớ sao đây!
Nói xong, liền gọi hai người nội thị mà bảo rằng:
- Đem lại đây xem, đem lại đây xem!
Hai người nội thị chỉ cấm đầu đi thẳng, không nói gì cả. Triệu Thuẫn hỏi rằng:
- Trong giỏ tre đựng cái gì thế?
Nội thị nói:
- Ngài là quan tướng quốc, nếu ngài muốn xem thì xin ngài đến mà xem, chứ chúng tôi không dám nói.
Triệu Thuẫn lòng càng nghi, rủ Sĩ Hội cùng đến để xem, thì thấy một cánh tay người thò ra phía ngoài giỏ. Triệu Thuẫn và Sĩ Hội liền nắm giỏ tre lại, thì thấy ở trong có một cái xác chết. Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ, hỏi đầu đuôi làm sao. Nội thị không dám nói. Triệu Thuẫn nói:
- Nếu nhà ngươi không chịu nói thì ta chém đầu nhà ngươi trước.
Nội thị mới chịu nói:
- Người này nguyên là một tên nhà bếp, chúa công sai nấu món thịt gấu, nấu mãi không xong, chúa công nóng uống rượu, giục hai ba lần, người ấy lật đật dâng lên, khi chúa công ném thì lại chưa chín, bởi vậy chúa công đánh chết, chém làm mấy khúc, rồi sai chúng tôi đem khiêng bỏ ra ngoài đồng. Chúa công đã hẹn thời khắc cho mà đi, nếu chậm thì chúng tôi có tội.
Triệu Thuẫn tha cho nội thị cứ việc khiêng đi. Nội thị đi khỏi rồi, Triệu Thuẫn bảo Sĩ Hội rằng:
- Chúa công bạo ngược quá, coi mạng người như cỏ rác. Nước nhà chẳng bao lâu sẽ đến ngày nguy vong. Âu là hai ta cùng vào khuyên can.
Sĩ Hội nói:
- Hai ta khuyên can mà chúa công không nghe thì sau không ai dám nói nữa, chi bằng để tôi vào trước, nếu tôi khuyên can mà chúa công không nghe, bấy giờ tướng quốc sẽ vào.
Linh-công đang ngồi ở trên thềm, trông thấy Sĩ Hội vào, biết là có ý muốn khuyên can, liền bảo Sĩ Hội rằng:
- Đại phu chớ nói, ta đã biết lỗi rồi, để ta xin lỗi.
Sĩ Hội sụp lạy mà tâu rằng:
- Người ta ai là không có lỗi, chúa công đã biết lỗi thì tất sửa đổi, thế là một điều đại phúc cho nước nhà, chúng tôi lấy làm mừng lắm.
Nói xong lui ra, thuật chuyện lại với Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn nói:
- Chúa công nếu có lòng đổi lỗi thì chỉ trong ngày hôm nay tất có chinh lệnh khác.
Ngày hôm sau, Linh-công truyền thẳng xe đi ra chơi Đào Viên, chờ xa giá đến thì ra yết kiến. Tấn Linh-công ngạc nhiên hỏi:
- Ta không cho Triệu sao khanh lại đến đây?
Triệu Thuẫn sụp lạy xin lỗi, và tâu rằng:
- Tôi nghe nói dẫu ông vua vô đạo đến đâu, cũng chưa có lấy ai giết người làm vui bao giờ! Nay tướng công nuôi chó để cắn người, bắn cung để hại người, lại vì một điều lỗi nhỏ mà xả thây đứa nhà bếp, mạng người rất là quan trọng, mà chúa công coi rẻ như vậy thì sao giữ yên được nước nhà? Nếu tôi không nói thì không ai dám nói nữa, xin chúa công quay xe về triều, sửa đổi lỗi trước, khiến cho nước nhà khỏi sự biến loạn, thì tôi dẫu chết cũng thỏa lòng!
Tấn Linh-công có ý hổ thẹn, lấy vạt áo che mặt mà bảo rằng:
- Khanh hãy lui về, để cho ta chơi một hôm nay nữa, từ mai trở đi ta xin nghe lời.
Triệu Thuẫn đứng chắn cửa vườn, không cho Linh-công vào. Đồ Ngạn Giả ở bên cạnh, liền nói:
- Tướng quốc khuyên can chúa công, thế là phải lắm, nhưng xa giá đã đến đây, chẳng lẽ về không, khiến cho người ta chê cười, âu là tướng quốc hãy lui về, đến buổi triều sáng mai rồi sẽ thương nghị.
Triệu Thuẫn bất đắc dĩ đứng tránh ra một bên để cho Linh-công đi, rồi trừng mắt nhìn Ðồ Ngạn Giả mà mắng rằng:
- Làm cho nước nhà đến nỗi nguy vong là bởi lũ mày!
Nói xong, vẫn còn hầm hầm tức giận. Ðồ Ngạn Giả theo Linh-công vào chơi trong vườn. Linh-công đang vui cười. Ðồ Ngạn Giả bỗng thở dài mà nói rằng:
- Tiếc thay cuộc vui chỉ còn lần này mà thôi!
Linh-công nói:
- Sao đại phu lại nói như vậy?
Ðồ Ngạn Giả nói:
- Tôi chắc rằng sáng mai thì Tiệu tướng quốc lại nói lôi thôi, không để cho tướng công được đến đây nữa.
Linh-công nổi giận mà nói rằng:
- Từ xưa đến nay, chỉ có bề tôi bị vua kiềm chế, chưa nghe nói vua bị kiềm chế bao giờ? Lão ấy còn sống thì lại không tiện cho ta lắm, ta biết dùng kế gì mà trừ đi cho được?
Đồ Ngạn Giả nói:
- Tôi có một người tên gọi Thư Nghê, nhà nghèo, vẫn được tôi chu cấp cho, bởi vậy cảm cái ơn tôi mà vẫn xin cố sức chết để đền báo. Nếu sai người ấy giết chết Triệu tướng quốc thì chúa công tha hồ mà vui chơi, không lo gì nữa!
Linh-công nói:
- Nếu làm được việc ấy thì công nhà ngươi to lắm!
Đêm hôm ấy, Đồ Ngạn Giả mật triệu Thư Nghê đến cho ăn cơm uống rượu, rồi bảo rằng:
- Triệu Thuẫn chuyên quyền, nay ta phụng nệnh chúa công sai nhà ngươi đến giết đi, nhà ngươi nên phục ở cửa Triệu Thuẫn, đợi đến đầu canh năm, khi hắn vào triều, thì xông lại mà đâm chết, chớ có làm hỏng việc!
Thư Nghê vâng mệnh, liền dắt một con dao nhọn đến dinh Triệu Thuẫn, trông thấy cửa mở toang, xe ngựa đã sắp sẳn ở ngoài cửa. Trên thềm bóng đèn lờ mờ. Thư Nghê mới lẻn vào núp ở một chỗ tối. Bấy giờ Triệu Thuẫn mũ áo đại triều, tay cầm cái hốt, nghiêm trang ngồi ở gian giữa, (nguyên là Triệu Thuẫn muốn vào triều, nhưng còn sớm quá vậy ngồi đấy để đợi cho sáng). Thư Nghê thấy vậy, giật mình kinh sợ, lui ra ngoài cửa, thở dài mà than rằng:
- Người ta một lòng cung kính thế kia, tức là trung thần, nếu ta giết người trung thần thì là bất trung, không giết thì trái mệnh vua, lại là bất tín. Bất trung bất tín thì sống làm gì nữa!
Thư Nghê bèn đứng giữa cửa nói to rằng:
- Ta là Thư Nghê đây, thà trái mệnh vua, không nỡ giết người trung thần! Nay ta tự tử mà chết, nhưng sau này tất chúa công sai người khác đến, tướng quốc phải phòng bị mới được.
Nói xong, liền đập đầu vào cây hoè trước cửa, vỡ óc ra mà chết. Người nhà Triệu Thuẫn náo động cả lên, vội vàng vào báo với Triệu Thuẫn. Viên xa hữu của Triệu Thuẫn là Đề Di Minh nói với Triệu Thuẫn rằng:
- Tướng quốc không nên vào triều vội, nếu vào triều thì tôi e có biến.
Triệu Thuẫn nói:
- Chúa công đã hẹn với ta hôm nay vào triều sớm, nếu ta không vào thì là không biết giữ lễ, còn việc chết sống dã có số mệnh, ta có lo gì!
Triệu Thuẫn truyền cho người nhà đem Thư Nghê chôn ở dưới gốc cây hoè rồi lên xe vào triều. Linh-công thấy Triệu Thuẫn không chết, liền hỏi Đồ Ngạn Giả về việc Thư Nghê. Đồ Ngạn Giả nói:
- Thư Nghê đi không thấy về, có người nói là đập đầu vào cây hoè mà chết, chưa rõ vì cớ gì.
Linh-công nói:
- Kế ấy mà không thành thì biết làm thế nào?
Đồ Ngạn Giả nói:
- Tôi còn có một kế, chắc hẳn thế nào cũng giết được Triệu Thuẫn.
Linh-công nói:
- Kế gì?
Đồ Ngạn Giả nói:
- Ngày mai chúa công mời Triệu Thuẫn vào uống rượu ở trong cung, rồi phục sẵn giáp sĩ ở phía sau tường, đợi khi đang uống rượu dở dang, chúa công giả cách mượn thanh gươm của Triệu Thuẫn đeo để xem, tất nhiên Triệu Thuẫn phải cởi gươm mà đưa cho tướng công. Bấy giờ tôi đứng bên, sẽ quát to lên là Triệu Thuẫn rút gươm, toan sự hại vua, gọi quân sĩ đến cứu giá, quân sĩ sẽ đổ ra bắt mà giết đi. Như vậy thì người ngoài ai cũng bảo là Triệu Thuẫn làm phản bị giết, chúa công tránh được cái tiếng giết quan đại thần, chúa công nghĩ sao?
Linh-công khen phải, rồi theo kế mà làm. Ngày hôm sau, Linh-công ra triều, bảo Triệu Thuẫn rằng:
- Tướng quốc đã hết lòng khuyên bảo ta, nay ta có sửa tiệc rượu ở trong cung, để tạ ơn tướng quốc.
Nói xong, liền bảo Đồ Ngạn Giả đưa Triệu Thuẫn vào cung. Viên xa hữu của Triệu Thuẫn là Đế Di Minh theo vào. Khi bước lên thềm, Đồ Ngạn Giả bảo Đế Di Minh rằng:
- Chúa công cùng với tướng quốc uống rượu, người khác không ai được lên thềm cả.
Đế Di Minh liền đứng ở dưới thềm. Triệu Thuẫn sụp lạy hai lạy, rồi ngồi ở bên hữu Tấn Linh-công. Đồ Ngạn Giả đứng hầu bên tả. Khi uống rượu mới được ba tuần, Linh-công bảo Triệu Thuẫn rằng:
- Ta nghe nói thanh gươm của tướng quốc tốt lắm. Tướng quốc cho ta xem.
Triệu Thuẫn không biết là kế, toan cởi gươm ra để đưa. Đế Di Minh ở dưới thềm trông thấy, nói to lên rằng:
- Bề tôi hầu rượu vua, theo lễ không được uống quá ba chén, cớ sao lại rút gươm ở trước mặt vua như thế?
Triệu Thuẫn biết ý, liền đứng ngay dậy. Đế Di Minh hầm hầm tức giận, bước lên thềm vực Triệu Thuẫn xuống. Đồ Ngạn Giả gọi Ngao Nô thả con Linh ngao đuổi theo, đến gần cửa cung, Đế Di Minh cầm ngay cái dùi đánh con Linh ngao gãy cổ mà chết. Linh-công giận lắm, truyền cho quân sĩ đổ ra bắt Triệu Thuẫn. Đế Di Minh đứng chắn ngang lại, để cho Triệu Thuẫn chạy trước. Giáp sĩ tới nơi, Di Minh cự chiến một hồi, mình mẩy đầy vết thương rồi kiệt sức mà chết.
Triệu Thuẫn đang chạy, thấy có người đuổi kịp đến nơi, Triệu Thuẫn sợ lắm. Người ấy nói:
- Tướng quốc chớ sợ, tôi đến cứu ngài đây!
Triệu Thuẫn nói:
- Nhà ngươi là ai?
Người ấy nói:
- Tướng quốc không nhớ người nằm ở bụi dâu khi xưa hay sao! Linh Triếp tức là tên tôi đó.
Nguyên năm năm về trước, Triệu Thuẫn có đi săn ở Cửu Nguyên Sơn, ngồi nghĩ trong bụi dâu, trong thấy một người đàn ông nằm lăn dưới đất. Triệu Thuẫn nghi là thích khách mới sai người bắt. Người ấy đói không trở dậy được, hỏi đến họ tên thì người ấy nói:
- Tên tôi là Linh Triếp. Tôi sang học ở nước Vệ, đã ba năm nay, bây giờ trở về, tiền lưng hết cả, không lấy gì mà ăn, nhịn đói đã ba ngày rồi!
Triệu Thuẫn nghe nói thương lắm, sai người mang cho cơm và thịt, Linh Triếp chia cơm thịt làm hai phần, một nửa bỏ vào giỏ con của mình, còn một nửa để ăn.
Triệu Thuẫn hỏi:
- Nhà ngươi cất đi một nửa để làm gì?
Linh Triếp nói:
- Tôi còn mẹ già, hiện ở cửa. Tôi đi vắng đã lâu ngày, chưa biết mẹ tôi còn hay mất, nay chỉ cách đấy có mấy dặm, may mà mẹ tôi hãy còn thì tôi xin đem lộc của quan tướng quốc ban cho về dâng mẹ tôi.
Triệu Thuẫn khen là hiếu tử, bảo cứ ăn hết đi, rồi lấy cơm và thịt khác để xếp vào giỏ cho. Linh Triếp lạy tạ rồi đi. Sau Linh Triếp ứng mộ ra lính, lại ở trong số quân giáp sĩ đuổi bắt Triệu Thuẫn, Linh Triếp nghĩ đến cái ơn Triệu Thuẫn. Bấy giờ người tùy tùng bỏ chạy tán loạn cả. Linh Triếp ghé lưng cõng Triệu Thuẫn chạy ra triều môn. Bọn giáp sĩ giết xong Đế Di Minh lại kéo nhau đuổi theo Triệu Thuẫn. Vừa lúc ấy, thì có Triệu Sóc đem quân đến đón Triệu Thuẫn, tức khắc vực Triệu Thuẫn lên xe. Triệu Thuẫn vội vàng gọi Linh Triếp bảo cùng lên xe thì Linh Triếp đã trốn rồi. Bọn giáp sĩ thấy quân Triệu Sóc đông lắm, không đuổi theo nữa. Triệu Thuẫn bảo Triệu Sóc rằng:
- Nay ta không thể về nhà được! Một là ta sang nước Địch, hai là sang nước Tần, phải tìm chỗ để nương thân mới xong.
Bấy giờ hai cha con cùng ra cửa Tây, đi về phía Tây.
-----------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét