🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Từ Thịnh hóa công, phá quân Ngụy chủ
Lại nói Đông Ngô, sau khi Lục Tốn
phá xong quân Nguỵ, Ngô chủ nhắc Lục Tốn lên làm phụ quốc tướng quân, Giang
Lăng hầu, lĩnh chức mục ở Kinh Châu; từ đó, binh quyền về cả tay Tốn.
Trương Chiêu, Cố Ung tâu xin Tôn
Quyền cải nguyên. Quyền nghe lời, mới cải niên hiệu gọi là năm Hoàng Vũ thứ nhất
(223).
Chợt có sứ giả nước Nguỵ đến. Quyền
vời vào hỏi. Sứ giả nói:
- Trước kia, Thục sai người đến cầu
cứu Nguỵ, trong lúc nông nổi, Nguỵ đã phát binh cứu ứng. Nay hối lại, muốn khởi
bốn đạo quân vào lấy Xuyên, xin Đông Ngô lại tiếp đỡ cho. Nếu lấy được Thục, sẽ
xin chia đôi, mỗi bên một nữa.
Quyền không biết nghĩ thế nào, mới
hỏi Trương Chiêu, Cố Ung.
Chiêu nói:
- Lục Bá Ngôn kiến thức rất cao,
phải hỏi ông ta mới được.
Quyền lập tức cho triệu Lục Tốn
vào.
Tốn tâu rằng:
- Tào Phi ngồi trấn thủ cõi Trung
Nguyên, chưa có thể đồ được, nếu ta không nghe lời hắn lại sinh thù hằn. Tôi chắc
rằng cả Nguỵ lẫn Ngô, cũng không có ai địch nổi được với Gia Cát Lượng. Nay ta
cứ vâng lời, sắp sẵn quân mã, nhưng hãy để xem bốn mặt kia thế nào; nếu bốn mặt
kia đánh thắng, trong Xuyên nguy cấp, Gia Cát Lượng đầu đuôi không cứu ứng được
nhau, thì ta sẽ điều quân ra, trước hết đến lấy Thành Đô, là hơn cả. Nếu bốn mặt
kia thua, ta lại liệu kế khác.
Quyền nghe lời, bảo với sứ Nguỵ rằng:
- Quân nhu chưa chuẩn bị xong, chờ
ít bữa nữa, bên này sẽ cất quân đi.
Sứ giả lạy từ trở về.
Quyền sai người đi dò biết quân
Tây Phiên ra cửa Tây Bình, thấy có Mã Siêu, vội vã rút lui. Nam Man Mạnh Hoạch
đánh bốn quận bị Nguỵ Diên dùng nghi binh đuổi chạy về động. Quân của Mạnh Đạt ở
Thương Dung đi đến nửa đường, bỗng nhiên phát bệnh, không đi được. Tào Chân dẫn
quân ra cửa Dương Bình, Triệu Tử Long chống cự, giữ vững các nơi hiểm yếu,
không tài gì phá nổi. Tào Chân đóng quân ở hang Tà Cốc, không thể làm nên trò
trống gì, cũng dẫn quân về nốt.
Tôn Quyền nghe được tin đó, bảo với
các quan rằng:
- Lục Bá Ngôn quả thật tính toán
giỏi như thần. Nếu cô vội vàng động binh thì lại kết oán sâu với Tây Thục.
Chợt có tin báo Tây Thục sai sứ
là Đặng Chi đến.
Trương Chiêu nói:
- Đây là mẹo của Gia Cát Lượng
lui quân sai Đặng Chi sang làm thuyết khách đây!
Quyền hỏi:
- Nên cư xử làm sao?
Chiêu nói:
- Ta nên đặt một cái vạc to chứa
vài trăm cân dầu ở trước điện, đun sôi sùng sục, kén lấy hơn ngàn võ sĩ lực lưỡng,
to lớn, cầm đồ khí giới, đứng dàn từ ngoài cửa cung đến trước điện, rồi triệu Đặng
Chi vào ra mắt. Đừng để cho hắn mở mồm nói trước, ta nên mắng phủ đầu ngay đi,
bắt chước chuyện Lịch Tự Cơ đến dụ nước Tề mà mổ bụng ra, xem hắn ứng đối thế
nào?
Quyền nghe lời, đặt một cái vạc ở
trước điện, sai võ sĩ cầm gươm giáo đứng dàn hai bên, rồi triệu Đặng Chi vào.
Chi áo mũ chỉnh tề đi vào, đến
trước cửa cung, thấy hai bên võ sĩ oai phong lẫm liệt, kẻ thì đao to búa lớn,
người thì gươm ngắn giáo dài, đứng sắp hàng đến mãi cửa điện. Chi hiểu ý, không
chút sợ hãi, cứ ngang nhiên đi vào. Đến trước điện, lại thấy một cái vạc dầu
đang sôi. Các võ sĩ đưa mắt cho Đặng Chi, Chi cười tủm tỉm. Cận thần đưa Chi đến
trước rèm Tôn Quyền. Chi chỉ vái dài chứ không chịu lạy. Quyền sai cuốn rèm
lên, mắng rằng:
- Làm sao không lạy?
Chi đáp:
- Thiên sứ ở nước lớn không phải
lạy chúa ở nước nhỏ.
Quyền nổi giận nói:
- Ngươi không biết liệu sức, muốn
bắt chước Lịch Sinh đến dụ nước Tề phải không?
Chi cười ầm lên, nói:
- Ai cũng bảo Đông Ngô lắm người
hiền, không ngờ lại hoá ra sợ một anh học trò!
Quyền nguôi giận, nói:
- Cô sợ gì một đứa sất phu?
Chi nói:
- Nếu không biết sợ, thì Đặng Bá
Miêu này can gì còn phải đến đây dạy bảo các ngươi nữa?
Quyền nói:
- Gia Cát Lượng sai ngươi làm
thuyết khách, đến dỗ cô bỏ Nguỵ mà quay về với Thục, phải không?
Chi nói:
- Ta tuy là một người học trò nước
Thục, chỉ vì lợi hại của nước Ngô mà đến đây, thế mà phải dàn quân đun vạc, để
doạ một sứ giả, sao độ lượng hẹp hòi làm vậy?
Quyền nghe nói, có dáng hổ thẹn,
mới quát mắng võ sĩ lui ra, rồi mời Chi lên điện ngồi tử tế, hỏi rằng:
- Việc Ngô, Nguỵ lợi hại ra làm
sao, xin tiên sinh dạy cho biết?
Chi nói:
- Đại vương muốn hoà với Thục hay
là muốn hoà với Nguỵ?
Quyền nói:
- Cô cốt muốn giảng hoà với Thục,
nhưng chỉ ngại Thục chủ còn ít tuổi, kiến thức nông nổi, không giữ được thuỷ
chung với nhau mà thôi.
Chi nói:
- Đại vương là một đấng anh hào
trên đời. Gia Cát Lượng bên tôi cũng là bậc tuấn kiệt một thời. Thục có núi non
hiểm trở, Ngô cũng có ba sông bền vững. Nếu hai nước liên hoà với nhau, kết làm
môi răng, tiến lên có thể nuốt được cả thiên hạ, lui về có thể giữ vững được thế
chân vạc. Nay nếu đại vương xưng thần với Nguỵ, Nguỵ tất bắt đại vương vào chầu
và bắt gửi thái tử làm con tin. Nếu đại vương không nghe, Nguỵ tất cất quân
sang đánh. Thục bấy giờ cũng thuận dòng tiến sang. Như thế đất Giang Nam không
còn là của đại vương nữa. Nếu đại vương cho lời tôi nói là không phải, tôi xin
chết ngay trước mặt đại vương cho tuyệt cái giống thuyết khách đi!
Nói đoạn, cởi áo xăm xăm nhảy vào
vạc dầu. Quyền vội vàng sai người ngăn lại, mời vào hậu điện, trọng đãi làm thượng
khách.
Quyền nói:
- Lời tiên sinh hợp với ý cô lắm,
cô muốn giảng hoà với Thục chủ, tiên sinh nói giúp cho cô được không?
Chi nói:
- Mới rồi đại vương muốn giết
tôi, bây giờ đại vương lại muốn sai tôi, đại vương còn phân vân chưa biết thế
nào, thì sao cho người ta tin được?
Quyền nói:
- Ý cô đã quyết, tiên sinh chớ có
nghi ngại.
Bèn lưu Đặng Chi ở lại, rồi họp cả
các quan lại hỏi rằng:
- Cô giữ tám mươi mốt châu Giang
Nam, lại có cả đất Kinh Sở, thế mà không bằng một xó Tây Thục. Thục có Đặng
Chi, không để nhục đến chủ, sao nước Ngô ta lại không có một người nào vào Thục
bày tỏ được ý cho cô?
Có một người trong bọn bước ra,
tâu rằng:
- Tôi xin đi sứ!
Chúng trông ra thì là Trương Ôn,
tự Huệ Thứ, quê ở Ngô Quận, hiện đang làm trung lang tướng.
Quyền nói:
- Cô chỉ sợ ngươi đến nước Thục,
trông thấy Gia Cát Lượng lại không tỏ được tình của cô mà thôi!
Ôn nói:
- Gia Cát Lượng cùng là người, việc
gì mà sợ!
Quyền mừng lắm, thưởng cho Trương
Ôn, sai đi với Đặng Chi vào Xuyên để thông hiếu.
Sau khi Đặng Chi đi rồi, Khổng
Minh tâu với hậu chủ rằng:
- Đặng Chi đi chuyến này, tất
nhiên xong việc. Ngô lắm người hiền, tất có người lại đáp lễ. Bệ hạ nên tiếp
đãi cho tử tế, sai họ trở về để thông hiếu với Ngô, Ngô mà hoà với ta rồi, thì
Nguỵ không dám đánh ta nữa. Ngô, Nguỵ yên ổn đâu đấy, tôi xin trước hết xuống
phía nam, dẹp yên đám rợ, sau đó sẽ đồ đến Nguỵ. Nguỵ trừ xong, Ngô cũng không
đứng lâu được một mình. Có như vậy ta mới có thể đem lại cơ nghiệp thống nhất
được.
Hậu chủ lấy làm phải.
Chợt có tin Trương Ôn đi với Đặng
Chi vào Xuyên. Hậu chủ hội cả văn võ ở đan trì, cho Đặng Chi, Trương Ôn vào. Ôn
tự đắc, nghênh ngang lên điện ra mắt hậu chủ. Hậu chủ ban cho một cái đệm gấm,
cho ngồi bên tả điện, mở ngự yến thết đãi. Tiệc tan, các quan đưa Trương Ôn ra
nghỉ nơi nhà khách.
Hôm sau, Khổng Minh mở yến thết
đãi Trương Ôn. Khổng Minh bảo Ôn rằng:
- Khi còn tiên đế, Thục không được
hoà mực với Ngô. Nay ngài đã mất rồi, chúa thượng tôi bây giờ mến đức Ngô
vương, muốn bỏ oán cũ, kết hiếu mãi mãi với nhau để hợp sức lại phá Nguỵ, xin đại
phu về tâu giúp với Ngô hầu cho.
Trương Ôn vâng lời. Rượu đến nửa
chừng, Trương Ôn cười cười nói nói, hơi có vẻ kiêu ngạo. Hôm sau, hậu chủ sai mở
tiệc yến ở nhà trạm cửa nam, cho các quan ra tiễn. Khổng Minh ân cần mời rượu.
Đang tiệc, bỗng có người say ngất ngưởng đi vào, vái dài một cái rồi tót lên
chiếu ngồi. Ôn lấy làm kỳ quái, hỏi Khổng Minh rằng:
- Người này là thế nào?
Khổng Minh nói:
- Người ấy họ Tần, tên Bật, tự là
Tử Sắc, hiện đang làm quan học sĩ ở Ích Châu.
Ôn cười, nói:
- Tiếng là học sĩ, vị tất trong bụng
đã có chút gì!
Bật nghiêm sắc mặt, nói:
- Trong Thục này, dẫu đứa trẻ con
cũng còn biết học, huống chi là ta!
Ôn nói:
- Thế hãy xin hỏi ông học sách
gì?
Bật đáp:
- Trên từ thiên văn, dưới đến địa
lý, tam giáo cửu linh, bách gia chư tử, cái gì ta chẳng thông, chuyện hay dở
xưa nay cùng là kinh truyện thánh hiền, cái gì ta chẳng hiểu!
Ôn cười, nói:
- Ông đã khoe như thế, tôi xin hỏi
ngay việc trên trời. Trời có đầu không?
Bật nói:
- Có đầu.
Ôn hỏi:
- Đầu ở phương nào?
Bật nói:
- Ở phương Tây. Kinh Thi có câu:
“Nãi quyến tây cố” (bèn ngoảnh trông về phương tây), cứ thế mà suy ra, thì đầu
trời ở phương tây.
Ôn hỏi:
- Trời có tai không?
Bật nói:
- Trời cao mà nghe thấp. Kinh Thi
có câu: “Hạc mình cửu cao, thanh vân vu thiên” (con hạc kêu
trên chín tầng mây, tiếng nghe đến trời), nếu trời không có tai, sao lại biết
nghe?
Ôn hỏi:
- Trời có chân không?
Bật nói:
- Có! Kinh Thi có câu: “Thiên
bộ gian nan” (bước trời khó nhọc). Nếu không có chân thì bước làm sao
được!
Ôn hỏi:
- Trời có họ không?
Bật nói:
- Sao lại chẳng có!
Ôn hỏi:
- Họ gì?
Bật nói:
- Họ Lưu.
Ôn hỏi:
- Sao biết là họ Lưu?
Bật nói:
- Thiên tử (con trời) họ Lưu, cứ
thế mà suy thì biết.
Ôn hỏi:
- Mặt trời mọc ở phương đông, có
phải không?
Bật nói:
- Tuy mọc ở phương đông, nhưng mà
lại lặn ở phương tây.
Khi ấy, Tần Bật ứng đối trôi chảy,
nói năng hoạt bát, cả đám đều ngồi kinh. Trương Ôn không hỏi vặn được câu gì nữa.
Bật mới hỏi lại rằng:
- Tiên sinh là danh sĩ Đông Ngô,
đã lấy việc trên trời mà hỏi, tất là hiểu sâu lẽ trời. Khi xưa, lúc hỗn độn mới
mở, âm dương chia biệt, khí nhẹ mà trong thì bay lên thành trời; khí nặng mà đục,
thì đọng xuống dưới thành đất. Đến đời họ Cung Công, đánh trận thua, húc đầu
vào núi Bất Chu, thì cột trời đổ gãy, mà rường đất sứt mẻ, trời nghiêng về tây
bắc, đất đổ về đông nam. Trời đã là khí nhẹ mà trong, làm sao lại còn nghiêng
góc tây bắc? Vả lại, ở ngoài lần khí nhẹ và trong, còn có vật gì nữa, xin tiên
sinh dạy cho tôi được biết?
Trương Ôn không biết đối đáp ra
sao, mới đứng dậy tạ rằng:
- Tôi không ngờ trong Thục lắm
người tuấn kiệt thế này, nghe lời ngài giảng luận, khiến tôi mở được đường ngu
dốt.
Khổng Minh chữa thẹn cho Trương
Ôn, nói rằng:
- Túc hạ vốn tinh thông những việc
yên dân định nước kia, chứ những lời đùa bỡn này thì có làm gì!
Tiệc tan, Ôn lạy tạ Khổng Minh ra
về. Khổng Minh lại sai Đặng Chi cùng đi sang Ngô. Hai người lạy từ Khổng Minh
đi Giang Đông.
Ngô vương thấy Trương Ôn chưa về,
hội cả văn võ lại bàn bạc. Chợt cận thần vào báo rằng Thục sai Đặng Chi theo
Trương Ôn sang đáp lễ. Quyền cho mời vào. Trương Ôn quỳ lạy ở trước điện, thuật
lại cái việc tử tế của hậu chủ và Khổng Minh, xin kết hiếu mãi với nhau, nên lại
sai Đặng thượng thư sang đáp lễ.
Quyền mừng lắm, mở tiệc yến khoản
đãi Đặng Chi, rồi bảo rằng:
- Nếu bằng hai nước Thục, Ngô đồng
tâm mà diệt Nguỵ, khi nào được thiên hạ thái bình, hai chúa chia đôi thiên hạ,
chẳng hoá vui lắm ru!
Chi đáp rằng:
- Trời, không có lẽ hai mặt trời;
dân không có lẽ hai chúa. Sau khi diệt được Nguỵ rồi, chưa biết trời cho ai. Có
một điều là làm vua thì phải sửa đức mình; làm tôi thì phải biết lòng trung
nghĩa, như thế việc chiến tranh mới tắt được.
Quyền cười ầm lên, nói:
- Ông nói thực thà lắm!
Bèn hậu tặng cho Đặng Chi về. Từ
đó, Ngô, Thục hai bên hoà hiếu với nhau.
Lại nói, quân do thám của Nguỵ biết
được việc ấy, vội vàng báo vào Trung Nguyên. Nguỵ chủ nghe tin, giận lắm, nói rằng:
- Ngô, Thục liên hoà với nhau, tất
có ý đồ Trung Nguyên của trẫm, trẫm phải đánh trước đi mới được.
Bởi thế, họp cả văn võ bàn định
việc cất quân sang đánh Ngô.
Bấy giờ đại tư mã Tào Nhân, thái
uý Giả Hủ đều mất rồi. Có quan thị trung là Tân Tỷ ra ban, tâu rằng:
- Ở Trung Nguyên ta, đất thì rộng
mà dân thì ít, muốn dùng binh ngay, không được lợi. Chi bằng ta hãy nuôi quân,
cho đóng đồn làm ruộng mười năm, bấy giờ binh nhiều lương đủ, mới có thể phá được
Ngô, Thục.
Phi giận, nói:
- Ngô, Thục liên hoà, nay mai tất
xâm phạm vào nước ta, đợi gì đến mười năm!
Lập tức truyền chỉ cất quân sang
đánh Ngô.
Tư Mã Ý tâu rằng:
- Ngô có sông Trường Giang ngăn
trở, không có thuyền sang không được. Bệ hạ bằng muốn thân chinh, nên kén thật
nhiều chiến thuyền lớn nhỏ, từ đường Sái Dĩnh, vào sông Hoài, cướp lấy Thọ
Xuân, rồi tới Quảng Lăng, sang qua cửa sông, đến tắt lấy Nam Từ, đó mới là thượng
sách.
Phi nghe lời, sai thợ ngày đêm
đóng gấp lấy mười chiếc thuyền rộng, mỗi cái dài hai mươi trượng, chở nổi hai
nghìn người. Lại thu nhặt thêm hơn ba nghìn chiếc thuyền nữa.
Năm Hoàng Sơ nhà Nguỵ thứ năm
(224), mùa thu, tháng tám. Tào Phi hội cả tướng sĩ lớn nhỏ, sai Tào Chân làm tiền
bộ, Trương Liêu, Trương Cáp, Văn Sính, Từ Hoảng làm đại tướng đi trước, Hứa Chử,
Lã Kiền làm trung quân hộ vệ, Tào Hưu làm hợp hậu, Lưu Hoa, Tưởng Tế làm tham
mưu. Quân mã thuỷ lục, cả thảy hơn ba mươi vạn, ngày hôm ấy cất quân đi. Lại
phong cho Tư Mã Ý làm thượng thư bộc sạ, ở lại Hứa Đô. Tất cả mọi chính sự lớn
nhỏ đều giao cả cho Ý coi sóc.
Quân mật thám dò biết việc ấy,
báo về nước Ngô. Cận thần vội vàng vào tâu với Ngô vương rằng:
- Nguỵ chủ Tào Phi, thân cưỡi
thuyền rồng, dẫn hơn ba mươi vạn đại quân thuỷ, lục, từ đường Sái Dĩnh ra sông
Hoài, lấy Giang Lăng để qua sông hạ Giang Nam ta, thế quân rất là lợi hại.
Tôn Quyền cả kinh, hội cả văn võ
lại bàn luận.
Cố Ung tâu rằng:
- Nay chúa thượng đã liên hoà với
Thục, một mặt nên viết một phong thư đưa cho Gia Cát Khổng Minh, xui hắn cất
quân ra Hán Trung để chia bớt thế lực của quân Nguỵ đi. Một mặt sai đại tướng
đóng quân ở Nam Từ đánh nhau với giặc.
Tôn Quyền nói:
- Ngoài Lục Bá Ngôn ra, không ai
đương nổi việc lớn này.
Cố Ung nói:
- Bá Ngôn trấn thủ ở Kinh Châu,
không nên khinh động.
Quyền nói:
- Cô vẫn biết thế, nhưng hiện nay
không có ai đỡ được cho cô.
Có một người ở trong đám dạ một
tiếng, bước ra nói rằng:
- Tôi tuy bất tài, xin lĩnh một đạo
quân chống nhau với quân Nguỵ. Nếu Tào Phi sang sông, tôi xin bắt sống về dâng
điện hạ; ví bằng không sang, cũng xin giết một nửa số quân Nguỵ, khiến chúng
không dám nhòm ngó đến Đông Ngô ta nữa.
Tôn Quyền trông ra thì là Từ Thịnh,
mừng mà nói rằng:
- Nếu được ngươi giữ một dải
Giang Nam, thì cô còn lo gì nữa!
Liền phong cho Từ Thịnh làm An
Đông tướng quân tổng thống cả quân mã ở Kiến Nghiệp, Nam Từ. Thịnh tạ ân, lĩnh
mệnh từ tạ trở ra truyền cho các tướng sắm sửa khí giới, tinh kỳ cho nhiều, để
phòng giữ mặt sông.
Bỗng có một người đứng phắt ra
thưa rằng:
- Nay đại vương đem công việc tày
đình, uỷ thác cho tướng quân; muốn phá quân Nguỵ để bắt sống Tào Phi, sao tướng
quân không đưa quân sang sông cho sớm đến Hoài Nam mà nghênh địch có được
không? Nếu đợi quân Nguỵ tới nơi, còn chống chế làm sao cho kịp?
Từ Thịnh trông ra thì là Tôn Thiều,
cháu gọi Ngô vương bằng chú.
Tôn Thiều tự là Công Lễ, hiện
đang làm Dương võ tướng quân, trước đã trấn giữ ở Quảng Lăng. Thiều tuy ít tuổi
nhưng tính khí khái, có sức lực, can đảm lắm.
Từ Thịnh nói:
- Thế quân Tào Phi to lắm, lại có
danh tướng làm tiên phong, ta không nên sang sông nghênh địch. Đợi khi nào thuyền
bên kia tụ ở cả bắc ngạn, ta khắc có mẹo phá được.
Thiều nói:
- Thủ hạ tôi có ba nghìn quân mã,
tôi lại quen thuộc đường đất Quảng Lăng, vậy xin một mình lên Giang Bắc, quyết
liều chết một trận với Tào Phi, nếu không thắng được, xin chịu quân lệnh.
Từ Thịnh không nghe. Thiều nhất định
xin đi. Thịnh cũng nhất định không cho. Thiều vật nài hai ba lần nữa. Thịnh giận,
nói rằng:
- Ngươi không nghe hiệu lệnh của
ta thế này, ta còn trị làm sao được các tướng?
Lập tức quát võ sĩ lôi Tôn Thiều
ra chém. Quân đao phủ điệu Thiều ra đến cửa dinh, dựng một lá cờ thâm, sắp sửa
khai đao. Bộ tướng của Thiều phi báo với Tôn Quyền. Quyền vội vàng phi ngựa đi
ngay. Võ sĩ sắp hành hình thì Tôn Quyền tới kịp, quát dẹp đao phủ ra, cứu được
Thiều.
Thiều khóc, nói:
- Tôi trước kia đã ở Quảng Lăng,
quen thuộc cả đường đất, nên nhân lúc này đánh ngay Tào Phi đi. Nếu để hắn sang
được sông, thì Đông Ngô ta chẳng mấy bữa nữa là hỏng mất!
Tôn Quyền vào trại. Từ Thịnh ra
rước vào trong trướng, rồi tâu rằng:
- Đại vương sai tôi làm đô đốc, cầm
quân ra cự nhau với Nguỵ. Tôn Thiều không tuân quân pháp, đáng lẽ nên chém, sao
đại vương lại tha?
Quyền nói:
- Thiều cậy sức khoẻ, lỡ phạm phải
quân lệnh, xin tướng quân hãy thứ cho nó phen này.
Thịnh nói:
- Phép, không phải do tôi đặt ra,
cũng không phải do đại vương đặt ra, mà là luật chung của nhà nước. Nếu cứ người
thân thì tha, làm sao sai khiến được kẻ khác?
Quyền nói:
- Thiều nó phạm phép, đáng lẽ mặc
ý tướng quân xử trị mới phải. Vì nó tuy là họ Du, nhưng xưa kia anh ta yêu nó lắm,
cho đổi làm họ Tôn. Vả nó cũng có công lao với cô nữa, nếu giết đi thì phụ mất
bụng anh ta!
Thịnh nói:
- Nể có đại vương đây, hãy xin gửi
cái tội chết ở đó!
Quyền sai Tôn Thiều lạy tạ. Thiều
nhất định không lạy, lại quát to lên rằng:
- Cứ như ý kiến của ta thì chỉ dẫn
quân sang phá Tào Phi là phải. Ta dù chết chăng nữa cũng không phục cái kiến thức
của ngươi!
Từ Thịnh tái mặt lại, Tôn Quyền
quát mắng Tôn Thiều đuổi ra, rồi bảo Thịnh rằng:
- Nếu không có hắn, thì có thiệt
gì cho Đông Ngô? Từ sau chớ dùng hắn nữa.
Nói đoạn trở về.
Đêm hôm ấy, có người báo với Từ
Thịnh rằng Tôn Thiều dẫn ba nghìn quân bản bộ, lẻn sang qua sông mất rồi. Từ Thịnh
ngại có mặt Ngô vương, mới gọi Đinh Phụng vào, dặn dò mật kế, sai dẫn ba ngàn
quân mã qua sông tiếp ứng.
Lại nói, Nguỵ chủ cưỡi thuyền rộng
đi đến Quảng Lăng, tiền bộ là Tào Chân đã dàn quân ở bờ sông đại giang rồi.
Tào Phi hỏi rằng:
- Quân bên sông nhiều hay ít?
Tào Chân tâu rằng:
- Cách bờ bên này trông sang,
không thấy một người nào, mà cũng không có tinh kỳ, dinh trại gì cả.
Phi nói:
- Đó là quỷ kế đấy, để trẫm đến
nơi xem hư thực ra sao mới được.
Thế rồi, Phi sai mở rộng đường
sông, thả thuyền rồng vào thẳng đại giang, đậu cả ở bến. Trên thuyền cắm những
cờ long, phụng, nhật, nguyệt, tinh kỳ, nghi trượng sáng quắc một vùng.
Tào Phi ngồi chễm chệ trong thuyền,
xa xa nhìn sang phía nam, không thấy bóng một người nào, bèn ngoảnh lại bảo Lưu
Hoa, Tưởng Tế rằng:
- Có nên sang bên kia sông không?
Hoa tâu rằng:
- Binh pháp thực hoá hư, hư hoá
thực. Bên kia thấy đại quân ta đến, tài gì chẳng có phòng bị, bệ hạ chưa nên vội
vã sang ngay. Đợi năm ba bữa xem động tĩnh thế nào, rồi hãy cho tiên phong sang
trước nghe ngóng mới được.
Phi nói:
- Ngươi nói chính hợp ý trẫm!
Chiều tối hôm ấy, Phi cắm thuyền
nghỉ ở giữa sông. Đêm không có trăng, trời tối như mực, quân sĩ đốt đuốc sáng
trưng, trời đất như ban ngày. Nhưng trông sang bên kia sông, lại tuyệt nhiên
không thấy có đèn lửa gì cả.
Tào Phi hỏi tả hữu rằng:
- Đó là cớ làm sao?
Cận thần tâu rằng:
- Đấy hẳn là họ nghe thấy đại
quân của bệ hạ đến, cho nên chạy trốn mất cả rồi!
Phi tủm tỉm cười thầm. Đến gần
sáng, sương mù dày đặc, giáp mặt không trông thấy nhau. Phút chốc, nổi cơn gió,
trông sang một dải Giang Nam thấy thành trì liên tiếp nhau, trên địch lâu gươm
giáo sáng quắc, tinh kỳ phấp phới rợp trời.
Trong một lát, năm bảy tin lại
báo rằng:
- Suốt dọc sông Nam Từ, đến thẳng
thành Thạch Đầu, liên tiếp nhau vài trăm dặm, thành quách, xe thuyền chi chít,
chỉ có một đêm là làm xong cả.
Tào Phi thất kinh.
Nguyên là Từ Thịnh sai bó cỏ làm
người giả, cho mặc toàn áo xanh, tay cầm tinh kỳ, đứng cả trên lâu thành giả.
Quân Nguỵ trông thấy quân mã đông như kiến, tài nào chẳng rụng rời hết vía!
Tào Phi than rằng:
- Nguỵ dẫu có nghìn bọn võ sĩ
cũng không làm được trò gì! Nhân vật Giang Nam giỏi như thế, chửa dễ đã đánh được!
Còn đang kinh ngạc, bỗng nổi cơn
gió to, sóng cuộn ngất trời, nước sông bắn lên thuyền ướt cả áo long bào, thuyền
rồng chòng chành sắp lật. Tào Chân vội vàng sai Văn Sính bơi chiếc thuyền nhỏ lại
cứu giá. Người trên thuyền nghiêng ngả. Văn Sính nhảy lên thuyền rồng cõng Tào
Phi xuống thuyền nhỏ, bơi vào trong lạch sông.
Chợt có ngựa lưu tinh chạy lại
báo rằng:
- Triệu Vân dẫn quân ra cửa Dương
Bình, đi đường tắt lấy Trường An.
Tào Phi nghe tin, giật mình mất
vía, liền hạ lệnh rút về. Quân sĩ tranh nhau mà chạy, quân Ngô thừa thế đuổi
theo. Phi truyền bỏ đồ ngự dụng chạy thục mạng. Khi thuyền sắp vào đến sông
Hoài, bỗng trống, tù và nổi rầm rĩ, tiếng hò reo vang trời, một toán quân bất
chợt đánh ra, đại tướng đi đầu là Tôn Thiều. Quân Nguỵ không đương nổi, tổn hại
mất quá nửa, lăn xuống sông chết đuối rất nhiều.
Các tướng lăn xả vào đánh mới cứu
được Nguỵ chủ. Nguỵ chủ sang qua sông Hoài, đi chưa được ba mươi dặm, bỗng đâu
trong đám lau niễng giữa dòng sông không biết dầu mỡ vẩy vào lúc nào, bỗng cháy
bùng cả lên, thuận gió trôi xuống, tràn cả vào đám thuyền rồng. Phi tất tả lên
ngựa, chợt lại thấy một toán quân kéo đến, đại tướng đi đầu là Đinh Phụng,
Trương Liêu quất ngựa lại đón, bị Đinh Phụng bắn một phát tên tin vào lưng, may
có Từ Hoảng cứu được. Mấy người cùng nhau giữ gìn Nguỵ chủ mà chạy. Quân sĩ thiệt
hại rất nhiều. Tôn Thiều, Đinh Phụng ở mặt sau, cướp được xe, ngựa, khí giới,
không biết bao nhiêu mà kể. Quân Nguỵ thua liểng xiểng chạy về.
Ngô tướng Từ Thịnh thu được toàn
thắng, Ngô vương thưởng cho rất hậu.
Trương Liêu về đến Hứa Xương, nhọt
tên vỡ ra rồi mất. Tào Phi sai làm ma cực hậu.
Nay nói về Triệu Vân, vừa dẫn
quân ra khỏi ải Dương Bình, thì có giấy của Khổng Minh đến đòi về, vì có Úng Dĩ
ở Ích Châu, kết liên với Mạnh Hoạch, đem mười vạn quân rợ, cướp bóc bốn quận.
Khổng Minh sai Mã Siêu giữ vững ải Dương Bình, tự mình cầm quân sang đánh dẹp
phương nam.
Đó là:
Lại xem Tây Thục đánh Nam Man
Chưa biết việc đánh Man được thua
thế nào, xem hồi sau sẽ biết.
------------------------------------------------------
Đánh Nam khấu, thừa tướng cất quân
Chống thiên binh, Man vương bị bắt
Nói về thừa tướng Gia Cát Lượng ở
Thành Đô, bao nhiêu việc lớn nhỏ đều tự mình xử đoán. Dân trong hai Xuyên, vui
vẻ thái bình, đêm không phải đóng cửa, ngoài đường không ai thèm nhặt của rơi.
Lại luôn mấy năm được mùa to, già trẻ sung sướng ca hát. Gặp có việc sai dịch
thì tranh nhau ứng biện, bởi thế đồ quân nhu, khí giới đủ cả, thóc lúa của cải
kho nào cũng đầy.
Năm Kiến Hưng thứ ba (226), ở Ích
Châu có tin báo rằng:
- Man vương là Mạnh Hoạch, cất mười
vạn quân, xâm phạm vào cõi. Quan thái thú Kiến Ninh là Úng Dĩ, nguyên dòng dõi
Thập Phương hầu Úng Xỉ nhà Hán khi xưa, nay kết liên với Mạnh Hoạch làm phản,
thái thú quận Tường Kha là Chu Bao và thái thú quận Việt Tuấn là Cao Định, hai
người dâng mất thành trì hàng giặc rồi. Chỉ còn thái thú quận Vĩnh Xương là
Vương Can không chịu làm phản. Hiện nay quân mã của Úng Dĩ, Chu Bao, Cao Định đều
dẫn đường cho Mạnh Hoạch đánh quận Vĩnh Xương. Vương Cang cùng với quan công
tào Lã Khải, tụ hội nhân dân, cố chết giữ lấy thành trì, thế nguy cấp lắm.
Khổng Minh liền vào chầu, tâu với
hậu chủ rằng:
- Nay rợ phương nam không phục,
thật là mối tai hoạ lớn của nhà nước. Tôi xin lĩnh một đạo đại quân đi đánh mới
xong.
Hậu chủ nói:
- Nước ta, mé đông có Tôn Quyền,
mé bắc có Tào Phi, nay tướng phụ bỏ trẫm mà đi, phỏng Ngô, Nguỵ lại đánh, thì
làm thế nào?
Khổng Minh tâu rằng:
- Đông Ngô mới giảng hoà với nước
ta, chắc không có bụng gì, nếu có thì Lý Nghiêm ở thành Bạch Đế, đủ chống chọi
được Lục Tốn. Tào Phi mới thua, nhuệ khí đã nhụt, chưa thể nghĩ đến việc xa
xôi. Vả lại có Mã Siêu giữ các ải Hán Trung, thì cũng không phải lo lắm. Tôi lại
để Quan Hưng, Trương Bào ở lại, chia làm hai đạo quân để cứu ứng, giữ gìn bệ hạ,
chắc chắn muôn phần. Nay tôi xin ra dẹp yên quân rợ trước, rồi sẽ đánh mặt bắc
để thu phục Trung Nguyên, may ra báo được ơn tiên đế ba lần hạ cố đến tôi, và
việc lớn của tiên đế phó thác bệ hạ cho tôi.
Hậu chủ nói:
- Trẫm còn ít tuổi chưa biết gì,
nội công việc tuỳ ý tướng phụ châm chước mà làm.
Hậu chủ chưa dứt lời, trong đám
quan một người bước ra nói:
- Không được! Không được!
Ai nấy trông xem thì là Vương
Liên, tự Văn Nghi, quê ở Nam Dương, đang làm gián nghị đại phu.
Liên can rằng:
- Phương nam là xứ ma thiêng nước
độc, cây cối không mọc được. Thừa tướng cầm quyền to nhà nước, không nên đem
thân vào đó. Vả lại bọn Úng Dĩ phản nghịch, chẳng qua như bệnh đau ghẻ mà thôi,
thừa tướng chỉ nên sai một đại tướng đi đánh, chắc chắn cũng thành công.
Khổng Minh nói:
- Đất nam Man xa cách, nhân dân
không biết vương hoá là gì, thu phục thật khó. Ta phải xuất thân ra đánh, nên mềm,
nên cứng, liệu cơ mà làm, không có khinh thường mà uỷ thác cho người được.
Vương Liên can hai ba lần, Khổng
Minh nhất định không nghe.
Ngay hôm ấy, Khổng Minh từ hậu chủ,
cất quân đi. Sai Tưởng Uyển làm tham quân; Phí Vĩ làm trưởng sử, Đổng Quyết,
Phàn Kiến làm duyện sử, Vương Bình, Trương Dực làm phó tướng, cùng mấy chục
viên tướng Xuyên, khởi năm mươi vạn quân, nhắm phía Ích Châu tiến tới.
Chợt có Quan Sách là con thứ ba
Quan Công vào ra mắt Khổng Minh thưa rằng:
- Từ khi Kinh Châu bị mất, tôi
lánh nạn ở Bảo Gia trang dưỡng bệnh, chỉ mong muốn vào Xuyên ra mắt tiên đế để
đi báo thù, nhưng thương tích chưa khỏi, không thể đi được. Nay đã bình phục,
dò biết được kẻ thù ở Đông Ngô đều bị giết cả rồi, bèn đi tắt vào Tây Xuyên với
tiên đế, may giữa đường gặp đại quân nam chinh, nên đến đây ra mắt.
Khổng Minh nghe nói lấy làm ái ngại,
một mặt cho người về báo với triều đình, một mặt, sai Quan Sách làm tiền bộ
tiên phong, cùng đi đánh phương nam. Đại đội nhân mã, cơ nào đội ấy, tề chỉnh
kéo đi; đói ăn khát uống, đêm nghỉ ngày đi, đến đâu cũng không hề phạm một ly,
một tý của dân.
Lại nói Úng Dĩ nghe tin Khổng
Minh đem đại quân đến, liền cùng Cao Định, Chu Bao bàn bạc, chia quân làm ba đường:
Cao Định ở giữa, bên tả Úng Dĩ, bên hữu là Chu Bao; tất cả dẫn năm, sáu vạn
quân ra nghênh địch. Cao Định sai Ngạc Hoán làm tiền bộ tiên phong. Hoán mình
cao chín thước, mặt mũi hung ác, dùng chiếc phương thiên kích, có sức khoẻ muôn
người khôn địch, lĩnh quân bản bộ, rời khỏi trại lớn, ra đón quân Thục.
Lại nói đại quân của Khổng Minh
đã tiến đến địa phận Ích Châu. Tiền bộ tiên phong Nguỵ Diên, phó tướng Trương Dực,
Vương Bình vừa vào khỏi giới khẩu thì gặp quân Ngạc Hoán đến. Hai bên dàn trận,
Nguỵ Diên ra ngựa mắng rằng:
- Phản tặc kia! Mau mau hàng đi
cho sớm!
Ngạc Hoán tế ngựa lại đánh nhau với
Nguỵ Diên. Được vài hiệp, Diên giả thua chạy, Hoán đuổi theo, chưa được vài dặm,
bỗng đâu tiếng reo nổi lên ầm ầm, Trương Dực, Vương Bình hai mặt đổ ra chặn mất
đường về. Diên quay lại đánh. Ba tướng hợp sức đánh dồn vào, bắt sống được Ngạc
Hoán, giải về trại nộp Khổng Minh.
Khổng Minh sai cởi trói, cho ăn uống
tử tế, rồi hỏi rằng:
- Ngươi là bộ tướng của ai?
Ngạc Hoán thưa rằng:
- Tôi là tướng bộ hạ Cao Định.
Khổng Minh nói:
- Ta biết Cao Định là người trung
nghĩa, nay vì Úng Dĩ xui giục, mới đến nỗi thế. Ta tha cho mày về, bảo Cao Định
mau lại hàng, kẻo mắc vạ to đấy!
Ngạc Hoán lạy tạ lui ra, về ra mắt
Cao Định, thuật lại chuyện Khổng Minh nhân đức và ngỏ ý cảm ơn Khổng Minh không
biết ngần nào.
Hôm sau, Úng Dĩ đến chơi trại Cao
Định, hỏi rằng:
- Ngạc Hoán làm sao mà về được thế?
Định nói:
- Đó là Gia Cát Lượng tha cho về.
Dĩ nói:
- Đấy là mẹo phản gián của Gia
Cát Lượng, khiến hai chúng ta không hoà với nhau đó.
Cao Định trong bụng hồ nghi, chưa
biết tin đường nào. Bỗng có tin báo Thục tướng đến khiêu chiến. Úng Dĩ dẫn ba vạn
quân ra nghênh địch. Đánh nhau chưa được vài hiệp, Dĩ quay ngựa chạy mất. Diên
dẫn quân đuổi đánh hai mươi dặm mới rút về.
Hôm sau, Úng Dĩ lại dẫn quân đến,
Khổng Minh luôn ba hôm không cho ra quân. Đến hôm thứ tư, Úng Dĩ, Cao Định,
chia quân làm hai đường, đến cướp trại Thục. Khổng Minh đã sai Nguỵ Diên phục
quân sẵn từ lâu. Quả nhiên, quân hai người kéo lại bị quân phục đổ ra, giết mất
quá nửa và bắt sống rất nhiều. Nguỵ Diên giải cả về trại. Khổng Minh sai giam
quân Úng Dĩ một bên, quân Cao Định một bên, rồi cho quân sĩ nói phao lên rằng:
- Nội là người của Cao Định thì
tha, còn người của Úng Dĩ thì giết sạch.
Quân sĩ ai cũng nghe biết tin ấy
cả.
Một lát, Khổng Minh cho đòi bên
quân Úng Dĩ lên trướng hỏi rằng:
- Chúng bay là bộ hạ của ai?
Chúng bẩm dối rằng:
- Chúng tôi là bộ hạ Cao Định.
Khổng Minh liền tha tội, lại cho
ăn uống, rồi sai người đưa ra khỏi bờ cõi, tha về trại.
Khổng Minh lại đòi quân Cao Định
lên hỏi, thì chúng bẩm rằng:
- Chúng tôi mới thực là quân sĩ bộ
hạ Cao Định.
Khổng Minh cũng tha, cho cơm rượu
ăn uống và bảo rằng:
- Hôm nay Úng Dĩ có sai người đến
đầu hàng, muốn dâng đầu chủ chúng bây và đầu Chu Bao để lấy công nhưng ta không
nỡ thế. Chúng bay có phải là bộ hạ Cao Định, thì ta thả cả cho về, không được
làm phản nữa. Nếu ta lại bắt được, quyết không thứ cho đâu.
Chúng cùng lạy tạ đi ra, về đến
trại nhà, thuật chuyện lại với Cao Định. Định liền sai người đến trại Úng Dĩ dò
la xem sao, thấy quân Úng Dĩ được tha về, ai cũng có bụng cảm ân đức của Khổng
Minh. Nhiều người muốn hàng theo Cao Định. Nhưng Cao Định vẫn chưa yên tâm, lại
sai người đến thăm trại Khổng Minh, xem hư thực thế nào, không ngờ bị quân canh
bắt được đem vào nộp. Khổng Minh giả tảng không biết, cho là quân do thám của
Úng Dĩ, mới gọi vào trong trướng hỏi rằng:
- Nguyên suý mày đã hứa đem nộp đầu
Cao Định, Chu Bao, làm sao lại để lỡ hẹn, không mang đến, thằng này hẳn lại
sang do thám gì đây?
Tên quân ấy nói hàm hồ cho xong
việc, Khổng Minh đãi cơm rượu, rồi viết một bức thư, giao cho và dặn rằng:
- Mày cầm giấy này về đưa cho Úng
Dĩ, bảo hắn làm mau đi, chớ để lỡ việc!
Tên quân lạy tạ trở về, vào ra mắt
Cao Định, trình tờ thư của Khổng Minh lên.
Cao Định xem xong thư, nổi giận
nói:
- Ta đem lòng thực đãi nó, nó lại
muốn hại ta, dung thứ sao được!
Lập tức gọi Ngạc Hoán lên bàn định.
Ngạc Hoán nói:
- Khổng Minh là người nhân đức,
ta làm phản không nên. Vả lại, việc làm phản là tự Úng Dĩ gây ra cả, chi bằng
giết quách hắn đi, về hàng với Khổng Minh là hơn.
Định nói:
- Thế thì hạ thủ làm sao bây giờ?
Hoán nói:
- Chủ công nên mở một tiệc rượu,
mời Úng Dĩ đến chơi. Nếu hắn không có bụng gì, tất đi lại như thường. Nhược bằng
không đến, chắc là có bụng khác. Chủ công nên đem quân đánh mặt trước, tôi xin
phục quân ở đường nhỏ mặt sau trại, thế nào cũng bắt sống được hắn.
Cao Định nghe lời, mở tiệc rượu mời
Úng Dĩ. Dĩ quả nhiên nghi ngờ lời quân sĩ tha về hôm trước, không dám đến.
Đêm hôm ấy, Cao Định dẫn quân kéo
đến trại Úng Dĩ. Quân của Úng Dĩ được Khổng Minh tha về, đều nhớ ơn Cao Định,
liền thừa cơ kéo cả về giúp quân Cao Định. Quân Dĩ chưa kịp đánh nhau, đã tán
loạn. Dĩ vội vàng lên ngựa chạy lẻn ra con đường sau núi. Đi chưa được vài dặm,
bỗng đâu trống nổi om sòm, một toán quân tràn ra. Ngạc Hoán cầm kích quất ngựa
xông lên. Dĩ chưa kịp trở tay, đã bị Hoán đâm một nhát kích ngã lăn xuống ngựa,
rồi chặt ngay lấy đầu. Quân bộ hạ của Dĩ đầu hàng cả. Định dẫn hai toán quân,
đem đầu Úng Dĩ lại hàng Khổng Minh.
Khổng Minh đang ngồi trong trướng,
quát võ sĩ lôi Cao Định ra chém.
Định kêu rằng:
- Tôi cảm đại ân của thừa tướng,
nên đem đầu Úng Dĩ về hàng, cớ sao lại chém?
Khổng Minh cười ầm lên nói rằng:
- Ngươi lại trá hàng, dám che mắt
ta ru?
Định nói:
- Thừa tướng lấy gì làm bằng, mà
cho tôi là dối trá.
Khổng Minh mở tráp, lấy một phong
thư, đưa cho và bảo rằng:
- Chu Bao đã sai người dâng hàng
thư đến đây, nói ngươi với Úng Dĩ, kết nghĩa sống chết với nhau, có lẽ đâu một
chốc mà ngươi nỡ giết hắn, cho nên ta biết ngay ngươi đến trá hàng.
Định kêu lên rằng:
- Chu Bao nó làm kế phản gián đấy,
thừa tướng chớ có tin.
Khổng Minh nói:
- Ta cũng chưa vội tin ngay một mảnh
giấy đâu nhưng ngươi có bắt được nốt Chu Bao, thì ta mới cho là thực.
Định nói:
- Thừa tướng chớ nghi, để tôi xin
bắt nốt Chu Bao lại nộp có được không?
Khổng Minh nói:
- Có vậy, ta mới khỏi nghi hoặc.
Cao Định lập tức dẫn quân Ngạc
Hoán đem quân bản bộ kéo đến trại Chu Bao. Gần đến nơi, Chu Bao cũng vừa dẫn
quân đến mé sau núi. Bao thấy Định vội vàng ra hỏi chuyện. Định quát lên, mắng
rằng:
- Mày sao dám viết thư cho Gia
Cát thừa tướng, dùng mẹo phản gián, muốn hại ta?
Bao trố mắt, cứng lưỡi, không biết
đáp lại làm sao. Ngạc Hoán ở sau ngựa, xông lại đâm một nhát kích, Bao chết liền.
Định quát rằng:
- Hễ quân sĩ thằng nào không
hàng, sẽ giết chết hết.
Bởi vậy chúng đều lạy xin hàng. Định
dẫn quân lại ra mắt Khổng Minh và dâng đầu Chu Bao dưới trướng.
Khổng Minh cười, nói:
- Ta cố ý muốn cho ngươi giết hai
thằng giặc ấy để tỏ cái bụng thực ra đó thôi.
Liền cho Cao Định làm thái thú ở
Ích Châu và phong Ngạc Hoán làm nha tướng.
Quân mã ba đường ấy đều dẹp yên
đâu đấy rồi, thái thú quận Vĩnh Xương là Vương Cang ra đón rước Khổng Minh. Khổng
Minh vào thành, hỏi rằng:
- Ai giữ thành này với ông mà được
vững vàng làm vậy?
Cang nói:
- Tôi giữ thành này được yên ổn,
toàn nhờ sức của người ở Vĩnh Xương là Lã Khải cả.
Khổng Minh cho mời đến. Khải vào
ra mắt. Thi lễ xong xuôi, Khổng Minh nói rằng:
- Lâu nay vẫn nghe tiếng ông là bậc
cao sĩ ở Vĩnh Xương; may nhờ có ông mới giữ được thành này vô sự. Nay tôi muốn
dẹp yên phương nam, ông có cao kiến gì dạy bảo không?
Lã Khải liền dâng một bức địa đồ
và nói:
- Tôi tự khi làm quan đến giờ, biết
rằng người rợ có bụng làm phản đã lâu, cho nên mật sai người vào tận tổ, xem
xét chỗ nào có thể đóng đồn, chỗ nào nên giao chiến, vẽ ra một bản, gọi là bức
đồ “Bình Man chỉ chưởng”. Nay dâng lên ngài coi, có thể giúp ngài một phần nhỏ
trong việc nam chinh này.
Khổng Minh mừng lắm, dùng ngay Lã
Khải làm hàng quân giáo thụ, kiêm chức hướng đạo.
Rồi Khổng Minh dẫn quân vào sâu
cõi nam Man. Khi đang đi, bỗng có tin báo thiên tử sai sứ đến. Khổng Minh ra tiếp
vào, thấy Mã Tốc mặc áo bào trắng, vì anh Mã Tốc là Mã Lương mới mất.
Tốc nói:
- Tôi phụng mệnh chúa thượng,
mang rượu và lụa đến khao thưởng binh sĩ.
Khổng Minh vâng chỉ dụ, đem cấp
phát cả cho ba quân, lưu Mã Tốc ở lại trong trướng nói chuyện.
Khổng Minh hỏi rằng:
- Tôi phụng chiếu thiên tử, đánh
dẹp phương nam, lâu nay vẫn nghe Ấu Thường cao kiến lắm, xin dạy bảo cho ít nhiều.
Tốc nói:
- Tôi có một lời này, xin thừa tướng
xét cho: Nam Man cậy có đất xa, núi hiểm, không phục đã lâu; tuy hôm nay phá
xong, ngày mai tất lại làm phản. Đại quân của thừa tướng đến đó, tất nhiên dẹp
được, nhưng sau khi rút quân về, phải lên mặt bắc đánh Tào Phi, nếu quân Man biết
trong nước bỏ ngỏ, quyết nhiên lại trở mặt ngay. Phàm phép dùng binh đánh giặc,
sao cho người ta tâm phục mới cao, chớ đánh lấy thành trì là thấp; đem bụng
mình mà đánh mới giỏi, chớ đem quân mà đánh thì xoàng. Xin thừa tướng làm thế
nào thu phục được bụng chúng là hơn.
Khổng Minh than rằng:
- Ấu Thường thực là biết đến ruột
gan ta!
Liền sai Mã Tốc làm tham quân và
dẫn quân kéo đi.
Nói về vua Man là Mạnh Hoạch nghe
tin Khổng Minh dùng mẹo phá tan bọn Úng Dĩ, bèn hội các nguyên soái ba động lại
bàn bạc.
Nguyên soái động thứ nhất là Kim
Hoàn Tam Kết, nguyên soái động thứ nhì là Đổng Trà Na, nguyên soái động thứ ba
là A Hội Nam. Ba người vào ra mắt Mạnh Hoạch.
Hoạch nói:
- Nay Gia Cát Lượng dẫn đại quân
xâm phạm bờ cõi nước ta, chúng ta phải hợp sức lại đối địch mới được. Ba chúng
ngươi nên chia làm ba đường mà tiến, nếu ai đánh thắng thì được làm chúa cả động
này.
Rồi đó, Kim Hoàn Tam Kết đi đường
giữa, Đổng Trà Na đi mé tả, A Hội Nam đi mé hữu. Mỗi người dẫn năm vạn quân
Man, y lệnh kéo đi.
Khổng Minh đang ngồi trong trại
bàn việc, tiễu mã về báo rằng có nguyên soái ba động, chia làm ba đường lại
đánh. Khổng Minh lập tức gọi Triệu Vân, Nguỵ Diên đến, nhưng không sai khiến gì
cả. Lại cho gọi Vương Bình, Mã Trung đến, dặn rằng:
- Nay quân rợ chia ba đường đến
đây, ta định sai Tử Long, Vân Trường đi, nhưng vì hai người chưa thuộc đường đất,
cho nên chưa dám dùng. Vậy Vương Bình phải ra mé tả, Mã Trung ra mé hữu nghênh
địch. Ta sẽ sai Tử Long, Vân Trường tiếp ứng cho, hôm nay hãy chỉnh đốn quân
mã, sớm mai kéo đi.
Hai người vâng lệnh trở ra.
Lại gọi Trương Ngực, Trương Dực đến
dặn rằng:
- Hai chúng ngươi cùng dẫn một
toán quân ra đường giữa mà đánh. Hôm nay điểm sẵn quân mã, ngày mai hẹn nhau với
Vương Bình, Mã Trung cùng tiến quân. Ta muốn sai Tử Long, Văn Trường đi nhưng sợ
hai người ấy không biết địa lý.
Trương Ngực, Trương Dực vâng lệnh
trở ra.
Triệu Vân, Nguỵ Diên thấy Khổng
Minh không dùng đến mình, đều tỏ vẻ tức bực.
Khổng Minh bảo rằng:
- Ta không phải không muốn dùng
các ngươi đâu; vì ngại các ngươi đã nhiều tuổi, xông pha vào nơi hiểm trở, nhỡ
bị quân rợ lừa, thì mất cả nhuệ khí quân ta.
Triệu Vân nói:
- Phỏng như chúng tôi biết đường
đất thì sao?
Khổng Minh nói:
- Hai ngươi hãy nên cẩn thận, chớ
có coi thường!
Hai người buồn rầu trở ra.
Triệu Vân mời Nguỵ Diên đến trại
mình, bàn rằng:
- Hai chúng ta là tiên phong, mà
cho là không biết đường đất, không dùng, lại dung bọn hậu sinh ấy, chúng ta há
chẳng thẹn lắm ru!
Nguỵ Diên nói:
- Hai chúng ta thử lên ngựa ra
xem, bắt thổ dân đưa đường để đánh quân Man, việc lớn chắc thành công.
Vân nghe theo, mới cùng lên ngựa
đi ra con đường chính giữa. Đang đi, thấy phía xa xa bụi bay mù mịt. Hai người
lên gò cao đứng trông, quả nhiên có vài mươi tên kỵ mã Man đang cưỡi ngựa đi đến.
Hai người đổ ra, quân Man khiếp sợ tan chạy cả. Triệu, Nguỵ mỗi người bắt sống
được vài tên đem về trại, cho ăn cơm, uống rượu tử tế, rồi hỏi đường lối đi lại
làm sao. Quân Man thưa rằng:
- Mé trước mặt chính là đại trại
của Kim Hoàn Tam Kết nguyên soái, ở vào giữa cửa núi, đường hai bên thông sang
động Ngũ Khê, phía sau trại của Đổng Trà Na và A Hội Nam.
Triệu Vân, Nguỵ Diên nghe xong,
kén năm nghìn tinh binh, sai mấy tên quân Man dẫn đường. Bấy giờ đã canh hai.
Hai người lần theo ánh trăng mà đi. Khi đến đại trại Kim Hoàn Tam Kết thì đã
canh tư. Quân Man vừa thức dậy thổi cơm ăn, sắp sửa đến sáng ra khai chiến. Bất
thình, hai mặt quân của Triệu Vân, Nguỵ Diên tràn vào, quân Man bối rối. Triệu
Vân đánh thốc vào trung quân vừa gặp Kim Hoàn Tam Kết đi ra. Vân đâm một nhát,
Kim Hoàn ngã quay xuống ngựa. Vân chặt lấy đầu, còn quân sĩ chạy tan mất cả.
Nguỵ Diên, Triệu Vân chia quân
làm hai ngả: Diên đi lẻn con đường mé đông, đến trại Đổng Trà Na; Vân đi lẻn
con đường mé tây đến trại Hội Nam. Khi hai người kéo gần đến nơi, thì trời đã
tang tảng sáng.
Trước hãy kể chuyện Nguỵ Diên.
Diên đến trại rợ, Đổng Trà Na nghe sau trại có tiếng quân mã ồn ào, liền kéo
quân ra cự địch. Bỗng đâu mé trước lại có tiếng reo. Quân Man rối loạn. Té ra
quân của Vương Bình vừa đến. Hai mặt dồn đánh ập vào, quân Man thua to. Đổng
Trà Na cướp đường chạy thoát. Nguỵ Diên đuổi theo không kịp.
Triệu Vân vào tới trại A Hội Nam
thì quân của Mã Trung đã ở trước cửa trại rồi. Hai bên đánh dồn vào, quân Man
thua, A Hội Nam cũng chạy được thoát.
Hai người thu quân về, ra mắt Khổng
Minh. Khổng Minh hỏi rằng:
- Quân Man ba động, chúa hai động
thoát được, còn đầu Kim Hoàn Tam Kết ở đâu?
Triệu Vân liền nộp đầu Kim Hoàn
Tam Kết dâng công.
Các tướng bẩm rằng:
- Đổng Trà Na, A Hội Nam, bỏ ngựa
trèo qua núi chạy thoát, vì thế không bắt được.
Khổng Minh cười nói rằng:
- Hai người đó ta đã bắt được cả
rồi!
Các tướng không ai tin. Một lát
Trương Ngực giải Đổng Trà Na đến, Trương Dực giải A Hội Nam về, ai nấy đều ngơ
ngác, giật mình.
Khổng Minh bảo rằng:
- Ta xem địa đồ của Lã Khải, đã
biết chỗ giặc hạ trại, cho nên ta nói khích cho Tử Long, Văn Trường cố sức vào
sâu trong nội địa, trước hết hai đường tả hữu đánh úp hai trại kia, còn Vương
Bình, Mã Trung chỉ là đi tiếp ứng thôi. Phi Tử Long, Văn Trường, không ai đương
nổi việc ấy đâu! Ta lại đồ rằng Đổng Trà Na, A Hội Nam tất theo con đường tắt
khe núi mà chạy nên sai Trương Ngực, Trương Dực phục quân chờ sẵn một chỗ, lại
sai Quan Sách đi tiếp ứng để bắt hai chúa động ấy về đây.
Các tướng đều bái phục, mà rằng:
- Mẹo mực của thừa tướng, quỷ thần
cũng không ai biết đâu mà lường!
Khổng Minh sai điệu Đổng Trà Na,
A Hội Nam đến dưới trướng, cởi trói, cho cơm ăn, rượu uống, rồi tha về động và
dặn rằng từ rày không được giúp kẻ phản ác nữa.
Hai người rỏ nước mắt khóc, trở
ra, theo đường nhỏ về trại.
Khổng Minh bảo với các tướng rằng:
- Ngày mai Mạnh Hoạch tất nhiên dẫn
quân lại đánh, ta nên đón đường bắt lấy.
Bèn gọi Nguỵ Diên, Triệu Vân, dặn
dò mẹo mực cho mỗi người dẫn năm nghìn quân đi. Lại gọi Vương Bình, Quan Sách
cùng lĩnh một đội quân, lĩnh mẹo đi liền.
Khổng Minh phân phát đâu đấy, ngồi
trong trướng đợi xem tin tức.
Lại nói, Man vương Mạnh Hoạch
đang chễm chệ trên trướng, chợt nghe tin nguyên soái ba động đều bị bắt, mà
quân mã tan vỡ cả. Hoạch nổi giận, khởi hết quân Man, lần lần kéo đi, giữa đường
gặp quân mã của Vương Bình vừa đến. Hai bên dàn trận, Vương Bình cắp ngang
thanh đao, trông sang bên kia, thấy trong cửa cờ có vài trăm tướng Man đứng dàn
hai bên. Mạnh Hoạch ra ngựa, đầu đội mũ kim quan khảm ngọc, mình mặc áo cẩm bào
sắc hồng, lưng buộc đai sư tử, chân đi giày mỏ ưng, mình cỡi ngựa xích thố, tay
cầm đôi kiếm Tùng Vân, nghênh ngang trông trước trông sau, rồi bảo với Man tướng
rằng:
- Người ta cứ đồn Gia Cát Lượng
giỏi việc dùng binh, nay xem trận này, tinh kỳ lộn xộn, đội ngũ xô bồ, gươm
giáo khí giới không cái nào ra tuồng, mới biết rằng toàn lời đồn hão cả. Nếu ta
sớm biết thế này thì đã làm phản từ lâu rồi. Có ai dám ra trước bắt Thục tướng,
để cho phấn chấn uy danh quân ta không?
Mạnh Hoạch nói vừa dứt lời, có một
tướng tên là Mang Nha Trường, cầm đại đao, cưỡi ngựa vàng xông ra đánh Vương
Bình. Hai tướng đánh nhau được vài hiệp, Bình thua chạy. Mạnh Hoạch thúc quân
kéo bừa vào, lần lần đuổi theo. Quan Sách ra đánh vài hiệp lại chạy. Mạnh Hoạch
đuổi theo ước độ hai chục dặm, bỗng đâu tiếng reo vang dậy, rồi Trương Ngực ở
mé tả kéo ra, Trương Dực ở mé hữu đổ đến, chận mất đường về. Vương Bình, Quan
Sách quay binh đánh vật lại, trước sau kẹp vào, quân Man thua chạy. Mạnh Hoạch
dẫn bộ tướng, liều chết trốn thoát ra đường núi Cẩm Đái. Ba mặt quân đuổi theo
sau lưng. Mạnh Hoạch đang chạy, trước mặt lại có tiếng hò reo ầm ĩ, một cánh
quân đổ ra chặn lại, tướng đi đầu là Thường Sơn Triệu Tử Long. Hoạch rụng rời hết
vía, vội vàng trốn theo con đường nhỏ. Tử Long đánh rát một trận, quân Man thua
liểng xiểng, bị bắt vô kể. Mạnh Hoạch chỉ còn vài mươi tên kỵ đi theo, chạy lẫn
vào trong hang núi. Quân mặt sau vẫn còn đuổi theo. Đến một chỗ đường hẹp, ngựa
không đi được, Hoạch phải bỏ ngựa, trèo non, vượt núi mà trốn. Bỗng đâu ở trong
hang núi lại thấy nổi trống, té ra Nguỵ Diên lĩnh kế của Khổng Minh, dẫn năm
trăm quân phục ở đó. Hoạch không địch nổi, bị Nguỵ Diên bắt sống. Quân đi theo
xin hàng cả.
Nguỵ Diên giải Mạnh Hoạch về trại
ra mắt Khổng Minh. Bấy giờ Khổng Minh đã sai giết trâu mổ bò, mở tiệc yến ở
trong trại, và sai quân đứng dàn thành bảy vòng, các tay đao phủ cầm gươm giáo
sáng loà như tuyết. Lại sai bày các đồ việt vàng, tán vóc, trước sau đánh đàn
thổi sáo. Quân ngự lâm dàn bày hai bên, rất là nghiêm chỉnh. Khổng Minh ngồi ngất
ngưởng trên trướng. Quân đao phủ giải quân Man vào, hết bọn nọ đến bọn kia,
không biết bao nhiêu mà kể. Khổng Minh gọi vào trong trướng, sai cởi trói cho tất
cả, và phủ dụ rằng:
- Chúng mày toàn là những người
dân lương thiện, chẳng may bị Mạnh Hoạch ức hiếp, đến nỗi rước lấy lo sợ. Ta
nghĩ cha mẹ, anh em, vợ con chúng mày, đang tựa cửa ngóng trông, nếu nghe tin bại
trận này, chắc là ruột gan như xé, khóc rỏ ra máu. Ta nay tha chết để cha mẹ,
anh em, vợ con chúng mày được yên lòng.
Nói xong, sai đem rượu thịt,
lương gạo chia phát rồi cho về.
Quân Man cảm lòng nhân đức ấy,
người nào cũng khóc lóc lạy tạ mà đi.
Khổng Minh sai võ sĩ điệu Mạnh Hoạch
đến, quỳ dưới trướng, Khổng Minh trách rằng:
- Tiên đế đãi ngươi cũng không bạc
gì, cớ sao dám làm phản?
Hoạch nói:
- Đất trong hai Xuyên đều là của
người khác, chủ ngươi cậy sức đoạt lấy, tự xưng làm vua. Ta đây đời đời ở xứ
này, các người vô lễ, dám đến xâm phạm cõi ta, sao lại bảo là ta làm phản?
Khổng Minh nói:
- Nay ta bắt được ngươi rồi, bụng
ngươi đã chịu ta chưa?
- Đường hẻm núi cao, lỡ sa vào
tay ngươi, ta đâu có chịu!
Khổng Minh nói:
- Ngươi đã chưa chịu, ta hãy tha
cho về, có được không?
- Nếu tha cho ta về, ta chỉnh đốn
lại quân mã, quyết một trận sống chết nữa, bấy giờ mà ngươi lại bắt được ta thì
ta mới chịu.
Khổng Minh lập tức sai cởi trói
cho Mạnh Hoạch, cho áo xống và cho ăn uống, cấp cho con ngựa và sai người đưa
ra đường tắt về trại.
Đó là:
Người ngoài cõi rợ chửa an tâm
Chưa biết đánh nhau trận nữa ra
làm sao, xem hồi sau sẽ hiểu.
HỒI THỨ TÁM MƯƠI TÁM
Qua Lư Thủy, Phiên vương hai lượt vào tròng
Biết trá hàng, Mạnh Hoạch ba phen bị bắt
Lại nói Khổng Minh tha xong Mạnh
Hoạch, các tướng lên trướng hỏi rằng:
- Mạnh Hoạch là một kẻ cừ khôi ở
Nam Man, nay bắt được hắn, sao thừa tướng lại tha hắn về?
Khổng Minh cười nói:
- Ta bắt hắn ví như thò tay vào
túi lấy đồ vật đó thôi, cốt sao cho hắn phục cái bụng mình, thì tự khắc yên ổn
cả.
Các tướng chưa chịu tin.
Mạnh Hoạch về đến sông Lư Thủy, gặp
quân thủ hạ của mình đang đi dò la tin tức. Quân sĩ thấy chủ tướng trở về, nửa
sợ nửa mừng, hỏi rằng:
- Đại vương làm sao lại về được đến
đây?
Mạnh Hoạch nói khoác rằng:
- Quân Thục giam tao ở trong trại,
đêm khuya, tao giết hơn mười đứa, lẻn chạy ra ngoài. Đi đường lại gặp một tên kỵ
mã, tao giết nốt cướp lấy ngựa, bởi thế được thoát.
Chúng mừng rỡ lắm, rước Mạnh Hoạch
qua sông Lư Thủy cắm trại. Tù trưởng các động chiêu tụ dần dần những quân Man
được tha về, được hơn mười vạn. Bấy giờ, Đổng Trà Na, A Hội Nam cũng đều ở
trong động cả. Mạnh Hoạch cho mời đến. Hai người sợ hãi nhưng cũng phải dẫn
quân tới.
Mạnh Hoạch truyền lệnh rằng:
- Ta đã biết mẹo của Gia Cát Lượng
rồi, không nên ra đánh, hễ đánh tất mắc phải qủy kế. Quân Xuyên từ xa đến đây,
nhọc nhằn vất vả. Vả lại hiện nay trời hè nóng nực, quân chúng ở đây thế nào được
lâu? Ta có con sông Lư Thủy này hiểm trở lắm, nên kéo hết cả thuyền bè về bờ
phía nam rồi đắp một dãy thành đất, giữ gìn cẩn mật xem Gia Cát Lượng làm gì nổi
ta?
Các tù trưởng tuân theo kế ấy,
đem hết thuyền bè về mé nam, đắp thành đất, dựng chòi cao, trên chòi dư sẵn
cung nỏ, tên đạn cực nhiều, chuẩn bị đóng lâu dài. Lương thảo có các động cung
cấp. Mạnh Hoạch cho là chắc chắn muôn phần, yên tâm không lo gì nữa.
Đây nói Khổng Minh dẫn đại quân
tiến đi, tiền quân đã đến sông Lư Thủy. Quân tiễu mã về báo rằng:
- Trên sông Lư Thủy không có một
chiếc thuyền bè nào, mà nước thì chảy xiết lắm. Cách bên kia bờ sông, lại có một
dãy thành đất, có quân Man canh giữ.
Bấy giờ, trời đang tháng năm, nắng
nực khó chịu, đất phương nam lại càng nóng lắm, quân sĩ không tài gì mặc được
áo giáp. Khổng Minh thân đến tận bờ sông, ngắm xem một hồi, rồi về trại, hội
các tướng lại, truyền lệnh rằng:
- Mạnh Hoạch đóng đồn vững chãi
mé nam sông Lư Thủy để chống quân ta, ta trót đến đây, chẳng lẽ về không. Các
ngươi hãy dẫn quân vào các nơi cạnh núi gần rừng, có nhiều cây cối mà cắm trại,
cho quân mã nghỉ ngơi cái đã.
Bèn sai Lã Khải tìm đám cây cối
mát mẻ, lập bốn ngọn trại cách sông Lư Thủy trăm dặm, cho Vương Bình, Trương Ngực,
Trương Dực, Quan Sách mỗi người giữ một trại. Bên ngoài dựng những lều cỏ cho
ngựa ở. Tướng sĩ cùng nghỉ ngơi, tránh nóng bức.
Tưởng Uyển xem địa thế chỗ cắm trại,
vào bẩm với Khổng Minh rằng:
- Tôi xem các trại của Lã Khải lập
ra, rất là không tốt, chính phạm vào địa thế tiên đế thua với Đông Ngô khi xưa.
Phỏng thử quân Man đi ngầm sang sông Lư Thủy, đánh phép hỏa công, thì cứu làm
sao?
Khổng Minh cười, nói:
- Ông chớ đa nghi, ta đã có phép.
Bọn Tưởng Uyển không biết ý làm
sao.
Chợt có Mã Đại từ trong Thục tải
thuốc giải nhiệt và lương gạo đến. Khổng Minh đòi vào. Đại lạy xong, Khổng Minh
sai đem gạo và thuốc cấp phát cho bốn trại. Khổng Minh hỏi Mã Đại rằng:
- Ngươi đem quân đến đây nhiều
hay ít?
Mã Đại nói:
- Có ba nghìn quân mã.
Khổng Minh nói:
- Quân ta ở đây đánh nhau mãi, mệt
nhọc lắm, muốn dùng quân của ngươi, ngươi có gắng sức không?
Đại nói:
- Cùng là quân mã của triều đình
cả, thừa tướng muốn dùng thì dùng, dẫu chết tôi cũng không dám từ!
Khổng Minh nói:
- Nay Mạnh Hoạch chặn mất sông Lư
Thủy, không có lối nào sang được, ta muốn trước hết hãy triệt đường tải lương của
chúng, để chúng không bị đánh mà cũng phải tan vỡ.
Đại nói:
- Làm thế nào mà chặn được?
Khổng Minh nói:
- Cách đây một trăm năm mươi dặm,
phía hạ lưu Sa Khẩu cửa sông Lư Thủy, nước chảy từ từ, có thể đóng bè sang được.
Ngươi mang ba nghìn quân mã, sang sông, vào thẳng động Man, trước hãy chặn đường
tải lương, rồi sẽ hội với Đổng Trà Na, A Hội Nam, để cho họ làm nội ứng. Việc ấy
phải cẩn thận, chớ để sơ suất.
Mã Đại hớn hở dẫn quân đến trước
cửa sông thấy nước nông lắm, phần lớn không kịp đóng bè cứ cho quân sĩ cởi trần,
lội ào sang, lội đến nửa chừng, quân sĩ đều ngã gục cả xuống sông, Mã Đại vội
vàng sai cứu lên bờ, thì người nào cũng hộc máu mồm, máu mũi mà chết. Mã Đại giật
mình, luôn đêm chạy về kêu với Khổng Minh. Khổng Minh lập tức cho gọi thổ dân
ra hỏi. Thổ dân nói rằng:
- Hiện nay trời nắng chang chang,
khí độc tụ cả trên bề mặt sông, mà ban ngày lại càng nhiều hơn, người nào lội
xuống nước hoặc uống phải, tất trúng độc mà chết. Nếu muốn lội, phải chờ lúc
đêm thanh, khí độc không bốc lên, mà phải ăn no rồi hãy lội, mới không việc gì.
Khổng Minh sai ngay thổ dân đưa
đường và kén thêm năm sáu trăm tinh binh cho theo Mã Đại, lại đến chỗ cửa bến
đóng bè, đợi đến nửa đêm mới sang sông, quả nhiên vô sự.
Mã Đại dẫn ba nghìn quân, sai thổ
dân đưa đường đến thẳng chỗ yết hầu đường vận lương của quân Man. Hai bên vách
núi. Giữa có một con đường đi vừa lọt một người, một ngựa. Mã Đại chiếm được chỗ
hiểm ấy, sai quân sĩ lập trại.
Quân Man không biết, vừa giải
lương đến nơi, bị Mã Đại đổ ra chận đánh, cướp được hơn một trăm xe.
Quân Man chạy về báo tin với Mạnh
Hoạch. Bấy giờ Mạnh Hoạch chỉ cả ngày uống rượu, không nhìn ngó gì đến việc
quân. Hoạch bảo với các tướng rằng:
- Ta mà đánh nhau với Gia Cát Lượng,
thế nào cũng mắc phải mẹo của hắn. Nay ta giữ men sông Lư Thủy này, thành cao
hào sâu, phòng bị cho chắc, quân Thục không chịu được nóng nực, tất phải rút về.
Bấy giờ ta sẽ cùng với các ngươi đuổi theo mà đánh, chắc bắt được Gia Cát Lượng.
Nói đoạn ha hả cười ầm lên.
Có một tù trưởng nói rằng:
- Ở chỗ cửa bến, nước nông lắm,
quân Thục nếu sang lén được chỗ ấy, thì ta nguy mất, phải chia quân ra giữ mới
được.
Hoạch cười, nói:
- Ngươi là người xứ này, làm sao
lại không biết. Ta cốt muốn cho quân Thục sang chỗ ấy, nếu sang tất chết cả ở
dưới nước thôi.
Tù trưởng nói:
- Nếu có thổ dân bảo họ cách sang
sông ban đêm, thì làm thế nào?
Hoạch nói:
- Ngươi chớ đa nghi, người xứ ta
ai lại xui khôn cho giặc mà sợ!
Đang nói chuyện chợt có tin báo rằng:
- Quân Thục không biết nhiều hay
ít, đã sang ngầm sông Lư Thủy lúc nào, chặn mất đường tải lương ở giáp núi của
ta, trên cờ hiệu đề mấy chữ “Bình bắc tướng quân Mã Đại”.
Hoạch cười, nói:
- Đồ trẻ con ấy có làm trò gì!
Lập tức sai phó tướng Mang Nha
Trường dẫn ba nghìn quân đến chỗ núi đánh nhau với Mã Đại. Đại thấy quân Man đến,
mới dàn hai nghìn quân ra trước núi. Mang Nha Trường đến nơi, xốc ngựa vào đánh
Mã Đại, bị Đại chém chết, quân Man bại trận, chạy về báo với Mạnh Hoạch. Hoạch
gọi các tướng lại hỏi rằng:
- Có ai dám ra địch nhau với Mã Đại
không?
Đổng Trà Na xin đi. Hoạch mừng lắm,
cho dẫn ba nghìn quân đi. Hoạch lại sợ có người sang cửa bến lần nữa, mới sai A
Hội Nam dẫn ba nghìn quân ra giữ chỗ ấy.
Đổng Trà Na dẫn ba nghìn quân đến
cửa núi, Mã Đại đem quân ra địch. Quân sĩ có người biết là Đổng Trà Na liền nói
với Mã Đại.
Đại tế ngựa ra trước cửa trận,
quát mắng rằng:
- Quân vô ơn bội nghĩa kia! Thừa
tướng ta tha tính mạng cho mày, nay mày lại dám làm phản, không biết xấu hổ à?
Đổng Trà Na thẹn đỏ mặt, không
nói được câu gì, chưa đánh đã quay về. Mã Đại đánh ập lại một trận, rồi đâu về
đấy.
Đổng Trà Na về ra mắt Mạnh Hoạch,
nói thác rằng Mã Đại anh hùng, không sao địch nổi.
Hoạch nổi giận, nói:
- Ta đã biết mày, vốn hàm ơn Gia
Cát Lượng, cho nên không đánh mà trở về. Chính mày đã bán rẻ trận này cho Gia
Cát Lượng đấy!
Lập tức sai lôi ra chém. Các tù
trưởng xúm vào kêu van. Hoạch mới tha, nhưng bắt đánh một trăm trượng, đuổi về
bản trại.
Các tù trưởng đều đến nói với Đổng
Trà Na rằng:
- Chúng ta ở Man phương này, chưa
từng xâm phạm đến Trung Nguyên, mà Trung Nguyên cũng chưa phạm đến ta. Nay vì bị
Mạnh Hoạch bức bách, chúng ta bất đắc dĩ phải làm phản. Thiết nghĩ Khổng Minh mẹo
mực thần kỳ, Tào Tháo, Tôn Quyền còn phải sợ, huống chi chúng ta. Vả lại chúng
ta còn chịu ơn tha chết chưa có dịp báo đền. Chi bằng ta liều bỏ một thân, giết
quách Mạnh Hoạch đi, hàng với Khổng Minh để cứu trăm họ trong động này thoát cảnh
lầm than.
Đổng Trà Na nói:
- Không biết các ngươi có một
lòng thế không?
Trong đám tù trưởng, toàn là bọn
Khổng Minh tha cho về cả, đều đồng thanh thưa rằng:
- Xin đi!
Bởi thế Đổng Trà Na tay cầm đại
đao, dẫn hơn trăm người, vào thẳng đại trại. Bấy giờ, Mạnh Hoạch đang say rượu
ngủ khì. Dưới trướng, có hai viên tướng đứng hầu. Đổng Trà Na trỏ đao bảo rằng:
- Các anh cùng chịu ơn Gia Cát thừa
tướng cả, phải nghĩ chi mà báo đáp chứ!
Hai tướng kia nói:
- Tướng quân không phải ra tay, để
chúng tôi bắt sống Mạnh Hoạch đem nộp thừa tướng.
Nói rồi, nhất tề ùa vào trướng, bắt
Mạnh Hoạch trói nghiến lại, điệu ra bờ sông, chở thuyền qua bờ bắc, cho người
vào báo với Khổng Minh trước. Khổng Minh đã cho quân đi do thám được việc ấy, mới
mật truyền hiệu lệnh cho các tướng bày biện đồ khí giới chỉnh tề rồi sai người
trùm tù trưởng giải Mạnh Hoạch vào, còn bọn người khác cho về trại cả. Đổng Trà
Na tới trung quân ra mắt Khổng Minh trước, thuật hết mọi chuyện. Khổng Minh thưởng
rất hậu, lấy lời ngọt ngào an ủi, rồi cho đem các tù trưởng về.
Khổng Minh sai đao phủ dẫn Mạnh
Hoạch vào, cười bảo rằng:
- Trước ngươi đã hứa hễ bắt được
ngươi lần thứ hai thì ngươi mới chịu, nay ngươi nghĩ sao?
Hoạch nói:
- Đó là thủ hạ ta muốn hại lẫn
nhau, mới đến nông nỗi này, chớ không phải là tài của ngươi, sao ta có chịu!
Khổng Minh nói:
- Bây giờ ta lại tha cho ngươi về,
ngươi tính sao?
Mạnh Hoạch nói:
- Ta tuy là người Man, cũng hơi
biết binh pháp. Nếu thừa tướng lại tha cho về động, ta sẽ dẫn quân ra quyết một
trận được thua nữa, đến khi ấy, thừa tướng lại bắt được, ta sẽ xin dốc lòng cởi
ruột mà hàng, không dám kêu ca nửa lời.
Khổng Minh nói:
- Lần sau ta mà lại bắt được
ngươi, nếu còn không chịu, ta quyết không tha nữa đâu.
Bèn sai tả hữu cởi trói cho Mạnh
Hoạch, rồi cho ngồi ngay trong trướng uống rượu.
Khổng Minh nói:
- Ta từ khi ra khỏi lều tranh đến
giờ, đánh đâu cũng được, phá đâu cũng tan, Man bang các ngươi, sao lại không chịu?
Mạnh Hoạch nín lặng, không nói
gì. Uống rượu xong, Khổng Minh bảo Mạnh Hoạch lên ngựa, đi với mình ra xem các
nơi đồn ải và chỗ chứa lương thảo, khí giới.
Khổng Minh trỏ bảo rằng:
- Ngươi không chịu ta, thực là
ngu lắm! Ta có tinh binh mãnh tướng, lại nhiều khí giới lương thảo thế này, sức
ngươi đương sao nổi? Nếu ngươi hàng ngay đi, ta sẽ tâu với thiên tử cho làm vua
xứ này, mà con con cháu cháu nhà ngươi, đời đời sẽ trấn thủ mãi đây, ý ngươi
nghĩ sao?
Hoạch thưa:
- Dẫu ta có hàng, nhưng người
trong động chưa thực bụng chịu hàng. Thừa tướng bằng tha cho về, ta xin chiêu
an quân mã trong bản bộ, để làm cho đồng lòng hợp bụng, bấy giờ mới có thể quy
thuận được.
Khổng Minh mừng rỡ, cùng với Mạnh
Hoạch trở về trại, lại uống rượu, đến tối mới tan tiệc. Hoạch từ tạ trở ra. Khổng
Minh thân tiễn đến bờ sông Lư Thủy, cho thuyền đưa Mạnh Hoạch về.
Mạnh Hoạch về đến trại, trước hết
phục quân đao phủ ở dưới trướng, sai người tâm phúc đến trại Đổng Trà Na, A Hội
Nam nói dối rằng Khổng Minh sai sứ đến, lừa cho hai người lại, rồi đem giết đi,
quẳng thây xuống suối. Đoạn sai người thân tín giữ chắc cửa ải, tự mình dẫn
quân ra chỗ giáp núi, định đánh nhau với Mã Đại. Nhưng đến nơi, không thấy bóng
một người nào. Gọi thổ dân ra hỏi, họ nói đêm qua quân Thục đã chuyển vận lương
thảo qua sông Lư Thủy về trại bên kia rồi. Hoạch trở về động, bàn với em là Mạnh
Ưu rằng:
- Đồn trại của Khổng Minh hư thực
thế nào, ta biết cả rồi, em nên sang bên ấy, cứ thế này, thế này… Mà làm cho
anh.
Mạnh Ưu tuân lệnh, dẫn hơn một
trăm quân, khiêng vác vàng bạc, châu báu cùng các thứ ngà voi, sừng tê, qua
sông Lư, định đến thẳng trại Khổng Minh. Vừa qua sông, bỗng nghe mé trước nổi
sóng, rồi có một toán quân dàn ra, đại tướng đi đầu là Mã Đại. Ưu sợ quá, Đại hỏi
đến có việc gì, rồi ngăn lại, cho người vào báo với Khổng Minh. Bấy giờ Khổng
Minh đang ngồi trong trướng, bàn việc bình Man với Mã Tốc, Lã Khải, Tưởng Uyển,
Phí Vĩ. Chợt có người vào báo: Mạnh Hoạch sai em là Mạnh Ưu lại dâng đồ vật
qúy. Khổng Minh ngoảnh lại bảo với Mã Tốc rằng:
- Ngươi có biết ý nó lại đây ra
làm sao không?
Tốc bẩm:
- Tôi không dám nói lộ ra, xin viết
vào một mảnh giấy trình thừa tướng, xem có hợp ý ngài chăng?
Khổng Minh ưng lời. Mã Tốc viết
xong dâng lên. Khổng Minh xem qua, vỗ tay cười ầm lên, nói:
- Mẹo của ta bắt Mạnh Hoạch đã định
sẵn đâu vào đấy cả rồi, ngươi nói chính hợp ý ta lắm!
Liền gọi Triệu Vân vào trướng,
ghé tai dặn nhỏ mấy câu. Lại gọi Ngụy Diên, Vương Bình, Mã Trung, Quan Sách mỗi
người dặn mẹo mực vài câu. Ai nấy cùng vâng lệnh đi ra, Khổng Minh mới cho đòi
Mạnh Ưu vào trướng. Ưu lạy, rồi nói rằng:
- Anh tôi cảm cái ơn của thừa tướng
tha chết cho, không biết lấy gì báo được. Nay gọi là có chút của qúy, xin đem đến
tạm làm đồ khao quân, sau này sẽ xin có lễ vật khác để tiến cống thiên tử.
Khổng Minh nói:
- Anh ngươi bây giờ ở đâu?
Mạnh Ưu nói:
- Bẩm anh tôi đội ơn to của thừa
tướng, hiện còn phải ra núi Ngân Hàng nhặt nhạnh ít nhiều qúy vật, lát nữa thế
nào cũng lại đây.
Khổng Minh nói:
- Ngươi đem quân mã đến đây nhiều
hay ít?
Ưu nói:
- Bẩm không dám đem nhiều, chỉ có
hơn một trăm người đi theo, toàn là phu tải đồ cả.
Khổng Minh cho gọi vào trong trướng,
quả nhiên toàn là những người mắt xanh, mặt đen, tóc vàng, râu đỏ, tai đeo vòng
vàng, đầu tóc bù xù, chân không giày dép gì cả; người nào cũng to lớn lực lưỡng.
Khổng Minh cho ngồi xếp hàng trên
chiếu, sai các tướng khẩn khoản mời rượu.
Mạnh Hoạch ở nhà, chực đợi tin tức.
Một lát, có hai người về, Hoạch gọi vào hỏi. Hai người nói:
- Khổng Minh nhận cả lễ vật rồi,
lại gọi cả vào trong trướng, giết trâu bò, làm tiệc thết đãi. Đệ nhị đại vương
sai chúng tôi về báo với đại vương, canh hai đêm hôm nay, trong ứng ngoài hợp,
chắc xong việc.
Mạnh Hoạch mừng lắm, lập tức điểm
ba vạn quân, chia làm ba đội, gọi các tù trưởng đến dặn rằng:
- Quân sĩ phải đem đồ phóng hỏa,
đêm hôm nay đến trại Thục, đốt lửa làm hiệu; ta thân đến đánh vào trung quân để
bắt Gia Cát Lượng!
Các tù trưởng vâng lệnh. Chiều
vàng vàng mặt trời, quân Man lẻn qua sông Lư Thủy, Mạnh Hoạch dẫn các tướng tâm
phúc, hơn một trăm người, đến thẳng trại Khổng Minh. Dọc đường không thấy một
người nào ngăn trở. Hoạch tế ngựa xốc thẳng vào, té ra là một trại bỏ không. Hoạch
sấn vào trong trung quân thấy đèn đuốc sáng choang, mà Mạnh Ưu và bọn quân Man
đều say lử, nằm ngổn ngang cả đấy. Nguyên là Khổng Minh sai Mã Tốc, Lã Khải
trông coi thết đãi bọn ấy, có phường chèo múa hát, ân cần mời rượu, trong rượu
bỏ thuốc mê sẵn, cho nên người nào cũng mê mệt như người chết. Mạnh Hoạch gọi hỏi
ra làm sao, trong bọn ấy có người tỉnh, chỉ lấy tay chỉ vào mồm chứ không nói
được. Hoạch biết bị mắc mưu, vội vàng cứu được một số đứng dậy toan chạy về; bỗng
đâu tiếng reo nổi lên ầm ầm, lửa bốc đỏ rực, quân Thục đổ lại, đi đầu là đại tướng
Vương Bình. Hoạch giật mình, vội chạy sang đội tả, lại thấy lửa sáng rực trời,
toán quân của Ngụy Diên ập tới. Hoạch quay đầu chạy về đội hữu, lại gặp phải
Triệu Vân. Ba mặt đánh dồn cả vào. Hoạch phải bỏ cả quân sĩ, độc một mình trốn
thoát ra được bờ sông; trông ra thấy có vài mươi quân Man, đang bơi một chiếc
thuyền nhỏ trên sông. Hoạch gọi vào gần bờ, rồi đem cả ngựa xuống thuyền. Vừa
bước xuống đến nơi, bỗng đâu tiếng hiệu nổi lên, quân trong thuyền trói nghiến
ngay Mạnh Hoạch lại. Nguyên đấy là Mã Đại lĩnh mẹo của Khổng Minh, giả làm quân
Man, bơi thuyền ngoài sông để lừa bắt Mạnh Hoạch.
Khổng Minh chiêu an, quân Man về
hàng nhiều lắm, Khổng Minh đều lấy lời khuyên dụ, không giết một ai.
Một lát, Mã Đại giải Mạnh Hoạch
vào. Triệu Vân điệu Mạnh Ưu đến. Ngụy Diên, Mã Trung, Vương Bình, Quan Sách dẫn
các tù trưởng lại.
Khổng Minh trỏ vào Mạnh Hoạch, cười
nói:
- Ngươi sai em đem lễ lại trá
hàng, che mắt ta thế nào được, phen này đã chịu chưa?
Hoạch thưa:
- Đó chỉ vì em ta tham ăn, tham uống,
trúng phải thuốc độc, bởi thế lỡ việc. Nếu ta đến mà để cho em ta đi tiếp ứng
bên ngoài thì chắc xong việc. Đó là trời không tựa ta, chớ không phải ta có dại
dột gì. Đành chết thì chết, chớ ta vẫn chưa chịu!
Khổng Minh nói:
- Ngươi đã phải bắt ba lần rồi,
sao vẫn chưa phục?
Hoạch cúi đầu không nói gì.
Khổng Minh lại cười, nói:
- Ta lại tha cho ngươi về lần nữa
thì sao?
Mạnh Hoạch nói:
- Nếu thừa tướng tha cho anh em
ta về lần này, xin thu xếp thủ hạ, đánh nhau một trận to nữa. Bấy giờ mà lại bắt
được ta, ta sẽ dốc lòng theo hàng.
Khổng Minh nói:
- Nếu ta bắt được lần nữa, quyết
không tha nữa đâu! Ngươi phải suy nghĩ cho chín, xem lại sách thao lược, dùng
người thân tín, nghĩ lấy mẹo hay, chớ để hối hận về sau.
Liền sai võ sĩ cởi trói, tha cho
Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu và bọn tù trưởng về. Bấy giờ quân Thục đã sang qua cả sông
Lưu Thủy rồi. Bọn Mạnh Hoạch trở về, vừa sang khỏi sông, đã thấy quân Thục đóng
đặc cả trên bờ, tinh kỳ phấp phới. Hoạch đến trước cửa trại, Mã Đại ngồi ngất
nghểu trên địch lâu, trỏ gươm ra quát rằng:
- Phen này bắt được nữa, quyết
không tha đâu!
Hoạch về đến trại cũ thì trại đã
bị Triệu Vân cướp mất từ lâu rồi. Vân ngồi dưới lá cờ đại, chống gươm bảo rằng:
- Thừa tướng xử tử tế như thế, chớ
có quên ơn nhé!
Hoạch dạ dạ luôn mấy tiếng rồi
đi. Vừa ra đến một trái núi ở đầu cõi, lại thấy Ngụy Diên dẫn một nghìn tinh
binh, đóng trên gò, kìm ngựa thét to lên rằng:
- Ta nay vào đến tổ nhà ngươi, cướp
hết các nơi hiểm trở rồi, sao còn u mê mà kháng cự mãi? Phen này tóm được ngươi
lần nữa thì xả thây làm muôn mảnh, quyết không tha đâu!
Mạnh Hoạch ôm đầu lủi thủi, đi miết
một mạch về động.
Người sau có thơ khen Khổng Minh
rằng:
Sương mù nghi ngút buổi chưa tan,
Nghĩ ơn tam cố mong đền báo,
Dám quản công trình mấy khổ gian?
Khổng Minh cất quân sang qua sông
Lư, hạ trại đâu đấy, khao thưởng ba quân, rồi hội các tướng lại dưới trướng bảo
rằng:
- Mạnh Hoạch bị bắt lần thứ hai,
ta cho xem tình hình cả dinh trại, là cốt để cho hắn cướp trại của ta. Ta biết
hắn cũng võ vẽ binh pháp, nên mới khoe khoang lương thảo khí giới để hắn thấy
rõ ràng, tất nhiên dùng mẹo hỏa công. Cho nên hắn mới sai em đến trá hàng, định
làm nội ứng đó thôi. Ta ba phen bắt được mà không nỡ giết, đó là muốn hắn tâm
phục, chớ không muốn giết cả giống loài hắn làm gì. Ta bảo rõ cho các ngươi biết,
các ngươi nên hết lòng giúp nước, chớ có quản công khó nhọc.
Các tướng đều bái phục, nói:
- Thừa tướng đủ cả trí, nhân,
dũng; dẫu Tử Nha, Tử Phòng ngày xưa cũng không bằng.
Khổng Minh nói:
- Ta đâu dám mong bằng cổ nhân,
cũng đều nhờ sức các ngươi, cùng nhau làm nên công nghiệp đó thôi!
Các tướng nghe lời Khổng Minh, ai
nấy cùng vui mừng, hả dạ.
Đây nói Mạnh Hoạch bị bắt ba lần
nhục nhã, căm tức trở về động Ngân Hàng, sai người tâm phúc mang đồ kim ngân,
châu báu vào tám vùng Phiên, chín mươi ba điện, cùng các bộ lạc Man phương
khác, mượn đủ mười vạn quân hung tợn, dùng toàn mộc và mã tấu, kéo đến như kiến
nghe Mạnh Hoạch điều dụng. Quân do thám về báo, Khổng Minh cười, nói:
- Ta cốt muốn cho quân Man đến
đông đủ, để chúng biết tay ta một thể.
Nói đoạn, trèo lên một chiếc xe
nhỏ, sai lính kéo đi xem địa thế.
Ấy là:
Biết đâu thừa tướng bậc cao tay?
Chưa biết được thua ra sao, xem hồi
sau sẽ hiểu.
----------------------------------------------------------
Giữ Hán Thủy, Triệu Vân quân ít phá quân nhiều
Nam Man vương năm lượt vào tròng
Lại nói Khổng Minh ngồi chiếc xe
nhỏ, dẫn vài trăm kỵ binh đi lên phía trước xem địa thế. Ở đây có một con sông
gọi là Tây Nhĩ Hà, nước chảy tuy không xiết mấy nỗi, nhưng chẳng thấy một chiếc
thuyền bè nào đi lại. Khổng Minh sai dẫn gỗ đóng bè thả xuống sông, nhưng vừa
thả xuống, bè đã chìm. Khổng Minh mới hỏi Lã Khải. Khải nói:
- Tôi nghe trên thượng lưu sông
này, có một trái núi, tre mọc như rừng, có lắm cây to, nên sai người dẫn xuống
bắc cầu cho quân mã qua sông.
Khổng Minh lập tức sai ba vạn
quân vào núi chặt vài vạn cây tre, thuận dòng thả xuống, tới chỗ khúc sông nhỏ
hẹp, bắc một dịp cầu rộng hơn mười trượng. Rồi điều đại quân suốt dọc bờ sông,
hạ một dãy trại, lấy ngay sông làm hào, cầu làm cửa trại, đất lũy làm thành
trì, cho quân sang mé bên kia sông, hạ ba cái trại to nữa để đợi quân Man.
Nói về Mạnh Hoạch dẫn vài chục vạn
quân, hằm hằm kéo đi; gần đến bờ sông, Hoạch đem một vạn quân đao mộc tới thẳng
cửa trại khiêu chiến. Khổng Minh đầu đội khăn lượt, mình mặc áo cánh hạc, tay cầm
quạt lông, ngồi trên xe bốn ngựa kéo. Các tướng xúm quanh tả hữu đi ra. Khổng
Minh trông sang bên kia, thấy Mạnh Hoạch mình mặc áo giáp da tê, đầu đội mũ chỏm
sơn đỏ, tay tả cầm mộc, tay hữu cầm đao, cưỡi trâu đỏ, miệng đang chửi mắng lảm
nhảm. Quân thủ hạ múa may đao mộc, hung hăng xông xáo.
Khổng Minh kịp rút quân về trại,
bốn mặt cửa đóng chắc chắn, không cho ra đánh. Quân Man cởi trần truồng đến thẳng
cửa trại chửi mắng.
Các tướng giận lắm, vào bẩm với
Khổng Minh, xin ra quyết một trận tử chiến. Khổng Minh không nghe. Các tướng cố
nằn nì mãi, Khổng Minh bảo rằng:
- Quân rợ không tuân vương hóa,
chuyến này lại đây, thế đang hung tợn, chưa nên đánh vội, hãy giữ vững vài ba
hôm, thế hung tợn giảm đi, ta khắc có mẹo phá được.
Vài hôm sau, Khổng Minh trèo lên
gò cao xem, nhìn thấy quân Man đã ra dáng trễ nải mới hội các tướng lại hỏi rằng:
- Các ngươi có dám ra đánh không?
Các tướng hớn hở xin đi. Khổng
Minh trước hết gọi Triệu Vân, Ngụy Diên vào trướng, ghé tai dặn dò mẹo mực. Hai
người lĩnh kế đi trước. Lại gọi đến Vương Bình, Mã Trung lĩnh kế ra đi. Rồi gọi
Mã Đại dặn rằng:
- Sau khi quân ta lui rồi, trong
trại phải đốt đèn lửa cho nhiều. Mạnh Hoạch biết tin, tất đem quân đuổi theo,
ngươi nên lẻn ra mặt sau mà chặn đường.
Trương Dực nhận kế lui ra.
Khổng Minh sai Quan Sách hộ xe,
rút hết quân mã, nhưng trong trại đèn đuốc vẫn đốt sáng choang. Quân Man thấy vậy
không dám xông xáo.
Sáng hôm sau, Mạnh Hoạch dẫn quân
đến, thấy ba trại không có quân mã gì cả, bỏ lại hơn một trăm xe lương thực khí
giới.
Mạnh Ưu nói:
- Gia Cát Lượng bỏ trại mà chạy,
hoặc là có mẹo gì chăng?
Mạnh Hoạch nói:
- Gia Cát Lượng bỏ cả xe lương mà
chạy thế này, chắc trong nước có việc gì khẩn cấp, phi Ngô xâm, tất Ngụy cướp,
cho nên phải đốt đèn đó để làm nghi binh mà đi cho thoát đây! Ta phải đuổi gấp,
không nên để lỡ mất cơ hội.
Bởi thế, Mạnh Hoạch cầm quân đi
trước, đến sát bờ sông Tây Nhĩ Hà, trông sang bên kia thấy tinh kỳ vẫn chỉnh tề
như trước, đỏ ối một góc trời. Quân Man không dám tiến sang nữa.
Hoạch bảo Ưu rằng:
- Đây hẳn là Gia Cát Lượng sợ
quân ta đuổi theo, cho nên còn tạm đóng quân lại đây, chỉ vài ngày nữa tất phải
rút hết.
Bèn đóng quân ở bờ sông, sai vào
núi chặt tre đóng bè, sửa soạn sang sông, rồi bắt những tên can đảm dời đến ở
trước trại. Nhưng quân Man không biết quân Thục đã vào tận tổ mình từ lâu rồi.
Bữa ấy gió nổi to, bốn phía lửa cháy nghi ngút, trống khua inh ỏi, quân Thục
kéo đến. Quân Man xô đẩy lẫn nhau. Mạnh Hoạch vội vàng dẫn họ hàng đánh mở đường
trở về trại cũ. Bỗng đâu một toán quân ở trong xông ra, đó là Triệu Vân. Hoạch
vội vàng lẻn chạy vào phía khe núi, lại gặp một toán quân đánh ra, đó là Mã Đại.
Hoạch chỉ còn vài mươi tên quân đi theo, chạy chúi vào trong hang núi. Hoạch
trông ra ba mặt tây, nam, bắc, chỗ nào cũng bụi bay lửa cháy, vì thế không dám
tiến nữa, phải quay chạy về phía đông. Hoạch vừa qua khỏi cửa núi, trông ra mé
rừng trước mặt, thấy vài mươi người đang đẩy một cỗ xe, Khổng Minh ngồi chễm chệ
ở trên, cười khanh khách, mà rằng:
- Man vương Mạnh Hoạch, trời làm
thua đến thế này, ta đợi ở đây đã lâu rồi!
Hoạch nổi giận, ngoảnh lại bảo tả
hữu rằng:
- Ta mắc phải qủy kế người này,
chịu nhục đã ba phen rồi; nay lại gặp nhau ở đây, chúng mày phải cố sức sấn
vào, băm nhỏ xe lẫn người như cám cho tao!
Quân Man tràn sang, Mạnh Hoạch hò
hét đi đầu. Khi gần đến nơi, bỗng nhiên đánh ầm một tiếng, quân Man lăn nhào cả
xuống hố. Ngụy Diên dẫn vài trăm quân ra, trói ráo lại không chừa một người
nào.
Khổng Minh về trại trước, chiêu
an quân Man và tù trưởng các động, cho ăn cơm uống rượu, đem lời ngọt ngào dỗ
dành, tha cho đâu về đấy. Ai nấy đều cảm tạ bụng Khổng Minh.
Một lát Trương Dực giải Mạnh Ưu
vào, Khổng Minh trách rằng:
- Anh ngươi ngu dại, ngươi nên cản
ngăn mới phải, nay bị ta bắt bốn phen rồi, còn mặt mũi nào trông thấy người ta
nữa không?
Mạnh Ưu hổ thẹn quá, lạy phục xuống
đất xin tha tội.
Khổng Minh nói:
- Ta chưa giết vội, hãy tha cái mạng
ngươi, để về mà anh em khuyên bảo nhau.
Rồi sai cởi trói thả Mạnh Ưu về.
Ưu khóc lạy ra đi.
Một lát, Ngụy Diên giải Mạnh Hoạch
đến. Khổng Minh hằm hằm quát rằng:
- Lần này lại bị ta bắt, ngươi
còn nói gì nữa?
Hoạch nói:
- Ta lỡ mắc phải mẹo lừa, dẫu chết
cũng không nhắm được mắt!
Khổng Minh quát võ sĩ lôi ra
chém. Hoạch không chút sợ hãi, ngoảnh lại bảo Khổng Minh rằng:
- Nếu lại tha cho ta về, ta phải
quyết trả thù được bốn phen phải bắt này.
Khổng Minh cười rộ, sai cởi trói
cho Hoạch, cho uống rượu tử tế rồi để nghỉ ngơi trong trướng. Khổng Minh hỏi rằng:
- Ta bốn lần đãi ngươi tử tế, cớ
sao ngươi vẫn không chịu phục?
Hoạch nói:
- Ta tuy là người rợ mọi, nhưng
không chuyên dùng qủy kế như thừa tướng, cho nên ta chưa phục.
Khổng Minh nói:
- Ta lại tha cho ngươi về, còn
dám đánh nhau nữa thôi?
Hoạch nói:
- Chuyến này thừa tướng cho ta về,
nếu lại bắt được ta nữa, ta xin dốc lòng hàng phục, dâng hết cả của cải trong động,
thề không dám làm phản nữa.
Khổng Minh liền cười, tha cho. Hoạch
vui vẻ lạy tạ, về tụ tập được vài ngàn quân các động, kéo xuống phía nam. Đang
đi bỗng gặp một toán quân mã kéo đến, té ra Mạnh Ưu. Ưu định thu nhặt tàn quân
đến đánh báo thù cho anh. Hai anh em ôm lấy nhau mà khóc, kể lể việc trước.
Ưu nói:
- Quân ta thua luôn, quân Thục được
mãi thế này, khó lòng chống lại được.Ta chỉ nên ẩn lánh vào nơi động sâu không
ra nữa. Quân Thục không chịu được nóng nực, tất nhiên phải rút về.
Hoạch nói:
- Có chỗ nào ẩn lánh được không?
Ưu nói:
- Từ đây đi về mé tây nam, có một
động gọi là động Thứu Long. Chúa động tên là Đóa Tư đại vương, chơi thân với
anh lắm, nên sang đấy mà ẩn.
Hoạch sai Mạnh Ưu đến nói chuyện
trước với Đóa Tư đại vương. Đóa Tư vội dẫn quân ra đón Mạnh Hoạch vào động.
Chào hỏi nhau xong, Hoạch thuật lại chuyện trước.
Đóa Tư nói:
- Đại vương khoan tâm chớ ngại; nếu
quân Xuyên đến đây, một mống cũng không sống được mà về đến làng, ngay cả Gia
Cát Lượng cũng sẽ phải chết ở xứ này mà thôi!
Hoạch mừng lắm, hỏi Đóa Tư xem có
mẹo gì hay thế.
Đóa Tư nói:
- Ở động này chỉ có hai con đường
vào được. Một con đường về mé đông bắc, tức là con đường đại vương đi đến đây.
Đường ấy địa thế phẳng phiu, đất lành nước ngọt, người ngựa đi lại dễ dàng. Nếu
lấy đá gỗ chặn lấp cửa động, thì dẫu có trăm vạn quân, cũng không sao vào lọt.
Còn một con đường ở mé tây bắc, núi non hiểm ác, đường sá hẹp hòi, lại lắm rắn
dữ, rết độc, mỗi ngày về buổi chiều, chướng khí bốc lên, đến mãi trưa hôm sau mới
tan, chỉ trong giờ thân, giờ dậu mới có thể đi lại được. Nước không uống được, ngựa
người khó đi lắm. Lại có bốn ngọn suối độc: Một là Á Toàn, nước tuy ngọt, nhưng
uống phải thì không nói được, chỉ mười ngày là chết. Hai là Diệt Toàn, nước
nóng như đun sôi, nhỡ ai động phải thì da thịt ruỗng ra, thấu đến xương mà chết.
Ba là Hắc Toàn, nước hơi trong, ai dúng phải thì chân tay đen cả ra mà chết. Bốn
là Nhu Toàn, nước lạnh như băng, ai uống phải thì cổ họng lạnh ngắt, mình mẩy mềm
nhũn cả ra mà chết. Ở xứ này đến con chim, con sâu cũng không có. Trước kia chỉ
có quan Phục Ba tướng quân nhà Hán đến đây một lần; từ đấy không ai dám qua nữa.
Nay chặn lấp đường đông bắc, đại vương cứ ở yên trong động tôi. Quân Thục thấy
vậy, tất phải đi theo con đường mé tây. Qua đó, uống phải nước suối thì dẫu
trăm vạn quân cũng không sao về được. Can gì phải đánh chác cho mệt?
Mạnh Hoạch mừng lắm, giơ tay lên
trán, nói:
- Nay mới có chỗ ở yên đây!
Lại trỏ sang mặt bắc, nói:
- Tha hồ cho Gia Cát Lượng mưu thần
mẹo thánh cũng chẳng làm trò gì! Chỉ bốn ngọn suối này cũng đủ báo thù được bốn
phen ta thua trước!
Từ đó, Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu cả
ngày chỉ cùng với Đóa Tư uống rượu ăn yến.
Lại nói Khổng Minh mấy hôm không
thấy Mạnh Hoạch tiến ra, liền truyền lệnh cho quân rời Tây Nhĩ Hà, kéo xuống
phía nam. Bấy giờ, đang tháng sáu, trời nắng chang chang, nóng hơn lửa đốt. Người
đời sau vịnh cái nóng phương Nam như sau:
Lửa nóng tựa vầng dương
Biết đâu ngoài trời đất
Nóng bức thực khôn lường
Khổng Minh dẫn quân đang đi, chợt
có tiễu mã về báo rằng:
- Mạnh Hoạch ẩn trong động Thứu
Long, chặn lấp mất cửa động, cho quân canh giữ, chốn ấy núi non hiểm hóc, không
thể tiến lên được.
Khổng Minh đòi Lã Khải đến hỏi.
Khải nói:
- Tôi từng nghe động này có một
con đường, nhưng không rõ thế nào.
Tưởng Uyển nói:
- Mạnh Hoạch bốn lần bị bắt, đã sợ
mất vía, còn dám ra gì nữa? Huống lúc này tiết trời nóng nực, quân đã mệt mỏi,
đánh cũng vô ích, thà đem quân về còn hơn.
Khổng Minh nói:
- Về thì trúng phải kế của Mạnh
Hoạch rồi. Quân ta rút lui, hắn tất thừa thế đuổi theo. Đã đến đất này, lẽ đâu
ta chịu về không?
Bèn sai Vương Bình mang vài trăm
quân làm tiền bộ, bắt quân Man dẫn lối, tìm con đường nhỏ mé tây bắc đi vào.
Quân mã đến một ngọn suối, đang khát tranh nhau xuống múc nước uống. Vương Bình
tìm được đường rồi, định về báo với Khổng Minh. Nhưng về đến trại thì thấy quân
sĩ không ai nói được, chỉ lấy tay trỏ vào mồm ra hiệu. Khổng Minh giật mình, biết
là trúng độc, mới cưỡi chiếc xe nhỏ, dẫn vài mươi tên quân đến xem, thấy một
vũng nước trong suốt đến tận đáy, trong mà rùng mình không ai dám lội xuống. Khổng
Minh xuống xe, lên cao đứng ngắm thấy bốn phía núi cao chót vót, lặng ngắt như
tờ, không có tiếng chim chóc gì cả, Khổng Minh trong bụng lấy làm nghi lắm. Chợt
thấy trên đỉnh núi có một tòa cổ miếu. Khổng Minh liền vịn cành níu dây, mon
men trèo lên tận đỉnh, thấy một pho tượng tướng quân ngồi uy nghi ở giữa. Cạnh
miếu có một tấm bia đá, xem ra là miếu quan Phục Ba tướng quân Mã Viện, khi xưa
đánh Man, qua đây, người bản xứ lập miếu thờ, Khổng Minh bèn vào lạy và khấn rằng:
- Tôi là Lượng, vâng lời tiên đế ủy
thác con côi, nay phụng thánh chỉ đến đây bình Man. Tôi muốn dẹp xong Man
phương, quay về đánh Ngụy, diệt Ngô, đem lại giang sơn nhà Hán. Quân sĩ không
tường địa lý, lỡ uống phải nước độc, nói không ra tiếng. Xin tôn thần nghĩ đến
ân nghĩa bản triều, thông linh hiển thánh cứu cho ba quân!
Khấn xong, ra ngoài cửa miếu xem
có người nào qua lại thì hỏi. Bỗng thấy một ông cụ già từ trái núi bên kia đang
chống gậy đi lên, hình dung kỳ lạ. Khổng Minh mời cụ già ấy vào miếu, chào hỏi
xong, ngồi chơi trên tảng đá. Khổng Minh hỏi tên tuổi. Cụ già nói:
- Lão phu nay nghe danh thừa tướng,
may được bái kiến ở đây! Người Man phương này, được đội ơn thừa tướng tha tội
cho cũng nhiều, đều có bụng cảm ơn lắm.
Khổng Minh hỏi đến suối độc.
Cụ già nói:
- Quân của thừa tướng uống phải
suối câm, chỉ vài ngày là chết. Ngoài suối ấy ra lại có ba ngọn suối nữa, gọi
là Diệt Toàn, Nhu Toàn, Hắc Toàn. Bốn suối ấy toàn là khí độc tụ lại, không thuốc
gì chữa được. Hơn nữa chướng khí bốc lên, chỉ trong vài giờ mùi, giờ thân, giờ
dậu là qua lại được, còn đi vào giờ khác đều nhiễm phải chướng khí mà chết liền.
Khổng Minh nói:
- Nếu thế, phương Man không thể
bình được. Phương Man không bình xong, đánh sao được Ngô, Ngụy nữa, mà đem lại
giang sơn cho nhà Hán, há chẳng phải mất việc phó thác của tiên đế ru? Ta sống
nữa cũng vô ích, sao bằng chết đi cho rảnh!
Cụ già nói:
- Thừa tướng đừng lo, lão phu xin
chỉ dẫn một chỗ có thể cứu vãn được.
Khổng Minh nói:
- Lão trượng có cao kiến gì, xin
chỉ bảo ngay cho.
Cụ già nói:
- Tự đây đi thẳng mé tây vài dặm,
có một hang núi, vào trong hang đi hai mươi dặm nữa, đến một cái khe, gọi là
khe Vạn An. ở đó, có một cao sĩ, gọi là Vạn An ẩn giả. Đã vài mươi năm nay, người
ấy không rời khỏi khe. Sau nhà ông có một cái suối, gọi là suối An Lạc. Ai
trúng phải độc, uống nước suối ấy khỏi liền. Hoặc người nào sinh ghẻ, nhiễm phải
chướng khí, tắm nước suối ấy tự nhiên không việc gì. Trước nhà có một thứ cỏ gọi
là giới diệp vân hương, ngậm lá cỏ ấy trong mồm, thì chướng khí không nhiễm vào
được. Thừa tướng nên đến đấy mà cầu cho mau.
Khổng Minh lạy tạ, nói:
- May nhờ trưởng giả rủ lòng cứu
mệnh, ghi nhớ không bao giờ dám quên. Xin trưởng giả cho tôi được biết tên tuổi?
Cụ già nói:
- Ta là thần núi ở xứ này, phụng
mệnh quan Phục Ba tướng quân, lại chỉ bảo giúp ngài.
Nói đoạn, quát một tiếng, cửa đá
trong miếu tự nhiên mở ra, ông cụ bước vào rồi biến mất.
Khổng Minh lấy làm lạ, vào miếu lạy
tạ, rồi tìm đường cũ lên xe về trại.
Hôm sau, Khổng Minh đem hương hoa
lễ vật dẫn Vương Bình và bọn quân câm, theo lời thần chỉ, lần mò kéo đi, vào một
hang núi, đi hai mươi dặm nữa, thấy thông to, bách cổ, trúc lạ, hoa thơm, rườm
rà xung quanh một khu nhà. Sau bức rào, có mấy gian nhà tranh, mùi hoa ngào ngạt.
Khổng Minh mừng lắm, bước tới gõ cửa. Một tiểu đồng đi ra. Khổng Minh toan hỏi,
thì lại thấy một người đội nón nan, đeo dép cỏ, áo bào trắng, dây lưng thâm mắt
biếc, tóc vàng, hớn hở bước tới, hỏi ngay rằng:
- Có phải Hán thừa tướng đến đó
không?
Khổng Minh nói:
- Cao sĩ sao lại biết tôi thế?
Ẩn giả nói:
- Lâu nay nghe thừa tướng sang
nam chinh, sao lại không biết?
Bèn mời Khổng Minh vào nhà chơi.
Khổng Minh nói:
- Tôi chịu lời ủy thác của Chiêu
Liệt hoàng đế, nay lại phụng chỉ tự vương, dẫn quân đến đây, dẹp yên cõi rợ,
cho theo về vương hóa. Không ngờ, Mạnh Hoạch ẩn lấp trong động này, quân sĩ lỡ
uống phải suối câm. Đêm qua, nhờ có Phục Ba tướng quân hiển thánh, bảo rằng cao
sĩ có suối thuốc chữa được. Vậy xin cao sĩ rộng lượng cho ít nước thần, để cứu
vớt cái sống thừa của ba quân.
Ẩn giả nói:
- Lão phu là người quê kệch ở chốn
núi rừng, thừa tướng lọ phải uổng công đến đây. Suối này ở ngay sau nhà, xin cứ
việc ra mà uống.
Ẩn giả mới sai tiểu đồng đưa
Vương Bình và quân lính ra suối lấy nước. Uống xong, quân lính đều liền thổ ra
dãi độc, rồi nói được ngay. Tiểu đồng lại đưa cả bọn đến khe Vạn An tắm táp.
Ẩn giả ở trong nhà pha chè hạt
bách, thiết đãi Khổng Minh, và nói:
- Ở xứ này lắm giống rắn dữ, rết
độc, hoa liễu bay vào trong khe, nước không sao uống được, phải đào giếng mới
xong.
Khổng Minh xin hỏi tên họ. Ẩn giả
cười, nói:
- Chẳng giấu gì thừa tướng, tôi
là Mạnh Tiết anh ruột Mạnh Hoạch đây!
Khổng Minh ngạc nhiên.
Ẩn giả nói:
- Thừa tướng chớ nghi, tôi xin
nói rõ, Cha mẹ tôi sinh được ba người con, tôi là trưởng, thứ hai là Mạnh Hoạch,
thứ ba là Mạnh Ưu. Cha mẹ chúng tôi mất sớm, hai em tôi cứng đầu, cứng cổ,
không tuân vương hóa. Tôi can bảo chúng nó không nghe, nên phải đổi tên, ẩn dật
ở đây. Nay em tôi làm phản, để thừa tướng phải khó nhọc, đến xứ bất mao[1] này,
tội tôi thật đáng muốn chết; bởi thế, xin thú tội với thừa tướng trước.
Khổng Minh than rằng:
- Thế mới biết việc Đạo chích với
Liễu Hạ Huệ[2] thời nay cũng có.
Bèn bảo Mạnh Tiết rằng:
- Tôi xin tâu với thiên tử cử ông
lên làm vua xứ này có được không?
Tiết nói:
- Tôi vì ghét công danh, nên trốn
ra đây, còn bụng nào tham phú qúy nữa!
Khổng Minh bèn lấy vàng lụa ra tạ.
Mạnh Tiết cố từ chối không chịu lấy. Khổng Minh cảm phục, từ biệt ra về.
Có thơ khen rằng:
Suối mát, hoa thơm, cảnh cũng thanh
Cổ thụ um tùm, người vắng ngắt
Hãy còn khói biếc khóa non xanh
Khổng Minh về đến trại, sai quân
đào giếng lấy nước, đào sâu hơn hai mươi trượng, không thấy một giọt nước nào,
mười chỗ đào đều thế cả, quân sĩ nhao cả lên.
Nửa đêm hôm ấy Khổng Minh đốt
hương, kêu khấn trời rằng:
- Lượng bất tài, ngẩng đầu mang
ơn phúc nhà Đại Hán, phụng mệnh sang dẹp phương Man. Nay giữa đường thiếu nước,
quân mã khao khát cả. Trời ví bằng chưa tuyệt nhà Hán, xin cho ngay suối ngọt
chảy ra, nếu khi số nhà Hán đã hết, Lượng cũng xin chết tại xứ này.
Khổng Minh khấn xong, đến sáng ra
giếng nào cũng đầy ăm ắp nước ngọt.
Có thơ rằng:
Giời hè, đất sỏi, giếng khô khan
Lòng thành âu có thần minh chứng
Khấn khứa vừa xong nước chảy giàn
Quân sĩ được suối ngọt, ăn uống
thỏa thuê, mới theo đường tắt đến thẳng trước động Thứu Long hạ trại.
Quân Man dò thấy, về báo với Mạnh
Hoạch rằng:
- Quân Thục không nhiễm phải chướng
khí, mà cũng chẳng thấy khô khát gì cả; các suối độc là thế mà không nghiệm.
Đóa Tư đại vương không tin, cùng
Mạnh Hoạch trèo lên núi đứng xem, thấy quân Thục quả nhiên yên ổn như thường, kẻ
gánh thùng to, người xách thùng nhỏ, tranh nhau lấy nước về thổi cơm và cho ngựa
uống. Đóa Tư rợn tóc gáy, ngảnh lại bảo Mạnh Hoạch rằng:
- Đây chắc là thần binh!
Hoạch nói:
- Hai anh em tôi, xin liều đánh
nhau với quân Thục một trận, dù chết ngay cũng đánh, chớ đâu ngồi bó tay chịu
trói!
Đóa Tư đại vương nói:
- Nếu quân đại vương thua, thì vợ
con tôi cũng nguy cả. Vậy phải giết trâu, mổ bò, khao thưởng quân động để chúng
cố sức lăn xả vào trại Thục mà đánh, may ra mới thắng được.
Bèn mở đại tiệc khao quân. Lúc
quân Man sắp khởi hành, sực có tin báo chúa động Ngân Dã là Dương Phong ở mé
tây sau động này, dẫn ba vạn quân lại giúp.
Mạnh Hoạch mừng rỡ, nói:
- Quân láng giềng giúp ta, phen
này chắc đánh được quân Thục.
Bèn cùng Đóa Tư đại vương ra đón
tiếp Dương Phong vào.
Phong nói:
- Tôi có ba vạn tinh binh đều mặc
thiết giáp, giỏi nghề trèo non vượt suối, có thể địch được quân Thục trăm vạn.
Tôi lại có năm con tinh thông võ nghệ, xin đem lại giúp đại vương.
Nói rồi, gọi năm con ra lạy. Người
nào cũng mình beo dáng hổ, tướng giữ sức mạnh. Mạnh Hoạch mừng lắm, Mở tiệc khoản
đãi cha con Dương Phong. Rượu nửa chừng, Phong nói:
- Trong quân không có gì làm vui,
tôi đã đem theo bọn gái Man, múa đao che mộc cực giỏi, xin cho ra giúp vui một
chút.
Hoạch mừng rỡ, ưng lời. Một lát,
vài ba chục cô gái Man, người nào cũng xõa tóc, đi chân không, từ ngoài trường
múa mênh đi vào. Bọn Man vỗ tay ca hát, hòa theo nhịp múa. Dương Phong lại sai
hai con dâng chén chúc mừng Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu. Hai người đỡ chén toan uống,
Phong bèn quát to một tiếng, hai con bắt ngay Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu trói nghiến lại.
Đóa Tư toan chạy, bị Dương Phong bắt nốt. Bọn gái Man đứng dàn ở ngoài trướng,
không ai dám đến gần.
Hoạch bảo Dương Phong:
- Thỏ chết, cáo thương, vật còn
biết xót đồng loại huống chi ta với ngươi đều là chúa các động, xưa nay không
thù hằn gì nhau, tại sao ngươi chực hại ta làm vậy?
Phong nói:
- Anh em con cháu ta, đều đội ơn
Gia Cát thừa tướng tha tội, không biết lấy gì báo đền. Nay ngươi làm phản, nên
ta bắt đem nộp cho thừa tướng đây!
Quân Man các động, tan chạy đâu về
đấy cả. Dương Phong giải Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu, Đóa Tư đến trại Khổng Minh. Khổng
Minh đòi vào, Phong lạy ở dưới trướng, thưa rằng:
- Con cháu chúng tôi, đều được đội
ơn đức thừa tướng, cho nên bắt bọn Mạnh Hoạch lại nộp.
Khổng Minh trọng thưởng cho Dương
Phong, rồi sai điệu Mạnh Hoạch vào. Khổng Minh cười, nói:
- Phen này ngươi đã chịu chưa?
Hoạch nói:
- Ta bị bắt là không phải do tài
của ngươi. Vì người trong động ta hại lẫn nhau, mới đến nỗi này! Muốn giết thì
giết, chớ ta vẫn chưa chịu!
Khổng Minh nói:
- Ngươi lừa ta vào nơi không có
nước, lại đem bốn suối độc hại quân ta. Thế mà quân ta không việc gì, chẳng phải
là lòng trời ư? Sao người u mê làm vậy?
Hoạch lại nói:
- Tổ ta ở núi Ngân Hàng, ở đó có
ba con sông hiểm trở, hai từng ải vững bền. Nếu ngươi đến tận đấy mà bắt được
ta, thì chẳng những là ta phải phục, mà đến đời con đời cháu ta cũng dốc lòng
phụng thờ nữa.
Khổng Minh nói:
- Ta tha cho ngươi lần này, về
thu nhặt quân mã, quyết sống chết một trận nữa với ta. Nếu ta tóm được mà ngươi
còn không chịu, ta sẽ giết cả chín họ nhà ngươi đi đó!
Liền quát tả hữu cởi trói cho Mạnh
Hoạch. Hoạch lạy từ ra về.
Khổng Minh lại sai cởi trói cho Mạnh
Ưu, Đóa Tư và cho uống rượu hoàn hồn. Hai người sợ run cầm cập, không dám ngẩng
mặt lên nhìn. Khổng Minh cho ngựa và sai người đưa về.
Đó là:
Mẹo kỳ bày đặt cũng khôn thay!
Chưa biết Mạnh Hoạch được thua thế
nào, xem hồi sau phân giải.
Chú thích cuối trang
- ▲ Xứ không có cây cối mọc.
- ▲ Đạo chích là đứa ăn trộm, Liễu Hạ Huệ là một người đại
hiền, hai người này là anh em ruột, mà một người hay, một người dở.
Đuổi thú mạnh, sáu chuyến phá quân Man
Đốt giáp mây, bảy lần bắt Mạnh Hoạch
Lại nói, Khổng Minh tha xong bọn
Mạnh Hoạch, phong quan tước cho cha con Dương Phong, và trọng thưởng cho quân
sĩ các động. Dương Phong lạy tạ trở ra. Bọn Mạnh Hoạch ngày đêm đi miết về động
Ngân Hàng. Ngoài động ấy có ba con sông, là sông Lư, sông Cam Nam, sông Tây
Thành, hợp làm một, gọi là Tam Giang. Mé bắc động hai trăm dặm, địa thế phẳng
phiu, nhiều sản vật. Mé tây động hai trăm dặm, có giếng muối; mé tây nam hai
trăm dặm, đến thẳng sông Lư, sông Cam. Mé chính nam ba trăm dặm, là động Lương
Đô. Trong động có núi diễu quanh, trên núi có mỏ bạc, cho nên gọi là Ngân Hàng.
Trong núi Ngân Hàng có nhiều cung
điện, lâu đài, chính là chỗ sào huyệt vua Man. Có một miếu thờ tổ gọi là “gia qủy”.
Bốn mùa giết trâu, mổ ngựa cúng tế, gọi là “bốc qủy”. Mỗi năm có lệ bắt người
nước Thục hoặc người làng khác giết thịt tế thần. Người có bệnh không dùng thuốc
thang, chỉ mời đồng cốt cầu cúng, gọi là “thuốc qủy”. Ở đó không có hình pháp
gì, hễ ai phạm tội là chém. Có con gái lớn, cho ra tắm ngoài suối, rồi trai gái
tùy ý kén chọn lấy nhau, cha mẹ mặc lòng không cấm, gọi là “học nghề”. Mỗi năm
hai vụ, nước nôi điều hòa thì giồng thóc lúa. Năm mất mùa, giết thịt rắn nấu
canh, và ăn thịt voi trừ bữa. Trong từng thung, nhà nào thần thế hơn cả gọi là
chúa động, hạng thứ nhì gọi là tù trưởng. Mỗi tháng, ngày mồng một và ngày rằm,
có họp chợ trong thành Tam Giang, mua bán đổi chác gì cứ đến cả đấy.
Mạnh Hoạch ở trong động ấy, tụ tập
hơn một nghìn tông đảng và bảo rằng:
- Ta nhiều lần bị nhục với quân
Thục, thề báo thù kỳ được mới nghe. Các ngươi có mẹo giỏi nào không?
Em vợ Mạnh Hoạch hiện đang làm
trưởng bộ Bát Phiên, gọi là chúa động Đái Lai, bước ra thưa rằng:
- Tôi xin cử một người đủ phá được
Gia Cát Lượng.
Hoạch vội hỏi người nào, Đái Lai
động chúa thưa rằng:
- Từ đây ra mé tây nam, có chúa động
Bát Nạp là Mộc Lộc đại vương, cao tay phù phép, thường hay cưỡi voi, biết phép
hô gió gọi mưa; hổ, báo, sói, lợn lòi, rắn dữ, rết độc thường đi theo; thủ hạ lại
có ba vạn thần binh, rất là khỏe mạnh. Đại vương nên viết thư và kiếm đồ lễ vật
tôi xin thân đến cầu người ấy, nếu được, thì lo gì quân Thục nữa?
Mạnh Hoạch mừng rỡ, sai Đái Lai động
chúa mang thư đi. Một lát, sai Đóa Tư đại vương giữ thành Tam Giang, để phòng
thủ mé trước mặt.
Lai nói, Khổng Minh dẫn quân đến
thẳng Tam Giang, thành này ba mặt giáp sông, chỉ có một đường bộ đi vào. Liền
sai Ngụy Diên, Triệu Vân dẫn một toán quân đi mặt bộ đánh vào. Khi quân Thục đến
gần, cung nỏ trên mặt thành bắn xuống như mưa. Nguyên là người rợ thạo nghề bắn
cung nỏ, mỗi cái nỏ bắn ra mười phát tên một lúc. Trên đầu tên lại tẩm thuốc độc.
Ai trúng phải tên, da thịt nát ruỗng ra, thấu đến ngũ tạng rồi chết.
Triệu Vân, Ngụy Diên đánh không đổ,
trở về ra mắt Khổng Minh, thuật chuyện tên thuốc độc. Khổng Minh ngồi trên chiếc
xe nhỏ, đến gần dưới thành xem hư thực ra sao, rồi trở về sai lui quân vài dặm
hạ trại.
Quân Man thấy quân Thục đi xa rồi,
cười ầm cả lên; ai nấy mừng mừng, rỡ rỡ, tưởng là quân Thục nhát sợ phải lui. Bởi
thế đêm hôm ngủ yên, tuần phòng trễ nải.
Khổng Minh từ khi rút quân về,
đóng cửa trại không ra luôn năm ngày, tịnh không hiệu lệnh gì cả. Một hôm, về
buổi chiều, hơi phe phẩy gió, Khổng Minh truyền lệnh rằng:
- Mỗi tên quân phải trữ sẵn một
cái vạt áo, hẹn đến canh một kiểm điểm, ai không có, lập tức chém đầu.
Các tướng không hiểu ý thế nào,
quân sĩ cứ phải tuân lệnh dự sẵn. Đến canh một, lại truyền lệnh rằng:
- Mỗi tên quân phải bọc một cái vạt
áo đất, hễ sai không có thì chém.
Quân sĩ cũng chẳng hiểu thế nào,
cứ bảo sao làm vậy.
Khổng Minh lại truyền lệnh:
- Quân sĩ mang bọc đất, đến cả dưới
thành Tam Giang vứt xuống; ai đến trước sẽ có thưởng.
Quân sĩ được lệnh, mang bọc đất
tranh nhau chạy đến dưới thành. Khổng Minh sai đắp đất làm bậc, trèo lên thành,
và truyền ai trèo lên trước thì được công đầu.
Bởi thế, hơn mười vạn quân Thục
và hơn một vạn quân hàng, đổ đất xuống chân thành, chỉ một lúc đất cao tày núi,
ngang với mặt thành. Trong quân nổi một tiếng ám hiệu, quân sĩ kéo ùa vào cả
thành. Quân Man vội vàng bắn nỏ ra thì nhiều người đã bị trói cả rồi; những tên
khác thấy thế nguy, bỏ thành ù té chạy hết. Đóa Tư đại vương chết trong đám loạn
quân. Tướng Thục đốc quân chia đường đuổi đánh. Khổng Minh hạ được thành Tam
Giang, bao nhiêu đồ vàng bạc, châu báu bắt được đều đem thưởng cho ba quân.
Quân Man thua trận, trốn về ra mắt
Mạnh Hoạch, kể lại truyện Đóa Tư đại vương tử trận, và mất thành Tam Giang. Hoạch
cuống quýt cả lên. Bỗng ở sau bình phong, một người bước ra, cười ha hả mà rằng:
- Đã là đàn ông sao không có mưu
mẹo? Tôi tuy là một người đàn bà cũng xin ra đánh giúp chàng phen này!
Hoạch trông lại, té ra vợ mình là
Chúc Dong phu nhân.
Phu nhân vốn người Nam Man, con
cháu họ Chúc Dong khi xưa, có tài tung đao, phóng đâu tin đấy. Mạnh Hoạch đứng
dậy cảm tạ. Phu nhân hớn hở lên ngựa, dẫn hơn trăm viên mãnh tướng trong tông đảng
và năm vạn quân động, ra khỏi Ngân Hàng, địch nhau với quân Thục. Vừa qua cửa động,
gặp ngay một toán quân Thục kéo đến, tướng đi đầu là Trương Ngực. Quân thấy vậy,
dàn ra hai bên, Chúc Dong phu nhân gài năm mũi dao nhọn ở sau lưng, tay cầm dao
dài, cưỡi ngựa long quân sắc đỏ.
Trương Ngực thấy tấm tắc khen lạ
kỳ. Hai bên tế ngựa vào giao phong; được vài hiệp phu nhân quay ngựa chạy.
Trương Ngực sấn sổ đuổi theo. Bỗng một nắm dao ở trên không rơi xuống, Ngực vội
vàng giơ tay lên đỡ, bị một lưỡi dao đâm vào cánh tay trái, ngã nhào xuống ngựa.
Quân Man reo ầm, xô vào bắt Trương Ngực trói nghiến lại. Mã Trung thấy thế, vội
xông ra cứu, quân Man lại xô cả vào vây bọc Mã Trung. Trung hăm hở xốc tới đánh
Chúc Dong phu nhân. Quân Man quăng dây ra giật chân ngựa, Trung ngã, lại bị bắt
nốt. Chúc Dong giải cả hai tướng về động ra mắt chồng. Hoạch mừng rỡ, mở tiệc
ăn mừng. Phu nhân quát đao phủ lôi Trương Ngực, Mã Trung ra chém. Hoạch ngăn lại
mà rằng:
- Gia Cát Lượng tha cho ta những
năm lần, nếu ta giết ngay tướng của hắn, thì chẳng hóa ra bất nghĩa lắm ru? Hãy
đem giam lại, đợi khi bắt được Gia Cát Lượng sẽ giết luôn một thể, cũng chưa muộn
gì!
Phu nhân nghe lời, uống rượu, cười
nói hả hê lắm.
Quân Thục thua trận, về ra mắt Khổng
Minh và thuật truyền lại, Khổng Minh lập tức gọi Mã Đại, Triệu Vân, Ngụy Diên,
dặn dò mẹo mực, rồi cho người nào người nấy dẫn quân đi.
Hôm sau quân Man báo tin vào động
là có tướng Thục Triệu Vân đến thách đánh. Phu nhân lên ngựa ra địch. Hai bên
đánh nhau chưa được vài hiệp, Vân quay ngựa chạy. Phu nhân sợ có quân phục, quất
ngựa trở về. Ngụy Diên lại tiếp quân ra thách đánh, phu nhân tế ngựa xốc vào;
đánh đang hăng, Ngụy Diên bỏ chạy, phu nhân cũng không đuổi theo.
Hôm sau, Triệu Vân lại dẫn quân đến,
phu nhân cũng mang quân địch. Hai bên vừa mới giao phong, Vân đã giả đò thua chạy.
Phu nhân cầm vững ngọn côn toan thu quân về, Ngụy Diên lại dẫn quân ra, chửi mắng
rầm rĩ cả lên. Phu nhân vội quay lại đánh thì Diên đã chạy liền, phu nhân tức
giận đuổi theo, Diên rẽ vào đường nhỏ sườn núi. Bỗng thấy “huỵch” một tiếng cực
to, Diên ngoảnh lại xem, đã thấy phu nhân ngã lăn trên mặt đất. Nguyên là Mã Đại
phục sẵn ở đó, chờ ngựa phu nhân đến, liền quăng dây ra giật ngã cả người lẫn
ngựa rồi trói nghiến cả lại giải về trại. Các tướng Man xúm lại cứu, đều bị Triệu
Vân đánh cho một trận tơi bời.
Khổng Minh đang ngồi trong trướng
thì Mã Đại giải Chúc Dong phu nhân vào. Khổng Minh vội sai võ sĩ cởi trói, mời ở
riêng một trướng khác, cho uống rượu áp kinh. Rồi sai người sang trại Mạnh Hoạch
xin đem phu nhân đánh đổi hai tướng Trương Ngực, Mã Trung. Hoạch lập tức tha
cho hai tướng về, Khổng Minh cũng sai người đưa phu nhân về động.
Mạnh Hoạch tiếp phu nhân vào, nửa
mừng nửa lo. Chợt có tin báo chúa động Bát Nạp đã đến. Mạnh Hoạch ra nghênh tiếp,
thấy người cưỡi voi trắng, mình khoác mang to tết vàng và hạt châu, lưng đeo
hai mũi đại đao, dẫn một toán quân và các giống hùm beo, lục tục kéo vào, Hoạch
lạy lục, kể lể sự tình. Mộc Lộc đại vương hứa trả thù giúp.
Mạnh Hoạch mừng lắm, mở tiệc khoản
đãi.
Hôm sau, Mộc Lộc đại vương dẫn
quân sĩ và những giống mãnh thú ra trận. Triệu Vân, Ngụy Diên đem quân dàn
thành thế trận. Hai tướng giong cương đứng sững trước trận, trông sang bên này,
thấy tinh kỳ, khí giới của quân Man đều khác cách cả. Quân sĩ nhiều người không
mặc áo sống, trần truồng như nhộng, mặt mũi đen sì, mình đeo bốn con dao nhọn.
Trong quân không đánh trống, chỉ rung chuông làm hiệu. Mộc Lộc đại vương lưng
đeo hai thanh gươm báu, tay cầm chuông con, cưỡi voi trắng, từ dưới lá cờ lớn
đi ra.
Triệu Vân bảo với Ngụy Diên rằng:
- Chúng ta cả đời đi trận mạc,
chưa thấy lạ lùng thế này bao giờ!
Hai người còn đang trò chuyện đã
thấy Mộc Lộc lẩm nhẩm trong mồm, niệm chú mấy câu, tay rung quả chuông. Bỗng
dưng gió thổi đùng đùng, sỏi đá bay rào rào như mưa to. Lại nghe thấy rúc một
tiếng còi, rồi hổ, báo, sói, gấu, lợn lòi, rắn rết to tày cột, lướt theo gió ùa
đến, con thì nhe nanh, con thì múa vuốt, tràn sang trận Thục. Quân Thục khiếp sợ,
chưa đánh đã vỡ, xô nhau chạy toán loạn. Quân Man đuổi đánh đến giáp đường Tam
Giang mới rút về.
Triệu Vân, Ngụy Diên thu nhặt tàn
quân về ra mắt Khổng Minh xin chịu tội, và thuật lại tình hình thua trận.
Khổng Minh cười, nói:
- Đó không phải là tội hai người,
khi ta chưa ra khỏi nhà, đã biết Nam Man có thuật nghe hổ báo. Hiện trong Thục
đã trữ sẵn đồ phá trận đem theo đây. Hiện trong quân ta có hai mươi cỗ xe, còn
phong kín cả. Nay hãy dùng một nửa, còn một nửa để dành vào việc khác.
Liền gọi tả hữu lấy ra mười cỗ
xe, chứa đầy hòm sơn đỏ, đem đến dưới trướng. Còn mười cỗ sơn đen thì để dành lại.
Các tướng chưa hiểu ra sao. Khổng
Minh sai mở ra thì toàn là các giống thú to làm bằng gỗ, có các thứ nhung dạ
ngũ sắc bọc ngoài làm da, đồng sắt làm nanh vuốt. Mỗi con thú gỗ có thể ngồi được
mười người. Khổng Minh kén một nghìn quân tinh tráng, giao cho một trăm con.
Con nào cũng chứa sẵn đồ khói lửa, giấu trong xe.
Hôm sau, Khổng Minh kéo quân ra,
dàn ngoài cửa động. Quân Man báo tin cho Mộc Lộc đại vương. Mộc Lộc đại vương
tưởng chừng không ai địch nổi, lập tức cùng với Mạnh Hoạch dẫn quân ra. Khổng
Minh đội khăn lượt, mặc áo phù thủy, tay cầm quạt lông, ngồi chính diện trên
xe. Mạnh Hoạch trỏ sang bảo rằng:
- Người ngồi xe kia là Gia Cát Lượng
đấy, nếu bắt được hắn thì việc lớn ắt xong!
Mộc Lộc đại vương mồm niệm thần
chú, tay rung chuông. Một lát, gió to ào ào nổi lên, các giống mãnh thú xông đến.
Khổng Minh cầm quạt lông phẩy một cái, ngọn gió liền thổi tạt trở lại. Các thú
gỗ trong trận Thục bấy giờ mới ùa sang. Những giống thú ấy bên trận Man, thấy
các giống lớn bên Thục miệng lè ra lửa, mũi thở ra khói, trên mình chuông kêu
leng keng, giơ nanh múa vuốt, nên không dám đến gần, cong đuôi chạy trở về,
giày xéo quân Man, chết hại rất nhiều. Khổng Minh thúc quân ùa vào, trống, tù
và vang lừng, đuổi đánh cực rát. Mộc Lộc đại vương chết trong đám loạn quân. Mạnh
Hoạch, Đái Lai bỏ cả cung điện, trèo non vượt núi chạy trốn. Khổng Minh chiếm
được động Ngân Hàng.
Hôm sau, Khổng Minh sắp sửa sai
quân đi tầm nã Mạnh Hoạch, chợt có tin báo rằng:
- Em vợ Mạnh Hoạch là Đái Lai động
chúa, khuyên Hoạch đầu hàng, Hoạch không nghe. Bởi thế đã bắt Mạnh Hoạch và vợ
là Chúc Dong phu nhân cùng tòng đảng hơn trăm người trói cả lại đem nộp thừa tướng.
Khổng Minh nghe báo, lập tức gọi
Trương Ngực, Mã Trung vào dặn dò mẹo mực. Hai tướng lĩnh kế dẫn hai nghìn quân
tinh tráng phục sẵn hai bên hành lang, rồi sai tướng mở cửa cho chúng vào. Đái
Lai dẫn quân đao phủ giải bọn Mạnh Hoạch qùy lạy dưới sân.
Khổng Minh quát to lên rằng:
- Quân đâu! Bắt trói cả bọn này lại
cho ta!
Quân phục hai bên đổ ra, cứ hai
ba người bắt một người, trói nghiến lại, không ai chạy thoát.
Khổng Minh cười nói:
- Thứ qủy kế của các người lừa thế
nào được ta. Ngươi thấy hai lần trước người trong động bắt đem nộp, ta không nỡ
giết, tưởng chuyến này cũng thế, cho nên lại trá hàng, để giết ta ở trong động
này phải không?
Liền quát võ sĩ khám quả nhiên
trong mình người nào cũng giắt một con dao găm rất sắc.
Khổng Minh hỏi Mạnh Hoạch rằng:
- Trước ngươi bảo có đến tận nhà
ngươi mà bắt được ngươi thì ngươi mới chịu, nay nghĩ sao?
Hoạch thưa:
- Chuyện này thực là tự chúng ta
đem thịt đến miệng hùm chớ không phải là tài của ngươi, chết thì chết chứ ta vẫn
chưa chịu.
Khổng Minh nói:
- Ta bắt được ngươi sáu lần rồi,
sao chưa chịu, còn đợi đến bao giờ?
Hoạch nói:
- Hễ lần thứ bảy mà lại bắt được
nữa thì ta mới dốc lòng quy phục, thề không dám làm phản nữa.
Khổng Minh nói:
- Sào huyệt của ngươi ta đã phá hết
rồi, còn phải lo gì!
Lập tức sai võ sĩ cởi trói cho Mạnh
Hoạch rồi nạt rằng:
- Nếu ta tóm được một lần nữa mà
còn nói lôi thôi thì quyết không tha nữa đâu!
Bọn Mạnh Hoạch lủi thủi trở về.
Lại nói hơn nghìn quân Man bị
thương mất quá nửa, đang chạy trốn, gặp được Mạnh Hoạch thu nhặt quân tàn,
trong bụng hơi mừng, bàn với Đái Lai động chúa rằng:
- Nay động phủ của ta đã bị quân
Thục chiếm mất rồi, biết tìm chỗ nào an thân được?
Đái Lai nói:
- Chỉ còn một nước, có thể phá được
quân Thục.
Hoạch mừng lắm, vội hỏi nước nào.
Đái Lai nói:
- Tự đây ra phía đông nam bảy
trăm dặm, có nước Ô Qua. Vua nước ấy tên là Ngột Đột Cốt, mình dài hai trượng,
không ăn thóc gạo, chỉ ăn toàn những giống rắn độc, tên bắn không vào. Quân thủ
hạ toàn mặc áo giáp mây. Dây mây mọc ở trong khe núi, leo bám vào vách đá, người
xứ ấy lấy tẩm vào trong dầu nửa năm, mới vớt ra phơi khô, phơi rồi lại tẩm, hơn
mười lượt, rồi đem chế làm áo giáp. Mặc vào mình, lội xuống nước không chìm,
tên bắn, dao chém cũng không thấu. Bởi thế, gọi là “quân giáp mây”. Đại vương
nên đến đấy mà cầu, sẽ bắt được Gia Cát Lượng dễ như bỡn vậy.
Mạnh Hoạch mừng lắm, mới sang tận
nước Ô Qua, vào ra mắt Ngột Đột Cốt. Ở đây không có nhà cửa, mọi người ở cả
trong hang núi. Mạnh Hoạch vào động, van lạy kêu cầu. Ngột Đột Cốt ưng lời, cất
ba vạn quân giáp mây và sai hai tướng là Sĩ An và Hề Nê, cất quân kéo về phía
đông bắc. Khi đến một con sông gọi là Đào Hoa, hai bên bờ toàn là cây đào, lâu
ngày lá rụng xuống nước, người nơi khác uống phải thì chết ngay, chỉ người Ô
Qua uống vào lại khỏe thêm ra, Ngột Đột Cốt sai hạ trại ở cửa bến đợi quân Thục
tới.
Nói về Khổng Minh, sai người đi
dò thám, biết sự thể làm vậy liền kéo vệ quân đến thẳng sông Đào Hoa. Trông
sang bờ bên kia, thấy quân Man mặt mũi kỳ dị, hình thù quái gở, mới gọi thổ dân
ra hỏi, thì họ nói hiện nay lá đào đang rụng, nước ở đây không sao uống được.
Khổng Minh liền rút quân lui về năm dặm, để Ngụy Diên ở lại giữ trại.
Hôm sau, Ngột Đột Cốt dẫn một
toán quân giáp mây qua sông đánh quân Thục, chiêng trống vang trời. Ngụy Diên dẫn
quân ra địch. Quân Man kéo ồ đến, quân Thục bắn không thủng được áo giáp, tên
rơi tua tủa xuống đất, gươm giáo đâm chém cũng không thấu. Quân Man đều dùng mã
tấu. Quân Thục không địch nổi, phải bỏ chạy.Quân Man không đuổi theo. Ngụy Diên
quay lại đuổi mãi đến bến đò, thấy quân Man mặc cả áo giáp, lội xuống nước bơi
đi. Tên nào mệt mỏi lắm thì cởi áo giáp, thả xuống nước, rồi ngồi lên chèo đi.
Ngụy Diên vội vàng về trại lớn bẩm với Khổng Minh. Khổng Minh hỏi Lã Khải. Khải
thưa rằng:
- Tôi vẫn nghe vùng này, có nước
Ô Qua, ở đấy không có luân lý gì, có áo giáp mây hộ thân, khó lòng phá nổi. Vả
lại, có nước lá đào rất độc, thổ dân uống vào thì khỏe ra, mà người xứ khác uống
phải là chết. Phương Man như thế, dẫu lấy được cũng vô ích, chi bằng rút quân về
cho sớm.
Khổng Minh cười, nói:
- Ta không phải dễ dàng mà đến được
đây, lẽ đâu về ngay được? Ngày mai ta khắc có mẹo phá xong.
Bèn sai Triệu Vân hiệp sức với Ngụy
Diên giữ trại và dặn không nên khinh động.
Hôm sau, Khổng Minh ngồi một chiếc
xe nhỏ, sai thổ dân đưa đường, đến mãi một nơi núi hẻm ở mé bắc bến Đào Hoa,
xem xét địa lý. Gặp chỗ núi cao đường hẹp, xe không đi được, Khổng Minh xuống
đi bộ. Chợt đến một trái núi, trông thấy có cửa hang, vòng vèo như hình con rắn
dài, hai bên vách đá dựng đứng, không có cây cối, có một con đường cái đi thông
ở giữa.
Khổng Minh hỏi:
- Hang này gọi là hang gì?
Người bản xứ thưa rằng:
- Ở đây gọi là hang Bàn Xà, ra khỏi
cửa hang tức là con đường lớn thành Tam Giang. Trước hang có một thung lũng gọi
là điện Tháp Lang.
Khổng Minh mừng, nói:
- Trời cho ta thành công ở chỗ
này đây!
Bèn theo lối cũ, lên xe về trại,
gọi Mã Đại đến dặn rằng:
- Ta giao cho ngươi mười cỗ xe
hòm sơn đen, phải dùng đến hàng ngàn dóng tre, mở hòm ra cứ y kế mà làm. Lại phải
dẫn quân bản bộ chặn giữ hai đầu hang Bàn Xà, hạn cho ngươi nửa tháng, phải
xong đâu vào đấy, và phải giữ gìn cẩn mật, nếu để lộ ra ngoài sẽ trị tội theo
quân pháp.
Mã Đại lĩnh kế ra đi.
Lại gọi Triệu Vân đến dặn rằng:
- Ngươi ra phía sau hang Bàn Xà,
cửa đường Tam Giang, cứ y phép… mà giữ gìn; nội vật gì dùng đến, phải sắm sẵn
trước cho đủ.
Triệu Vân lĩnh kế ra đi.
Lại gọi Ngụy Diên đến dặn rằng:
- Ngươi dẫn quân bản bộ ra bến
Đào Hoa hạ trại. Nếu quân Man qua sông sang đánh thì bỏ trại mà chạy thẳng đến
chỗ cắm cờ trắng. Hạn trong nửa tháng phải thua luôn mười lăm trận, bỏ bảy cái
trại, nếu mới thua mười bốn trận, thì chớ đến ra mắt ta vội.
Ngụy Diên lĩnh mệnh, trông mặt có
dáng không vui tiu nghỉu trở ra.
Khổng Minh lại gọi Trương Dực,
sai dẫn một toán quân, cứ trỏ chỗ nào thì lập trại chỗ ấy. Lại sai Trương Ngực,
Mã Trung dẫn chừng nghìn hàng binh, cứ y mẹo mực mà làm. Các tướng ai nấy lĩnh
kế kéo đi.
Mạnh Hoạch bàn với Ngột Đột Cốt
vua Ô Qua rằng:
- Gia Cát Lượng thật lắm quỷ kế,
nhất là hay dùng quân mai phục. Ta có đánh nhau phải dặn quân sĩ, hễ chỗ nào rừng
rú, thì chớ nên khinh tiến.
Ngột Đột Cốt nói:
- Lời đại vương rất phải, tôi đã
biết người Trung Nguyên chỉ tài những mẹo lừa đảo. Từ nay ta phải cẩn thận. Tôi
đi trước tiến vào đánh, ngài đi sau trông nom quân sĩ.
Hai người bàn định đâu đấy sực thấy
quân Thục lập trại bến Đào Hoa. Ngột Đột Cốt lập tức sai hai tướng tù trưởng dẫn
quân giáp mây sang đánh nhau với quân Thục. Hai bên giao chiến được một lát, Ngụy
Diên thua chạy. Quân Man sợ có mai phục, không dám đuổi theo.
Hôm sau, Ngụy Diên lại đi lập
doanh trại, quân Man biết tin liền qua sông sang đánh. Diên ra địch, được vài
hiệp lại thua chạy. Quân Man đuổi theo hơn mười dặm ngắm xem bốn mặt thấy không
có gì, mới đóng quân ở trong trại Thục.
Hai tù trưởng mời Ngột Đột Cốt đến
trại, thuật lại công việc. Ngột Đột Cốt dẫn quân tràn lên, đuổi đánh Ngụy Diên
một trận nữa, quân Thục bỏ cả giáp, quẳng cả giáo mà chạy. Ngụy Diên cứ trông
chỗ nào cắm cờ trắng thì đến, đến nơi, đã có một trại lập sẵn rồi. Diên liền
đóng quân ở đó.
Ngột Đột Cốt thúc quân đuổi tràn
đến, Diên lại bỏ chạy, quân Man lại chiếm được trại nữa.
Hôm sau, quân Man kéo đến, Diên
đánh vài ba hiệp lại chạy, cứ về đến chỗ có cắm cờ trắng thì đã có sẵn một trại
rồi. Diên vừa đánh vừa chạy, trước sau thua luôn mười lăm trận, bỏ mất bảy trại.
Ngột Đột Cốt đi đầu, nội chỗ nào có cây cối um tùm, là cho người dò xem, quả
nhiên thấy tinh kỳ thấp thoáng trong bóng cây, mới bảo Mạnh Hoạch rằng:
- Đại vương nói quân Thục hay
dùng kế mai phục, quả nhiên không sai!
Mạnh Hoạch cười ầm lên, mà rằng:
- Phen này Gia Cát Lượng bị ta biết
rõ mẹo rồi. Đại vương mấy bữa nay được luôn mười lăm trận, cướp được bảy trại,
quân Thục nghe tiếng gió đã phải chạy, thế thì đủ biết Gia Cát Lượng sức đã kiệt
rồi, ta chỉ đánh một trận nữa là xong việc.
Ngột Đột Cốt mừng lắm không coi
quân Thục ra mùi gì nữa.
Đến hôm thứ mười sáu, Ngụy Diên dẫn
tàn quân lại chống nhau với quân giáp mây. Ngột Đột Cốt cưỡi voi trắng đi trước,
đầu đội mũ nhật nguyệt, mình mặc áo kim châu, mai vây dưới nách lộ cả ra ngoài,
mắt nhấp nhánh như ánh chớp, trỏ tay sang Ngụy Diên mà mắng. Ngụy Diên liền
quay ngựa chạy. Quân Man kéo bừa sang đuổi đánh. Diên dẫn quân chạy vào trong
hang Bàn Xà. Ngột Đột Cốt thúc quân đến cửa hang, trông lên núi đá trơ trụi chắc
không có mai phục mới vững dạ đuổi theo. Vào đến trong hang, thấy có hơn mười cỗ
xe sơn đen chất ở giữa đường đi. Quân Man bảo rằng:
- Đây hẳn là đường vận lương của
quân Thục, nhân thấy quân đại vương đến đây, cho nên bỏ cả xe lương mà chạy.
Ngột Đột Cốt mừng lắm thúc quân cắm
cổ đuổi miết. Khi gần ra khỏi cửa hang, thì không thấy quân Thục đâu, chỉ có đá
gỗ chồng chất ngổn ngang lấp cả lối đi. Ngột Đột Cốt sai quân dọn đường. Bỗng
nhiên, các cỗ xe phía trước mặt, toàn chứa củi khô cỏ ráo, lửa ở đâu bốc cháy
đùng đùng. Ngột Đột Cốt vội vàng rút quân về, lại thấy hậu quân nhốn nháo cả
lên, nói cửa hang đằng sau cũng bị củi cỏ chặn lấp cả rồi, trong củi toàn là
thuốc súng nổ tứ tung. Ngột Đột Cốt thấy không có cây cối gì, còn hơi vững dạ,
sai tìm đường chạy. Bỗng đâu lửa ở hai bên sườn núi ném ra, lửa bay đến đâu, địa
lôi ở dưới đất nổ tung đến đấy. Trong hang đỏ rực toàn lửa, hơi lém vào áo giáp
mây là cháy. Ngột Đột Cốt và ba vạn quân ôm nhau chết thui cả trong Bàn Xà.
Khổng Minh ngồi trên núi trông xuống,
thấy quân Man bị đốt, kẻ thì co quắp, người thì quằn quại, quá nửa bị pháo đạn
bắn, vỡ đầu, sứt má, xương thì tan tành, chết rụi trong hang, mùi khét lẹt bốc
lên không sao chịu được.
Khổng Minh ứa nước mắt, than rằng:
- Ta tuy có công với nước, nhưng
sẽ chắc tổn thọ!
Tướng sĩ ai lấy đều thương cảm.
Khi ấy Mạnh Hoạch đang ngồi trong
trại, mong đợi tin tức, bỗng thấy hơn nghìn quân Man, reo mừng lạy ở trước trại
nói rằng:
- Quân Ô Qua đánh nhau với quân
Thục to lắm, đang vây được Gia Cát Lượng ở trong hang Bàn Xà, xin mời đại vương
đến tiếp ứng. Chúng tôi là người bản động, bất đắc dĩ phải hàng Thục, nay nghe
đại vương ở đây, nên đến đánh giúp.
Mạnh Hoạch mừng rỡ, lập tức dẫn bọn
tông đảng và quân Phiên kéo đi, sai quân Man đưa đường đến hang Bàn Xà. Gần đến
nơi, thấy lửa sáng rừng rực, Hoạch biết mắc mẹo, vội vàng rút về, thì đã thấy
Trương Ngực, Mã Trung hai mặt đổ ra. Hoạch toan xông vào đánh, bỗng đâu trong
đám quân Man có tiếng reo ầm ầm, té ra trong đám này già nửa là quân Thục, ăn mặc
giả làm quân Man, bắt gọn cả bọn tông đảng và quân Phiên trói lại. Mạnh Hoạch
còn trơ một mình, một ngựa, thoát được ra ngoài, nhằm theo con đường tắt trong
núi mà chạy. Đang chạy, lại gặp một toán quân xúm xít đẩy một cái xe. Trong xe
có một người ngồi chỉnh chệ, đầu đội khăn lượt, tay cầm quạt lông, chính là Khổng
Minh.
Khổng Minh quát lên rằng:
- Phản tặc Mạnh Hoạch, phen này
nghĩ sao?
Hoạch vội quất ngựa chạy. Bên cạnh,
một tướng xông ra chặn đường, té ra là Mã Đại. Hoạch trở tay không kịp bị Đại bắt
sống. Bây giờ, bọn Vương Bình, Trương Dực đã dẫn quân sấn vào trong trại Man, bắt
nàng Chúc Dong và cả nhà Mạnh Hoạch già trẻ lớn bé điệu đi.
Khổng Minh về đến trại, lên trướng
ngồi đâu đấy, rồi bảo các tướng rằng:
- Ta nay bất đắc dĩ phải dùng đến
mẹo này, thực là tổn âm đức. Ta biết giặc đoán ta hay dùng quân mai phục ở
trong rừng rú, nên những chỗ cây cối, ta sai cắm tinh kỳ, cho giặc đâm nghi, thật
ra không có quân mã gì cả. Ta lại sai Ngụy Văn Trường thua luôn mười lăm trận,
cốt để cho giặc vững bụng. Ta thấy trong hang Bàn Xà chỉ có mỗi một lối đi, hai
bên sườn toàn đá, trên không có cây cối gì, dưới thì đất cát. Vì thế sai Mã Đại
đem mười cỗ xe sơn đen, bày ở trong hang, trong xe toàn những quả pháo ta chế sẵn
ở nhà, gọi là địa lôi. Mỗi quả pháo lớn chứa chín cái pháo con, cứ cách ba mươi
bước chôn một quả, dùng ống tre để dẫn thuốc. Pháo nổ ra thì núi phải sạt, đá
phải vỡ. Ta lại sai Triệu Tử Long dự sẵn xe cỏ, cỗ đá, để ngoài cửa. Rồi mới
cho Ngụy Diên dử bọn Ngột Đột Cốt vào cả trong hang, đợi Ngụy Diên ra xong, thì
lấp cửa hang mà đốt. Ta nghe nói “phàm vật gì đã lợi về nước, tất không lợi về
lửa”. Áo giáp mây tuy dao, tên không đâm thấu được, nhưng nó là đồ tẩm dầu, hễ
gặp lửa là cháy. Quân Man ngang ngạnh như thế, phi hỏa công thì đánh làm sao được!
Nhưng để cho người Ô Qua chết hết cả giống, đó thực là tội lớn của ta.
Các tướng bái phục nói:
- Thừa tướng mưu kế, qủy thần
cũng không biết đâu mà lường!
Khổng Minh sai giải Mạnh Hoạch
vào. Hoạch qùy dưới trướng. Khổng Minh sai cởi trói cho Hoạch, dẫn ra chỗ khác
ăn uống cho hoàn hồn. Rồi gọi người bếp vào, dặn nhỏ vài câu, như thế… như thế…
Mạnh Hoạch, Chúc Dong phu nhân, Mạnh
Ưu, Đái Lai động chúa và cả bọn tông đảng đang ăn uống, chợt có một người vào
báo với Mạnh Hoạch rằng:
- Thừa tướng xấu hổ không muốn
trông thấy mặt ông, nên sai tôi đến tha ông về, để thu nhặt quân mã quyết một
trận thắng phụ, ông nên đi ngay.
Mạnh Hoạch khóc, nói:
- Từ xưa đến nay, chưa có ai đánh
giặc, bảy lần bắt được mà bảy lần tha bao giờ. Tôi tuy là người mọi rợ, cũng hiểu
chút đôi chút lễ nghĩa, có đâu mà lại mặt dày mãi thế được!
Nói đoạn dắt díu vợ con, anh em,
họ hàng, cởi trần ra khúm núm vào qùy cả dưới trướng, tạ tội rằng:
- Thừa tướng thực là thiên oai,
người phương nam tôi không dám làm phản nữa!
Khổng Minh nói:
- Ông nay đã chịu rồi à?
Mạnh Hoạch khóc, nói:
- Con con cháu cháu tôi cũng được
đội ơn sinh thành thừa tướng, dám đâu không phục.
Khổng Minh mời Mạnh Hoạch lên trướng,
mở tiệc yến ăn mừng, rồi lại cho làm chúa các động như trước. Lại trả lại cho Mạnh
Hoạch tất cả đất đai đã chiếm được.
Mạnh Hoạch và tông đảng cùng quân
Man, ai nấy đều đội ơn, mừng rỡ, khoa chân múa tay. Đời sau có thơ khen Khổng
Minh rằng:
Mưu mẹo cao sâu, phục chúa Man,
Khe động nay còn nhờ đức trạch,
Nghìn thu hương hỏa đỉnh cao cương.
Quan trưởng sử Phí Vĩ vào can rằng:
- Thừa tướng thân cầm binh mã,
vào sâu đất bất mao này, đã hàng phục được vua Man rồi, sao không đặt quan lại,
để cùng với Mạnh Hoạch cai trị có được không?
Khổng Minh nói:
- Nếu như thế, sẽ có ba điều khó:
một là để quan ở lại, tất phải để quân, quân sẽ không có gì ăn, hai là xứ Man
này tàn phá, chết hại rất nhiều, để quan mà không để quân tất sinh vạ, ba là
người rợ thường giết lẫn nhau, mang lòng ngờ vực, để quan ở lại tất cũng không
tin nhau. Nay ta không phải để người, mà cũng phải vận lương, đôi bên cùng yên ổn,
không rắc rối gì, chẳng hay hơn ư?
Ai cũng chịu là phải. Bởi thế,
quân Man cảm ơn đức, mới lập đền thờ sống Khổng Minh, bốn mùa cúng tế, và gọi
là “Cha hiền”. Ai nấy tranh nhau đem tiền đồ vàng bạc, châu báu, son, sơn, thuốc
men, trâu cày, ngựa chiến, để giúp việc quân nhu và thề không bao giờ làm phản
nữa.
Thế là phương Nam bình xong.
Khổng Minh khao quân đâu đấy, rút
quân về Thục, sai Ngụy Diên dẫn quân bản bộ đi tiên phong. Vừa đến sông Lư Thủy
bỗng dưng mây đen bốn mặt tối sầm lại, gió lạnh nổi lên, cát sỏi bay vù vù,
quân mã không sao tiến được. Ngụy Diên quay trở lại báo với Khổng Minh. Khổng
Minh mời Mạnh Hoạch ra hỏi.
Đó là:
Ma quỷ bên sông lại giở trò
Chưa biết Mạnh Hoạch nói ra làm
sao, xem hồi sau phân giải.
------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét