🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Lời tựa bản tiếng Việt tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc
Tiểu thuyết trường thiên
của Trung Hoa xuất hiện ở đầu đời nhà Minh, với bộ Tam Quốc diễn nghĩa,
rồi đến bộ Thuỷ Hử truyên, rồi đến bộ Tây Du Ký. Ðến
năm Gia Tĩnh thì xuất hiện bộ Liệt quốc chí truyện của Dư Thiệu
Ngư gồm 8 quyển, 226 tiết, bắt đầu từ khi vua Trụ (nhà Thương) lấy Ðát Kỷ, đến
khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa.
Sau đó vào cuối đời
Minh, Phùng Mộng Long cải bộ Liệt quốc chí truyện, đổi tên là Tân
liệt quốc chí, dài 108 hồi, bắt đầu từ đời Tuyên vương nhà Chu, cho đến đời
Tần Thủy Hoàng.
Vào khoảng đời Kiến Long
nhà Thanh xuất hiện bộ Ðông Chu liệt quốc chí. Bản này dựa vào bản
Tân liệt quốc chí mà sửa đổi lại chút ít và thêm vào rất nhiều những lời phê
bình, chú thích của Sái Nguyên Phong.
Năm 1995, Nhà xuất
bản Tác gia ở Bắc Kinh (Trung Hoa) phát hành bộ Ðông Chu liệt
quốc chí dựa vào bản của Phùng Mộng Long. Những chỗ nào Sái Nguyên
Phong sửa chữa Tân liệt quốc chí một cách sai lầm thì nhà xuất bản Tác gia khôi
phục lại bản cũ, còn những chỗ nào mà cả Phùng Mộng Long và Sái Nguyên Phong đều
sai lầm thì nhà xuất bản Tác gia đính chính lại một cách thận
trọng.
Ðông chu liệt quốc
chí bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III
trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang
phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời
kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và
Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến
phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu
còn ở trong chế độ nô lệ). Phùng Mộng Long căn cứ chủ yếu vào các sách "Tả
truyện" và "Quốc ngữ" của Tả Khâu Minh và sách Sử ký của
Tư Mã Thiên và có tham khảo các sách "Công dương truyện", "Chiến
quốc sách" và hơn mười bộ sử khác nữa, để biên soạn Ðông Chu Liệt
Quốc chí.
Tư tưởng toát ra trong
suốt bộ tiểu thuyết này là tư tưởng "dân bản" của nhà nho: dân là gốc
của nước, là sức mạnh của nước; không phải vũ lực quyết định sự thành công hay
sự thất bại mà chính là lòng dân. Trong truyện, những bậc anh hùng cứu nước
(Huyền Cao, Tín Lăng quân, Lạn Tương Như, v.v...) những nhà trí thức chính trực
(Ðổng Hồ, Lỗ Trọng Liên, v.v...); những người chấp chính có nhiệt tình với dân
với nước (Quản Trọng, Tử Văn, Tôn Thúc Ngao, v.v...) đều được tác giả nhiệt liệt
ca ngợi và đề cao. Mặt khác, tác giả miêu tả không dè dặt, không nể nang, cái bản
chất xấu xa, bỉ ổi của giai cấp thống trị. Những mâu thuẫn sâu sắc giữa các tập
đoàn thống trị, sự tranh giành quyền lợi giữa các cá nhân, gây nên vô số những
cuộc chính biến và những cuộc tàn sát trong hơn bốn thế kỷ. Cũng không sao nói
hết được sự dâm loạn vô sỉ ở chốn cung đình: quan hệ nam nữ bậy bạ giữa anh em
ruột, giữa bố chồng và nàng dâu, con chồng và thứ mẫu v.v... (Tề Khương-công và
nàng Văn Khương, Vệ Tuyên-công và nàng Tuyên Khương, Tấn Hiền-công và nàng Tề
Khương, v.v...) đều được tác giả kể lại và có thái độ phê phán. Sự ngu xuẩn của
bọn thống trị thì được biểu hiện trong những nhân vật điển hình là Tống Tương-công
(dựng cờ nhân nghĩa, không chịu đánh giặc trong lúc giặc đang qua sông), Vệ-công
(cho hạc làm quan), Yên Khoái (bắt chước Nghiêu, Thuấn nhường ngôi) v.v... Tuẫn
táng là một tập tục vô nhân đạo do sự ngu xuẩn của bọn đế vương sinh ra: Tề Hiếu-công
chôn sống hơn hai trăm nội thị và cung nhân, để cho cha mình (chết rồi) có người
hầu hạ ở dưới đất; 177 người dân, trong đó có những người ưu tú (Tam Lương)
cũng chịu một số phận như vậy ở đất Ung, táng địa của Tần Mục-công; Ngô vương Hạp
Lư đánh bẫy hơn một vạn nam nữ để tuẫn táng cho con gái chết yểu của mình là Thắng
Ngọc. Bên cạnh những tư tưởng tiến bộ, thì do sự hạn chế của thời đại, Phùng Mộng
Long cũng không tránh khỏi những quan điểm tiêu cực, lạc hậu.
Ở "Ðông chu liệt quốc",
tư tưởng chính thống và định mệnh rất phổ biến. Vua nhà Chu làm thiên tử là do
mệnh trời, cho nên những nước chư hầu nào xưng vương đều bị coi là "tiếm".
Ðó là tư tưởng chính thống, xây dựng trên quan điểm định mệnh.
"Ðông Chu liệt quốc"
cũng đề cao "trung hiếu tiết nghĩa" phong kiến. Chữ "trung"
ở đây là sự trung thành tuyệt đối của kẻ làm tôi, làm dân đối với cá nhân thiên
tử là người được coi như chịu mệnh trời để cai trị thiên hạ. Trong "Ðông
Chu liệt quốc" không thiếu gì chuyện vua bắt kẻ làm tôi phải chết, kẻ bề
tôi phải vui lòng chết theo để được tiếng là "trung". Chữ "hiếu"
cũng cùng bản chất với chữ trung vì thiên tử được coi như là cha mẹ dân. Công tử
Thọ và Cấp Tử nước Vệ vui lòng chết để khỏi trái đạo "hiếu" đối với một
người cha tàn ác, bất công. Chữ "trinh" chữ "tiết" cũng được
quan niệm một cách hẹp hòi, biểu hiện một quan hệ phụ quyền rất chặt chẽ. Người
con gái nước Sở giặt vải ở bờ sông Lại Thủy đã nhảy xuống sông chết chỉ vì đã
"trót" nói chuyện và cầm nắm cơm đưa tận tay cho Ngũ Tử Tư là một người
trai nước Sở đương lánh nạn. Chữ "nghĩa" thì thường thường được xây dựng
trên cơ sở ân oán cá nhân. "Sĩ vị tri kỷ giả tử" kẻ sĩ phải lấy cái
chết để đền ơn người biết mình, nếu không thì không đáng gọi là kẻ trượng phu.
Dự Nhượng huỷ hoại cả thân thể mình để đi báo thù cho Trí Bá; Yêu Ly không những
để cho người ta chặt tay mình đi, lại còn bằng lòng để cho người ta giắt cả vợ
con mình để đền đáp ơn người tri kỷ. Những truyện như thế rất nhiều trong Ðông
Chu liệt quốc. Do đó, nếu chữ "nghĩa" có thể đem lại đoàn kết để phục
vụ chính nghĩa, thì nó lại hay bị giai cấp thống trị quí tộc lợi dụng mà mưu đồ
lợi riêng.
Nhiều nhà phê bình trước
đây đã chỉ trích sự mê tín, ma quỷ bói toán, nhân quả, báo ứng, trong sách
"Tả truyện". "Ðông Chu liệt quốc" không những thừa kế sự mê
tín ấy mà còn tăng cường nó lên. Ngay trong hồi thứ nhất đã có đến bốn năm chuyện
huyền hoặc: đứa trẻ mặc áo đỏ dạy bài hát chẳng lành, những cung phi có thai bốn
mươi năm, người con gái hiện hình ở trai cung, oan hồn của Ðậu Bá và Tả Nho đòi
mạng v.v... Về sau lại còn vô số những chuyện điềm tốt, điềm xấu, quỷ thần, đồng
cốt, yêu quái v.v... Những chuyện hoang đường như thế thường thấy chép trong
nhiều truyện cổ nói chung.
Tất nhiên ngày nay ta
không tin những chuyện ấy là có thực mà hiểu rằng hoặc là do sự hạn chế của thời
đại, tác giả "Ðông Chu liệt quốc" không thể có cái nhìn khoa học như
chúng ta ngày nay đối với mọi vấn đề xã hội; hoặc là ở dưới chế độ cũ mà vua
chúa có uy quyền tuyệt đối, người cầm bút không thể nói ra sự thật nên phải mượn
câu chuyện U-vương nhà Chu mất nước ở mấy hồi đầu tiểu thuyết "Ðông Chu liệt
quốc", theo chúng tôi, đã được tô đậm màu sắc hoang đường, cũng không
ngoài Chu liệt ý quốc", theo yếu ấy.
Về nghệ thuật tính của
"Ðông Chu liệt quốc" thì trước hết phải nói đến vấn đề kết cấu. Từ
khi Bình vương nhà Chu dời kinh đô sang Ðông đến Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đất
nước là một thời kỳ hắc ám, hỗn loạn, vô cùng phức tạp, có vô số những cuộc
chính biến, tàn sát; vô số những cuộc chiến tranh hoặc nhỏ, hoặc lớn, hoặc giữa
vài ba nước, hoặc giữa hàng chục nước; vô số những chuyện thi thố tài năng; vô
số những nhân vật xấu, tốt; vô số những đời sống tư nhân có liên quan với những
sự kiện chính trị lớn nhỏ. Tất cả những cái đó, phải được tổ chức lại, tổng hợp
lại như thế nào; trọng tâm, trọng điểm phải đặt ở những chỗ nào, những lúc nào;
các hồi, các đoạn phải được phân phối như thế nào, để cho cái mớ sự kiện và
nhân vật ấy trở thành một chuyện hoàn chỉnh? "Xuân thu", "Tả
truyện", "Công dương", "Cốc lương" thì tự thuật các sự
kiện ấy theo thứ tự năm tháng (biên niên) "Quốc ngữ", "Chiến quốc
sách" thì ghi chép theo từng nước. Tư Mã Thiên thì đã biên tả theo từng mục,
loại. Phùng Mộng Long đã giải quyết vấn đề kết cấu của "Ðông Chu liệt quốc"
một cách sáng sủa và tự nhiên, đứng trên quan điểm chính thống mà tự thuật những
sự biến chính trị và quân sự trên con đường thay đổi "thiên mệnh" từ
nhà Chu đến nhà Tần, bắt đầu từ khi nước Trịnh lấn át thiên tử và trải qua sự
nghiệp bá chủ của nước Tề, nước Tấn, nước Sở, nước Ngô, nước Việt, rồi đến
chính sách "hợp tung" và "liên hoành" của Tô Tần, Trương
Nghi và kết thúc bằng sự thống nhất của nước Tần. Với những điều kiện phiền phức
như đã nói trên đây, người ta không có thể đòi hỏi thêm nữa, mà người ta chỉ có
thể khen ngợi tác giả đã khái quát được những sự kiện vô cùng rối ren ấy đã hiến
độc giả một bức hoạ bao la về một thời kỳ lịch sử cổ đại rộng lớn của Trung
Hoa.
Một số nhân vật trong
"Ðông Chu liệt quốc" được ngòi bút tác giả miêu tả rất sinh động, rất
"nổi". Ðọc "Ðông Chu liệt quốc", không mấy ai quên được những
nhân vật như Tín Lăng quân, Ngũ Tử Tư, Phạm Lãi, Lạn Tương Như, Kinh Kha,
Chuyên Chư, Nhiếp Chính v.v... Chính là trên cơ sở những mâu thuẫn gay gắt của
những sự kiện chính trị lớn, tác giả đã khéo thông qua ngôn ngữ và hành động mà
xây dựng nên hình tượng nghệ thuật những nhân vật điển hình đó.
Người Ðông Chu thì thế,
đến việc Ðông Chu thì tác giả lại khéo có ngòi bút tự sự thật gọn gàng, sáng sủa
và đồng thời lại còn rất khẩn trương, cảm động nữa. Có những sự kiện rất phức tạp,
quanh co, mà tác giả chỉ cần nửa hồi để thuật lại một cách rất mạch lạc, trôi
chảy, như đoạn viết về bốn họ tranh quyền nhau ở nước Tấn. Lại có những sự việc
kéo dài trong đó quan hệ giữa các nhân vật biến hoá không ngừng, cục diện phát
triển như đợt sóng, lên lên xuống xuống, tầng tầng lớp lớp, như chuyện Sái Túc
nước Tống lập vua, chuyện Trùng Nhĩ nước Tấn lánh nạn, chuyện Ngũ Tử Tư nước Sở
báo thù v.v... Những đoạn ấy kéo dài nhiều hồi và ngòi bút tự thuật của tác giả
đã khéo dẫn dắt người đọc một cách tài tình hết hồi nọ sang hồi kia, những người
đi đường xa mỗi bước lại thấy hoa thơm cỏ lạ, mỗi lúc một thấy phong cảnh đổi mới
đột ngột, bất kỳ.
Lời văn "Ðông Chu
liệt quốc" tuy không uyên thâm, điển nhã như văn Tả truyện,
văn Sử ký, nhưng có ưu điểm là cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu. Nhiều đoạn
rất hàm súc, nhiều đoạn lại rất tình tứ, nên thơ. Như đoạn viết về hai anh em
công tử Thọ nước Vệ:
"... Công tử Thọ liền
bước sang thuyền Cấp Tử, rót một chén rượu để mời, nhưng chưa kịp nói gì thì nước
mắt đã ứa ra, rỏ xuống chén rượu. Cấp Tử vội vàng đỡ lấy mà uống. Công tử Thọ
nói: "Chén rượu này đã bẩn mất rồi!". Cấp Tử nói: "Ấy, chính anh
uống cái tình của em ở trong ấy!" Công tử Thọ gạt nước mắt nói: "Chén
rượu hôm nay là chén rượu vĩnh biệt của anh em ta. Nếu anh nghĩ đến tình em thì
xin gắng uống cho thật nhiều...".
Và đoạn tả Lộng Ngọc thổi
sáo đêm trăng:
"... Lộng Ngọc ở
trên lầu cuốn rèm lên ngắm cảnh, thấy trời tạnh mây trong, trăng sáng như
gương, gọi thị nữ đốt một nén hương, rồi đi lấy cái ống sinh làm bằng ngọc
bích, đến bên cửa sổ mà thổi. Tiếng sinh véo von vọng lên vòm trời, gió hây hây
thổi, bỗng nghe như có người họa lại, khi gần khi xa. Lộng Ngọc không khỏi băn
khoăn, bèn ngừng lại, không thổi nữa, có để nghe xem sao. Tiếng họa cũng im đi,
nhưng dư âm còn lẽo đẽo không dứt. Lộng Ngọc bâng khuâng trước gió, như một người
vừa đánh mất vật gì. Chốc đã nửa đêm, trăng xế hương tàn, nàng đem ống sinh để
trên đầu giường, gắng gượng đi nằm.
Ở cuối đời Minh, sau bộ
"Ðông Chu liệt quốc chí" còn xuất hiện hơn hai mươi bộ tiểu thuyết lịch
sử, như "Nam Bắc sử diễn nghĩa", "Tổng truyện", "Tây
Hán diễn nghĩa", "Lưỡng Tấn diễn nghĩa" v.v... Về giá trị văn học
và phạm vi ảnh hưởng thì "Ðông Chu liệt quốc chí" đứng đầu các bộ tiểu
thuyết ấy, theo sự nhận định của các nhà phê bình xưa và nay.
Trân trọng giới thiệu bộ
tiểu thuyết "Ðông Chu liệt quốc" với các bạn đọc.
GS. Cao Xuân Huy
Nguồn: Lời tựa cho
bản tiếng Việt Đông Chu Liệt Quốc của Phùng Mộng
Long. Nguyễn Đỗ Mục dịch. NXB Văn học in nhiều lần.
-------------------------------------------------
Nghe lời hát, Tuyên-vương khinh sát
Giãi tình oan, Ðỗ Bá hiển linh
Từ lúc vua Trụ mất nước,
Võ-vương lập lên nhà Chu, dân chúng sống trong cảnh thái bình thịnh trị.
Các triều vua kế tiếp
như Thành-vương, Khương-vương đều nhờ lấy đức trị dân, lại được các bậc trung
thần như Châu công, Thiệu công, Tất công, Sử Đạt… hết lòng phò tá lên cơ nghiệp
vững bền.
Qua đến đời vua thứ tám
là Di-vương, cơ nghiệp nhà Châu bắt đầu suy yếu.
Ðến đời vua thứ chín là
Lệ-vương lại càng nhu nhược hơn. Trong nước nổi loạn, nịnh thần thí vua, toan
tiếm ngôi may nhờ có Châu-công và Thiệu-công, đồng tâm hiệp lực, lập Thái tử Tịnh
lên kế vị.
Thái tử Tịnh lên ngôi
xưng hiệu là Tuyên-vương, trong thì lo sửa sang triều chính, chiêu đãi hiền thần,
ngoài thì lo vỗ an bá tánh, vì thế các bậc hiền tài lúc bấy giờ như Phương Chúc,
Thiệu Hổ, Doãn Kiết Phủ, Châu Bá, Trọng Sơn Phù… đều dốc lòng bảo giá. Tuyên-vương
đem lại thái bình cho nhà Châuđược mười chín năm thì giặc Khương Nhung dấy loạn,
vua phải ngự giá thân chinh.
Thế giặc quá mạnh, Tuyên-vương
thua luôn mấy trận, quân sĩ hao hụt rất nhiều, bèn trở về Thái Nguyên kiểm điểm
dân số để mộ thêm binh lính.
Khi đi ngang qua một khu
phố nhỏ gần Kiểu Kinh có một bầy trẻ xúm nhau vỗ tay hát:
Túi cơ cung yểm bơ phờ nước non
Vua nghe câu hát lấy làm
tức giận, truyền quân vây bắt.
Bọn trẻ cả sợ chạy tán
loạn, chỉ bắt được có hai đứa.
Vua quát hỏi:
- Ai bày cho chúng mày
hát như thế?
Hai đứa trẻ run lẩy bẩy,
cúi đầu tâu:
- Cách đây ba hôm, có một
đứa nhỏ mặc áo đỏ, đến tại chợ này dạy chúng con hát. Nhưng chẳng biết vì sao,
cùng một lúc, cả trẻ con trong khu phố đều biết các câu hát ấy.
Vua lại hỏi:
- Hiện bây giờ thằng bé
mặc áo đỏ ấy ở đâu?
Hai đứa bé đáp:
- Chẳng biết nó đi đâu,
từ đấy đến nay chúng con không còn gặp nó nữa.
Vua Tuyên-vương cau mày,
suy nghĩ rồi truyền đuổi hai đứa bé ấy đi. Lại khiến quan Tư-thị loan báo khắp
khu phố cấm không cho con nít hát như thế nữa. Nếu đứa trẻ nào còn hát cha mẹ
nó phải chịu tội. Kế đó vua ngự giá về cung.
Sáng hôm sau, lâm triều
bá quan vào chầu đủ mặt, vua bèn thuật lại câu hát ấy, và hỏi có ai đoán được
hư thiệt không?
Quan Lễ-bộ Triệu Hổ quỳ
tâu:
- Tâu Bệ hạ, cây yểm là
thứ cây dâu núi, dùng làm cung, còn cơ là loại cỏ dùng đan giỏ đựng tên. Cứ
theo câu hát ấy mà bàn thì chắc trong nước sẽ bị nạn binh đao!
Tuyên-vương đưa mắt nhìn
các quan cận thần hỏi ý kiến.
Quan Thái-tế Trọng Sơn Phủ
quỳ tâu:
- Theo ý ngu thần thì
cung tên biểu hiệu cho binh đao, nay Bệ hạ đang muốn kiếm dân, bắt lính đánh dẹp
rợ Khương, điềm ấy e ảnh hưởng không lành đến dự tính của Bệ hạ.
Tuyên-vương gật đầu hỏi
lại:
- Thế thì thằng con nít
mặc áo đỏ là ai?
Thái-sư Bá Đương Phụ
tâu:
- Đứa con nít mặc áo đỏ
thuộc hỏa, còn sao Huỳnh-hoặc cũng thuộc hỏa. Ấy là ông Trời muốn răn vua, nên
khiến sao Huỳnh-hoặc biến ra đứa trẻ đó.
Tuyên-vương nghe nói cho
là phải, bèn phán:
- Vậy bây giờ trẫm tha tội
cho Khương Nhung, rút quân ở Thái Nguyên về, truyền đốt tất cả số cung tên lưu
trữ trong kho, như thế có tránh được điềm họa kia chăng?
Đương Phụ lại quỳ tâu:
- Hạ thần xem thiên văn
thấy điềm dữ ứng tại cung vua, chớ không can chi đến bờ cõi. Hơn nữa, luận theo
câu hát "thỏ lên, ác lặn" có nghĩa là âm thịnh, dương suy, hạ thần e
rằng việc nước sẽ do tay đàn bà quấy rối.
Tuyên-vương nói:
- Trong cung có Khương hậu
là kẻ hiền đức, cai quản tam cung lục viện. Mỗi một cung phi đều do tay Khương hậu
chọn lựa, làm sao có thể xảy ra tai họa ấy được?
Đương Phụ tâu:
- Tâu Bệ hạ, ý trong câu
hát không phải là việc bây giờ, xin Bệ hạ cứ thi nhân, bố đức, may ra việc dữ
trở nên lành, còn cung tên trong kho chẳng nên đốt làm chi.
Tuyên-vương nghe xong,
lòng rất nghi hoặc, bèn bãi chầu lui vào hậu cung, đem các việc thuật lại cho
Khương hậu nghe.
Khương hậu tâu:
- Tâu Bệ hạ, điềm dữ vừa
ứng, trong cung lại có việc lạ lùng, thần thiếp định tâu cùng Bệ hạ.
Tuyên-vương ngơ ngác hỏi:
- Chẳng hay trong cung lại
có việc gì chẳng lành sao?
Vừa rồi trong cung có một
phi tần của Tiên-vương để lại, tuổi ngoài năm mươi, có thai đã bốn mươi năm trời,
đêm qua lại sinh ra một gái.
Tuyên-vương giật mình hỏi:
- Ðứa con gái ấy bây giờ
ở đâu?
Khương hậu nói:
- Thần thiếp cho là quái
thai, nên đã sai người đem vứt xuống sông Thanh Thủy, cách đây vài mươi dặm.
Vua cho là chuyện lạ,
bèn đòi người cung phi già đó đến hỏi tự sự.
Người cung phi già được
lệnh, đến quỳ móp xuống đất, tâu rằng:
- Tiện tỳ được nghe nói
vào đời Hạ-Kiệt, tại Bao thành có thần nhân hóa ra hai con rồng sa xuống giữa
sân triều, nhả nước dãi ra rồi kêu vua Kiệt nói: "Ta là hai vị Ðế vương của
Bao thành đây ". Vua Kiệt cả sợ, muốn giết hai con rồng ấy, song quan
Thái-sư bói quẻ và tâu rằng: Thần nhân hạ giáng, ắt có điềm lành, xin Bệ hạ hãy
lấy nước dãi mà để dành. Vì nước dãi là tinh khí của rồng, để dành trong cung ắt
đặng hưởng phúc.
Vua Kiệt nghe theo truyền
đem mâm vàng hứng lấy nước dãi, đựng vào một chiếc hộp son, cất kỹ trong khọ. Vừa
cất xong thì trời nổi mưa, hai con rồng bay đi mất. Từ ấy đến nay đã hơn sáu
trăm bốn mươi bốn năm, qua nhà Hạ, đến nhà Ân, rồi đến nhà Châuta thêm nữa mà vẫn
chưa ai dám mở hộp ấy. Ðến đời Tiên-vương, chiếc hộp ấy có hào quang rực rỡ,
quan giữ kho trông thấy tâu lại với Tiên-vương. Tiên-vương truyền đem sổ bộ tra
cứu, mới hay trong hộp đó đựng nước dãi rồng, bèn truyền mở ra xem. Rủi thay Tiên-vương
sơ ý làm rơi chiếc hộp xuống đất, nước dãi đổ lai láng rồi hóa thành một con giải
nhỏ chạy tung tăng khắp sân triều. Nội-thị theo đuổi bắt con giải kia chạy vào
cung rồi biến mất. Lúc đó tiện tỳ mới lên mười hai tuổi. Vì đạp nhằm đầu con giải
ấy mà thọ thai. Tiên-vương lấy làm lạ, đem tiện tỳ giam vào lãnh cung. Ðến nay
hơn bốn mươi năm trời mới sinh ra một gái! Nội-thị không dám giấu, vào tâu với
Hoàng hậu. Hoàng hậu cho là quái thai nên đã đem vất xuống sông, xin Bệ hạ rộng
lòng tha cho tiện tỳ khỏi tội.
Tuyên-vương nghe xong,
lo lắng thở dài, phán:
- Ấy là việc đời trước,
có can chi đến ngươi mà phải sợ sệt.
Nói xong, vội sai nội thị
đến bờ sông Thanh Thủy xem đứa bé ấy thế nào.
Một lát sau, nội thị trở
về tâu:
- Tâu Bệ hạ, đứa bé ấy
đã trôi đi đâu mất tích.
Nhà vua an lòng, trở vào
hậu cung an nghỉ.
Sáng hôm sau vua cho vời
quan Thái sư Đương Phụ đến kể việc nước miếng rồng cho Đương Phụ và bảo:
- Nay đứa bé ấy đã chết rồi, khanh hãy chiếm một quẻ xem oan nghiệt đã dứt chưa?
Đương Phụ vâng mạng, gieo quẻ rồi dâng lời đoán cho Tuyên-vương xem.
Lời đoán rằng:
Sợ thay! Sợ thay! Nước non tang tóc
Vua không hiểu ý, hỏi lại,
Đương Phụ tâu rằng:
- Dê chỉ về Mùi, ngựa ứng
về Ngọ. Cười cười, khóc khóc nói về chuyện vui buồn. Quẻ này ứng qua năm Ngọ,
năm Mùi sẽ có chuyện vui buồn đó. Theo dự đoán của hạ thần, tuy yêu quái ra khỏi
cung nhưng chưa trừ đặng.
Tuyên-vương nghe tâu, mặt
buồn rầu rầu, hạ chiếu truyền rao khắp dân chúng, ai tìm ra đứa con nít ấy, bất
kỳ sống thác đều được thưởng ba trăm tấm lụa, ngược lại ai giấu diếm mà nuôi, sẽ
bị xử tử toàn gia.
Vua truyền giao việc này
cho quan Thượng-Đại phu Ðỗ Bá xem xét.
Lại ra lệnh cho quan Ðại-phu
Tả Nho nghiêm cấm khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê không ai được làm cung bằng
gỗ yểm và giỏ tên bằng cỏ cợ. Ai trái lệnh được quyền bắt chém.
Nhân dân nghe lệnh, nhất
nhất tuân theo. Duy có các miền xa vắng, lệnh của nhà vua chưa được ban bố, nên
cách hai ngày sau có một người đàn bà xách mấy cái túi tên bằng cỏ cơ, và một
người đàn ông vác mấy cây cung bằng gỗ yểm đến chợ bán.
Quân tuần trông thấy áp
lại bắt, nhưng người đàn ông nhanh chân chạy thoát.
Chúng dẫn người đàn bà
vào nạp cho quan Ðại-phu Tả Nho.
Tả Nho nghĩ thầm:
- Hai vật này đúng theo
lời hát của lũ trẻ rồi. Vả lại, quan Thái sư bảo là có nữ họa, thế thì người
đàn bà này là mối họa lớn của quốc gia, ta phải vào triều phục chỉ.
Nghĩ như vậy, Tả Nho giấu
việc người đàn ông bỏ trốn, chỉ dắt người đàn bà vào triều tâu nạp.
Nhà vua truyền đem tội
nhân xử tử, và đem tất cả các túi tên ra chợ đốt đi để răn dân chúng.
Trong lúc đó, ngươi đàn
ông kia hoảng vía chạy trối chết, không hiểu cớ gì quan quân lại đón bắt vợ chồng
mình. Mãi đến ngày hôm sau, anh ta mới biết lệnh cấm, và nghe đồn người đàn bà
bán giỏ tên bị xử tử, lòng nóng như đốt, anh ta than thầm:
- Ôi! Vợ ta đã bị giết rồi,
giờ đây ta biết nương tựa vào đâu! Đau đớn thay!
Than rồi, anh ta khóc rống
lên, nhưng sợ khóc lớn quan quân hay được, bèn tìm nơi vắng vẻ để khóc cho thỏa
lòng.
Anh ta đi lần đến mé
sông Thanh Thủy, đôi mắt đỏ hoe, dòng châu lã chã, bỗng thoáng thấy đằng xa có
bầy chim kêu rả rích, xúm nhau ngậm một chiếc chiếu cuốn tròn, nổi trên sông,
mà đem vào bờ.
Lấy làm lạ, anh ta chạy
đến giở chiếc chiếu ra xem, thì thấy trong đó gói một đứa bé gái vừa mới lâm bồn
([1]).
Anh ta nghĩ thầm:
- Con ai đem bỏ như vầy.
Ðã không chết mà lại có bầy chim cứu nạn, ắt là một quý nữ. Ta đem về nuôi để
ngày sau nhờ cậy.
Nghĩ như vậy, bèn cởi áo
gói đứa bé ôm vào mình, rồi thẳng đường sang Bao-thành lánh nạn.
Từ khi giết người đàn bà
bán giỏ cung bằng cỏ cơ, Tuyên-vương cho rằng điềm họa trong nước đã diệt được,
nên không còn lo ngại gì nữa. Tuy nhiên, cứ cách vài năm nhà vua lập đàn tế lễ
nơi Thái-miếu ([2]),
ăn chay nằm đất để cầu phúc.
Năm ấy vào năm thứ bốn
mươi ba, vua ngủ nơi trai cung ([3]),
trống canh hai vừa đổ, xảy có một người con gái, dung nhan đẹp đẽ từ phía Tây
xăm xăm đi lại.
Vua cả giận nghĩ rằng:
- Ðàn bà con gái sao dám
đến chỗ chay cấm, bèn quát lên một tiếng, hô nội thị đến bắt.
Vua gào rát cổ, mà vẫn
không thấy một tên nội thị nào.
Người đàn bà kia cứ ung
dung đi vào Thái-miếu, góp nhặt các bài vị bó thành một bó, rồi bước ra cười ba
tiếng, khóc ba tiếng, đoạn chậm rãi tiến về hướng Ðông ([4]).
Vua bèn rượt theo, bỗng
giật mình thức dậy mới biết là chiêm bao, trong lòng kinh hãi, đòi Thái sư Bá Đương
Phụ đến hỏi.
Bá Đương Phụ tâu rằng:
- Lời đồng dao ([5])
cách đây ba năm Bệ hạ đã quên rồi sao?
Hạ thần tiên đoán nhà Châusẽ
bị nữ họa. Nay yêu khí chưa dứt, mà người đàn bà ấy lại khóc ba tiếng, cười ba
tiếng, thì đúng theo quẻ hạ thần đã tiên đoán vậy.
Tuyên-vương lo lắng hỏi:
- Ngày trước trẫm đã giết
người đàn bà bán giỏ cung bằng cỏ cơ rồi, như thế chưa trừ đặng câu đồng dao ấy
hay sao?
Bá Đương Phụ tâu:
- Tâu Bệ hạ, đạo trời mầu
nhiệm lắm, đâu phải dễ gì giết một người đàn bà hèn mọn kia mà có thể làm biến
đổi được thiên cơ ([6]).
Vua nghe nói lòng buồn
rã rượi, ngồi đứng không an, giây lâu sực nhớ đến việc ba năm trước có sai Ðỗ Bá
truy tầm đứa bé thả trôi sông, sao đến nay chưa nghe kết quả, bèn đòi Ðỗ Bá vào
hỏi.
Ðỗ Bá quỳ tâu:
- Tâu Bệ hạ, hạ thần hết
sức tìm kiếm, nhưng chẳng thấy. Khắp trong dân gian cũng không ai tìm được xác,
chứng tỏ quái thai kia đã bị chìm mất tích rồi. Vả lại Bệ hạ đã xử tử người đàn
bà bán cung, thì lời đồng dao đâu còn linh-ứng? Nếu cứ tra xét thì e động đến
dân tình.
Tuyên-vương cả giận mắng:
- Ðã không làm được việc,
lại không phục-chỉ, rõ là một đứa khi quân.
Bèn sai võ sĩ dẫn Ðỗ Bá
ra pháp trường xử trảm.
Giữa lúc đó, quan Hạ-Đại
phu Tả Nho, vốn là bạn thân của Ðỗ Bá, thấy vội quỳ móp trước sân triều can
gián:
- Tâu Bệ hạ, đời vua
Nghiêu bị lụt chín năm, đời vua Thang nắng hạn đến bảy năm, mà chẳng hề sinh biến
loạn. Nay chỉ vì giết không được một đứa con nít mà Bệ hạ xử tử một đại thần e
các lân bang chê cười, xin Bệ hạ xét lại.
Tuyên-vương mặt giận phừng
phừng, nói:
- Nếu vì tình bạn mà can
gián, thì ngươi quả đã trọng bạn mà khinh vua.
Tả Nho tâu:
- Vua phải bạn trái thì
nên theo vuạ, bạn phải vua trái thì nên theo bạn. Tội Ðỗ Bá không đáng gì, mà Bệ
hạ đem giết, thiên hạ sẽ cho Bệ hạ là bất minh. Hạ thần biết mà không can gián,
thiên hạ sẽ cho hạ thần là bất trung. Nếu Bệ hạ giết Ðỗ Bá, hạ thần xin cùng chết.
Tuyên-vương nói:
- Trẫm chém Ðỗ Bá như
chém cỏ rác, ngươi chớ nhiều lời làm chị.
Nói xong, nạt võ sĩ đem
Ðỗ Bá ra chém.
Còn Tả Nho về đến nhà
cũng tự vẫn mà thác.
Người sau, cảm lòng
trung nghĩa, lập miếu nơi Ðồ-lăng mà thờ gọi là miếu Tả-tướng-quân.
Con trai Ðỗ Bá là Thấp Thúc
trốn qua nước Tấn, làm đến chức Sĩ-sư, sau con cháu đổi ra họ Phạm.
Khi Tuyên-vương nghe tin Tả Nho tự vẫn, lòng hối ngộ, ăn ngủ không yên mà sinh
bệnh, bỏ cả việc triều chính.
Khương-hậu thấy vậy cũng
không dám phàn nàn.
Một hôm, vào tiết mùa
thu, Tuyên-vương muốn đi săn bắn để giải phiền muộn, bèn truyền Doãn Kiết Phủ
và Thiệu Hổ sắm sửa xe giá lên đường. Hai bên tiền hô, hậu ủng thẳng đến Ðông Giao.
Ðến nơi, vua truyền hạ
trại, và dặn dò quân sĩ không được đạp phá mùa màng, làm chấn động lê dân. Ðoạn
truyền lệnh, hễ ai bắt được nhiều thú rừng sẽ được trọng thưởng.
Quân sĩ đua nhau bủa vây
khắp chốn. Lòng vua rất đẹp.
Chẳng bao lâu, mặt trời
đã gác non Ðoài, vua truyền bãi cuộc săn bắn.
Quân sĩ tuân lệnh bao
nhiêu phi cầm tẩu thú đều buộc trói, sẵn sàng hộ giá về cung.
Ði chưa được ba bốn dặm
đường, nhà vua mặt mày bỗng xây xẩm, rồi trước mắt thoáng thấy một cỗ xe nhỏ từ
đằng xa tiến đến.
Trên xe có hai người,
tay cầm cung tên, hô lớn:
- Bệ hạ vẫn được mạnh giỏi
chứ.
Tuyên-vương nhìn kỹ thấy
hai người đó là Ðỗ Bá và Tả Nho, thất kinh gọi kẻ tả hữu hỏi thì chẳng ai thấy
gì hết.
Chiếc xe nhỏ kia cứ lởn
vởn mãi trước mắt, vua cả giận hét:
- Phản thần! Dám đến đây
phạm giá sao?
Nói xong, rút bảo kiếm
ra chém.
Bỗng nghe có tiếng Ðỗ Bá
và Tả Nho mắng lại.
- Hôn quân, đã không biết
sửa mình còn chém người vô tội!
Hôm nay khí số hôn quân
đã mãn, hãy lo mà đền mạng cho sớm.
Dứt lời, giương cung nhằm
ngay ngực nhà vua bắn tới.
Tuyên-vương hét lên một
tràng thất thanh rồi té xỉu xuống.
Các quan hộ giá xúm lại
đỡ dậy, lo thuốc men cứu chữa.
Nhà vua ôm ngực rên la
cho đến lúc về tới cung.
Ai nay đều sợ sệt, nhìn
nhau không biết nguyên do nào xảy ra như vậy.
--------------------------------------------
Bao Quýnh buộc tội dâng mỹ nữ
U-vương đốt lửa lừa chư hầu
Từ khi săn bắn ở Ðông
Giao về, Tuyên-vương lâm bệnh nặng, đêm nào chợp mắt cũng thấy Ðỗ Bá và Tả Nho
đến đòi mạng.
Biết mình không thể sống
được lâu, bèn cho đòi Doãn Kiết Phủ và Thiệu Hổ đến để thác cô.
Hai người vào quỳ dưới
long sàng hỏi thăm căn bệnh.
Vua khiến nội thị đỡ dậy
và nói:
- Trẫm nhờ sức của hai
khanh mới ở ngôi đặng bốn mươi sáu năm, chẳng ngờ hôm nay lâm bệnh nặng, không
thể sống được nữa, Thái-tử là Cung Niếc tuổi tuy đã lớn mà tính tình ngu muội,
xin chư khanh hãy hết lòng phò tá kẻo hư cơ nghiệp.
Hai người cúi đầu lãnh mạng,
bái tạ lui ra.
Vừa đến cửa cung xảy gặp
quan Thái-sử Bá Đương Phụ bước vào.
Thiệu Hổ hỏi:
- Có phải ngài đến để
thăm Bệ hạ không? Bệnh tình Bệ hạ rất nguy kịch, khó mà sống đặng.
Doãn Kiết Phủ nói:
- Trước kia là tiếng hát
rao, nay lại đến hồi quỷ hiện, vận nước thật khó an toàn.
Bá Đương Phụ nói:
- Ðêm qua tôi có xem
thiên văn, thấy yêu tinh phục nơi sao Tử-vi, quốc gia còn gặp nhiều tai biến nữa.
Thiệu Hổ nói:
- Tuy Trời định hơn người,
song người cũng có thể thắng mạng Trời. Các ông cứ nói theo thiên đạo mà bỏ
nhân lực sao! Cả triều thần không đủ sức chống lại mọi tai biến ư?
Ba người nhìn nhau, mỗi
người riêng một ý nghĩ, rồi ai về nhà nấy.
Ðêm hôm ấy Tuyên-vương băng
hà.
Khương Thái-hậu bèn ra ý
chỉ triệu các vị lão thần Doãn Kiết Phủ và Thiệu Hổ xuất lãnh bá quan, phò
Thái-tử Cung Niếc vào làm lễ cử ai, rồi tức vị trước linh cữu, xưng hiệu là U-vương,
lập con gái Thân Bá lên làm Hoàng hậu, lập con trai là Nghi Cựu lên làm Thái-tử,
phong Thân Bá làm Thân-hầu.
Sau khi Tuyên-vương chết,
bà Khương-hậu buồn rầu vô cùng, chẳng bao lâu cũng tạ thế.
U-vương là một ông vua bạo
ngược, háo sắc. Mặc dù trong tang chế, ngày nào cũng ăn uống rượu chè, đắm say
vật dục đến nỗi bỏ bê cả việc triều chính.
Thân-hầu ngày ngày can
gián không được, buồn giận lui về nước Thân tá túc.
Bấy giờ khí số nhà Châu cũng
đã sắp tàn, nên khiến các vị lão thần như Doãn Kiết Phủ, Thiệu Hổ, đều lần lượt
quy thiên.
U-vương lại dùng Quách-công,
Tế công, và con của Doãn Kiết Phủ là Doãn Cầu lên làm bực Tam công.
Ba người này đều là những
kẻ dua xu nịnh, tham quyền cố vị, còn Trịnh Hữu Bá là người trung trực vua lại
không tin dùng.
Một hôm, thiết triều tại
Kỳ Sơn, có quan thủ thần vào tâu:
- Tâu Bệ hạ, chẳng biết
cớ gì sông Kinh, sông Hà, sông Lạc cùng động đất một lúc.
Không một chút lo lắng, U-vương
mỉm cười nói:
- Núi lở đất động là việc
thường, nhà ngươi tâu với trẫm làm gì?
Nói xong, liền di giá về
cung.
Quan Thái-sử Bá Đương Phụ
cầm tay quan Ðại-phu Triệu Thúc Ðái than rằng:
- Thuở trước sông Ỷ,
sông Lạc cạn, nhà Hạ mất; sông Hà cạn, nhà Thương hư; nay cùng một lúc ba sông
đều động một lượt ấy là trời muốn lấp nguồn, nhà Châukhó tránh khỏi tai biến.
Triệu Thúc Đái hỏi:
- Theo dự đoán của ngài
thì bao giờ mới xảy ra tai biến ấy?
Bá Đương Phụ đánh tay
xem lại, rồi đáp:
- Nếu vua biết răn mình,
chuộng hiền lánh dữ thì trong khoảng mười năm, bằng ngược lại họa sẽ tới gấp
không chừng.
Thúc Đái nghe nói thở
dài, cầm tay Đương Phụ, nói:
- Nay Thánh thượng chẳng
kể việc quốc chính, xa những tôi trung, gần gũi nịnh thần, chẳng lẽ chúng ta
khoanh tay ngồi ngó trong lúc nước nhà bại vong. Vậy chúng ta phải can gián, dù
được hay không cũng tròn bổn phận.
Bá Đương Phụ cũng thở
dài rồi lắc đầu nói:
- Dù chúng ta có làm gì
cũng vô ích.
Trong lúc hai người nói
chuyện có kẻ rình mò nghe được, thuật lại với Quách-công.
Quách-công sợ nếu để
Thúc Đái can gián ắt lòi chuyện gian nịnh của mình, bèn thẳng vào hậu cung tìm
lời sàm tâu rằng:
- Bá Đương Phụ và Triệu
Thúc Đái chê bai triều đình, làm cho dân chúng hoang mang.
U-vương nói:
- Chúng là những đứa ngu
dốt biết chi mà bàn luận. Thói thường, những kẻ ngu dốt thường học đòi hay
xét-nét đến công việc của thiên hạ, khanh để ý làm gì cho bận tâm.
Quách-công nghe nói thì
cúi đầu lui ra, mặt mày hớn hở.
Cách vài ngày sau, quan
trấn thủ núi Kỳ Sơn lại dâng biểu về tâu rằng:
- Ba sông đều cạn, núi Kỳ
Sơn lại lở, đè chết dân chúng rất nhiều.
U-vương không thèm để ý
đến, sai bọn nội giám đi tìm gái đẹp sung bổ vào cung.
Triệu Thúc Đái nóng
lòng, dâng biểu can rằng:
- Sơn băng, thủy kiệt là
biểu hiện của thiên tai. Vả lại Kỳ Sơn là nơi dựng nghiệp đế vương nay lại bị lở
đi thì không phải việc nhỏ. Lẽ ra phải chọn hiền tài, để chung lo cứu nước thì
Bệ hạ lại chọn mỹ nữ để vui riêng, hạ thần lấy làm hổ thẹn.
Nhà vua chưa kịp nói,
thì Quách-công đã quỳ tâu:
- Tâu Bệ hạ, đất Phong,
đất Kiều là chỗ đóng đô còn Kỳ Sơn cũng như chiếc giày rách lâu đời đã bỏ đi,
thì việc núi long đất lở có can hệ gì. Ấy là Thúc Đái có ý khi quân, mượn cớ để
phỉ báng triều đình, xin Bệ hạ rộng xét.
U-vương nói:
- Lời Quách-công nói rất
phải, Thúc Đái đã có ý khi quân, trẫm không thể nào dung thứ.
Nói rồi vua bèn cách chức
Triệu Thúc Đái đuổi về quê.
Thúc Đái ngửa mặt lên trời
than:
- Nguy bang bất nhập, loạn
bang bất cứ. Tuy nhiên, ta không khỏi đau lòng nhìn nhà Tây Châumất nước.
Than rồi bèn dắt cả gia quyến
trở về nước Tấn.
Lúc ấy có quan Ðại-phu
Bao Hướng vừa ở Bao-trung về, nghe tin Thúc Đái bị đuổi, bèn vội vã vào triều
can gián rằng:
- Tâu Bệ hạ, nước nhà
đang xảy ra nhiều điềm tai biến, bệ hạ lại đuổi cả các tôi hiền, thì lấy ai phò
xã tắc.
Vua cả giận, truyền bắt
Bao Hướng hạ ngục.
Từ ấy không còn ai dám
ngăn cản nữa.
Ðây nhắc qua việc người
bán cung lúc trước, sau khi vớt được đứa bé, bèn trốn về Bao-thành ẩn náu.
Nhưng vì nghèo khó nuôi đứa bé không nổi, mới đem cho một nhà giàu, hiếm con,
là Tư Đại, đặt tên đứa bé là Bao Tự.
Nàng Bao Tự tuổi vừa mười
bốn mà cao lớn như một thiếu nữ mười sáu, mười bảy sắc đẹp tuyệt trần, mắt phượng,
mày ngài, đáng bậc khuynh thành, khuynh quốc. Nhưng vì ở chốn thôn quê, dẫu sắc
nước hương trời cũng không ai biết tới.
Một hôm, Hồng Đức là con
của Bao Hướng, nhân thu thuế làng đi qua đấy, thấy Bao Tự đang gánh nước.
Hồng Đức đứng sững sờ,
chắc lưỡi khen thầm:
- Làng quê mùa như vầy,
sao lại có người đẹp đến thế!
Bỗng chàng lại sinh ra một
ý nghĩ:
- Cha ta bị tù nơi Kiểu
Kinh đã ba năm, mà vua chưa tha. Nay, nếu được nàng này đem dâng cho vua, ắt
vua tha tội.
Bèn hỏi thăm tên họ rồi
trở về nhà thưa với mẹ:
- Phụ thân con vì tính
ngay thẳng mà trái ý vua, chứ không làm gì nên tội. Nay vua đang tuyển gái đẹp,
mà con gái nhà Tư Đại lại đẹp vô ngần, nếu chúng ta mua được đem dâng cho vua,
chuộc tội cho phụ thân, ấy là kế của Táng-nghi-sanh cứu Văn vương ngày xưa đó.
Mẹ Hồng Đức nói:
- Nếu kế ấy mà thành tựu,
đem lại sự sum họp gia đình, thì mẹ đâu có tiếc gì vàng bạc.
Ðược lời Hồng Đức cả mừng,
đem ba trăm tấm lụa đến nhà Tư Đại hỏi mua nàng Bao Tự.
Việc mua bán không khó
khăn lắm, vì Bao Tự là con nuôi, nhà Tư Đại đâu có mến tiếc làm chi.
Hồng Đức đem về, hương
xông xạ ướp, thay đổi xiêm y, dạy cho biết những phép tắc cần thiết, rồi dẫn đến
Kiểu Kinh tìm cách lo lót với Quách-công nhờ bảo tấu.
Quách-công thấy vàng bạc,
lòng mừng rỡ vào triều tâu với U-vương rằng:
- Bao Hướng ngỗ nghịch
oai trời, tội đáng muôn thác. Nay có con va là Hồng Đức, chẳng nài khó khăn tìm
kiếm khắp nơi mới được một mỹ nhân tên Bao Tự, đem đến dâng cho Bệ hạ để chuộc
tội cha, xin Bệ hạ nghĩ tấm lòng hiếu thảo mà lượng xét.
U-vương nghe tâu cả mừng
truyền dẫn Bao Tự vào bệ kiến.
Bao Tự bước vào quỳ lạy
trước ngai.
U-vương xem thay mặt rồng
ngây ngất, nhìn mãi không thôi!
Qua một lúc, vua mới sực
tỉnh, nghĩ thầm:
- Ðã biết bao nhiêu cung
nữ tuyển lựa, nhưng chưa hề có người nào chim sa cá lặn như vầy.
Bèn hạ chỉ tha Bao Hướng
và cho phục chức. Lại truyền dẫn Bao Tự vào một biệt cung, không cho Thân-hậu
haỵ.
Ðêm ấy U-vương say tình
cá nước. Và, từ đó chẳng lúc nào rời Bao Tự. Khi xem trăng, khi sánh nguyệt,
khi đối ẩm, lúc ca xang, say sưa mãi nơi cung Quỳnh-đài, chẳng thiết gì đến việc
triều chính.
Có khi đến mười ngày
cũng không thấy vua lâm triều. Trăm quan đều thở than, lo lắng.
Có người đem chuyện vua
mê say Bao Tự nói với Thân-hậu haỵ.
Thân-hậu tức giận, một
hôm dẫn bọn cung nga đến cung Quỳnh-đài xem hư thiệt.
Vừa đến nơi, Thân-hậu
thoáng thấy U-vương đang cùng với Bao Tự kề vai đùa giỡn.
Thân-hậu bước vào Bao Tự
vẫn ngồi im, liếc mắt đưa tình nhìn vua chứ không đứng dậy chào đón.
Thân-hậu tức không dằn được, chỉ vào mặt mắng:
- Loài tiện tỳ mi ở đâu
dám đến đây làm nhơ nhớp chốn cung đình?
Vừa nói, vừa muốn xốc tới.
U-vương sợ Thân-hậu làm
hỗn, vội đứng dậy, cản lại, và nói:
- Ðây là mỹ nhân của trẫm
mới dùng, chưa định ngôi thứ nên chưa kịp đến ra mắt hậu, xin hậu chớ chấp nhặt
làm chị.
Thân-hậu mắng nhiếc một
hồi rồi hậm hực lui ra.
Bao Tự hỏi U-vương:
- Tâu Bệ hạ chẳng hay
người ấy là ai mà hung dữ lắm vậy?
U-vương nói:
- Ấy là Hoàng hậu đó.
Ngày mai khanh phải đến làm lễ ra mắt.
Bao Tự làm thinh, rồi
ngày mai cũng chẳng đi chào Hoàng hậu.
Từ khi biết rõ sự tình, Thân-hậu
lòng buồn rười rượi, tối ngày than thở mãi trong cung.
Thái-tử Nghi Cựu thấy thế
quỳ tâu:
- Tâu mẫu hậu, mẫu hậu
đã làm chúa tể nơi tam cung lục viện, oai quyền như thế, chẳng hay còn điều chi
bất bình mà buồn bã.
Thân-hậu đỡ con dậy, hai
hàng nước mắt ràng rụa, nói:
- Con ơi! phụ vương con
đắm say con Bao Tự, không kể gì đến mẹ nữa. Thân mẹ dù có bị bạc bẽo cũng chẳng
sao, duy có giang san sự nghiệp sau này ắt phải tan tành vì tay con khốn nạn
đó.
Thái-tử nghe nói vừa buồn, vừa giận, cầm tay Thân-hậu nói:
- Xin mẹ chớ có sầu bi.
Ngày mai là ngày Sóc (mồng một), phụ vương con thế nào cũng lâm triều, chừng ấy
mẹ sai bọn cung nữ qua nơi Huỳnh-đài bẻ phá bông hoa, dụ Bao Tự ra khỏi cung,
con sẽ đánh cho một trận trả thù cho mẹ. Dẫu phụ vương con có trách mắng, con
xin cam chịu.
Thân-hậu lắc đầu nói:
- Con chớ nên nóng nảy
như thế, để thủng thỉnh mà liệu, kẻo lâm vào độc kế của con dâm phụ đó.
Thái-tử Nghi Cựu hậm hực
ra về.
Sáng hôm sau, quả nhiên U-vương
lâm triều.
Nghi Cựu bèn sai một số
cung-nhân qua nơi Quỳnh-đài, chẳng nói chi hết cứ việc vác cây đập phá bông
hoa.
Bọn thế nữ trong đài
trông thấy thất kinh chạy ra cản lại và la lớn rằng:
- Hoa này vốn của
Chúa-thượng trồng, để cho Bao-nương ngoạn cảnh chớ nên phá phách mà tội chẳng
nhỏ.
Bọn cung nhân vẫn không
ngừng tay, ứng tiếng đáp:
- Bọn ta vâng lệnh
Ðông-cung Thái-tử đến bẻ hoa này về dâng cho Chánh-hậu, ai dám cản trở sao!
Hai bên cãi vã om sòm,
làm cho Bao Tự đang mơ màng giấc điệp, bỗng giật mình thức dậy, bước ra xem thấy
bông hoa tơi tả.
Bao Tự cả giận, toan bước
tới đánh bọn cung nữ, chẳng dè Thái-tử núp gần đấy, nhảy tới trợn mắt hét:
- Nghiệt phụ mi là người
chi, danh dự gì mà dám xưng là nương-nương, chẳng kiêng ai hết, nay ta làm cho
mi thấy cái nương-nương của mi.
Nói dứt lời, Thái-tử nắm
đầu Bao Tự tát cho mấy cái.
Bao Tự đau quá ré lên.
Bọn cung-nữ sợ hãi, quỳ
móp xuống đất thưa:
- Xin Thái-tử hãy khoan
dung, kẻo phiền lòng Chúa-thượng.
Thái-tử Nghi Cựu chưa hả
giận, nhưng sợ đánh sảy tay bèn buông Bao Tự ra, rồi chỉ vào mặt nói:
- Nếu mi còn ngạo nghễ,
ta sẽ không bao giờ để cho mi sống yên.
Nói xong quay gót trở về
Ðông cung.
Bao Tự biết Thái-tử đánh
trả thù cho mẹ, nên phải dằn lòng nhẫn nhục trở vào, nằm vật trên giường than
khóc.
Bọn cung-nga thế nữ đồng
xúm lại khuyên giải:
- Bề nào cũng còn có
Chúa-thượng, nương nương khóc lóc làm chị
Bao Tự nằm khóc sụt sịt
mãi cho đến lúc U-vương bãi triều bước về Quỳnh-đài, nàng mới khóc rống lên.
U-vương vội vã bước vào
hỏi:
- Tại sao ái-khanh dung
mạo như thế này? Chẳng hay có điều gì xảy đến, hãy nói cho trẫm rõ.
Bao Tự cứ khóc mãi không
nói. Ðợi cho U-vương năn nỉ đôi ba phen, nàng mới nghẹn ngào thốt ra lời:
- Hôm nay Thái-tử dẫn một
tốp cung-nhân đến hái phá trông hoa dưới đài. Mặc dầu hành động ngang tàng ấy,
thiếp cũng chẳng dám nói. Thái-tử lại xông vào đánh thiếp. Nếu chẳng có
cung-nga can giáng ắt mạng thiếp chẳng còn.
Nói xong lại khóc rống
lên nữa.
U-vương đã rõ ngọn ngành,
vừa vỗ về Bao Tự, vừa nói:
- Ái khanh ơi! Chỉ vì ái
khanh không chịu ra mắt Chánh-hậu, nên Chánh-hậu giận, sai Thái-tử làm như vậy
chứ không phải tại Thái-tử đâu, ái khanh chớ hiểu lầm mà trách nó.
Bao Tự làm ra mặt giận
nói:
- Thái-tử vì mẹ mà báo
thù, Thánh thượng cũng vì Chánh-hậu mà che chở tội lỗi. Dầu thiếp có chết đi
cũng chẳng tiếc. Song, từ khi hầu hạ Thánh-thượng đến nay, thiếp đã có mang hai
tháng. Vậy xin Thánh-thượng cho thiếp ra khỏi cung để bảo tồn giọt máu của
Thánh-thượng.
U-vương mặt mày buồn bã,
đỡ Bao Tự dậy, nói:
- Thôi, ái-khanh chớ buồn
bã mà đau lòng Trẫm. Trẫm sẽ xét xử công minh.
Rồi, nội trong ngày hôm ấy,
vua truyền chỉ rằng: Thái-tử Nghi Cựu bạo động vô lễ, chẳng biết điều thảo thuận,
nên phải đưa qua nước Thân cho Thân-hầu dạy dỗ, còn những quan Thái-phó, Thiếu-phó
nơi Ðông-cung, dạy dỗ chẳng nghiêm, nên thảy đều bị cách chức.
Thái-tử Nghi Cựu được lệnh
vội vã vào cung kêu nài, nhưng U-vương đã biết trước, dặn quan giữ cửa không
cho vào.
Thái-tử chẳng biết làm
sao, đành lên đường qua nước Thân cư trú.
Còn Thân-hậu, luôn mấy
hôm không thấy con vào thăm trong lòng lo lắng, sai bọn cung-nữ dò hỏi, mới hay
Thái-tử đã bị đầy sang nước Thân rồi. Một mình bơ vơ, ngày ngày nhớ con gào khóc
thảm thiết.
Lần hồi ngày tháng thoi
đưa, Bao Tự lâm bồn sanh đặng một trai.
U-vương yêu mến vô ngần,
đặt tên là Bá Phục. Và, cũng từ ngày ấy, U-vương có ý phế con đích lập con thứ,
song chưa có cơ hội thuận tiện.
Quách Thạch Phủ (tức Quách-công)
dò biết ý vua, bèn thương nghị với Doãn Cầu, rồi thông tư với Bao Tự rằng:
- Thái-tử hiện bị đày ra
khỏi nước, vậy phải lập tự cho Bá Phục. Bên trong cậy có nương-nương, bên ngoài
chúng tôi giúp sức, lo chi việc ấy không thành.
Bao Tự bắt được tin,
lòng mừng khắp khởi, vội phúc đáp ngay:
- Ta cậy nhờ hai khanh hết
lòng bảo bọc, nếu Bá Phục đặng nối ngôi thì việc giàu sang trong thiên hạ, ta
quyết không bao giờ phụ.
Từ đó, Bao Tự thường lén
sai người tâm phúc, theo dõi hành vi của Thân-hậu, dầu việc nhỏ mọn đến đâu
cũng không qua mặt nổi.
Còn Thân-hậu sống trong
buồn thảm, giận vua nhớ con, cả ngày không ráo nước mắt.
Có một cung nhân già cả,
thấy thế động lòng, kiếm lời bàn bạc:
- Tâu Hoàng hậu, nay
tình mẹ con cách trở, cả hai đều mang nặng nhớ nhung, xin Hoàng hậu lén biên
thư gởi sang nước Thân bảo Ðiện-hạ làm biểu gởi về thỉnh tội, may ra Chúa-thượng
động tình mà cho phép hồi-hương, như thế mẹ con được sum họp.
Thân-hậu sụt sùi nói:
- Lời ngươi nói rất phải,
ngặt không có ai đem thư, biết liệu làm sao?
Người cung nhân nói:
- Mẹ tôi là Ôn Áo, biết
nghề làm thuốc. Vậy Hoàng-hậu giả đau, đòi mẹ tôi vào coi mạch, rồi khiến mẹ
tôi đem thư về mà sai anh tôi đi thì khỏi lo chi hết.
Thân-hậu nghe theo lời,
viết một bức thư.
Trong thư đại ý như sau:
Thiên tử vô đạo, mê đắm
con nghiệt-phụ, làm cho mẫu tử phân ly. Nay con nghiệt-phụ lại sanh đặng một đứa
con, Chúa-thượng yêu mến lắm. Vậy con phải gởi biểu để thỉnh tội để Chúa-thượng
thương tình, tha con về trào. Chừng ấy mẹ con gặp nhau sẽ tính toán kế khác.
Viết thư xong, Thân-hậu
giả bệnh sai người đòi ôn-áo vào cung xem mạch.
Tuy việc rất kín đáo,
song không thoát khỏi tầm mắt của bọn tay chân Bao Tự, chúng hay được, chạy về
báo.
Bao Tự nghĩ thầm:
- Ðấy chắc là va thông
tin tức với Thái-tử. Vậy chờ lúc ôn-áo ra khỏi cung, bắt lại mà xét sẽ biết
ngay gian.
Thật vậy, khi Ôn Áo xem
mạch cho Chánh-hậu xong, bái tạ ra về có ôm theo hai tấm lụa.
Vừa bước chân ra khỏi
cung, bị nội giám đón lại hỏi:
- Lụa này ở đâu mà có vậy?
Ôn Áo đáp:
- Tôi vào coi mạch cho
Chánh-hậu, được Chánh-hậu tặng thưởng.
Nội-giám đưa mắt nhìn
nhau như hỏi ý, rồi một người bước đến giật tấm lụa mở banh ra khám xét. Thấy
trong tấrn lụa không có gì nội giám lại xúm nhau lục soát khắp mình. Bỗng bắt gặp
trong lai áo, có một phong thư, vội đem về Quỳnh-đài dâng cho Bao Tự.
Bao Tự xem thơ cả giận,
truyền bắt Ôn Áo xiềng lại, và xé nát hai tấm lụa quăng xuống đất.
Kịp lúc U-vương bước
vào, thấy thế hỏi duyên cớ.
Bao Tự khóc và
tâu rằng:
- Tiện thiếp hân hạnh được
vào chốn thâm cung, lại được Bệ hạ rủ lòng thương, ơn ấy dẫu đến chết cũng chưa
đáp đền nổi.
Nay vì thiếp sanh được một
mụn con trai, làm cho Chánh-hậu đem lòng ghen ghét, viết thư cho Thái-tử, lập
mưu ám hại. Tấm thân thiếp thật khó mà toàn mạng.
Nói dứt lời lấy phong
thư dâng cho U-vương xem.
U-vương sửng sốt, nhận
biết nét chữ của Thân-hậu liền hỏi:
- Người nào đã nhận đem
bức thư này.
Bao Tự nói:
Người đó là Ôn Áo, hiện
Nội-giám còn đang giữ lại.
Vua đòi dẫn Ôn Áo vào, rồi
chăng hỏi qua một tiếng, rút gươm chém đứt làm hai đoạn.
Sau Nhiêm Ông có thơ
than rằng:
Lá thư chưa lọt cửa
song ngoài
Máu đã tuôn rồi! thật
đắng caỵ
Ảm đạm thâm cung, tàn
khí uất
Bâng khuâng nửa giấc
mộng chương đài.
Ðêm đến, Bao Tự lại thỏ
thẻ với U-vương rằng:
- Tính mạng của mẹ con
thần thiếp hiện nằm trong tay Thái-tử, chưa biết sống chết lúc nào.
U-vương nói:
- Bề nào cũng còn có trẫm
đây, Thái-tử mà làm chi đặng sao.
Bao Tự vừa khóc vừa nói:
Hiện nay được nhờ Chúa
thượng che chở, dầu ai có ghét cũng chẳng làm chi, song đến chừng Chúa-thượng
qua đời, Thái-tử lên nối ngôi, chừng ấy quyền bính về tay Chánh-hậu. Chánh-hậu
muốn giết mẹ con thiếp lúc nào chẳng được.
Dứt lời, Bao Tự lại khóc
rống lên.
U-vương cầm tay thổn thức:
- Trẫm muốn phế Chánh-hậu
và Thái-tử đi, để lập khanh làm Chánh-hậu, và Bá Phục làm Ðông-cung, song e quần
thần chẳng phục.
Bao Tự nói:
- Tôi nghe vua thì thuận,
mà vua nghe tôi là nghịch, xin Bệ hạ hãy đem ý đó mà tìm hiểu quần thần, xem
nghị luận thế nào.
U-vương mỉm cười, nói:
- Ái khanh nói rất phải,
để mai trẫm sẽ tính.
Ðêm ấy Bao Tự sai người
tâm phúc ra nói với Quách Thạch Phủ và Doãn Cầu hay, đặng dự bị trước mà ứng
đáp.
Ngày thứ, U-vương lâm
trào, các quan triều bái xong, vua truyền chỉ triệu hết công-khanh thượng điện,
mà phán rằng:
- Nay Chánh-hậu sanh
lòng tật đố, không kiêng nể phép vua, ngày đêm thốt những lời oán cừu trẫm. Tội
ấy khó dung, chư khanh nghĩ thế nào?
Quách Thạch Phủ quỳ tâu:
- Hoàng-hậu là một vị quốc
mẫu, dẫu có tội chi cũng không nên tra hỏi. Nếu xét không đáng vị Chánh-cung
thì xin Bệ hạ chọn người có đức hạnh thay thế mà thôi.
Doãn Cầu cũng quỳ xuống
tâu theo:
- Tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần
trộm nghe đức hạnh của Vương-phi Bao Tự, thật đáng làm chúa trong cung lắm.
U-vương lại hỏi:
- Nay Thái-tử đang ở nước
Thân, như bỏ ngôi của Thân-hậu thì địa vị của Thái-tử sẽ thế nào?
Quách Thạch Phủ tâu:
- Nếu đã bỏ mẹ thì dùng
con làm gì nữa. Xin Bệ hạ hãy phế Nghi Cựu mà tôn Bá Phục lên Ðông-cung.
U-vương mừng lắm, lập tức
hạ chiếu bắt Thân-hậu giam vào lãnh cung, cắt ngôi Nghi Cựu, lập Bao Tự lên làm
Chánh-hậu, Bá Phục làm Ðông-cung Thái-tử.
Lại ra lệnh nếu ai ngăn cản
sẽ bị khép vào tội phản nghịch.
Quần thần nhiều người lấy
làm bất bình, nhưng không dám nói, vì thấy ý vua đã quyết, can gián không ích
gì mà hại đến thân.
Bá Đương Phụ tức tốc xin
từ quan, về làng dưỡng lão, còn các vị trung thần khác, lần lượt bỏ chức cũng
nhiều.
Bao Tự tuy được phong
làm Hoàng-hậu nhưng chưa lấy thế làm vui. Cả ngày ít nói, không cười, không ai
hiểu nổi được lòng nàng cả. Có lẽ nàng đang ước vọng những cái gì xa xôi nữa
chăng?
U-vương thấy Bao Tự
không cười, lòng bâng khuâng lo lắng, bèn triệu tất cả nhạc công trong triều tập-họp
đến để đờn ca hát xướng cho nàng vui, song vẫn không thấy nàng cười lên một tiếng
nào.
U-vương nghĩ thầm:
- Ta phế lập Chánh-cung
và Ðông-cung mục đích để làm vui lòng nàng, thế mà không được nàng trao cho một
nụ cười thật là đau đớn.
Nghĩ như vậy bèn thỏ thẻ
hỏi Bao Tự:
- Ðờn ca như thế không
làm cho ái-khanh vui sao?
Bao Tự đáp:
- Tâu Bệ hạ, thần thiếp
nhớ lại tiếng xé lụa trước đây còn vui tai hơn là tiếng âm nhạc.
U-vương cả mừng nói:
- Ái khanh ưa nghe tiếng
xé lụa, sao ái khanh không nói cho sớm.
Nói rồi truyền quan giữ
kho mỗi ngày đem vào cung một trărn tấm lụa, lại khiến các cung-nữ khỏe mạnh
thay phiên nhau xé để làm vui Bao Tự.
Nhưng quái thay! xé đến
bao nhiêu lụa vẫn chưa thấy Bao Tự cười một tiếng nào.
U-vương lo lắng, hỏi:
- Ðã ưa tiếng xé lụa, và
lụa cũng đã xé rất nhiều, sao trẫm chưa thay ái-khanh vui.
Bao Tự mặt lầm lì không
đáp.
U-vương se thắt cõi lòng
nói:
- Thế nào trẫm cũng tìm
cách làm cho ái-khanh cười lên một tiếng.
Bèn ra lệnh khắp triều
thần, ai có kế gì làm cho Bao Tự cười lên một tiếng sẽ được thưởng ngàn vàng.
Quách Thạch Phủ quỳ tâu:
- Tâu Bệ hạ, ngày trước Tiên-vương
có lập mười cái phong-hỏa-đài tại núi Ly Sơn, lại tạo mấy chục cỗ trống rất lớn,
để mỗi khi có giặc Tây Nhung đến xâm lấn thì nổi lửa gióng trống lên. Các chư hầu
nghe thấy đem binh đến cứu. Từ ấy đến nay, trong nước thái bình, nên phong-hỏa-đài
không dùng đến. Nếu Bệ hạ muốn làm cho Chánh-hậu vui cười, xin Bệ hạ hãy cùng
Chánh-hậu đến Ly Sơn du ngoạn, rồi nữa đêm đốt phong-hỏa-đài lên, đánh trống
cho thật dữ, binh viện các chư hầu ắt đem binh đến cứu. Chừng ấy, không thấy giặc
giã gì cả, các chư hầu phải lục tục kéo quân trở về, như thế làm sao Chánh-hậu
khỏi tức cười.
U-vương đắc ý vỗ tay cười
lớn, nói:
- Kế ấy rất hay!
Bèn dắt Bao Tự lên Ly Sơn
bày tiệc ăn uống rồi truyền quân nổi lửa đốt phong-hỏa-đài.
Lúc ấy Trịnh Bá Hữu đang
làm chức Tư-đồ tại trào, nghe việc ấy thất kinh, vội vã chạy đến Ly Sơn, quỳ
móp xuống đất tâu rằng:
- Tâu Bệ hạ, phong hỏa đài
Tiên-vương lập lên là để thông tin tức với chư hầu khi trong nước có biến, nay
vô cớ mà Bệ hạ đốt lửa, gạt chư hầu để làm trò vui, về sau thoảng có điều binh
đao bất trắc, đốt phong-hỏa-đài lên thì ai còn tin mà đến cứu viện, xin Bệ hạ
chớ nên làm việc đó.
U-vương nổi giận mắng:
- Nay thiên hạ đang vui
hưởng thái bình thì cần gì quân cứu viện. Trẫm và Vương-hậu ra đây du ngoạn,
không có gì tiêu khiển nên mượn kế làm vui. Nếu sau này có giặc lại can hệ gì đến
ngươi sao mà ngươi lo lắng.
Trịnh Bá Hữu nghe nói thở
dài, lủi thủi bước ra.
U-vương truyền quân đốt
lửa, và gióng trống lên. Ánh lửa rực trời, tiếng trống vang như sấm.
Các chư hầu ngỡ là Kiểu
Kinh có giặc, vội vàng kiểm binh, điểm tướng suốt đêm kéo đến Ly Sơn. Ðến nơi
thì nghe trên lầu đàn ca, hát xướng, lại thấy U-vương cùng Bao Tự đang uống rượu
vui vầy.
Thấy quân sĩ các chư hầu
rầm rộ kéo đến, U-vương mỉm cười ra đứng trước hiên lầu, nói lớn rằng:
- Trẫm may mắn không có
giặc giã chi, chẳng dám phiền đến các chư hầu.
Các chư hầu đều ngơ ngác
nhìn nhau rồi bẽn lẽn cuốn cờ, dẹp trống, ai về nước nấy.
Bao Tự đứng trên lầu
trông xuống thấy quân lính khắp nơi ồ ạt kéo đến, rồi lại lặng lẽ ra về thích
chí vổ tay cười dài.
U-vương ôm Bao Tự vào
lòng nói:
- Ái-khanh ơi! một tiếng
cười của ái khanh chẳng những làm vui lòng ta, mà còn tô thắm vạn màu tươi
trong vũ trụ, ấy cũng nhờ công của Quách Thạch Phủ đó.
Nói xong, truyền quan giữ
kho lấy ngàn vàng đem thưởng cho Quách Thạch Phủ.
Người sau có bài thơ vịnh
việc đốt lửa ấy như sau:
Ðốt lửa đêm thanh đỏ rực trời
Cờ trống chư hầu bôn bả tới
Giúp vui chỉ một nụ cười tươi
Ðây nói về Thân-hầu, khi
nghe U-vương phế Thân-hậu, lập Bao Tự, lòng buồn bã, lập sớ gợi đến can rằng:
- Xưa vua Kiệt mê nàng Muội
Hỷ mà nhà Hạ hư, vua Trụ mê nàng Ðát Kỷ mà nhà Thương mất. Nay Bệ hạ đắm say
Bao Tự, phế bỏ dòng chánh lập ra dòng thứ là trái nghĩa phu thê, hại tình phụ tử.
Xin Bệ hạ lấy cái gương nhà Hạ, nhà Thương mà tránh cho nhà Châukhỏi điều tai
biến.
U-vương xem sớ cả giận,
vỗ án hét:
- Quân phản tặc, sao dám
loạn ngôn như thế!
Quách Thạch Phủ quỳ tâu:
- Tâu Bệ hạ, Thân-hầu
trước đây thấy Bê-hạ đuổi Thái-tử đem lòng oán hận, nay lại nghe Chánh-hậu bị
truất ngôi, ý muốn mưu phản, nên mới dám dâng biểu hài tội Bệ hạ như vậy.
U-vương hỏi:
- Như thế thì nay trẫm
phải đối xử làm sao?
Quách Thạch Phủ tâu:
- Thân-hầu vốn chẳng có
công cán chi, nhờ Thân-hậu mà được phong đến tước hầu. Nay Thân-hậu và Thái-tử
đã bị truất phế, thì cũng nên truất Thân-hầu xuống tước Bá như cũ, rồi dám binh
đến vấn tội để trừ hậu hoạn.
U-vương y tấu, hạ chỉ cách chức Thân-hầu, lại khiến Quách Thạch Phủ kiểm điểm binh mã, kéo đến nước Thân vấn tội.
------------------------------------------------------
Vua Bình-vương thiên đô lạc ấp
Từ ngày Thân-hầu dâng biểu
can vua, lòng nơm nớp lo âu chẳng biết ý vua như thế nào, vội sai quân đi thám
thính.
Quân về báo:
- U-vương sai Thạch Phủ
làm đại tướng, dẫn binh sang nước Thân vấn tội.
Thân-hầu thất kinh, hội
các tướng tá thương nghị.
Thân-hầu nói:
- Nước ta đã nhỏ mà binh lại ít, làm sao cự
cho lại binh vua.
Quan Ðại-phu Lữ Chương quỳ tâu:
- Tâu Chúa công, tuy nước
ta là một chư hầu nhỏ, song Thiên tử vô đạo, ngoài thì bỏ trung dùng nịnh,
trong thì phế chánh lập thứ, làm lắm điều bạo ngược. Nay nước Tây-Nhung binh hùng
tướng mạnh, lại giáp ranh với nước Thân, xin Chúa công gởi thư cầu cứu, mượn
binh kéo về Kiểu Kinh đặng cứu Chánh-hậu, bắt vua phải nhường ngôi cho Thái-tử,
ấy là noi theo gương Y-Doãn, Châu công đó.
Thân-hầu khen phải, bèn
khiến người đem một xe vàng lụa mang qua nước Tây Nhung mượn quân, lại hứa rằng,
nếu phá được Kiểu Kinh thì bao nhiêu vàng bạc trong kho tự ý muốn lấy bao nhiêu
cũng được.
Nhung-chúa được thư,
nghĩ thầm:
- Thiên tử bất chánh,
Thân-hầu là vị quốc-cựu lại viết thư đến cầu cứu, ta đem quân dựng lại ngôi
Thái-tử, đó là thuận lẽ trời, rất hợp với ý ta.
Nghĩ rồi sai Mãng Tốc và
Bột Đình, làm tả hữu tiên-phong, điểm binh mười vạn, kéo đến Kiểu Kinh. Còn Nhung-chúa
thống lãnh đạo trung quân đi sau làm hậu vệ.
Ðến nơi, Nhung-chúa đốc
quân vây thành kín mít.
Quân vào báo. U-vương thất
kinh nói:
- Cơ bắt mật, họa tiên
phát. Ta chưa kịp cất quân đi đánh mà giặc đã đến vây thành, biết làm sao bây
giờ?
Quách Thạch Phủ quỳ tâu:
- Xin Bệ hạ sai người đền
phong-hỏa-đài đốt lửa lên, tất nhiên các chư hầu đem quân đến cứu. Chừng ấy
trong đánh ra ngoài đánh vô ắt quân giặc không còn đường trốn thoát.
U-vương nghe lời, sai
người đến Ly Sơn, đốt lửa cháy ngất trời mà chẳng thấy binh của chư hầu nào đến
cả. Chỉ thấy binh của Thân-hầu kéo đến hiệp với binh của Nhung-chúa vây thành
càng chặt hơn.
U-vương thấy chư hầu
không đến, binh giặc công phá rất gấp, bèn bảo Quách Thạch Phủ:
- Thế giặc mạnh yếu chưa
rõ. Khanh ra đánh thử, rồi trẫm sẽ chọn binh mạnh mẽ mà tiếp ứng.
Quách Thạch Phủ tuy sợ sệt
nhưng phải tuân hành, dẫn binh xe hai trăm cỗ khai thành tiến ra.
Trông thấy Quách Thạch Phủ, Thân-hầu chỉ vào mặt, nói với Nhung-chúa:
- Ấy là đứa khi quân hại
nước, đừng để nó chạy thoát.
Nhung-chúa quay lại hỏi
các tướng tá:
- Ai dám ra bắt thằng giặc
đó chăng?
Bột Đình vung đao, vỗ ngựa
đến thưa:
- Tôi xin lấy đầu tên phản
tặc đó.
Dứt lời, bay ngựa đến
đánh với Quách Thạch Phủ.
Ðánh chưa đặng mười hiệp,
Bột Đình chém Quách Thạch Phủ một đao rơi đầu.
Nhung-chúa thừa thế,
cùng với Mãng Tốc, đốc quân đến chém giết quân của U-vương vô số, rồi kéo vào
thành, đốt phá nhà cửa lửa cháy mịt mù.
Thân-hầu cũng không biết
làm sao ngăn cản được hành động ấy.
Trong thành cả loạn, U-vương
tính thế không xong, bèn chở Bao Tự và Bá Phục lên xe nhỏ, rồi mở cửa sau thoát
ra khỏi thành.
Quan Tư-đồ Trịnh Bá Hữu
chạy theo kêu lớn rằng:
- Xin Bệ hạ chớ sợ, có hạ
thần theo bảo giá đây.
Nói xong, đẩy xe U-vương,
thẳng đến Ly Sơn.
Ði dọc đường gặp Doãn Cầu,
hớt hải chạy đến tâu:
- Tâu Bệ hạ, Khuyển Nhung
đốt hết cung thất, chở hết vàng bạc trong khọ, còn Quách-công đã tử trận rồi.
U-vương run rẩy hối Trịnh
Bá Hữu đẩy xe đi cho mau.
Khi đến Ly Sơn, Trịnh Bá
Hữu lại đốt phong-hỏa-đài lên, khói bay ngất trời xanh, mà cũng không thấy chư
hầu đến cứu.
Chẳng bao lâu, quân Khuyển
Nhung tràn tới, vây dưới chân núi đông nghẹt.
U-vương và Bao Tự đều thất
kinh, nhìn xuống chân núi mà khóc ròng.
Trịnh Bá Hữu tâu:
- Việc đã gấp rồi, hạ thần
xin liều mình bảo giá, đưa Bệ hạ ra khỏi vòng vây, qua bên nước tôi rồi liệu bề
khôi phục.
U-vương nói:
- Bởi trẫm chẳng nghe lời
thúc-phụ nên mới đến nỗi này. Nay trẫm chỉ còn nhờ ở tay thúc-phụ mà thôi.
Trịnh Bá Hữu bèn khiến
người nổi lửa đốt Ly-cung đi, đặng gạt Khuyển Nhung, rồi phò U-vương xông xuống
núi.
Trịnh Bá Hữu cầm xà mâu
đi trước mở đường, Doãn Cầu phò mẹ con Bao Tự theo sau U-vương.
Ði chưa đặng bao xa, gặp
viên cận tướng của Khuyển Nhung là Cổ Lý Xích xốc đến đón đường.
Trịnh Bá Hữu cả giận,
hươi xà mâu rước đánh.
Hai đàng đánh chưa đặng
mười hiệp Cổ Lý Xích cự không lại, bị Trịnh Bá Hữu đâm nhào xuống ngựa.
Ðàng sau, binh sĩ lại ó
lên, Trịnh Bá Hữu quay nhìn lại, thấy Bột Đình đem binh truy cản.
Quân Khuyển Nhung quá mạnh,
Trịnh Bá Hữu chỉ có một mình không làm sao cự cho nổi, đánh đỡ một hồi, bị tên
bỏ mạng!
Còn xe của U-vương bị
Mãng Tốc bắt lại đem nạp cho Nhung-chúa.
Nhung-chúa rút đao chém U-vương
và Bá Phục. Còn Bao Tự, vì thấy xinh đẹp, nên Nhung-chúa không chém, bắt về nơi
trướng mà giao hoan, thù lạc.
Doãn Cầu quá sợ hãi núp
trong xe, bị quân Khuyển Nhung trông thấy, kéo cổ ra mà chém.
Giữa lúc đó, Thân-hầu thấy
lửa dậy trong cung liền đem binh vào chữa, và thả Thân-hậu ra. Ðoạn đi tìm U-vương,
song không thấy đâu cả.
Bỗng thấy Nhung-chúa đem
binh vào thành cười hả hê nói:
- Tôi đã giết hôn quân rồi.
Thân-hầu kinh ngạc, nói:
- Tôi muốn đem binh vấn
tội để răn vua, không ngờ lại xảy ra cơ sự này. Chúng ta không làm sao tránh khỏi
mang tiếng về sau.
Nói rồi sai người khâm
liệm, làm lễ an táng U-vương.
Chôn cất xong, Thân-hầu
trở về Kinh sư, bài tiệc đãi đằng Nhung-chúa để tạ ơn, và lấy vàng lụa trong
kho sắp lên mười xe, để làm quà tiễn hành đưa Nhung-chúa về nước.
Nhưng không ngờ Nhung-chúa
lấy việc giết U-vương làm công trạng, không chịu đem binh về, cứ luẩn quẩn nơi Kinh
thành ăn uống, chơi bời, phá phách nhân dân. Ai nấy đều oán trách.
Thân-hầu không biết làm
thế nào, túng phải làm thư sai người đem đến ba xứ chư hầu: Tấn-hầu Cơ-cừu nước
Bắc-lộ, Vệ-hầu Cơ-hòa nước Ðông-lộ, và Tần-hầu Dinh-khai nước Tây-lộ.
Lại sai người qua bên nước
Trịnh, đem việc Trịnh Bá Hữu bị tử trận tin cho Thái-tử Quật Đột (con của Trịnh
Bá Hữu) đem quân qua báo thù.
Thái-tử Quật Đột tuổi mới mười ba, mà mình cao tám thước, sức mạnh phi thường, lại thông minh tài trí, ít người sánh kịp.
Ngày kia, nghe được tin cha tử trận, đau xót không cùng, liền mặc tang phục,
đem ba trăm cỗ xe trận sang Kiểu-Kinh báo thù.
Nhung-chúa hay tin kiểm
điểm binh mã, đề phòng dự chiến.
Vừa đến nơi Thái-tử Quật
Đột muốn ra quân, nhưng Công tử Thành can rằng:
- Binh ta đường xa mới đến,
còn mệt mỏi, nếu đánh e khó thắng. Xin cứ an đinh hạ trại, chờ binh các nước chư
hầu kéo đến, hiệp sức công phá thì mới thành công đặng.
Quật Đột nói:
- Binh quý thần tốc. Nếu
đợi lâu chểnh mảng lòng quân. Vả lại, nhân lúc binh Khuyển Nhung đang bê trễ,
không đánh để trả thù cha còn đợi chừng nào.
Nói xong, thúc quân ra
trận, đến trước cửa thành kêu Nhung-chúa mắng rằng:
- Hỡi tên giặc mọi! Hãy
đem đầu mà nạp cho ta để đền lại tội phản phúc!
Trên thành không ai ra ứng
đáp.
Quật Đột tức giận, truyền
quân công phá.
Trong lúc quân sĩ đang
phá thành rất hăng, thì bỗng nghe một hồi thanh la nổi lên vang dậy nơi phía rừng
rậm, rồi một đạo quân kéo ra (đó là đạo binh của Nhung-chúa sai phục sẵn ở đó).
Quật Đột vội vàng xua
binh đón đánh.
Trong lúc hai bên đang
xáp trận, trong thành lại có tiếng thanh la nổi lên, cửa thành mở rộng, trong
thành xông ra một đạo binh nữa.
Quật Đột bị hai đạo binh
của Bột Đình và Mãng Tốc đánh ép lại một lượt, làm cho binh sĩ rối loạn bỏ chạy.
Quật Đột cũng hoảng vía,
giục ngựa chạy dài. Chạy đến ba mươi dặm mới dám an đinh hạ trại.
Quật Đột bị thất trận trở
về, than thở với Công tử Thành rằng:
- Bởi ta không nghe lời
nên mới mang thảm bại, nay liệu làm sao?
Công tử Thành đáp:
- Từ đây đến Bộc Dương
không xa, Vệ-hầu là người từng trải, vậy xin Chúa công hãy đến đó cầu cứu người,
rồi hiệp binh tấn công một lượt mới thắng nổi.
Quật Đột nghe theo khiến
đẩy xe sang Bộc dương thành.
Ði được vài ngày, bỗng
thấy một đạo binh mã cờ xí rộn ràng, cầm đầu là một vị chư hầu mặc áo gấm, buộc
đai vàng, tóc xanh râu bạc, giống như một vị tiên thần giáng thế. (Người đó là
Vệ công, tên Cơ-hòa, tuổi đã chín mươi).
Quật Đột mừng rỡ, dừng
binh lại, kêu lớn:
- Tôi là Thái-tử nước Trịnh,
tên Quật Đột, bị Khuyển Nhung xâm phạm Kinh-sư, giết cha tôi, tôi đem binh vấn
tội, chẳng ngờ lại bị thua, phải đến đây cầu cứu ngài.
Vệ công xuống ngựa thủ lễ
và nói:
- Thái-tử hãy an lòng.
Tôi nguyện đem binh giúp đỡ. Vả lại tôi có nghe binh Tấn và Tần cũng sắp đến
đây thì có lo chi không trừ được lũ giặc đó!
Quật Đột cúi đầu cảm tại
rồi hiệp binh cùng với Vệ công kéo đến Kiểu-Kinh.
Ðến nơi binh hai nước chư
hầu Trịnh, Vệ hạ trại cách Kinh thành hai mươi dặm, lại sai quân đi thám thính
tin tức nước Tần và nước Tấn.
Quân thám thính về báo:
- Phía Tây có tiếng
chiêng trống vang trại, lại có một ngọn cờ thêu chữ "Tần" rất lớn.
Vệ công nói:
- Nước Tần tuy là một nước
Phụ-dung (nước phụ chư hầu, phải cống hiến và nghe theo lệnh nước chư hầu) ít
binh mã, song binh tướng rất tinh nhuệ, đã làm cho rợ Khuyển Nhung lắm phen khiếp
sợ.
Nói vừa dứt lời thì lại
có tin báo:
- Quân nước Tấn cũng đã
kéo đến đóng nơi phía Bắc.
Vệ công mừng rỡ, nói:
- Quân hai nước Tần, Tấn
đã kéo đến thì còn lo gì đại sự chẳng thành.
Bèn sai người sang mời Tần
công và Tấn công đến hội kiến.
Trong giây phút, hai vị
chư hầu ấy đều đến trại Vệ công đàm đạo.
Thấy Quật Đột mặc tang
phục, Tần công và Tấn công hỏi:
- Chẳng hay người ấy là
ai vậy?
Vệ công đáp:
- Ðó là Thái-tử Quật Đột,
con của Trịnh Bá đó.
Ðoạn kể lại chuyện U-vương
và Trịnh Bá Hữu bị chết.
Hai vị chư hầu Tần, Tấn
ngậm ngùi thương tiếc.
Vệ công nói:
- Nay lão phu đã già yếu,
đến đây cũng chỉ vì nhiệm vụ thần tử. Vậy trăm việc xin ủy thác cho hai ngài định
liệu, chẳng hay hai ngài đã có kế hoạch nào chưa?
Tần công đáp:
- Quân Khuyển Nhung chẳng
qua tham tiền mê sắc mà tác loạn Kinh thành. Nay binh ta mới đến chắc chúng
chưa kịp đề phòng. Vậy đêm nay chia quân làm ba mặt Ðông, Nam, Bắc mà đánh vào
một lượt, còn phía Tây để cho Trịnh Thái-tử đem quân mai phục. Làm như thế ắt
trọn thắng.
Vệ công khen là diệu kế.
Mỗi người trở về lo việc điểm quân.
Lúc bấy giờ, Thân-hầu ở
trong thành hay được có binh bốn nước đến, trong lòng mừng rỡ, lén bàn với Chu Công
Huyến rằng:
- Bốn nước đã hiệp binh,
thế nào cũng chia làm bốn đạo công phá. Vậy ta chờ họ phá thành sẽ mở cửa ra ứng
tiếp.
Ðoạn bàn với Nhung-chúa
sai Bột Đình chở vàng bạc lụa là vệ nước để bớt vây cánh. Lại khiến Mãng Tốc
kéo binh Khuyển Nhung ra ngoài thành cự địch.
Nhung-chúa đâu rõ kế của
Thân-hầu, ngỡ thiệt nên làm theo.
Mãng Tốc kéo binh ra khỏi
thành đóng trại nơi cửa phía Ðông đợi rạng ngày sẽ giao chiến, không dè qua đến
canh ba, binh Vệ đến cướp trại, túng thế phái bỏ chạy.
Binh ba nước ồ lên phá
thành một lượt Thân-hầu vội vã mở tung bốn cửa thành cho quân ngoài tràn vào.
Nhung-chúa đang ngủ say,
hay được tin kinh hãi vội lên ngựa chạy ra cửa phía Tây gặp đạo binh phục của
Quật Đột chặn lại.
Hai đàng rước đánh.
Ðương khi nguy cấp xảy ra, có đạo binh thua của Mãng Tốc kéo đến giải vây, nên Nhung-chúa
mới chạy thoát được.
Quật Đột không đuổi
theo, kéo quân vào thành hội với các nước.
Lúc bấy giờ Bao Tự đang
ngủ, giật mình thức dậy thấy Nhung-chúa bỏ chạy, lại nghe bốn mặt thành quân sĩ
ó vang, muốn theo Nhung-chúa song không kịp, túng thế phải rút gươm tự vẫn.
Ôi thôi! Hồng nhan một
kiếp, cánh hoa sắc nước hương trời mới dựa hơi đông-phong đã phải dập vùi dưới
làn mưa bão, không kẻ xót thương.
Người sau có bài thơ
trách Bao Tự như sau:
Phong- đài khói tỏa chửa mờ phai
Nụ cười còn mãi rung trong gió
Nhung Khuyển, U-vương ai hỡi ai!
Ngày ấy Thân-hầu đặt tiệc
khoản đãi.
Trong lúc đang ăn uốngVệ
công buồn bã buông đũa nói:
- Nước biến, vua mất,
chúng ta còn vui sướng gì mà ngồi ăn uống?
Các chư hầu nghe nói đều
đứng dậy vòng tay thưa rằng:
- Chẳng hay hiền hầu có
điều chi dạy bảo chăng?
Vệ công nói:
- Nước không thể để một
ngày không có vuạ Nay Thái-tử còn ở bên nước Thân vậy phải rước về mà tôn lên Thiên
tử.
Tần Tương-công nói:
- Hiền-hầu nói rất phải,
chúng ta nỡ nào ăn uống vui vầy mà quên nhiệm vụ trọng đại đó sao!
Quật Đột nói:
- Tôi chưa có công cán
chi, xin nguyện qua nước Thân rước Thái-tử cho.
Vệ công cả mừng, rót rượu
khuyên mời rồi lập tức viết biểu chương và sửa sang xe giá đi đón Thái-tử. Các chư
hầu đều xin đem quân theo hộ tống.
Quật Đột nói:
- Việc này không phải là
việc đi đánh giặc, chẳng cần phải nhiều quân. Chỉ một đạo quân của tôi đây cũng
đủ rồi.
Hôm sau, Quật Đột lên đường
sang nước Thân.
Lúc bấy giờ Thái-tử Nghi
Cựu đang ở nước Thân, ngày ngày buồn bực, không biết Thân-hầu ra đi đã lâu lành
dữ thế nào, xảy có quân vào báo rằng:
- Trịnh Thái-tử đem biểu-chương
đến rước Thái-tử về Kiểu-kinh.
Thái-tử Nghi Cựu nghe
nói, lật đật ra rước vào, giở biểu ra xem mới hay U-vương đã thác về tay Khuyển
Nhung, liền khóc oà.
Quật Đột tâu:
- Xin Thái-tử lấy giang
sơn, xã tắc làm trọng, trở về tức vị cho an lòng dân.
Thái-tử nói:
- Nay ta đã mang danh bất
hiếu với thiên hạ, lẽ ra không nên trở về trị nước, nhưng chẳng lẽ không nể lời
các trấn chư hầu.
Nói rồi bèn sửa soạn lên
xe trở về Kinh.
Về đến nơi, thấy các trấn
chư hầu đã dẫn binh ra cách thành ba mươi dặm đón tiếp.
Thái-tử vào thành, thấy
cung điện hoang tàn sập đổ, lòng bùi ngùi ứa lệ, rồi phụng mệnh Thân-hầu làm lễ
cáo miếu mà lên ngôi, xưng hiệu Châu Bình-vương.
Các chư hầu và bá quan
triều bái tung hô.
Bình-vương cầm tay
Thân-hầu phán rằng:
- Trẫm là người đã bị phế,
mà còn đặng hưởng nghiệp tổ tông như vầy cũng là nhờ ở Quốc-cựu.
Nói xong, bèn phong chức
Thân-hầu làm Thân công.
Thân-hầu tâu:
- Tâu Bệ hạ, Kiểu-Kinh
không mất là nhờ có quân các chư hầu kéo về giải tỏa. Hạ thần đã không ngăn cản
nổi Khuyển Nhung để làm hại Tiên-vương thì thật là đắc tội.
Nói rồi từ chối không nhận.
Bình-vương lại gia phong
cho các trấn chư hầu và phong hàm ân cho Trịnh Bá Hữu rồi yết bản phủ dụ nhân dân.
Ngày thứ, vua Bình-vương
lưu Vệ công làm Tư-đồ, Quật Đột làm khanh sĩ tại triều, Chu Công Huyến làm
Thái-tử cùng coi việc nước. Riêng Thân-hầu và Tần Tương-công vì đất nước giáp
ranh với Khuyển Nhung nên phải cáo từ ra về.
Thân-hầu thấy Quật Đột tướng
mạo khôi ngô, thông minh xuất chúng, bèn đem con gái mình là Khương-thị gả cho
Quật Đột.
Nhắc qua Nhung-chúa, từ
ngày kéo quân vào Kiểu-kinh đã thuộc đường thuộc nào, tuy bị các chư hầu đánh bại
song quân sĩ còn đông, lại nghĩ đến công lao khó nhọc mà không được hưởng gì,
thì giận lắm, xua quân vào đánh phá chiếm một nữa đất Kỳ-phong làm chỗ trú quân
để xâm lấn Kiểu-Kinh.
Bình-vương thấy đất Kiểu-Kinh
trong mấy tháng giặc giã tàn phá, cung thất bị hư, phong cảnh tiêu điều, có ý
muốn dời đô sang Lạc Ấp, bèn triệu các quan hỏi ý kiến.
Các quan cùng tâu:
- Lạc Ấp là nơi trung tâm
của thiên hạ, nên trước đây Tiên-vương đã ra công sửa sang rất vững chắc, gọi
là Ðông-đô. Năm nào ở đó cũng có hội chư hầu. Nay nếu Bệ hạ muốn dời đô sang đó
thì tiện lắm.
Vệ công nghe các quan
tâu, thở dài, rồi cúi đầu tâu:
- Tâu Bệ hạ, hạ thần đã
hơn chín mươi tuổi, được Bệ hạ tưởng tình cho dự vào quốc-sự, nay nếu các quan
luận như vậy mà hạ thần không nói e mang tội bất trung. Vả chăng Kiểu-kinh là
nơi lập nghiệp đế, bốn bề núi sông hiểm trở, còn Ðông-đô tuy là giữa úm nước,
nhưng trống trải, không làm sao tránh nổi mũi giặc.
Bình-vương nói:
- Trẫm cũng biết Kiểu-kinh
là nơi Tiền vương lập nghiệp, lẽ ra phải gìn giữ không nên bỏ phế, song hiện
nay Khuyển Nhung cướp lấn nơi Kỳ-phong, thế rất hung hăng. Trong cung, các kho
tàng bị cháy, nếu sửa sang e tốn công của muôn dân. Cực chẳng đã trẫm mới dời
đô qua đó mà thôi.
Vệ công tâu:
- Khuyển Nhung là lũ sài
lang chẳng nên cho nó vào nước. Bởi Thân-hầu tính liều, mượn binh của nó chẳng
khác nào mở cửa rước kẻ cướp vào, cho nên cung thất phải tan, Tiên-vương bị hại.
Nay Bệ hạ nên coi đó là một mối thù, quyết lòng rửa hận, bắt Khuyển Nhung mổ mật
đem tế nơi Thái-miếu để làm gương. Nếu Bệ hạ tránh kẻ thù thì kẻ thù sẽ tìm Bệ
hạ mà tới. Thuở trước Ngu Thuấn làm vua ở nhà tranh thềm đất, vua Ðại-võ ở cung
thấp hẹp mà không tưởng là xấu, xin Bệ hạ xét lại.
Chu Công Huyến quỳ tâu:
- Tâu Bệ hạ, lời luận của
quan Tư-đồ không đúng với quyền biến. Trước kia Tiên-vương bỏ việc quốc chính,
làm rối đạo cang thường mà sinh giặc. Việc ấy đã lỡ rồi không phải nói làm chi.
Nay Bệ hạ muộn bỏ hết những cái gì xấu xa lúc trước, làm cho mọi người ai cũng
thấy rằng Bệ hạ là tượng trưng cho một sự kiến quốc mới mẻ, thế thì việc dời đô
rất có ảnh hưởng tốt trong lòng bá tánh.
Vệ công lắc đầu, tâu:
- Tâu Bệ hạ, thắng giặc
phải căn cứ ở lòng người, mà còn hãy dựa trên sức mạnh, nghĩa là phải giữ được
những chỗ hiểm yếu. Nay Thân-hầu đem Khuyển Nhung vào nước đặng thì cũng có thể
dẹp nó đặng. Xin Bệ hạ sai sứ hỏi người xem có kế nào hay chăng?
Lúc đang thương nghị, bỗng
có tin Thân-hầu sai người đem văn biểu đến.
Bình-vương mở ra xem, thấy
trong văn biểu viết như sau:
Giặc Khuyển Nhung đem
quân xâm lấn nước Thân, xin Bệ hạ nghĩ tình đem binh cứu ứng, kẻo nước Thân khó
bề giữ nổi.
Xem biểu xong, Bình-vương
nói:
- Thân-hầu lo phận mình
chưa xong, làm sao lo việc trẫm. Thôi, ý trẫm đã quyết các khanh khá tuân lời.
Ðoạn truyền quan Thái-sư
chọn ngày dời đô.
Vệ công tâu:
- Nay vì tránh giặc mà Bệ
hạ dời đô, e lòng dân không tránh khỏi ly-tán. Vậy xin Bệ hạ cho phép hạ thần
đăng bảng cho nhân dân hay đã.
Vua nhậm lời. Vệ công
bèn đăng bảng truyền tin cho dân chúng ai muốn theo qua Ðông-đô thì sắm sửa mà
đi.
Kế đó quan Chúc-sử làm
văn biểu cáo với nhà Thái-miếu, rồi quan Lễ-bộ phò thần chủ bảy miếu lên xe đi
trước.
Tần Tương-công nghe tin
vua thiên đô liền thân hành đem quân hộ giá.
Dân gian già trẻ dìu dắt
nhau theo vua chẳng biết bao nhiêu.
-------------------------------------------------
Trịnh Trang tìm mẹ đào hầm đất
Khi Bình-vương đến Lạc-dương thấy
phong cảnh tốt tươi, dân cư trù mật không kém gì Kiểu-kinh, trong lòng mừng rỡ.
Kinh đô định xong, cả chư hầu đều
dâng biểu chúc mừng, duy chỉ có nước Sở chẳng thấy đến.
Bình-vương nổi giận muốn khởi
binh vấn tội.
Quần thần can rằng:
- Nước Sở chẳng tuân vương hóa đã
lâu, xưa Tuyên-vương phải lắm phen chinh phục. Từ đó cứ hàng năm đem cống hiến
một xe thanh-mao để dùng đặt rượu mà tế tự. Lệ ấy cũng chỉ cho có chừng đó
thôi. Nay Bệ hạ mới dời đô, lòng người chưa định, nếu đem binh chinh phạt e khó
thắng. Xin Bệ hạ chờ cho binh hùng tướng mạnh sẽ tính đến việc đó cũng chẳng muộn
chị.
Bình-vương nghe nói cũng đổi giận
làm vui, không tính việc chinh Nam nữa.
Kế đó Tần Tương-công cáo từ về nước.
Bình-vương nói:
- Nay đất Kỳ-phong bị giặc Khuyển
Nhung chiếm giữ, quấy rối dân lành. Nếu nhà ngươi đánh đuổi được thì ta cho đất
ấy để đền đáp lại công hộ giá thiên đô.
Tần Tương-công bái mạng lui về, sắm
sửa binh mã lo kế đánh đẹp Khuyển Nhung.
Chẳng bao lâu, giặc Khuyển Nhung
bị giết sạch, tướng Khuyên Nhung là Bột Đình và Mãng Tốc đều tử trận, còn Nhung-chúa
trốn ra giải đất hoang nơi phía Tây mà tạm trú.
Ðất Kỳ-phong sát nhập vào nước Tần,
rộng rãi hơn ngàn dặm.
Từ ấy nước Tần trở nên đại-quốc.
Thu nhận đất Kỳ-phong chẳng bao
lâu thì Tần Tương-công mất, con là Tần Văn-công lên kế vị.
Một hôm, Văn-công nằm mộng, thấy
một con trăn lớn, từ trên trời sa xuống, trong giây phút lại hóa ra một đứa bé
kêu Văn-công nói:
- Ta là con trời sai xuống báo
cho nhà ngươi được biết: Nhà ngươi sẽ làm Bạch-đế giữ nghiệp nơi phía Tây.
Nói rồi biến mất.
Văn-công đem việc ấy hỏi Thái-sử
Ðôn.
Quan Thái-sử tâu:
- Sắc bạch là sắc của phía Tây. Ấy
là điềm Trời cho Chúa công làm chủ khắp phương Tây đó. Vậy phải tạ ơn trời đất.
Văn-công bèn lập miễu nơi Phu-ấp
mà thờ, lại giết con trâu trắng để tế.
Kế đó, có người ở xứ Trần-thương
săn được một con thú, hình thù giống heo, nhưng lông cứng mà nhọn, đánh không
chết. Họ không biết con gì, bèn đem dâng cho Văn-công. Nhưng, khi đi đến nửa đường
thì gặp hai đứa trẻ chỉ con vật ấy nói: Con thú này tên con Vị, thường ở dưới đất,
hay ăn óc người chết. Hễ đánh nhắm óc nó thì nó chết.
Con vật liền đáp rằng:
- Hai đứa con nít này là Trĩ-tinh
hiện lên. Hễ bắt đặng con trống thì làm Vương, bặt đặng con mái thì làm Bá.
Hai đứa trẻ nghe con vật nói, liền
biến mất.
Con thú cũng biến theo.
Người đi săn kinh hãi, lật đật
báo cho Văn-công haỵ.
Văn-công liền lập miếu nơi núi Trần-thương
để thờ Trĩ-tinh.
Thuở ấy tại núi Chung-nam có cây
Tử lớn, Văn-công muốn đốn về xây cất cung điện, nhưng cưa không đứt, búa chặt
không vô. Ai nấy lấy làm lạ.
Một đêm kia, có người nằm ngủ dưới
gốc cây nghe một bầy quỷ đến chúc mừng cây ấy.
Lại có tiếng hỏi:
- Nếu Tần-vương khiến người bỏ
tóc xõa, và lấy chỉ đỏ quấn xung quanh thân cây thì liệu làm sao?
Sáng hôm sau người ấy đem câu chuyện báo lại cùng Văn-công.
Văn-công khiến người làm y như vậy.
Quả thật, thân cây bị cưa ngã.
Nhưng cây vừa ngã xuống thì một con trâu xanh ở trong thân xông xa, chạy thẳng
xuống sông Ung-thủy. Từ đó, dân chúng thỉnh thoảng lại thấy trâu xanh hiện lên.
Văn-công sai kỵ sĩ đón đánh nhưng
trâu xanh quá mạnh, không làm sao đánh nổi.
Kỵ sĩ bèn bỏ tóc xõa mà đánh,
trâu xanh mới chịu chạy xuống nước.
Văn-công bèn chế ra cờ ngũ sắc để
nơi quan trung, lại lập miễu mà tế vị thần trâu ấy.
Lúc bấy giờ, vua Huệ-công nước Lỗ
nghe nước Tần tế lễ trời, bèn sai Thái-tế Nhượng đến xin vua Bình-vương cho
phép mình được tế giao và tế lễ.
Bình-vương không chọ.
Huệ-công nói:
- Tổ ta là Chu-công, có công lớn
với nhà vua, vả lại lễ nhạc do tổ ta bày chế, nay con cháu dùng thì có hại chị.
Hơn nữa, Thiên tử đã không cấm nước Tần sao lại cấm nước Lỗ.
Bèn không kể đến mạng vua, cứ tế
giao, tế lễ như nhà vua vậy.
Vua Bình-vương biết việc ấy nhưng
không dám nói.
Từ đấy nhà Châu ngày một suy yếu.
Các nước chư hầu chuyên quyền, xâm bờ lấn bờ cõi nhau, gây rối rắm trong khắp
thiên hạ.
Nói về Trịnh Thế tử là Quật Đột,
từ khi cha chết, lên kế vị, tự xưng hiệu là Trịnh Võ-công.
Nhân khi nhà Châu suy yếu, chiếm
cả đất Quốc và đất Khoái, làm thành một nước lớn.
Trịnh Võ-công và Vệ Võ-công đều
kiêm chức khanh sĩ tại triều nhà Chu.
Qua năm Bình-vương thứ mười ba, Vệ
Võ-công thất lộc, còn một mình Trịnh Võ-công bình chánh, lúc thì về nước Trịnh,
lúc lại ở nơi triều Châu.
Vợ Trịnh Võ-công là Khương-thị
sanh đang hai trai, con lớn đặt tên Ngộ Sanh, con thứ đặt tên là Ðoạn.
Ngộ Sanh vì lúc nhỏ bị đẻ ngược
nên Khương-thị không ưa, còn Ðoạn thì hình dung tuấn tú mặt mũi khôi ngô, lại
có sức khỏe lạ thường, nên được Khương-thị yêu mến lắm.
Một hôm, Khương-thị ngỏ ý với chồng:
- Nếu Ðoạn mà được nối ngôi Chúa
công sau này thì hơn Ngộ Sanh gấp bội.
Trịnh Võ-công nói:
- Lớn nhỏ đều có thứ bậc, chẳng
nên xáo trộn luân thường. Vả chăng Ngộ Sanh có lầm lỗi gì mà lại bỏ chánh lập
thứ?
Bèn phong Ngộ Sanh làm Thế tử,
còn Ðoạn thì phong một chỗ nhỏ ở Cung-thành nên gọi là Cung Thúc Đoạn.
Việc ấy làm cho Khương-thị không
vui.
Sau đó, Võ-công qua đời Ngộ Sanh
lên tức vị, xưng hiệu là Trịnh Trang-công, rồi cũng thế chức cha mà làm khanh sĩ
nơi triều nhà Chu.
Khương-thị phu nhân thấy Cung Thúc
Đoạn chẳng có quyền chi, lòng buồn bã, nói với Trịnh Trang-công:
- Con nối nghiệp cha, làm chủ nước
Trịnh, đất rộng mấy trăm dặm ngoài mà lại để cho em một chỗ đất nhỏ mọn vậy mà
đành lòng sao?
Trang-công thưa:
- Ý mẫu hậu dạy thế nào, xin cho
con biết.
Khương-thị phu nhân nói:
- Nếu quả con thương tình ruột thịt
thì việc gì mà không lấy đất Chế-ấp phong cho em.
Trang-công thưa:
- Chế-ấp là nơi hiểm địa, Tiên-vương
đã có lời di chúc, không nên đem phong cho ai, trừ chỗ ấy ra mẫu hậu muốn chỗ
nào con cũng xin vâng lời.
Khương-thị phu nhân nói:
- Nếu vậy thì phong cho Ðoạn đất Kinh
thành.
Trang-công làm thinh, không nói:
- Nếu không bằng lòng thì tốt hơn
con nên đuổi em con ra khỏi nước để kiếm cách dung thân.
Trang-công bùi ngùi, nhìn mẹ nói:
- Thưa mẫu hậu, con đâu dám làm
thế.
Ngày hôm sau Trịnh Trang-công cho
đòi Cung-thúc vào triều phong đất Kinh thành.
Quan Ðại-phu Tề Túc can rằng:
- Tâu Chúa công, Kinh thành đất rộng
dân đông chẳng kém gì Vinh-đường, nếu phong cho Cung Thúc Đoạn ắt sanh hậu hoạ!
Trịnh Trang-công nói:
- Lệnh của mẹ ta, lẽ nào ta dám
cãi.
Bèn phong cho Cung-thúc nước Kinh
thành.
Cung-thúc bái lĩnh rồi lui ra,
vào cung từ biệt Khương-thị.
Khương-thị đuổi hết kẻ tả hữu ra,
rồi nói nhỏ với Cung-thúc:
- Anh con không nghĩ tình cốt nhục
bạc đãi con đã lâu. Hôm nay sở dĩ con được phong đất Kinh thành là nhờ có mẹ
nài nỉ lắm mới được. Nay con đến Kinh thành phải thao luyện binh mã dự bị cho sẵn,
lúc nào có cơ hội, mẹ sẽ tin con hay, kéo binh về mà lấy Trịnh. Mẹ làm nội ứng
thì cái ngôi của Ngộ Sanh sẽ về tay con không khó!
Cung-thúc lãnh mạng, từ tạ qua Kinh
thành.
Từ ấy người ta gọi Ðoạn là
Thái-thúc Kinh thành.
Thái-thúc lại đòi hai quan Tề, Trần
ở hai vùng Tây-bỉ và Bắc-bi đến dụ rằng:
- Ðất của hai ngươi chưởng quản,
nay đã thuộc về đất phong của ta rồi, vậy từ nay thuế vụ phải đem đến đây mà nạp,
còn việc binh tình phải nghe lệnh ta điều khiển.
Hai quan Tế thầy Thái-thúc là con
cưng của Quốc-mẫu, nên không dám cãi lệnh.
Thái-thúc lại thường giả cách đi
săn để luyện tập binh sĩ, gồm thâu cả binh của Tây-bỉ và Bắc-bi, rồi lại cướp
luôn cả đất Yên và đất Lâm-giêng.
Quan Tể hai xứ này thấy rõ hành động
bội phản, lén về triều tâu cùng Trịnh Trang-công haỵ.
Trịnh Trang-công nghe tâu, mỉm cười,
làm thinh không nói gì cả.
Bỗng có người bước ra, nói lớn:
- Tâu Chúa công, tội của Ðoạn
đáng chém đầu, sao Chúa công nỡ ngồi yên?
Trịnh Trang-công xem lại, người vừa
nói đó là Công tử Lữ, liệu là Tử-phong, làm chức Thượng-khanh, bèn hỏi rằng:
- Khanh có ý kiến gì hay chăng?
Công tử Lữ tâu:
- Thái Thúc Đoạn ỷ trong có quốc-mẫu
yêu vì, ngoài cậy có đất Kinh thành là nơi hiểm yếu, luyện tập binh mã, mưu chiếm
đoạt nước Trịnh. Xin Chúa công cho tôi đem quân đến đó bắt Ðoạn đem về trị tội.
Trịnh Trang-công suy nghĩ một
lúc, rồi nói:
- Thái-thúc tuy vô đạo, song tội
lỗi chưa rõ rệt. Nếu giết nó không khỏi đau lòng mẹ ta. Hơn nữa, trong tình ruột
thịt, ta sẽ bị người ngoài dị nghị là bất nghĩa, bất hiếu.
Công tử Lữ cúi đầu tâu:
- Tâu Chúa công, nếu trọng tình
ruột thịt mà không quyết đoán được quốc sự e không tránh khỏi tai họa.
Trịnh Trang-công nói:
- Nếu Thái-thúc cố ý bội phản,
thì thế nào mỗi ngày sẽ mỗi lộng hành thêm. Chừng ấy tội lỗi đã rõ ràng nếu trừng
trị cách nào mẹ ta cũng không nói gì đặng.
Công tử Lữ bùi ngùi, tâu:
- Kiến thức của Chúa công rất xa,
tôi không thế nào sánh kịp. Song chỉ e thế lực của Thái-thúc mỗi ngày một to
khó mà trừ được.
Trịnh Trang-công hỏi:
- Thế thì bây giờ phải làm thế
nào để mẹ ta khỏi oán trách ta là vô đạo.
Công tử Lữ tâu:
- Ðã lâu Chúa công không vào triều
nhà Châu ấy bởi Chúa công lo việc Thái-thúc. Nay phải giả cách vào chầu vua Châu
để cho Thái-Thúc tưởng Kinh-đô bỏ vắng, tất đem binh đến đây chiếm đoạt. Tôi
xin đem quân phục sẳn ở đất Kinh thành, đợi Thái-Thúc cử quân đi, lén vào chiếm
giữ. Còn Chúa công cũng đem một đạo quân theo đường tắt mà đánh ập lại, thì
Thái-thúc dù có cánh bay lên trời cũng không trốn thoát.
Trịnh Trang-công nói:
- Kế ấy rất hay, song chớ nên tiết
lộ ra ngoài.
Công tử Lữ bái tạ lui ra.
Ngày thứ Trịnh Trang-công thăng
điện, nói dối rằng mình bận sang chầu vua Chu, giao việc triều chính cho Tề Túc.
Khương-thị hay đặng tin ấy cả mừng, viết mật thư sai người tâm phúc đem đến Kinh
thành trao cho Thái-thúc. Trong thư ước hẹn nội trong sơ tuần tháng năm phải
hưng binh về lấy nước Trịnh.
Lúc đó vào hạ tuần tháng tư, Công
tử Lữ đã sai người phục nơi yếu lộ, nên bắt được người đem thư ấy.
Công tử Lữ bèn giết quách, rồi
mang thư đem về dâng cho Trịnh-Trang-công.
Trịnh Trang-công rất đau lòng,
nhưng không thể vì tình máu mủ mà dung kẻ phản nghịch, bèn phong bức thư ấy lại
như cũ, rồi sai người tâm phúc của mình đem đến Kinh thành giao cho Thái-thúc.
Ðược thư, Thái-thúc phúc đáp hẹn
ngày mồng năm tháng năm động binh và dặn Khương-thị đến ngày đó phải dựng một
cây bạch kỳ trong thành để biết chỗ tiếp ứng.
Trịnh Trang-công xem thư phúc
đáp, nghĩ thầm:
- Thế này thì mẹ đừng trách con
là vô đạo.
Ðoạn vào từ biệt Khương-thị, dối
rằng mình đi qua Chu, rồi kéo binh ra khỏi thành đến đóng nơi Lâm-giêng.
Công tử Lữ cũng lén đem hai trăm
cỗ xe chiến qua phục gần Kinh thành.
Thúc Đoạn từ khi tiếp được thư đó
liền sai con là Công-tôn Hoạt qua nước Vệ mượn binh, rồi lấy cớ trở về Kinh đô
để coi việc quốc chính, mà kéo quân ra đi.
Công tử Lữ sai người thám thính,
hay tin Thúc Đoạn đi rồi bèn kéo quân vào thành, nồi lửa lên làm hiệu, chiêu tập
bá tánh kể rõ tội mưu phản của Thúc Đoạn. Do đó cả thành bá tánh đều oán ghét Thúc
Đoạn vô cùng.
Còn Thúc Đoạn kéo quân ra đi chưa
đầy nửa buổi, thấy Kinh thành lửa bốc nghịt trời, biết là có biến, vội đem quân
trở về cứu viện.
Về đến nơi, thầy Kinh thành bị
chiếm, lòng đầy căm tức, xua quân vây thành công phá.
Chẳng ngờ, Trịnh Trang-công lại
kéo quân đến đánh, làm cho Thúc Đoạn không biết đường nào mà chạy, túng thế phải
kéo binh đến đất Cung là chỗ được phong trước kia để cố thủ.
Trịnh Trang-công dẫn binh đến phá
thành.
Cung thành chỉ là một ấp nhỏ, làm
sao cự lại binh triều, chẳng bao lâu thành bị phá.
Thúc Đoạn thấy thế đã cùng, ngửa
mặt lên trời than rằng:
- Mẹ ta đã gạt ta, ta còn mặt mũi
nào thấy anh ta nữa.
Nói rồi rút gươm tự vẫn.
Trịnh Trang-công vào thành ôm
thây Thúc Đoạn khóc rống lên một hồi, nói:
- Bởi em làm bậy nên tình huynh đệ
phải chia lìa.
Nói rồi lục trong mình Thúc Đoạn
thấy phong thư của Khương-thị gửi hãy còn, bèn lấy gói chung với bức thư trả lời
của Thúc Đoạn, rồi sai người đem về kinh đô giao cho Tề Túc trình lại cho
Khương-thị.
Trịnh Trang-công lại còn ra lệnh
đưa Khương-thị sang đất Dĩnh mà tá túc, và thề rằng:
- Nếu không phải chốn cửu tuyền
chẳng bao giờ còn thấy mặt nhau nữa.
Phong thư về đến kinh đô,
Khương-thị mở ra xem, lòng thẹn thùng khôn xiết, liệu mình chẳng còn mặt mũi
nào thấy mặt Trịnh Trang-công nữa, bèn lìa khỏi cung môn, ra nơi đất Dĩnh.
Trịnh Trang-công trở về cung,
không thấy mẹ, lòng buồn bã nghĩ thầm:
- Ta đã ép lòng mà để em chết,
nay còn nỡ nào lìa mẹ sao đành! Nhưng đã trót lời thề, biết liệu sao!
Quan trấn Dĩnh-ấp là Dĩnh Khảo
Thúc là một người chí hiếu, nghe tin Trịnh Trang-công đem mẹ đi an trí, lòng bất
mãn, nói với người rằng:
- Dù mẹ có tội lỗi đến đâu, con
cũng không nên bất hiếu. Chúa công làm như thế thật là trái đạo!
Bèn nghĩ ra một kế, bắt mấy con
chim cú đem vào dâng cho Trịnh Trang-công.
Trịnh Trang-công hỏi là chim gì?
Khảo Thúc tâu:
- Tâu Chúa công, đây là giống
chim cú. Giống chim này ban ngày dẫu một vật lớn như trái núi vẫn không trông
thấy, còn ban đêm dầu vật nhỏ bằng sợi tóc cũng thấy rõ. Thật là một giống vật
chỉ thấy được sự nhỏ mà không thấy được sự lớn. Hơn nữa, lúc còn nhỏ chim mẹ kiếm
mồi cho ăn, lúc lớn lên nó không biết gì đến chim mẹ nữa, thật là giống chim bất
hiếu, nên bắt nó mà ăn thịt.
Trịnh Trang-công nghe nói, ngồi lặng
thinh.
Chợt lúc đó có người đem thịt dê
lại dâng cho vua nhắm rượu.
Trịnh Trang-công cắt một miếng
ban cho Khảo Thúc.
Khảo Thúc liền chọn những nơi
ngon cắt gói lại một gói, cất vào túi áo.
Trịnh Trang-công lấy làm lạ hỏi:
- Khanh để dành chi vậy?
Khảo Thúc tâu:
- Tâu Chúa công, mẹ tôi đã già mà
trong nhà lại nghèo khó, ít bao giờ được ăn miếng ngon vật lạ. Nay được Chúa
công ban thưởng, nếu không dành cho mẹ tôi thì tôi không làm sao yên lòng được.
Trịnh Trang-công nói:
- Ngươi thật là một người con chí
hiếu. Tiếc rằng trẫm không thể bằng ngươi được.
Khảo Thúc giả bộ ngơ ngác, hỏi:
- Quốc-mẫu vẫn được mạnh giỏi, cớ
sao Chúa công lại tỏ ý buồn bã?
Trịnh Trang-công đem câu chuyện Thúc
Đoạn bội phản, và đày Khương-thị ra đất Dĩnh, nay hối hận, nhưng mắc phải lời
thề không làm sao trông thấy mặt mẹ.
Khảo Thúc nghe xong, buồn bã tâu:
- Thúc Đoạn đã mất, tình cốt nhục
chia lìa, nay chỉ còn Quốc-mẫu mà Chúa công lại bộ bể phụng dưỡng e lỗi đạo làm
con. Nếu Bệ hạ đã lỡ lời thề, tôi xin dâng kế, có thể trông thấy mặt mẹ mà khỏi
phạm lời thề đó.
Trịnh Trang-công mừng rỡ hỏi:
- Người có kế gì hãy giúp trẫm.
Khảo Thúc tâu:
- Chúa công truyền đào đất đến tận
thạch, rồi làm một cái nhà dưới hầm mà rước Quồc-mẫu đến đó. Chúa công coi như
đó là chốn suối vàng. Hai mẹ con sẽ cởi mở được nỗi lòng nhớ nhung trắc tị mà
không trái lời thề.
Trịnh Trang-công y tâu, bèn sai Khảo
Thúc đem năm trăm tráng dân khoẻ mạnh đến Khúc-vĩ; đào một cái hầm, dưới núi
Ngưu-tì, sâu hơn sáu mươi trượng, làm một ngôi nhà gác trên mặt suối và đặt
thang dài.
Khảo Thúc bái mạng, trước tiên trở
về đất Dĩnh yết kiến Khương-thị, nói rõ lòng hối hận của Trịnh Trang-công, muốn
rước Quốc-mẫu về phụng dưỡng, sau đó, mới đến Ngưu-tì lo việc đào suối.
Chẳng bao lâu công việc hoàn
thành. Khảo Thúc liền đưa Khương-thị đến Ngưu-tì và viết biểu dâng cho Trịnh
Trang-công haỵ.
Trịnh Trang-công đến nơi thấy mẹ,
vội sụp lạy, nói:
- Ngộ Sanh này bất hiếu, xin mẫu-hậu
dung thạ.
Khương-thị buồn vui lẫn lộn, ứa
nước mắt, nói:
- Ðó là lỗi của mẹ, con đâu có tội
gì.
Nói xong, đỡ Trịnh Trang-công dậy.
Hai mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt.
Trịnh Trang-công cõng mẹ lên
thang rồi đưa về cung.
Người nước Trịnh trông thấy, ai
nay chấp tay lên trán, khen vua là người chí hiếu.
Ấy cũng nhờ có Dĩnh Khảo Thúc mà
mẹ con Trịnh Trang-công mới đoàn tụ được.
Trịnh Trang-công cảm ơn Khảo Thúc,
phong cho Khảo Thúc làm đến chức Ðại-phu, hợp với Công Tôn-yết mà chưởng-quản
việc binh quyền.
Về sau Phan tiên-sinh có thơ khen
Khảo Thúc như vầy:
Lời thề đã lỡ giữa muôn dân
Lỗi đạo đành cam với mẫu thân
Ví chẳng mưu cao người Khảo Thúc
Trang-công đâu dễ vẹn nhân luân
-------------------------------------------
Hồi thứ 5.
Chu, Trịnh hai nước gả con tin
Lỗ, Tống một lòng đi chinh phạt
Nhắc lại con trai Thúc Đoạn là
Công-tôn Hoạt đi viện binh nước Vệ về đến nửa đường, hay được tin cha mình bị
giết, bèn trở lại nước Vệ khóc với Huệ Hoàn-công, tỏ bày việc Trịnh Trang-công giết
em, đày mẹ.
Vệ Hoàn-công nghe nói cả giận,
trách Trịnh Trang-công là vô đạo bèn hưng binh đánh nước Trịnh.
Trịnh Trang-công hay được tin bèn
hội quần thần mà thương nghị.
Công tử Lữ tâu:
- Nhổ cỏ không tận rễ, thường bị
nảy chồi. Công-tôn Hoạt đã trốn thoát lại còn đem binh nước Vệ về đánh ấy là vì
Vệ-hầu không rõ hành vi của Thúc Đoạn, nên mới giúp Công-tôn Hoạt đó. Xin Chúa
công viết thư gởi cho Vệ-hầu kể rõ cớ sự, ắt Vệ-hầu phải kéo binh về.
Trịnh Trang-công khen phải, vội
viết thư sai sứ đem qua nước Vệ.
Tiếp được thư, Vệ Hoàn-công mở ra
xem.
Thư rằng:
Ngộ Sanh kính dâng Vệ Hiền-hầu
nhã giám!
Nhà tôi bất hạnh, anh em sát hại
lẫn nhau, thật lấy làm xấu hổ với lân quốc. Nhưng xét kỹ, em tôi là Đoạn đã lợi
dụng lòng hiếu hữu của tôi mà sinh điều phản phúc. Tôi vì sự nghiệp tiền nhân,
buộc lòng phải chịu cảnh cốt nhục tương tàn. Mẹ tôi vì quá thương Đoạn, nên phải
tránh ra Dĩnh-ấp, nay tôi đã cho người rước về phụng dưỡng, lẽ ra Công-tôn Hoạt
phải biết tội cha, đem mình sửa lỗi, lại chạy sang quý quốc viện binh mà phản loạn.
Hiền-hầu không tỏ nên giúp kẻ tôi loàn. Xét mình chẳng có tội chi, xin Hiền-hầu
chớ nghe lời Công-tôn-Hoạt khiến hai nước bất hòa, sanh việc binh đao, thì thật
tôi lấy làm may-mắn!
Vệ Hoàn-công xem thư xong, giật
mình nói:
- Thúc Đoạn bất nghĩa, gây nên
tai họa. Nay ta lại nghe lời giúp Công-tôn Hoạt hóa ra ta giúp kẻ nghịch sao!
Nói rồi lập tức sai người đi rút
quân về.
Nhưng lúc đó Công-tôn Hoạt đã
đánh chiếm được đất Lâm-giêng.
Trịnh Trang-công nổi giận khiến
Cao Cừ Di đem ba vạn binh rồng đến đánh.
Công-tôn Hoạt cô thế lại phải chạy
trở lại nước Vệ.
Công tử Lữ thừa thắng đuổi theo đến
tận biên-giới nước Vệ.
Vệ Hoàn-công thấy thế đem lòng lo
lắng, bèn họp quần thần lại thương nghị.
Công tử Chu Hu bàn rằng:
- Nước tràn thì lấy đất ngăn, giặc
đến thì lầy quân chống, xưa nay đã vậy, lựa phải bàn bạc làm chi?
Quan Đại phu Thạch Thác tâu:
- Tâu Chúa công, sở dĩ quân Trịnh
đến đây là vì ta giúp cho Công-tôn Hoạt đánh Trịnh. Nay Chúa công không có ý
giúp Công-tôn Hoạt nữa thì chỉ cần biên thư phúc đáp mà xin lỗi, quân Trịnh ắt
rút về.
Vệ Hoàn-công khen phải, khiến Thạch
Thác viết thư gởi cho Trịnh Trang-công.
Thư rằng:
Hoàn-công nước Vệ, xin phúc đáp
Trịnh Hiền-hầu nhã giám.
Tôi quá nghe lời Công-tôn Hoạt,
ngỡ Hiền-hầu vô đạo, giết em, giam mẹ nên mới cất quân giúp Hoạt.
Nay được rõ tội ác của Thúc đoạn
lòng hối-hận vô cùng, tôi đã rút quân về nước. Nếu Hiền-hầu rộng xét, tôi xin bắt
Công-tôn-Hoạt đưa về Trịnh để hai nước được giao hảo như xưa.
Thư xong, sai người đem đến dâng
cho Trịnh Trang-công.
Trịnh Trang-công đọc thơ mừng rỡ,
nói:
- Vệ-hầu đã biết lỗi ta chớ nên sinh
sự nữa.
Bèn sai người ra biên-ải, bảo Công
tử Lữ rút binh về.
Khương-thị nghe tin, sợ Trịnh
Trang-công giết Công-tôn Hoạt, bèn đến năn nỉ với Trịnh Trang-công tha tội cho
Hoạt.
Trang-công nể lời mẹ, và thấy Hoạt
bị cô thế, không làm gì nổi nữa, nên viết thư cho phép Công-tôn Hoạt ở ngay bên
nước Vệ để coi việc phụng thờ Đoạn.
Từ ấy Công-tôn Hoạt ở bên nước Vệ
cho đến trọn đời.
Nói về Châu Bình-vương đã lâu
không thấy Trịnh Trang-công về triều, nhân lúc Quách-công là Kỵ Phủ đến chầu, lại
nói năng lưu loát, lấy làm vừa ý phán rằng:
- Bấy lâu cha con Trịnh Bá bỉnh-chánh,
nay chẳng biết ý gì không thấy về triều. Vậy trẫm có ý muốn trao chức khanh sĩ
cho khanh để lo việc nước, ý khanh thế nào?
Quách-công quỳ tâu:
- Trịnh Trang-công không đến, ắt
trong nước có việc. Nếu Bệ hạ dạy hạ thần quyền thế, Trịnh Trang-công không những
oán Bệ hạ mà còn oán hạ thần nữa. Hạ thần chẳng dám vâng mạng.
Châu Bình-vương ép uổng, nhưng Quách-công
nhất thiết chối từ và xin về nước.
Trịnh Trang-công tuy không qua
triều Chu, song vẫn có người ở kinh-sư dò la tin tức. Mỗi việc gì xảy ra, Trịnh
Trang-công đều hay biết.
Bởi vậy, khi nghe được tin, Trịnh
Trang-công lập tức sửa sang xe giá đến Lạc Dương ra mắt Bình-vương, và tâu rằng:
- Hạ thần đội ơn Bệ hạ, cha truyền
con nối, giữ chức Khanh-sĩ lo việc quốc chính, nay hạ thần xét mình bất tài, muốn
từ chức lui về Trịnh, giữ phận chư hầu.
Bình-vương nói:
- Đã lâu khanh không vào triều,
lòng trẫm trông mong. Nay được gặp khanh chẳng khác cá gặp nước, sao khanh lại
nói thế?
Trịnh Trang-công tâu:
- Vì trong nước không may gặp biến,
nên bỏ việc đã lâu. Hạ thần lại được nghe Bệ hạ có ý phú việc quốc chính cho Quách-công.
Hạ thần trộm nghĩ tài đức hạ thần không sánh Quách-công, nếu giữ lấy chức vị, e
mang tội với Bệ hạ.
Bình-vương nghe Trịnh Trang-công,
lòng hổ thẹn, vội nói:
- Trẫm nghe nước Trịnh sanh biến,
nên nhờ Quách-công bỉnh-chánh vài hôm để chờ khanh đến. Nhưng Quách-công từ chối
mãi, vả trẫm cũng đã cho về nước. Khanh chờ nghi ngờ.
Trịnh Trang-công tâu:
- Tâu Bệ hạ, việc nước là của nhà
vua không phải việc riêng của kẻ hạ thần thì quyền sử dụng cũng do nhà vua định
đoạt. Nay Quách-công có đủ tài năng giúp nước, xin Bệ hạ cứ dùng. Hạ thần sẽ từ
chức để khỏi mang tiếng tham quyền cố vị.
Bình-vương thấy Trịnh Trang-công nghi
kỵ, lòng buồn bã nói:
- Trẫm trao việc nước cho cha con
khanh chắp chưởng đã bốn mươi năm, lẽ ra tình vua tôi không đến nỗi vì chuyện
nhỏ mọn đó mà tổn thương. Khanh cứ nghi nan, trẫm biết làm sao giải nỗi lòng của
trẫm.
Trịnh Trang-công lòng chưa hả giận,
tâu:
- Tâu Bệ hạ, nhậm chức hay từ chức
đó là bổn phận của hạ thần. Hạ thần tự xét mình trước nhiệm vụ chứ đâu dám
khinh mạng.
Bình-vương nói:
- Muốn cho khanh được thấy lòng
quý mến của trẫm, trẫm sẽ cho Thái-tử Hổ sang ở bên nước Trịnh làm con tin.
Trịnh Trang-công nghe nói, dập đầu
tâu:
- Tâu Bệ hạ, xin Bệ hạ đừng dạy
như thế mà hạ thần phải mang tiếng hiếp vua.
Bình-vương nói:
- Không phải thế! Vì khanh có tài
chính trị, trẫm muốn cho Thái-tử sang đó du học để hấp thụ những phong hóa tốt
lành của nước Trịnh. Nếu khanh từ chối thì quả lòng khanh đã hờn trẫm đó.
Trịnh Trang-công nhất định chối từ,
quần thần thấy thế quỳ tâu:
- Tâu Bệ hạ, nếu Bệ hạ không để
con tin thì chẳng lấy gì để giải mối nghi ngờ của Trịnh Bá, còn Trịnh Bá nhận
con tin thì trái đạo vua tôi. Chi bằng hai bên cùng giao con với nhau thì tránh
được nghi ngờ, mà tiếng tăm cũng trọn vẹn.
Bình-vương khen phải.
Trịnh Trang-công mới sai Thế tử Hốt
đến ở làm con tin nhà Chu, còn Thái-tử Hổ nhà Chu thì lại sang nước Trịnh.
Được ít lâu Bình-vương băng hà.
Trịnh Trang-công và Chu-công Hắc
Kiên cùng coi việc nước, bèn cho Thế tử Hốt về Trịnh, và rước Thái-tử Hổ về Chu
kế vị.
Thái-tử Hổ nghe vua cha mất,
trong lòng phiền nảo, tự nghĩ mình không được ở nhà hầu hạ thuốc men trong lúc
lâm chung nên về đền triều phát bệnh nặng rồi tạ thế.
Con Thái-tử Hổ là Lâm lên nối
ngôi tức là Chu Hoàn-vương.
Các nước chư hầu hay tin đều tựu
đến chịu tang và làm lễ chúc mừng tân vương.
Quách-công Kỵ-Phủ đến trước, lo
việc lễ bộ, đâu đó rất đàng hoàng khiến cho mọi người phải khâm phục.
Hoàn-vương lên ngôi, nghĩ đến việc
cha mình làm con tin buồn bã mà chết, lại thấy Trịnh Trang-công gánh vác việc
nước, trong lòng nghi hoặc, mới kêu Chu-công Hắc Kiên đến hỏi rằng:
- Trịnh Trang-công bắt nhà Chu gởi
con tin thật có ý khinh vua, lòng trẫm áy náy không yên, nếu để va bỉnh-chánh
lâu ngày ắt sinh họa. Nay trẫm có ý giao quyền lại cho Quách-công Kỵ-Phủ là người
rất lễ độ, ý khanh thế nào.
Chu-công Hắc Kiên tâu:
- Trịnh Trang-công là người hà khắc,
ít ra ơn, chẳng phải tôi trung, lẽ ra không nên dụng. Ngặt vì nhà Chu từ lúc dời
đô qua Lạc-ấp công lao nước Tần và nước Trịnh rất lớn, nay tước bỏ quyền của Trịnh,
tôi e Trịnh Bá đem lòng giận ắt sanh điều rối nước, xin Bệ hạ nên xét kỹ đã.
Hoàn-vương nói:
- Ý trẫm đã tuyệt không thể ngồi
ngó Trịnh Bá chuyên chế được.
Hôm sau, Hoàn-vương lâm triều,
kêu Trịnh Trang-công nói:
- Khanh là cựu thần của Tiên-vương,
trẫm không dám ép buộc theo quần liêu mà làm nhọc lòng khanh. Vậy khanh chớ cho
trẫm bất nghĩa.
Trịnh Trang-công vừa cười, vừa
tâu:
- Nghĩa là Bệ hạ bảo tôi trả chức
mà về nước?
Đoạn bước ra ngoài, nét mặt hằm hằm
nói với mọi người:
- Vua trẻ con này bội bạc lắm,
không thể giúp đặng!
Nói xong, lên xe trở về nước Trịnh.
Thế tử Hốt đem các quan ra tận
biên thùy tiếp đón.
Trịnh Trang-công kể công việc vua
Hoàn-vương bạc đãi.
Các quan ai nay đều bất bình.
Quan Đại phu Cao Cừ Di nói:
- Chúa ta giúp nhà Chu đến nay đã
hai đời, công trạng rất lớn. Vả lại Thái-Tử Hổ ở nước ta chưa có gì thất lễ,
nay lại bỏ Chúa công dùng Quách-công Kỵ Phủ, thật là bất nghĩa. Xin Chúa công
ra binh đánh nhà Chu, phế Hoàn-vương mà lập vua khác, như thế các chư hầu mới
kính nễ nước Trịnh.
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Không nên thế! Đạo vua tôi như
tình mẹ con. Chúa công đã không thù mẹ sao lại thù Chúa được? Chúa công nên
kiên nhẫn ít lâu đợi cho Hoàn-vương hối hận mà trọng dụng, nếu nóng nẩy e làm mất
khí tiết mấy đời của nhà Trịnh.
Tề Túc tâu:
- Theo tôi tưởng cả hai người đều
có lý. Vậy tôi có một ý dung hòa hơn, là cần dò xét thái độ Hoàn-vương trước
đã. Nay đem một đạo binh sang đất nhà Chu lấy cớ mất mùa, mượn lúa ở Lạc-ấp và Ôn-ấp,
nếu nhà Chu trách phạt, ta sẽ sinh sự, bằng không Chúa công sẽ vào chầu để can
gián Hoàn-vương.
Trịnh Trang-công cho là phải, bèn
sai Tề Túc cắt quân kéo đến Ôn-ấp.
Quan giữ Ôn-ấp là Ôn Đại-phu, thấy
thế la hoảng:
- Sao ngài lại làm ngang như thế.
Chưa có lệnh Hoàn-vương tôi không thể nào cho mượn lúa được.
Tề Túc nói:
- Hiện nay ở đây lúa mạch đang
chín, còn nước ta thiếu lúa ăn, nếu không cho mượn ta cứ tự tiện gặt lấy.
Nói xong khiến quân đem liềm hái
xuống ruộng mà gặt.
Ôn Đại-phu thấy quân Trịnh mạnh
quá không dám ngăn cản, vội chạy về Lạc-dương cấp báo.
Hoàn-vương nổi giận định hưng
binh đánh Trịnh, nhưng Chu-công Hắc Kiên can rằng:
- Tề Túc gặt lúa trộm ấy chỉ là
việc nhỏ ngoài biên đình. Bệ hạ không nên vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn, xin cứ lấy
đại lượng đối xử Trịnh Trang-công sẽ ăn năn mà hối cải.
Hoàn-công nhận lời, truyền canh
giữ bờ cõi nghiêm nhặt còn việc gặt lúa thì bỏ qua không nói đến.
Tề Túc đóng quân trên đất Châu ba
tháng, không thấy gì, bèn trở về phục chỉ.
Trịnh Trang-công thấy thế có ý ăn
năn, hối hận, bèn tính việc qui triều Chu, bệ kiến Hoàn-vương.
Trịnh Trang-công sắp lên đường
thì bỗng có Tề Hi-công sai sứ qua mời sang Thạch-môn phó hội.
Trịnh Trang-công đã có ý muốn
giao ước với Tề-hầu, nay sẵn dịp bèn lên đường phó hội.
Khi gặp Tề Hi-công, Trịnh
Trang-công cùng kết làm anh em sinh tử, uống máu ăn thề, hẹn giúp đỡ lẫn nhau
trong cơn hoạn nạn.
Tề Hi-công, sau khi hỏi thăm, biết
Thế tử Hốt chưa định gia thất bèn tỏ ý rằng:
- Tôi có một đứa con gái, tuổi vừa
cập kê, tài mạo gần đủ, như hiền-hầu bằng lòng tôi sẽ gả cho Thế tử Hốt.
Trịnh Trang-công nghe nói rất đẹp
dạ. Hai bên giả biệt ra về.
Về đến Kinh đô, Trịnh Trang-công thuật
chuyện ấy lại với Thế tử Hốt.
Thế tử Hốt thưa:
- Việc phối ngẫu cốt phải cân xứng,
nay nước ta nhỏ, nước Tề lớn kết hôn với nhau đâu phải cách. Ý con tưởng không
nên với cao làm gì.
Trịnh Trang-công nói:
- Đó là ý kiến của Tề Hi-công ước
muốn chớ đâu phải ý của cha. Vả lại, kết nghĩa với Tề, ngày sau có thể tượng trợ
được, sao con lại từ chối?
Thế tử Hốt thưa:
- Thân trai bổn phận phải tự lập,
lẽ đâu trông mong vào sự bảo trợ của kẻ khác.
Trịnh Trang-công nghe nói, khen
con có chí khí và không ép nữa.
Sau đó, sứ Tề qua Trịnh biết được
chuyện Thế tử Hốt từ chối việc hôn nhân, trở về thuật lại với Tề Hi-công.
Tề Hi-công khen thầm:
- Nếu vậy thì Trịnh Thế tử quả là
một kẻ can cường, lại đầy lòng khiêm nhượng. Nhưng thôi! con gái ta nhỏ, việc
đó chưa muộn gì.
Một hôm, Trịnh Trang-công đang
thương nghị với quần thần về việc đi chầu ChU-vương, xảy có tin báo rằng Công tử
nước Vệ là Chu Hu đã giết vua Vệ Hoàn-công mà soán vị.
Trịnh Trang-công thất kinh, vỗ
tay xuống bàn than:
- Thôi rồi! Chẳng bao lâu nữa nước
Trịnh ta xảy ra binh biến.
Các quan không hiểu, ngơ ngác hỏi:
- Do đâu mà Chúa công lại tiên liệu
như thế?
Trịnh Trang-công nói:
- Chu Hu là một đứa hung hăng.
Nay soán ngôi nước Vệ tất thị oai với các nước lân bang. Nước ta trước kia có
hiềm khích, chắc là bị va dấy binh đánh trước. Vậy phải đề phòng mới được.
Chu Hu này nguyên là con thứ ba của
Vệ Trang-công.
Vệ Trang-công trước kia lấy bà
Trang-khương nước Tết rất đẹp mà không con, sau lại lấy nàng Lệ-vĩ nước Trần
làm thứ, Lệ-vĩ cũng không con, nên Vệ Trang-công lại lấy em gái của Lệ-vĩ là
Đài-vĩ. Nàng này sanh đặng hai trai là Hoàn và Tân.
Bà Trang-khương rất tốt tính,
không hề biết ghen tuông, đem Hoàn về nuôi làm con, rồi lại dâng cho Vệ
Trang-công một cung nữ.
Người cung-nữ này sanh được một
trai, tức là Chu Hu.
Chu Hu tánh hung bạo, nhưng Vệ
Trang-công lại rất yêu quý.
Do đó, Chu Hu mỗi ngày một lộng
hành, bất chấp lời giáo huấn.
Thạch Thác thấy thế đã nhiều lần
khuyên Vệ Trang-công:
- Chúa công cần phải trấn áp Công
tử, kẻo sau này khó tránh tai vạ!
Còn Thạch Thác lại cũng có một đứa
con trai là Thạch-hậu thường giao du với Chu Hu, rủ nhau săn bắn, luyện tập võ nghệ,
làm lắm điều nhiễu hại dân chúng.
Thạch Thác cả giận đánh đập nhiều
lần, nên Thạch-hậu bỏ nhà vào thành ở luôn với Chu Hu.
Thạch Thác cũng đành bó tay trước
đứa con ngỗ nghịch đó.
Sau Vệ Trang-công mất, Hoàn lên
ngôi kế vị tức là Vệ Hoàn-công.
Vệ Hoàn-công vốn nhu nhược, không
làm được việc lớn.
Thạch Thác thấy thế cáo quan
không tham dự triều chính nữa.
Lúc bấy giờ Chu Hu không còn
kiêng nể ai nữa, mưu tính với Thạch-hậu, toan việc cướp ngôi.
Rồi gặp lúc vua Bình-vương nhà
Châu mất, Vệ Hoàn-công sắp sửa đi điếu tang, Chu Hu được dịp bàn với Thạch-hậu.
Thạch-hậu nói:
- Đó là dịp tốt. Ngày mai Công tử
bày tiệc tiễn hành đưa Chúa công. Tôi sẽ cho quân sĩ phục ở phòng tiệc. Lúc
đang ăn uống Chu Công tử rút gươm ra mà hạ sát Chúa công đi thì lo gì không đoạt
được ngôi báu.
Chu Hu cả mừng, làm y kế.
Sáng hôm sau Chu Hu bày tiệc ở cung
quán rồi mời Vệ Hoàn-công đến dự.
Chu Hu nâng ly rượu nói:
- Nay huynh-hầu đi xa, em xin có
ly rượu tiễn hành.
Vệ Hoàn-công nói:
- Hiền đệ quá nhọc lòng! Chẳng qua ta đi vắng một tháng rồi
lại trở về. Chỉ mong hiền đệ trông coi việc quốc chính cho cẩn thận là tốt rồi!
Nói xong, Vệ Hoàn-công rót một
chén rượn trao cho Chu Hu để giã biệt.
Hai người nâng ly vui vẻ. Được một
lúc Chu Hu giả say làm rơi ly rượu xuống đất, rồi cúi xuống lượm ly đi rửa.
Vệ Hoàn-công không ngờ nên bị Chu
Hu lén ra phía sau lưng rút gươm đâm một nhát bỏ mạng.
Lúc đó, Thạch-hậu dẫn năm trăm
quân giáp vây chặt Cung-quán, nên không ai đám trái lệnh.
Giết Vệ Hoàn-công xong, Chu Hu
lên tức vị, và phong cho Thạch-hậu làm Thượng đại-phu.
Còn em ruột của Vệ Hoàn-công là
Tân bỏ trốn qua nước Hình lánh nạn.
Vừa lên ngôi được ba ngày, Chu Hu
nghe dân chúng bàn tán về việc mình giựt anh, soán ngôi, lòng bực tức, kêu Thạch-hậu
vào hỏi ý kiến:
- Nay ta mới tức vị, oai quyền
trong thiên hạ chưa được bao nhiêu, muốn cho các nước nể vì, tất phải hưng binh
chinh phạt.
Vậy theo ý người nên đánh nước
nào trước?
Thạch-hậu tâu:
- Các lân quốc đều chẳng có thù
hiềm chi, duy chỉ có nước Trịnh trước kia có thù hiềm với ta: việc Công-tôn Hoạt.
Tiên công đã nhượng bộ cầu hòa trong lúc quân Trịnh kéo tới bờ cõi, thật là điều
quốc nhục. Nay Chúa công muốn dựng binh, xin hãy đánh Trịnh trước.
Chu Hu nói:
- Nước Trịnh vừa lập minh-thệ với
nước Tề tại Thạch-môn, nếu nay đánh Trịnh ắt Tề đem binh giúp, nước ta cự sao nổi?
Thạch-hậu tâu:
- Nếu muốn đánh Trịnh, Chúa công
phải sai sứ sang nước Tống, nước Lỗ để cầu họ ra binh giúp sức. Rồi mượn thêm
binh nước Trần, nước Sái hiệp lại mà đánh thì lo gì chẳng thắng.
Chu Hu nói:
- Trần và Sái là hai nước nhỏ,
xưa nay vẫn tùng phục nhà Chu, nay nhà Chu nghịch với Trịnh, thì ta có thể mượn
binh hai nước ấy đánh Trịnh được. Duy chỉ có Lỗ và Tống là hai nước lớn rất khó
nài họ giúp mình.
Thạch-hậu tâu:
- Chúa công chưa rõ, nước Tống
xưa Tống Mục-công nối ngôi anh là Tuyên công. Sau Tống Mục-công gần thác, muốn
báo ơn anh, nên bỏ con ruột là Bằng, truyền ngôi cho con người anh là Dư Di. Bằng
oán cha và rất ghét Dư Di nên bỏ sang nước Trịnh cư ngụ. Nước Trịnh đã chứa Bằng
lại có ý giúp Bằng đánh Tống, cướp ngôi của Dư Di. Nay nhân việc này mà rủ Dư
Di hiệp binh đánh Trịnh, ắt Dư Di không từ chối. Còn nước Lỗ thì Công tử Vận
chưởng quản cả binh quyền, xem Lỗ-hầu chẳng ra chi. Nếu đem nhiều tiền của hối
lộ cho Công tử Vận ắt nước Lỗ hưng binh ngay.
Chu Hu nghe nói lòng phấn khởi, lập
tức sai sứ sang Lỗ, Trần, Sái.
Còn nước Tống vì phải có một sứ
giả ăn nói bặt thiệp mới xong nên chưa chọn được người.
Thạch-hậu tâu:
- Nay có Ninh Dực, người đất
Trung-mâu, vốn là một kẻ miệng lưỡi. Xin Chúa công sai người ấy đi, ắt thành sự.
Chu Hu y lời, liền sai Ninh Dực sang
mượn binh nước Tống.
Ninh Dực bái mạng, lập tức lên ngựa
ra đi.
Đến nơi vào yết kiến.
Tống Tương-công hỏi:
- Tại sao lại cử binh đánh Trịnh?
Ninh Dực tâu:
- Trịnh Trang-công vô đạo, giết
em, đày mẹ, khiến cho Công-tôn Hoạt trốn sang nước tôi tỵ nạn. Trịnh Trang-công
lại mượn cớ ấy xâm lấn bờ cõi, Tiên-vương tôi vì nhu nhược mà cầu hòa. Nay Chúa
công tôi quyết hưng binh rửa nhục. Vì nghĩ đến chỗ chúng ta đều có thù chung với
nước Trịnh nên Chúa công tôi khiến tôi sang đây mà cầu viện.
Tống Tương-công nói:
- Ta cùng nước Trịnh xưa nay chẳng
có thù hiềm chi, sao ngươi lại nghĩ như thế?
Ninh Dực ôn tồn nói:
- Có lẽ Chúa công đã không nhớ
ngôi vua này ai truyền lại cho Chúa công chăng?
Tống Tương-công mỉm cười nói:
- Của Vương-thúc ta là Tống Mục-công
truyền lại.
Ninh Dực nói:
- Từ xưa nay, hễ cha thác thì
truyền ngôi lại cho con là lẽ thường. Tống Mục-công tuy có lòng tốt, truyền
ngôi lại cho Chúa công, song Công tử Bằng hiện nương ngụ nơi đất Trịnh, lăm le
mượn binh nước Trịnh về phục nghiệp. Như thế Chúa công làm sao yên được. Nay
đánh Trịnh là một cơ hội tốt để cho Chúa công trừ mối hại cho nước Tống sau này.
Tống Tương-công lâu nay đã có ý
nghi kỵ Công tử Bằng, nay Ninh Dực nói đúng ý, liền nhận lời giúp Vệ đánh Trịnh.
Lúc ấy có quan Đại tư-mã, vốn dòng
dõi vua Thang, tên Khổng Phụ Gia thấy Tống Tương-công nhận lời giúp Vệ, bèn can
rằng:
- Xin Chúa công chớ nghe lời ngụy
biện của sứ nước Vệ. Nếu bắt tội Trịnh Trang-công giết em, bỏ tù mẹ thì Chu Hu
giết anh đoạt ngôi lại không phải tội sao? Quên tội mình, kết tội kẻ khác, ấy
không phải là lời chân chính.
Tuy nhiên, Tống Tương-công vì đã
hứa lỡ với Ninh Dực, nên chẳng nghe lời can gián, nội ngày ấy hưng binh.
Còn nước Lỗ, Công tử Vận đã ăn hối
lộ của nước Vệ rồi, nên cũng rầm rộ kéo binh sang. Trần và Sái cũng đều tề tựu
đủ mặt.
Năm nước họp lại cử nước Tống làm
Minh-chủ, Thạch-hậu làm Tiên-phong, Chu Hu đi hậu đạo, chở theo rất nhiều lương
thực, lũ lượt kéo qua cửa Đông-thành của nước Trịnh.
Trịnh Trang-công hay tin, liền họp
các quan đại thần lại bàn bạc.
Trong triều người chủ chiến, kẻ
chủ hòa, ý kiến rộn ràng chưa quyết.
Trịnh Trang-công mỉm cười nói:
- Các quan chưa bàn được gì hay.
Nhưng cứ theo thiển kiến của ta thì Chu Hu vừa mới nổi loạn đoạt ngôi anh, dân
tình trong nước không phục, nay va mượn oán cũ, cử binh sang đánh nước ta, chỉ
cốt để cho dân nước Vệ sợ đó thôi. Công tử Vận thì vì ham tiền hối lộ mà cử
binh sang đánh chứ không phải ý muốn của Lỗ Ân-công. Trần và Sái thì không có
oán cừu gì với nước Trịnh, thế thì bốn nước đó không đáng sợ. Duy chỉ có Tống,
ghét Công tử Bằng trốn tránh trên đất Trịnh, nên thực lòng quyết đánh. Nay ta
đưa Công tử Bằng ra trú nơi đất Trường-các, binh Tống hay tin ắt kéo quân ra
đó. Trong lúc ấy, ta khiến Công tử Lữ dẫn quân ra cửa Đông đánh với Chu Hu, rồi
giả thua mà chạy. Chu Hu vốn làm oai, đã đánh thắng tất nhiên kéo quân về chứ
không dám ở lâu trên đất Trịnh, sợ trong nước có loạn. Bởi vì hiện nay nước Vệ
còn có Thạch Thác là một tôi trung của Vệ Hoàn-công, làm sao chịu khoanh tay ngồi
ngó Chu Hu phản-phúc được! Tình trạng Chu Hu hiện nay lo phận mình chưa đủ, có
đâu lại làm hại ta được sao?
Các quan cận thần nghe nói đều
cho là phải.
Trịnh Trang-công liền khiến quan Đại-phu
Hà Thúc Dĩnh đem một đạo quân đưa Công tử Bằng qua Trường-các, rồi lại sai người
đến nói với Tống Tương-công rằng:
- Công tử Bằng trốn sang nước
tôi, tôi không nỡ giết, nên bắt đày ra Trường-các, vậy xin Chúa công định đoạt.
Tống Tương-công hay được tin lập
tức kéo đại binh ra vây nơi Trường-các.
Ba nước Trần, Sái và Lỗ thấy binh Tống đi rồi, có ý chán nản muốn rút binh về, nên lúc nghe Công tử Lữ đem quân đánh Vệ ở cửa Đông cũng không buồn tiếp ứng.
----------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét