La Bản, tự là Quán Trung (1330,
Hàng Châu), biệt hiệu "Hồ Hải tản nhân", là một tiểu thuyết gia nổi
tiếng người Trung Hoa sống vào cuối thời nhà Nguyên, đầu thời nhà Minh. Ông được
biết đến là tác giả Tam quốc diễn nghĩa, một tiểu thuyết dã sử nổi tiếng và
cũng là một trong Tứ đại danh tác của văn học cổ điển Trung Hoa.
Tam quốc diễn nghĩa nguyên tên là Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa, là một tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc được La Quán Trung viết vào thế kỷ 14 kể về thời kỳ hỗn loạn Tam Quốc (220-280), theo phương pháp bảy thực ba hư (bảy phần thực ba phần hư cấu). Tiểu thuyết này được xem là một trong bốn tác phẩm cổ điển hay nhất của văn học Trung Quốc.
🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Tiệc vườn đào, anh hùng kết nghĩa
Chém Khăn Vàng, hào kiệt lập công
Bài ca mở đầu
(Và cũng là bài ca kết thúc)
Anh hùng: sóng dập, cát vùi thiên thu…
Dở hay, thành bại nào đâu
Bể dâu chớp mắt, ngoảnh đầu thành mơ!
Non xanh còn đó trơ trơ
Tà dương lần lữa sưởi hơ ánh hồng
Lão tiều gặp lại ngư ông
Bên sông gió mát, trăng trong, kho trời
Rượu vò lại rót khuyên mời
Cùng nhau lại kể chuyện thời xa xưa…
Kể ra biết mấy cho vừa
Nói cười hỉ hả, say sưa quên đời…
Phàm thế cuộc trong thiên hạ
(#1), chia rồi lại hợp, hợp rồi lại chia. Tỷ như nhà Châu mất vận, bảy nước
phân tranh, sau đó nhà Tần lại gom thâu về một mối. Rồi khi nhà Tần bị diệt, để cho Hán, Sở tranh hùng, và cuối cùng Hán đã diệt Sở để thu về một mối.
Nhà Hán kể từ vua Cao Tổ là Lưu Bang trảm xà khởi nghĩa thống nhất được thiên hạ,
giữ lấy ngai vàng cho đến khi vua Quang Vũ là Lưu Tú quật khởi, giết loạn thần
là Vương Mãng, phục hưng cho nhà Hậu Hán (#2), rồi truyền đến đời vua Hiến Đế
thì bị chia làm ba nước. Cái nguyên do rối loạn sau này là do hai ông vua
Hoàn Đế và Linh Đế. Vua Hoàn Đế giam cầm các bề tôi trung trực, lại tin dùng bọn
hoạn quan, làm cho thế nước bị suy vi. Khi vua Hoàn Đế băng hà, vua Linh Đế lên
nối ngôi, có quan Đại tướng quân Đậu Vũ và quan Thái phó Trần Phồn cùng giúp việc
trị nước. Hai vị tôi thần này vốn một lòng trung nghĩa, nhưng bên cạnh lại có
bè lũ hoạn quan Tào Tiết chuyên quyền làm bậy. Đậu Vũ và Trần Phồn lập mưu tru
diệt bọn này để trừ tai họa cho nước, chẳng may cơ mưu bị bại lộ, hai vị tôi thần
này đều bị chúng hãm hại. Từ đó, bọn hoạn quan càng lộng quyền, chúng liên kết
với loạn thần tác yêu, tác quái.
Năm Kiến Ninh thứ hai (niên hiệu
của vua Linh Đế), tháng tư ngày rằm, nhà vua ngự ra điện Ôn Đức, vừa ngồi xuống
ngự ỷ, bỗng có một trận cuồng phong rất lớn nổi lên, rồi một con rắn xanh to tướng
từ trên sà ngang cung điện rơi xuống nằm ngang trên ngự ỷ. Vua thất kinh ngã
lăn ra bất tỉnh, các quan hầu cận phải đưa vua vào nội cung cứu cấp. Nhưng chỉ
trong giây lát, con rắn biến đi đâu mất, trời lại nổi lên một trận cuồng phong
dữ dội, mưa tuôn như trút nước. Kế đó, mưa đá lại rơi theo tới hơn nửa ngày,
nhà cửa bị hư sập vô số.
Vào tháng hai, năm Kiến Ninh thứ
tư, kinh đô Lộc Dương lại bị động đất, rồi nước biển dâng lên tràn ngập cả một
miền duyên hải. Dân cư, làng mạc, của cải bị sóng cuốn ra khơi mất tích. Cũng
vào đời vua Linh Đế, vào năm Quang Hòa thứ nhất, tại một vùng thôn dã, có một
con gà mái hóa gà trống, rồi đến ngày mồng một tháng sáu, một luồng hắc khí dài
hơn mười trượng bay thẳng vào điện Ôn Đức. Cũng vào mùa thu năm đó, trước nhà
Ngọc Đường bỗng hiện lên một cầu vồng sáng chói. Sườn núi Ngữ Nguyên bị sụp lở,
đất đá đè chết người.
Chỉ trong thời gian mấy năm mà
không biết bao nhiêu sự việc ly kỳ xảy ra. Vua buồn bã hạ chiếu hỏi các quan
triều thần sao có những hiện tượng quái gở như vậy? Quan Nghị lang Thái Ung
dâng sớ tâu, đại ý nói: “Rắn sa, gà mái hóa gà trống là điềm đàn bà và hoạn
quan làm loạn nước…”. Lời tâu rất thống thiết, khiến nhà vua xem xong cũng phải
não lòng. Vua chỉ thở dài rồi quay vào thay áo. Bấy giờ Tào Tiết đứng núp đằng
sau vua, xem trộm được tờ biểu, thấy thế tức giận vô cùng, liền bàn mưu với bè
đảng của hắn, lập kế gieo tội cho Thái Ung, và cách chức đuổi Thái Ung về làm
thứ dân nơi điền lý. Sau đó bọn Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Tào Tiết,
Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng, tất cả mười người họp
nhau xưng là “Thập Thường Thị” chuyên làm điều gian ác. Vua Linh Đế lại nhu nhược,
tin dùng Trương Nhượng như một kẻ tôi trung, việc triều chính đều giao cho
Trương Nhượng quyết đoán, đến nỗi kêu Trương Nhượng bằng “á phụ”. Triều đình
càng bê tha thối nát, lòng người muốn nổi loạn, giặc giã khắp nơi dấy loạn lên
như ong vỡ tổ.
Bấy giờ, tại quận Cự Lộc có ba
anh em họ Trương là Trương Giác, Trương Bảo, và Trương Lương. Trương Giác thi hỏng
Tú tài, không quản đèn sách nữa, ngày ngày vào núi hái thuốc. Bỗng một hôm,
Trương Giác gặp một ông lão mặt đỏ như hài đồng, mắt xanh như nước biếc, tay chống
gậy lê, kêu Trương Giác vào một hang núi, rồi trao cho ba quyển “Thiên thư” và
dặn:
– Đây là bộ “Thái bình yêu thuật”
ta ban cho con để học. Học được sách này, con phải thay trời mà tuyên hóa, cứu
dân độ thế. Còn nếu manh tâm đổi dạ thì sẽ gặt lấy quả báo không nhỏ. Trương
Giác tiếp lấy Thiên thư, bái tạ rồi yêu cầu xin được biết tên ông lão. Ông lão
nói:
– Ta chính là Nam Hoa Lão Tiên
đây. Dứt lời hóa thành luồng gió mát bay đi mất. Trương Giác được bộ sách ấy,
ngày đêm tập luyện, chẳng bao lâu đã biết cách kêu mưa gọi gió, và tự xưng hiệu
là “Thái Bình đạo nhân”. Vào tháng giêng năm Trung Bình thứ nhất (cũng đời vua
Linh Đế), có bệnh thời khí nổi lên, lan rộng khắp vùng. Trương Giác đem bùa
phép đi trị bệnh cho dâng gian, lấy hiệu là “Đại Hiền lương sư”. Lúc đó Trương
Giác lại có dạy thêm được hơn năm trăm đồ đệ, cũng học rành phép bùa chú, nên cả
thầy trò chia nhau vân du khắp nơi. Thấy việc chữa bệnh của Trương Giác có hiệu
quả, thiên hạ đồn ầm lên, và rủ nhau theo làm đồ đệ của Trương Giác mỗi ngày một
đông thêm. Trương Giác đem tất cả tín đồ trong thiên hạ chia ra làm ba mươi sáu
phường, mỗi phường có hơn một vạn người, và có cử một viên Cừ Soái để cai quản.
Rồi Trương Giác lại tự xưng mình là Tướng quân, coi cả ba mươi sáu phường đó.
Chưa hết, Giác còn phao ngôn để mê hoặc dân chúng rằng: “Trời xanh đã chết, trời
vàng nên lên thaỵ. Đến năm Giáp Tý, thiên hạ đại cát”. Giác lại truyền cho các
tín đồ dùng đất sét trắng viết lên nơi cửa lớn hai chữ “Giáp Tý”, và dân cư khắp
tám châu: Thanh, U, Từ, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự, ai muốn được hưởng phước phải
viết danh vị “Đại Hiền lương sư Trương Giác” mà thờ. Trương Giác đã có ý làm phản,
nên mật sai đồ đệ là Mã Nguyên Nghĩa đem vàng bạc gấm vóc vào triều lo lót với
tên hoạn quan Phong Tư, để nhờ tên này làm nội ứng. Trương Giác lại bàn với hai
người em rằng:
– Cái khó đạt nhất là lòng dân. Nay dân đã thuận theo mình rồi, nếu không thừa cơ đoạt thiên hạ thì đáng tiếc lắm.
Rồi Trương Giác vội vã sắm cờ vàng, khăn vàng để hẹn ngày khởi sự. Giác sai một tên đệ tử là Đường Châu mang mật thư đưa cho Phong Tư, nhưng chẳng may Đường Châu không thích hành động của Giác cho nên chạy thẳng vào tòa Thượng Thư cáo biến. Thế là việc làm của Trương Giác bị bại lộ. Vua hay tin phản loạn liền triệu Đại tướng quân Hà Tiến vào triều, truyền bắt Mã Nguyên Nghĩa đem chém, và hạ ngục cả gia quyến Phong Tư hơn ngàn người.
Trương Giác thấy vậy liền gấp rút khởi binh, tự xưng là Thiên công tướng quân, phong cho Trương Bảo làm Địa công tướng quân, Trương Lương làm Nhân công tướng quân. Giác lại rêu rao với bá tánh rằng: “Nay vận Hán đã hết, có đại thánh nhân xuất thế, ai nấy thuận trời theo chính, để hưởng thái bình an lộc.” Thế là khắp bốn phương có hơn bốn, năm mươi vạn người đội khăn Vàng hưởng ứng theo Trương Giác làm phản. Thế giặc rất mạnh, quan quân nghe gió đã chạy dài. Hà Tiến liền tâu với vua cấp tốc sai sứ đến các Châu, Quận truyền lệnh phòng ngự, ngăn địch lập công. Đồng thời sai Trung lang tướng Lư Thực, Hoàng Phủ Tung, và Châu Tuấn dẫn ba đội tinh binh chia ra làm ba đường dẹp giặc.
Bấy giờ, giặc Khăn Vàng một đạo do Trương Giác cầm đầu, kéo thẳng đến U Châu
xâm lấn. Quan Thái thú châu này là Lưu Yên vốn dòng tôn thất ở đất Cảnh Lăng,
vùng Giang Hạ, là con cháu Lỗ Cung Vương nhà Hán. Lưu Yên thấy tình thế khẩn
trương vội triệu quan Hiệu úy Châu Tĩnh vào bàn kế. Châu Tĩnh nói:
– Quân giặc đông như nước lũ,
quân ta ít không thể nào ngăn nổi. Minh công nên gấp rút chiêu mộ nghĩa binh mới
giữ nổi Châu này.
Lưu Yên nghe lời liền treo bảng
khắp nơi chiêu mộ nghĩa binh. Ngày kia, bản văn đưa đến Trác Huyện, dân chúng
ra xem đông nghịt. Trong số dân chúng ấy có một vị anh hùng tính tình khoan
hòa, ít nói, mừng giận không lộ ra sắc mặt, nhưng lại có chí lớn, thường kết
giao với các anh hùng, hào kiệt trong thiên hạ. Người này mình cao tám thước,
hai tai lớn như chày, môi đỏ như thoa son, họ Lưu tên Bị, tự là Huyền Đức, vốn
cháu chắt Trung sơn Tĩnh vương Lưu Thắng, tức dòng dõi vua Hiếu Cảnh Hoàng đế
nhà Hán. Nguyên trước kia, thời Hán Vũ Đế, con trai Lưu Thắng là Lưu Trinh được
phong tước Trác lộc Đình hầu. Về sau, nhân một buổi tế tông miếu, Lưu Trinh vào
dâng vàng hành lễ, chẳng may vàng sắc xấu, bị mất tước Hầu (#3), và từ đấy con
cháu mới có một chi dời về Trác Quận lập nghiệp. Lưu Huyền Đức tức là cháu Lưu
Hùng, con Lưu Hoằng. Lưu Hoằng có thi đậu Hiếu Liêm, rồi làm chức Lại, nhưng mất
sớm. Huyền Đức mồ côi cha, thờ mẹ rất có hiếu. Tính ham đọc sách, nhưng nhà
nghèo, Huyền Đức phải làm nghề đóng dép, dệt chiếu để sinh sống. Nhà ông ở tới
thôn Lâu Tang, phía Đông Nam có một cây dâu rất lớn, cao hơn năm trượng, đứng
xa trông như một chiếc lọng vậy. Đã có nhiều người đi qua trông thấy cây dâu kỳ
dị ấy, từng nói:
– Nhà này ắt sinh quý tử. Lúc còn
nhỏ, Huyền Đức thường chơi đùa với trẻ con trong làng, và thường đứng dưới gốc
cây dâu mà nói:
– Tao làm Thiên tử, nên ngự cỗ xe
có lọng này! Người chú là Lưu Nguyên Khởi nghe nói thường mắng:
– Cháu chỉ nói bậy. Tuy vậy,
Nguyên Khởi cũng nói rằng:
– Thằng bé này phải là một người
phi thường mai sau.
Nhân thấy nhà Huyền Đức nghèo,
Lưu Nguyên Khởi tìm cách giúp đỡ để Huyền Đức ăn học. Năm Huyền Đức mười lăm tuổi,
được mẹ cho đi du học, thụ giáo Trịnh Huyền và Lư Thực, lại kết bạn với Công
Tôn Toản. Đến nay, Huyền Đức đã được hai mươi tám tuổi, và ngày hôm ấy, khi đọc
bản chiêu quân của Lưu Yên, Huyền Đức cảm khái thở dài một tiếng. Bỗng nghe đằng
sau có tiếng người nói lớn:
– Đại trượng phu phải vì quốc gia
mà ra sức, chứ than thở có ích gì? Huyền Đức quay đầu lại, thấy người vừa nói
mình cao tám thước, mặt dữ như cọp, mắt ốc tròn xoe, hàm én râu hùm, tiếng nói
rền như sấm. Biết không phải là người thường, Huyền Đức liền hỏi thăm tên họ.
Người ấy đáp:
– Tôi họ Trương tên Phi, tự là Dực
Đức, ông cha mấy đời ở nơi Trác Quận này làm nghề bán rượu, mổ thịt, vì vậy tôi
cũng có chú ít ruộng vườn, thích kết giao những anh hùng hào kiệt trong thiên hạ,
nay thấy ông xem bảng chiêu quân mà than thở nên hỏi thử một lời. Huyền Đức
nói:
– Tôi vốn là người trong thân tộc
nhà Hán, họ Lưu tên Bị, đáng lẽ trong lúc giặc “Khăn Vàng” dấy loạn cũng phải
góp một phần cứu nước an dân, nhưng vì sức chưa làm được nên đau lòng than thở.
Trương Phi nói:
– Nhà tôi cũng có chút ít của cải,
tôi muốn bỏ ra để tuyển mộ một đoàn hương dũng, rồi cùng ông cử đại sự, ông thấy
có nên chăng? Huyền Đức rất mừng, nắm tay Trương Phi dắt vào trong quán rượu
đàm đạo. Trong lúc hai người đang đối ẩm bàn thế sự thì bỗng thấy một đại hảo
hán đẩy một chiếc xe để ngoài cửa rồi bước vào thét tửu bảo, nói:
– Đem rượu thịt ra đây! Hôm nay
ta uống say sưa cho một bữa để ngày mai đầu quân giết giặc. Huyền Đức liếc nhìn
ra cửa thấy người này mình cao lớn chín thước, mặt đỏ như thoa son, mắt phượng
mày ngài, tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt. Biết người ấy cũng là một
cái thế kỳ nhân, nên Huyền Đức vội đứng dậy tiếp mời vào ngồi chung bàn và hỏi
thăm danh tánh. Người ấy đáp:
– Tôi họ Quan tên Vũ, tự là Thọ
Trường, sau đổi là Vân Trường, người đất Giải Lương, tỉnh Hà Đông. Nhân vì vùng
tôi ở có một tên thổ hào ỷ thế hiếp đáp dân lành, tôi nổi giận giết chết nó rồi
bỏ đi lánh nạn. Tôi phiêu bạt trong giang hồ đã hơn năm năm, nay nghe có giặc
“Khăn Vàng” nổi lên khấy nhiễu, nên muốn đầu quân trừ giặc, cứu an bá tánh. Huyền
Đức cũng đem chí nguyện của mình tỏ bày. Vân Trường mừng rỡ uống ba chung rượu
rồi theo Huyền Đức và Trương Phi dắt nhau về trang trại để bàn bạc. Trương Phi
nói:
– Muốn làm nên việc lớn, cốt nhất
phải hiệp sức đồng tâm mới được. Sau nhà tôi có một vườn đào đang tiết hoa nở rất
nhiều, ngày mai chúng ta đến đó tế cáo trời đất, kết làm anh em. Huyền Đức và
Vân Trường đồng thanh khen phải. Ngày hôm sau, Trương Phi sai gia nhân mổ trâu
đen, ngựa trắng bày đủ lễ trong vườn đào. Ba người đứng trước hương án, vái mỗi
người hai cái rồi cùng thề rằng:
“Ba chúng tôi là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, tuy khác họ nhưng kết làm anh em, quyết đồng tâm hiệp lực, cứu khổn phò nguy, trên báo đáp quốc gia, dưới giúp yên bá tánh. Chúng tôi không mong được sanh cùng năm cùng tháng cùng ngày, chỉ nguyện được chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Hoàng thiên, hậu thổ chứng giám lời này. Ai bội nghĩa bị trời tru đất diệt.” Thề xong, ba người đem so tuổi nhau thì Huyền Đức được làm anh cả, Vân Trường làm thứ, Trương Phi làm em út. Trương Phi lại sai gia nhân bắt trâu dê trong chuồng đem mổ làm tiệc tới vườn đào, tập trung tất cả dũng sĩ trong vùng đến ăn uống. Dũng sĩ tề tựu có tới hơn ba trăm người, vui say một bữa thật no nê.
Hôm sau, mọi người chia nhau đi thu thập khí giới, mọi việc tạm yên, chỉ hiềm
một nỗi còn thiếu ngựa để cưỡi. Trong lúc đang lo tính, bỗng có một người chạy
vào báo:
– Có hai người khách thương, cùng
đoàn tùy tùng dẫn bầy ngựa khá đông, đang đi về hướng trang trại này. Huyền Đức
nói:
– Đây là trời giúp ta! Ba anh em vội ra khỏi trại đón tiếp hai người khách thương mời vào trang trại. Hai người này chính là hai thương gia lớn ở đất Trung Sơn, một người là Trương Thế Bình, một người là Tô Song, hàng năm thường lên mạn Bắc mua giống ngựa khỏe đem về Tràng An bán. Nay vì miền này có giặc nên không thể đem ngựa đi qua được. Sau khi đã mời được hai vị khách thương vào trại, Huyền Đức hối dọn tiệc đãi đằng, rồi đem ý muốn cứu dân độ thế của mình ra bày tỏ. Hai người khách thương vui lòng hiến cho năm mươi con ngựa khỏe, lại tặng thêm năm trăm lượng vàng bạc, một ngàn cân thép tốt để rèn binh khí và giáp trụ. Khách cáo từ, Huyền Đức tạ ơn tiễn chân vài dặm rồi trở về cậy thợ giỏi chế một đôi song cổ kiếm. Vân Trường cũng đánh một cây đại đao “Thanh long yểm nguyệt”, gọi là “Lãnh diễm cứ” nặng tám mươi hai cân. Trương Phi rèn một cây trượng “Bát điểm cương mâu”.
Ai nấy đều
trang bị cương giáp, rồi kéo năm trăm quân hương dũng đến ra mắt quan Thái Thú
Lưu Yên. Lưu Yên hỏi đến danh tánh, ba anh em đều xưng rõ tên họ, riêng Huyền Đức
còn nói cho Lưu Yên biết mình là tông phái Hoàng Gia. Lưu Yên mừng rỡ nhận Huyền
Đức làm cháu (So theo vai vế thì Lưu Yên thuộc vai chú bác). Vào thành chưa được
vài hôm thì đã có tin quân thám thính về báo:
– Tướng giặc Khăn Vàng là Trình Viễn Chí thống lãnh năm vạn quân kéo đến quấy nhiễu Trác Quận.
Lưu Yên liền sai
Châu Tĩnh dẫn ba anh em Huyền Đức cùng năm trăm quân hương dũng đi trước phá giặc.
Anh em Huyền Đức không hề ngần ngại, lãnh quân tiền đạo trực chỉ đến chân núi Đại
Hưng, và trông thấy quân giặc cũng vừa kéo đến đó. Huyền Đức thúc ngựa ra trước
trận, bên tả có Vân Trường, bên hữu có Trương Phi yểm hộ. Huyền Đức giơ roi
thét mắng quân giặc:
– Phản loạn, đừng hòng múa rối, hãy xuống ngựa đầu hàng cho sớm.
Trình Viễn Chí nổi giận sai Phó Tướng Đặng Mậu ra đánh. Đặng Mậu vừa nhảy ra đã bị Trương Phi xông đến đâm một xà mâu trúng ngay giữa ngực, ngã lăn xuống ngựa. Thấy Phó Tướng mình chưa ra tay đã bị hại rồi, Trình Viễn Chí liền múa đao đến đánh Trương Phi, nhưng Vân Trường đã vung Thanh Long Đao cản lại. Uy lực của Vân Trường rất mạnh, Trình Viễn Chí kinh hãi run sợ, trở tay không kịp bị Vân Trường chém một đao đứt làm hai đoạn.
Người sau có thơ
khen Vân Trường và Trương Phi như sau:
Một thử xà mâu, một thử đao
Khí tiết rạng ngời oai lực khét
Chia ba thiên hạ rạng anh hào
Quân giặc bị mất chủ tướng hoảng
hốt chạy dài. Huyền Đức xua quân đuổi đánh, chúng đầu hàng vô số. Đoàn quân đắc
thắng kéo về thành được Lưu Yên thân hành ra tận bên ngoài tiếp đón và ủy lạo
quân sĩ. Sáng hôm sau, lại có tin giặc “Khăn Vàng” Đến vây phá Thanh Châu, và
quan Thái Thú Thanh châu là Cung Cảnh cho người sang cầu cứu. Lưu Yên liền cho
mời Huyền Đức đến thương lượng. Huyền Đức nói:
– Giặc cậy thế đông chia quân khuấy
rối, nay U Châu đã tạm yên, Bị này xin tình nguyện đem quân để cứu Thanh Châu.
Lưu Yên liền sai Châu Tĩnh đem năm ngàn quân cùng ba anh em Huyền Đức kéo đi.
Giặc thấy cứu binh tới liền chia làm ba đạo, bao vây rất ngặt. Huyền Đức thấy
mình ít quân quá, không thể nào cự nổi liền cho lệnh rút quân ngoài ba mươi dặm
hạ trại. Đoạn nói với Quan, Trương:
– Muốn phá giặc phải thi hành kỳ binh mới được. Rồi chia cho Vân Trường một ngàn quân dọn ra phục bên tả nơi chân núi, Trương Phi cũng lãnh một ngàn quân phục bên hữu nơi chân núi.
Sáng hôm sau, Huyền Đức cùng Châu Tĩnh dẫn quân gióng trống tiến đến trới địch. Quân giặc ra nghênh chiến, Huyền Đức giả thua kéo quân chạy về. Tưởng mình đắc thế, quân giặc ồ ạt đuổi theo. Khi đuổi đến chân núi, bỗng nghe mấy tiếng chiêng báo hiệu, hai toán quân phục của Vân Trường và Trương Phi đồng kéo ra một lượt đánh bộc hậu. Đạo quân của Huyền Đức quay lại tác chiến. Ba mặt đánh dồn, quân giặc đại bại, chết không biết bao nhiêu mà kể. Chúng bỏ kết cờ xí, mạnh ai nấy chạy. Huyền Đức xua quân truy kích, đuổi đến thành Thanh Châu thì quan Thái Thú Cung Cảnh hay được tin thắng trận vội mở cửa thành thúc quân tràn ra tiếp ứng. Nhờ đó mà Thanh Châu được giải vây, quân giặc tản mác hết.
Người sau có thơ khen Huyền Đức:
Hai cọp suy ra kém một rồng
Gặp lúc cô cùng, người mới rõ
Tam phân thiên hạ, xứng anh hùng
Cung Cảnh đón tiếp ba anh
em Huyền Đức và Châu Tĩnh vào thành, bày tiệc khao thưởng ba quân. Tiệc xong,
Châu Tĩnh muốn trở về U Châu, Huyền Đức nói:
– Gần đây, nghe quan Trung Lang Tướng Lư Thực đánh nhau với Trương Giác, chúa giặc Khăn Vàng tới Quảng Tôn. Bị tôi xưa đã từng theo học Lư tiên sinh, nay muốn đến đó giúp ân sư một phen.
Châu Tĩnh bằng lòng, dẫn quân trở về một mình. Ba anh em Huyền Đức đem năm trăm
quân bản bộ thẳng đến Quảng Tôn, vào dinh ra mắt Lư Thực, và nói rõ ý kiến mình
tình nguyện phá giặc. Lư Thực mừng lắm, lưu ba anh em Huyền Đức dưới trướng để
đợi lệnh. Bấy giờ, Trương Giác có hơn mười lăm vạn quân, chia ra quấy nhiễu nhiều
chỗ. Phần Trương Giác thì giữ năm vạn, đang cầm cự tới Quảng Tôn, chưa phân thắng
bại. Lư Thực bảo Huyền Đức:
– Nay Trương Giác bị ta vây ở đây chưa thể làm gì được, nhưng hai người em của nó là Trương Lương, Trương Bảo đang quấy rối ở Dĩnh Xuyên, đối trận với Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn. Nếu quân giặc ở Dĩnh Xuyên mà thắng thế được thì nơi đây ắt bị nguy hiểm. Vậy ngươi hãy dẫn binh mã bản bộ, và thêm một ngàn quân ta cấp, đến Dĩnh Xuyên dò thám tình hình, sau sẽ hẹn ngày cùng đánh.
Huyền Đức lĩnh mệnh, kéo quân đi suốt ngày đêm
mới đến Dĩnh Xuyên. Bấy giờ Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn đang đánh nhau với quân
giặc. Giặc núng thế phải rút lui vào Trường Xã, dựa thế một rừng lau rậm rạp để
lập doanh trại. Hoàng Phủ Tung bàn với Châu Tuấn:
– Giặc tuy đông, nhưng khờ khạo. Chúng lập doanh trại trong rừng lau, vậy ta nên dùng hỏa công mà đốt.
Liền đó Hoàng Phủ Tung ra lệnh cho quân sĩ mỗi người đem theo một bó cỏ khô kéo đi mai phục. Đêm ấy gặp gió lớn, quân Hán nhất tề phóng hỏa đốt trại. Giữa lúc đó Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn dẫn hai ngàn kỵ binh xông vào chém giết. Trại giặc lửa cháy ngợp trời, quân giặc hoảng hốt không kịp mặt giáp lên yên, bỏ chạy tứ tán.
Quân Hán chém giết cho đến lúc trời mờ sáng thì mới thấy Trương Lương,
Trương Bảo thu thập tàn quân cướp đường chạy thoát chết. Quân giặc chạy chưa đầy
ba mươi dặm thì lại gặp một tướng mắt nhỏ, râu dài, mình cao bảy thước, đang cầm
đầu một đạo quân cắm toàn cờ đỏ, đổ ra chặn đánh. Bị trận phục kích thứ hai
này, quân giặc bạt vía kinh hồn, lớp thì chết, lớp ôm đầu chạy trốn không còn một
manh giáp.
Vị tướng nhỏ vừa xuất hiện chính
là quan Kỵ Đô úy, người Tiêu Quận, nước Bái, họ Tào tên Tháo, tự là Mạnh Đức.
Trước kia, cha Tào Tháo vốn họ Hạ Hầu tên là Hạ Hầu Tung, nhưng sau làm con
nuôi quan Trung Thường Thị Tào Đằng nên Hạ Hầu Tung mới đổi ra là Tào Tung. Tào
Tung sinh ra Tào Tháo, có đặt cho Tháo tiểu tự là A Man, lại có thêm một tên nữa
là Cát Lợi. Lúc thiếu thời, Tào Tháo thích chơi bời, săn bắn, hát xướng, nhưng
bản lĩnh lại rất mưu mô xảo quyệt. Người chú của Tào Tháo thấy cháu mình du
đãng, ham chơi bỏ học nên có nhiều lần phiền trách nói cho Tào Tung biết. Mỗi lần
như vậy, Tào Tung kêu con vào quở mắng, Tào Tháo đem lòng giận chú, mới nghĩ ra
một kế. Một hôm, thấy chú đến chơi, Tào Tháo giả vờ ngã lăn xuống đất, ngất lịm
như trúng gió. Người chú thấy vậy thất kinh vội chạy đi tìm Tào Tung báo lại.
Lúc Tào Tung chạy ra xem, thì thấy Tháo vẫn đứng chơi không có việc chi cả. Tào
Tung ngạc nhiên hỏi:
– Kìa, sao chú con bảo là con
trúng gió? Tào Tháo thản nhiên thưa:
– Từ trước đến nay con có bệnh tật gì đâu? Có lẽ con đã làm điều gì mất lòng chú, nên chú giận rủa con như vậy.
Tào Tung nghe lời con, nên về sau Tào Tháo có lỗi gì người chú phiền trách, Tào
Tung đều bỏ qua, không trách mắng Tháo nữa. Tháo được thế càng chơi bời phóng
đãng hơn. Thời ấy, có người tên là Kiêu Huyền bảo Tháo rằng:
– Thiên hạ loạn to đến nơi rồi, nếu không phải là người có tài tái thế, không ai xoay loạn ra an được. Người tài ấy có lẽ là ông đấy.
Lại có một người nữa ở Nam Dương, tên Hà Ngung, có dịp gặp
Tào Tháo về nhà, tỏ ý nói:
– Nhà Hán sắp mất, Tào Tháo sẽ là người an định thiên hạ vậy.
Tào Tháo thấy có nhiều người nói đến mình, nhưng
chưa vừa ý. Tháo lại nghe ở vùng miền Nam có Hứa Thiệu nổi danh là xem tướng biết
người, liền tìm đến yết kiến và hỏi:
– Ông thấy tôi là người như thế
nào? Hứa Thiệu nhìn Tháo một lúc rồi lặng thinh không đáp. Tào Tháo gặn hỏi đôi
ba lần, Hứa Thiệu mới nói:
– Thời trị, ông là bầy tôi giỏi. Thời loạn, ông là kẻ gian hùng.
Nghe nói thế, Tào Tháo mừng vô cùng. Năm hai mươi tuổi, Tào Tháo đã đỗ Hiếu Liêm, làm quan Lang rồi được thăng Đô úy Lộc Dương. Lúc vừa đến nhậm chức, Tháo đã sai treo mười cây roi ngũ sắc ở bốn cửa thành. Ai phạm đến luật cấm tức thì sai quân nọc cổ ra đánh liền, bất kể kẻ có thế lực, hay quyền quí. Có một lần người chú ruột của quan Trung Thường Thị Kiển Thạc cầm dao đi đêm, Tháo đi tuần bắt gặp, lập tức truyền lệnh bắt đem đến trước nha môn mà đánh, chẳng kiêng nể gì hết. Bởi vậy, trong ngoài đều sợ Tháo, không ai dám phạm luật nữa. Uy danh của Tháo nhờ đó lừng lẫy, nên được thăng làm Quan Lệnh ở Đốn Khâu.
Nay giặc Khăn Vàng nổi lên, Tháo lại được thăng chức Trị Đô úy, dẫn năm ngàn quân mã kéo đến Dĩnh Xuyên trợ chiến. Vừa đến nơi, gặp lúc Trương Lương, Trương Bảo bị trận hỏa công, thua chạy xiểng liểng, Tháo nhân cơ hội chặn đường giết giặc, chém hơn một vạớn đầu giặc, đoạt được người ngựa, khí giới vô số. Trương Lương và Trương Bảo gặp thế cùng, mở đường máu chạy thoát. Tháo liền kéo quân vào thành ra mắt Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn, rồi lại dẫn binh truy kích Trương Lương và Trương Bảo.
Bấy giờ, Huyền Đức cùng Quan, Trương
cũng vừa tới Dĩnh Xuyên, nghe xa xa có tiếng hò reo đánh giặc, lại thấy lửa
cháy rực trời vội dẫn binh tới thì giặc đã tan rồi. Huyền Đức vào yết kiến
Hoàng Phủ Tung, Châu Tuấn, và nói rõ ý kiến của Lư Thực. Hoàng Phủ Tung nói:
– Hai thằng giặc Trương Lương, Trương Bảo bị một trận hỏa công, thế cùng lực tận, chắc là chúng chạy sang Quảng Tôn hợp lực với Trương Giác. Các ngươi hãy tức tốc trở về đó mà giúp Lư tướng quân dẹp giặc.
Huyền Đức lĩnh mệnh, lại dẫn quân trở về. Khi đến nửa đường, bỗng
thấy một toán quân mã áp giải một chiếc tù xa, người ngồi bên trong lại là Lư
Thực. Thất kinh, Huyền Đức vội tụt khỏi yên ngựa, chạy đến hỏi duyên cớ. Lư Thực
nói:
– Tôi vây Trương Giác sắp phá được binh giặc, thì bỗng triều đình có sai một viên Huỳnh Môn quan là Tả Phong ra mặt trận thám thính tình hình. Tả Phong đòi ăn hối lộ, tôi nói với hắn: “Đến như quân lương hiện còn chưa đủ, lấy đâu ra tiền dư mà đãi sứ nhà vua”. Tả Phong tức giận về triều vu tấu rằng tôi không chịu tiến quân, cứ đắp lũy đào hào cố thủ, khiến lòng quân trễ nải. Triều đình nổi giận, sai quan Trung Lang tướng Đổng Trác đến thay tôi cầm quân, và bắt tôi giải về kinh trị tội.
Trương Phi nghe dứt
lời, máu giận sục sôi, toan rút gươm chém mấy tên quân hộ tống tù xa để cứu Lư
Thực, nhưng Huyền Đức đã kịp ngăn lại và nói:
– Việc của Lư tướng quân ngay gian sẽ có công luận xét đoán, chúng ta không nên bạo sát người của triều đình mà mang tội.
Trương Phi trợn mắt, nhìn chiếc tù xa cho đến khi mất hút. Vân Trường
nói:
– Lư Trung Lang bị bắt, người khác cầm quân, chúng ta trông cậy vào ai mà trở lại Quảng Tôn? Chi bằng trở về Trác Quận là hơn.
Huyền Đức nghe lời, cùng với hai em dẫn quân về phía Bắc. Đi
chưa được hai ngày, bỗng nghe sau núi có tiếng quân reo tở mở, ba anh em Huyền
Đức liền trèo lên một đỉnh núi cao, xem thấy quân Hán bị thua cuốn cờ chạy trốn,
còn đằng sau giặc Khăn Vàng đông đặc, đang đuổi theo rất hăng. Trên cây đại kỳ
của giặc có đề bốn chữ: “Thiên Công tướng quân”. Huyền Đức đưa tay chỉ bọn giặc,
nói với Quan, Trương:
– Chính thằng này là Trương Giác, kẻ cầm đầu giặc Khăn Vàng gây rối. Chúng ta tham chiến ngay.
Ba anh em Huyền Đức đồng phi ngựa dẫn quân lướt tới. Bấy giờ Trương Giác đã đánh bại Đổng Trác, nên kéo binh truy kích rất ngặt. Đang lúc hăng thế, bỗng gặp toán quân của ba anh em Huyền Đức chặn lại, chúng rối loạn người ngựa đạp nhào lên nhau, mất cả hàng ngũ, bị quân Huyền Đức chém giết một trận, làm cho chúng quay đầu bỏ chạy hơn năm mươi dặm.
Ba người cứu được Đổng Trác về trại. Sau khi hỏi thăm, biết được
ba anh em Huyền Đức chưa có chức vụ gì, hiện còn là chân trắng, Đổng Trác làm mặt
khinh khỉnh, không thèm thi lễ và tiếp đãi. Huyền Đức bước ra ngoài, không nói
gì, nhưng Trương Phi thì hầm hầm nét mặt, tỏ ý bất mãn:
– Hừ! Chúng ta lăn mình vào địch
quân để cứu hắn, mà hắn lại dám vô lễ như thế! Phải giết hắn đi mới đã giận. Mắng
rồi, Trương Phi cầm xà mâu quay vào trướng định giết Đổng Trác. Đó chính là:
Ai biết anh hùng lúc trắng tay
Nếu được người người như Dực Đức
Trên đời hẳn hết kẻ không hay
Muốn biết tính mạng Đổng Trác thế
nào, xem hồi sau sẽ rõ.
Trương Dực Đức giận đánh Đốc Bưu
Hà Quốc cữu mưu giết Hoạn Thụ
Đổng Trác có hiệu là Trọng Dĩnh, người xứ Lũng Tây, vùng Lâm Thao, làm quan Thái Thú quận Hà Đông, vốn là một kẻ có tính kiêu ngạo. Bởi thế, Trương Phi vừa thấy mặt đã ghét, muốn giết đi. Huyền Đức và Vân Trường đồng can:
– Dù sao hắn cũng là người của triều đình sai đến, chúng ta không nên giết.
Trương Phi hầm hừ:
– Nếu không giết thằng ấy mà ở lại đây chịu mệnh lệnh của nó thì em không thể chịu được. Hai anh ở lại, em đi nơi khác.
Huyền Đức nói:
– Anh em ta đã thề đồng sanh tử thì việc đi ở có nhau. Nếu em muốn đi thì chúng ta cùng đi vậy.
Trương Phi mừng
rỡ:
– Nếu thế thì em mới nguôi giận.
Ba anh em Huyền Đức lại từ bỏ Trác Quận, ngày đêm kéo quân qua Dĩnh Xuyên theo Chu Tuấn. Chu Tuấn tiếp đãi anh em Huyền Đức rất hậu, hợp binh làm một, tiến đánh Trương Bảo.
Bấy giờ, Tào Tháo và Hoàng Phủ Tung cũng đang hợp quân đánh
nhau với Trương Lương ở Khúc Dương, riêng Trương Bảo thì lại địch với Chu Tuấn.
Trương Bảo đem tám, chín vạn quân đóng đồn sau chân núi khí thế rất vững. Chu
Tuấn sai Huyền Đức là tiên phong, kéo quân đến giao binh. Trương Bảo hay tin
sai Phó tướng Cao Thăng dẫn ba ngàn quân ra đối địch. Huyền Đức khiến Trương
Phi ra cự chiến. Đánh chưa đầy ba hiệp, Trương Phi đã vung xà mâu đâm Cao Thăng
đổ ruột nhào xuống ngựa chết ngay. Trương Bảo thấy thế tức giận, lướt tới vung
gươm niệm chú, đầu bỏ tóc xõa làm phép thuật, tức thì sấm chớp nổi lên, trên
không bao phủ một vùng hắc khí. Trong vùng hắc khí ấy lại có vô số binh mã lần
lượt rơi xuống. Trông thấy pháp thuật, binh của Huyền Đức rối loạn, nên Huyền Đức
vội vã thu quân. Về đến dinh, Huyền Đức vào ra mắt Chu Tuấn và bàn:
– Trương Bảo dùng tà thuật thắng chúng ta, ngày mai chúng ta phải dùng uế vật phá phép của nó mới được.
Chu Tuấn
khen phải, khiến quân sĩ sắm ống thụt cho nhiều, và truyền lệnh giết dê chó để
lấy máu. Kế đó, Huyền Đức khiến Quan Công dẫn một ngàn quân mai phục nơi phía
chân núi, đem theo ống thụt, máu dê, máu chó cho nhiều. Tất cả đều dự bị sẵn
sàng. Trời mờ sáng, Huyền Đức dẫn một đạo binh ra trước trới địch khiêu chiến.
Trương Bảo cười lớn nói:
– Hôm qua chúng đã bại binh, nay lại còn dám đến đây nộp mạng sao?
Liền truyền lệnh ba quân nai nịt chỉnh tề rồi xách giáp ra trước trại. Trương Bảo vừa dẫn binh ra đã thấy Huyền Đức múa kiếm mắng nhiếc. Trương Bảo nổi giận niệm chú, tức thì cát bay đá chạy âm khí mịt mù, trên không trung ngàn vạn binh mã ào ạt rơi xuống. Huyền Đức quay ngựa bỏ chạy, Trương Bảo cười lớn giục ngựa đuổi theo. Vừa qua khỏi núi, hai đạo binh phục của Quan, Trương nổi lên một tiếng pháo hiệu, ba quân hăm hở xông ra một lượt, dùng ống thụt nhúng vào máu thụt lên không, tức thì binh tướng yêu ma của Trương Bảo biến mất hết.
Trương Bảo thấy phép mình bị phá thất kinh, vừa muốn lui binh, thì hai đạo binh của Quan, Trương đã xông ra chặn lại. Phía sau Huyền Đức xua quân đuổi tới. Ba ngả đánh dồn lại làm cho đại binh của Trương Bảo tan vỡ, bị chết rất nhiều. Trương Bảo mở huyết lộ, quất ngựa chạy dài, Huyền Đức đuổi theo được vài dặm, lẹ tay rút ra một mũi tên ngắm Trương Bảo bắn theo. Trương Bảo la lên một tiếng mũi tên cắm vào cánh tay phía tả, không còn cầm thương được nữa, phải ôm cổ ngựa chạy thẳng vào Dương Thành đóng cửa cố thủ.
Chu Tuấn thừa thắng, một mặt đốc quân vây chặt bốn cửa thành, một mặt cho người đi dò la tin tức của Hoàng Phủ Tung. Nhắc lại từ khi Đổng Trác thay thế Lư Thực để đấu chiến với Trương Giác, Đổng Trác đã thua hơn bảy trận. Tin ấy đến tai triều đình. Vua liền triệu Đổng Trác về trách mắng, và sai Hoàng Phủ Tung ra thay thế.
Hoàng Phủ Tung đến nơi thì Trương Giác đã chết vì bệnh. Trương Lương thống lĩnh binh mã thay thế. Trương Lương cự với Hoàng Phủ Tung. Nhưng chẳng bao lâu, lực lượng của Trương Lương mòn mỏi, bị Hoàng Phủ Tung lập kế chém chết Trương Lương tại Khúc Dương, rồi đào mả Trương Giác lên, chặt đầu đem về triều dâng nạp. Triều đình phong cho Hoàng Phủ Tung là Xa Kỵ tướng quân, trấn nhậm tới Ký Châu. Hoàng Phủ Tung lại làm sớ dâng về triều xin cho Lư Thực khỏi tội, và phục hồi nguyên chức. Tào Tháo cũng có công dẹp giặc Trương Giác nên được phong làm Tể Tướng Nam.
Chu Tuấn hay được tin ấy, lòng nao nao, vội thối thúc binh sĩ ngày đêm phá thành Trương Bảo rất gấp. Trong thành quân sĩ đều hết lương thực, thế giặc nguy cấp, nên tướng giặc là Nghiêm Chách đâm chết Trương Bảo, rồi chặt đầu đem ra ngoài thành dâng cho Chu Tuấn. Thế là Chu Tuấn đã dẹp yên được mấy Quận, vội viết thiệp gửi về dâng tấu.
Bấy giờ còn dư đảng của giặc Khăn Vàng lẫn trốn trong núi non, rừng rậm, thỉnh thoảng kéo ra quấy nhiễu dân lành. Triều đình lại sai Chu Tuấn đem đoàn quân chiến thắng đi dẹp giặc các nơi hiểm yếu. Chu Tuấn tuân lệnh kéo quân ra đi. Nhưng đi được vài ngày thì bỗng thấy trước mặt có một đạo binh kéo tới. Ngỡ là quân giặc, Chu Tuấn toan cho lệnh đánh, nhưng xem lại tướng đi đầu không phải là giặc, mà là một trang thanh niên trán rộng, mắt sáng, lưng gấu, vai hùm, oai phong lẫm liệt.
Người này họ Tôn tên Kiên, quê ở Ngô quận, đất Phú
Xuân tự là Vân Đài, dòng dõi Tôn Vũ Tử, một nhà quân sự lừng danh. Năm Tôn Kiên
lên mười bảy tuổi, theo cha tới sông Tiền Đường, thấy hơn mười tên hải tặc vừa
cướp thuyền của một khách buôn, đang chia tiền nhau trên bờ. Tôn Kiên nói với
cha:
– Con xin phép bắt lũ giặc này.
Rồi nhảy lên bờ múa đao hò hét, tay chỉ trỏ Đông Tây như gọi quân bốn mặt đến. Giặc tưởng là quan quân đi tuần, vội bỏ hết của cải chạy trốn. Tôn Kiên đuổi theo chém được một đứa. Do đó, các quận huyện đều biết danh, được tiến cử làm Hiệu úy. Sau đó, lại có tên yêu tặc làm phản ở Cối Kê, xưng là Dương Minh Hoàng đế, tụ tập thảo khấu có hơn vài vạn. Tôn Kiên cùng quan quân Châu Quận phá được giặc chém đầu Hứa Xương và đứa con của hắn là Hứa Thiều. Quan Thứ sử Tang Mân thấy Tôn Kiên lập được công lớn, liền dâng biểu về triều bảo tấu. Triều đình phong cho Tôn Kiên làm quan Thừa ở Diêm Tộc, sau đổi sang Hu Di Thừa, rồi lại làm Hạ Bì Thừa.
Nay thấy giặc Khăn Vàng nổi lên quấy nhiễu, Tôn Kiên lại một lần nữa tụ tập thiếu niên trong thôn ấp, và thu nạp một số võ sĩ ở miền sông Hoài, lập thành một đạo quân hơn một ngàn năm trăm người, kéo đi tiếp ứng cho quân triều. Chu Tuấn mừng rỡ liền thu dụng Tôn Kiên, cùng nhau hiệp binh để truy nã giặc cướp. Chẳng bao lâu, các nơi hẻo lánh đã dẹp xong, duy có ba tên giặc lớn, dư đảng của Trương Giác là Triệu Hoằng, Hàn Trung, Tôn Trọng, tụ tập hơn vài vạn quân, chiếm cứ nơi Uyển Thành, bên trong cướp của giết người, bên ngoài thinh thế là để trả thù cho ba anh em Trương Giác.
Chu Tuấn liền léo quân đến nơi vây đánh, sai ba
anh em Huyền Đức ngày đêm công thành. Trong thành hết lương, Hàn Trung liệu thế
không chống nổi, sai người ra xin hàng. Chu Tuấn không cho. Huyền Đức nói:
– Xưa, Hán Cao Tổ sở dĩ được
thiên hạ nhờ ở chỗ chiêu dụ kẻ hàng, thu nạp kẻ thuận. Sao nay ông lại không
cho Hàn Trung hàng? Chu Tuấn đáp:
– Thời ấy khác, thời nay khác.
Xưa nhà Tần bạo ngược, Hạng Vũ hung tàn, thiên hạ đại loạn, người dân không biết
ai là thánh chúa, nên Hán Cao Tổ phải tỏ lượng khoan dung để thu phục thiên hạ.
Nay bốn bể, dân gian ai cũng biết nhà Hán là chủ thiên hạ, chỉ có giặc Khăn
Vàng làm phản. Nếu để chúng đắc thế thì làm loạn, yếu thế thì đầu hàng, là sao
giữ được luật pháp? Tha cho chúng đầu hàng tức là khuyến khích sự phản nghịch
đó. Huyền Đức đáp:
– Không cho giặc hàng cũng phải. Nhưng hiện nay ta vây kín bốn mặt thành, giặc bí thế tất phải liều tử chiến. Muôn người một lòng thì khó chống. Hơn nữa trong thành có hơn ba vạn sinh linh, chẳng lẽ vì chiến sự mà phải chết cả sao? Chi bằng chúng ta triệt quân ở hai mặt Đông, Nam chỉ đánh hai mặt Tây, Bắc, để cho giặc bỏ thành chạy, rồi ta bắt sống là hơn.
Chu Tuấn nghe lời, triệt hết quân hai mặt Đông, Nam, dồn về đánh hai mặt Tây, Bắc. Quả nhiên, Hàn Trung dẫn quân bỏ chạy. Chu Tuấn liền cùng với anh em Huyền Đức thúc quân đuổi theo chém giết, và bắt Hàn Trung. Quân giặc sống sót chạy tán loạn. Đang lúc quân Hàn truy kích, bỗng có Triệu Hoằng, Tôn Trọng dẫn quân đến vây đánh Chu Tuấn, Chu Tuấn thấy quân giặc đông nên phải tạm lui. Do đó, Triệu Hoằng thừa thế chiếm lại được Uyển Thành.
Chu Tuấn lui mười dặm hạ trại, rồi ngày hôm sau lại đều binh khiển tướng vây thành. Chu Tuấn sai Tôn Kiên đánh phía Nam Uyển Thành, Huyền Đức đánh cửa Bắc, Chu Tuấn đánh cửa Tây, chừa cửa Đông nhử cho giặc chạy. Tôn Kiên tự mình nhảy lên mặt thành trước tiên, vung đao chém luôn một lúc hai mươi tên giặc. Giặc hoảng sợ bỏ chạy xuống hết. Triệu Hoằng thấy thế liền cầm giáo dài phi ngựa tới đâm. Tôn Kiên từ mặt thành phi thân xuống, cướp luôn cây giáo của Triệu Hoằng, rồi xông vào giết giặc. Bị binh Tôn Kiên hãm thành quá mạnh, Tôn Trọng kéo tàn quân chạy vụt ra cửa Bắc, bỗng gặp Huyền Đức kéo quân chặn lại. Tôn Trọng không còn lòng dạ nào giao đấu nữa, vội lách mình qua đám loạn quân chạy trốn. Huyền Đức giương cung bắn theo một phát trúng Tôn Trọng nhào xuống ngựa chết tức thì. Bấy giờ, đại quân của Chu Tuấn thừa thế đánh ập vào chiếm thành, chém hơn một vạn thủ cấp của giặc. Quân giặc lớp chết lớp đầu hàng. Thế là một giải Nam Dương hơn mười quận được bình định.
Chu Tuấn truyền lệnh ban sư hồi trào, vào thẳng Ngân Loan Điện ra mắt. Hán Vương truyền dọn tiệc khao thưởng quân sĩ và phong cho Chu Tuấn làm chức Xa Kỵ Tướng Quân, kiêm lãnh Hà Nam. Chu Tuấn dâng biểu xin phong chức cho Tôn Kiên và ba anh em Huyền Đức. Tôn Kiên vì có thân thế nên được phong chức Tư Mã, lãnh quân đi trấn nhậm liền. Còn ba anh em Huyền Đức chờ đợi rất lâu, mà không thấy phong thưởng gì hết, lòng lấy làm hổ thẹn, chẳng biết vì sao triều đình lại có chuyện bất công như vậy.
Một hôm, ba anh em Huyền Đức ra đường dạo mát giải khuây, bỗng
gặp xe của Quan Lang là Trương Quân đi ngang qua đó. Huyền Đức tỏ hết tâm sự
mình cho Trương Quân nghe. Trương Quân nghe nói cả kinh, lập tức vào triều tâu:
– Xưa những cuộc nổi loạn gây nên thường bởi những kẻ nịnh thần. Sở dĩ giặc Khăn Vàng tạo phản là vì lũ Thập Thường Thị khi quân, mua quan bán tước, kẻ có công không được thưởng, kẻ có tội không bị trừng phạt xứng đáng, làm mất lẽ công bằng. Vậy nay bệ hạ phải chém đầu hết chúng nó và ban bố cho dân chúng biết, thì lòng dân mới yên ổn.
Bọn Thập Thường
Thị liền tâu với vua là Trương Quân khi chúa. Vua khiến kẻ tả hữu đuổi Trương
Quân ra. Được vua tín dùng, bọn Thập Thường Thị lại càng đắc ý bàn với nhau:
– Đây chắc có kẻ nào có công dẹp giặc Khăn Vàng mà không được trọng thưởng nên oán hận sinh ra chuyện ấy. Bây giờ chúng ta phải tìm chức nào nho nhỏ phong cho nó, để chúng nó an lòng, rồi sẽ tìm cách sa thải chúng cũng không muộn.
Bởi lẽ đó nên Huyền Đức được phong làm Huyện úy tới huyện An Hỉ, thuộc phủ Trung San, và phải phó nhiệm liền nội ngày hôm ấy. Huyền Đức được lệnh cho tất cả các nghĩa binh của mình được trở về làng, chỉ còn để lại vài mươi người tâm phúc, rồi cùng Quan, Trương thẳng đến huyện An Hỉ nhận việc. Trấn nhậm được bốn tháng, nhân dân nơi đây rất mến phục ba anh em Huyền Đức là người có nhiều lương tâm và đạo đức.
Ngày kia, Huyền Đức
bắt được chiếu chỉ của Triều đình phán rằng: “Tất cả những kẻ có công dẹp giặc
Khăn Vàng được phong làm chức Huyện úy đều phải bị cách chức.” Huyền Đức đoán
biết mình thế nào cũng bị sa thải, nên đêm ngày thường bàn bạc với hai em chưa
biết vì duyên cớ gì. Bỗng có Đốc Bưu di hành đến huyện. Huyền Đức ra thành
nghinh tiếp, vừa thấy Đốc Bưu vào đến quán dịch, Đốc Bưu gọi Huyền Đức nói:
– Huyện úy làm người thế nào mà
xuất thân đó? Huyền Đức nói:
– Tôi vốn là dòng dõi của Trung Sơn Tĩnh Vương vì lúc nọ nghe giặc Khăn Vàng tạo phản nên ra tụ tập nghĩa quân giúp nước. Từ ở Trác Quận tôi đã dẹp lớn nhỏ hơn ba mươi trận, vì vậy mà được chút ít công lao nên được phong làm chức Huyện úy này.
Huyền Đức nói chưa dứt lời
thì Đốc Bưu đã hét lớn:
– Sao ngươi dám xưng là Hoàng thân, lại còn hư báo công lao của ngươi nữa? Nay ta vâng lệnh triều đình đến đây để sa thải các tham quan, ô lại, ngươi có biết không?
Huyền Đức nghe Đốc
Bưu nói thế, vội vàng lui ra không dám cãi, trở về huyện bàn vớì các quan lại.
Các quan lại bàn tính một hồi rồi mới nói với Huyền Đức:
– Đốc Bưu là một đứa bất liêm.
Nay nó làm oai như vậy là ý nó muốn nài hối lộ đó. Huyền Đức lắc đầu, nghĩ ngợi
giây lát rồi nói:
– Ta lâu nay chẳng hề lấy của ai một đồng một chữ nào, vậy tiền đâu mà đưa cho nó. Vả chăng, nếu có tiền ta cũng không thể làm được cái chuyện hèn hạ như vậy.
Đốc Bưu thấy Huyền Đức tỏ vẻ không phục tùng ý muốn của mình, bèn bắt tất cả các quan lại buộc vu cho Huyện úy là người hà lạm của dân.
Các quan đều khóc lóc xin cho Huyền Đức. Lúc ấy,
Trương Phi cũng vừa đi đến, thấy có năm sáu ông già ngồi buồn trước quán dịch
khóc lóc. Phi liền kêu lại hỏi thăm duyên cớ, thì các ông già kia nói:
– Đốc Bưu bắt ép bọn tôi khai cho Lưu công là kẻ hà lạm, chúng tôi vì cảm mến Lưu công nên đã xin ba bốn phen mà chưa được.
Nhân lúc Trương Phi vừa uống xong mấy chén rượu để giải buồn, nghe
nói như vậy, lòng nổi nóng, liền nhảy vội xuống ngựa xông vào quán dịch, chạy
thẳng đến công đường, thấy Đốc Bưu đang ngồi vểnh chân trên cao thét mắng các
huyện lại bị trói để nằm dưới đất. Trương Phi bước đến thét lớn:
– Thằng khốn nạn kia! Ngươi biết ta là ai mà ngươi dám đến đây làm phách như vậy?
Đốc Bưu chưa kịp nói nửa lời
thì liền bị Trương Phi nhảy tới đá một đá vào quai hàm. Đốc Bưu đau quá, la lên
một tiếng, nhào xuống đất. Chưa chịu thôi, Trương Phi nắm râu Đốc Bưu kéo đi xềnh
xệch, dẫn thẳng đến huyện nha, trói vào cột cờ, rồi bẻ roi đánh Đốc Bưu một hồi
nữa, đến gãy hết mấy chục cành roi liễu. Đốc Bưu chẳng biết làm sao, đau quá buộc
lòng phải năn nỉ, nhưng Trương Phi không tha. Lúc ấy Huyền Đức đang ngồi một mình
buồn bực, bỗng nghe có tiếng huyên náo liền hỏi kẻ tả hữu. Và bọn này thưa:
– Trương tướng quân đang trói một người trước huyện nha mà đánh dữ lắm!
Huyền Đức vội vã bước ra xem thì thấy người
bị đánh là Đốc Bưu, bèn thất kinh chạy lại nắm tay Trương Phi kéo lại.
Trương Phi nói với Huyền Đức:
– Anh đừng cản ngăn. Thằng này là một đứa ăn cướp, không đánh cho chết để làm gì?
Thấy Huyền Đức tới, Đốc Bưu năn
nỉ:
– Lưu công ơi! Xin cứu dùm tánh mạng tôi với.
Huyền Đức vốn lòng nhân từ thấy vậy không cho Trương Phi đánh nữa.
Quan Công đang đứng một bên, bước đến nói:
– Đại ca đã lập được công lao rất lớn. Với công án ấy lẽ ra đại ca phải được trọng thưởng, thế mà đại ca chỉ được chức Huyện úy nhỏ mọn này. Đã vậy, Đốc Bưu lại còn đến đây đòi của hối lộ, làm nhục chúng ta nữa. Em nghĩ, không phải là chỗ để cho chim phượng hoàng nghỉ cánh, chỉ bằng giết quách Đốc Bưu cho đã giận rồi trả ấn, trở về làng tìm cơ lập nghiệp là hơn.
Huyền Đức liền lấy ấn treo nơi cổ Đốc Bưu, và nói:
– Cứ như cái tội nhũng lạm của dân cũng đủ cho chúng ta giết ngươi cho an lòng dân chúng, nhưng vì từ tâm, ta dung thứ cho ngươi đó. Ngươi hãy đem ấn này về giao nộp cho triều đình, và ăn năn hối cải để khỏi ân hận sau này. Chúng ta đi đây.
Khi Đốc Bưu được thả thì ba anh em Huyền Đức đi hết. Đốc Bưu quá tức giận, lén đi cáo với quan Thái Thú quận Dĩnh Châu, vu cáo cho anh em Huyền Đức mưu phản. Quan Thái thú Dĩnh Châu ra lệnh khắp các huyện tầm nã ba anh em Huyền Đức.
Bấy giờ, ba anh em Huyền Đức dắt nhau qua Đới Châu ở với Lưu Khôi. Lưu Khôi thấy Huyền Đức là dòng dõi nhà Hán nên có cảm tình giấu nuôi trong nhà. Tới triều, bọn Thập Thường Thị lúc này lại lộng quyền thái quá. Chúng dùng đủ cách tham ô, những người nào phục tùng theo chúng thì được chức quyền, bằng trái lại thì đều bị chúng làm hại. Chúng lại sai người đi khắp quận huyện bắt những người nào có công dẹp giặc Khăn Vàng, được phong chức tước đều phải nạp lễ vật cho chúng, nếu không chúng tâu với vua sa thải ngay. Bởi lẽ đó, nên nhiều người liêm chính đã bỏ chức về làng làm dân, không chịu mang tiếng nhục.
Hoàng Phủ Tung và Chu Tuấn là người có công lớn trong việc dẹp giặc Khăn Vàng, cũng bị bọn Thập Thường thị tâu với vua bãi chức. Vua lại phong cho nhóm nịnh thần như Triệu Trung làm chức Xa Kỵ Tướng quân, và hết thảy mười ba người trong bọn Trương Nhượng đều lãnh chức Liệt Hầu.
Từ đó,
việc triều chính càng ngày càng hư nát, triều thần lộn xộn, dân tình ly tán. Tới
quận Trường Xa có tên Khu Tỉnh nổi loạn. Ngư Dương có bè lũ Trương Cử, Trương
Thuần làm phản. Trương Cử xưng Thiên tử, Trương Thuần xưng Đại Tướng quân. Biểu
văn hàng ngày cấp báo về triều như cánh bướm, nhưng bọn Thập Thường Thị nhẹm hết,
không cho vua hay. Một hôm vua ngự ở hậu viên, đang yến ẩm với bọn Thập Thường
Thị bỗng có quan Giám nghị Đại phu Lưu Đào đi thẳng vào, quỳ trước mặt vua mà
khóc. Vua hỏi duyên cớ, Lưu Đào tâu:
– Vận mạng thiên hạ có thể nguy
biến trong một sớm một chiều, thế mà bệ hạ cứ ngồi yến ẩm với bọn yểm hoạn này
ư? Vua nói:
– Nước nhà đang lúc thái bình
thanh trị, sao khanh lại nói là nguy biến? Lưu Đào tâu:
– Bốn phương giặc giã nổi lên như ong, hiện đang xâm chiếm từ châu nọ đến quận kia! Cái tai vạ này cũng chỉ vì mười tên Thường Thị buôn quan bán chức, hại dân mà ra! Chúng dối vua loạn phép, cho nên những người ngay thẳng đều xa lánh triều đình. Cái nguy biến trước mắt, mong bệ hạ suy xét!
Mười tên Thường Thị nghe vậy liền quỳ xuống trước mặt vua,
trật mũ ra, tâu:
– Quan đại thần đã không dung thì lũ hạ thần này phải chết. Xin bệ hạ mở lòng hiếu sinh cho chúng tôi được trở về làng cày ruộng, làm vườn, nguyện đem hết tài trí giúp nước nhà nuôi quân phá giặc.
Tâu xong, tất cả mười tên Thường thị đều khóc rống lên rất thảm thiết, như sắp
bị đem đi hành hình vậy. Vua giận mắng Lưu Đào:
– Nhà ngươi cũng có đầy tớ, sao lại
không dung kẻ hầu, người hạ của trẫm. Nói xong vua lại truyền võ sĩ bắt Lưu Đào
đem chém. Lưu Đào kêu lớn:
– Đầu thần rơi không đáng tiết, chỉ tiếc cho cơ nghiệp nhà Hán gây dựng trên bốn trăm năm, nay phút chốc phải tan tành.
Võ sĩ trói Lưu Đào đem ra ngoài, sắp sửa hành hình, thì bỗng có một vị
đại thần chạy đến quát lớn:
– Không được hạ thủ. để ta vào can vua đã!
Võ sĩ thấy đó là quan Tư Đồ Trần Đam, nên chưa dám khai đao, còn chờ
lệnh. Trần Đam đi thẳng vào hỏi vua:
– Lưu Giám nghị có tội gì mà bệ hạ truyền đem chém?
Vua Linh Đế nói:
– Tội sàm báng cận thần và khi quân.
Trần Đam nói:
– Hầu hết dân chúng trong thiên hạ ai cũng muốn ăn sống mười đứa Thường Thị, sao bệ hạ lại kính nể chúng như cha mẹ? Không một tấc công lao mà sao đứa nào cũng được phong tước Hầu. Đã vậy, bọn Phong Tư là kẻ tư thông với giặc Khăn Vàng, toan làm nội phản, thế mà nay bệ hạ còn chưa tỉnh ngộ, mến chuộng bọn hoạn quan như thế sao?
Linh Đế nói:
– Phong Tư làm phản, việc ấy còn mù mờ chưa rõ hư thật. Còn như trong mười người Thường Thị há lại không có kẻ nào là trung thần sao?
Trần Đam dập đầu dưới đất, nhất định can vua cho kỳ được. Vua nổi giận truyền võ sĩ trói lại, đem ra hạ ngục cùng với Lưu Đào, chờ xét xử sau.
Ngay đêm đó, bọn Thường Thị kéo nhau vào ngục giết chết hai vị trung thần này, rồi chúng lại giả chiếu vua phong Tôn Kiên làm Thái Thú Trường Sa, sai đi đánh Khu Tỉnh, bình định phiến loạn. Chưa đầy ba mươi ngày, Tôn Kiên đã dẹp yên, viết thiệp về triều cáo báo. Thế là vùng Giang Hạ được yên, Tôn Kiên được phong làm ý Trình Hầu, Lưu Ngu thì được phong làm U Châu Mục, lãnh quân đến Ngư Dương đánh Trương Thuần, Trương Cử.
Bấy giờ Lưu Khôi ở Đới Châu viết thư tiến cử và bảo ba anh em Huyền Đức đến ra mắt Lưu Ngu. Lưu Ngu rất mừng, cử anh em Huyền Đức làm Đô úy, dẫn binh vào thẳng sào huyệt của giặc đánh phá kịch liệt hai ba ngày liền. Trương Thuần vốn là kẻ hung bạo hay chém giết, nên lòng quân sinh biến. Một tên đầu mục núp trong trướng lừa giết chết Trương Thuần rồi đem đầu ra ngoài nạp cho Huyền Đức. Trương Cử thấy tình thế nguy nan, nên tự tử chết luôn. Quân sĩ kéo ra đầu hàng hết.
Ngư Dương bình định, Lưu Ngu dâng biểu tâu rõ công
lớn của Lưu Bị. Triều đình xá cho Huyền Đức cái tội đánh Đốc Bưu và phong chức
Hạ Mật thừa, rồi thăng Cao Đường úy. Sau đó, Công Tôn Toản lại dâng biểu trần
thuật công lao của Huyền Đức khi dẹp giặc Khăn Vàng trước kia mà tiến cử làm Liệt
Bộ Tư mã, lãnh chức Bình Nguyên huyện lệnh. Triều đình y tấu, Huyền Đức tới chấn
nhậm Bình Nguyên, có đủ lương tiền, quân mã, ba anh em mới được thanh nhàn. Còn
Lưu Ngu có công dẹp giặc được phong làm Thái úy.
Năm Trung Bình thứ sáu, mùa hạ, tháng tư, vua Linh Đế đau nặng, bèn triều Đại tướng Hà Tiến vào cung để thương nghị. Hà Tiến vốn con nhà hàng heo, nhân cơ hội em gái vào cung làm quý nhân, nhờ sanh được hoàng tử Biện, nên mới được phong làm Hoàng Hậu. Hà Tiến cũng nhờ đó mà nhậm được trọng chức.
Vua lại lấy Vương Mỹ Nhân sinh được Hoàng tử Hiệp,
vì thế Hà thái hậu ghen ghét dùng thuốc độc giết Vương Mỹ Nhân đi. Đổng Thái Hậu
liền đem Hoàng tử Hiệp về cung riêng của mình để nuôi dưỡng. Đổng Thái Hậu là mẹ
của vua Linh Đế, thường ngày khuyên vua lập Hoàng tử Hiệp làm thái tử. Vua cũng
bằng lòng, ngặt vì đau nặng nên chưa tính đến việc ấy được. Trung Thường Nghị
là Kiển Thạc biết việc ấy bèn vào tâu với vua:
– Nếu bệ hạ muốn lập Hoàng tử Hiệp
lên ngôi thì bệ hạ phải giết Hà Tiến thì sau này mới khỏi sinh hậu hoạn. Vua
suy nghĩ rồi cho đòi Hà Tiến vào cung. Khi Hà Tiến vừa vào tới cửa cung thì gặp
quan Tư Mã là Phan Ân đón lại nói:
– Ông chớ vào cung, Kiển Thạc âm mưu muốn giết ông đấy.
Hà Tiến nghe nói thất kinh vội vã bước ra về thẳng tư
dinh, lập tức mời các quan đại thần đến bàn bạc công việc. ông nói:
– Nay bọn hoạn quan ỷ thế, làm nhiều đều sàm nịnh, nếu chúng ta không tìm cách trừ hết bọn nó, thì chúng ta ắt không khỏi mang hậu họa.
Hà Tiến vừa nói dứt lời, thì bỗng có một người bước đến,
thưa:
– Quyền thế của hoạn quan rất mạnh, khởi từ lúc vua còn nhỏ, chi nhánh trong triều rất nhiều, giết làm sao hết được, phỏng như chúng ta không làm nổi để lộ cơ mưu ắt không khỏi bị diệt tộc.
Hà Tiến
quay mặt sang nhìn, thì thấy người ấy là Tào Tháo, ông nổi giận nạt lớn:
– Ngươi là người tiểu bối, biết gì mà dám bàn đến.
Trong lúc mọi người còn đang bàn bạc thì Phan Ân chạy đến
nói:
– Vua đã băng hà rồi, nhưng Kiển Thạc lại thương nghị với bọn Thập Thường Thị không cho phát lộ ra ngoài. Chúng nó muốn triệu Hà Quốc cựu vào cung để diệt trừ hậu họa, hầu lập Hoàng tử Hiệp lên làm vua.
Phan An nói vừa dứt lời thì quả có chiếu triệu đòi Hà Tiến vào
cung. Tào Tháo thấy vậy bước ra nói:
– Hôm nay hãy lo tôn tân quân trước đã, rồi sẽ tính kế trừ lũ nịnh thần sau.
Hà Tiến nói:
– Như vậy ai vì ta, vì xã tắc mà lo việc chánh quân và việc trừ lũ nịnh hay không?
Bỗng có người từ góc trái bước
ra, thưa:
– Xin cho tôi lãnh năm ngàn quân đến tới cung phá cửa lập tân quân và bắt tất cả bọn Thập Thường Thị mà giết cho rồi.
Hà Tiến xem lại người nói đó là Tư Đồ Viên Thiệu, tự là Bôn Sồ, hiện đang
giữ chức Tư Đồ Huyện úy. Hà Tiến mừng rỡ, vội vã điểm năm ngàn quân giao cho
Viên Thiệu. Viên Thiệu nai nịt hẳn hoi, dẫn năm ngàn quân Ngự Lâm kéo thẳng vào
cung. Còn Hà Tiến thì cùng với các quan đại thần như: Hà Ngung, Tuân Nhu, Trịnh
Thái… cộng cả thảy hơn ba mươi người, đồng kéo thẳng vào trào, lập Thái tử Biện
lên ngôi Hoàng đế. Viên Thiệu dẫn quân đi thẳng vào cung tìm bắt Kiển Thạc, và
nã tróc bọn Thập Thường Thị. Kiển Thạc hay tin khiếp vía, vội vã nhảy ra ngự
huê viên mà trốn, nhưng bất thời lại gặp Trung Thường Thị là Quách Thắng thấy
được, đâm một kiếm chết tốt. Bọn Trương Nhượng biết nguy đã đến nơi liền chạy
vào cung van cầu Hà Thái hậu:
– Kẻ lập mưu hãm lại tướng công là Kiển Thạc, nay Kiển Thạc đã chết rồi, còn chúng tôi là kẻ vô can, mong Thái hậu mở lòng nhân che chở cho.
Hà Thái hậu nói:
– Các người đừng sợ nữa, để ta bảo
hộ cho. Dứt lời, Hà Thái hậu liền triệu Hà Tiến đến nói:
– Anh em ta lúc trước hàn vi, nếu không nhờ bọn Trương Nhượng giúp đỡ một tay thì đâu có quyền cao lộc cả như ngày hôm nay. Vậy anh nên nghĩ lại vị tình mà dung tha bọn Trương Nhượng là phải hơn.
Hà Tiến ngẫm nghĩ giây lâu rồi trở ra nói với các quan:
– Kiển Thạc là một tên bạo phản, nay hắn đã đền tội rồi, còn các người khác ta có thể dung tha được, chớ nên sát hại chúng làm chi.
Viên Thiệu nói:
– Đốn cây mà không nhổ tận rễ thì làm sao khỏi bị nứt chồi.
Hà Tiến nói:
– Ý ta đã cương quyết như vậy, ngươi chớ có nhiều lời vô ích. Các quan nghe Hà Tiến nói thế, ai nấy đều hậm hực lui về dinh. Sáng hôm sau Hà Thái hậu giáng chỉ phong Hà Tiến làm Tham Lục thượng thư, còn các quần thần cứ đẳng gia phong một trật.
Công việc làm của Hà Tiến
khiến cho Đổng Thái Hậu căm tức, bèn kêu bọn Trương Nhượng vào cung nói:
– Em gái hắn trước kia chính nhờ ta tiến cử, nó mới được vua yêu dùng đến ngày hôm nay. Hôm nay con trai của nó được nối ngôi Hoàng đế, thế lực trong ngoài của nó quá mạnh, như vậy bọn chúng ta có ngày e phải lâm hại.
Trương Nhượng nghe Đổng Thái Hậu than thở, liền bày
mưu:
– Bây giờ Nương Nương làm sao chưởng chấp uy quyền, Cựu Đổng Trọng và phong thêm chức cho chúng tôi thì một ngày kia chúng tôi có cơ hội cứu nguy tình thế.
Đổng Thái hậu rất mừng khen Trương Nhượng có mưu cao. Ngày thứ Đổng Thái hậu thiết trào rồi giáng chỉ phong cho Hoàng tử Hiệp làm Trần Lưu vương, Đổng Trọng làm Biên Kỵ tướng quân, bọn Trương Nhượng đều được gia thêm chức và cùng dự việc triều chính.
Hà Thái hậu thấy Đổng Thái hậu lộng
quyền trong lòng sinh nghi, bèn thiết yến diện trong cung rồi thỉnh Đổng Thái Hậu
phó yến. Khi dự tiệc nửa chừng, Hà Thái hậu đứng dậy, tay bưng chén rượu nói với
Đổng Thái hậu:
– Chúng ta là phận đàn bà mà dự đến việc triều chính chẳng khác nào chúng ta đã đi ngoài phận sự. Những gương xưa còn rành, Lữ Hậu cũng vì nắm trọn quyền mà cả dòng họ bị tru lục, và còn biết bao nhiêu việc tai hại khác. Chúng ta hãy noi gương đó mà tránh đi những cái dữ để khỏi ân hận ngày sau.
Đổng Thái hậu giận dữ mắng lớn:
– Mi ỷ thế lực của con mi làm vua, mi dám loạn ngôn như vậy. Tội ngươi tra thuốc giết Vương mỹ nhân là một cựu thù ta chưa nói đến đó thôi.
Hà Thái hậu thấy Đổng Thái hậu nói quá lời, lòng nổi
giận cũng mắng lại:
– Ta lấy lời hơn lẽ thiệt để bàn bạc, sao mi lại dám xúc phạm đến danh dự của ta? Hai bên không ai chịu nhịn ai, cứ mắng đùa với nhau không kể gì đến danh dự. Bọn Trương Nhượng hay tin, vội chạy đến can ngăn hết lời, Đổng Thái hậu mới chịu về cung.
Hà Thái hậu đêm ấy không ngủ được, bèn gọi Hà Tiến đến tỏ bày việc ấy. Rạng sáng Hà Tiến một mặt nhóm họp đình thần buộc Đổng Thái hậu phải rời khỏi cung ra ở phủ Hà Giang, mặt khác vây nhà Biên Kỵ tướng quân Đổng Trọng. Đổng Trọng liệu thế khó thoát được liền cầm đao tự vận nơi hậu dinh.
Bọn Trương Nhượng thất vía không biết chỗ nào nương tựa vì thế lực của Đổng Thái hậu đã tiêu tan trong phút chốc, bèn đem tiền bạc vàng lụa đến lo lót cho người em Hà Tiến là Hà Miêu nói với Hà Thái hậu để được toàn mạng. Nhờ đó mà bọn Thập Thường Thị lại vẫn được dung dưỡng và giữ chức quyền như cũ.
Việc triều chính đã tạm yên, Hà Tiến còn sợ những hậu họa nên sai người
đến Hà Giang tìm cách đánh thuốc độc Đổng Thái hậu. Cách mấy ngày sau có tin Đổng
Thái hậu bị ngộ độc mà chết, Hà Tiến bèn dạy đem xác Đổng Thái hậu về chôn nơi
Vương Lăng. Công việc ấy thấu tai đến lũ nịnh thần nên nhiều tiếng đồn làm cho
Viên Thiệu hay được. Viên Thiệu liền vào nói lại với Hà Tiến:
– Tôi có nghe tiếng đồn do bọn Thập Thường Thị rao ra rằng tướng công đã giết Đổng Thái hậu. Nếu để chúng gièm pha như vậy e không lợi, chi bằng nhân cơ hội này mà giết chết bọn chúng đi thì mới khỏi sợ sinh ra hậu hoạn.
Hà Tiến nghe được việc ấy, ngày đêm còn đang suy đi
tính lại để tìm cách diệt trừ bọn Thập Thường Thị, thì việc này bọn Trương Nhượng
hay được. Nhưng thế yếu không biết làm sao, bọn Trương Nhượng lại đem vàng bạc
thiệt nhiều đến lo lót cho Hà Miêu một lần nữa để vào nói Hà Thái hậu. Hà Miêu
vào cung tâu với Hà Thái hậu:
– Bọn Thập Thường Thị lâu nay rất có công với triều chính, nay vì vô cớ tướng công Hà Tiến muốn diệt trừ họ, e sanh ra rối loạn triều thần.
Hà Thái hậu nghe nói khiến quân triệu Hà Tiến vào
cung bảo:
– Tiên Đế mới băng hà; việc triều chính còn nhiều rối lắm, không nên có ý làm hại các cựu thần mà sanh ra rối loạn.
Hà Tiến là kẻ không cương quyết nên nghe Hà Thái hậu nói như vậy cũng phải vâng lệnh lui ra, thuật lại ý kiến của Hà Thái hậu cho Viên Thiệu nghe.
Viên Thiệu
nói:
– Lực lượng chúng ta bây giờ đâu có sợ bọn chúng. Nếu tướng công có nghi ngờ triệu tập các anh hùng hào kiệt trấn giữ khắp châu, quận rồi trở về cung mà giết sạch bọn chúng nó đi thì có lo gì bọn chúng phản ứng.
Hà Tiến nói:
– Kế ấy rất hay. Rồi, ông tính
phát các hịch văn triệu hồi các trấn về hợp sức. Xảy có người bước tới cản
ngăn:
– Theo ý ngu hạ thì việc ấy tướng công không nên làm, và người xưa có câu: “Che mắt mà bắt chim én”. Việc nhỏ mọn như thế mà còn phải dùng đến mưu chước huống chi việc quốc gia đại sự. Nay Tướng công chấp chưởng binh quyền, muốn làm gì chẳng được mà Tướng công phải tính như vậy. Hơn nữa anh hùng khắp nơi, mỗi người có đều có chí hướng riêng, phỏng như Tướng công triệu họ về mà có một số người không tuân lệnh có phải Tướng công cầm giáo mà lại trở cán cho thiên hạ không?
Hà Tiến nghe nói cười lớn và nói:
– Ngươi là kẻ hủ nho, kiến thức bao nhiêu mà dám cùng bàn đến đại sự.
Hà Tiến nói vừa dứt lời lại có một kẻ vỗ
tay cười to, nói:
– Việc nhỏ như vậy mà cần chi phải
bàn đi bàn lại cho thêm mệt. Mọi người nghe nói quay lại thì thấy người ấy là
Tào Tháo.
-------------------------------------------------------------------
Tiệc Ôn Minh, Đổng Trác mắng Đinh Nguyên
Dùng vàng bạc, Lý Túc dụ Lã Bố
Nhắc lại Tào Tháo thấy Hà Tiến muốn gọi binh mã các nơi về triều, thì nói rằng:
– Xưa nay những bọn gian nịnh thì đời vua nào chẳng có, ấy là việc thường sự trong đời. Nhưng vì Vua gần đây quá sủng ái, cho chúng nó giữ quyền bính mà không nỡ tước bỏ, nên mới đến nỗi này. Còn muốn trừ chúng nó thì chỉ cần trị tội đứa cầm đầu là đủ, và chỉ cần một tên quản ngục bắt giam cũng xong. Việc gì phải triệu quân ngoài ùn ùn kéo về? Nếu cố giết hết bọn chúng, việc ắt tiết lộ. Tôi e rằng thất bại đấy.
Hà Tiến bực tức gắt:
– Mạnh Đức cũng có một ý khác trong bụng nữa sao?
Tào Tháo bỏ ra ngoài, nói một mình:
– Kẻ làm cho thiên hạ loạn, chính
là thằng Tiến.
Hà Tiến bèn ngầm sai sứ đem mật chiếu, ngày đêm đi tới các Trấn… Đây nhắc lại Tiền tướng quân Ngao Lương hầu, Tây Lương Thứ sử là Đổng Trác vì trước kia đánh giặc Khăn Vàng không có công lao gì, bị thua luôn Trương Giác mấy trận nên triều đình triệu về buộc tội. Nhưng Trác đã đem của đút lót cho bọn Thập Thường Thị nên khỏi tội. Sau lại khéo luồn cúi bọn quyền quý trong triều nên Trác lại được thăng quan vùn vụt: từ Trung Lang tướng, nhảy lên Tiền Tướng quân, Ngao Hương hầu, Tây Lương Thứ sử!
Từ
lúc trấn thủ ở ngoài, trong tay thống lãnh hơn hai mươi vạn quân tới Tây Lương,
Đổng Trác đã có lòng phản nghịch, nhưng chưa dám. Lúc ấy, lại được chiếu triệu
về, thật là dịp may hiếm có, Đổng Trác mừng như cọp gặp mồi, liền điểm binh mã,
lục tục kéo về triều. Trác cử con rể là Ngưu Phụ làm Trung Lang tướng ở lại trấn
đóng Thiểm Tây, còn mình tự dẫn Lý Thôi, Quách Dĩ, Phàn Trù, Trương Tế đều nhắm
Lộc Dương tấn phát. Mưu sĩ Lý Nhu, cũng là con rể của Đổng Trác, bàn rằng:
– Nay mặc dầu tuy có chiếu triệu, song việc này xem ra có hơi ám muội, nếu muốn nên việc lớn thì phải sai người dâng biểu làm cho danh chính ngôn thuận thì mới xong.
Đổng Trác nghe Lý Nhu nói
thế, cười vang:
– Mưu sĩ thật đáng là kẻ tài ba xuất chúng.
Nói rồi, Đổng Trác lập tức làm sớ như sau:
“Nay trộm nghe triều đình lộn xộn, dân chúng oán than bởi lũ Thập Thường Thị ỷ quyền thế, hiếp chế vua nên mới sanh ra như vậy. Giết rắn không nên chừa độc, đốn cây phải bại cho tận gốc. Mổ nhọt tuy đau nhưng một lần lành bệnh còn hơn nuôi dưỡng bệnh hoạn trong mình. Nay Hạ thần xin khua chiêng gióng trống, đem binh về Lộc Dương quyết diệt trừ bọn Trương Nhượng để cứu nguy cho xã tắc, cho thiên hạ được an, ấy là vạn hạnh”.
Hà
Tiến tiếp được biểu ấy, vội vã triệu tập các quan văn võ đến thương nghị. Quan
Thị Ngự Sử là Trịnh Thái can rằng:
– Đổng Trác là giống sài lang, nếu để hắn về triều, ắt nó sẽ ăn thịt người.
Hà Tiến nhìn Trịnh Thái cười:
– Ngươi lấy chi làm bằng cớ? Công việc lớn mà đa nghi như thế thì bao giờ mới thành sự được?
Lư Thực thấy vậy, bước
ra can:
– Tôi vốn biết Đổng Trác là hạng mặt người mà lòng thú dữ, một khi vào cấm đình sẽ gây họa hoạn. Phải mau mau chặn hắn lại, đừng cho vào, thì mới được yên.
Các quan văn võ đều cố can ngăn Hà Tiến,
nhưng Tiến vẫn khăng khăng một mực không nghe. Trịnh Thái, Lư Thực đều bỏ quan
mà về. Các quan đại thần thấy vậy, cũng lần lượt bỏ đi quá nửa. Hà Tiến lại cho
người đi đón Đổng Trác tới Dẵn Trì. Trác đóng quân lại, không tiến nữa. Bọn
Trương Nhượng hay được việc ấy, liền bàn với nhau:
– Ấy là mưu của Hà Tiến. Chúng ta hiện bây giờ như cá nằm trong chậu, nếu chẳng lo ra tay trước, đợi nước đến trôn mới nhảy thì sẽ bị chết ba họ.
Liền cho năm mươi tên đao phủ mai phục ở
cung Trường Lộc, phía trong điện Gia Đức, rồi kéo cả bọn vào quỳ trước mặt Hà
Thái hậu, khóc lóc thưa:
– Nay Đại Tướng quân phát chiếu triệu quân ngoài về kinh để giết lũ thần. Vậy mong Thái hậu mở lòng từ bi, cứu mạng cho.
Hà Thái hậu nói:
– Việc ấy bọn ngươi hãy đến phủ Đại Tướng quân mà tạ tội để cho người cứu vớt cho.
Bọn Trương Nhượng vừa khóc vừa
nói:
– Nếu lũ hạ thần đem thân tới Tướng phủ, ắt sẽ nát thịt tan xương ngaỵ. Xin Thái Hậu thương chúng tôi mà tuyên triệu Đại Tướng quân vào cung mà phủ dụ. Nếu bấy giờ, Đại Tướng quân không nghe nữa, thì lũ thần xin chịu chết trước mặt Thái hậu.
Thái hậu liền giáng chiếu đòi Hà
Tiến vào. Tiến được chiếu, vừa muốn ra đi thì Trần Lâm can:
– Chiếu của Thái hậu đây ắt là
mưu của lũ Thập Thường Thị, thiết nghĩ không nên vào, vào ắt mang họa. Tiến
nói:
– Rõ ràng là chiếu của Thái hậu
đây, sợ tai vạ gì nữa? Viên Thiệu cũng xen vào:
– Nay cơ mưu đã bại lộ, Đại Tướng
quân còn vào cung làm gì? Tào Tháo nói:
– Hãy đòi hết lũ Thập Thường Thị
ra đây rồi Đại Tướng quân sẽ vào thì chẳng can chi. Nhưng Hà Tiến gạt đi:
– Đó là ý kiến trẻ con. Ta nắm việc
thiên hạ trong tay, lũ Thập Thường Thị dám động đến mình ta sao? Các người đừng
nghi ngờ như thế! Viên Thiệu nói:
– Nếu Đại Tướng quân muốn vào thì chúng tôi xin dẫn giáp sĩ theo hộ tống, để phòng bất trắc.
Nói rồi, Viên Thiệu,
Tào Tháo mỗi người nai nịt hẳn hoi, đem binh khí theo mình, tuyển năm trăm
tinh binh, giao cho em Thiệu là Viên Thuật chỉ huy. Viên Thuật nai nịt gọn ghẽ,
đem binh mai phục nơi Thanh Tỏa. Còn Tháo và Thiệu cầm gươm hộ tống Tiến vào
trước cung Trường Lộc. Vừa đến cửa cung thì có Hoàng Môn quan truyền chỉ rằng:
– Thái hậu chỉ vời một mình Đại Tướng quân. Ngoài ra, không ai được vào.
Thế là Thiệu và Tháo bị cản lại ngoài
cửa. Còn Hà Tiến cứ ngang nhiên vào không có chút e ngại… Khi đến trước điện
Gia Đức thì bỗng bọn Trương Nhượng, Đoàn Khuê xong ra đón chặn, miệng hô tả hữu
vây chặt. Trương Nhượng lớn tiếng mắng:
– Bớ Hà Tiến! Đổng Thái hậu có tội gì mà mày nỡ phục độc giết hại? Ngày lễ táng vị Quốc mẫu, sao mày giả đau không thèm ra dự? Mày chỉ là đồ con nhà hàng thịt hèn hạ, nhờ có bọn tao tiến cử lên Thiên tử, mày mới được tôn quý đến mực này chứ! Thế mà mày đã không nghĩ đến báo đáp thì thôi, sao lới còn mưu hại bọn ta? Mày chửi bọn ta là đồ ô trọc, vậy thì ai là mặt thanh cao?
Bây giờ Hà Tiến mới biết nguy, vội tìm lối thoát nhưng các cửa cung đều đóng chặt. Hà Tiến chưa biết xử trí cách nào, đã bị phục quân đổ ra chém Tiến một đao đứt làm hai đoạn. Người sau có thơ rằng:
Ngu như Hà Tiến nắm quyền cao
Khù khờ chẳng chịu nghe can gián
Mắc nạn trong đền, chết dưới đao
Bên ngoài Viên Thiệu, Tào Tháo đứng
đợi mãi không thấy Hà Tiến trở ra, trong lòng sinh nghi. Viên Thiệu bèn hô lớn:
– Mời Đại Tướng quân lên xe trở về!
Bỗng bọn Trương Nhượng xách thủ cấp của Hà Tiến ném qua mặt tường ra ngoài, rồi
lên tiếng tuyên dụ:
– Đứa ngịch thần Hà Tiến mưu phản, đã bị giết rồi, còn tất cả bọn a tòng đều được tha thứ.
Nghe nói, Viên Thiệu
đùng đùng nổi giận, thét lớn:
– Bọn yêm hoạn dám mưu sát đại thần! Ai muốn tru diệt ác đảng, phò xã tắc, hãy tới đây trợ chiến.
Bộ tướng của Tiến là Ngô Khuông liền nổi lửa đốt cửa Thanh Tỏa. Viên Thuật liền dẫn binh sấn vào trong cung, hễ gặp tên yêm hoạn nào là giết liền, chẳng kể lớn nhỏ già trẻ. Viên Thiệu, Tào Tháo cũng vung gươm, chém khóa phá cửa, xông vào trong cung, lại gặp bọn Triệu Trung, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng toan chạy, liền đuổi đến Thúy Hoa Lâu, rồi bằm thây bọn này nát như tương. Lúc ấy, trong cung đình lửa cháy ngất trời. Bọn Trương Nhượng, Đoàn Khuê, Tào Tiết, Hầu Lãm bốn tên lập tức băng mình theo khói lửa, ép Thái hậu, Thiếu Đế và Trần Lưu vương ra phía nội tỉnh, theo lối sau, chạy về Bắc Cung.
Nói về Lư Thực tuy đã bỏ quan tước, nhưng cũng
còn ở tại triều, lúc bấy giờ nghe trong cung có biến, liền mặc giáp cầm thương,
chạy tới chờ ở dưới lầu. Vừa gặp Đoàn Khuê đem Hà Thái Hậu chạy tới, Lư Thực
thét lớn:
– Nghịch tặc! Mày bức bách Thái Hậu
đi đâu? Khuê quay đầu chạy trốn. Hà Thái Hậu liều nhào qua cửa sổ nhảy ra, được
Lư Thực cứu thoát. Ngô Khuông chém giết tới nội đình thì gặp Hà Miêu cầm gươm
chạy ra. Khuông hô lớn:
– Thằng Miêu đồng mưu hại anh,
hãy giết nó đi! Quân sĩ đồng thanh hô theo:
– Mau chém thằng giặc phản anh! Miêu toan chạy, nhưng bốn mặt quân vây kín, băm xác ra như bùn.
Viên Thiệu lại sai quân sĩ chia nhau lùng bắt các gia thuộc của mười tên Thường Thị, bất luận lớn nhỏ đều giết hết. Lúc ấy, tất cả những người không có râu, đều bị nghi là gia quyến của Thập Thường Thị, nên bị giết lầm vô số. Còn, Tào Tháo thì lo chữa lửa trong cung, cho mời Thái hậu về triều để nhiếp chánh việc nước. Mặt khác, Tháo sai quân đuổi theo bọn Trương Nhượng để tìm vua Thiếu Đế.
Nói về Trương
Nhượng, Đoàn Khuê cướp Vua và Trần Lưu vương, băng qua khói lửa, suốt đêm chạy
không nghỉ ra núi Bắc Mang. Vào khoảng canh ba, bỗng nghe mặt sau có tiếng quân
reo ó vang trời, một đoàn binh mã đuổi tới. Thì ra là quan Trung Bộ Duyện Lại ở
Hà Nam là Mẫn Cống. Cống phóng ngựa lên chẹn đường, thét lớn:
– Phản thần chớ chạy! Có ta đến để bắt chúng bay đây! Trương Nhượng hoảng vía, biết đã đến nước cuối cùng không thể nào trốn thoát được nữa, liền liều mạng nhảy xuống sông tự tử.
Còn Vua và Trần Lưu vương bơ vơ một mình, chẳng biết việc hung kiết thế nào, nên không dám lên tiếng. Cả hai dắt nhau nép mình nơi bờ sông, trong đám cỏ gai gần đấy. Mẫn Cống không thấy Vua đâu, bèn phân quân đi tứ tán kiếm tìm, nhưng rốt cuộc không thấy, đành phải kéo nhau trở về.
Còn Vua và Trần Lưu vương núp đó chờ cho đến đầu canh
tư, thấy bốn bề vắng vẻ mới dám bò ra. Đêm ấy, sương xuống như mưa, hai người lạnh
lẽo đói khát, buồn khổ ôm nhau mà khóc. Nhưng lại sợ có người hay được nên
không dám khóc to. Trần Lưu vương nói với Vua:
– Chốn này không thể ở lâu được,
phải đi nơi khác gấp, mới sống được. Thế là Vua và Trần Lưu vương lấy chéo áo
buộc lại với nhau cho khỏi lạc, rồi mò mẫm lên mặt đê, gai góc đầy đất, cố mà
len chân, nhưng bóng tối dày đặc không nhìn thấy đường lối gì cả. Trong lúc
đang lo sợ, bỗng có hàng ngàn đom đóm tụ tập, chiếu tỏa sáng như sao sa trước
mặt Vua. Thấy vậy, Trần Lưu vương nói:
– Hoàng huynh ơi, đây là trời
giúp anh em ta! Liền theo ánh sáng đom đóm mà đi, dần dần tìm thấy con đường. Tới
canh năm thì chân đau quá, không thể đi được nữa, thấy bên chân núi có một gò cỏ
cao, Thiếu Đế và Trần Lưu vương đành tạm ẩn vào trong gò ấy. Gò này nằm ngay
phía sau một trang viện. Trang chủ đêm ấy nằm mộng thấy có hai bóng mặt trời sa
xuống đồng cỏ sau nhà, liền giật mình thức giấc, vội mặc áo ra ngoài, nhìn ngó
bốn phía, thấy trên gò phía sau trang có hồng quan rực trời. Trang chủ lòng
hoang mang kinh lạ, vội tới xem thì thấy có hai thiếu niên nằm trong đám cỏ,
bèn hỏi:
– Hai cậu là con nhà ai? Thiếu Đế
lo sợ, không dám nói gì. Trần Lưu vương trỏ vào anh mà đáp:
– Đây chính là đương kim Hoàng đế,
vì bị bọn Thập Thường Thị làm loạn nên phải lánh mình nơi đây. Còn ta là Hoàng
đệ Trần Lưu vương. Trang chủ nghe nói thất kinh, vội sụp xuống đất lạy hai lạy,
rồi thưa:
– Hạ thần tên là Thôi Nghị, em của quan Tư Đồ Thôi Liệt, nhân vì bọn Thập Thường Thị buôn quan bán tước, ghét người hiền, nên Hạ thần mới buồn lòng về ẩn dật nơi đây. Nói xong phò Vua về nhà dâng rượu thịt cho vua dùng đỡ đói.
Nói về Mẫn Cống đuổi theo Đoàn Khuê, khi trời hừng
sáng thì bắt được Đoàn Khuê, liền cật vấn:
– Thiên tử ở đâu? Khuê khai rằng khi chạy tới nửa đường thì lạc mất, không biết Vua đi về phía nào nữa.
Mẫn Cống
liền giết Đoàn Khuê, cắt lấy đầu, treo dưới cổ ngựa, rồi chia quân đi bốn mặt
tìm kiếm. Còn Mẫn Cống thì một mình một ngựa, lần đi hỏi dò. Bỗng Cống đi tới
nhà Thôi Nghị. Nghị ra đón, thấy một chiếc thủ cấp treo lủng lẳng trên cổ ngựa,
liền hỏi duyên cớ. Cống thuật lại rõ ràng. Thôi Nghị mới dẫn Cống vào ra mắt Vua. Chúa tôi cùng khóc. Mẫn Cống tâu:
– Một ngày không thể thiếu Vua, xin Bệ hạ hãy hồi triều.
Bấy giờ nhà Thôi Nghị chỉ có một con ngựa gầy, để riêng Vua ngự. Trần Lưu vương phải cưỡi chung ngựa với Mẫn Cống. Đi được vài dặm gặp được Tư Đồ Vương Doãn, Thái úy Dương Bưu, Tả Quân Hiệu úy Thuần Vu Quỳnh, Hữu Quân Hiệu úy Triệu Manh, Hậu Quân Hiệu úy Bảo Tín, Trung Quân Hiệu úy Viên Thiệu cùng một đoàn khoảng trăm người ngựa đến nghinh tiếp thánh giá. Mừng mừng tủi tủi, Vua tôi đều khóc. Trước hết, các quan sai đem thủ cấp Đoàn Khuê về bêu ngoài cửa thành làm lệnh. Rồi chọn ngựa tốt để Thiếu Đế và Trần Lưu vương ngự, cùng rước về kinh.
Trước đó ít lâu, trẻ con ở Lộc Dương thường hát mấy câu đồng dao rằng:
Vương chẳng phải vương
Ngàn xe vạn ngựa
Chạy đến Bắc mang
Tức là điềm sau này đế bị truất làm vương, vương được lên ngôi đế, đến bấy giờ biết ứng nghiệm vào việc đó.
Xa giá đi chưa được vài dặm, bỗng đằng xa có tiếng trống
vang lừng, tinh kỳ rợp đất, bụi bay mù trời, rồi một đoàn binh mã ào ào kéo đến.
Bá quan đều thất sắc. Vua cũng sợ hãi. Viên Thiệu vội thúc ngựa ra trước thét hỏi:
– Binh mã của ai đấy? Từ dưới
bóng ngọn cờ thêu rực rỡ, một tướng bên kia thúc ngựa ra, lớn tiếng hỏi lại:
– Thiên tử đâu? Vua càng sợ,
không dám lên tiếng. Trần Lưu vương quất ngựa sấn ra, nạt rằng:
– Nhà ngươi là ai? Tướng ấy đáp:
– Thứ Sử Tây Lương là Đổng Trác
đây. Trần Lưu vương gằn giọng hỏi:
– Ngươi đến đây bảo giá hay cướp
giá? Thấy vẻ mặt oai nghiêm của Trần Lưu vương, Đổng Trác khiếp sợ, thưa:
– Hạ thần đến đây để bảo giá. Trần
Lưu vương hạch rằng:
– Đã tới hộ giá, vậy Thiên tử ngồi
kia, sao ngươi không xuống ngựa mà thi lễ?
Đổng Trác sợ hãi, lật đật xuống
ngựa, khấu đầu bên đường, miệng tung hô “vạn tuế”.
Trần Lưu vương lại lấy lời ngọt
ngào mà phủ úy Đổng Trác.
Từ đầu chí cuối, lời lẽ đường
hoàng, không ngập ngừng lầm lỡ một tiếng nào. Đổng Trác thầm lấy làm lạ, sinh
lòng khâm phục vô cùng. Và từ đó, Trác đã có ý định phế Thiếu Đế mà lập Trần
Lưu vương lên làm vua.
Hôm ấy, các quan phò Thiếu Đế về
cung ra mắt Hà Thái hậu. Mẹ con khóc lóc với nhau, mọi người đều ứa lệ. Khi kiểm
điểm lới trong cung, không thấy cái ấn ngọc “truyền quốc” ở đâu nữa! Bấy giờ Đổng
Trác đem binh đóng ngoài thành. Ngày ngày dẫn giáp sĩ cưỡi ngựa vào thành,
hoành hành khắp phố xá, chợ búa. Nhân dân trăm họ lo sợ, hoang mang. Trác lại
ra vào tự do nơi chốn cung đình, không kiêng kỵ gì hết. Quan Hậu Quân Hiệu úy
là Bảo Tín tới bảo Viên Thiệu:
– Đổng Trác ắt manh tâm làm loạn,
nên kíp trừ đi. Viên Thiệu nói:
– Triều đình đã bị hoang mang,
nay vừa mới được yên, chớ nên khinh động. Bảo Tín lại tới gặp Vương Doãn để bàn
về việc ấy. Doãn cũng nói:
– Hãy thong thả, để tính kỹ xem
đã. Bảo Tín thấy tình thế như vậy, liền bỏ triều đình, kéo hết quân bản bộ vào
núi Thái Sơn. Nói về Đổng Trác lại đi chiêu dụ bọn bộ Hạ anh em Hà Tiến. Bao
nhiêu binh mã của họ Hà đều về tay Trác hết. Ngày kia, Đổng Trác bàn riêng vội
hỏi Lý Nhu:
– Ta muốn phế bỏ Vua xuống mà lập
Trần Lưu vương lên ngôi có được chăng? Lý Nhu nói:
– Nay đang lúc triều đình vô chủ, nên thừa thời cơ mà làm gấp đi, nếu để chậm e sinh biến. Ngày mai hãy triệu tập bá quan tới điện Ôn Minh trong vườn, nói rõ việc phế lập. Kẻ nào không nghe theo, cứ chém đầu. Lấy quyền uy mà làm, kế sách hiện tới phải thế mới xong.
Đổng
Trác nghe nói, lòng mừng khấp khởi. Qua hôm sau, khiến quân bày yến tiệc nơi vườn Ôn Minh và mời tất cả các quan đại thần đến đó để phó hội. Các quan lúc này đều
sợ Đổng Trác, nên không có ai dám từ chối. Trác để cho các quan tới đông đủ rồi
mới cỡi ngựa thẳng đến trước cửa viên mới chịu xuống ngựa, lại mang gươm vào tiệc.
Uống vừa đặng vài tuần rượu, Trác ra lệnh ngừng rót, im tiếng nhạc, rồi lớn tiếng
nói:
– Hôm nay ta mời các quan đến đây với mục đích là bày tỏ một ý kiến.
Bá quan ai nấy cũng đều lắng tai nghe, Trác
nói tiếp:
– Thiên tử là chúa tể muôn dân, nếu không có uy nghi xứng đáng, không thể phụng sự tông miếu, xã tắc được. Nay đức Kim Thượng là kẻ nhu nhược không đáng mặt cầm quyền chấp chánh. Còn Trần Lưu vương vốn là bậc thông minh, hiếu học, có đủ tài đức để trị dân, đáng mặt kế vị ngôi cả. Vậy ý ta muốn phế Vua, mà lập Trần Lưu vương lên ngôi báu, chẳng hay ý các quan đới thần nghĩ như thế nào?
Các quan đại thần nghe nói đều im lặng,
chưa ai dám nói gì, bỗng có một người đứng dậy, xô ghế bước ra nói lớn:
– Không được! Không được! Ngươi là hạng người gì mà dám làm đại ngôn như thế? Vả chăng đức Kim Thượng là con trưởng của Tiên Đế, sửa trị ngôi Trời là lẽ phải, vả lại người cũng chưa có việc gì lỗi lầm thì sao ngươi dám nghĩ đến chuyện phế lập? Ngươi muốn mưu đồ soán nghịch chăng?
Các quan chăm chú nhìn ra người ấy là quan Thứ Sử Kinh Châu Đinh
Nguyên. Trác nổi giận nạt lớn:
– Nơi đây nếu có kẻ nào nghịch ý ta thì chắc không còn tánh mạng.
Cả tiệc rượu ai nấy nhao nhao, còn Đổng Trác cầm
gươm toan bước tới chém Đinh Nguyên. Lúc ấy, Lý Nhu đứng thấy sau lưng Đinh
Nguyên có một người khí vũ hiên ngang, oai phong lẫm liệt, tay cầm một cây
“Phương thiên họa kích”, trừng trừng con mắt mà nhìn Đổng Trác. Nho biết việc
chẳng xong, liền bước đến giả vờ can Đổng Trác:
– Hôm nay trong yến ẩm không nên đem việc nước ra bàn, vậy xin để ngày mai cũng chẳng muộn.
Các quan cùng khuyên
giải Đinh Nguyên, nên Đinh Nguyên xô ghế bỏ ra về. Đổng Trác tay vẫn cầm kiếm,
quay lại hỏi các quan:
– Lời ta nói có hợp công đạo hay không?
Lư Thực bước ra, nghiêm nghị nói:
– Ông nói sai rồi. Việc phế lập vua phải có duyên cớ. Xưa vua Thái Giáp vì bất minh nên ông Y Doãn mới đuổi ra Đồng cung. Xương Ấp Vương lên ngôi mới có hai mươi bảy ngày mà làm hơn ba mươi điều ác, nên ông Hoắt Quang mới phải tế cáo nhà Thái Miếu mà phế đi. Nay Thánh Thượng tuy còn thơ ấu nhưng thông minh nhân trí, chưa lầm lỗi mảy may. Ông chỉ là một vị quan ở ngoài, chưa từng tham dự triều chính, lới không có tài như Y Doãn, Hoắt Quang, mà dám bàn đến chuyện phế lập sao được? Thánh nhân có dạy rằng: “Có chí như Y Doãn thì được. Không có chí như Y Doãn mà bắt chước làm Y Doãn, ấy là kẻ soán nghịch”.
Đổng Trác nổi giận rút gươm toan chém Lư Thực, thì quan Nghị
lang là Bành Bá vội can:
– Lư Thượng thư là bậc có danh vọng, hải nội chư nhân đều mong mỏi. Nếu giết đi, e làm náo động thiên hạ.
Bấy giờ
Trác mới ngừng taỵ. Quan Tư Đồ Vương Doãn nói:
– Việc phế lập rất quan trọng, không nên đem bàn lúc trà dư tửu hậu. Để một ngày khác.
Khi tiệc tan, bá quan
ra về, Trác mặt còn hầm hầm, tay cầm gươm đứng ở viên môn. Bỗng Trác thấy có một
người lực lưỡng, cầm kích rong ngựa đi đi lới lới phía ngoài, bèn hỏi Lý Nhu:
– Người nào đấy? Lý Nhu đáp:
– Đó là con nuôi của Đinh Nguyên, họ Lữ tên Bố, tự là Phụng Tiên, người ấy là một anh hùng trên đời có một không hai. Tướng quân nên tránh nó kẻo mang họa.
Đổng Trác nghe nói liền lánh mặt vào
trong vườn. Rạng ngày có quân vào báo với Đổng Trác:
– Quân của Đinh Nguyên đến bên thành khiêu chiến đòi Tướng Quân phải ra binh.
Đổng Trác tức giận, hiệp với Lý
Nhu dẫn quân ra thành nghênh chiến. Hai bên giàn trận, rồi thấy Lữ Bố hiện ra,
đầu búi tóc, đội kim quan, mình mặc bào gấm trăm hoa lồng giáp đường nghê, lưng
thắt bảo đới Ti loan, tay cầm tay cầm Phương Thiên Họa Kích, giục ngựa phò
Đinh Nguyên ra trước trận. Đinh Nguyên chỉ vào mặt Đổng Trác mắng:
– Quốc gia gặp lúc không may, lũ yêm hoạn lộng quyền đến nỗi muôn dân đồ thán, mi không hề có thước tấc công lao nào, sao dám nói càn chuyện phế lập, làm loạn triều đình?
Đổng Trác chưa kịp trả
lời thì sau lưng Đinh Nguyên, Lữ Bố đã phi ngựa vung kích đánh tràn sang. Binh
tướng của Đổng Trác không một người nào dám ra nghinh địch. Cây kích của Lữ Bố
đến đâu là quân Trác chết đến đó, làm cho quân của Đổng Trác cả loạn. Trác hoảng
sợ quay đầu chạy. Đinh Nguyên thúc quân đánh giết. Quân Trác đại bại một trận, phải
lui hơn ba mươi dặm mới dám hạ trại, kiểm điểm binh mã thấy hao hơn phân nửa.
Trác họp các tướng, bàn rằng:
– Ta thấy Lữ Bố quả là tay phi thường. Nếu được người ấy, ta còn lo gì việc thiên hạ?
Trong lúc ấy có một người
bước đến thưa:
– Chúa công đừng lo, tôi với Lữ Bố vốn cùng quê quán, biết rõ hắn tuy có tài xuất chúng, song là kẻ hữu dũng vô mưu, thấy lợi mà quên nghĩa. Vậy tôi xin đem ba tất lưỡi đi thuyết, khiến hắn phải chắp tay về hàng Chúa công.
Trác nghe nói mừng rỡ, xem lới thì thấy người ấy là Hổ Bôn Trung Lang Tướng Lý Túc.
Trác hỏi:
– Cần đem theo vật gì để dụ hắn?
Túc nói:
– Tôi nghe Chúa công có con ngựa Xích Thố, ngày đi ngàn dặm. Nếu được ngựa ấy với ít vàng ngọc để lấy lòng hắn, rồi tôi lựa lời thuyết dụ, ắt Lữ Bố phản Đinh Nguyên, hàng Chúa công.
Trác hỏi
Lý Nhu:
– Ý ấy thế nào?
Nhu đáp:
– Chúa công muốn gom thâu thiên hạ lại tiếc chi một con ngựa.
Trác nghe nói, truyền quân dắt con ngựa Xích Thố đến,
lới cho lấy ra một ngàn lạng vàng, mươi hạt minh châu, và một cái đai ngọc giao
cho Túc. Túc tức thì mang tất cả lễ vật thẳng đến trới Lữ Bố. Dọc đường bị quân
phục bao vây, Túc nói:
– Các ngươi kíp vào báo với Lữ Tướng
quân rằng: “Có cố nhân muốn đến thăm.” Quân vào báo, Bố ra lệnh cho Túc vào.
Chào hỏi xong, Túc nói:
– Bấy lâu nay xa cách hiền đệ, tôi rất thương nhớ, khi biết được hiền đệ Ở đây nên tôi đến thăm viếng. Nay thấy hiền đệ vẫn khang kiện, tôi rất mừng.
Lữ Bố nắm tay Lý Túc thân mật nói:
– Đã hằng lâu xa cách nhau, nay hiền huynh ở nơi nào?
Lý Túc đáp:
– Hiện nay tiện huynh đang làm chức Hổ Bôn Trung Lang Tướng, nghe hiền đệ có lòng khuôn phò xã tắc nên tiện huynh vui mừng khôn xiết. Nay có một con ngựa quý, ngày đi ngàn dặm có dư, lới có tài vượt nước trèo non như đi trên đất bằng, tên là Xích Thố, nên đem tới biếu cho hiền đệ, để thêm oai cho hùm đây.
Lữ Bố bèn khiến quân dắt ngựa đến, quả nhiên con ngựa ấy cả mình đều đỏ như lửa, không bợn một sợi lông tạp màu. Từ đầu tới đuôi dài một trượng, từ móng lên đầu cao tám thước. Rồi bỗng nó gầm hí vang rền, giậm vó rung mặt đất, như sắp bay bổng lên không, băng mình qua bể vậy. Người sau có thơ vịnh ngựa Xích Thố rằng:
Băng sông vượt núi, xé sương hồng
Khác chi rồng lửa trên trời xuống
Muốn rứt cương tơ, vỡ nhạc đồng
Lữ Bố thấy ngựa tốt, lòng mừng khấp khởi, bèn tạ ơn Lý Túc:
– Hiền huynh có lòng tốt, cho con ngựa quý này, tôi chẳng biết lấy gì báo đáp?
Lý Túc nói:
– Tôi vì nghĩa khí mà đến đây há cần đâu ân huệ?
Bố sai dọn rượu thết đãi. Rượu ngà ngà, Túc nói:
– Tuy ít gặp hiền đệ, nhưng lệnh tôn thì Túc được gặp luôn.
Bố đáp:
– Hiền huynh say rồi! Cha tôi đã mất từ lâu, còn gặp làm sao được?
Túc cười lớn:
– Không phải thế. Tôi nói “lệnh tôn” tức là Đinh Thứ Sử đấy chứ.
Bố buồn bã nói:
– Tôi theo Đinh Kiến Dương cũng là bất đắc dĩ, bỏ đi chưa nỡ đấy thôi!
Túc nói:
– Hiền đệ là người tài ba lỗi lạc, sức mạnh hơn người, anh hùng xuất chúng, bốn bể biết tên. Lẽ ra phải được hưởng chức trọng quyền cao, có lý đâu lới phải cam chịu ở dưới trướng người ta vậy?
Lữ
Bố nói:
– Tôi cũng muốn thế, ngặt vì chưa gặp được một đấng minh quân.
Lý Túc cười bảo:
– Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Nếu không sớm tìm thời cơ, e khi hối ra thì đã muộn đấy.
Bố hỏi:
– Hiền huynh đã ở trong triều, vậy có thấy ai xứng đáng là anh hùng đời nay?
Túc đáp:
– Hiện tại triều đình, các đới thần ai nấy tranh giành ngôi thứ, Vua thì còn nhỏ bị kẻ sàm nịnh chiếm đoạt quyền hành. Tôi thấy khắp mặt bá quan, không ai bằng Đổng công. Đổng công là người biết kính hiền ái sĩ, thưởng phạt công minh, lới có lòng diệt nịnh phò Vua. Thế nào về sau cũng nên nghiệp lớn, vậy hiền đệ còn đợi gì mà không theo phò để lập thân.
Lữ Bố nói:
– Tôi cũng muốn theo về Đổng công ngặt vì không ai tiến cử. Bấy giờ, Túc biết công việc đã có kết quả, lập tức đem cái đai ngọc và vàng bạc bày ra trước mặt Lữ Bố.
Bố giật mình hỏi:
– Hiền huynh đem những thứ này tới làm gì?
Túc bảo cho tả hữu lui hết ra ngoài, rồi mới nói:
– Đây là của Đổng công. Đổng công mộ tiếng lớn của hiền đệ từ lâu. Nay sai Túc này đem lễ vật tới kính biếu. Con Xích Thố kia cũng là của Đổng công sai đem tặng hiền đệ vậy.
Bố nói:
– Đổng công có lòng yêu thế này, tôi biết lấy gì đền đáp?
Túc nói:
– Tài thường sức mọn như Túc này, mà còn được phong chức Hổ Bôn Trung Lang Tướng, thì tài như hiền đệ, nếu theo về, ắt được quyền cao chức trọng, phú quý chưa biết đến bậc nào?
Bố ngần ngừ nói:
– Tôi chưa có chút công trạng nào mà làm lễ ra mắt Đổng công. Khó nghĩ quá.
Túc lửng lơ nói:
– Công trạng ấy đối với người khác thì khó thật, chứ như đối với hiền đệ thì dễ như trở bàn tay, có gì mà phải lo. Chỉ sợ hiền đệ không chịu làm đấy thôi.
Bố trầm ngâm một lúc rồi nói:
– Tôi muốn giết Đinh Nguyên rồi dẫn quân ra hàng Đổng công, chẳng biết có nên không? Hiền huynh xét thử?
Túc vội
xuýt xoa nói:
– Hiền đệ làm được việc ấy thì còn công nào lớn bằng. Nhưng việc đó cốt phải khẩn mật mới được. Bố hẹn với Túc nội trong đêm ấy thế nào cũng xong việc.
Túc rất hoan hỉ, từ giã ra về. Đêm ấy,
vào lúc canh hai, Lữ Bố cầm gươm bước vào trong trướng Đinh Nguyên. Lúc ấy,
Nguyên đang thức chong đèn xem sách, thấy Bố vào, bèn hỏi:
– Đêm khuya, con vào đây có việc gì?
Bố trở mặt mắng rằng:
– Ta đường đường một kẻ trượng phu, há lại đi làm con của ngươi sao?
Nguyên kinh ngạc, trố mắt nhìn Bố hỏi:
– Phụng Tiên, cớ sao con lại đổi lòng như vậy?
Bố chẳng đáp chẳng rằng, bước tới vung gươm chém Đinh Nguyên một nhát, đầu rơi xuống đất.
Người sau có thơ than Đinh Nguyên rằng:
Nuôi được con tài, tưởng cậy trông
Ai biết nòi nào ra giống ấy
Nuôi hùm, hùm cắn, xót xa lòng
Lại có thơ than Lữ Bố rằng:
Cử đỉnh bớt sơn nức tiếng hùng
Quen thói bạo tàn, không chút nghĩa
Trách gì thiên hạ chẳng ai dung
Chém xong, Lữ Bố xách đầu Đinh Nguyên ra
ngoài, hô lớn:
– Đinh Nguyên là kẻ bất nhân vô đạo, ta đã giết chết rồi. Vậy thì ai muốn theo ta thì theo, ai không theo thì cứ tự tìm chỗ khác mà đi. Quân sĩ thấy vậy bỏ đi hơn phân nửa.
Hôm sau, Lữ Bố xách đầu Đinh Nguyên đến gặp Lý Túc. Túc vội dẫn Bố vào dinh ra mắt Đổng Trác.
Đổng Trác
lòng mừng khôn xiết, hối quân bày rượu thịt thết đãi Lữ Bố, và bước đến trước mặt
Bố, cúi đầu nói:
– Trác này được Tướng quân hôm nay chẳng khác đại hạn gặp mưa rào vậy.
Lữ Bố vội vàng đứng dậy thi lễ, mời
Trác ngồi lên, rồi sụp lạy mà tạ rằng:
– Minh công đãi Bố này rất hậu, ơn ấy không biết lấy gì đền đáp. Nếu Minh công cho phép, Bố này xin bái Minh công làm nghĩa phụ.
Trác mừng lắm, sai lấy giáp vàng, bào gấm ban thưởng cho Bố, rồi cùng Bố yến ẩm say sưa tối ngày. Từ đó, Đổng Trác oai quyền lừng lẫy, không biết nể nang ai nữa. Trác tự lĩnh công việc của Tiền Tướng quân, phong cho em ruột là Đổng Mân làm Tả Tướng quân tước Hổ hầu, phong cho Lữ Bố làm Kỵ Đô úy Trung Lang Tướng tước Đô Đình hầu.
Lý Nhu khuyên Trác sớm định ngay mưu kế phế
lập. Trác liền lập tiệc tới đình trung, rồi viết thiệp mời các quan đến phó yến.
Lại sai Lữ Bố dẫn hơn ngàn quân giáp sĩ, nai nịt đầy đủ, mai phục xung quanh.
Hôm ấy, quan Thái Phó Viên Ngỗi cùng bá quan đều đến. Rượu được vài tuần, Đổng
Trác đứng dậy chống gươm nói:
– Nay Vua nhu nhược, hôn ám, không thể phụng sự tôn miếu được. Ta noi gương Y Doãn, Hoắt Quang, phế Vua xuống làm Hoằng Nông vương, lập Trần Lưu vương lên làm Hoàng đế. Ai không thuận, ta chém đầu?
Quần thần sợ hãi ngồi lặng thinh. Trung Quân Hiệu úy Viên Thiệu đứng
dậy, bước ra khỏi ghế nói:
– Đức Kim Thượng tức vị chưa bao lâu, chưa làm gì lỗi đạo, ngài muốn bỏ trưởng lập thứ, chính là muốn tạo phản rồi.
Trác nổi giận mắng lớn:
– Việc nước hiện ở trong tay tạ Ta muốn làm gì thì làm, ai dám không thuận? Ngươi tưởng lưỡi gươm của ta không bén chăng?
Thiệu cũng rút gươm ra khỏi vỏ, nói lớn:
– Gươm ngươi bén thật, nhưng gươm của ta đây cũng không phải là loại sắt cùn.
Hai người toan đối địch trước tiệc.
Đó chính là:
Viên Thiệu tranh phong, thế cũng nguy
-------------------------------------------------------
HỒI THỨ TƯ
Lừa Đổng Trác, Mạnh Đức dâng kiếm
Đổng Trác muốn giết Viên Thiệu,
Lý Nho can rằng:
– Việc chưa định xong, không nên
giết càn.
Viên Thiệu tay cầm thanh bảo kiếm,
cáo từ các quan trở ra, treo trả cờ tiết ở cửa đông rồi bỏ về Ký Châu.
Trác bảo với quan thái phó Viên
Ngỗi rằng:
– Cháu ngươi vô lễ, ta tha cho hắn cũng là nể ngươi. Việc phế vua lập Trần Lưu, ngươi nghĩ thế nào?
Ngỗi thưa rằng:
– Thái úy nghĩ thế phải đấy!
Trác
lại nói:
– Ai dám ngăn trở việc lớn này, thì ta sẽ lấy phép quân trị tội.
Các quan sợ hãi, đều nói:
– Ngày dạy thế xin vâng!
Cuộc yến
tan, Trác hỏi quan Thị Trung là Chu Bật và quan Hiệu úy là Ngũ Quỳnh rằng:
– Viên Thiệu phen này đi, rồi sẽ ra sao?
Chu Bật đáp:
– Viên Thiệu câm giận mà đi, hễ truy nã riết quá tất sinh biến. Vả lại họ Viên, đã bốn đời làm quan đến bậc tam công, thiên hạ được nhờ nhiều lắm; học trò, đầy tớ đâu đâu cũng có. Nếu hắn thu dùng hào kiệt, tập họp đồ đảng, rồi những anh hùng trong thiên hạ nhân đó khởi lên, đất Sơn Đông sẽ không ở trong tay ông nữa. Không bằng ông tha tội hắn, cho hắn một chức quận thú gì đấy, thì hắn mừng được khỏi tội, sẽ không gây ra hậu hoạn nữa.
Ngũ Quỳnh nói:
– Viên Thiệu là người thích mưu kế,
nhưng không quyết đoán, không đáng lo cho lắm. Bất nhược cứ cho hắn một chức quận
thú để thu phục lòng dân.
Trác nghe lấy làm phải, ngay hôm ấy
sai người đến phong cho Thiệu làm thái thú quận Bột Hải. Đến mồng một tháng
chín, Trác rước vua ra ngự đền Ôn Đức, họp hết cả văn võ lại. Trác tay cầm kiếm
nói rằng:
– Thiên tử ngu yếu, không trị vì
được, nay có một bài sách văn đọc cho các quan nghe.
Rồi sai Lý Nho tuyên đọc:
“Vua Hiếu Linh mất sớm, vua
sau nối ngôi, bốn bề ai ai cũng trông mong Nay xét ra vua ta, thiên tử mỏng mảnh,
kém vẻ uy nghi nghiêm chỉnh, cư tang biếng nhác, đức xấu đã rõ, không xứng ngôi
lớn. Hoàng Thái hậu không có uy nghi của người mẹ, nhiếp chính rối tung. Việc
bà Vĩnh Lạc thái hậu mất, dân chúng có nhiều dị nghị. Đối với đạo tam cương và
đường Trời đất, phải chăng có thiếu sót nhiều.
Trần Lưu Vương tên Hiệp, đức hạnh
nghiêm trang, khuôn phép kính cẩn, cư tang thương xót, nói năng chính đính, lời
hay tiếng tốt, thiên hạ ai ai cũng biết. Nên nối ngôi vua, làm phép cho vạn thế.
Nay phế vua ra làm Hoằng Nông vương,
Thái hậu thì phải trả quyền chính.
Xin tôn Trần Lương vương lên
làm hoàng đế.
Ứng thiên, thuận nhân, để yên
bụng thiên hạ!”
Lý Nho đọc xong bài chiếu, Trác
thét tả hữu vực vua xuống điện, lột tỉ thụ, bắt quỳ, ngoảnh mặt về phương Bắc,
xưng thần nghe chiếu, lại bắt Hà Thái hậu, cởi đồ phẩm phục ra mà đợi chiếu.
Vua và Thái hậu kêu khóc, quần thần
trông thấy ai cũng xót xa bi thảm.
Lúc ấy ở dưới thềm có một viên
quan to, tức tối thét to lên rằng:
– Thằng giặc Đổng Trác kia, ngươi
dám lập mưu lừu trời dối đất, ta lấy máu cổ họng bôi vào mặt ngươi bây giờ.
Nói rồi cầm cái hốt ngà xông thẳng
vào đánh Đổng Trác. Trác giận lắm, sai võ sĩ bắt lại xem ai, thì là quan thượng
thư Đinh Quản. Trác sai đem ra chém. Quản cứ luôn mồm chửi mắng Đổng Trác cho đến
lúc chết; chết rồi, thần sắc vẫn như lúc sống.
Người sau có thơ than rằng:
Cơ đồ nhà Hán đổ tan hoang
Trong triều văn võ mồm câm ca
Chỉ có Đinh công thực giỏi giang
Trác mời Trần Lưu vương lên điện,
Quần thần làm lễ mừng xong rồi. Trác sai bắt Hà Thái hậu, vua và vợ vua là Đường
thị giam ở cung Vĩnh An, khóa cửa cung, cấm quần thần, không ai được vào thăm.
Thương thay! Thiếu đế mới lên ngôi tháng tư, đến tháng chín đã phải phế.
Trần Lưu vương, nhờ Trác được lên ngôi Trời, vốn tên là Hiệp, tên chữ là Bá Hòa, là con thứ vua Linh đế, tức là Hiến đế về sau. Lúc lập lên, Hiến đế mới lên chín tuổi, đổi niên hiệu năm đầu là Sơ Bình. Đổng Trác làm tướng quốc, lạy vua không phải xưng tên, vào chầu không phải bước rảo, lên điện được đeo kiếm, tác uy tác phúc, không ai bì được.
Lý Nho khuyên Trác nên dùng những người có danh vọng để thu phục lòng người; nhân thể Lý Nho tiến cử tài năng Sái Ung. Trác cho mời Sái Ung, Ung không chịu đến. Trác giận sai người bảo Ung hễ không đến thì giết cả họ. Ung sợ, phải đến. Trác thấy Ung đến, mừng lắm, một tháng thăng chức ba lần, làm đến chức Thị Trung. Trác rất hậu đãi Ung.
Thiếu đế, Hà thái hậu và Đường phi bị giam ở cung Vĩnh An, đồ ăn, thức mặc, mỗi ngày một kém. Thiếu đế không lúc nào ráo nước mắt. Một hôm Thiếu đế trông thấy hai con chim én bay ở trong sân, ngâm một bài thơ rằng:
Cặp én phất phơ bay
Trong veo dòng lạc thủy
Người đồng nội khen hay
Xa trông mây thăm thẳm
Cung điện cũ ta đây
Biết ai kẻ trung nghĩa
Gỡ cho oán hận này
Đổng Trác thường sai người đến dò
ý tứ; hôm ấy có kẻ bắt được bài thơ đem trình Đổng Trác, Trác nói rằng:
– Làm bài thơ oán vọng này, đem
giết đi là có cớ rồi.
Bèn sai Lý Nho và mười võ sĩ vào
cung giết vua. Vua, thái hậu và Đường phi đương ở trên lầu, thấy người cung nữ
báo rằng có Lý Nho đến, vua sợ giật mình. Nho đem rượu thuốc độc dâng vua. Vua hỏi
việc gì. Nho thưa:
– Ngày xuân mát mẻ, Đổng tướng quốc sai tôi đem dâng chén rượu thọ.
Thái hậu bảo Lý Nho:
– Có phải rượu thọ thì ngươi thử
uống trước đi.
Nho giận lắm, hỏi vua:
– Ngươi không uống phải không?
Rồi gọi tả hữu cầm con dao với tấm
lụa trắng, để trước mặt vua, mà nói rằng:
– Rượu thọ chẳng uống, thì phải chọn hai thứ này.
Đường phi quỳ xuống nói rằng:
– Thiếp xin thay vua uống chén rượu
này, xin ngài để toàn mệnh cho hai mẹ con vua.
Lý Nho quát mắng:
– Ngươi là đứa nào, mà dám đòi chết cho vua.
Nho cầm chén rượu đưa cho Hà Thái hậu và bảo rằng:
– Bà phải uống trước đi .Hà thái hậu nhiếc mắng Hà Tiến là đồ vô mưu, đem giặc vào kinh đô, để có cái vạ ngày nay.
Nho bức vua phải uống rượu. Vua nói:
– Hãy khoan! Để ta cùng thái hậu từ biệt đã.
Vua đau xót lắm, làm bài ca như sau:
Bỏ ngôi cao, ra chỗ phiên phon
Bởi ai nên sự lạ lùng
Việc đời ngán ngẩm, ròng ròng châu tuôn
Đường phi cũng làm bài ca rằng:
Phận mình thê thiếp, trái oan lạ thường
Tử sinh nay đã khác đường
Một người một bóng xót thương tấm lòng
Vua và Đường phi ca rồi, ôm nhau
mà khóc. Lý Nho lại quát mắng:
– Tướng quốc đứng chờ tin! Các người dùng dằng để mong ai cứu đấy.
Thái hậu thét mắng:
– Thằng giặc Đổng kia! Ngươi hại
mẹ con ta, rồi trời lại hại ngươi! Chúng bay tùng đảng với nhau làm điều ác, rồi
chúng bay sẽ bị giết cả họ cho mà xem.
Nho tức lắm, hai tay ôm lấy thái hậu ném xuống dưới lầu, giết chết; lại sai võ sĩ thắt cổ Đường phi, rót rượu độc bắt Thiếu đế uống chết, rồi về báo Đổng Trác. Trác sai đem táng ba mẹ con ở ngoài thành.
Tự bấy giờ, Trác đêm nào cũng vào cung thông dâm với các cung nữ,
rồi thì lên ngủ trên sập rồng. Thường thường Trác hay đem quân ra ngoài thành.
Một bữa Trác đến Dương Thành. Bấy giờ đang tháng hai, dân mở hội hát, con trai
con gái tụ họp nhau xem hội rất đông. Trác sai quân vây cả lại, rồi giết sạch,
cướp đàn bà con gái và của cải chất đầy xe, treo hơn một ngàn đầu lâu ở dưới
xe, nối đuôi nhau kéo về kinh đô, nói phao lên rằng đi đánh giặc thắng trận.
Trác lại sai đốt đầu lâu người ở dưới cửa thành, còn đàn bà con gái và của cải
thì đem chia cho quân sĩ.
Quan Việt Kỵ Đổng Trác từ khi ấy ra vào trường có quân sĩ mặc áo giáp đi theo hộ vệ. Viên Thiệu bấy giờ ở Bột Hải, nghe thấy Trác lộng quyền, sai người đưa mật thư cho tư đồ Vương Doãn, thư rằng:
– Giặc Trác dối trời bỏ chúa. Người
ta đau xót đến nỗi không nỡ nói, thế mà ông cứ mặc kệ, để nó lăng ngược như con
cá nhảy vượt qua đăng, làm thinh như không nghe không thấy, sao gọi là người
trung thần ái quốc! Thiệu nay chiêu tập binh mã cũng muốn vì nhà vua, quét sạch
quân giặc, nhưng chưa dám khinh động. Ông nếu cùng lòng với tôi, xin tìm cơ hội
lo tính ngay đi. Có việc gì sai khiến, tôi xin vâng mệnh!
Vương Doãn được thư, nghĩ mãi
không tìm được kế gì. Một hôm đang lúc chầu ở nội các, Doãn thấy ở đó có đủ mặt
các cựu thần, bèn nói với các quan rằng:
– Hôm nay là sinh nhật lão phụ, đến
chiều xin mời các quan quá bước đến nhà lão phu xơi rượu. Các quan đều nhận lời,
hẹn đến chiều sẽ đến chúc thọ.
Chiều hôm ấy Doãn mở tiệc ở hậu
đường. Các quan đến cả. Rượu được vài tuần, tự nhiên Doãn che mặt hu hu khóc.
Các quan giật mình hỏi rằng:
– Hôm nay là sinh nhật của quan tư đồ, sao ngài lại khóc như vậy?
Doãn thưa rằng:
– Hôm nay có phải là sinh nhật của
tôi đâu! Tôi vì có một việc muốn nói với các vị, nhưng sợ Đổng Trác sinh nghi,
cho nên mượn cớ nói thác ra thế. Thằng Trác dối vua lộng quyền, xã tắc nay mai
đổ mất. Đức Cao Hoàng ngày xưa đánh nhà Tần, diệt nước Sở, bao nhiêu công phu mới
nên được cơ đồ này, ngờ đâu nay mất vào tay thằng Đổng Trác. Tôi khóc là vì thế!
Các quan nghe nói cũng đều khóc cả.
Trong đám ngồi có một người, vỗ tay cười ầm lên mà nói rằng:
– Các quan thử khóc từ tối đến sáng, lại khóc từ sáng đến tối, xem khóc có chết được thằng Đổng Trác không? Doãn ngoảnh lại xem ai, thì là Kiêu Kỵ Hiệu úy Tào Tháo.
Doãn giận nói rằng:
– Tổ tôn nhà ngươi cũng ăn lộc nhà Hán, sao nhà ngươi không biết nghĩ cách báo quốc, lại còn cười à?
Tháo nói:
– Tôi cười, có phải cười gì đâu! Cười là cười các quan không biết nghĩ kế gì trừ được thằng Đổng Trác. Tháo nay tuy không có tài cán gì, nhưng xin lập tức chặt được đầu thằng Đổng Trác, treo ở cửa phủ để tạ thiên hạ.
Doãn liền đứng dậy hỏi rằng:
– Mạnh Đức có kế gì tài thế?
Tháo
nói:
– Tôi lâu nay sở dĩ nép mình thờ Đổng Trác cũng là vì muốn thừa cơ giết nó. Nay nó rất tin tôi, tôi được gần nó luôn. Nghe quan tư đồ có con dao thất bảo, xin cho tôi mượn. Tôi nguyện phen này vào tận tướng phủ đâm chết thằng giặc Đổng Trác, dẫu chết cũng không oán hận gì.
Vương Doãn mừng lắm nói rằng:
– Nếu Mạnh Đức có bụng như thế, thực là may cho thiên hạ lắm.
Doãn thân hành rót chén rượu mời Tào Tháo. Tháo đổ rượu, cất lời thề. Doãn bèn đem dao thất bảo đưa cho. Tháo uống rượu xong, giắt dao đứng dậy đi ra. Các quan ngồi một lát rồi cũng về cả.
Hôm sau Tháo giắt dao
đến tướng phủ, hỏi:
– Thừa tướng ở đâu?
Đầy tớ nói:
– Trong gác. Tháo vào, thấy Trác
ngồi trên giường, Lữ Bố đứng hầu bên cạnh. Trác thấy Tào Tháo vào, hỏi rằng:
– Sao hôm nay Mạnh Đức đến chậm thế?
Tháo nói:
– Thưa, ngựa tôi gầy hóa đi chậm.
Trác ngoảnh lại bảo Lữ Bố rằng:
– Ta có ngựa tốt ở Tây Lương mới tiến. Phụng Tiên đi chọn một con đem lại đây cho Mạnh Đức.
Bố vâng lời đi lấy
ngựa. Tháo thấy còn một mình Trác, bụng đã bảo dạ rằng:
– Thằng này số nó đến lúc chết đây. Lập tức muốn rút dao đâm ngay, nhưng lại sợ Trác khoẻ chưa dám đâm vội. Trác mình mẩy to béo, xưa nay không ngồi được lâu, bèn ngả mình nằm xuống, ngoảnh mặt vào trong.
Tháo lại nghĩ rằng:
– Thằng này thực số chết.
Liền rút dao ra, chực đâm. Không ngờ Trác trông vào trong cái gương, thấy bóng Tào Tháo rút dao ra ở sau lưng, vội vàng quay đầu lại hỏi:
– Mạnh Đức làm gì thế?
Bấy giờ Lữ
Bố vừa giắt ngựa đến ngoài gác. Tháo tay đương cầm con dao, vội quỳ xuống thưa:
– Tháo tôi có con dao quý xin dâng thừa tướng.
Trác cầm lấy dao xem, thấy dao dài hơn một thước, cán bằng ngọc thất bảo, lưỡi thực sắc, quả là dao quý, bèn đưa cho Lữ Bố cất đi.
Tháo còn đeo vỏ dao ở lưng, liền cởi ra, đưa nốt cho Lữ Bố. Trác đem Tháo ra xem ngựa. Tháo tạ rồi xin phép đem ngựa ra cưỡi thử. Trác sai đem yên cương đóng ngựa cho Tháo. Tháo dắt ngựa ra ngoài cửa tướng phủ, lên yên, rồi ra roi đi nước đại thẳng hướng đông nam mà chạy. Tào Tháo đi khỏi, Lữ Bố nói với Trác rằng:
– Vừa rồi tôi trông Tào Tháo hình như có ý muốn đâm trộm thái sư! Vì thái sư trông thấy, hắn mới nói lảng ra là đến dâng dao.
Trác nói:
– Ta cũng hơi nghi. Đang nói chuyện
thì Lý Nho ở đâu đến. Trác hỏi Lý Nho. Nho nói:
– Tháo không có vợ con gì ở kinh,
chỉ trọ một mình ở quán trọ, nay nên sai người đến gọi. Hắn đến ngay thì quả là
hắn dâng dao thật, nếu thoái thác không đến, thì đích là thích khách. Lúc bấy
giờ ta sẽ bắt mà hỏi. Trác liền sai bốn người coi ngục đi gọi Tào Tháo. Lính đi
một hồi lầu rồi trở về trình rằng:
– Tháo không về nhà trọ. Có người
gặp hắn cưỡi ngựa ra cửa đông. Lính canh hỏi đi đâu thì hắn nói rằng thừa tướng
sai đi có việc kíp, rồi tế ngựa đi thẳng. Nho nói:
– Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa,
hắn chột dạ chạy trốn, tất là có bụng hành thích. Trác nói:
– Ta tin dùng hắn thế, sao hắn lại
muốn hại ta? Nho thưa:
– Tất nhiên có người đồng mưu. Bắt
được Tào Tháo thì ra cả.
Trác liền tư đi các nơi, chỗ nào cũng vẽ hình ảnh Tào Tháo ai bắt được sẽ thưởng ngàn vàng, lại phong cho làm vạn hộ hầu; ai chứa chấp sẽ bị trị tội.
Trong khi ấy, Tháo cắm đầu cắm cổ chạy. Chạy
đến Tiêu Quận, đi qua huyện Trung Mâu, bị quân canh cửa thành bắt được, đem nộp
quan huyện. Tháo khai là khách buôn, họ tên là Hoàng Phủ. Quan huyện nhìn kỹ
Tháo, nghĩ ngợi một lúc rồi nói:
– Trước ta cầu quản ở Lạc Dương
đã được gặp ngươi, chính ngươi là Tào Tháo, ngươi nói dối sao được? Lính đâu,
hãy đem giam nó xuống trại, đến mai ta sẽ giải về kinh lãnh thưởng.
Quan huyện nói thế rồi cho quân
canh cửa thành cơm no rượu say rồi về. Đến nửa đêm, quan huyện sai người thân
tín xuống gọi Tào Tháo lên, bảo dẫn vào nhà sau để hỏi. Tháo vào, quan huyện hỏi
rằng:
– Ta nghe thừa tướng hậu đãi ngươi, sao ngươi lại tự chuốc lấy vạ vào thân?
Tháo nói:
– Ngươi như chim sẻ biết đâu được chí chim hồng! Đã bắt được ta thì cứ đem nộp mà lấy công, hà tất phải hỏi nhiều.
Quan huyện bèn đuổi cả tả hữu đi rồi bảo Tháo rằng:
– Anh đừng coi thường tôi. Tôi đây không phải là bọn tục lại đâu. Cũng vì chưa gặp được chủ đấy thôi.
Tháo
nói:
– Ông cha ta, đời đời ăn lộc nhà Hán. Nếu ta không biết nghĩ cách báo quốc, có khác gì giống muông thú! Ta phải hạ mình thờ thằng Đổng Trác là muốn tìm cơ hội thuận tiện giết nó. Nay việc không xong, cũng là lòng Trời.
Quan huyện nói:
– Mạnh Đức bây giờ định đi đâu?
Tháo nói:
– Ta muốn về làng, phát lời kêu gọi, vời cả chư hầu trong thiên hạ khởi binh giết Đổng Trác. Đó là sở nguyện của ta.
Quan huyện nghe nói, bèn cởi trói cho Tháo, mời ngồi lên trên rồi thụp xuống lạy
hai lạy mà nói rằng:
– Ông thực là người trung nghĩa ở
đời này. Tháo cũng lạy đáp lại, rồi hỏi tên họ, quan huyện nói:
– Tôi họ Trần, tên Cung, tên chữ
là Công Đài; tôi có mẹ già và vợ con ở Đông Quận. Nay cảm bụng trung nghĩa của
ông, xin bỏ chức quan này, theo ông đi trốn.
Tháo mừng lắm. Ngay đêm hôm ấy,
Trần Cung thu xếp hành trang và lộ phí, cả hai người thay quần áo, mỗi người
đeo một thanh kiếm, cưỡi một con ngựa, đi về quê Tào Tháo. Đi được ba hôm đến
Thành Cao, trời đã xâm xẩm tối. Tháo cầm roi ngựa, trỏ vào một đám cây cối um
tùm bảo Cung rằng:
– Trong này có Lã Bá Sa là bạn kết nghĩa với cha tôi. Tôi muốn vào hỏi thăm tin nhà, rồi ngủ đấy một đêm, nên không?
Cung nói:
– Thế thì hay lắm! Hai người, đến
cửa trại xuống ngựa vào chào Lã Bá Sa. Sa hỏi Tháo rằng:
– Ta nghe triều đình tầm nã anh gấp lắm. Cha anh phải lánh sang ở Trần Lưu rồi. Sao anh đến được đây?
Tháo bèn đem
chuyện đầu đuôi kể với Lã Bá Sa, rồi lại trỏ vào Trần Cung nói:
– Nếu không gặp được quan huyện đây, thì bây giờ đã thịt nát xương tan rồi.
Lã Bá Sa vái Trần Cung rồi nói:
– Cháu nó không gặp được ngài,
thì họ Tào còn gì! Đêm nay xin ngài hãy thong thả nghỉ lại đây.
Nói xong, đứng dậy vào trong nhà,
một chốc trở ra, bảo Trần Cung:
– Nhà tôi không có rượu ngon, để
tôi sang xóm tây, mua một bình rượu ngon về uống. Nói rồi lật đật cưỡi lừa ra
đi. Tháo với Cung ngồi ở nhà, chợt nghe thấy sau nhà có tiếng mài dao. Tháo bảo
Trần Cung rằng:
– Lã Bá Sa đối với tôi không thân
thiết gì lắm. Chuyện này đáng nghi đấy. Hai người sẽ rón rén bước vào sau nhà
tranh, chỉ nghe thấy có tiếng người nói:
– Trói lại mà giết! Tháo bảo Trần
Cung:
– Đúng rồi! Nếu ta không hạ thủ trước, thì sẽ bị bắt mất.
Tháo và Cung hai người cùng rút kiếm đi thẳng vào, gặp
người nào trong nhà giết người ấy, giết một lúc tám người. Khi vào đến bếp, chỉ
thấy một con lợn trói bốn vó, sắp đem chọc tiết. Cung giật mình nói:
– Mạnh Đức ơi! Ta đa nghi quá, giết nhầm phải người tử tế rồi.
Hai người vội vàng trở ra lên ngựa đi. Đi được độ
hai mươi dặm gặp Lã Bá Sa cưỡi lừa về, trước yên treo hai bình rượu, tay xách một
nắm rau quả. Lã Bá Sa hỏi hai người rằng:
– Hiền đệ với sứ quân sao lại đi?
Tháo nói:
– Tôi là người có tội, không dám ở lâu.
Lã Bá Sa nói:
– Ta đã dặn người nhà làm thịt
con lợn rồi. Sứ quân với hiền đệ ngại gì một đêm, xin quay ngựa lại cho. Tháo cứ
tế ngựa đi. Đi được vài bước, rút kiếm ra, quay ngựa trở lại, gọi Lã Bá Sa hỏi:
– Ai đi đằng sau ông đấy? Sa quay
đầu lại xem. Tháo chém ngay, Sa ngã xuống chết. Cung cả sợ hỏi Tháo:
– Lúc nãy lầm đã đành, bây giờ sao lại còn đang tay như thế?
Tháo nói:
– Bá Sa về nhà, thấy nhiều người chết, tất nhiên không để im, nếu đem người đi đuổi thì ta bị vạ ngay.
Cung nói:
– Biết rằng mình lầm rồi, lại còn cố ý giết người nữa thực là đại bất nghĩa.
Tháo nói:
– Thà ta phụ người, không để người phụ ta.
Cung im lặng, không nói gì nữa. Đêm trăng sáng ròi rọi, hai người cứ
phóng ngựa đi. Đi được vài dặm, hai người vào nhà hàng ngủ. Sau khi cho ngựa ăn
no, Tháo đi ngủ trước. Cung suy nghĩ:
– Ta những tưởng Tào Tháo là người tốt, cho nên bỏ quan đi theo hắn. Ai ngờ hắn là hạng người tàn nhẫn. Nếu để hắn sống ở đời, tất có ngày hắn gây ra vạ lớn. Nghĩ vậy bèn rút kiếm toan giết Tào Tháo…
Ấy thực rõ là:
Trác, Tháo hai tên cũng một phường
Chưa biết Tào Tháo sống chết thế
nào, xem đến hồi sau sẽ tỏ.
------------------------------------------------------
Phát kiểu chiếu, các trấn ứng Tào-công
Phá quan binh, tam ông chiến Lã Bố
Nhắc lại Trần Cung rút gươm, đang
sắp hạ thủ Tào Tháo, bỗng lại nghĩ:
– Mình vì việc nước theo hắn đến đây, nếu mình lại giết hắn thì mình cũng bất nghĩa chẳng khác gì hắn. Thôi thì bỏ quách hắn mà đi nơi khác cho xong.
Nghĩ như thế, Trần Cung tra kiếm vào vỏ,
lên ngựa đi thẳng về hướng Ðông quận. Tào Tháo ngủ cho đến lúc mờ sáng mới thức
giấc, không thấy Trần Cung đâu, Tháo nhủ thầm:
– Hừ! Trần Cung có lẽ đã nghi ta là đứa bất nghĩa nên bỏ đi rồi. Thế thì ta cũng phải đi gấp, không nên trì hoãn nơi đây nữa.
Nội ngày hôm ấy, Tháo bôn ba thẳng đến Trần Lưu tìm gia quyến. Khi
gặp được thân phụ, Tháo liền đem tất cả mọi việc đã xảy ra tại triều kể lại cho
Tào Tung nghe, và tỏ ý muốn đem hết gia sản dùng vào việc chiêu mộ nghĩa binh để
mưu đồ đại sự. Tào Tung nói:
– Của nhà không được bao nhiêu, sợ không đủ dùng vào việc lớn. Gần nhà ta có người họ Vệ tên Hoằng, thi đỗ Hiếu Liêm, gia cư thuộc vào hàng cự phú, tánh tình lại trọng nghĩa khinh tài. Nếu được người ấy giúp cho thì mới mong được việc.
Tào Tháo mừng rỡ bày tiệc sai người mời Vệ
Hoằng đến nhà yến ẩm và nói:
– Nay nhà Hán suy vi, Ðổng Trác chuyên quyền làm bậy, dối vua hại dân, trăm họ đều thán oán. Tôi muốn nhân cơ hội này ra sức khuông phò xã tắc, khôi phục lại nhà Hán, nếu được ngài giúp cho một tay thì may mắn lắm.
Vệ Hoằng khẳng khái nói:
– Lòng tôi lâu nay đã ước vọng
như thế, song chưa gặp được kẻ anh hùng. Nay Mạnh Ðức đã có chí lớn thì tôi còn
tiếc gì mà không đem hết tài sản ra cống hiến.
Tào Tháo mừng rỡ, liền thảo tờ hịch
vạn phát khắp các đạo chiêu tập nghĩa binh, kéo cờ trắng đề hai chữ “Trung
Nghĩa” rất lớn. Chưa được mấy ngày, các dũng sĩ khắp nơi đến ứng mộ đông như kiến.
Trong số này đáng kể là một người
ở đất Bình Dương nước Vệ, họ Nhạc tên Tiến, tự là Văn Khiêm, một người họ Lý
tên Ðiển, tự là Man Thành ở vùng Sơn dương, huyện Cư Lộc. Tào Tháo lưu dùng làm
thủ túc dưới trướng. Kế đó, có một người ở nước Bái, thuộc Tiêu Quận, họ Hạ Hầu
tên Ðôn, vốn là dòng dõi Hạ Hầu Anh thời xưa. Từ nhỏ, Hạ Hầu Ðôn đã tập cưỡi ngựa
bắn cung, múa thương rất tài. Năm mười bốn tuổi, theo thầy học võ, gặp kẻ chửi
mắng thầy, Ðôn nổi giận giết kẻ ấy, rồi trốn ra xứ ngoài. Nay nghe Tào Tháo khởi
binh, Ðôn cùng người em họ là Hạ Hầu Uyên mỗi người dẫn một ngàn tráng sĩ đến
giúp Tháo. Hai người này vốn là anh em họ của Tháo, vì cha Tháo là Tung vốn họ
Hạ Hầu, sau làm con nuôi họ Tào, mới đổi ra họ này. Ít ngày sau lại có hai anh
em Tào Nhân, Tào Hồng mỗi người dẫn hơn một ngàn quân đến giúp Tháo. Tào Nhân tự
là Tử Hiếu, Tào Hồng tự là Tử Liêm, cả hai đều giỏi về nghề bắn cung cưỡi ngựa.
Thu dụng được một số hào kiệt,
Tào Tháo rất mừng, ngày ngày điều luyện quân mã ở trong thôn. Vệ Hoằng thì bỏ của
cải ra sắm áo giáp, khí giới cho quân sĩ, may cờ quạt, tàn lọng. Thiên hạ nghe
tin tải lương thực đến giúp vô số. Bấy giờ Viên Thiệu đang ở Bột Hải, cũng
chiêu binh mãi mã, luyện tập suốt ngày. Khi nghe tin Tào Tháo cử sự, liền dẫn
ba vạn quân rời Bột Hải kéo đến hội thề với quân Tào. Thấy đã đến lúc khởi sự,
Tào Tháo bèn thảo một tờ hịch văn gởi đến các trấn chư hầu. Hịch rằng:
Tặc thần Đổng Trác, lừa đất dối trời, giết vua phá nước ô uế chốn cung cấm, tàn hại kẻ dân lành. Bạo ngược bất nhân, tội ác chồng chất!
Nay vâng tờ mật chiếu của thiên tử, họp quân nghĩa binh thề quét sạch cả Hoa Hạ, tiễu trừ mọi quân hung bạo; rất mong các nơi đều dấy nghĩa binh, cùng hả lòng công phẫn để giúp vua cứu chúng.
Hịch này đến nơi, lập tức thi hành!”
Tờ hịch của Tào đã phát đi, chư hầu
các trấn đều khởi binh hưởng ứng:
2. Hàn Phức, thứ sử Ký Châu.
3. Khổng Du, thứ sử Dự Châu.
4. Lưu Đại, thứ sử Duyện Châu.
5. Vương Khuông, thái thú quận Hà Nội.
6. Trương Mặc, thái thú Trần Lưu.
7. Kiều Mạo, thái thú Đông Quận.
8. Viên Di, thái thú Sơn Dương.
9. Pháo Tín, tướng ở Tế Bắc.
10. Khổng Dung, thái thú Bắc Hải.
11. Trương Siêu, thái thú Quảng Lăng.
12. Đào Khiêm, thứ sử Từ Châu.
13. Mã Đằng, thái thú Tây Lương.
14. Công Tôn Toản, thái thú Bắc Bình.
15. Trương Dương, thái thú Thượng Đảng.
16. Tôn Kiên, Ô Trình hầu, thái thú Trường Sa.
17. Viên Thiệu, Kỳ Hương hầu, thái thú Bột Hải.
Quân mã các trấn, nơi nhiều nơi
ít, trấn thì ba vạn, trấn thì một hai vạn, đều đem các văn quan võ tướng, kéo đến
Lạc Dương.
Đây nói chuyện thái thú Bắc Bình
là Công Tôn Toản đem một vạn rưỡi quân, khi đi qua huyện Bình Nguyên, ở Châu Đức,
trông thấy ở đằng xa, trong đám cây dâu, có một lá cờ vàng, với vài người kỵ mã
đến đón. Toản trông xem ai hóa ra Lưu Bị.
Toản hỏi:
- Hiền đệ sao lại ở đây?
Lưu Bị thưa:
- Ngày trước em nhờ anh được cử
làm huyện lệnh Bình Nguyên, nay nghe thấy đại quân qua đây, nên em lại hầu. Xin
mời anh hãy vào thành nghỉ.
Toản thấy có mấy người đi theo
Lưu Bị, trỏ hỏi mấy người ấy là ai. Lưu Bị nói:
- Đây là Quan Vũ, Trương Phi, hai
người anh em kết nghĩa với tôi đó.
Toản hỏi có phải hai người ấy là
hai người cùng phá giặc Khăn Vàng hay không, Huyền Đức nói:
- Phá giặc Khăn Vàng chính là
công hai người này cả!
Toản hỏi hiện bây giờ hai người
làm chức gì? Huyền Đức thưa:
- Quan Vũ làm tay mã cung; Trương
Phi làm tay bộ cung.
Toản than rằng:
- Như thế quả là mai một anh
hùng! Nay Đổng Trác làm loạn, chư hầu cùng dấy binh đến đánh. Hiền đệ bỏ quách
một chức quan quèn này, cùng với tôi đi đánh giặc giúp nhà Hán, nên không?
Lưu Bị vâng xin đi ngay.
Trương Phi nghe thấy tên Đổng
Trác, nói rằng:
- Khi trước giá để tôi giết ngay
thằng giặc ấy đi thì không phải rắc rối như ngày nay.
Quan Vũ nói:
- Bây giờ việc đã như thế, ta nên
thu xếp đi ngay thôi.
Lưu Bị cùng Quan, Trương liền đem
vài ba người lính kỵ, theo Công Tôn Toản đi. Tào Tháo ra tiếp. Các chư hầu cũng
lục tục kéo đến cả, mỗi người đóng trại một chỗ, liên tiếp nhau hơn hai trăm dặm
đất.
Tào Tháo giết trâu mổ ngựa, hội cả
mười tám chư hầu bàn việc tiến binh.
Thái thú Vương Khuông nói:
- Nay làm việc đại nghĩa, nên lập
minh chủ, để mọi người vâng theo hiệu lệnh, rồi sẽ tiến binh.
Tháo nói:
- Viên Bản Sơ nhà bốn đời làm tam
công, lại có nhiều thủ hạ cũ; nguyên là con cháu danh tướng nhà Hán, nên tôn
làm minh chủ.
Thiệu hai ba lần từ chối, nhưng mọi
người đều nói:
- Phi Bản Sơ không xong!
Thiệu mới vâng lời.
Hôm sau lập một cái đàn ba tầng,
chung quanh cắm cờ ngũ phương, tầng trên dựng một lá cờ tuyết mao trắng, một
cây hoàng việt; binh phù tướng ấn đủ cả; chư hầu mời Thiệu lên đàn. Thiệu mặc
áo chỉnh tề, đeo gươm đầu hàng, đốt hương lễ hai lễ, rồi đọc lời thề:
Anh em chúng tôi là Thiệu… Sợ rằng xã tắc đắm mất nên phải tụ họp nghĩa binh, cùng nhau cứu nạn nước.
Phàm đã là người đồng minh, ai cũng phải dốc lòng hết sức để giữ lấy đạo làm tôi không được hai lòng.
Ai trái lời thề này, sẽ chết mất mạng, tiệt tự cháu con.
Xin trời đất tổ tôn chứng giám cho!”
Thiệu đọc xong, các tướng đều uống
máu ăn thề. Mọi người nghe thấy lời nói khảng khái, ai cũng nước mắt chứa chan.
Thề xong xuống đàn, Thiệu lên trướng
ngồi, chư hầu hai bên theo chức tước và tuổi chia định ngôi thứ. Tháo đứng dậy
mời rượu. Rượu uống được vài tuần, Tháo nói:
- Nay đã lập minh chủ rồi, chúng
ta đều phải vâng nghe điều khiển, cùng giúp việc nước. Không ai được cậy khỏe cậy
tài, ganh tỵ nhau.
Viên Thiệu nói:
- Thiệu tuy bất tài, nhưng đã được
các quan cắt làm minh chủ, xin hết sức công minh; ai có công phải thưởng; ai có
tội phải phạt. Nước có hình luật quân có phép tắc, nên cùng giữ gìn, đừng ai vi
phạm.
Các tướng đều nói:
- Chúng tôi xin tuân lệnh.
Thiệu lại nói:
- Em ta là Viên Thuật, coi việc
lương thảo, ứng cấp các trại không được thiếu thốn. Sau nữa xin chọn lấy một
người làm tiên phong, đi thẳng ngay vào cửa Dĩ Thủy khiêu chiến; còn các tướng
khác phải chia nhau giữ các chốn hiểm yếu, để làm tiếp ứng.
Thái thú Trường Sa là Tôn Kiên,
bước lên, xin đi tiên phong.
Thiệu nói:
- Phải đấy! Văn Đài hùng mạnh, có
thể đảm đương chức ấy.
Kiên liền dẫn quân bản bộ của
mình, kéo đến cửa Dĩ Thủy. Quân canh cửa vội vàng phi ngựa về Lạc Dương vào phủ
thừa tướng cáo cấp.
Đổng Trác từ khi chuyên quyền,
ngày nào cũng yến tiệc vui say. Lý Nho tiếp được tờ cáo cấp, vào bẩm với Trác.
Trác thất kinh vội vàng họp các tướng sĩ bàn bạc.
Lã Bố thưa rằng:
- Phụ thân đừng lo, các chư hầu
đóng ngoài cửa ải, con coi như cỏ rác. Con xin đem quân hổ lang, chém hết đầu
chúng treo dưới cửa phủ!
Trác mừng mà nói rằng:
- Ta được Phụng Tiên thì cứ gối
cao đầu mà ngủ không lo gì nữa.
Trác nói chưa dứt lời thì sau
lưng Lã Bố có một người bước ra nói to lên rằng:
- Cắt tiết gà, lọ là phải dùng đến
dao mổ trâu! Không phải phiền đến Lã Ôn hầu, tôi xin ra chém hết đầu chúng nó,
dễ như lấy đồ ở trong túi.
Trác nhìn xem: Người ấy thân cao
chín thước, mình hổ lưng lang, đầu báo tay vượn, là người Quan Tây, họ Hoa, tên
Hùng.
Trác nghe nói thế, thích chí lắm,
cho ngay làm Kiêu Kỵ Hiệu úy, đem năm vạn quân mã hộ cùng với Lý Túc, Hồ Chẩn,
Triệu Xầm đi suốt ngày đêm ra cửa quan nghênh địch.
Trong bọn chư hầu, có Pháo Tín là
tướng ở Tế Bắc, thấy Tôn Kiên được đi làm tiên phong, sợ Kiên cướp mất công đầu,
bèn mật sai em là Pháo Trung, đem năm nghìn quân mã bộ đi đường tắt, ra thẳng
trước cửa quan khiêu chiến. Hoa Hùng đem năm trăm quân thiết kỵ ra ngoài cửa
quan, thét lớn: “Tướng giặc chớ chạy!” Pháo Trung vội lui, bị Hoa Hùng chém chết,
tướng tá bị bắt sống rất nhiều. Hoa Hùng sai người đem đầu Pháo Trung về báo tiệp[1].
Trác giao ngay cho Hùng làm đô đốc.
Đây nói chuyện Tôn Kiên dẫn bốn
tướng đến trước cửa Dĩ Thủy. Bốn tướng ấy là:
2. Hoàng Cái, tên chữ Công Phúc, người ở Linh Lăng; Cái cầm một ngọn roi sắt.
3. Hàn Đương, tên chữ là Công Nghĩa, người Linh Chi, tỉnh Liêu Tây; Đương cầm một con dao lớn.
4. Tổ Mậu, tên chữ là Đại Vinh, người ở Phú Xuân, quận Ngô; Mậu hai tay cầm hai dao.
Tôn Kiên mình mặc áo giáp bạc, đầu
đội mũ chóp đỏ, cắp dao Cổ Dĩnh, cưỡi ngựa Hoa Tôn, trỏ tay lên trên cửa quan
mà mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân đi phò giặc
kia! Sao không mau mau xuống hàng?
Phó tướng của Hoa Hùng là Hồ Chẩn,
dẫn năm nghìn quân xuống dưới cửa quan nghênh địch.
Tướng Kiên là Trình Phổ vác ngọn
mâu, phi ngựa ra thẳng đánh Hồ Chẩn. Đánh nhau được vài hiệp Phổ đâm trúng cổ họng
Chẩn, chết ngã từ trên ngựa xuống đất. Kiên bèn thúc quân xông đến trước cửa
quan. Trên cửa bắn tên, ném đá xuống như mưa. Kiên phải lui binh về đóng ở
Lương Đông, sai người đến chỗ Viên Thiệu báo tiệp và đến chỗ Viên Thuật thúc giục
lương thảo.
Bấy giờ có người xui Thuật rằng:
- Tôn Kiên là một con hổ dữ ở đất
Giang Đông, nếu ta để cho nó phá được Lạc Dương, giết được Đổng Trác, thì khác
gì trừ được lang mà lại gặp hổ. Nay đừng phát lương, quân hắn sẽ tan vỡ.
Thuật nghe, bèn không cấp lương
cho Tôn Kiên.
Kiên cạn lương, trong quân rối loạn.
Quân do thám biết, về cửa quan báo tin. Lý Túc bàn với Hoa Hùng rằng:
- Đêm hôm nay ta đem một toán
quân, đi lần con đường nhỏ xuống đánh đằng sau trại Tôn Kiên, tướng quân đánh đằng
trước, chắc bắt được nó.
Hùng nghe kế ấy, truyền lệnh cho
quân sĩ ăn no, để đêm xuống cửa quan đánh giặc.
Đêm hôm ấy, gió mát trăng trong.
Quân Hùng đến trại Kiên bấy giờ độ nửa đêm, đánh trống hò reo kéo vào. Kiên vội
vàng mặc áo cưỡi ngựa đi ra, vừa gặp Hoa Hùng đến. Hai bên đánh nhau được vài
hiệp, mặt sau Lý Túc kéo vào sai quân sĩ phóng hỏa. Quân Tôn Kiên rối loạn. Các
tướng đánh lộn nhau, duy có Tổ Mậu theo Kiên phá vây chạy. Hoa Hùng từ mặt sau
đuổi dồn lên. Kiên cầm cung bắn hai phát tên, Hùng đều tránh được cả, lại
giương cung bắn một phát nữa, kéo quá sức gãy mất cung thước hoa phải vứt bỏ
cung tế ngựa chạy. Tổ Mâu bảo Kiên rằng:
- Cái mũ chóp đỏ trên đầu của
chúa công, bị giặc nó nhận được. Xin cởi mũ đưa cho tôi đội.
Kiên liền cởi mũ đánh đổi cho Mậu,
rồi hai người chia đường chạy ra hai ngả. Quân Hoa Hùng cứ đuổi theo người đội
mũ chóp đỏ. Kiên chạy sang con đường nhỏ được thoát.
Tổ Mậu bị Hoa Hùng đuổi kíp lắm,
bèn bỏ mũ ra, treo vào một cái cột nhà cháy dở, rồi trốn vào rừng rậm, núp một
chỗ.
Quân Hùng, thấp thoáng dưới bóng
trăng, trông thấy cái chóp mũ đỏ ở chỗ nhà cháy cứ vây bọc bốn mặt lại, không
dám đến gần, rồi sau lấy tên bắn mãi mới biết bị lừa. Tổ Mậu ở trong rừng lúc bấy
giờ xông ra, hai tay múa đôi dao, chực chém Hoa Hùng, Hùng thét to một tiếng,
đưa một nhát dao, Mậu chết lăn xuống dưới ngựa.
Đánh nhau vừa đến tận sáng, Hùng
mới kéo quân về.
Trình Phổ, Hàn Đương, Hoàng Cái
tìm thấy Tôn Kiên, thu nhập quân mã lại rồi đóng trại ở.
Tôn Kiên thấy mất Tổ Mậu, thương
xót lắm, bèn cấp tốc cho người đi báo Viên Thiệu. Thiệu thất kinh nói:
- Không ngờ Tôn Văn Đài mà thua
Hoa Hùng!
Thiệu họp chư hầu để bàn bạc. Chư
hầu đến cả, chỉ có Công Tôn Toản đến sau. Thiệu mời các tướng vào ngồi sắp hàng
trong trướng rồi nói rằng:
- Em Pháo Tín không theo mệnh lệnh,
tự tiện tiến binh, mình bị giết, quân sĩ chết nhiều. Đến nay Tôn Văn Đài cũng bị
thua, mất hết nhuệ khí, các tướng định thế nào?
Chư hầu không ai nói gì cả. Thiệu
ngẩng mặt lên nhìn chỉ thấy sau lưng Công Tôn Toản có ba người dị thường, đứng
cười mát.
Thiệu hỏi ai. Toản gọi Lưu Bị ra
và nói rằng:
- Người này là anh em bạn học với
tôi thuở nhỏ, hiện đang làm quan lệnh Bình Nguyên, tên là Lưu Bị.
Tháo hỏi:
- Có phải là Lưu Huyền Đức đánh
tan giặc Khăn Vàng khi xưa không?
Toản nói phải, rồi bảo Lưu Bị ra
chào các quan, nhân thể đem công lao và hoàn cảnh xuất thân của Bị ra, nói chuyện
để các tướng nghe. Thiệu thấy nói Lưu Bị là tôn phái nhà Hán bèn sai lấy ghế mời
ngồi.
Lưu Bị khiêm tốn không dám ngồi.
Thiệu nói:
- Ta kính không phải là kính danh
tước nhà ngươi mà là kính người tôn thất nhà vua đấy thôi!
Lưu Bị mới ngồi xuống ghế ở hàng
cuối cùng. Quan Vũ, Trương Phi chắp tay đứng hầu đằng sau.
Đương khi ấy, có quân do thám lại
báo:
- Hoa Hùng dẫn quân thiết kỵ xuống
cửa quan, nó lấy sào cắm cái chóp mũ của Tôn thái thú, đến trước cửa trại, hò
hét thách đánh.
Thiệu hỏi:
- Ai dám ra trận?
Sau lưng Viên Thuật, có một tướng
lực lưỡng, tên là Du Thiệp bước ra thưa rằng:
- Tiểu tướng xin ra.
Thiệu mừng sai Thiệp ra. Vừa được
một lát, có người về báo:
- Thiệp đánh nhau với Hoa Hùng được
ba hiệp, bị Hùng chém chết rồi!
Các tướng cả sợ.
Thái thú Hàn Phức nói:
- Tôi có thượng tướng Phan Phụng
có thể chém được Hoa Hùng.
Thiệu bèn sai Phan Phụng ra đánh.
Phụng tay cầm một cái búa to, lên ngựa, ra được một lát, lại bị Hoa Hùng chém
chết.
Các tướng không người nào còn máu
mặt.
Thiệu nói rằng:
- Tiếc thay! Danh tướng của ta là
Nhan Lương, Văn Sú chưa đến. Giá thử được một trong hai người ấy ở đây thì có sợ
gì Hoa Hùng.
Nói chưa dứt lời một người ở dưới
thềm, chạy ra, nói to lên rằng:
- Tiểu tướng xin ra chém đầu Hoa
Hùng, đem dâng dưới trướng!
Mọi người nhìn xem thấy người ấy
mình cao chín thước, râu dài hai thước, mắt phượng mày tằm, mặt đỏ như gấc, tiếng
giống chuông kêu.
Thiệu hỏi là người nào. Toản
thưa:
- Em Huyền Đức tên là Quan Vũ đấy!
Thiệu lại hỏi hiện làm chức gì?
Toản thưa:
- Vũ theo Huyền Đức làm tay bắn
cung.
Viên Thuật ở trong trướng thét
lên:
- Thằng này là thằng nào! Mày dám
khinh chư hầu chúng tao không có đại tướng hay sao? Thứ mày là một thằng cung
thủ, mà dám nói khoác à? Chúng đâu, đuổi cổ nó ra ngoài kia!
Tào Tháo vội ngăn rằng:
- Công Lộ hãy nguôi cơn giận. Người
ấy đã nói mạnh thế, chắc là có dũng lực. Xin hãy thử cho ra, hễ không đánh được,
ta sẽ trị tội.
Viên Thiệu nói:
- Sai một tay bắn cung ra đánh,
giặc nó có cười cho không?
Tào Tháo nói:
- Người ấy diện mạo oai vệ thế
kia. Hoa Hùng biết đâu là tay bắn cung.
Quan Công nói:
- Nếu tôi không đánh được, xin chặt
đầu tôi đi!
Tháo sai người rót chén rượu, đưa
Quan Công uống trước khi đi. Quan Công nói:
- Xin hãy để chén rượu đấy, tôi
đi rồi về ngay!
Nói rồi đi ra, vác long đao nhảy
lên lưng ngựa. Được một lát chư hầu nghe thấy ngoài cửa quan tiếng trống đánh,
tiếng người reo ầm ầm, tựa hồ như trời long đất lở, núi đổ non nghiêng, ai nấy
đều thất kinh đang định sai người ra xem, thì đã thấy tiếng nhạc nhong nhong trở
về, ngựa đã vào tới trung quân. Quan Công cầm đầu Hoa Hùng ném xuống đất, chén
rượu của Tào Tháo đưa hãy còn nóng.
Đời sau có thơ khen rằng:
Nha môn trống trận nổi thùng thùng
Chén rượu rót ra còn nóng hổi
Vân Trường đã chém chết Hoa Hùng.
Tào Tháo mừng lắm.
Lúc ấy, Trương Phi ở sau lưng Lưu
Bị mới chạy ra nói to lên rằng:
- Đại ca đã chém chết được Hoa
Hùng, sao không nhân thể đánh thốc vào cửa quan, bắt sống lấy Đổng Trác, còn đợi
đến bao giờ?
Viên Thuật giận quát mắng rằng:
- Thằng láo! Đại thần của chúng
tao đây còn phải khiêm tốn, thứ mày là tiểu tốt của một quan huyện, sao dám hỗn
xược ở đây? Đuổi cả chúng nó ra ngoài kia.
Tào Tháo nói:
- Ai có công thì thưởng, cứ gì
quý với tiện!
Viên Thuật nói:
- Có phải các ông chỉ trọng một
người huyện lệnh thì tôi xin cáo thoái.
Tháo nói:
- Sao lại vì một lời nói, mà bỏ
việc lớn?
Nói thế rồi Tháo bảo Công Tôn Toản
hãy mời các ông ấy về trại.
Chư hầu tan, người nào về trại
người ấy. Tháo mật sai người đem trâu và rượu đưa sang mừng và úy lạo ba anh em
Lưu, Quan, Trương.
Quân Hoa Hùng thua, chạy về cửa
quan báo Lý Túc. Túc vội vàng viết giấy báo Đổng Trác, Trác họp các quan lại
bàn, Lý Nho nói:
- Nay ta mất thượng tướng Hoa
Hùng, thế giặc to lắm. Viên Thiệu là minh chủ, có chú là Viên Ngỗi hiện đang
làm thái phó, nếu chúng trong ngoài tiếp ứng cho nhau thì nguy lắm, ta nên trừ
trước đi. Xin thừa tướng thân cầm đại quân, chia đường ra đánh thì mới được.
Trác nghe lời Nho, gọi Lý Thôi,
Quách Dĩ, lĩnh năm trăm quân đến vây nhà thái phó Viên Ngỗi, già trẻ đều giết sạch,
rồi đem đầu Ngỗi ra bêu trước cửa quan.
Trác khởi hai mươi vạn quân chia
làm hai đường, một đường sai Lý Thôi, Quách Dĩ, đem năm vạn quân ra giữ cửa Dĩ
Thủy, không đánh nhau vội; một đường thì Trác đem mười lăm vạn quân cùng với Lý
Nho, Lã Bố, Phàn Trù, Trương Tế giữ cửa quan Hổ Lao, Trác sai Lã Bố lĩnh ba
mươi vạn quân ra trước quan, đóng một trại lớn; Trác thì đóng đồn trên cửa
quan.
Quân lưu tinh dò được tình hình,
kíp vào trại Viên Thiệu báo. Thiệu họp các tướng lại bàn. Tháo nói:
- Đổng Trác đóng quân ở Hổ Lao,
là cốt chẹn đường chư hầu. Nay nên chia quân ra, một nửa ra đó nghênh địch.
Thiệu bèn cắt Vương Khuông, Kiều
Mạo, Pháo Tín, Viên Dị, Khổng Dung, Trương Dương, Đào Khiêm, Công Tôn Toản cả
thảy tám vị chư hầu đến cửa Hổ Lao đón địch. Tào Tháo thì dẫn quân đi lại tiếp ứng.
Chư hầu đều khởi binh đến, thái thú Vương Khuông đi trước.
Lã Bố đem năm nghìn quân thiết kỵ
lại. Vương Khuông đem quân mã, bày thành thế trận, cưỡi ngựa đứng dưới cửa cờ,
trông thấy Lã Bố ra trận mình mặc áo gấm đỏ trăm hoa, ngoài khoác áo giáo thú
diện liên hoàn; dưới thắt dây lưng sư man, lưng đeo một bộ cung tên; tay cầm một
ngọn họa kích, cưỡi ngựa Xích Thố.
Khuông ngoảnh lại hỏi:
- Ai dám ra đánh?
Đằng sau có một tướng vác ngọn giáo, tế ngựa chạy ra; đó là một danh tướng ở Hà Nội, tên là Phương Duyệt. Hai ngựa giao nhau, chưa được năm hiệp, Duyệt bị Lã Bố đánh một ngọn kích ngã xuống ngựa. Bố xông thẳng vào.
Quân Vương Khuông
thua to, chạy tán loạn ra bốn mặt. Bố xông xáo vào đám quân Khuông, như chạy
vào nơi không người. May sao Kiều Mạo, Viên Di đem hai cánh quân vừa đến, cứu
được Vương Khuông, quân Bố mới lui. Chư hầu ba xứ mỗi xứ mất ít nhiều người ngựa,
lui ba mươi dặm, đóng trại. Quân năm xứ đi sau cũng dần dần kéo cả đến, họp lại
bàn nhau, đều cho Lã Bố là anh hùng, không ai địch nổi.
Khi đang lo nghĩ thì có quân vào
báo rằng Lã Bố đến khiêu chiến. Chư hầu tám xứ đều lên ngựa kéo ra cả, chia
quân ra làm tám đội ở trên gò cao. Trông ở đằng xa thấy một toán quân mã, cờ
bay phấp phới. Lã Bố xông đến.
Bộ tướng của Trương Dương, thái
thú Thượng Đẳng tên là Mục Thuận vác ngọn giáo tế ngựa ra đánh, bị Bố đâm một
ngọn kích chết lăn từ trên ngựa xuống đất.
Thấy thế, một bộ tướng của Khổng
Dung, tên là Vũ An Quốc, vác một cái dùi sắt, tế ngựa chạy ra, Lã Bố đến, đánh
nhau được mười hiệp, Bố đưa một ngọn kích đánh gãy cánh tay An Quốc. An Quốc vứt
dùi sắt chạy. Chư hầu tám xứ cùng đổ ra mới cứu được An Quốc. Lã Bố lui quân trở
về, các chư hầu lại về trại bàn với nhau.
Tào Tháo nói:
- Lã Bố anh hùng, không địch được.
Nay nên họp cả mười tám nước chư hầu để bàn nhau tìm kế gì đánh được nó. Hễ bắt
sống được Lã Bố, thì giết Đổng Trác chẳng khó gì nữa!
Trong khi đang bàn bạc, Lã Bố lại
kéo quân đến thách đánh. Công Tôn Toản vác ngọn giáo nhảy ra đánh Lã Bố, mới được
vài hiệp, Toản thua chạy. Lã Bố thúc ngựa Xích Thố sấn lại đuổi, ngựa này chạy
nhanh như bay. Bố gần đuổi kịp Toản thì ở bên rìa đường, bỗng có một tướng, mắt
tròn trợn ngược, râu hùm vểnh lên vác một ngọn bát xà mâu, tế ngựa đến thét lên
rằng:
- Thằng ở ba họ kia đừng chạy nữa!
Có Trương Phi người đất Yên đây!
Lã Bố thấy thế bỏ Toản, đánh nhau
với Trương Phi. Trương Phi hăng hái cố đánh Lã Bố. Hai người đánh nhau được hơn
năm mươi hiệp chưa rõ bên nào thua bên nào được. Quan Công đứng ngoài thấy thế
cũng múa thanh long đao nặng tám mươi hai cân đến cùng đánh. Ba con ngựa đứng
dàn kiểu chữ đinh, đánh nhau được ba mươi hiệp nữa hai người cũng vẫn không hạ
được Lã Bố. Lưu Bị bấy giờ cũng cầm đôi gươm tế ngựa chạy vào đánh giúp. Ba người
vây tròn lấy Lã Bố đánh chẳng khác gì quân đèn cù. Binh mã tám xứ ngây mặt ra
trông.
Lã Bố cố sức chống đỡ không nổi,
bèn nhắm giữa mặt Lưu Bị phóng vờ một ngọn kích. Lưu Bị tránh được. Lã Bố mở
góc của trận, cắp đao ngược kích, phi ngựa chạy về. Ba người thúc ngựa sấn vào;
quân mã tám xứ đều reo ầm lên, xô cả ra đánh. Quan Lã Bố chạy về trên cửa Hổ
Lao. Ba người theo sau đuổi mãi.
Cổ nhân, có người làm bài ca kể
chuyện Lưu Bị, Quan, Trương đánh Lã Bố rằng:
Vầng thái dương đã xế về đoài
Gian thần Đổng Trác ra oai
Phế vua; Lưu Hiệp rụng rời thất kinh
Hịch Tào Tháo truyền nhanh các trấn
Chư hầu cùng nổi giận dấy binh
Bản Sơ thủ lãnh đồng minh
Thề nhau giúp Hán yên bình non sông
Kia Lã Bố anh hùng ai sánh
Khắp mọi người dũng mãnh nào bằng
Áo ngoài giáp bạc sáng choang
Đầu trên nhấp nhoáng mũ vàng ngù bông
Mặt thú dữ trập trùng bảo đái
Cánh phượng bay phấp phới cấm bào
Vó câu gió chạy ào ào
Kích hoa sáng quắc soi vào nước trong
Ra cửa ải tranh hùng ai dám
Các chư hầu thất đảm kinh hồn
Trương Phi nhảy vọt ra liền
Xà mâu một ngọn trận tiền gương uy
Vểnh râu hổ gầm ghì thét mắng
Xoe mắt tròn lóng lánh lân la
Đánh nhau mê mải chưa tha
Vân Trường nóng tiết nhảy ra xông vào
Nhoáng màu tuyết, ngọn đao sắc nước
Áo chiến bào quắc thước màu hoa
Quỷ thần thét, tiếng ngựa ra
Căm căm khí tức, mắt hoa đỏ ngầu
Huyền Đức cũng giục mau ngựa nhảy
Múa đôi gươm vùng vẫy ra oai
Ba người vây bọc vòng ngoài
Kẻ đâm người đỡ liền tay không rời
Tiếng quát háo lay trời động đất
Sát khí bay cao ngất mây xanh
Ôn hầu thế núng nhìn quanh
Quay đầu ngựa chạy về nhau núi nhà
Cán họa kích đảo đà tếch trước
Cờ ngũ hành xơ xác bướm bay
Giật cương chạy rẽ đường mây
Hổ Lao trại ấy tọt ngay vào thành
Ba người đuổi Lã Bố đến dưới cửa
quan, trông thấy trên cửa quan có tàn lọng che, gió bay phấp phới, Trương Phi
kêu to rằng:
- Hẳn Đổng Trác ở đây rồi! Đuổi
Lã Bố làm gì nữa, không bằng bắt thằng Đổng Trác mới thực là đào cây nhổ đến tận
rễ.
Vừa nói vừa tế ngựa lên cửa quan
để bắt Đổng Trác.
Thế mới thực là:
Kỳ công lại phải đợi người tài.
Chưa biết rồi chuyện ra làm sao, xem đến hồi sau mới rõ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét