🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Chiếm Đối Sơn, Hoàng Trung sức nhàn thắng sức mỏi
Giữ Hán Thủy, Triệu Vân quân ít phá quân nhiều
Khổng Minh bảo Hoàng Trung rằng:
- Tướng quân có muốn đi, ta cho
Pháp Chính theo giúp tướng quân, mọi việc phải thương lượng với nhau mà làm. Ta
lại mang thêm quân mã đến sau tiếp ứng.
Hoàng Trung lĩnh mệnh, cùng với
Pháp Chính dẫn quân đi.
Khổng Minh nói với Huyền Đức rằng:
- Lão tướng này không dùng lời
nói khích, thì dẫu đi cũng không thành công. Nay y đi rồi, nên cho quân mã ra
tiếp ứng.
Bèn sai Triệu Vân dẫn một đội
quân đi lẻn con đường nhỏ để tiếp ứng cho Hoàng Trung và dặn rằng:
- Hoàng Trung mà thắng, thì không
phải ra đánh, nhược bằng có thua thì hãy cứu.
Lại sai Lưu Phong, Mạnh Đạt lĩnh
ba nghìn quân, bao nhiêu nơi hiểm yếu trong núi, cắm tinh kỳ cho nhiều, để thêm
mạnh thanh thế quân mình và làm cho giặc phải nghi nghi hoặc hoặc. Ba người
lĩnh quân đi.
Lại sai người ra Hạ Biện, dặn dò
mẹo mựa cho Mã Siêu, sai y cứ thế mà làm.
Lại sai Nghiêm Nhan sang Ba Tây để
giữ ải thế cho Trương Phi, Nguỵ Diên để cho hai người về cùng vào lấy Hán
Trung.
Nói về Trương Cáp, Hạ Hầu Thượng
chạy đến với Hạ Hầu Uyên, nói rằng:
- Núi Thiên Đãng đã mất rồi, Hạ Hầu
Đức, Hàn Hạo lại bị chết. Nay nghe Lưu Bị sắp thân chinh vào lấy Hán Trung, ta
phải phi báo với Nguỵ vương cho mau, để ngài phát tinh binh mãnh tướng đến cứu
ngay mới được.
Hạ Hầu Uyên lập tức sai người báo
với Tào Hồng, Hồng về ngay Hứa Đô bẩm với Tào Tháo. Tháo giật mình, hội cả văn
võ lại thương nghị đem quân cứu Hán Trung. Lưu Hoa tiến lên thưa rằng:
- Nếu để Hán Trung mất, thì Trung
Nguyên ta cũng chấn động cả. Đại vương đừng ngại khó nhọc, phải thân chinh mới
xong.
Tháo phàn nàn rằng:
- Tiếc thay! Khi trước ta không
nghe lời ngươi để đến nỗi có việc thế này!
Mới truyền lệnh khởi bốn mươi vạn
đại quân đi đánh. Lúc này là năm Kiến An thứ hai mươi ba, mùa thu, tháng bảy,
Tháo chia quân làm ba đường: Hạ Hầu Đôn làm tiên phong, Tháo tự lĩnh trung
quân, Tào Hưu làm áp hậu, ba đạo quân lục tục khởi hành.
Tháo cưỡi ngựa trắng, yên vàng,
đai ngọc, áo gấm. Võ sĩ hai bên cầm đôi tán vóc đại hồng. Cờ mao vàng, lưỡi việt
bạc, hèo, trượng, đòng, mâu, tinh kỳ vẽ rồng phượng, nhật nguyệt, lại dùng hai
vạn rưởi quân long hổ đi hộ giá, chia làm năm đội, mỗi đội năm nghìn người,
tinh kỳ, áo, ngựa chiếu theo năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, mỗi đội dùng một
màu lấp lánh chói loà, rất là hùng tráng.
Ra đến cửa ải Đồng Quan, Tháo ngồi
trên ngựa trông mé xa xa thấy có một rặng rừng, cây cối um tùm, mới hỏi tả hữu
rằng:
- Đây là xứ nào đó!
Tả hữu bẩm:
- Đây gọi là Lam Điền. Trong đám
rừng này, có nhà Sái Ung ở đó. Hiện nay có con gái Sái Ung tên là Sái Diệm cùng
với chồng là Đổng Kỷ ở nơi ấy.
Nguyên Tháo vốn quen nhau với Sái
Ung. Con Sái Ung trước là vợ Vệ Đạo Giới. Về sau, nàng ấy bị phương bắc bắt đi,
ở xứ đó sinh được hai con. Nàng đặt ra mười tám khúc kèn rợ Hồ, truyền vào đến
Trung Nguyên. Tháo thấy vậy, thương nàng lắm, mới sai người đem nghìn nén vàng
sang tận phương bắc để chuộc về. Vua rợ Hồ là Tả Hiền vương sợ uy thế Tào Tháo,
phải đưa nàng trả về Hán, Tháo mới đem nàng gả cho Đổng Kỷ.
Hôm ấy, đi qua nhà, lại nhớ đến
Sái Ung, Tháo mới cho quân mã đi trước, còn Tháo thì dẫn hơn trăm kỵ vào chơi.
Bấy giờ Đổng Kỷ đi làm quan, chỉ có vợ ở nhà. Sái Diệm nghe tin Tào Tháo đến, vội
vàng ra nghênh tiếp vào trong nhà. Diệm lạy xong, đứng hầu bên cạnh. Tháo nhác
trông lên tường, thấy một cuốn văn bia ở treo ở đó, Tháo hỏi văn gì thì Sái Diệm
thưa rằng:
- Đây là bài văn bịa thuật chuyện
nàng Tào Nga. Xưa kia, đời vua Hoàng Đế, ở làng Thượng Ngu có một người đồng
bóng, tên là Tào Vu, thường hay múa may lên đồng. Hôm mồng năm tháng năm, Vu
say rượu múa ở trên thuyền, chẳng may ngã xuống sông chết đuối. Con gái người ấy
tên là Tào Nga, bấy giờ mới có mười bốn tuổi, đi quanh bờ sông kêu khóc bảy đêm
ngày, rồi cũng nhảy xuống sông để tìm cha. Được năm hôm, nàng ấy đội thây cha nổi
lên trên mặt nước. Người xứ ấy vớt lên táng ở trên bờ sông. Quan huyện ở đó tên
là Độ Thượng tâu việc ấy lên triều đình khen là con gái có hiếu, sai Hàm Đan
Thuần làm văn khắc vào bia để ghi việc đó. Thuần bấy giờ mới mười ba tuổi, thảo
một mạch bài văn bia, câu nào cũng hay, không ai chữa được một chữ, dựng ở cạnh
mả. Tiếng văn hay dồn đậy xa gần. Cha thiếp là Sái Ung nghe tin cũng đi xem, đến
nơi thì trời tối, mới lấy tay sờ vào từng chữ mà xem. Xem xong, lấy bút viết
tám chữ to vào đằng sau bia, người sau nhân thể khắc cả tám chữ ấy.
Tháo đọc tám chữ đề rằng: “Hoàng
quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cữu”.
Tháo hỏi Sái Diệm rằng:
- Nàng có biết ý tám chữ ấy là thế
nào không?
Diệm nói:
- Tâu đại vương, tám chữ ấy tuy
là cha thiếp để lại, nhưng thiếp thực là không biết ý ra làm sao.
Tháo ngảnh lại hỏi các mưu sĩ,
cũng không ai trả lời được. Bỗng có một người bước ra thưa rằng:
- Tôi hiểu được nghĩa ấy rồi.
Tháo trông ra thì là quan chủ bạ
Dương Tu. Tháo nói:
- Người đừng nói vội, để ta nghĩ
đã!
Bèn từ giã Sái Diệm, dẫn chúng ra
đi. Lên ngựa đi được ba dặm. Tháo sực nghĩ ra, cười bảo Dương Tu rằng:
- Ngươi thử nói đi, xem có hợp ý
với ta không?
Tu thưa rằng:
- Đó là câu ẩn ngữ: Hoàng
quyến nghĩa là sợi tơ có sắc vàng, chữ sắc chắp với chữ ti thì thành
chữ Tuyệt. Ấu phụ nghĩa là con gái nhỏ, con gái nhỏ thì là thiếu
nữ, chữ thiếu chắp với chữ nữ thành chữ Diệu. Ngoại tôn nghĩa
là cháu ngoại, cháu ngoại thì là con người con gái, con gái là chữ nữ tử, chữ nữ
chắp với chữ tử thành chữ Hảo. Tề cữu là cái cối giã hành, chịu
cay là chữ thụ tân, chữ thụ chắp với tân thành ra chữ Từ. Nói tóm lại thì là bốn
chữ “Tuyệt Diệu Hảo Từ” nghĩa là “Lời lẽ hay tuyệt diệu”.
Tháo thất kinh, nói rằng:
- Ngươi nói chính hợp ý ta!
Mọi người đều khen Dương Tu có
tài nhận thức nhanh.
Không bao lâu, Tào Tháo kéo quân
đến Nam Trịnh, Tào Hồng ra tiếp vào, thuật chuyện Trương Cáp bại trận. Tháo
nói:
- Được thua là sự thường, không
phải là tội Trương Cáp.
Tào Hồng nói:
- Hiện nay Lưu Bị sai Hoàng Trung
đánh núi Định Quân. Hạ Hầu Uyên nghe tin đại vương sắp đến, cho nên chưa tiến
quân ra đánh trận nào.
Tháo nói:
- Nếu không ra đánh chẳng hoá ra
mình hèn nhát lắm ru?
Lập tức sai người cầm cờ tiết đến
núi Định Quân, sai Hạ Hầu Uyên ra đánh.
Lưu Hoa can rằng:
- Hạ Hầu Uyên tính cương quá, tôi
e mắc phải mẹo giặc.
Tháo viết một phong thư, cầm tờ
tiết đến dinh Uyên, Uyên vào tiếp, mở thư ra xem, trong thư đại ý nói rằng:
“Phàm làm tướng, có lúc nên cứng,
có lúc nên mềm, nếu chỉ cậy sức khoẻ mình, thì chỉ địch được một người mà thôi.
Nay ta đóng quân đại quân ở Nam Trịnh, muốn xem cái “tài giỏi” của ngươi, chớ
có phụ hai chữ đó mới được”.
Hạ Hầu Uyên xem xong, mừng lắm,
thu xếp cho sứ giả về, rồi bàn với Trương Cáp rằng:
- Nguỵ vương dẫn đại quân đóng ở
Nam Trịnh để đánh Lưu Bị. Ta với ngươi giữ mãi ở đây, thì bao giờ lập được
công? Ngày mai ta ra đánh, quyết bắt kỳ được Hoàng Trung mới nghe!
Trương Cáp nói:
- Hoàng Trung mưu, dũng đủ cả, lại
có Pháp Chính giúp đỡ, không nên khinh địch. Ở đây, đường núi hiểm trở, chỉ nên
giữ vững là hơn.
Uyên nói:
- Nếu để người khác lập được công
lao, thì ta với ngươi còn mặt mũi nào trông thấy Nguỵ vương nữa? Có phải thế
thì ngươi ở nhà giữ núi, để ta ra đánh.
Bèn hạ lệnh rằng:
- Có ai ra tiễu thám để dử địch
không?
Hạ Hầu Thượng nói:
- Tôi xin đi!
Uyên nói:
- Ngươi do thám, có đánh với
Hoàng Trung thì chỉ cần thua, chớ không cần được. Ta đã có diệu kế, cứ làm như
thế, như thế…
Thượng vâng lệnh, dẫn ba nghìn
quân dời khỏi trại lớn trong núi Định Quân đi trước.
Nói về Hoàng Trung, Pháp Chính từ
khi dẫn quân đến đóng ở cửa núi Định Quân, mấy phen đến khiêu chiến, Hạ Hầu
Uyên cứ giữ chặt không ra. Muốn tiến quân lên, thì lại sợ đường núi nguy hiểm,
khó lường được giặc, nên cũng phải đóng quân một chỗ.
Hôm ấy, chợt có tin quân Tào ở
trên núi kéo xuống. Trung toan đem quân ra địch, có nha tướng là Trần Thức nói
rằng:
- Tướng quân chớ nên ra vội, tôi
xin đi trước xem sao.
Trung mừng lắm, cho Trần Thức dẫn
một nghìn quân ra cửa núi bày trận. Hạ Hầu Thượng đến, hai bên đánh nhau chưa đầy
vài hợp, Thượng giả đò thua chạy, Thức đuổi theo. Đi đến nửa đường, bỗng nhiên
hai bên sườn núi, đá gỗ quăng xuống không tiến lên được. Thức đang chực rút về,
thì mé sau Hạ Hầu Uyên đã dẫn quân xông ra. Thức không địch nổi, bị Uyên bắt sống
điệu về trại, nhiều quân sĩ đầu hàng.
Những tên thua chạy trốn được về
báo với Hoàng Trung. Trung lo sợ, bàn với Pháp Chính. Chính nói:
- Uyên tính nóng nảy, cậy khoẻ,
ít mưu. Ta nên khuyên dỗ sĩ tốt, nhổ trại tiến lên, đi đến đâu lập trại đến đấy,
dử Uyên đến đánh mà bắt, đó gọi là mẹo “Phản khách vi chủ”, nghĩa là ta là
khách, mà hoá thành chủ đấy.
Trung nghe kế ấy, nội bao nhiêu đồ
đạc của cải, đem thưởng hết cho ba quân, tiếng quân sĩ reo mừng vang động hang
núi, ai cũng tình nguyện hết sức đánh giặc. Ngày hôm ấy Trung nhổ trại tiến
quân, đi đến đâu lập trại đến đấy, mỗi trại ở vài ngày rồi lại tiến. Uyên nghe
tin, muốn ra đánh. Trương Cáp nói:
- Đó là mẹo “Phản khách vi chủ”,
ta không nên ra đánh, nếu không tất lỡ việc.
Uyên không nghe, sai Hạ Hầu Thượng
dẫn vài ngàn quân kéo đến thẳng trại Hoàng Trung. Trung cưỡi ngựa vác dao ra
đánh, mới một hiệp đã bắt sống ngay được Hạ Hầu Thượng, quân Tào tan chạy về
báo với Hạ Hầu Uyên. Uyên kíp sai người, đến trại Hoàng Trung xin đem Trần Thức
đổi Hạ Hầu Thượng. Trung hẹn đến ngày mai trao đổi ở tại trước trận.
Hôm sau, hai bên ra một chỗ hang
núi rộng rãi, dàn thành trận thế. Hoàng Trung, Hạ Hầu Uyên hai tướng cưỡi ngựa
đứng hai bên cửa trận. Trần Thức, Hạ Hầu Thượng, mỗi người chỉ mặc một cái áo
ngắn, đứng một bên. Một tiếng trống nổi lên, người nào người nấy chạy về trận ấy.
Khi Hạ Hầu Thượng chạy về gần đến nơi, bị Hoàng Trung bắn theo một phát, tin
vào sau lưng, Thượng đeo cả tên mà chạy. Uyên nổi giận, quất ngựa xốc tới đánh
nhau với Hoàng Trung. Trung chỉ cốt trêu tức cho Hạ Hầu Uyên ra đánh nhau, hai
tướng giao phong, được hai hiệp, trong trận Tào bỗng nhiên khua chiêng thu
quân. Uyên vội vàng quay ngựa chạy về, bị Trung thừa thế chém giết một trận.
Uyên về hỏi quan áp trận rằng:
- Làm sao lại khua chiêng?
Đáp rằng:
- Tôi thấy trong hang núi, có cờ
quạt quân Thục phấp phới ở mấy chỗ, sợ có quân mai phục, nên khua chiêng mời tướng
quân về.
Uyên tin lời, bèn giữ vững không
ra nữa.
Hoàng Trung đuổi mãi đến dưới núi
Định Quân, bàn với Pháp Chính, Pháp Chính trỏ tay nói:
- Mé tây núi Định Quân có một quả
núi cao chót vót, bốn mặt toàn là đường hiểm. Đứng trên núi ấy, dòm sang được
núi Định Quân, biết được hư thực. Nếu lấy được núi ấy, thì núi Định Quân như ở
trong tay ta rồi.
Trung ngẩng lên xem, thấy trên đỉnh
núi hơi phẳng phiu, mà số quân giữ ở đó cũng lơ thơ không có mấy. Canh hai đêm
hôm ấy, Hoàng Trung dẫn quân khua trống tiến lên đỉnh núi. Trên núi, bộ tướng của
Hạ Hầu Uyên là Đỗ Tập trấn giữ, chỉ có hơn một trăm quân mã, thấy đại quân
Hoàng Trung ồ ạt kéo lên, phải bỏ chạy, Trung chiếm được núi ấy, đối diện với
núi Định Quân.
Pháp Chính nói:
- Tướng quân nên giữ ở lưng chừng
núi, tôi thì ở trên đỉnh núi; khi Hạ Hầu Uyên mang quân đến, tôi phất lá cờ trắng
làm hiệu, tướng quân đừng đánh vội, đợi lúc quân địch mỏi mệt, tôi phất lá cờ đỏ,
thì tướng quân sẽ dẫn quân xuống núi, thong dong mà đánh kẻ nhọc mệt, tất nhiên
phải được.
Hoàng Trung mừng lắm, nghe theo kế
ấy.
Lại nói Đỗ Tập chạy về ra mắt Hạ
Hầu Uyên, thuật chuyện Hoàng Trung cướp mất Đối Sơn. Uyên nổi giận, nói:
- Hoàng Trung chiếm mất Đối Sơn,
ta không ra không xong!
Trương Cáp can rằng:
- Đó là mẹo Pháp Chính, tướng
quân chớ nên ra đánh, chỉ giữ vững là hơn.
Uyên nói:
- Y chiếm mất Đối Sơn, dòm xem biết
hết được hư thực của ta, không đánh sao được?
Cáp cố can mãi không được. Uyên
chia quân kéo đến vây kín núi Đối Sơn, chửi mắng thách đánh. Pháp Chính ở trên
núi, kéo lá cờ trắng, tha hồ cho Hạ Hầu Uyên sỉ nhục, Hoàng Trung nhất định
không xuống. Đến quá trưa Pháp Chính thấy quân Tào đã mỏi mệt, trễ nải, nhuệ
khí đã nhụt, mới phất cờ đỏ lên, rồi thì tiếng trống, tiếng tù và, tiếng hò reo
ầm ĩ, Hoàng Trung tế ngựa xuống trước, đại quân kéo ùa theo sau, như trời long
đất lở. Hạ Hầu Uyên chưa kịp trở tay, Hoàng Trung đã sấn đến trước mặt, quát to
một tiếng như sét đánh. Uyên toan đón đỡ thì lưỡi đao của Trung đã phập xuống từ
đầu đến vai, xả Uyên ra làm hai mảnh.
Đời sau có thơ khen Hoàng Trung rằng:
Tóc bạc sinh vai thần.
Cung bắn, tên bay vút,
Đao khoa, tuyết trắng ngần.
Hổ gầm, người thét tiếng,
Rồng vọt, ngựa bốn chân.
Mở cõi dâng đầu giặc,
Công to đại tướng quân.
Hoàng Trung chém xong Hạ Hầu
Uyên, quân Tào vỡ lở, ai nấy tìm đường chạy trốn. Hoàng Trung thừa thế đánh dấn
đến núi Định Quân, Trương Cáp dẫn quân nghênh địch. Trung và Trần Thức hai mặt
đánh dồn lại. Trương Cáp phải chạy. Bỗng đâu, bên cạnh núi có một toán quân mã
xông ra chặn mất đường, một viên đại tướng đi đầu quát lên rằng:
- Thường Sơn Triệu Tử Long ở đây!
Trương Cáp giật mình, dẫn quân
theo đường chạy về núi Định Quân. Bỗng lại gặp một toán quân ở mé trước chạy lại,
té ra là Đỗ Tập.
Tập nói:
- Núi Định Quân đã bị Lưu Phong,
Mạnh Đạt cướp mất rồi!
Cáp giật mình, mới cùng với Đỗ Tập
kéo nhau về Hán Thuỷ đóng trại và cho người về báo với Tào Tháo.
Tháo nghe tin Hạ Hầu Uyên chết,
khóc ầm cả lên, bấy giờ mới nghiệm lời Quản Lộ khi trước: “Ba tám tung hoành”,
nghĩa là năm Kiến An thứ hai mươi bốn. “Lợn vàng đạp hổ”, nghĩa là tháng giêng
(dần là hổ) năm Kỷ Hợi (hợi là lợn). “Mé nam Định Quân”, nghĩa là mé nam núi Định
Quân. “Gãy một cánh tay”, nghĩa là Uyên, anh em với Tào Tháo, bị hại.
Tháo cho người đi tìm Quản Lộ,
nhưng không biết đã đi phương nào rồi.
Tháo căm Hoàng Trung vô cùng, lập
tức sai Từ Hoảng làm tiên phong, đem đại quân đến núi Định Quân, đánh báo thù
cho Hạ Hầu Uyên. Tháo đi đến Hán Thuỷ, Trương Cáp, Đỗ Tập ra tiếp vào trại.
Hai tướng nói:
- Núi Định Quân đã mất rồi, nên
chuyển lương thảo ở núi Mễ Thương sang chứa vào trại Bắc Sơn, sau sẽ tiến quân.
Tháo nghe lời ấy.
Lại nói Hoàng Trung chém chết Hạ
Hầu Uyên, mang đầu về cửa Hà Manh, dâng Huyền Đức để lĩnh thưởng. Huyền Đức mừng
lắm, gia phong cho Hoàng Trung làm Chinh tây đại tướng quân, mở tiệc ăn mừng.
Chợt có nha tướng là Trương Trứ
báo rằng:
- Tào Tháo dẫn hai mươi vạn đại
quân, đến đánh báo thù cho Hạ Hầu Uyên. Hiện nay Trương Cáp đang vận lương ở
núi Mễ Thương sang chứa ở Bắc Sơn, cạnh sông Hán Thuỷ.
Khổng Minh nói:
- Tào Tháo dẫn đại quân đến đây,
có ý sợ lương thảo không đủ dùng, cho nên dùng dằng chưa dám tiến vội. Nếu ta
được một người, lẻn vào đốt sạch lương thảo thì nhuệ khí của hắn tất phải nhụt.
Hoàng Trung nói:
- Lão phu lại xin cáng đáng việc ấy.
Khổng Minh nói:
- Tào Tháo không phải như Hạ Hầu
Uyên, không nên khinh thường!
Huyền Đức nói:
- Hạ Hầu Uyên, tuy là tổng suý,
chẳng qua chỉ là một gã dũng phu, bằng sao được Trương Cáp. Nếu chém được
Trương Cáp, thì hơn gấp mười Hạ Hầu Uyên!
Hoàng Trung hăng hái lên, nói rằng:
- Tôi xin đi cho!
Khổng Minh nói:
- Ngươi nên cùng với Triệu Tử
Long mỗi người lĩnh một cánh quân đi, phàm việc gì cũng phải bàn với nhau mà
làm, xem ai lập được công!
Trung lĩnh lệnh. Khổng Minh sai
Trương Trứ làm phó tướng đi theo.
Triệu Vân nói với Hoàng Trung rằng:
- Nay Tào Tháo dẫn hai mươi vạn đại
quân, đóng dàn ra mười trại. Trước mặt chúa công, tướng quân đã tình nguyện đi
cướp lương, không phải việc dễ dàng đâu. Tướng quân dùng mẹo gì cho được.
Trung nói:
- Hãy để tôi đi trước xem sao đã!
Vân nói:
- Để tôi đi trước cho!
Trung nói:
- Tôi là chủ tướng, ông là phó tướng,
sao lại tranh đi trước?
Vân nói:
- Tôi với ông cùng là một bọn ra
sức giúp chúa công, lọ là phải suy bì hơn kém? Hai chúng ta nên rút thẻ, ai rút
trúng thì đi trước.
Trung ưng lời rút thẻ, Trung lại
rút trúng, được đi trước.
Vân nói:
- Tướng quân đã đi trước, tôi xin
giúp đỡ. Nên hẹn giờ khắc cho đúng. Nếu đúng giờ mà về, thì tôi không phải đi;
nhược bằng đến giờ mà không về, thì tôi sẽ lập tức đem quân đi tiếp ứng.
Trung nói:
- Ông nói phải lắm! Tôi xin hẹn
đúng giờ ngọ.
Vân về trại, bảo với bộ tướng là
Trương Dực rằng:
- Hoàng Hán Thăng hẹn với ta đến
ngày mai đi cướp lương, đến giờ ngọ mà không về, thì ta phải đi cứu. Trại ta ở
gần sông Hán Thuỷ, địa thế nguy hiểm lắm. Nếu ta đi ngươi ở nhà phải giữ cho cẩn
thận, chớ có khinh động.
Lại nói, Hoàng Trung về đến trại,
dặn phó tướng là Trương Trứ rằng:
- Ta chém Hạ Hầu Uyên khiến
Trương Cáp mất vía. Ngày mai ta phụng mệnh ra cướp lương thảo, chỉ để năm trăm
quân ở nhà giữ trại, ngươi phải đi giúp ta. Canh ba đêm nay, cho quân ăn uống
no nê, canh tư rời trại, kéo đến dưới núi Bắc Sơn, giết Trương Cáp trước rồi sẽ
cướp lương.
Trương Trứ vâng lệnh.
Đêm hôm ấy, Hoàng Trung dẫn quân
đi trước. Trương Trứ đi sau, lẻn qua sông Hán Thuỷ, đến thẳng dưới núi Bắc Sơn,
bấy giờ vầng đông mới mọc.
Trung trông thấy lương thảo chồng
chất như núi, chỉ thấy một ít quân sĩ coi giữ. Quân canh thấy quân Thục kéo đến,
ù té bỏ chạy cả. Hoàng Trung truyền cho kỵ binh nhất tề xuống ngựa, lấy cỏ chất
lên đống thóc gạo, sắp sửa phóng hoả, thì quân Trương Cáp kéo đến. Hai bên đánh
nhau ồ ạt. Tào Tháo nghe tin, kíp sai Từ Hoảng đến tiếp ứng. Hoảng dẫn quân đến
vây chặt Hoàng Trung vào giữa. Trương Trứ dẫn ba trăm quân chạy thoát đang định
trở về trại, bỗng có một toán quân kéo ra, quân Tào lại ồ đến, vây nốt Trương
Trứ.
Lại nói Triệu Vân ở nhà, trông chừng
đến giờ ngọ, không thấy Hoàng Trung về, vội vàng nai nịt lên ngựa, dẫn ba nghìn
quân đi tiếp ứng. Khi đi Vân lại dặn Trương Dực rằng:
- Ngươi ở nhà phải giữ trại cho vững,
hai bên đầu trại phục sẵn cung nỏ cho nhiều để phòng bị.
Trương Dực dạ dạ vâng lệnh.
Vân cầm thương, tế ngựa nhằm phía
trước thẳng tiến. Đang đi gặp một tướng chặn đường, tên là Mộ Dung Liệt, bộ tướng
của Văn Sính. Mộ Dung Liệt vỗ ngựa múa đao đón đánh Triệu Vân, bị Vân đâm một
thương bỏ mạng. Quân Tào tan chạy cả.
Vân đánh tràn vào vòng vây, lại gặp
toán quân của tướng Nguỵ là Tiêu Bính chặn đường. Vân quát lên hỏi rằng:
- Quân Thục ở cả đâu?
Bính đáp:
- Giết sạch cả rồi!
Vân nổi giận, tế ngựa lại đánh,
chỉ một thương lại đâm chết Tiêu Bính, phá tan quân Tào, đến thẳng chân núi Bắc
Sơn, thấy Trương Cáp, Từ Hoảng đang vây đánh Hoàng Trung, quân sĩ bị vây đã
lâu, nguy cấp lắm. Vân reo lên một tiếng, múa thương tế ngựa, đánh thốc vào
trong vòng vây, xông xáo như vào chỗ không người. Một ngọn thương của Vân múa,
khi lên khi xuống, lấp loáng như cánh hoa lê bay, lộn trước lộn sau, tơi bời
như hạt mưa tuyết toả. Từ Hoảng, Trương Cáp rụng rời mất vía, không dám ra địch.
Vân cứu được Hoàng Trung, vừa đánh vừa chạy, đi đến đâu quân giặc giạt ra đến đấy.
Tào Tháo ở trên núi cao trông thấy,
sợ hãi hỏi các tướng rằng:
- Tướng ấy là ai thế?
Có người biết, bẩm rằng:
- Đó là Triệu Tử Long ở Thường
Sơn!
Tháo nói:
- Anh hùng ở Đương Dương Trường Bản
khi trước hãy còn đó!
Lập tức truyền lệnh rằng:
- Hễ Tử Long đi đến đâu, không được
khinh địch.
Triệu Vân cứu được Hoàng Trung ra
khỏi trùng vây, có quân sĩ trỏ bảo rằng:
- Bên mé đông nam có đám quân vây
đặc lắm, hẳn là phó tướng Trương Trứ thôi.
Vân không về trại, đánh luôn sang
mé đông nam. Vân đến đâu, ai trông thấy cờ hiệu có bốn chữ “Thường Sơn Triệu
Vân” cũng nhớ lại trận Đương Dương Trường Bản, biết là anh hùng vô địch. Một
truyền mười, mười truyền trăm, cho nên Vân đi đến chỗ nào, quân tướng Tào trốn
tránh đến đấy. Vân lại cứu nốt được Trương Trứ.
Tào Tháo thấy Triệu Vân xông xáo
ngược xuôi, đi đến đâu giạt ra đến đấy, cứu được cả Hoàng Trung lẫn Trương Trứ,
bỗng nổi giận đùng đùng, lập tức dẫn quân theo thì Triệu Vân đã về đến trại rồi.
Trương Dực ra đón, trông thấy mé sau bụi bay mù mịt, biết là quân Tào đuổi
theo, liền nói với Vân rằng:
- Quân Tào đuổi gần đến nơi, nên
cho đóng chặt cửa trại, lên địch lâu để phòng thủ.
Vân quát rằng:
- Không được đóng cửa trại! Ngươi
không biết khi trước ta đánh nhau ở trận Đương Dương Trường Bản đó à? Ta chỉ một
thương một ngựa, coi tám mươi vạn quân Tào như cỏ rác. Nay ta có tướng lại có
quân, còn sợ gì nữa!
Bèn sai các tay cung nỏ, phục cả
hai bên hào sâu ngoài trại, ngả cờ im trống. Vân thì cưỡi ngựa cầm thương, một
mình đứng ngoài cửa trại.
Trương Cáp. Từ Hoảng mang quân đuổi
đến trại Thục, lúc ấy đã về chiều. Hai tướng thấy trong trại ngả cờ im trống,
quân sĩ vắng teo, chỉ có Triệu Vân một ngựa một thương đứng trước, cửa trại mở
toang. Hai tướng không dám tiến lên. Còn đang lưỡng lự thì Tào Tháo cũng dẫn
quân vừa đến, thúc quân xông tới. Quân sĩ reo ầm một tiếng, rồi kéo thốc cả đến
trước trại, thấy Vân vẫn đứng nghiễm nhiên không động đậy chút nào. Quân Tào
bèn quay trở về. Vân cầm thương vẫy một cái, cung nỏ hai bên bắn ra như mưa. Trời
thì đã mờ mờ tối, lại không biết quân Thục nhiều hay ít, Tào Tháo bèn quay đầu
ngựa chạy trước. Thấy sau lưng tiếng người reo, trống đánh, và rúc ầm ĩ, biết
quân Thục đến, quân Tào chen lấn nhau chạy ùa đến sông Hán Thuỷ, lăn xuống
sông, chết hại không biết bao nhiêu mà kể.
Triệu Vân, Hoàng Trung, Trương Trứ,
mỗi người dẫn một đạo quân đuổi theo đánh ráo riết. Tháo đang chạy thì Lưu
Phong, Mạnh Đạt dẫn hai đạo quân từ núi Mễ Thương đánh lại, phóng hoả đốt sạch
cả lương thảo. Tháo phải bỏ Bắc Sơn chạy về Nam Trịnh, Trương Cáp, Từ Hoảng
cùng bỏ trại, chạy nốt. Triệu Vân chiếm được trại Tào, Hoàng Trung cướp được hết
lương thảo sông Hán Thuỷ, và bắt được khí giới rất nhiều, thắng một trận lớn,
sai người về báo tin với Huyền Đức.
Huyền Đức cùng Khổng Minh đến Hán
Thuỷ, hỏi Triệu Vân đánh trận ra làm sao, quân sĩ thuật lại chuyện Triệu Vân cứu
Hoàng Trung đuổi Tào Tháo. Huyền Đức mừng lắm, dạo xem tất cả những chỗ hiểm yếu
trước sau núi, rồi hớn hở báo Khổng Minh rằng:
- Toàn thân Tử Long đều là đảm cả!
Người sau có thơ khen rằng:
Oai phong vẫn chưa giảm
Xông trận tỏ hùng tài
Phá vây, khoe dũng cảm
Quỷ khiếp thần cũng kinh
Trời sầu đất lại thảm
Thường Sơn Triệu Tử Long
Một thân toàn là đảm!
Từ đó, Huyền Đức gọi là Tử Long
là Hổ oai tướng quân, mở tiệc ăn mừng, khao tướng sĩ, ăn uống vui vẻ mãi đến
khuya. Chợt có tin lại báo rằng:
- Tào Tháo sai đại quân từ con đường
nhỏ hang Tà Cốc tiến đến cướp lại Hán Thuỷ.
Huyền Đức cười, nói rằng:
- Chuyến này Tào Tháo đến đây,
cũng chẳng làm trò gì! Ta chắc phen này lấy xong Hán Thuỷ.
Bèn dẫn quân sang mé tây Hán Thuỷ
chống nhau với Tào Tháo.
Tào Tháo sai Từ Hoảng làm tiên
phong, đi trước quyết chiến. Một người tiến ra nói rằng:
- Tôi thuộc hết cả địa lý xứ này,
xin theo giúp tướng quân để phá quân Thục.
Tháo trông xem thì là người ở
Nham Cừ, quận Ba Tây, họ Vương tên là Bình, tự Tử Quân, hiện làm nha môn tướng.
Tháo mừng rỡ, cho Vương Bình làm phó tiên phong cùng đi với Từ Hoảng.
Tháo đóng quân ở mé bắc núi Định
Quân. Từ Hoảng, Vương Bình kéo đến Hán Thuỷ, sai tiến quân sang qua sông dàn trận,
Bình nói:
- Quân sang sông dàn trận, ngộ phải
chạy gấp thì làm thế nào?
Hoảng nói:
- Ngày xưa Hàn Tín bày trận quay
lưng xuống sông, gọi là “đặt vào chỗ chết rồi mới sống” là thế.
Bình nói:
- Ngày xưa Hàn Tín biết quân giặc
vô mưu mới dùng mẹo ấy. Nay tướng quân đã đoán được ý Triệu Vân, Hoàng Trung
chưa?
Hoảng nói:
- Ngươi cứ việc dẫn bộ quân chống
cự, để ta đem mã quân sang sông phá giặc cho mà xem.
Liền sai bắc cầu phao, kéo quân
sang bên kia sông, đánh nhau với quân Thục.
Thế là:
Tướng Xuyên biết kế Tử Phòng hay
Chưa biết hai bên đánh nhau làm
sao, xem đến hồi sau sẽ hiểu.
Tào A Man thu quân về Tà Cốc
Lại nói Từ Hoảng dẫn quân sang
Hán Thuỷ, Vương Bình can thế nào cũng không nghe. Hoảng qua bờ bên kia đóng trại.
Hoàng Trung, Triệu Vân xin với
Huyền Đức ra đánh quân Tào. Huyền Đức bằng lòng. Hai người dẫn quân đi. Trung
báo với Triệu Vân rằng:
- Từ Hoảng cậy sức khoẻ đến đây,
ta không nên đánh vội. Đợi đến chiều tối, quân hắn mỏi mệt chúng ta sẽ chia làm
hai đường ra đánh.
Vân theo lời, mỗi người dẫn một đội
quân giữ vững dinh trại.
Từ Hoảng dẫn quân đến trại Thục
khiêu chiến, từ sáng đến tối, không thấy quân Thục ra. Hoảng bèn sai tay cung nỏ
chĩa cả vào trại Thục mà bắn.
Hoàng Trung bảo Triệu Vân rằng:
- Từ Hoảng sai quân bắn vào, tất
có ý muốn rút lui, ta nên thừa thế ra đánh đi thôi.
Trung nói chưa dứt lời, quả nhiên
thấy hậu quân Từ Hoảng đã rục rịch quay về. Trong trại Thục bấy giờ mới nổi trống,
Hoàng Trung kéo quân ra mặt tả. Triệu Vân kéo quân ra mặt hữu. Hai bên đánh ập
lại. Từ Hoảng liều chết đánh giết, mới chạy thoát về được trại, trách mắng
Vương Bình rằng:
- Mày thấy quân tao nguy cấp, làm
sao không đến cứu?
Bình nói:
- Nếu tôi đến cứu, thì trại này
cũng không giữ được. Tôi đã can ông mãi, nhưng ông không nghe, mới đến nỗi thua
như thế này.
Hoảng giận lắm, muốn giết Vương
Bình. Đêm hôm ấy Bình phóng hoả đốt trại. Quân Tào rối loạn. Từ Hoảng bỏ chạy.
Vương Bình dẫn quân bản bộ sang sông, theo hàng Triệu Vân. Vân dẫn vào ra mắt
Huyền Đức, Bình nói địa lý Hán Thuỷ tường tận lắm. Huyền Đức mừng, nói rằng:
- Ta được Vương Tử Quân, tất lấy
xong Hán Thuỷ!
Lập tức cho Vương Bình làm thiên
tướng quân, lĩnh chức hướng đạo.
Lại nói Từ Hoảng về ra mắt Tào
Tháo, kể chuyện Vương Bình làm phản, đầu hàng Lưu Bị. Tháo giận lắm, tự dẫn đại
quân đến cướp trại Hán Thuỷ. Triệu Vân sợ ít quân, không địch nổi, liền rút về
mé tây sông Hán Thuỷ. Hai bên cách sông cự nhau.
Huyền Đức, Khổng Minh lại xem địa
thế. Khổng Minh thấy mé trên sông, có một dãy núi đất có thể mai phục hàng ngàn
quân, bèn về trại Triệu Vân rằng:
- Ngươi nên lĩnh năm trăm quân,
phục ở chân núi. Bất kỳ nửa đêm, hoặc chiều tối, hễ nghe thấy trong trại ta nổ
pháo hiệu lúc nào thì cho quân đánh trống, rúc tù và lên lúc ấy, nhưng không cần
ra đánh.
Triệu Vân lĩnh kế đi ngay.
Hôm sau, quân Tào đến khiêu chiến.
Trong trại Thục không có một người nào ra, cung nỏ không bắn một phát. Quân Tào
phải quay về. Canh khuya đêm hôm ấy, Khổng Minh thấy đèn lửa trong trại Tào đã
tắt, quân sĩ đi nghỉ cả rồi, liền nổi một hiệu pháo lệnh. Tử Long nghe thấy,
bèn sai quân sĩ đánh trống, rúc tù và ầm ĩ cả lên. Quân Tào kinh hoảng, tưởng
là giặc đến cướp trại, chạy ra xem thì không thấy một người nào nhưng vừa trở
vào định ngủ thì tiếng pháo lại nổ, tù và, trống đánh ầm ĩ, tiếng reo vang động
cả hang núi. Quân Tào thức suốt đêm không dám ngủ. Luôn ba hôm cũng như thế,
Tào Tháo hoảng sợ, nhổ trại rút lui ba mươi dặm, tìm chỗ rộng rãi đóng doanh trại.
Khổng Minh cười nói rằng:
- Tào Tháo tuy rằng cũng biết
binh thư, nhưng chưa biết quỷ kế.
Bèn mời Huyền Đức sang sông, hạ
trại quay lưng xuống nước.
Huyền Đức hỏi mẹo làm sao. Khổng
Minh nói nên làm như thế, như thế…
Tào Tháo thấy Huyền Đức cắm trại
quay lưng về phía bờ sông, trong bụng nghi hoặc, sai người đưa chiến thư đến.
Khổng Minh phê vào thư nói ngày mai quyết đánh nhau.
Hôm nay, quân hai bên hội nhau ở
chỗ ngã năm trước núi Ngũ Giới, dàn thành thế trận. Tháo cưỡi ngựa đứng dưới cửa
cờ, hai bên cắm hàng cờ long phượng; dứt ba hồi trống, Tháo mời Huyền Đức ra
nói chuyện. Huyền Đức dẫn Lưu Phong, Mạnh Đạt và các tướng Xuyên kéo ra.
Tháo trỏ roi mắng lớn rằng:
- Lưu Bị! Mày là thằng quên ơn
trái nghĩa, phản nghịch triều đình.
Huyền Đức mắng giả lại rằng:
- Tao là tôn thân nhà Hán, phụng
chiếu đánh giặc. Mày giết mẫu hậu, tự lập làm vương, tiếm dùng đồ loan giá của
thiên tử, thế không phải phản nghịch là gì?
Tháo giận, sai Từ Hoảng ra đánh.
Bên kia Lưu Phong ra địch. Trong khi đang đánh nhau, Huyền Đức chạy trước vào
trận. Lưu Phong địch không nổi Từ Hoảng, cũng chạy nốt.
Tháo hạ lệnh rằng:
- Hễ ai bắt được Lưu Bị, thì cho
làm chủ Tây Xuyên!
Các tướng được lệnh, reo ầm cả
lên, kéo tràn đuổi đánh. Quân Thục trông về phía Hán Thuỷ mà chạy, bỏ hết cả
dinh trại; ngựa nghẽo, khí giới, vứt khắp dọc đường. Quân Tào tranh nhau lại cướp.
Tháo vội vàng sai khua chiêng thu quân. Các tướng hỏi:
- Chúng tôi đang đuổi bắt Lưu Bị,
sao đại vương lại thu quân ngay?
Tháo nói:
- Ta thấy quân Thục dựa bờ sông lập
trại, đã lấy làm nghi. Nay lại thấy bỏ ngựa và đồ khí giới, lại càng nghi nữa.
Nên rút quân về cho mau, không ai được lấy một tý gì.
Liền hạ lệnh rằng:
- Hễ ai lấy một vật gì thì chém lập
tức, phải rút quân về cho mau!
Khi quân Tào Tháo vừa rút về, Khổng
Minh phất lá cờ hiệu tức thì Huyền Đức ở giữa xông lại, Hoàng Trung ở mé tả kéo
ra, Triệu Vân ở mé hữu trổ đến. Ba mặt dồn lại, quân Tào Tháo bỏ chạy như ong vỡ
tổ.
Khổng Minh thúc quân đuổi đánh cả
đêm. Tháo truyền rút quân về Nam Trịnh. Nhưng chưa đến nơi đã thấy có bốn năm
chỗ lửa cháy. Nguyên là Trương Phi, Nguỵ Diên được Nghiêm Nhan đến thay giữ
Lãng Trung, đã chia quân làm hai ngả đánh đến, cướp luôn Nam Trịnh rồi. Tháo rụng
rời hết vía, phải chạy về cửa ải Dương Bình. Huyền Đức dẫn đại quân đuổi tràn
mãi đến Nam Trịnh, Bao Châu, uý lạo nhân dân đâu đấy, rồi hỏi Khổng Minh rằng:
- Tào Tháo chuyến này đến đây,
sao mà chóng thua làm vậy?
Khổng Minh đáp:
- Tào Tháo thường có tính đa
nghi, tuy biết dùng binh, nhưng đa nghi thì hay thua, ta dùng nghi binh cho nên
được.
Huyền Đức nói:
- Tào Tháo nay rút quân về giữ cửa
Dương Bình, thế hắn đã nguy lắm. Tiên sinh có mẹo gì để đánh lui được Tháo?
Khổng Minh nói:
- Tôi đã tính đâu vào đấy cả rồi!
Liền sai Trương Phi, Nguỵ Diên
chia quân làm hai đường, đi chặn lối vận lương của Tào Tháo. Lại sai Hoàng
Trung, Triệu Vân chia quân ra đốt những đường rừng núi. Bốn cánh quân đều mang
theo người hướng đạo kéo đi.
Lại nói, Tào Tháo lui về giữ ải
Dương Bình, sai người đi thám xem quân Thục động tĩnh ra làm sao. Quân về báo rằng:
- Hiện nay quân Thục chen lấp hết
các đường nhỏ xa gần, các chỗ kiếm củi đều đốt sạch, mà quân giặc thì không thấy
đâu cả.
Tháo đang nghi hoặc, chợt lại có
tin về báo rằng:
- Trương Phi, Nguỵ Diên chia quân
đến đánh.
Tháo hỏi rằng:
- Có ai dám ra địch Trương Phi
không?
Hứa Chử dạ một tiếng xin đi. Tháo
cho Hứa Chử dẫn một nghìn tinh binh ra con đường ngoài cửa Dương Bình để hộ tiếp
lương thảo. Quan giải lương ra tiếp Hứa Chử, mừng nói rằng:
- Nếu không có tướng quân đến
đây, thì lương thảo khó lòng đến được ải Dương Bình!
Liền đem rượu thịt ra mời Hứa Chử
ăn uống. Chử uống rượu say, thúc xe lương cứ việc đi. Quan giải lương bẩm rằng:
- Hôm nay trời đã tối, mé trước
qua Bao Châu, địa thế hiểm ác lắm, không nên đi vội.
Chử nói:
- Ta có sức khoẻ địch muôn người,
sợ cóc gì ai! Đêm nay nhân có sáng trăng, cứ việc tải lương đi, càng thú!
Chử đi đầu, cầm đao cưỡi ngựa dẫn
quân kéo đi. Cuối canh hai, đến đường Bao Châu, bỗng đâu ở hang núi trống đánh
vang trời, có một toán quân kéo ra chặn đường. Đại tướng đi đầu là Trương Phi.
Phi khua mâu giật ngựa đâm Hứa Chử, Chử múa đao đón đánh, nhưng vì còn say rượu,
không địch nổi Trương Phi. Đánh chưa được vài hiệp Phi đâm một nhát mâu trúng
vào vai Hứa Chử lăn xuống ngựa. Các tướng đổ lại cứu Chử dậy rồi chạy. Trương
Phi ra sức cướp hết lương thảo đem về.
Lại nói các tướng đem Hứa Chử ra
xem mắt Tào Tháo, Tháo một mặt sai thầy thuốc đến điều trị, một mặt tự dẫn binh
đến quyết chiến với quân Thục. Huyền Đức đem quân ra địch. Hai bên dàn trận,
Huyền Đức sai Lưu Phong ra ngựa. Tháo mắng rằng:
- Quân bán dép kia! Mày sai con
nuôi mày ra chống cự, nếu tao gọi thằng bé râu vàng nhà tao đến thì con mày thịt
nát ra cám!
Lưu Phong giận lắm, vác đao tế ngựa
xông thẳng vào đánh Tào Tháo. Tháo sai Từ Hoảng ra địch. Đánh vài hiệp, Phong
giả thua chạy, Tháo dẫn quân đuổi theo. Trong trại Thục bốn mặt đều nổi hiệu trống,
rồi thì trống đánh còi rúc rầm rĩ. Tháo sợ có quân phục, vội vàng rút lui. Quân
Tào giày xéo lẫn nhau chết vô số, chạy mãi về đến ải Dương Bình mới dám nghỉ.
Quân Thục đuổi đến dưới ải, cửa
đông đốt lửa, cửa tây hò reo, cửa nam đốt lửa, cửa bắc đánh trống. Tháo rợn lắm,
phải bỏ cửa ải mà chạy. Quân Thục đuổi theo đánh giết, Tháo đang chạy thì thấy
Trương Phi dẫn quân chặn mé trước mắt, Triệu Vân dẫn quân đuổi mé sau lưng;
Hoàng Trung lại từ con đường Bao Châu đánh đến. Tháo thua to. Các tướng cố chết
bảo hộ Tào Tháo, cướp đường mà chạy. Tháo chạy vừa đến cửa hang Tà Cốc, thì mé
trước bụi bay mù mịt, một toán quân mã kéo lại.
Tháo nói:
- Nếu toán này là phục binh thì
ta chết mất thôi!
Khi gần đến thì té ra là Tào
Chương, con thứ hai của Tào Tháo.
Chương tên tự là Tử Văn, thuở nhỏ
đã tài nghề bắn cung cưỡi ngựa, có sức khoẻ hơn người, thường tay không mà đánh
chết được giống mãnh thú.
Tháo thường răn bảo rằng:
- Mày không chịu học hành, chỉ
hay chơi nghề cung ngựa, thế gọi là đồ dũng phu, quý báu cái gì?
Chương thưa rằng:
- Đại trượng phu nên bắt trước Vệ
Thanh, Hoắc Khứ Bệnh[1], lập công tại nơi sa mạc, cầm vài chục quân,
tung hoành trong thiên hạ, thế mới phỉ chí, chớ làm một chức bác sĩ thì ra cái
gì!
Tháo thường hay hỏi chí khí các
con xem thế nào. Chương thưa rằng:
- Con chỉ muốn làm tướng!
Tháo hỏi:
- Cách làm tướng thế nào?
Chương nói:
- Mặc áo giáp, cầm binh khí, gặp
nạn không quản gì đến thân, phải làm gương cho quân sĩ, thưởng phạt phân minh,
không hề thiên lệch.
Tháo cười ha hả.
Năm Kiến An thứ 23 ở Đại Quận có
rợ Ô Hoàn làm phản. Tháo sai Chương mang năm vạn quân ra đánh. Lúc Chương khởi
hành, Tháo dặn rằng:
- Ở nhà là tình cha con, ra nhận
việc thì là đạo vua tôi. Pháp luật không có nể gì tình, mày phải giữ gìn mới được.
Chương đến Đại Bắc, dấn mình xông
pha vào đám trận mạc, phá tan quân giặc, đuổi chúng mãi đến xứ Tang Kiền, dẹp
yên phương bắc. Nay nghe tin Tào Tháo thua trận ở cửa Dương Bình, nên dẫn quân
đến đánh giúp.
Tháo thấy Chương đến, mừng lắm
nói rằng:
- Thằng bé râu vàng nhà ta đã đến
đây, tất phá được Lưu Bị.
Liền quay binh lại, lập trại ở cửa
hang Tà Cốc. Có người báo tin với Huyền Đức, Huyền Đức hỏi:
- Ai dám ra địch Tào Chương?
Lưu Phong xin đi. Mạnh Đạt cũng
xin đi. Huyền Đức nói:
- Hai người cùng ra, xem ai lập
được công?
Hai tướng dẫn năm nghìn quân đi,
Lưu Phong đi trước, Mạnh Đạt theo sau, Tào Chương xông ra giao chiến với Lưu
Phong, mới được ba hiệp, Phong thua to, bỏ chạy. Mạnh Đạt kéo quân đến, sắp sửa
ra đánh, thì thấy quân Tào rối loạn. Té ra hai cánh quân của Mã Siêu và Ngô Lan
vừa đánh đến nơi. Quân sĩ của Mã Siêu dưỡng sức đã lâu, nay được dịp diễu võ
dương oai, không ai địch nổi. Quân Tào thua chạy.
Tào Chương gặp ngay Ngô Lan, hai
bên giao chiến chưa được vài hiệp, Chương đâm Lan một nhát kích ngã ngựa. Ba đội
quân xô xát một hồi, Tháo thu quân về đóng ở cửa hang Tà Cốc.
Tào Tháo đóng giữ ở đó lâu ngày,
muốn tiến quân lại bị Mã Siêu chống cự hăng lắm, muốn rút quân về, thì lại sợ
người Thục chê cười, trong bụng dùng dằng, chưa quyết bề nào. Một bữa, người
nhà bếp dâng bát canh gà, Tháo nhìn trong bát có cái gân gà, sực nhớ đến chuyện
mình, lại ngán cả ruột. Giữa lúc ấy, Hạ Hầu Đôn vào trướng, bẩm hỏi khẩu lệnh
ban đêm, Tháo buột miệng nói ngay rằng: “Kê cân! Kê cân”[2] Đôn
truyền cho quan quân đều nhận khẩu lệnh đêm ấy là “Kê cân”.
Quan hành quân chủ bộ là Dương Tu
thấy truyền hai chữ “Kê cân”, liền cho quân mình thu xếp đồ hành trang để trở về.
Có người báo với Hạ Hầu Đôn, Đôn giật mình, cho mời Dương Tu đến trướng hỏi rằng:
- Làm sao ông dám cho quân thu xếp
đồ đạc để về?
Tu đáp:
- Cứ xem ngay hai chữ khẩu lệnh
đem hôm nay, thì chắc rằng Nguỵ vương mấy bữa nay cũng về thôi! “Kê cân” nghĩa
là gân gà, gân gà ăn thì không có vị gì, mà bỏ thì tiếc. Nay tiến lên thì đánh
không được, mà lui về thì lại sợ người cười, ở mãi cũng vô ích, không bằng về
cho sớm còn hơn. Ngày mai Nguỵ vương tất rút quân, nên tôi cho quân thu xếp sẵn,
kẻo đến bấy giờ lại lật đật.
Hạ Hầu Đôn nói:
- Ông thực biết đến tận gan ruột
Nguỵ vương!
Bởi thế Hạ Hầu Đôn cũng cho quân
thu xếp hành lý. Các tướng ai cũng thu xếp chuẩn bị thu quân.
Đêm hôm ấy, Tào Tháo trong bụng bồn
chồn, không sao ngủ được, mới cầm một cái búa gang, lẻn ra đi diễu xem các trại,
thấy quân sĩ trong trại Hạ Hầu Đôn đang thu xếp sắm sửa đồ đạc. Tháo giật mình,
vội về trướng, cho đòi Hạ Hầu Đôn hỏi đầu đuôi ra sao.
Đôn bẩm:
- Chủ bộ là Dương Đức Tổ biết ý đại
vương muốn rút về.
Tháo gọi hỏi Dương Tu, Tu giảng
rõ ý hai chữ “Gân gà”. Tháo nổi giận nói rằng:
- Ngươi sao dám dựng đứng nói
càn, làm náo động cả quân sĩ của ta?
Liền quát quân đao phủ điệu Dương
Tu ra chém, rồi bêu đầu hiệu lệnh trước cửa quân.
Nguyên Dương Tu xưa nay vốn là
người cậy tài phóng khoáng, nhiều lần phạm vào những điều Tào Tháo kiêng kỵ.
Tháo thường sai người sửa một vườn hoa, khi làm xong, Tháo ra xem, chẳng khen
chê câu gì, chỉ lấy bút viết một chữ “Hoạt” ở trên cửa vườn rồi đi. Không ai hiểu
ý Tháo ra sao. Dương Tu trông thấy nói rằng:
- Trong chữ môn thêm
một chữ hoạt thì là chữ khoát, khoát nghĩa
là rộng, ý ngài chê cửa này rộng quá đây!
Người coi vườn chữa lại bức cửa ấy.
Tháo trông thấy mừng lắm, hỏi rằng:
- Ai khéo biết ý ta thế?
Tả hữu bẩm là Dương Tu, Tháo tuy
rằng khen, nhưng đã có bụng hơi ghét từ đó.
Lại một lần, có người ở Tái Bắc
biếu một hộp sữa. Tháo viết ba chữ: “Nhất hợp tô” ở trên mặt hộp,
rồi bỏ trên bàn. Tu trông thấy thế, lấy ngay thìa chia với mấy người cùng ăn.
Tháo hỏi cớ làm sao mà dám ăn, thì Tu thưa rằng:
- Trên hộp rõ ràng nhất
nhân nhất khẩu tô[3], nghĩa là mỗi người một thìa sữa, chúng tôi
đâu dám trái lệnh thừa tướng!
Tháo ngoài miệng thì cười, nhưng
trong bụng ghét lắm.
Tháo sợ khi ngủ có người mưu hại,
thường dặn bảo đầy tớ rằng:
- Tao trong khi ngủ mê hay giết
người. Những lúc tao ngủ say, chúng bây chớ đứng gần mà có khi khốn.
Một hôm, Tháo ngủ ngay trong trướng,
để rơi chân xuống đất, một tên hầu vận vội vàng nhặt chăn đắp lại cho Tháo.
Tháo đứng phắt dậy, rút gươm chém phăng tên lính hầu ấy, rồi lại lên giường ngủ.
Độ nửa giờ, Tháo thức dậy, giả đò giật mình hỏi rằng:
- Ai giết thằng đấy tớ tao thế
này?
Chúng bẩm chuyện vừa rồi. Tháo
thương khóc, rồi cho làm ma trong. Ai cũng tưởng là Tháo ngủ mê. Chỉ có Dương
Tu biết ý. Khi đưa ma tên ấy. Tu trỏ vào quan tài mà than rằng:
- Không phải thừa tướng ngủ mê
đâu, chính mày mới thực là ngủ mê!
Tháo nghe chuyện ấy lại càng ghét
lắm.
Con thứ ba Tào Tháo là Tào Thực,
thấy Tu có tài, yêu mến lắm, mời Tu chơi nói chuyện cả đêm không biết chán.
Tháo bàn với chúng, muốn lập Thực làm thế tử. Tào Phi biết chuyện cho mời quan
trưởng triều ca là Ngô Chất vào nội phủ bàn bạc. Nhưng Phi sợ người biết, phải
dùng cái đẫy to, để Ngô Chất ngồi vào trong, giả làm tơ lụa, xe vào trong phủ.
Tu biết ý, đến bẩm ngay với Tào Tháo. Tháo sai người đứng rình ở cửa phủ Tào
Phi. Phi vội vàng bàn với Ngô Chất. Chất nói:
- Lo gì việc ấy! Ngày mai lại đem
đẩy trong chứa tơ lụa xe vào, để cho thừa tướng tưởng là sự thực.
Phi nghe lời, dùng đẫy trong xe
tơ lụa vào phủ. Sứ giả khám xét thấy quả nhiên là tơ lụa, về bẩm với Tháo. Tháo
nghi Dương Tu có bụng muốn hại Tào Phi, lại càng ghét Tu lắm.
Tháo muốn thử tài Tào Phi và Tào
Thực. Một hôm, sai hai người cùng ra Nghiệp Thành, nhưng lại dặn quân canh cửa
không được cho ra. Phi đi trước, lính canh cửa cản lại, Phi phải trở về. Tào Thực
thấy vậy hỏi Dương Tu, Tu nói:
- Ông phụng vương mệnh ra đi, nếu
kẻ nào ngăn trở, thì chém phăng mà đi, chớ sợ gì?
Thực nghe lời, đến cửa thành,
lính canh cửa không cho ra, Thực mắng rằng:
- Tao phụng vương mệnh ra đây, thằng
nào dám ngăn trở?
Lập tức chém tên lính ấy.
Tháo thấy vậy, cho Thực giỏi hơn
Phi.
Về sau có người mách Tháo là
Dương Tu xui, Tháo giận lắm, nhân thể ghét lây cả Thực.
Tu lại làm vài mười điều đối đáp
cho Tào Thực, hễ Tháo có hỏi đến câu gì, cứ sẵn thế mà đáp. Tháo thường hỏi Thực
việc quân, việc nước, Thực ứng đối trôi chảy, nói đâu ra đấy. Nhưng Tháo vẫn
còn nghi. Về sau Tào Phi đút lót tả hữu Tào Thực, lấy được quyền đối đáp, trình
với Tào Tháo, Tháo nổi giận nói rằng:
- Quân sất phu! Sao dám dối tao
thế?
Bấy giờ Tào Tháo đã có ý muốn giết
Dương Tu, nay nhân thể đổ cho tội náo loạn bụng quân, mới đem giết. Tu mất năm
ba mươi bốn tuổi.
Người sau có thơ than rằng:
Nối dõi nền trâm anh
Văn hay, rồng cuốn bút
Trí sáng, gấm thêu tranh
Nói bàn ai cũng phục
Ứng đối chúng đều kinh
Chỉ vì tài nên vạ
Hề chi việc rút binh?
Tháo giết Dương Tu rồi, giả đò giận
dữ, muốn giết cả Hạ Hầu Đôn. Các quan xin cho Đôn được khỏi tội. Tháo quát đuổi
Hạ Hầu Đôn ra, rồi truyền lệnh tiến quân.
Hôm sau, Tháo dẫn quân ra khỏi Tà
Cốc, vừa gặp Nguỵ Diên kéo đến. Tháo vẫy tay dụ Nguỵ Diên lại hàng, Diên mắng
chửi om sòm. Tháo giận, sai Bàng Đức ra đánh. Hai bên đương đánh nhau, bỗng
nhiên ở trong trại Tào lửa bốc cháy, rồi có người chạy lại báo tin Mã Siêu đã
cướp mất trại trung và trại hậu rồi.
Tháo rút gươm cầm lăm lăm trong
tay quát rằng:
- Hễ tướng nào lùi thì chém!
Các tướng được lệnh, cùng cố sức
xông lên. Nguỵ Diên giả thua chạy. Tháo liền quay lại đánh Mã Siêu. Tháo dừng
ngựa đứng trên gò cao, xem quân đôi bên đánh nhau. Bỗng đâu có một toán quân chạy
sập đến ngay trước mặt. Một tướng thét trong lên rằng:
- Nguỵ Diên đã đến đây!
Diên nói vừa buông lời thì giương
cung bắn một phát tên trúng ngay Tào Tháo. Tháo ngã quay xuống ngựa. Diên vội
vàng bỏ cung cầm đao, tế ngựa lên núi giết Tào Tháo. Một tướng ở đâu chạy tạt
ngang ra, kêu to lên rằng:
- Chớ có hại chủ tao!
Diên trông xem ai thì là Bàng Đức.
Đức hăng sức sấn vào đánh lui Nguỵ Diên, bảo vệ Tào Tháo. Mã Siêu cũng rút lui.
Tháo bị thương về trại, xem ra thì bị Nguỵ Diên bắn trúng vào môi, gãy mất hai
chiếc răng cửa, liền sai sai thầy thuốc điều trị. Khi ấy mới nhớ đến lời Dương
Tu, liền sai thu thi hài Tu, làm ma chôn cất linh đình.
Tháo truyền lệnh rút quân về, sai
Bàng Đức đi chặn hậu. Tháo nằm trong xe đệm chiên, quân hổ bôn[4] đi
hộ vệ hai bên. Bỗng lại thấy lửa cháy ở hai bên sườn núi Tà Cốc, rồi có quân phục
trở ra. Quân Tào tên nào tên ấy sợ dúm cả người lại.
Ấy mới là:
Gian truân nào khác trận Đồng Quan
Chưa biết tính mệnh Tào Tháo phen
này thế nào, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Hai danh tướng đời vua Hán Vũ đế.
- ▲ Gân gà.
- ▲ Nguyên chữ hợp Hán tự gồm mấy chữ nhân, nhất, khẩu.
Tu đọc ngay thành câu Nhất nhân nhất khẩu tô.
- ▲ Quân võ giỏi.
Vân Trường đánh chiếm Tương Dương quận
Lại nói, Tào Tháo rút quân về Tà
Cốc. Khổng Minh liệu chừng Tào Tháo phải bỏ Hán Trung, cho nên sai bọn Mã Siêu
và các tướng chia binh làm vài mươi đường, bất thình lình đánh cướp. Bởi thế
Tào Tháo không dám ở dai; lại bị Nguỵ Diên bắn gãy răng, nên phải lật đật rút
quân về. Bấy giờ nhuệ khí ba quân đã nhụt cả. Tiến quân vừa kéo đi, hai bên sườn
núi lửa lại bốc lên ngùn ngụt, thì ra quân của Mã Siêu đuổi theo quân Tào rụng
rời hết vía. Tháo truyền lệnh quân sĩ đi gấp ngày đêm không nghỉ lúc nào, về đến
Kinh Triệu mới vững dạ.
Nói về Huyền Đức sai Lưu Phong, Mạnh
Đạt, Vương Bình đánh các quận Thượng Dung. Tướng giữ quận ấy là bọn Thân Đam,
nghe tin Tào Tháo đã bỏ chạy bèn ra hàng. Huyền Đức vào thành yên dân, khao thưởng
ba quân, nhân dân ai nấy cũng vui vẻ.
Bởi thế các tướng cùng muốn tôn
Huyền Đức lên làm vua, nhưng chưa dám nói, bèn cùng vào bẩm trước với Khổng
Minh. Khổng Minh nói:
- Việc này ta đã định liệu cả rồi!
Bèn dẫn bọn Pháp Chính vào ra mắt
Huyền Đức, mà nói rằng:
- Nay Tào Tháo chuyên quyền, trăm
họ không có chủ. Chúa công nhân nghĩa lừng lẫy thiên hạ, lại có cả đất hai
Xuyên; lại nên thuận đạo trời, theo bụng người, lên ngôi hoàng đế cho danh
chính ngôn thuận để dẹp giặc nước. Việc này không nên chậm trễ, xin chúa công
chọn ngày ngay cho.
Huyền Đức giật mình, nói:
- Lời quân sư sai rồi! Bị tuy là
tôn thất nhà Hán, nhưng là phận tôi con, nếu làm việc ấy, chẳng hoá ra phản nhà
Hán mất ư?
Khổng Minh thưa:
- Không phải thế! Hiện nay thiên
hạ chia xẻ, anh hùng nổi dậy, mỗi người chiếm cứ một phương. Những người tài
trí trong bốn bể, liều sống chết mà thờ chúa, cũng mong vịn vào vây rồng, bám
vào cánh phượng để lập lấy một chút công danh. Nếu chúa cứ giữ đạo thường, tôi
e rằng chúng hết trông mong. Xin chúa công thử nghĩ kỹ mà xem!
Huyền Đức nói:
- Muốn cho ta chiếm đoạt ngôi
tôn, ta quyết nhiên không dám. Các ngươi nên bàn kế khác.
Các quan cùng nói rằng:
- Chúa công cứ từ chối mãi, thì bụng
mọi người sẽ trễ nải cả bây giờ!
Khổng Minh nói:
- Chúa công xưa nay vốn giữ điều
nghĩa làm gốc, xưng ngay hoàng đế cũng chưa tiện, nay mới có Kinh Tương và hai
đất Xuyên nên hãy tạm xưng làm Hán Trung vương.
Huyền Đức nói:
- Các ngươi muốn tôn ta là vương,
nhưng không có chiếu của thiên tử phong cho, thì cũng là chiếm ngôi đó!
Khổng Minh nói:
- Nay hãy quyền nghi, chớ không
nên cầu chấp lẽ thường cho lắm!
Trương Phi mới nói to lên rằng:
- Những người khác họ đều còn muốn
làm vua, huống chi kha kha là tôn nhà Hán. Chẳng cứ là Hán Trung vương, cho dẫu
xưng ngay là hoàng đế, cũng không làm sao, việc gì mà phải từ chối.
Huyền Đức quát mắng rằng:
- Chớ có nói càn!
Khổng Minh nói:
- Chúa công nên hãy quyền nghi,
trước hãy tiếm ngôi Hán Trung vương, rồi sẽ dâng biểu tâu với thiên tử cũng
chưa muộn.
Huyền Đức hai ba phen từ chối mãi
không được, đành phải nghe lời.
Năm Kiến An thứ 24 (219) mùa thu,
tháng bảy, Khổng Minh sai đắp đàn ở Miện Dương, chu vi cả thảy chín dặm, bốn mặt
đàn cắm những tinh kỳ nghi trượng, các văn võ chia ngôi thứ đứng dàn ra hai
bên.
Hứa Tĩnh, Pháp Chính mời Huyền Đức
lên đàn, dâng đồ miện phục, tỷ phục. Huyền Đức nhận xong, ngồi ngoảnh mặt về
nam, chịu văn võ trăm quan lạy mừng; tiếm tước làm Hán Trung vương, lập con là
Lưu Thiện làm thế tử, phong Hứa Tĩnh làm phái phó, Pháp Chính làm thượng thư lệnh;
Khổng Minh làm quân sư, trông coi các việc quân quốc. Lại phong cho Quan Vân
Trường, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu, Hoàng Trung làm ngũ hổ đại tướng quân;
Nguỵ Diên thì làm thái thú Hán Trung. Ngoài ra, các quan ai cũng được định công
phong tước cả.
Huyền Đức xưng vương rồi, viết một
đạo biểu, sai người mang đến Hứa Đô, dâng lên vua Hiến đế. Trong biểu kể rõ
tình hình những người bộ hạ tôn lên làm vương và tình nguyện hết sức đánh giặc
Tào để giúp nhà Hán.
Tào Tháo ở Nghiệp Quận, được tin ấy
bèn nổi giận nói rằng:
- Quân bán dép sao dám xấc láo
làm vậy? Ta thề giết cho kỳ được mày, mới nghe!
Lập tức truyền lệnh khởi hết quân
trong nước sang hai Xuyên để quyết sống mái với Hán Trung vương.
Có một người bước ra can rằng:
- Đại vương không nên nhân cơn giận
một lúc, mà phải khó nhọc xa giá đi đánh nơi xa! Tôi có một kế này, không cần
gì đến một cái cung, một mũi tên. Lưu Bị tự nhiên phải khốn. Đợi khi nào thế y
đã suy, sức y đã kiệt, chỉ sai một tướng đi đánh cũng phá xong, lọ là đại vương
phải khó nhọc.
Tháo nhìn xem ai, thì là Tư Mã Ý.
Tháo mừng hỏi rằng:
- Trọng Đạt có mẹo gì cao kiến thế?
Ý thưa:
- Tôn Quyền ở Giang Đông, gả em
cho Lưu Bị, rồi lại thừa cơ bắt em về. Lưu Bị thì chiếm giữ Kinh Châu, không trả
Đông Ngô. Bởi thế hai bên vẫn thù oán nhau. Nay ta nên sai người đến dụ Tôn Quyền,
xui hắn cất quân sang đánh Kinh Châu. Lưu Bị tất phải mang quân ở hai Xuyên đến
cứu. Bấy giờ ta sẽ dẫn quân đến lấy Hán Trung. Lưu Bị đầu đuôi không cứu được
nhau, tất nhiên phải nguy khốn.
Tháo mừng lắm, viết ngay thư, sai
Mãn Sủng đi gấp sang Đông Ngô, ra mắt Tôn Quyền. Quyền được tin Mãn Sủng đến,
liền họp các mưu sĩ lại bàn bạc. Trương Chiêu nói:
- Ngô, Nguỵ xưa nay không thù hằn
gì với nhau, chỉ vì nghe lời Gia Cát thành ra hai bên hiềm khích đánh nhau mãi,
nhân dân khổ sở. Nay Mãn Bá Ninh đến đây có ý giảng hoà, ta nên tiếp đãi tử tế.
Quyền nghe lời, sai các mưu sĩ ra
đón. Mãn Sủng vào. Chào hỏi xong. Quyền đãi Sủng vào hàng tân khách. Sủng dâng
trình thư Tháo, nói:
- Ngô, Nguỵ xưa nay không thù hằn
gì nhau, chỉ vì chuyện Lưu Bị, nên sinh hiềm khích. Nguỵ vương sai tôi đến đây,
ước với tướng quân cất quân sang đánh Kinh Châu, Nguỵ vương tôi đến đánh Hán
Xuyên, hai bên dánh dồn lại. Phá xong Lưu Bị, hai bên sẽ chia bờ cõi với nhau,
thề rằng không ai xâm phạm của ai nữa.
Tôn Quyền xem xong, đặt tiệc khoản
đãi Mãn Sủng tử tế, rồi đưa ra ngoài nhà khách nghỉ ngơi.
Quyền hội các mưu sĩ lại bàn. Cố
Ung nói:
- Trong thư Tào Tháo, tuy là những
lời dỗ dành ta nhưng nói cũng có lẽ. Nay một mặt ta cho Mãn Sủng về, ước với
Tào Tháo, hai bên cùng khởi quân, một mặt sai người sang sông dò xem tình ý Vân
Trường thế nào, rồi sẽ liệu.
Gia Cát Cẩn nói:
- Tôi nghe Vân Trường từ khi đến
nhậm Kinh Châu, Lưu Bị lấy vợ cho, sinh được một trai một gái. Người con gái
còn nhỏ chưa gả cho ai, tôi xin sang cầu hôn cho thế tử chúa công. Nếu Vân Trường
chịu gả, thì nên hiệp lực với Vân Trường mà đánh nhau với Tào Tháo, nhược bằng
không nghe, ta sẽ giúp Tào Tháo để đồ Kinh Châu.
Quyền dùng kế ấy, cho Mãn Sủng về
Hứa Đô, rồi sai Gia Cát Cẩn làm sứ sang Kinh Châu. Cẩn vào thành ra mắt Vân Trường.
Vân Trường hỏi:
- Tử Du đến đây có việc gì?
Cẩn thưa:
- Tôi đến đây, có ý muốn kết hiếu
hai nhà. Chúa công tôi có một con trai thông minh lắm, nghe tướng quân có cô
con gái, nên đến cầu hôn để hai nhà kết hiếu với nhau, hiệp lực lại đánh Tào
Tháo. Đó là một việc rất hay, xin tướng quân xét cho.
Vân Trường nổi giận lên mắng rằng:
- Con gái ta, ví như loài hổ, lại
thèm gả cho con loài chó à! Nếu ta không nể mặt em ngươi, thì đầu ngươi ra củ
chuối! Chớ có nói lôi thôi!
Nói đoạn, sai tả hữu đuổi Cẩn ra.
Cẩn ôm đầu lủi thủi về ra mắt Ngô hầu, không dám giấu giếm câu gì cứ thưa chuyện
thật như thế.
Tôn Quyền tức đầy ruột nói rằng:
- Sao dám vô lễ quá làm vậy!
Liền hội các văn võ, bàn định
sang đánh Kinh Châu.
Bộ Trắc nói:
- Tào Tháo xưa nay vẫn muốn cướp
ngôi nhà Hán, nhưng còn e có Lưu Bị. Nay sai sứ sang bảo ta cất quân thôn tính
đất Thục, đó là muốn đổ vạ lây cho ta đó!
Quyền nói:
- Ta cũng muốn lấy Kinh Châu đã
lâu rồi!
Trắc nói:
- Hiện nay Tào Nhân đóng quân ở
Tương Dương Phàn Thành không bị sông Trường Giang cách trở, ngay đường bộ cũng
lấy được Kinh Châu, làm sao không đánh chiếm lấy, lại phải xui Đông Ngô ta? Cứ
lẽ ấy mà suy, thì đủ biết bụng Tào Tháo. Chúa công nên sai sứ sang Hứa Đô, xui
Tào Tháo cất quân mặt bộ trước đến lấy Kinh Châu. Vân Trường tất kéo quân ra
đánh Phàn Thành. Nếu Vân Trường đi rồi, chúa công sai một tướng đến ngầm lấy
Kinh Châu, như thế chỉ một trận là phá xong.
Quyền nghe theo, sai người sang
sông dâng thư nói với Tào Tháo việc ấy.
Tháo mừng rỡ. Lập tức cho sứ giả
về trước và sai Mãn Sủng làm tham mưu ra Phàn Thành giúp Tào Nhân bàn việc cất
quân. Một mặt đưa hịch sang Đông Đô, sai cất quân đi đường thuỷ tiếp ứng để lấy
Kinh Châu.
Lại nói, Hán Trung vương sai Nguỵ
Diên tổng đốc quân mã, phòng phủ mặt Đông Xuyên, còn mình thì dẫn quân về Thành
Đô. Lại sai người xây dựng cung điện và sửa sang các nơi kho tàng, quán xá, tự
Thành Đô đến miền Bạch Thuỷ, tất cả hơn bốn trăm sở, thu chứa tiền lương, rèn sửa
khí giới, để sắp sửa sang lấy Trung Nguyên.
Quân do thám nghe được tin Tào
Tháo kết liên với Đông Ngô, định đánh Kinh Châu, lập tức báo vào Thục. Hán
Trung vương vội bàn bạc với Khổng Minh. Khổng Minh nói:
- Tôi cũng đã liệu Tào Tháo tất
có mưu ấy, nhưng Đông Ngô cũng lắm mưu sĩ, thế nào cũng xui Tào Tháo sai Tào
Nhân cất quân sang đánh trước.
Hán Trung vương nói:
- Nếu thế thì làm thế nào?
Khổng Minh nói:
- Chúa công nên cho người mang
quân lệnh cho Vân Trường, sai cất quân đến đánh Phàn Thành trước đi, quân giặc
khiếp đảm, tự nhiên phải tan vỡ thôi.
Hán Trung vương mừng lắm, sai
quân tiền bộ tư mã là Phí Thi đem cao sắc sang Kinh Châu. Vân Trường ra ngoài
quách nghênh tiếp Phí Thi vào thành, đến nơi công sảnh ngồi chơi.
Vân Trường hỏi rằng:
- Hán Trung vương phong cho tôi
chức tước gì?
Phí Thi thưa:
- Ngài đứng đầu ngũ hổ đại tướng.
Vân Trường hỏi:
- Ngũ hổ tướng gồm những ai?
Thi nói:
- Quan, Trương, Triệu, Mã, Hoàng.
Vân Trường giận, nói:
- Trương Dực Đức là em ra, Mạnh
Khởi là dòng dõi thế gia, Tử Long theo anh ta đã lâu, thì cũng như em ta, ba
người ấy cùng hàng với ta đã đành, còn như Hoàng Trung là anh nào mà cũng dám
ngang hàng với ta. Đại trượng phu lại thèm ngang hàng với một tên lính già à?
Nói rồi, nhất định không nhận ấn
thụ.
Phí Thi cười, nói:
- Tướng quân lầm rồi! Ngày xưa
Tiêu Hà, Tào Tham và vua Cao tổ cùng dựng nghiệp lớn rất là thân thiết với
nhau, Hàn Tín thì chỉ là một tướng nước Sở đi trốn mà thôi, thế mà Tín được
phong vương, ngồi trên Tiêu, Tào. Vậy mà hai người không hề oán giận. Nay Hán
Trung vương tuy rằng phong cả năm người làm hổ tướng, nhưng cùng với tướng quân
có nghĩa anh em ruột thịt một nhà. Hán Trung vương cũng như tướng quân, tướng
quân cũng như Hán Trung vương, người khác ngang hàng thế nào được! Tướng quân đội
ơn dày của Hán Trung vương, nên phải hay dở có nhau, hoạ phúc cùng chịu, chớ
không nên kể cái chức tước cao thấp làm chi, xin tướng quân thử nghĩ cho kỹ!
Vân Trường bấy giờ mới tỉnh ra, lạy
Phí Thi hai lạy mà nói rằng:
- Tôi thiền nghĩ, không thấu, nếu
không có ngài dạy cho thì hỏng mất việc lớn.
Nói đoạn, xin nhận lĩnh ấn thụ.
Phí Thi bấy giờ mới đưa dụ chỉ ra
sai Vân Trường dẫn quân đến đánh Phàn Thành. Vân Trường vâng mệnh, sai Phó Sĩ
Nhân, My Phương làm tiên phong, dẫn một đạo quân ra ngoài thành cắm trại trước.
Còn mình thì ở trong thành, mở tiệc yến thết đãi Phí Thi. Khi ấy uống rượu mãi
đến canh hai chưa tan tiệc, bỗng ở ngoài thành lửa bốc cháy. Vân Trường vội
vàng mặc áo giáp lên ngựa ra xem, thì ra hai tướng tiên phong ngồi uống rượu để
tàn lửa sau trướng bén vào chỗ thuốc đạn, nên lửa cháy lan ra khắp trại, bao
nhiêu lương thảo, khí giới cháy sạch.
Vân Trường dẫn quân vào cứu hoả,
đến mãi canh tư mới dập tắt hết.
Vân Trường vào thành, đòi Phó Sĩ
Nhân, My Phương vào trách mắng rằng:
- Ta sai hai người làm tiên
phong, chưa cất quân đi, đã để cháy mất biết bao nhiêu là lương thảo khí giới,
thuốc đạn bắn ra chết hai quân sĩ, hai người làm hỏng như thế, thì để làm gì?
Liền quát sai lôi ra chém.
Phí Thi kêu đỡ cho hai tướng, nói
rằng:
- Chưa ra quân, mà đã chém đại tướng
của nhà thì bất lợi, xin ngài hãy tạm xá tội cho hai người ấy.
Vân Trường vẫn chưa nguôi giận, mắng
rằng:
- Nếu ta không nể có quan tư mã ở
đây, thì các ngươi khó toàn được phen này!
Bèn sai quân lôi hai người ra,
đánh mỗi người bốn mươi trượng, rồi lột lấy ấn thụ tiên phong, bắt My Phương giữ
ở Nam Quận, Phó Sĩ Nhân giữ ở Công An, và dặn rằng:
- Khi nào ta thắng trở về, hễ có
lầm lỡ điều gì thì hai tội sẽ trị làm một!
Hai tướng hổ thẹn, dạ dạ trở ra.
Vân Trường sai Liêu Hoá làm tiên
phong. Quan Bình làm phó tướng, tự mình thống tĩnh trung quân, Mã Lương, Y Tịch
làm tham mưu, kéo quân đi.
Khi trước có con Hồ Hoa là Hồ Ban
đến Kinh Châu theo hàng với Vân Trường. Vân Trường nghĩ đến ơn Hồ Hoa cứu mình
khi xưa, lấy làm yêu mến lắm, liền cho theo Phí Thi về Xuyên, ra mắt Hán Trung
vương để được phong tước, Phí Thi mang theo Hồ Ban đi luôn về Thục.
Hôm ấy, Vân Trường tế cờ “suý”
xong nằm nghỉ trong trướng. Chợt thấy một con lợn trong vừa bằng con trâu, mình
mẩy đen kịt, chạy xộc vào trong trướng, cắn vào chân. Vân Trường tức giận rút
gươm ra chém con thú ấy, thì nó kêu the thé như xé lụa, Vân Trường giật mình tỉnh
dậy, té ra một giấc mộng. Thấy chân trái vẫn còn hơi đau đau, Vân Trường nghi lắm,
gọi Quan Bình vào thuật lại mộng ấy. Quan Bình giải rằng:
- Lợn cũng có hình tượng giống rồng,
rồng cuốn vào chân, là điềm bay nhảy, làm nên thế này thế khác, bất tất phải lo
nghĩ làm gì!
Vân Trường lại hội các quan lại hỏi
mộng ấy. Người thì nói là hay, kẻ thì đoán là dở, mỗi người nói mỗi phách.
Vân Trường nói:
- Ta nay đã ngót sáu mươi tuổi, dẫu
có chết cũng không còn oán hận gì!
Đang nói chuyện, thì có sứ giả ở
Thục đến đem tờ sắc của Hán Trung vương, gia phong cho Vân Trương làm tiền tướng
quân, được dùng cờ tiết, lưỡi phủ việt, đô đốc cả chín quận Kinh Tương.
Vân Trường bái mạng xong, các
quan cùng mừng nói rằng:
- Thế là ứng vào mộng rồng cuốn
chân rồi đó!
Bởi thế Vân Trường cũng không
nghi kỵ gì nữa, dẫn quân ruổi thẳng đường Tương Dương.
Tào Nhân đang ở trong thành, nghe
tin Vân Trường dẫn binh đến, sợ lắm, định giữ trong thành không ra. Phó tướng Địch
Nguyên nói rằng:
- Nguỵ vương sai tướng quân ước
nhau với Đông Ngô để đánh Kinh Châu. Nay hắn tự dẫn đến là để chịu chết mà
thôi, việc gì tướng quân phải tránh?
Tham mưu Mãn Sủng can rằng:
- Tôi biết Vân Trường đã dũng cảm
mà lại có mưu trí, không nên khinh địch, cứ giữ thành cho vững là hơn.
Kiện tướng Hạ Hầu Tồn nói:
- Thật là giọng anh học trò!
Ngươi há không nghe có câu rằng: “Nước tràn đất lấp, giặc đến quân ngăn” đó ru?
Quân ta thong dong ở một chỗ, mà quân kia tự xa đến đây, vất vả tất tưởi, đánh
thì tất được, việc gì phải ngồi giữ một xó thành!
Tào Nhân nghe phải tai, sai Mãn Sủng
ở nhà giữ thành, còn mình thì dẫn quân ra nghênh địch.
Vân Trường thấy quân Tào đến bèn
gọi Quan Bình, Liêu Hoá dặn dò mẹo mực, rồi cho đi trước, cùng với quân Tào dàn
trận đánh nhau.
Liêu Hoá ra ngựa khiêu chiến, Địch
Nguyên ra địch. Hai tướng đánh nhau được vài hiệp. Liêu Hoá giả thua chạy. Địch
Nguyên đuổi theo, quân Kinh Châu lui về hai mươi dặm.
Hôm sau Liêu Hoá lại đến, Hạ Hầu
Tồn, Địch Nguyên cùng ra đánh, quân Kinh Châu lại thua, lui hơn hai mươi dặm nữa.
Quân Tào đuổi theo; bỗng đâu nghe ở mé sau, có tiếng hò reo, trống đánh tù và
om ả, Tào Nhân vội vàng thu quân về. Phía sau Quan Bình, Liêu Hoá thừa thế đánh
ập lại, quân Tào bối rối. Tào Nhân biết là mắc phải mẹo, thúc quân chạy về
Tương Dương. Khi chạy gần đến thành, còn cách vài dặm, thì đã thấy ở mé trước,
có một lá cờ thêu bay phấp phới, Vân Trường cầm thanh long đao dùng ngựa đứng
chặn ngang đường. Tào Nhân sợ mất vía, không dám chống cự, lẻn theo ngay đường
tắt mà chạy. Vân Trường không đuổi. Một lát, Hạ Hầu Tồn dẫn quân đến, thấy thế
giận lắm, xông vào đánh nhau với Vân Trường, chỉ một hiệp, bị Vân Trường chém
chết. Địch Nguyên tế ngựa chạy trốn. Quan Bình đuổi kịp, cho một đao nhào xuống
ngựa, rồi thừa thế đuổi giết. Quân Tào lăn xuống sông Tương Giang chết đuối hơn
một nửa. Tào Nhân rút về giữ Phàn Thành.
Vân Trường hạ được thành Tương
Dương, dụ yên dân chúng, khao thưởng quân sĩ.
Tuỳ quân tư mã là Vương Phủ vào bẩm
rằng:
- Tướng quân đánh một trận, hạ được
Tương Dương, quân Tào tuy rằng mất vía, nhưng cứ ý tôi nghĩ, thì Lã Mông bên
Đông Ngô, hiện đang đóng quân ở cửa Lục Khẩu, có ý muốn dòm Kinh Châu của ta. Nếu
hắn đem quân lẻn đến Kinh Châu thì làm thế nào?
Vân Trường nói:
- Ta cũng đã nghĩ đến, ngươi nên
về lo liệu việc ấy cho ta: Cứ men theo bờ sông, hoặc cách hai mươi dặm, hoặc
cách ba mươi dặm, nên tìm chỗ nào có gò cao, xây mỗi chỗ một cái ụ đốt lửa, mỗi
một ụ dùng năm mươi tên lính canh giữ. Khi nào quân Ngô sang sông, đêm thì đốt
lửa lên cho sáng, ngày thì đốt cho khói lên để làm hiệu, ta sẽ kéo quân về cứu.
Vương Phủ lại nói rằng:
- My Phương, Phó Sĩ Nhân giữ hai
cửa ải, sợ không hết sức, nên dùng một người nữa, để tổng đốc cả Kinh Châu mới
xong.
Vân Trường nói:
- Ta đã sai thị trung là Phan Tuấn
giữ rồi, việc ấy không phải lo nữa!
Phủ nói:
- Phan Tuấn tính hay ghen ghét,
mà lại hám lợi, không nên dùng người ấy. Nên sai quan đô đốc lương thảo là Triệu
Luỹ thay vào chức ấy mới xong. Triệu Luỹ là người thành thực liêm chính, nếu
dùng người ấy thì mười phần chắc chắn cả mười.
Vân Trường nói:
- Ta cũng biết Phan Tuấn như thế,
nhưng đã trót cử rồi, bất tất phải thay đổi nữa. Triệu Luỹ đang coi lương thảo,
cũng là việc trọng, ngươi chớ đa nghi quá, cứ về đắp ụ cho ta thôi!
Vương Phủ rầu rầu sắc mặt từ tạ
trở ra.
Vân Trường sai Quan Bình sắm sửa
thuyền bè, để qua sông Tương Giang đánh Phàn Thành.
Lại nói, Tào Nhân tổn mất hai tướng,
lui về giữ Phàn Thành, bảo với Mãn Sủng rằng:
- Tôi không nghe lời ông, đến nỗi
hao quân tổn tướng, lại mất cả Tương Dương, bây giờ làm thế nào?
Sủng thưa:
- Vân Trường là hổ tướng ở đời, lắm
mưu nhiều trí, ta không nên địch, cứ giữ vững trong thành là hơn cả.
Đang bàn bạc thì được tin Vân Trường
kéo quân qua sông đến đánh Phàn Thành. Nhân sợ lắm.
Sủng nói:
- Chỉ nên giữ vững thôi!
Bộ tướng Lã Thường nhảy xổ ra nói
rằng:
- Tôi xin lĩnh vài nghìn quân, ra
bờ sông đánh giặc.
Sủng can rằng:
- Không nên!
Lã Thường giận, mắng rằng:
- Cứ như bọn quân văn các anh, chỉ
biết giữ nhà, thì làm sao đánh lui được giặc? Vả lại không nghe binh pháp có
câu rằng: “Binh sang đò nửa chừng nên đánh” đó là! Nay Quan Vân Trường đang
sang sông, không đánh còn đợi đến bao giờ nữa? Nếu để giặc kéo đến tận dưới
thành, vào đến cạnh hào, thì khó lòng chống cự.
Nhân bèn cấp cho Lã Thường hai
nghìn quân, sai ra ngoài thành nghênh địch.
Lã Thường dẫn quân đến cửa sông,
trông thấy Vân Trường cưỡi ngựa cầm long đao đứng trước mặt. Lã Thường muốn lại
giao chiến, nhưng quân sĩ trông thấy oai phong Vân Trường lẫm liệt lắm, chưa kịp
đánh nhau đã tan chạy. Lã Thường quát quân cản lại cũng không được. Vân Trường
thừa thế đánh sang. Quân Tào thua to, người ngựa dẫm nhau mà chạy, chết mất quá
nửa. Tàn quân chạy về Phàn Thành.
Tào Nhân sai người về cầu cứu. Sứ
giả đi luôn về Hứa Đô dâng trình tờ thư nói:
- Vân Trường đã phá vỡ Tương
Dương, đang vây Phàn Thành nguy cấp lắm. Xin cho một đại tướng đi giải vây.
Tháo trỏ một tướng trong bàn mà rằng:
- Ngươi nên ra đánh giải vây Phàn
Thành cho ta!
Tướng ấy dạ một tiếng bước ra,
chúng nhìn xem ai thì là Vu Cấm.
Cấm nói:
- Tôi xin đại vương cho một tướng
nữa để làm tiên phong, cùng đi với tôi.
Tháo hỏi các tướng:
- Có ai dám làm tiên phong không?
Một người rảo bước ra ngay, nói rằng:
- Tôi xin gắng sức khuyển mã,
phen này bắt sống được Vân Trường, về nộp dưới cờ.
Tháo mừng rỡ.
Thế là:
Đã trông Bắc Nguỵ lại thêm quân
Chưa biết người đó là ai, xem đến
hồi sau sẽ rõ.
Bàng Đức mang áo quan, quyết trận tử chiến
Quan Công khơi dòng nước, ngập bảy đạo quân
Lại nói Tào Tháo định sai Vu Cấm
ra cứu quân Phàn Thành, hỏi các tướng ai dám làm tiên phong. Bàng Đức xin đi,
Tháo mừng lắm, nói:
- Quan Vân Trường tiếng lừng lẫy
cả trong nước là vì chưa gặp người đối thủ. Nay gặp phải Bàng Lệnh Minh, thì thực
là kình địch.
Bèn phong Vu Cấm là chinh nam tướng
quân, Bàng Đức làm chinh tây đô tiên phong, khởi bảy đạo quân tiến ra Phàn
Thành. Bảy đạo quân ấy toàn là quân tinh tráng ở phương bắc. Có hai tướng lĩnh
binh là Đổng Hành và Đổng Siêu, hôm ấy vào ra mắt Vu Cấm. Đổng Hành nói:
- Tướng quân cầm bảy đạo quân lớn
ra cứu Phàn Thành, phải thắng cho kỳ được, sao lại dùng Bàng Đức làm tiên
phong, há chẳng lỡ việc ư?
Cấm giật mình hỏi cớ làm sao, thì
Hành thưa rằng:
- Bàng Đức nguyên là thủ hạ của
Mã Siêu, bất đắc dĩ phải về hàng Nguỵ. Nay chủ cũ của hắn ở Thục, làm ngũ hổ tướng;
anh ruột hắn là Bàng Nhu, hiện cũng đang làm quan ở Tây Xuyên. Nếu sai y làm
tiên phong, thì chẳng khác gì đổ dầu mà cứu lửa! Tướng công sao không bẩm với
Nguỵ vương, thay người khác đi.
Cấm nghe lời, ngay đêm hôm ấy vào
phủ bẩm với Tào Tháo.
Tháo nghĩ ra, cho đòi Bàng Đức đến,
bắt phải nộp giả ấn tiên phong.
Đức thất kinh, nói:
- Tôi muốn ra sức giúp đại vương,
cớ sao lại không dùng?
Tháo nói:
- Ta cũng không nghi gì ngươi,
nhưng hiện nay Mã Siêu đang ở Xuyên, mà anh ngươi là Bàng Nhu, cũng đang làm
quan ở đó. Dẫu ta không nghi, nhưng e có tiếng này tiếng khác, thì làm thế nào?
Đức nghe câu ấy, cởi mũ rập đầu
xuống đất, máu chảy đầy mặt, rồi kêu rằng:
- Tôi từ khi ở Hán Trung theo
hàng với đại vương được đội ơn dày đã nhiều, dẫu gan óc lầy đất, cũng không báo
được ơn ấy. Đại vương việc gì còn phải nghi tôi? Khi xưa, tôi ở với anh tôi một
nhà, chị dâu không tốt, nhân lúc say rượu, tôi giết đi. Anh tôi giận lắm, thề
không trông thấy mặt nhau nữa, tình anh em đã tuyệt rồi. Chủ tôi là Mã Siêu, có
khoẻ không có khôn, quân thua, cơ nghiệp mất, một mình vào Xuyên theo hàng người
khác, nay cùng với tôi, mỗi người thờ một chủ, cái nghĩa cũ cũng không còn nữa.
Tôi cảm ơn đại vương, có đâu dám mang bụng khác, xin đại vương xét cho mới được.
Tháo bèn đỡ Bàng Đức đứng dậy, rồi
vỗ về, nói:
- Ta vẫn biết ngươi là người
trung nghĩa, ta nói thế cốt để cho yên bụng chúng đó thôi. Ngươi nên gắng sức lập
công. Ngươi không phụ ta, ta cũng không phụ ngươi đâu!
Đức lạy tạ trở về, sai thuộc hạ
đóng một cỗ quan tài. Hôm sau bày cỗ quan tài ấy ở trước thềm, rồi mời các bạn
lại ăn tiệc. Các bạn trông thấy, đều giật mình hỏi rằng:
- Tướng quân mang quân đi trận,
sao lại bày trò quái gở thế?
Đức cầm chén rượu bảo với thân hữu
rằng:
- Tôi đội ơn Nguỵ vương, thề đem
cái chết để báo đền. Nay ra Phàn Thành đánh nhau với Quan Công, nếu tôi không
giết được hắn thì cũng bị hắn giết mất, dù hắn không giết được tôi, thì tôi
cũng tự vẫn, cho nên sắm sẵn cái đồ này, để tỏ ra rằng không lẽ nào tôi lại trở
về không.
Chúng thấy nói vậy ai cũng động
lòng than thở.
Đức gọi vợ là Lý thị và con là
Bàng Hội ra dặn rằng:
- Ta làm tiên phong, nghĩa nên phải
chết ở đám chiến trường, nàng phải trông nom lấy con cho ta. Thằng bé này có tướng
lạ, mai sau nó khôn lớn, tất báo thù được cho ta đấy!
Vợ con cùng khóc lóc tiễn biệt.
Đức sai khiêng áo quan đi trước.
Khi đi Đức bảo với bộ tướng rằng:
- Ta nay cố chết đánh nhau với
Quan Công, nếu ta bị Quan Công giết chết, thì chúng bay bỏ thây ta vào đây, nhược
bằng ta giết được Quan Công, thì ta cũng lấy đầu y bỏ vào áo quan này đem về nộp
Nguỵ vương.
Bộ tướng cùng nói rằng:
- Tướng quân có bụng trung dũng
như thế, chúng tôi còn dám không hết sức để giúp tướng quân hay sao?
Bàng Đức dẫn quân đi. Có người
đem lời ấy nói với Tào Tháo. Tháo mừng nói rằng:
- Bàng Đức trung dũng như thế, ta
còn lo gì nữa!
Giả Hủ nói:
- Bàng Đức cậy sức khoẻ một mình,
muốn liều chết đánh nhau với Quan Công, tôi nghĩ lấy làm lo lắm.
Tháo cho là phải, lập tức truyền
lệnh cho Bàng Đức rằng:
- Quan Công trí dũng song toàn,
không nên khinh địch. Có thể đánh được thì hãy đánh, nếu không thể đánh được,
thì nên giữ cho cẩn thận là hơn!
Đức nghe lệnh ấy, bảo với các tướng
rằng:
- Làm sao Nguỵ vương trọng vọng
Quan Công lắm thế? Phen này ta quyết đạp đổ danh giá ba mươi năm của hắn mới được.
Vu Cấm nói:
- Nguỵ vương đã dạy thế, phải
nghe mới được!
Đức dẫn quân đến Phàn Thành, khua
chiêng đánh trống, diễu võ dương oai, thách Quan Công ra đánh nhau.
Quan Công đang ngồi trong trướng,
chợt có thám mã về báo rằng:
- Tào Tháo sai Vu Cấm làm tướng,
lĩnh bảy đạo quân kéo đến. Tiền bộ tiên phong là Bàng Đức, đem một cái áo quan
đi trước trận, nói lắm câu láo xược lắm, thề đánh nhau với tướng quân kỳ chết mới
nghe. Quân hắn hiện đóng cách thành ba mươi dặm.
Quan Công nghe nói, bỗng biến
ngay sắc mặt, chòm râu dài mấp máy, nổi giận nói rằng:
- Anh hùng thiên hạ nghe tiếng ta
là phải khiếp. Bàng Đức là thằng nào, dám khinh ta làm vậy? Quan Bình! Cho mày
cứ việc đánh Phàn Thành, để tao ra chém chết thằng sất phu ấy, mới hả được bụng
tao!
Bình thưa:
- Phụ thân không nên đem thân quý
trọng như núi Thái Sơn, mà cùng tranh hơn kém với một hòn đá. Con xin ra đánh
nó cũng xong!
Quan Công nói:
- Có phải thế, cho mày đi trước,
tao đi sau tiếp ứng ngay.
Quan Bình ra trướng, vác đao lên
ngựa, dẫn quân đến đánh Bàng Đức. Hai bên dàn trận, trong trận Nguỵ có một lá cờ
trắng, đề bốn chữ “Nam An Bàng Đức”. Đức mình mặc áo bào xanh, tay cầm đại đao,
cưỡi ngựa, đứng trước trận, sau lưng có năm trăm quân, lại có mấy người khiêng
một cái áo quan đi ra.
Quan Bình trông thấy mắng lớn:
- Bớ quân bội chủ kia!
Bàng Đức hỏi bộ tốt tướng ấy là
ai, bộ tốt nói là con nuôi Quan Công tên là Quan Bình, Đức gọi bảo rằng:
- Ta phụng mệnh Nguỵ vương ra đây
lấy đầu cha mày, mày là một đứa trẻ con chốc lở, ta không nỡ giết về cho mau gọi
cha mày ra đây!
Bình giận lắm, tế ngựa múa đao
xông vào đánh Bàng Đức, Đức múa đao ra nghênh; hai bên đánh nhau độ ba mươi hiệp,
chưa phân thắng phụ, phải tạm nghỉ. Có người báo với Quan Công. Quan Công giận
lắm, sai ngay Liêu Hoá đánh Phàn Thành, còn mình thì lại địch Bàng Đức. Quan
Bình kể lại việc giao chiến với Bàng Đức, không phân thắng bại.
Quan Công cầm long đao nói lớn rằng:
- Vân Trường đã đến đây, Bàng Đức
sao không ra mà chịu chết?
Hiệu trống nổi lên. Bàng Đức tế
ngựa ra gọi rằng:
- Ta phụng chỉ Nguỵ vương, cốt đến
đây để lấy đầu mày, sợ mày không tin, cho nên mang sẵn áo quan ra đây, nếu có sợ
chết, thì xuống ngựa xin hàng ngay đi!
Quan Công quát mắng rằng:
- Thứ mày là một thằng sất phu,
có làm trò trống gì! Chỉ tiếc cho thanh long đao của tao, phải chém đến tuồng
chuột chết ấy!
Nói đoạn thúc ngựa vào đánh Bàng
Đức. Đức cũng múa đao lại địch. Hai bên đánh nhau hơn trăm hiệp, tinh thần càng
mạnh mẽ hơn lên. Hai bên quân sĩ trố mắt đứng xem.
Quân Nguỵ sợ Bàng Đức núng thế,
khua chiêng thu quân. Quan Bình sợ cha đã già, cũng khua chiêng. Hai tướng cùng
quay về.
Bàng Đức về đến trại, nói với
chúng rằng:
- Người ta vẫn đồn Quan Công anh
hùng, hôm nay ta mới tin là thật!
Đang nói chuyện, thì Vu Cấm đến bảo
rằng:
- Tướng quân đánh nhau với Quan
Công hơn trăm hiệp, chưa thấy lợi chút nào, sao không hãy rút quân lánh đi?
Bàng Đức hung hăng nói rằng:
- Nguỵ vương sai tướng quân làm đại
tướng, sao lại hèn đớn làm vậy? Tôi ngày mai quyết một trận tử chiến, chớ không
chịu lui!
Cấm không dám gàn trở gì nữa, cáo
từ ra về.
Quan Công về đến trại, bảo với
Quan Bình rằng:
- Bàng Đức sử dụng đao giỏi lắm,
thực là đối thủ với ta!
Bình nói:
- Tục ngữ có câu: “Con nghé mới
sinh, không kinh gì hổ”. Phụ thân phỏng có chém được hắn, chẳng qua cũng chỉ là
giết một tên lính ở Tây Khương mà thôi; nếu có sơ suất điều gì, thì ra bỏ mất
việc to của bá phụ uỷ thác!
Quan Công nói:
- Tao không giết được hắn, sao hả
được giận? Ý tao đã quyết rồi, không được nói lôi thôi nữa!
Hôm sau Quan Công dẫn quân ra,
Bàng Đức cũng đem quân lại đón. Hai bên dàn trận, chẳng nói chẳng rằng, xốc lại
giao phong. Đánh độ năm mươi hiệp Bàng Đức cầm đuôi cán đao, quay ngựa chạy về.
Quan Công đuổi theo. Quan Bình sợ chuyện gì xảy ra, cũng chạy theo đi kèm. Quan
Công quát to lên rằng:
- Bàng tặc! Mày muốn dùng mẹo đà
đao, đây tao cũng không có sợ!
Nguyên là Bàng Đức làm thế giả đà
đao, rồi gác đao trên yên ngựa, se sẽ rút bộ cung đằng sau lưng, bắn ra một
phát. Quan Bình nhanh mắt, trông thấy Bàng Đức đặt tên bèn kêu to lên rằng:
- Tướng giặc kia, chớ có bắn trộm!
Quan Công vừa nhìn ra, thì đã thấy
dây cung bật một tiếng, tên vùn vụt bay ra, tin ngay vào giữa vai tả. Quan Bình
xông vào cứu Quan Công, Bàng Đức quay ngựa, múa đao đuổi theo, chợt nghe trong
trận mình chiêng khua ầm ĩ. Đức sợ hậu quân lỡ có điều gì, kíp quay ngựa trở về.
Té ra Vu Cấm thấy Bàng Đức bắn tin Quan Công, sợ Đức lập được công to, giảm mất
uy thế của mình, cho nên khua chiêng thu quân.
Đức về đến trận hỏi rằng:
- Làm sao mà khua chiêng?
Cấm nói:
- Nguỵ vương có dặn rằng: Quan
Công trí dũng đủ cả. Hắn tuy bị trúng tên quay về, nhưng sợ có mưu mẹo gì
chăng, cho nên ta khua chiêng đó.
Đức nói:
- Nếu không thu quân, thì ta đã
chém được hắn rồi!
Cấm nói:
- Đi vội vàng quá thì bước không
được chắc, ta phải từ từ mà làm.
Bàng Đức không biết ý Vu Cấm, chỉ
phàn nàn mãi không thôi.
Lại nói Quan Công về đến trại,
rút mũi tên ra, may vết thương cũng không sâu lắm, bèn sai người lấy thuốc dấu
dịt lại. Quan Công giận Bàng Đức lắm, bảo với các tướng rằng:
- Ta thề thế nào cũng báo thù được
mũi tên này!
Các tướng nói:
- Tướng quân hãy nghỉ ngơi ít bữa,
rồi lại đánh nhau cũng chưa muộn.
Hôm sau, có tin Bàng Đức dẫn quân
đến khiêu chiến. Quan Công muốn ra, các tướng cố sức ngăn lại. Bàng Đức sai
quân sỉ nhục. Quan Bình giữ vững cửa trại, dặn các tướng không ai được nói cho
Quan Công biết.
Bàng Đức đến thách đánh hơn mười
ngày, không thấy một người nào ra, bèn bàn với Vu Cấm rằng:
- Mắt ta trông thấy Quan Công tin
phải tên, dễ thường nhọt tên ấy sưng lên, không nhấc tay lên được, cho nên
không dám ra hẳn? Chi bằng nhân cơ hội này, hội cả bảy đạo quân, đánh bừa vào
trại, mới giải được vây cho Phàn Thành.
Vu Cấm chỉ sợ Bàng Đức thành được
công to, cứ vịn lấy lời dặn của Tào Tháo, không cho động binh. Bàng Đức mấy
phen muốn đến cướp trại, Cấm nhất định không nghe. Cấm lại dời cả bảy đạo quân
sang qua cửa núi, cách Phàn Thành mười dặm dựa vào sườn núi hạ trại. Cấm tự
lĩnh binh hạ ngang đường lớn, sai Bàng Đức đóng ở sau hang núi, để không tiến
quân lập công được.
Quan Bình thấy Quan Công khỏi được
cái nhọt tên, mừng rỡ lắm. Chợt nghe tin Vu Cấm dời quân sang mé bắc Phàn
Thành, lập tức vào bẩm với Quan Công. Quan Công lên ngựa, dẫn vài tên lính kỵ,
trèo lên gò cao đứng xem, thì thấy ở trên Phàn Thành, cờ cắm xiêu vẹo, quân sĩ
lộn xộn; trong hang núi cách phía bắc thành mười dặm có một bọn quân mã đóng. Lại
thấy nước sông Tương Giang chảy xiết lắm. Quan Công xem xong trở về, gọi quan
hướng đạo hỏi rằng:
- Hang núi ở ngoài mười dặm mé bắc
Phàn Thành, gọi là xứ gì?
Quan hướng đạo bẩm:
- Đó gọi là cửa Khoái Khẩu.
Quan Công mừng nói rằng:
- Vu Cấm tất bị ta bắt sống!
Các tướng hỏi:
- Sao tướng quân lại nhất quyết
như thế?
Quan Công nói:
- Cá vào cửa đó, có lâu làm sao
được?
Ai nấy đếu chưa tin. Quan Công về
trại, lúc ấy vào mùa thu tháng tám, mưa rào liền mấy hôm, bèn sai thu xếp thuyền
bè, dự sẵn đồ thuỷ chiến. Quan Bình hỏi:
- Đánh nhau trên bộ, can gì phải
dùng đến thuyền bè?
Quan Công nói:
- Mày biết đâu được mẹo này! Vu Cấm
không đóng quân ở chỗ rộng rãi, mà tụ cả vào chỗ hẻm ở trong cửa sông Khoái Khẩu.
Hiện nay, mưa thu tầm tã, nước sông Tương dâng lên đầy ắp. Ta đã sai người lấp
các cửa sông, đợi khi nào nước to, ta lên chỗ cao cho thuyền ra tháo nước tràn
vào thì quân giặc ở Phàn Thành, Khoái Khẩu thành ra cua cá cả!
Quan Bình chịu kế ấy là hay.
Lại nói, quân Nguỵ đóng ở cửa
Khoái Khẩu, mưa to luôn mấy hôm, đốc tướng là Thành Hà vào bẩm với Vu Cấm rằng:
- Quân ta đóng ở cửa sông, địa thế
thấp lắm, tuy có núi đất, nhưng cách trại hơi xa. Hiện nay mưa thu ròng rã,
quân sĩ vất vả lắm. Mấy bữa nay lại nghe tin quân Kinh Châu đóng cả ở trên gò
cao, và sửa sang lại thuyền bè ở cửa sông Hán Thuỷ. Nếu nước sông lên to, thì
quân ta nguy mất, phải liệu trước đi mới được.
Vu Cấm quát mắng rằng:
- Đồ sất phu kia! Mày dám làm loạn
bụng quân hả! Hễ còn nói nữa thì ta chém!
Thành Hà hổ thẹn lui ra, lại đến
nói chuyện với Bàng Đức.
Đức nói:
- Ngươi nói phải lắm! Vu tướng
quân không dời quân đi chỗ khác, đến mai ta đem quân ra nơi khác một mình vậy!
Bàn định xong xuôi, đêm hôm ấy, bỗng
nổi mưa to gió lớn. Bàng Đức đang ngồi trong trướng, nghe thấy tiếng nước reo ầm
ầm, tiếng trống chiêng rầm rĩ. Đức giật mình, vội vàng ra trướng lên ngựa, thì
thấy ba bề bốn bên, nước đổ về như thác lũ. Bảy đạo quân Tào bấy giờ chạy đâu
cho thoát, thôi thì người chìm giữa dòng, kẻ giạt ngọn sóng, lênh đênh trên mặt
nước, chết đuối không biết cơ man nào mà kể. Chỗ đất phẳng, nước sâu hơn một
trượng.
Vu Cấm, Bàng Đức và các tướng may
nhanh chân chạy lên được gò cao.
Đến tang tảng sáng, Quan Công
cùng với các tướng ngồi trên thuyền to, phất cờ đánh trống kéo đến. Vu Cấm thấy
bốn mặt không còn đường nào chạy, mà tả hữu thì chỉ còn được năm sáu mươi người,
mới tình nguyện xin hàng. Quan Công sai lột cả áo giáp, bắt giam vào trong thuyền,
rồi đến bắt Bàng Đức.
Lúc đó, Bàng Đức cùng với Đổng
Hành, Đổng Siêu, Thành Hà và năm trăm bộ tốt, không ai có một mảnh giáp nào, đứng
cả trên đê. Quan Công đến, Bàng Đức không sợ hãi chút nào, xông lại tiếp chiến.
Quan Công sai thuyền vây bọc cả bốn mặt, rối cho quân bắn lên trên núi, quân
Nguỵ chết hại hơn một nửa.
Đổng Hành, Đổng Siêu thấy thế
nguy, bảo với Bàng Đức rằng:
- Quân ta mất đã quá nửa rồi, bốn
mặt không có đường nào chạy, chi bằng hàng quách cho rảnh!
Bàng Đức nổi giận mắng rằng:
- Ta chịu hậu ân của Nguỵ vương,
lại thèm khuất thân với ai?
Lập tức chém hai người ấy ở trước
trận, rồi quát to lên rằng:
- Ai còn dám nói hàng, thì hãy
trông gương hai người này!
Bởi thế chúng đều phải cố ra sức
kháng cự, tự sáng sớm đến mãi buổi trưa, càng đánh càng hăng.
Quan Công thúc quân bốn mặt đánh
thật riết, tên bắn lên núi như mưa, Đức ngoảnh lại nói với Thành Hà rằng:
- Ta nghe có câu rằng: “Đã gọi là
dũng tướng thì không sợ chết, đã gọi là tráng sĩ, thì không nên huỷ cái danh tiết
mình mà cầu lấy sống”. Ngày hôm nay là ngày ta chết đây, ngươi nên cố liều chết
mà đánh!
Thành Hà nghe lời bước ra, bị
Quan Công bắn một phát ngã lăn xuống nước chết. Quân sĩ xin hàng cả. Duy có một
mình Bàng Đức, vẫn cứ ra sức cự lại. Đang khi ấy, có vài mươi tên lính Kinh
Châu, bơi một chiếc thuyền nhỏ lại gần bờ. Đức cắp đao nhảy vọt một cái, vào
trong thuyền, giết ngay được mươi người. Chúng phải bỏ thuyền nhảy xuống sông
trốn.
Bàng Đức một tay cắp đao, một tay
bơi chéo, định chạy ra Phàn Thành. Bỗng ở mé trên có một tướng bơi một chiếc bè
to đến, làm cho chiếc thuyền nhỏ chao nghiêng đi, Bàng Đức ngã lăn xuống nước.
Tướng ấy nhảy theo xuống, bắt sống được Bàng Đức đem lên. Chúng trông ra xem
ai, thì là Châu Thương. Nguyên Châu Thương ở Kinh Châu mấy năm, thạo nghề lội
nước mà lại có sức khoẻ, cho nên mới bắt nổi được Bàng Đức.
Bảy đội quân của Vu Cấm bị chết
đuối rất nhiều, còn người nào biết bơi thoát được, thì lại không có đường nào
chạy, cũng phải hàng cả.
Đời sau có thơ khen Quan Công rằng:
Đất phẳng Tương, Phàn hoá vực khơi!
Trí dũng Quan Công ai sánh nổi?
Uy danh lừng lẫy để muôn đời!
Quan Công về chỗ gò cao, trèo lên
trướng ngồi, đao phủ điệu Vu Cấm đến, Cấm lạy phục xuống đất, kêu van xin tha tội.
Quan Công nói:
- Mày sao dám kháng cự với tao?
Cấm thưa:
- Phụng mệnh người trên sai khiến,
nhưng như chúng tôi đâu dám thế. Xin quân hầu thương cho, chúng tôi sẽ xin hết
sức để báo lại ân ấy!
Quan Công vuốt râu, cười nói rằng:
- Tao giết mày cũng như giết giống
chó lợn đó thôi, chẳng bõ bẩn gươm của tao! Quân đâu! Hãy trói cổ nó lại, điệu
về Kinh Châu giam vào ngục, đợi khi nào ta về sẽ khu xử.
Chúng lại điệu Bàng Đức đến, Đức
trợn mắt tròn xoe, đứng sững chứ không quỳ.
Quan Công hỏi:
- Anh mày hiện đang ở Hán Trung,
chủ cũ mày là Mã Siêu thì đang làm đại tướng ở Thục, làm sao mày không hàng cho
sớm?
Đức quát lên rằng:
- Ta thà chịu chết, chớ không khi
nào chịu hàng mày!
Đức mắng chửi om sòm Quan Công giận
lắm, quát đao phủ lôi ra chém. Đức vươn cỗ lên cho chém.
Quan Công thương hại, sai người
chôn cất tử tế. Rồi nhân lúc nước còn mênh mông, bèn dẫn các tướng chèo thuyền
đến đánh Phàn Thành. Bấy giờ chung quanh Phàn Thành đều là nước cả, sóng gió đập
vào chân thành có chỗ sắp lở. Dân phu trong thành gánh đất chuyển gạch, ngày
đêm xây đắp, không lúc nào được nghỉ.
Các tướng Tào, người nào người nấy
sợ hãi tất tưởi vào bẩm với Tào Nhân rằng:
- Tình hình nguy cấp thế này,
không thể cứu vãn được nữa. Ta nên nhân lúc quân giặc chưa đến, chèo thuyền trốn
ngay đêm nay là hơn. Tuy rằng mất thành, nhưng toàn được binh mệnh!
Nhân nghe theo. Mọi người đang sắp
sửa thuyền bè, thì Mãn Sủng can rằng:
- Không nên! Không nên! Nước lũ bỗng
nhiên tràn về, ngập lâu sao được? Chẳng mấy bữa nước tất phải rút. Quan Công
tuy chưa đánh thành, nhưng đã sai tướng khác giữ đường ngoài thành rồi, thế mà
chưa dám đến đây, là vì sợ quân ta đánh tập hậu đó thôi. Nếu ta bỏ thành mà đi,
thì tự miền nam sông Hoàng Hà trở xuống, không còn thuộc về nhà nước nữa. Xin
tướng quân phải cố mà giữ lấy thành này để làm bức bình phong mới được.
Nhân chắp tay tạ rằng:
- Không có Bá Ninh dạy bảo thì lỡ
mất việc lớn!
Nói đoạn cưỡi ngựa lên thành, hội
các tướng lại thề rằng:
- Ta phụng mệnh Nguỵ vương giữ
thành này, hễ ai còn dám nói bỏ thành chạy nữa thì chém!
Các tướng đều xin cố chết chống
giữ. Nhân mừng lắm, sai trữ sẵn vài trăm bộ cung tên ở trên mặt thành, quân sĩ
ngày đêm canh giữ, không ai dám lười nhác chút nào. Già trẻ trong thành kéo ra,
khiêng đất vận đá, lấp những chỗ sụt lở. Được mươi hôm, nước quả nhiên dần dần
rút xuống thực.
Quan Công từ khi bắt được bọn tướng
Nguỵ, danh tiếng đồn dậy cả thiên hạ, đâu đâu cũng khiếp. Bỗng con thứ hai là
Quan Hưng từ Kinh Châu đến thăm cha, Quan Công sai mang sổ công lao về Thành
Đô, tâu với Hán Trung vương để phong thưởng cho các tướng.
Quan Hưng lạy từ, mang sổ về
Thành Đô.
Quan Công chia một nửa quân, sai
đóng ngăn chặn ở đường Giáp Hạ, còn mình thì dẫn quân đến đánh bốn mặt Phàn
Thành. Quan Công đến cửa bắc, cầm roi trỏ lên thành mà bảo rằng:
- Đàn chuột kia! Không hàng ngay
đi, còn đợi đến bao giờ?
Tào Nhân ở trên địch lâu, thấy
Quan Công chỉ mặc một áo giáp che ngực, trong mặc áo cẩm bào xanh, vội vàng sai
năm trăm tay cung, nhất tề bắn ra một loạt. Quan Công vội vàng quay ngựa về,
thì đã bị một mũi tên tin vào cánh tay phải.
Đó là:
Tên bay một mũi bỗng thương thân
Chưa biết Quan Công ra làm sao,
xem hồi sau sẽ biết.
Lã Tử Minh áo trắng sang đò
Tào Nhân thấy Quan Công bị tên
ngã ngựa, vội vàng kéo quân ra thành, bị Quan Bình đánh một trận dữ dội phải lộn
trở vào. Quan Bình cứu được Quan Công đem về trại, rút mũi tên ra. Nguyên đầu
mũi tên có thuốc độc, đã thấm vào xương cánh tay phải sưng lên xám ngắt, không
cử động được.
Quan Bình vội vàng bàn với các tướng
rằng:
- Phụ thân tôi nếu bị hỏng cánh
tay thì đánh giặc sao được? Chi bằng tạm lui về Kinh Châu điều trị đã.
Nói đoạn, cùng kéo vào trướng ra
mắt Quan Công.
Quan Công hỏi:
- Các ngươi vào đây có việc gì?
Các tướng bẩm:
- Chúng tôi thấy cánh tay quân hầu
đau nặng, ngại khi lâm trận không tiện, bàn nhau nên rút nhau về Kinh Châu, chữa
thuốc cho khỏi rồi sẽ hay.
Quan Công nổi giận mắng rằng:
- Ta chỉ nay mai lấy được Phàn
Thành, lấy xong Phàn Thành, thì kéo ùa vào ngay Hứa Đô, giết phăng Tào Tháo, để
yên nhà Hán. Có đâu vì một vết thương nhỏ, mà bỏ mất việc lớn, sao các ngươi
dám làm nản bụng quân ta?
Quan Bình nín lặng trở ra. Các tướng
thấy Quan Công không chịu rút quân về, mà vết thương thì mãi không khỏi, mới
sai người đi khắp mọi nơi tìm danh sư về chữa.
Bỗng một hôm, có người từ Giang
Đông bơi một chiếc thuyền nhỏ đến thẳng trước trại. Lính canh đưa vào ra mắt
Quan Bình. Bình thấy người ấy đội khăn vuông, mặc áo rộng tay xách một cái túi
xanh, tự xưng là người ở Tiêu Quận họ Hoa tên Đà, tự là Nguyên Hoá. Nhân thấy
Quan tướng quân là anh hùng thiên hạ, nay trúng phải tên thuốc độc, cho nên xin
lại chữa thuốc.
Bình hỏi:
- Có phải trước ông đã chữa cho
Chu Thái ở Đông Ngô đó không?
Đà thưa:
- Phải.
Bình mừng lắm, lập tức dẫn các tướng
Hoa Đà vào ra mắt Quan Công.
Bây giờ Quan Công đau cánh tay nặng
lắm, nhưng sợ bụng quân xôn xao phải cố gượng ngồi đánh cờ với Mã Lương cho
tiêu khiển. Thấy có thầy thuốc đến. Quan Công liền cho mời vào. Hoa Đà ra mắt,
lạy xong, mời ngồi chơi uống nước. Đà xin coi bệnh. Quan Công cởi áo giơ tay ra
cho Đà xem.
Đà nói:
- Đây là mũi tên có thuốc độc bằng
vị ô đà, đã thấm vào xương rồi, nếu không chữa nhanh, thì cánh tay này hỏng mất.
Quan Công nói:
- Dùng cách gì chữa cho được?
Đà nói:
- Tôi đã có phép chữa, nhưng chỉ
ngại ngài ghê sợ mà thôi.
Quan Công cười, nói rằng:
- Ta coi cái chết như bỡn, có việc
gì mà lo sợ?
Đà nói:
- Phải tìm một chỗ yên tĩnh, chôn
một cái cột, trên cột đóng một cái vòng sắt, rồi ngài xâu cánh tay vào cái vòng
ấy, lấy dây buộc chặt lại rồi đem chăn trùm kín đầu đi, để tôi dùng dao nhọn rạch
chỗ thịt ấy tới xương, cạo sạch chất độc, rịt thuốc vào và khâu lại; có thế mới
chữa được khỏi ngay, nhưng chỉ ngại ngài sợ hãi thôi.
Quan Công cười, nói rằng:
- Tưởng thế nào? Chớ dễ như thế,
thì can gì phải dùng đến cột với vòng sắt!
Bèn sai mang rượu ra thết đãi Hoa
Đà. Đà uống xong vài chén. Quan Công vẫn cứ việc đánh cờ với Mã Lương và giơ
cánh tay ra cho Hoa Đà rạch.
Đà tay cầm một con dao con, sai một
tiểu hiệu bưng chậu hứng máu.
Đà nói:
- Tôi hạ thủ đây, xin quân hầu chớ
ngại.
Quan Công nói:
- Tha hồ cho thầy chữa, ta không
như kẻ tầm thường sợ đau đâu!
Đà cầm dao rạch miếng thịt vào đến
xương thì thấy trên chỗ xương đã xanh cả ra, Đà cạo trên xương tiếng kêu ken
két, xung quanh ai trông thấy cũng lè lưỡi sởn gai. Quan Công thì cứ uống rượu
đánh cờ, cười nói như không, tựa hồ không đau đớn chút nào.
Một lát, huyết chảy ra đầy một chậu.
Đà cạo hết chất độc, rịt thuốc vào lấy chỉ khâu lại. Quan Công cười to một tiếng,
đứng dậy bảo với các tướng rằng:
- Cánh tay này co ruỗi như thường
rồi, không thấy đau nữa, tiên sinh quả thật là thần y!
Đà nói:
- Tôi đi chữa thuốc một đời người,
chưa thấy gan như thế, quân hầu quả thật là người nhà trời!
Người sau có thơ khen rằng:
Thuốc giỏi trên đời dễ mấy ai?
Quan tướng người thần duy có một
Hoa Đà thuốc thánh cũng không hai!
Quan Công khỏi đau, mở tiệc yến
khoản đãi Hoa Đà. Đà dặn rằng:
- Cái nhọt tên của ngài, tuy rằng
khỏi, nhưng còn phải giữ gìn, chớ có quá tức giận mà vỡ vết thương ấy thì khốn.
Ngoài trăm ngày mới bình phục được như cũ.
Quan Công tạ Hoa Đà một trăm lạng
vàng, Đà không chịu nhận, nói rằng:
- Tôi nghe ngài là người cao
nghĩa, cho nên đến chữa giúp đó thôi, chứ có mong gì ngài báo ơn đâu!
Nói rồi, nhất định không chịu nhận
một ly nào, lại để lại một phong thuốc để rịt vào vết thương, rồi từ biệt ra
đi.
Lại nói Quan Công từ khi bắt sống
Vu Cấm, chém chết Bàng Đức, uy danh lừng lẫy, khắp vùng Hoa Hạ đều kinh sợ. Tin
ấy báo về Hứa Đô, Tào Tháo giật mình, hội cả văn võ lại bàn định rằng:
- Ta vẫn biết Vân Trường trí dũng
trùm một đời, nay chiếm được cả Kinh Tương, khác nào hổ kia mọc cánh. Vu Cấm bị
bắt, Bàng Đức bị chết, quân Nguỵ mất cả nhuệ khí. Phòng thử y kéo ùa đến Hứa
Đô, thì làm thế nào? Ta phải thiên đô tránh trước đi mới được.
Tư Mã Ý can rằng:
- Đại vương chớ nên thiên đô. Bọn
Vu Cấm thua vì bị nước ngập, chớ không phải tại lỗi đánh nhau, chưa tổn hại gì
đến việc lớn nhà nước. Nay Tôn, Lưu hai bên không hoà với nhau; Vân Trường đắc
chí, Tôn Quyền tất không bằng lòng, đại vương nên sai sứ sang Đông Ngô, bày tỏ
lợi hại, sai Tôn Quyền ngầm cất quân chặn đường của Vân Trường; hứa rằng khi
nào thành việc sẽ cắt Giang Nam phong cho Tôn Quyền, như thế thì Phàn Thành tự
nhiên giải được vây.
Chủ bộ là Tưởng Tế nói rằng:
- Trọng Đạt nói phải đấy! Nay nên
sang sứ sang Đông Ngô ngay đi, chớ đừng thiên đô mà náo động nhân dân!
Tháo nghe lời, không dời đô nữa;
rồi than thở bảo với mọi người rằng:
- Vu Cấm theo ta hơn ba chục năm
trời, ai ngờ gặp lúc nguy nan lại hoá ra không bằng Bàng Đức. Nay một mặt sai sứ
sang Đông Ngô, một mặt phải có đại tướng ra chống nhau với giặc mới được.
Tháo nói vừa dứt lời, thì Từ Hoảng
bước ra thưa rằng:
- Tôi xin cự nhau với Vân Trường!
Tháo mừng lắm, sai ngay Từ Hoảng
làm đại tướng, cho Lã Kiền làm phó tướng, dẫn năm vạn tinh binh đi liền ngay
hôm ấy đến đóng ở gò Dương Lăng, chờ khi nào mặt đông nam có quân tiếp ứng, thì
sẽ tiến đánh.
Lại nói, Tôn Quyền tiếp được thư
của Tào Tháo, xem xong mừng rỡ, nhận lời ngay, viết thư giao cho sứ giả về trước,
rồi hội văn võ lại bàn bạc.
Trương Chiêu nói:
- Vân Trường mới bắt Vu Cấm, chém
Bàng Đức uy danh lừng lẫy vùng Hoa Hạ, Tào Tháo muốn thiên đô để lánh đi. Nay
Phàn Thành nguy cấp, mới sai sứ đến cầu cứu, chỉ sợ xong việc rồi, thì y lật lọng
chăng?
Quyền chưa kịp nói, thì có Lã
Mông bơi chiếc thuyền nhỏ từ Lục Khẩu đến, xin vào bẩm một việc.
Quyền đòi hỏi việc gì. Mông thưa
rằng:
- Vân Trường hiện đang vây Phàn
Thành, ta nên thừa lúc y vắng nhà, mang quân sang đánh úp lấy Kinh Châu.
Quyền hỏi:
- Ta muốn sang mặt bắc lấy Từ
Châu, nên không?
Mông thưa:
- Tào Tháo nay ở Hà Bắc, chưa rỗi
mà trông nom đến mặt đông, quân giữ Từ Châu cũng chẳng có mấy, nếu đánh là lấy
được ngay, nhưng địa thế ở đó, đánh trên bộ thì tiện hơn đánh mặt thuỷ, mà dù
có lấy được, nhưng khó giữ lắm. Chi bằng hãy lấy Kinh Châu trước, giữ suốt cả
sông Trường Giang, rồi sau sẽ liệu.
Quyền nói:
- Ta vẫn muốn lấy Kinh Châu, nói
thế là thử ngươi đấy mà thôi! Ngươi nên tính ngay việc ấy cho ta, ta cũng cất
quân ngay để tiếp ứng cho.
Lã Mông từ biệt Tôn Quyền, về đến
Lục Khẩu. Có tiễu mã về báo rằng:
- Trước dưới ven sông, cứ cách
hai chục dặm, hoặc ba chục dặm, trên các gò cao, đều có ụ đốt lửa cả. Lại nghe
quân mã Kinh Châu tề chỉnh lắm, chắc là có chuẩn bị rồi.
Lã Mông giật mình, nói rằng:
- Nếu như thế thì khó đồ được mất
rồi! Trước mặt Ngô hầu, ta trót khuyên lấy Kinh Châu, nay biết xử trí làm sao
cho được?
Mông nghĩ ngợi mãi, không có mẹo
gì mới cáo ốm và cho người về báo với Tôn Quyền. Quyền thấy vậy trong bụng buồn
rầu lắm.
Lục Tốn thưa rằng:
- Tử Minh giả ốm đó, không phải ốm
thật đâu!
Quyền nói:
- Bá Ngôn đã biết là giả, thì thử
đi xem ra sao.
Lục Tốn lĩnh mệnh, đến Lục Khẩu
ra mắt Lã Mông, quả nhiên Mông không có dáng gì đau ốm cả, Tốn nói:
- Tôi phụng mệnh Ngô hầu đến thăm
quý thể ra làm sao.
Mông nói:
- Tôi hơi yếu một chút, dám đâu
phiền đến hỏi thăm!
Tốn nói:
- Ngô hầu mang trách nhiệm to
giao phó cho ông, ông không nhân lúc này mà làm phăng ngay đi còn để bận bịu
trong bụng làm gì?
Lã Mông giương mắt nhìn Lục Tốn,
nín lặng hồi lâu.
Tốn lại nói:
- Tôi có một phương thuốc, trị được
bệnh của tướng quân, không biết ông có dùng không?
Mông mới đuổi tả hữu ra ngoài, rồi
hỏi rằng:
- Bá Ngôn có phương nào hay, xin
dạy bảo ngay cho!
Tốn cười, nói:
- Bệnh của Tử Minh, chẳng qua chỉ
vì quân Kinh Châu nghiêm chỉnh, và ven sông lại có ụ khói lửa đó thôi. Tôi có một
mẹo này, khiến cho những quân giữ bờ sông, không đốt được lửa lên, mà quân Kinh
Châu phải bó tay chịu hàng, thì thế nào?
Mông giật mình nói:
- Bá Ngôn nói vậy, như trông thấy
cả gan phổi tôi, vậy thì mẹo mực ra sao, xin dạy ngay cho.
Tốn nói:
- Vân Trường cậy mình là anh
hùng, nhưng chỉ còn e có tướng quân đấy thôi. Giá thử tướng quân thử ốm, từ chức
lui về, giao công việc cho người khác, để cho người ấy phỉnh phờ Quan Công còn
làm cho y kiêu ngạo hơn nữa; y tất rút hết quân Kinh Châu kéo ra Phàn Thành. Nếu
Kinh Châu không có phòng bị gì, ta chỉ dùng một đạo quân, tìm mưu lạ sang sông
mà đánh úp lấy, chắc chắn Kinh Châu ở trong tay ta rồi.
Lã Mông mừng rỡ, nói rằng:
- Thế mới thực là mẹo giỏi!
Sau đó, Lã Mông giả vờ ốm nặng,
dâng thư từ chức.
Lục Tốn về ra mắt Tôn Quyền, thuật
lại kế ấy. Quyền cho triệu Lã Mông về Kiến Nghiệp dưỡng bệnh. Mông về đến nơi,
Quyền hỏi rằng:
- Trách nhiệm ở Lục Khẩu, ngày
xưa Chu Công Cẩn tiến Lỗ Túc để thay chân. Khi Lỗ Túc mất, lại tiến ngươi để kế
vào chức ấy. Nay ngươi cũng nên tiến một người nào có tài có tiếng, để thay
ngươi, thì chẳng hay lắm ru?
Mông thưa:
- Nếu dùng người danh vọng, thì
Vân Trường tất nhiên phải đề phòng. Có Lục Tốn ý tứ sâu xa, mà chưa có danh tiếng
gì, Vân Trường tất không coi vào đâu. Nếu dùng người ấy thay tôi, thì việc ắt
xong.
Quyền mừng lắm, ngay hôm ấy phong
cho Lục Tốn làm thiên tướng quân hữu đô đốc, thay Lã Mông coi giữ Lục Khẩu.
Tốn từ tạ nói rằng:
- Tôi còn ít tuổi, học hành chưa
có gì, sợ không gánh nổi việc to.
Quyền nói:
- Tử Minh đã cử ngươi lên, tất
không nhầm lẫn, ngươi không được từ chối nữa.
Tốn phụng mệnh nhận lĩnh ấn thụ,
ra ngay Lục Khẩu. Bàn giao công việc trong ba quân mã, thuỷ, bộ đâu đấy, Tốn lập
tức viết một phong thư, sai người mang ngựa quý, gấm lạ, rượu ngon và đồ lễ vật
khác, đem đến Phàn Thành vào lễ Quan Công.
Bấy giờ, Quan Công đang chữa vết
thương, đóng quân một chỗ chưa động. Chợt có tin vào báo rằng:
- Tướng giữ Lục Khẩu bên Đông Ngô
là Lã Mông đau nặng, Tôn Quyền đem về Kiến Nghiệp điều trị, sai Lục Tốn thay
chân Lã Mông. Tối nay đến nhậm chức sai người đem thư và lễ vật đây, xin vào
bái kiến tướng quân.
Quan Công đòi sứ giả vào, bảo rằng:
- Tôn Quyền nay sao quẫn thế, sai
thằng trẻ con làm tướng à?
Sứ giả phục xuồng đất kêu rằng:
- Lục tướng quân tôi, có đồ lễ và
thư đến đấy dâng trình quân hầu. Một là mừng quân hầu, hai là cầu đôi bên được
hoà hiếu với nhau, xin quân hầu chiếu cố đến cho.
Quan Công mở thư ra xem, thấy lời
lẽ khiêm tốn lắm. Xem xong, ngẩng mặt cười ầm cả lên, rồi sai tả hữu thâu lễ vật,
cho sứ giả về.
Sứ giả về nói với Lục Tốn rằng:
- Quan Công vui mừng, có ý không
lo gì đến Đông Ngô nữa.
Tốn mừng lắm, sai người sang Kinh
Châu do thám xem sao. Quan Công quả nhiên rút quân Kinh Châu ra Phàn Thành, chỉ
đợi khỏi đau thì tiến binh.
Tốn biết được đích xác như thế,
sai ngay người về báo với Tôn Quyền.
Quyền đòi Lã Mông vào bàn bạc rằng:
- Nay Vân Trường đã rút quân khỏi
Phàn Thành, ta nên tìm kế đánh úp Kinh Châu. Ngươi nên cùng với em ta là Tôn Hiệu
dẫn đại quân sang có được không?
Tôn Hiệu tự là Thúc Minh, nguyên
là con hai Tôn Tĩnh, mà Tĩnh là chú Tôn Quyền. Mông nói:
- Nếu chúa công cho tôi là hữu dụng
thì cứ dùng một mình tôi thôi; nếu Thúc Minh có tài thì cứ dùng một mình Thúc
Minh. Chúa công không nhớ chuyện Chu Du và Trình Phổ khi xưa đó ư? Tuy công việc
do Chu Du chủ trương, nhưng Trình Phổ nghĩ mình là cựu thần mà lại kém Du nên vẫn
không bằng lòng, sau thấy Chu Du có tài, bấy giờ mới phục. Nay tài tôi không được
bằng Chu Du, mà Thúc Minh lại thân hơn Trình Phổ, tôi ngại vị tất đã đỡ nhau được
việc.
Tôn Quyền nghĩ ra, bèn phong cho
Lã Mông làm đại đô đốc, thống lĩnh các đạo quân mã, sai Tôn Hiệu đi sau tiếp ứng
lương thảo.
Mông lạy tạ, điểm ba vạn quân và
tám chục chiếc thuyền tốt, kén những tay thuỷ thủ nhà nghề, cho mặc toàn áo trắng,
giả làm lái buôn, ngồi trên thuyền chéo lái; còn tinh binh thì phục cả ở trong
khoan thuyền. Lại sai Hàn Đương, Tưởng Khâm, Chu Nhiên, Phan Chương, Chu Thái,
Từ Thịnh, Đinh Phụng, cả thảy bảy đại tướng, lần lần tiến binh sang theo; còn
bao nhiêu quân sĩ theo cả Ngô hầu để đi sau tiếp ứng. Một mặt sai người đưa thư
cho Tào Tháo, xin cất quân đánh tập hậu Vân Trường. Một mặt báo tin cho Lục Tốn
biết trước, rồi mới sai bọn áo trắng bơi thuyền đi ra sông Tầm Dương.
Thuyền đi miết cả ngày lẫn đêm,
thẳng đến bờ phía bắc. Quân canh ụ hỏi, thì người Ngô đáp rằng:
- Chúng tôi là khách buôn, nhân
đi sông gặp phải sóng gió, đến đây tránh ẩn, xin cho ở nhờ một chút.
Nói rồi mang đồ lễ lên biếu những
quân canh ở đó. Quân sĩ tin là thực, bằng lòng cho thuyền Ngô đỗ cả ven bờ
sông.
Canh hai đêm hôm ấy, tinh binh ở
trong khoang thuyền kéo ồ cả lên bờ, bắt trói hết quân giữ ụ; rồi nổi ám hiệu
cho tám chục chiếc thuyền cùng đổ lên chia nhau bắt hết những quân canh giữ các
nơi hiểm yếu đem cả xuống thuyền, không một người nào chạy thoát. Rồi kéo thẳng
đến lấy Kinh Châu, mà vẫn không có một người nào hay. Khi đến gần thành, Lã
Mông dỗ dành và trọng thưởng cho quân sĩ bắt được ở ngoài sông, sai chúng đánh
lừa quân trong thành mở cửa, đốt lửa làm hiệu. Quân sĩ vâng lệnh. Lã Mông bèn
cho chúng đi trước dẫn đường. Chừng nửa đêm, chúng đến nơi gọi cửa. Quân trong
thành lấy là người nhà, liền mở cửa ra. Quân sĩ reo ầm một tiếng, đốt lửa lên
làm hiệu, quân Ngô kéo ùa cả vào, úp được Kinh Châu.
Lã Mông cấm quân sĩ không được
xâm phạm một tí gì của dân. Những quan lại cho giữ nguyên chức cũ. Mông lại sai
người đem gia quyến Quan Công để ở riêng một, cấm không ai được quấy nhiễu. Một
mặt sai người về báo tin với Ngô hầu.
Một hôm mưa to, Mông dẫn vài tên
kỵ mã đi diễu xem bốn cửa thành, chợt trông thấy một tên lính lấy cái nón lá của
dân để che áo giáp. Mông quát tả hữu bắt tên lính ấy lại, hỏi ra thì người cùng
làng với Mông. Mông mắng rằng:
- Mày tuy là người làng với tao,
nhưng hiệu lệnh tao đã truyền ra như thế mày mà che còn cố ý phạm vào, thì phải
đem quân pháp mà trị mới được!
Tên lính ấy khóc và kêu rằng:
- Tôi sợ mưa ướt mất đồ của nhà
nước, mới lấy một cái nón mà che, chớ không dám đem dùng riêng, xin tướng quân
nghĩ tình cùng làng mà tha tội cho.
Mông nói:
- Tao vẫn biết mày lấy để che đồ
vật của nhà nước, nhưng cũng không được vì thế mà lấy của dân.
Nói đoạn, sai lôi tên lính ấy ra
chém, bêu đầu hiệu lệnh cho ba quân. Xong đâu đấy, mới thu thây sỏ, khóc lóc và
chôn cất tử tế. Vì thế, quân sĩ sợ hãi, giữ gìn kỷ luật rất nghiêm.
Được ít lâu, Tôn Quyền dẫn quân đến.
Mông ra ngoài thành đón rước vào. Quyền uý lạo một hồi, rồi lại dùng Phan Tuấn
cho coi việc Kinh Châu, mở ngục tha cho Vu Cấm về Nguỵ. Quyền yên dân, thưởng
cho quân sĩ, mở tiệc ăn mừng.
Quyền bảo Lã Mông rằng:
- Kinh Châu đã lấy được rồi, còn
Phó Sĩ Nhân ở Công An, My Phương ở Nam Quận, làm thế nào lấy được nốt hai nơi ấy?
Quyền hỏi vừa dứt lời, thì một
người bước ra thưa rằng:
- Không phải cần đến một bộ cung,
một mảnh tên, tôi chỉ xin uốn ba tấc rưỡi, sang dụ Phó Sĩ Nhân về hàng với chúa
công, có được không?
Chúng trông xem ai, thì là Ngu
Phiên.
Quyền hỏi:
- Trọng Tường có mẹo gì cao, dụ
được Phó Sĩ Nhân về hàng với ta?
Phiên nói:
- Tôi thuở nhỏ chơi rất thân với
Sĩ Nhân, nếu đem đường lợi hại mà bảo, thì chắc y phải lại hàng thôi.
Quyền mừng lắm, sai Ngu Nhiên dẫn
năm trăm quân đến Công An.
Lại nói, Phó Sĩ Nhân từ khi nghe
tin Kinh Châu đã mất, sai đóng chắc cửa thành lại để giữ, Ngu Phiên đến, thấy cửa
thành đóng kỹ rồi, mới viết một bức thư buộc vào đầu tên, bắn vào trong thành.
Quân sĩ nhặt được, đưa cho Phó Sĩ Nhân. Sĩ Nhân mở thư ra xem, thì là thư chiêu
hàng. Xem xong, nghĩ đến sự tình khi trước Quan Công đánh đập mắng mỏ, mới quyết
ý ra hàng. Liền sai quân mở cửa thành rước Ngu Phiên vào. Hai người chào hỏi
xong, cùng nhau kể lể tình xưa nghĩa cũ.
Phiên kể chuyện Ngô hầu yêu người
hiền, kính kẻ sĩ. Sĩ Nhân mừng rỡ, mang ngay ấn thụ theo Ngu Phiên lại Kinh
Châu xin hàng.
Tôn Quyền mừng lắm, lại cho Sĩ
Nhân trấn giữ Công An.
Lã Mông nói nhỏ với Tôn Quyền rằng:
- Vân Trường chưa trừ được, nếu để
Sĩ Nhân ở Công An lâu tất sinh biến, chi bằng sai y sang Nam Quận mà dụ My
Phương ra hàng nhân thể.
Quyền mới bảo Sĩ Nhân rằng:
- My Phương chơi thân với ngươi,
ngươi nên đến Nam Quận dụ y về hàng, ta sẽ trọng thưởng.
Sĩ Nhân vui vẻ lĩnh mệnh, dẫn hơn
một nghìn tên kỵ mã đến dụ My Phương.
Thế mới là:
Vương Phủ hôm nào nói chẳng sai!
Chưa biết My Phương có chịu hàng
hay không, xem hồi sau sẽ rõ.
--------------------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét