🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Triệu Vân chặn sông giằng lại A Đẩu
Tôn Quyền đưa thư đánh lui Tào Man
Bàng Thống, Pháp Chính hai người
khuyên mãi Huyền Đức giết Lưu Chương ở ngay trong tiệc thì chỉ vẫy tay là lấy
ngay được Tây Xuyên, Huyền Đức nhất định không nghe. Hôm sau, hai người lại
cùng nhau ăn tiệc trong thành, chuyện trò đằm thắm. Tiệc đến nửa chừng, Bàng Thống
bàn với Pháp Chính rằng:
- Việc đã đến thế này, không thể
để cho chúa công định đoạt được, ta phải làm mới xong.
Bèn sai Nguỵ Diên lên thềm múa
gươm, thừa cơ giết Lưu Chương. Diên vâng lệnh, rút gươm bước lên thềm nói rằng:
- Trong tiệc không có gì làm vui,
tôi xin múa gươm để góp vui.
Bàng Thống lại gọi võ sĩ đứng cả
dưới thềm để giúp sức cho Nguỵ Diên. Các tướng của Lưu Chương thấy Nguỵ Diên
múa gươm và các võ sĩ mắt cứ nhìn chòng chọc lên nhà trên, tòng sự là Trương
Nhiệm cũng rút gươm ra nói rằng:
- Múa gươm phải có hai người đối
nhau mới vui, tôi xin cùng múa với Nguỵ tướng quân.
Nguỵ Diên đưa mắt cho Lưu Phong.
Phong cũng rút gươm ra múa. Lưu Hội, Lãnh Bào, Đặng Hiền đều rút gươm kéo ùa
ra, nói:
- Chúng tôi xin múa cả một lượt để
góp phần vui.
Huyền Đức thất kinh vội vàng giật
thanh gươm của một tên lính hầu, đứng lên nói:
- Anh em ta hội họp uống rượu,
không có gì ngờ vực nhau cả, đây lại không phải là hội “Hồng môn”, can gì mà phải
muốn gươm? Nếu ai không bỏ gươm đi thì ta chém!
Lưu Chương cũng mắng rằng:
- Anh em ta họp với nhau, hà tất
phải đeo gươm!
Bèn bắt quân hầu bỏ cả gươm.
Chúng thấy vậy ùa nhau kéo xuống hết. Huyền Đức lại gọi lên cho mỗi người cốc
rượu, và nói rằng:
- Anh em ta là máu mủ trong họ với
nhau, cùng bàn việc lớn, không bụng dạ nào, các ngươi chớ có ngờ vực!
Các tướng lạy tạ.
Lưu Chương cầm lấy tay Huyền Đức
khóc và nói rằng:
- Em không bao giờ quên ơn anh được!
Hai người uống rượu vui vẻ mãi tới
tận chiều mới tan tiệc.
Huyền Đức về trại, trách Bàng Thống
rằng:
- Sao các ông lại đẩy tôi tới chỗ
mang tiếng bất nghĩa? Từ rày không được thế nữa nhé!
Thống than thở lui ra.
Lưu Chương về đến trại, bọn Lưu Hội
nói:
- Chúa công có biết quang cảnh
trong ngày hôm nay không? Bất nhược về ngay cho sớm, chớ ở đây nữa mà sinh vạ.
Lưu Chương nói:
- Anh ta là Lưu Huyền Đức chứ có
phải như người khác đâu!
Các tướng nói:
- Huyền Đức tuy không bụng dạ
nào, nhưng bọn thủ hạ của y, ai cũng muốn nuốt ngay Tây Thục để cầu lấy phú
quý.
Chương nói:
- Các ngươi không nên chia rẽ anh
em ta.
Và nhất định không nghe, cứ ngày
ngày cùng với Huyền Đức uống rượu, trò chuyện vui vẻ.
Chợt có tin báo Trương Lỗ sắp sửa
binh mã xâm phạm vào cửa Hà Manh. Chương mời Huyền Đức ra chống cự. Huyền Đức
vui vẻ vâng lời, ngay hôm ấy dẫn quân bản bộ ra cửa ải Hà Manh.
Các tướng khuyên Lưu Chương nên
sai đại tướng giữ vững các cửa ải, đề phòng Huyền Đức có gây biến gì không.
Chương trước còn không nghe, sau vì mọi người nói mãi, mới sai đô đốc ở Bạch
Thuỷ là Cao Bái, Dương Hoài giữ vững cửa ải Bồi Thuỷ, còn mình thì trở về Thành
Đô.
Huyền Đức đến Hà Manh, quân lệnh
nghiêm minh, làm những điều ân huệ với dân để thu phục lòng người.
Có người báo tin ấy sang Đông
Ngô. Tôn Quyền hội cả văn võ lại bàn bạc.
Cố Ung nói:
- Lưu Bị đem quân viễn chinh xông
vào nơi núi non hiểm trở, chưa dễ đã về được. Chúa công sao không sai một đạo
quận chặn lấp cửa vào Xuyên, cắt đứt đường y về, rồi đem hết cả quân Đông Ngô
đánh lấy lại Kinh Tương có được không? Đó là một cơ hội rất hay, không nên bỏ lỡ.
Quyền nói:
- Mẹo ấy phải lắm!
Đang bàn bạc, bỗng một ngươi ở
sau bình phong bước ra, thét mắng:
- Đứa nào bày ra kế ấy thế, nên
chém đi! Định hại con bà hay sao?
Chúng giật mình trông xem ai, thì
là Ngô quốc thái. Quốc thái giận lắm, nói:
- Cả đời ta chỉ được mụn con gái,
gả cho Lưu Bị. Nay bọn ngươi động binh thì tính mạng con ta sẽ ra thế nào?
Nhân thể, lại mắng cả Tôn Quyền:
- Mày thừa kế nghiệp của cha anh,
thống lĩnh tám mươi mốt châu quận, còn chưa vừa ý, lại muốn vì một chút lợi nhỏ,
mà bỏ tình anh em hay sao?
Tôn Quyền vâng dạ luôn miệng rồi
đáp rằng:
- Mẹ đã dạy thế, con đâu dám trái
lời.
Liền quát các quan lui ra hết.
Tôn Quyền đứng dưới hiên ngẫm nghĩ:
- Cơ hội này mà bỏ lỡ, thì Kinh
Tương bao giờ mới lấy lại được?
Còn đang phân vân thì Trương
Chiêu vào nói:
- Chúa công lo nghĩ việc gì thế?
Tôn Quyền nói:
- Chính là việc bàn bạc lúc nãy.
Chiêu nói:
- Việc ấy rất dễ. Nên sai một tướng
tâm phúc đem độ năm trăm quân, lẻn vào Kinh Châu, đưa một phong thư mật đưa cho
quận chúa, nói dối là quốc thái ở nhà mệt nặng, muốn trông thấy mặt con gái,
mang quận chúa về ngay Đông Ngô. Huyền Đức chỉ có một con, bảo đem cả về nhân
thể. Bấy giờ tất Huyền Đức phải đem Kinh Châu đổi lấy A Đẩu. Nếu không nghe, ta
sẽ dấy binh thì chẳng còn ngại gì nữa!
Quyền nói:
- Kế ấy hay lắm! Ta có một tướng
tên là Chu Thiện, rất can đảm, từ thuở nhỏ theo với anh ta, trèo tường vượt cổng
thực tài. Nay sai đi việc này hẳn được.
Chiêu nói:
- Xin đừng tiết lộ, bảo y lên đường
ngay thôi!
Tôn Quyền lập tức sai Chu Thiện dẫn
năm trăm quân, ăn mặc giả làm lái buôn, chia làm năm thuyền; lại làm sẵn giấy
thông hành giả, phòng khi có người hỏi đến, trong thuyền chứa giấu nhiều đồ khí
giới.
Chu Thiên vâng lệnh, đi đường thuỷ
sang Kinh Châu. Đến nơi, thuyền ghé cạnh bờ, Thiện lẻn vào thành, sai lính canh
cửa báo tin cho Tôn phu nhân biết. Phu nhân gọi vào, Thiện trình thư lên.
Phu nhân thấy nói quốc thái ốm nặng,
ứa nước mắt hỏi. Chu Thiện lạy bẩm.
- Quốc thái mệt nặng lắm, ngày
đêm chỉ mong mỏi phu nhân, nếu phu nhân về chậm thì mẹ con khó được trông thấy
mặt nhau. Quốc thái lại muốn xem mặt A Đẩu, xin phu nhân đem về nhân thể.
Phu nhân nói:
- Hoàng thúc mang quân đi đánh
xa, nay ta muốn về, cần phải báo cho quân sư biết mới được.
Chu Thiện nói:
- Nếu quân sư bảo cần phải báo
tin cho hoàng thúc, đợi lệnh trả lời rồi mới xuống thuyền, thì làm thế nào?
Phu nhân nói:
- Nếu cứ tự tiện ra đi, chắc sẽ bị
cản trở.
Chu Thiện nói:
- Ở ngoài sông đã chuẩn bị thuyền
bè đâu vào đấy cả rồi, chỉ còn việc mời phu nhân lên xe ra khỏi thành mà thôi.
Phu nhân nghe tin mẹ bệnh nặng,
ruột nóng bồn chồn, liền ẵm A Đẩu bảy tuổi lên xe và ba mươi người đi theo. Người
nào người nấy đeo gươm lên ngựa, rời Kinh Châu ra bờ sông xuống cả thuyền. Người
trong cung điện định đi báo thì phu nhân đã tới trấn Sa Đầu rồi.
Chu Thiện sắp sửa bơi thuyền đi,
bỗng thấy ở trên bờ có người gọi to:
- Xin đừng chở thuyền đi vội,
thong thả cho tôi xuống tiễn phu nhân đã.
Người gọi đó là Triệu Vân đi tuần
về, được tin ấy giật nảy mình, vội vàng đem bốn năm đầy tớ chạy như gió men bờ
sông đuổi theo. Bấy giờ Chu Thiện cầm giáo dài, quát to lên rằng:
- Ngươi là ai mà dám đến đây cản
trở chúa mẫu?
Nói thế rồi sai quân sĩ nhổ neo cả
một lượt, đồ khí giới sắp bày ra la liệt trên thuyền. Gió thuận, nước xuôi,
thuyền lướt vùn vụt giữa dòng sông.
Vân cứ chạy theo dọc bờ sông, vừa
chạy vừa gọi rằng:
- Phu nhân muốn đi thì đi, tôi chỉ
xin bẩm một câu mà thôi.
Chu Thiện làm lơ, thúc thuyền đi
miết. Vân chạy theo được hơn mười dặm, chợt thấy trong lạch sông có chiếc thuyền
đánh cá buộc cạnh bờ, Vân liền bỏ ngựa, cầm giáo nhảy lên thuyền, chỉ có hai
người chở, theo thuyền phu nhân mà đuổi. Chu Thiện sai quân bắn ra. Vân lấy
giáo gạt, tên rơi lả tả xuống nước. Còn cách nhau độ hơn một trượng, quân Ngô
phóng giáo đâm loạn xạ sang thuyền Triệu Vân. Vân bỏ giáo, rút gươm Thanh Công
chém bạt cả giáo, rồi nhảy vọt một cái sang ngay thuyền lớn. Quân Ngô rụng rời
hết vía, ngã lăn tùm cả xuống sông. Vân vào trong khoang thuyền, thấy phu nhân
đang ngồi ôm A Đẩu. Phu nhân quát mắng rằng:
- Ngươi là ai mà dám vô lễ thế?
Vân cài gươm vào vỏ, vâng vâng dạ
dạ, nói:
- Chúa mẫu đi đâu, sao không nói
cho quân sư được biết?
Phu nhân nói:
- Mẹ ta ốm nặng, ta phải vội về,
nên không kịp báo đó.
Vân nói:
- Chúa mẫu về thăm bệnh, cớ sao lại
mang cả tiểu chủ nhân đi?
Phu nhân nói:
- A Đẩu là con ta, để lại ở Kinh
Châu không có người coi sóc.
Vân nói:
- Chúa mẫu nghĩ thế sai rồi! Chúa
công chỉ vẻn vẹn có một giọt máu này, tôi một mình xông pha trong đám quân trăm
vạn ở Trường Bản mới cứu được ra. Nay chúa mẫu lại mang cả đi, thế là nghĩa lý
gì?
Phu nhân giận nói:
- Ngươi chẳng qua là một tên võ
sĩ dưới trướng, cai quản thế nào được việc nhà ta?
Vân nói:
- Phu nhân muốn đi thì đi, nhưng
phải để tiểu chủ nhân ở lại mới được.
Phu nhân thét rằng:
- Ngươi đang nửa đường sấn vào
thuyền ta, định làm phản có phải không?
Vân nói:
- Phu nhân mà không để tiểu chủ
nhân ở lại thì dẫu chết tôi cũng không dám để cho phu nhân đi.
Phu nhân quát sai thị tỳ xúm vào
lôi xé Triệu Vân. Vân đẩy đám thị tỳ, người nào người nấy ngã dúi cả xuống, rồi
sấn vào tận bọc phu nhân giằng lấy A Đẩu ôm ra đứng đầu thuyền. Vân muốn ghé
vào bờ, nhưng không có ai giúp, muốn hành hung lại sợ không hợp lý, tiến thoái
lưỡng nan. Phu nhân quát thị tỳ xúm vào mà giằng A Đẩu ra. Vân một tay ôm chặt
lấy A Đẩu, một tay cầm lăm lăm thanh gươm, không ai dám đến gần, Chu Thiện ở
phía sau ra sức giữ vững tay lái cho thyền chạy thật mau. Gió thuận nước xuôi,
thuyền lướt vùn vụt như tên.
Vân chỉ có một mình, không thể
ghé được thuyền vào bờ. Bỗng nhiên ở dưới hạ lưu, có độ mươi chiếc thuyền gióng
hàng bơi tới, trống đánh vang lừng, cờ bay phấp phới. Vân nghĩ bụng:
- Chuyến này mắc phải mẹo Đông
Ngô rồi!
Liền nhìn sang đầu thuyền thấy một
tướng cầm ngọn mâu gọi to:
- Tẩu tẩu! Phải để cháu nhỏ lại
đây!
Nguyên Trương Phi đang đi tuần tiễu,
nghe thấy tin đó, vội vàng đến cửa sông Du Giang vừa gặp thuyền Đông Ngô, liền
chặn ngay lại.
Phi rút gươm, nhảy vọt sang thuyền.
Chu Thiện cầm đao đón đánh. Phi chém ngay một nhát ngã gục, rồi xách đầu Chu
Thiện ném vào chỗ phu nhân ngồi.
Phu nhân giật mình nói:
- Thúc thúc sao dám vô lễ thế?
Trương Phi nói:
- Tẩu tẩu không coi anh tôi là trọng,
dám tự tiện mang cháu về, đó mới là vô lễ.
Phu nhân nói:
- Mẹ ta mệt nặng gần chết. Nếu đợi
anh chú trả lời, thì hỏng mất việc ta. Nhược bằng chú không cho ta về, ta tình
nguyện đâm đầu xuống sông mà chết cho rảnh!
Trương Phi bàn với Triệu Vân rằng:
- Nếu cố bức bách cho phu nhân phải
phẫn chí, thì chúng ta cũng không phải đạo hạ thần. Chi bằng đưa A Đẩu về là
xong.
Rồi nói với phu nhân rằng:
- Chị ơi! Anh tôi là hoàng thúc
nhà Hán, cũng không nhục gì danh giá của chị. Chị nay về thăm bệnh mẹ, nếu còn
nhớ đến ân nghĩa anh tôi, thì xin chị mau trở về nhé!
Nói đoạn, Trương Phi ôm lấy A Đẩu
sang thuyền của mình cùng với Tử Long trở về. Còn năm chiếc thuyền của phu nhân
thì mặc ý cho đi.
Người sau có thơ khen Tử Long rằng:
Nay lại liều thân chặn đại giang
Thuyền Ngô tướng sĩ bay hồn vía
Tử Long anh dũng tiếng đồn vang.
Lại có thơ khen Trương Phi rằng:
Quân Tào trăm vạn rụng rời kinh
Buổi nay phò chúa trên sông cả
Danh tiếng nghìn thu để sử xanh!
Hai người mừng rỡ quay thuyền về.
Đi chưa được vài dặm thì gặp đội thuyền lớn của Khổng Minh đến tiếp ứng. Khổng
Minh thấy đã cướp được A Đẩu về, mừng lắm, bèn lên cả bộ, cưỡi ngựa đi về. Khổng
Minh viết thư gửi đến cửa ải Hà Manh, báo tin cho Huyền Đức biết.
Tôn phu nhân về đến Ngô, thuật lại
đầu đuôi việc Triệu Vân, Trương Phi chặn đường giết mất Chu Thiện và cướp lại A
Đẩu. Tôn Quyền nổi giận nói:
- Em ta đã về đây rồi, không thân
gì với bên kia nữa, thù giết Chu Thiện này, phải báo mới xong!
Liền hội cả văn võ lại, bàn việc
cất quân đánh Kinh Châu. Chợt có người vào báo rằng Tào Tháo đem bốn mươi vạn đại
quân, đến đánh báo thù trận Xích Bích mới rồi. Tôn Quyền nghe tin giật mình,
gác việc Kinh Châu lại và bàn kế chống nhau với Tào Tháo. Giữa khi đó lại được
tin quan trưởng sử là Trương Hoành mất, có viết lại một phong thư, sai người
đem trình Tôn Quyền. Quyền mở thư xem, trong thư viết:
“Sông núi ở Mạt Lăng, có khí đế
vương, xin chúa công dời đô ra đó để gây dựng cơ nghiệp muôn đời”.
Quyền xem xong khóc lớn, nói với
các quan rằng:
- Trương Tử Cương khuyên ta dời
đô, ta nỡ nào chẳng nghe lời?
Lập tức sai sửa sang đất Kiến
Nghiệp, xây đắp thành Thạch Đầu.
Lã Mông nói:
- Quân Tào kéo đến, nên đắp ụ ở cửa
Nhu Tu để phòng giữ.
Các tướng đều nói:
- Lên bờ đánh giặc, rồi rút xuống
thuyền, cần gì phải đắp thành?
Mông nói:
- Việc dùng binh có lúc thuận lợi
lúc khó khăn, chưa chắc đánh đã được ngay. Nếu gặp địch, hai bên giáp chiến,
thì nước cũng không kịp uống, còn nói gì đến xuống thuyền?
Quyền nói:
- Người không lo xa, ắt vạ tới gần,
ý kiến của Tử Minh hay lắm đấy.
Liền sai vài vạn quân đắp ụ Nhu
Tu, làm không kể ngày đêm, xong đúng kỳ hạn.
Nói về Tào Tháo ở Hứa Đô, mỗi
ngày một hống hách thêm. Quan trưởng sử là Đổng Chiêu thưa rằng:
- Từ xưa đến nay, chưa thấy bậc
nhân thần nào công to bằng thừa tướng, dẫu đến Chu Công, Lã Vọng cũng theo chưa
kịp. Chải gió gội mưa, hơn ba mươi năm trời quét sạch bao kẻ hung bạo, trừ hại
cho nhân dân, đem lại được cơ đồ nhà Hán, sao lại chịu đứng trong hàng ngũ bầy
tôi? Thừa tướng xứng đáng tiến chức lên làm Nguỵ công, phong thêm “lễ Cửu tích”[1] để
biểu dương công đức.
Tuân Úc can rằng:
- Không nên, thừa tướng cất nghĩa
binh là cốt để giúp nhà Hán. Nên giữ đạo trung trinh, giữ lòng khiêm nhượng mới
phải. Quân tử yêu người phải khuyên lấy điều đức, làm thế không được!
Tháo nghe xong tái mặt lại. Đổng
Chiêu nói:
- Sao lại vì một người mà để mọi
người thất vọng?
Liền dâng biểu tôn Tào Tháo lên
làm Nguỵ công, phong thêm lễ Cửu tích.
Tuân Úc than rằng:
- Ta không ngờ ngày nay lại nhìn
thấy việc thế này!
Tháo nghe câu ấy, cho Úc là không
có ý giúp mình.
Mùa đông tháng mười, năm Kiến An
thứ mười bảy, Tháo cất quân sang đánh Đông Ngô, mang theo cả Tuân Úc. Úc biết
Tháo muốn giết mình, liền cáo bệnh nghỉ lại ở Thọ Xuân. Một hôm, Tháo sai người
đem cho Tuân Úc một hộp đồ ăn, trên hộp có chữ Tháo viết, phong lại tử tế. Úc mở
hộp ra không thấy có gì cả. Úc biết ý, bèn uống thuốc độc tự tử, bấy giờ đã 50
tuổi.
Người sau có thơ than rằng:
Tiếc thay lỡ bước cửa quyền hào
Suối vàng hổ mặt nhìn vua Hán
Đọ với Lưu hầu đọ được sao?
Con Tuân Úc là Tuân Hồn, đưa thư
báo tin buồn cho Tào Tháo. Tháo hối hận quá, sai làm ma to, lại đặt tên thuỵ là
Kinh hầu.
Lại nói, đại quân của Tào Tháo
kéo đến Nhu Tu, Tháo sai Tào Hồng dẫn ba vạn quân thiết giáp đi trước do thám.
Hồng đến bờ sông, rồi trở về bảo rằng:
- Mé bên kia sông, cả một rặng
dài, chỉ thấy tinh kỳ nhan nhản, nhưng không biết quân sĩ của họ đóng quân ở chỗ
nào.
Tháo áy náy, dẫn quân tiến đến thẳng
cửa sông Nhu Tu, dàn thành thế trận, rồi dẫn hơn trăm thủ hạ lên sườn núi dòm
sang bên kia, thấy chiến thuyền chia ra từng đội, hàng ngũ chỉnh tề; cờ thì
chia làm năm sắc, khí giới sáng choang. Tôn Quyền ngồi trên chiếc thuyền to ở
giữa, che một đôi tán vóc xanh, hai bên văn võ đứng hầu. Tháo trỏ roi nói:
- Đẻ con nên được như Tôn Trọng
Mưu, chớ như con Lưu Cảnh Thăng thì chỉ là đồ chó lợn mà thôi!
Bỗng đâu, tiếng ầm ầm nổi dậy,
thuyền Ngô ào ào kéo cả lên; trong ụ đất có toán quân đổ ra đánh, quân Tào ù té
chạy cả, không sao ngăn lại được. Chợt lại có hơn một trăm kỵ mã sấn đến tận
chân núi, một tướng cưỡi ngựa đi đầu, mắt biếc râu đỏ, chúng trông ra thì ra là
Tôn Quyền. Quyền dẫn một đội quân đến đánh Tào Tháo. Tháo thất kinh, vội vàng
quay ngựa về thì đại tướng Đông Ngô là Hàn Đương, Chu Thái xông ra đuổi theo. Hứa
Chử ở sau lưng Tào Tháo, múa đao ra địch hai tướng. Tháo chạy thoát chạy về đến
trại. Chử đánh nhau với hai tướng vài ba mươi hiệp rồi cũng về nốt.
Tháo về trại, trọng thưởng cho Hứa
Chử, và trách các tướng rằng:
- Vừa gặp địch đã bỏ chạy trước
làm mất cả nhuệ khí của ta. Từ rày còn như thế nữa, thì ta chém cả đó!
Canh hai đêm hôm ấy, ngoài trại
tiếng hò reo rầm trời. Tháo vội vàng lên ngựa, thì bốn mặt lửa cháy đùng đùng,
quân Ngô đã xông vào cướp trại lớn rồi. Hai bên đánh nhau mãi đến sáng, quân
Tào phải lùi năm mươi dặm đóng trại.
Tháo buồn bực, giở quyển binh thư
ra xem. Trình Dục vào bẩm rằng:
- Thừa tướng giỏi binh pháp, há
không biết việc dùng binh cốt phải nhanh chóng hay sao? Thừa tướng chuyến này cất
quân, dây dưa ngày tháng, để cho Tôn Quyền biết mà phòng bị trước, đắp được ụ ở
cửa sông Nhu Tu. Ta khó lòng đánh được, chi bằng rút quân về Hứa Đô, sẽ tìm kế
khác.
Tháo không trả lời:
Dục lui ra. Tháo ngả mình xuống nằm
nghỉ, chợt nghe tiếng thuỷ triều réo ầm ầm như muôn ngàn con ngựa đua nhau phi
chạy; trông ra xem, thấy dưới sông có vầng mặt trời đỏ chói, ánh sáng loá cả mắt;
ngẩng đầu lên trên trời, lại thấy có hai vầng mặt trời nữa đối chiếu nhau. Bỗng
nhiên, mặt trời dưới lòng sông bay vút lên rồi sa xuống núi trước trại, nổ ầm một
tiếng như sét. Tháo giật mình tỉnh dậy, té ra giấc chiêm bao. Lúc ấy đương buổi
trưa, Tháo sai đóng ngựa, dẫn năm mươi kỵ mã kéo đến chỗ sườn núi có mặt trời
sa trong giấc mơ xem ra làm sao. Tháo vừa đến đang mải ngắm nghía thì thấy một
toán quân mã, tướng đi đầu đội mũ vàng, mặc áo giáp vàng, chính là Tôn Quyền.
Quyền thấy Tháo đến, bình tĩnh dừng
ngựa lại, giơ roi trỏ bảo Tào Tháo:
- Thừa tướng trấn giữ Trung
Nguyên, phú quý tưởng đến thế là cùng, cớ sao lòng tham không đáy, lại muốn xâm
phạm Giang Nam tôi?
Tháo đáp:
- Phận ngươi là tôi con, không biết
tôn kính nhà vua, ta phụng mệnh thiên tử, đến đây hỏi tội ngươi đó!
Quyền cười, nói:
- Nói thế mà không biết ngượng mặt
à? Thiên hạ ai không biết ngươi mượn tiếng thiên tử để sai bảo chư hầu. Ta đây
không phải là không biết tôn kính nhà Hán, thực là muốn đánh ngươi để giúp nhà
Hán đó.
Tháo giận lắm, quát các tướng lên
núi bắt Tôn Quyền. Bỗng nhiên có tiếng trống nổi, hai toán quân ở sau núi đổ
ra, bên hữu có Hàn Đương, Chu Thái; bên tả có Trần Vũ, Phan Chương. Bốn tướng dẫn
ba ngàn quân cung nỏ, bắn ra như mưa. Tháo vội vàng dẫn các tướng chạy về. Bốn
tướng đuổi theo riết lắm, may có Hứa Chử dẫn một đội quân hộ vệ, ra đánh trận,
cứu được Tào Tháo. Quân Ngô thắng trận kéo về Nhu Tu.
Tháo về đến trại, tự nghĩ: “Tôn
Quyền không phải là người tầm thường, ứng vào mặt trời đỏ trong giấc mộng, sau
này ắt làm đến đế vương”. Bởi thế có ý muốn rút quân về, nhưng lại sợ Đông Ngô
chê cười, chưa định tiến thoái bề nào. Hai bên lại chọi nhau hơn một tháng,
đánh mấy trận khi được khi thua. Qua sang tháng giêng, mưa xuân tầm tã, ngòi lạch
đầy nước, quân sĩ ở trên đám bùn lầy, vô cùng khổ sở. Tháo lo lắm, hội các tướng
lại bàn bạc, người thì khuyên rút quân về, kẻ thì nói rằng nên nhân lúc mùa
xuân ấm áp cứ đánh đi. Tháo trong bụng phân vân, chợt có sứ giả Đông Ngô đưa
thư đến. Tháo mở thư ra xem, đại ý viết:
“Tôi với thừa tướng cùng là bầy
tôi nhà Hán, thừa tướng không biết báo ơn trước, trị an nhân dân, mà cứ động việc
binh đao, tàn hại sinh linh, người nhân đức đâu có thế? Hiện nay mưa xuân đang
thịnh, ông nên về mau đi. Nếu không sẽ có vạ Xích Bích nữa đó. Ông nên nghĩ cho
kỹ”.
Sau thư lại phê hai câu rằng:
“Ông mà không chết, tôi cũng
khó ngồi yên được”.
Tháo xem xong cười mà nói rằng:
- Tôn Trọng Mưu không dối ta
chăng.
Lập tức sai hậu thưởng cho sứ giả,
truyền lệnh rút quân về rồi sai quan thái thú Lư Giang là Chu Quang trấn giữ
Hoãn Thành, còn mình thu đại quân về Hứa Xương.
Tôn Quyền cũng thu quân về Mạt
Lăng, bàn với các tướng rằng:
- Tào Tháo tuy đã về bắc, nhưng
Lưu Bị còn ở Hà Manh. Sao không đem quân chống Tào lấy Kinh Châu nhân thể?
Trương Chiêu dâng kế rằng:
- Chưa nên động binh vội! Tôi có
một mẹo này khiến Lưu Bị không trở về được Kinh Châu.
Ấy là:
Tôn Quyền lại muốn đến Kinh Châu
Chưa biết Trương Chiêu hiến kế ra làm sao, xem đến hồi sau thì biết.
Chú thích cuối trang
- ▲ Cửu tích nghĩa là được vua phong cho chín thứ: 1. Xe ngựa, 2. Áo xiêm (áo long cổn, mũ miện, giày đỏ), 3. Nhạc treo (như đồ chuông khánh của vua dùng), 4. Cửa nhà được sơn son, 5. Thềm nhà được xây kệ, 6. Có 300 quân hổ bôn canh cửa, 7. Cờ tiết, lưỡi phủ việt, 8. Cung tên, 9. Rượu quý và chén ngọc.
--------------------------------------------------
Giữ Bồi Quan, Dương, Cao nộp mạng
Đánh Lạc Thành, Hoàng, Ngụy tranh công
Trương Chiêu dâng kế nói rằng:
- Chớ nên động binh vội, nếu ta cất
quân đi, tất nhiên Tào Tháo lại đến. Chi bằng ta viết hai bức thư: một bức đưa
cho Lưu Chương, nói Lưu Bị kết với Đông Ngô để lấy Tây Xuyên, khiến Lưu Chương
sinh nghi đánh Lưu Bị. Một bức đưa cho Trương Lỗ, xui cất quân sang lấy Kinh
Châu, buộc Lưu Bị đầu đuôi không cứu được nhau. Rồi ta sẽ cất quân đến đánh, chắc
là xong việc.
Quyền nghe lời, lập tức viết thư
cho hai nơi.
Lại nói, Huyền Đức ở Hà Manh đã
lâu, nhân dân yêu mến. Một hôm tiếp được thư của Khổng Minh, biết tin Tôn phu
nhân đã về Đông Ngô, sau lại nghe Tào Tháo dẫn quân đến Nhu Tu, mới hỏi Bàng Thống
rằng:
- Tào Tháo đánh Tôn Quyền, Tháo
thắng tất đến lấy Kinh Châu, Quyền thắng sẽ cùng đến lấy Kinh Châu, ta nên nghĩ
thế nào?
Thống thưa:
- Chúa công không lo. Có Khổng
Minh ở nhà, Đông Ngô không dám động đến Kinh Châu. Nay chỉ nên đưa thư cho Lưu
Chương, nói thực ra rằng: Tào Tháo đánh Tôn Quyền, Quyền sai người đến Kinh
Châu cầu cứu. Ta với Tôn Quyền là hai nước như môi với răng, không thể không cứu
viện được. Còn Trương Lỗ ở đây chẳng qua là đám giặc chỉ biết giữ nhà đó thôi,
quyết không dám xâm phạm đến nữa. Nay ta muốn quay về Kinh Châu hợp sức với Tôn
Quyền đánh phá Tào Tháo, hiềm vì ít quân, thiếu lương. Mong rằng nghĩ đến tình
nghĩa họ hàng, cấp ngay cho ba bốn vạn tinh binh và mười vạn hộc lương. Xin chớ
để lỡ việc. Khi nào được quân lương rồi lại sẽ liệu.
Huyền Đức nghe lời, viết thư sai
người đưa đến Thành Đô. Tướng giữ ải Bồi Quan là Dương Hoài và Cao Bái nghe tin
ấy, liền để Cao Bái ở lại, còn Dương Hoài đi theo sứ giả vào Thành Đô, ra mắt
Lưu Chương, trình dâng thư tín. Chương xem xong, hỏi Dương Hoài đến đây có việc
gì?
Hoài thưa:
- Chỉ vì thư này đó. Lưu Bị tự
khi vào Xuyên, làm điều nhân đức để thu lòng dân, ý ấy rất là bất lương. Nay lại
cầu xin quân mã tiền lương, chớ có nên cho, nếu giúp cho y thì không khác gì
vác củi đi chữa cháy.
Lưu Chương nói:
- Ta với Huyền Đức có tình anh
em, lẽ nào không giúp nhau.
Một người bước ra nói:
- Lưu Bị là bậc kiêu hùng, cho ở
mãi đây, đã là nuôi hổ trong nhà. Nay lại giúp thêm cho quân mã tiền lương, thì
khác gì chắp thêm cánh cho hổ?
Mọi người nhìn xem ai, thì Lưu
Ba, tự Tử Sơn quê ở Linh Lăng.
Lưu Chương nghe Ba nói còn phân
vân chưa quyết, Hoàng Quyền lại cố sức can mãi, Chương mới giúp cho bốn nghìn
quân già yếu và một vạn hộc lương, sai người đưa thư ra cho Huyền Đức và sai
Dương Hoài, Cao Bái giữ vững lấy cửa ải.
Sứ giả đến Hà Manh, ra mắt Huyền
Đức và đệ trình bức thư. Huyền Đức giận lắm, nói:
- Ta chống giặc đỡ cho ngươi, tốn
sức nhọc lòng, thế mà lại bủn xỉn, sao cho quân sĩ cố gắng lên được?
Liền xé vụn bức thư, quát mắng ầm
ĩ và đứng lên. Sứ giả phải trốn về Thành Đô.
Bàng Thống nói:
- Chúa công vốn trọng nhân nghĩa,
hôm nay xé thư nổi giận, tình nghĩa từ trước đến giờ thế là vứt đi hết.
Huyền Đức hỏi:
- Nên làm thế nào bây giờ?
Bàng Thống nói:
- Tôi có ba mẹo này, xin chúa
công hãy lựa chọn.
Huyền Đức hỏi:
- Ba mẹo ấy là gì?
Thống nói:
- Kén quân tinh binh, không kể
ngày đêm, đánh úp lấy Thành Đô, đó là thượng sách. Quay binh về cửa ải Bồi
Quan, giả tiếng về Kinh Châu, tướng giữ ải đó là Dương Hoài, Cao Bái, tất ra
nghênh tiếp, ta bắt giết luôn, cướp lấy cửa ải, rồi sẽ tiến binh vào Thành Đô,
đó là trung sách. Lui về thành Bạch Đế, liền đêm rút quân về Kinh Châu, dần dần
về sau lại liệu kế khác, đó là hạ sách. Nếu còn do dự, thì khốn đến nơi, khó
lòng cứu được.
Huyền Đức nói:
- Thượng sách của quân sư cấp
bách quá, còn hạ sách thì lại trì hoãn quá, chỉ có trung sách không gấp mà cũng
không hoãn, có thể theo được.
Huyền Đức bèn viết thư đưa cho
Lưu Chương, nói thác ra rằng Tào Tháo sai Nhạc Tiến đem quân đến trấn Thanh Nỗ,
các tướng không cự nổi, mình phải về cứu, không kịp họp mặt, nên phải viết thư
từ biệt.
Thư gửi tới Thành Đô, Trương Tùng
nghe tin Huyền Đức muốn về Kinh Châu, tưởng là sự thực, mới viết thư định sai
người đưa thư cho Huyền Đức. Chợt đâu có người anh ruột là Trương Túc đến chơi.
Túc hiện đang làm thái thú quận Quảng Lăng. Tùng thấy anh đến, vội vàng giấu
thư vào trong tay áo rồi ngồi chơi trò chuyện, Túc thấy Tùng có vẻ lúng túng,
trong bụng đâm nghi. Tùng mang rượu ra uống, trong khi mời mọc, không ngờ đánh
rơi thư ấy xuống đất. Người nhà Túc bắt được. Khi tan tiệc, người nhà đưa thư
cho Túc. Túc mở ra xem, trong thư đại ý viết:
“Trước đây tôi đã nói với
hoàng thúc, không hề sai nhầm chút nào, cớ sao lần lữa không làm? Cướp lấy tuy
là bất đắc dĩ, nhưng giữ được là thuận lẽ phải, đáng quý ở chỗ đó. Nay việc lớn
sắp thành rồi, sao lại bỏ trở về Kinh Châu. Tôi được tin ấy, như mất một vật
gì. Thư này đến nơi, xin mau tiến quân, tôi xin làm nội ứng, chớ nên để lỡ việc!”
Túc giật mình, nói:
- Em ta dám làm việc hại cả họ thế
này, ta phải đầu thú mới được.
Liền đem hôm ấy mang thư vào
trình Lưu Chương. Chương giận lắm, nói rằng:
- Ta xưa nay có bạc đãi gì nó mà
nó lại muốn phản ta?
Rồi hạ lệnh cả nhà Trương Tùng,
đem chém ở ngoài chợ.
Người sau có thơ than rằng:
Thương thay gây vạ mảnh thư rơi!
Nào hay minh chúa nên cơ nghiệp?
Nước biếc non xanh luống ngậm ngùi!
Lưu Chương giết xong Trương Tùng,
hội cả văn võ lại bàn rằng:
- Lưu Bị muốn cướp cơ nghiệp của
ta, nên làm thế nào bây giờ?
Hoàng Quyền thưa rằng:
- Việc ấy không nên để lâu, phải
sai người đi truyền báo cho các quan ải, coi giữ cẩn mật, không được cho một
người Kinh Châu nào vào cả.
Chương nghe lời, ngày đêm hôm ấy
truyền hịch đi khắp các nơi.
Huyền Đức khi dẫn quân về Bồi
Thành, sai người vào báo cho tướng giữ ải Bồi Thuỷ là Dương Hoài, Cao Bái biết,
để ra thành biệt nhau. Hai tướng nghe báo, liền cùng nhau bàn định rằng:
- Huyền Đức chuyến này về đây, quả
thực là số đáng chết. Hai chúng ta, mỗi người giắt một con dao găm, giả vờ ra
tiễn, rồi giết quách đi, trừ mối lo cho chủ ta.
Dương Hoài nói:
- Kế ấy hay lắm! Hay lắm!
Hai người bàn định đâu đấy, dẫn
hai trăm quân ra ải tiễn đưa, còn bao nhiêu ở nhà giữ ải.
Huyền Đức dẫn quân đến sông Bồi
Thuỷ, Bàng Thống ngồi trên ngựa nói với Huyền Đức rằng:
- Nếu Dương Hoài, Cao Bái có ý
vui mừng đến đón, thì ta phải giữ gìn. Nhược bằng không đến, thì tiến quân lấy
phăng ngay cửa ải chớ để chậm trễ.
Đang trò chuyện, bỗng dưng một
con gió lốc nổi lên làm đổ lá cờ suý. Huyền Đức hỏi:
- Đó là điềm gì?
Thống thưa:
- Đây là điềm báo trước Dương
Hoài, Cao Bái có ý muốn hành thích, phải phòng bị cẩn thận mới được.
Huyền Đức liền mặc hai lần áo
giáp và đeo thanh bảo kiếm hộ thân. Chợt có tin báo rằng Dương Cao hai tướng đến
tiễn hành. Huyền Đức sai đóng quân lại. Bàng Thống dặn Hoàng Trung, Nguỵ Diên:
- Bao nhiêu quân sĩ cửa quan đến
đây, phải bắt cho hết, không được để tên nào chạy thoát.
Hai tướng vâng lệnh trở ra.
Nói về Dương Hoài, Cao Bái mỗi
người giắt một con dao găm trong mình, dẫn hai trăm quân, khiêng rượu dắt dê, đến
thẳng trại quân Huyền Đức, thấy không có phòng bị gì, đã mừng thầm, chắc là Huyền
Đức mắc mẹo. Khi vào đến trong trướng, thấy Huyền Đức đang ngồi với Bàng Thống,
hai tướng bẩm rằng:
- Chúng tôi nghe tin hoàng thúc sắp
về Kinh Châu, gọi là có một chút lễ mọn kính tiễn hoàng thúc.
Nói rồi rót rượu dâng lên.
Huyền Đức nói:
- Hai tướng giữ ải khó nhọc lắm
nên uống trước đi!
Hai người uống xong, Huyền Đức
nói:
- Ta có việc bí mật bàn với hai
tướng quân, người không có phận sự phải lui ra hết.
Nói đoạn liền bảo bọn hai trăm
người đi theo lui cả ra ngoài.
Huyền Đức quát lên rằng:
- Tả hữu đâu, trói hai thằng giặc
lại cho ta!
Lưu Phong, Quan Bình ở sau trướng,
dạ một tiếng chạy ra. Hai tướng kia chực chống cự thì đã bị Lưu Phong, Quan
Bình trói lại rồi.
Huyền Đức thét lên rằng:
- Ta với chủ mi là anh em một họ
với nhau, sao các ngươi dám mưu mô chia rẽ thân tình anh em ta?
Bàng Thống sai tả hữu khám trong
mình hai người, quả nhiên mỗi người có giắt một con dao găm cực sắc. Thống quát
sai đem chém. Huyền Đức còn phân vân, Thống nói:
- Hai thằng này, cố ý muốn hại
chúa ta, phải giết đi mới được!
Lập tức sai quân đao phủ chém chết
ngay trước trướng.
Hoàng Trung, Nguỵ Diên ở ngoài đã
bắt gọn cả hai trăm quân đi theo, không sót một tên nào. Huyền Đức gọi vào, cho
mỗi người uống một chén rượu cho khỏi sợ, rồi bảo rằng:
- Dương Hoài, Cao Bái chia rẽ
thân tình anh em ta, lại giắt dao sắc định đâm ta, nên phải giết đi. Các ngươi
không có tội, không có việc gì mà sợ hãi.
Chúng đều lạy tạ.
Bàng Thống lại bảo rằng:
- Ta muốn dùng các ngươi dẫn đường
cho quân ta vào lấy cửa ải, sẽ có trọng thưởng.
Chúng dạ xin vâng lời.
Đêm hôm ấy, Huyền Đức sai hai
trăm quân hàng đi trước, đại quân kéo theo sau. Tiền quân đến dưới ải gọi cửa
nói là có việc cần kíp. Quân trên cửa ải thấy quân nhà trở về, vội vàng ra mở cửa.
Quân Huyền Đức kéo ùa cả vào, chẳng phải đánh chác gì, lấy ngay được Bồi Thành.
Quân Thục xin hàng hết cả, Huyền Đức thưởng cho, rồi chia quân ra giữ các nơi.
Hôm sau Huyền Đức khao quân, mở
tiệc yến ở trên công đường. Huyền Đức say rượu, bảo với Bàng Thống rằng:
- Tiệc hôm nay có vui vẻ không?
Bàng Thống nói:
- Đánh lấy nước của người ta mà
cho là vui, thật không đáng là quân của bậc nhân giả.
Huyền Đức nói:
- Ngày xưa vua Võ Vương đánh Trụ,
đặt ra khúc nhạc để nêu công lao của mình, đó không phải là quân của bậc nhân
giả ư? Sao ngươi nói không hợp lẽ thế, nên bước ngay đi!
Bàng Thống cười ầm lên rồi đứng dậy,
Tả hữu vực Huyền Đức vào nghỉ nhà trong. Đến nửa đêm, Huyền Đức mới tỉnh rượu.
Tả hữu thuật lại chuyện đuổi Bàng Thống. Huyền Đức hối hận lắm. Đến sáng, Huyền
Đức mặc áo đội mũ tử tế, mời Bàng Thống vào tạ rằng:
- Hôm qua tôi say rượu, lỡ lời
nói quá, xin đừng chấp làm gì.
Bàng Thống cười như không. Huyền
Đức nói:
- Lời nói hôm qua, lỗi về phần
tôi chịu cả.
Bàng Thống nói:
- Vua tôi cùng lỡ làng cả, cứ gì
một mình chúa công!
Huyền Đức cũng cười ầm lên, rồi lại
vui vẻ như trước.
Nói về Lưu Chương, nghe tin Huyền
Đức giết mất hai tướng và cướp mất cửa ải Bồi Thuỷ, thất kinh nói rằng:
- Không ngờ bây giờ xảy ra việc
thế này!
Liền hội các văn võ bàn bạc.
Hoàng Quyền nói rằng:
- Nên sai ngay đại tướng mang
quân ra đóng ở Lạc Huyện, chặn giữ con đường yết hầu đó. Lưu Bị dù có tinh binh
mãnh tướng, cũng không tài gì qua được.
Chương sai ngay Lưu Hội, Lãnh
Bào, Trương Nhiệm và Đặng Hiền, điểm năm vạn quân, đi gấp ra giữ thành Lạc Huyện,
để cự nhau với Lưu Bị.
Bốn tướng lĩnh mệnh, đem quân đi,
Lưu Hội nói:
- Tôi nghe ở núi Cẩm Bình có một
dị nhân, đạo hiệu là Tử Hư thượng nhân, biết trước được số sinh, tử, quý, tiện
cho người ta. Chúng ta hành quân qua đường núi ấy, nên đến hỏi xem ra làm sao.
Trương Nhiệm nói:
- Đại trượng phu đã mang quân đi
đánh giặc, can gì phải hỏi đến những người ở nơi sơn dã!
Hội nói:
- Không được! Thánh nhân có dạy rằng:
“Đạo bậc chí thành, có thể điều gì cũng biết trước”. Chúng ta hỏi người cao
minh, để theo điều hay, tránh điều dở thì có làm sao?
Đoạn bốn tướng dẫn năm sáu tên kỵ
mã, đến dưới núi, hỏi thăm đường người tiều phu. Tiều phu chỉ mãi lên đỉnh núi
cao ngất, thấy có một cái am. Bốn người vừa đến cửa am, thì một tiểu đồng ra
đón, hỏi tên rồi dẫn vào. Tử Hư thượng nhân ngồi trên cỏ bồ, bốn tướng chào lạy,
cầu hỏi điều hay dở về sau.
Tử Hư nói:
- Bần đạo chẳng qua là một người
vô dụng ở xó rừng núi sâu này, biết đâu chuyện hay dở mà nói.
Lưu Hội cầu khẩn hai ba lần, Tử
Hư mới sai tiểu đồng đem giấy bút ra, vội viết tám câu như sau này:
Phượng sa xuống đất, rồng lên thẳng trời.
Một hay một dở, số mệnh đã định,
Liệu cơ mà xử, chớ để chết hoài!
Lưu Hội lại hỏi:
- Còn số phận bọn chúng tôi thế
nào?
Tử Hư nói:
- Số trời đã định, không sao
tránh được, hỏi chi cho lắm!
Hội vừa muốn hỏi thêm thì Tử Hư
đã nhắm nghiền đôi mắt, hình như ngủ, chẳng nói chẳng rằng. Bốn người xuống
núi. Hội nói:
- Thần tiên đã dạy thế, phải tin
mới được.
Trương Nhiệm nói:
- Đó là người điên, tin làm gì!
Liền lên ngựa đến Lạc Huyện, sắp
đặt quân sĩ, giữ vững các cửa ải.
Lưu Hội nói:
- Lạc Thành này là một bức tường
che chở Thành Đô, nếu mất chỗ này thì Thành Đô cũng khó giữ được. Bốn chúng ta
phải chia làm hai cánh: hai người ở nhà giữ thành, hai người phải ra mặt trước
Lạc Huyện, tìm chỗ nào rừng núi hiểm trở, lập lấy hai cái trại mà giữ, chớ để
cho giặc đến gần thành.
Lãnh Bào, Đặng Hiền nói:
- Chúng tôi xin ra ngoài lập trại.
Lưu Hội mừng lắm, chia ra cho hai
vạn quân, ra khỏi thành sáu mươi dặm hạ trại. Lưu Hội, Trương Nhiệm ở nhà giữ
thành.
Lại nói, Huyền Đức từ khi lấy được
cửa ải Bồi Thuỷ, bàn với Bàng Thống, tiến binh đến lấy Lạc Thành. Chợt có tin
báo rằng Lưu Chương sai Lãnh Bào, Đặng Hiền dẫn hai vạn quân ra khỏi thành sáu
mươi dặm, hạ hai cái trại. Huyền Đức họp các tướng lại hỏi rằng:
- Có ai dám lập công đầu, đánh lấy
hai trại không?
Lão tướng là Hoàng Trung dạ xin
đi.
Huyền Đức nói:
- Lão tướng dẫn quân bảo hộ đến Lạc
Thành, nếu lấy được hai trại, ta sẽ trọng thưởng cho.
Hoàng Trung mừng rỡ lĩnh mệnh sắp
đi, bỗng dưới trướng một người tiến lên nói:
- Lão tướng quân tuổi già, đi làm
sao được, để tiểu tướng xin đi thay cho.
Huyền Đức trông ra thì là Nguỵ
Diên. Hoàng Trung nói:
- Ta đã phụng mệnh rồi, ngươi lại
dám tranh ta chăng?
Nguỵ Diên nói:
- Tôi nghe Lãnh Bào, Đặng Hiền là
danh tướng nước Thục sức vóc còn mạnh. Lão tướng gân sức đã kém đọ sức thế nào
được họ. Để khỏi hỏng việc lớn bởi thế tôi xin đi đỡ tướng quân, đó là lòng tốt
đấy thôi.
Hoàng Trung cả giận, nói:
- Ngươi bảo ta già, có dám đọ tài
võ nghệ với ta không?
Nguỵ Diên nói:
- Xin thi ngay tại trước mặt chúa
công, hễ ai được thì đi nhé?
Hoàng Trung bước rảo ngay xuống
dưới thềm, gọi lính:
- Đem đao lại đây, mau!
Huyền Đức vội ngăn lại, nói:
- Không được, phen này ta dẫn
quân vào lấy Tây Xuyên, toàn là nhờ vào sức của hai người. Nay hai hổ chọi
nhau, tất có một con bị thương, chẳng lỡ mất việc của ta ư? Ta khuyên hai người
đừng tranh nhau nữa.
Bàng Thống nói:
- Hai người không phải tranh
nhau. Hiện nay Lãnh Bào, Đặng Hiền hạ hai cái trại, mỗi người đem quân đánh một
trại, ai cướp được trước thì là công đầu.
Hai người vâng mệnh dẫn quân đi.
Hoàng Trung đánh trại Lãnh Bào, Nguỵ Diên đánh trại Đặng Hiền.
Bàng Thống nói:
- Hai người này đi đường, sợ lại
tranh giành nhau, chúa công nên dẫn quân đi làm hậu ứng cho họ.
Huyền Đức để Bàng Thống ở lại giữ
Bồi Thành, còn mình thì giữ Lưu Phong, Quan Bình đi sau tiếp ứng.
Đến nói Hoàng Trung về trại, truyền
lệnh cho quân canh tư đêm hôm ấy thổi cơm ăn, canh năm nai nịt cho gọn ghẽ,
sáng rõ kéo quân đi, men theo mé tả hang núi mà tiến.
Nguỵ Diên cho người do thám, biết
được thì giờ cất quân Hoàng Trung, truyền ngay cho quân mình canh hai thổi cơm
ăn, canh ba cất quân đi, canh năm phải tới trại Đặng Hiền.
Quân sĩ được lệnh, ăn uống thật
no, rồi thì ngựa tháo nhạc, người ngậm tăm, cuốn cờ bò giáp, im lặng kéo quân
đi. Khoảng canh ba, đi được độ nửa chừng, Diên ngồi trên ngựa lại nghĩ rằng:
- Nếu ta chỉ đánh một trại Đặng
Hiền, thì sao tỏ rõ được tài của ta, chi bằng ta hãy đi đánh trại Lãnh Bào trước,
rồi dẫn quân thắng trận đến đánh trại Đặng Hiền, thế thì công lao hai trại về
tay mình cả!
Rồi truyền ngay cho quân sĩ đi rẽ
sang đường bên tả hang núi.
Trời sáng rõ thì gần đến trại
Lãnh Bào, Diên cho quân nghỉ ngơi một lúc, rồi sắp bày chiêng trống, cờ quạt,
gươm giáo, khí giới.
Quân canh đường báo tin về trại.
Lãnh Bào đã kịp phòng bị đâu vào đấy cả. Một hiệu pháo nổi lên, ba quân lên ngựa
đánh ùa ra. Nguỵ Diên múa đao lại đánh nhau với Lãnh Bào, được độ ba mươi hiệp,
quân Xuyên chia làm hai đường đánh dồn lại. Quân Hán đi cả đêm, người ngựa mệt
mỏi, không sao địch lại được, rút lui trốn chạy. Nguỵ Diên thấy quân mình nhốn
nháo, cũng phải bỏ Lãnh Bào mà chạy. Quân Xuyên đuổi rát, quân Hán thua to. Chạy
được vài dặm, ở sau núi lại có một toán quân kéo ra, tướng đi đầu là Đặng Hiền gọi
to lên rằng:
- Nguỵ Diên mau mau xuống ngựa đầu
hàng!
Nguỵ Diên vội vàng tế ngựa chạy,
không ngờ ngựa ngã gục hai chân trước, hất Diên xuống đất. Đặng Hiền xốc ngựa lại
đâm Nguỵ Diên. Nhưng mũi giáo chưa kịp lao tới thì tiếng cung kêu tách một tiếng,
Đặng Hiền ngã nhào xuống ngựa. Lãnh Bào ở mé sau thấy vậy, vội vàng lại cứu,
thì có một tướng ở trên sườn núi tế ngựa xuống, quát to lên rằng:
- Lão tướng Hoàng Trung đã đến
đây!
Nói đoạn, múa đao chém Lãnh Bào.
Bào không địch nổi, quay ngựa chạy mất. Hoàng Trung thừa thế đuổi đánh, quân
Xuyên tan vỡ. Cánh quân Hoàng Trung cứu được Nguỵ Diên, giết được Đặng Hiền, và
đuổi mãi đến sát trước trại giặc. Lãnh Bào quay lại đánh nhau với Hoàng Trung,
chưa đầy mười hiệp phía sau quân mã ùn ùn kéo đến, Lãnh Bào phải bỏ trại tả chạy
về trại hữu. Khi về đến trại, thì thấy tinh kỳ khác cả. Bào giật mình, dừng ngựa
lại xem, thấy có một đại tướng giáp vàng bào gấm: chính là Huyền Đức, bên tả có
Lưu Phong, bên hữu có Quan Bình.
Huyền Đức quát to lên rằng:
- Trại của mày, tao đã cướp được
rồi, mày còn chạy đi đâu nữa?
Nguyên Huyền Đức dẫn quân đến tiếp
ứng, thừa thế cướp ngay được trại Đặng Hiền. Lãnh Bào thấy mất cả hai trại,
không biết chạy đi đâu, liền đi tắt con đường nhỏ trong núi, định trốn về Lạc
Thành. Đi chưa được mười dặm, bỗng đâu một toán phục binh ở trong đường hẻm đổ
ra, câu liêm giơ lên tua tủa, bắt sống ngay được Lãnh Bào. Nguyên Nguỵ Diên biết
mình phạm tội, không biết ăn nói thế nào, liền thu thập hậu quân, sai quân Thục
dẫn đường, phục sẵn ở đó. Tình cờ lại gặp Lãnh Bào chạy qua, mới trói lại dẫn về
trại Huyền Đức.
Huyền Đức dựng một lá cờ xá tội,
phàm những quân Thục xin hàng, tịnh không cho giết một người nào, ai giết nhầm
thì phải đền mạng. Lại dụ bọn hàng binh rằng:
- Các ngươi là người Xuyên, đều
có cha mẹ anh em cả; ai muốn hàng thì ở lại làm quân lính, ai không muốn ở lại
thì cho về.
Vì thế quân Xuyên mừng rỡ, reo hò
rầm rĩ.
Hoàng Trung hạ xong trại, đến ra
mắt Huyền Đức, thuật lại chuyện Nguỵ Diên trái lệnh, nên đem chém. Huyền Đức
cho đòi Nguỵ Diên, Diên giải Lãnh Bào vào nộp. Huyền Đức nói:
- Nguỵ Diên tuy phạm tội, nhưng
được công này thì cho chuộc tội ấy.
Lại sai Nguỵ Diên đến tạ ơn Hoàng
Trung cứu sống mình, mà dặn từ rày không được tranh nhau nữa. Diên cúi đầu nhận
lỗi. Huyền Đức hậu thưởng cho Hoàng Trung. Rồi sai điệu Lãnh Bào vào, cởi trói
và cho uống rượu áp kinh, rồi hỏi rằng:
- Ngươi có chịu hàng không?
Lãnh Bào nói:
- Tôi đã đội ơn tha chết cho, còn
gì mà chả hàng? Tôi với Lưu Hội, Trương Nhiệm, kết bạn sống chết với nhau. Nếu
minh công tha cho tôi về, tôi xin bảo hai người ấy cùng ra hàng, và dâng Lạc
Thành nhân thể.
Huyền Đức mừng lắm, ban cho cho
mũ và ngựa cưỡi, sai về Lạc Thành.
Nguỵ Diên thưa rằng:
- Nếu chúa công tha cho người này
về, hẳn quyết không đến nữa đâu.
Huyền Đức nói:
- Ta lấy bụng tử tế đãi người, có
đâu người lại phụ ta mà sợ?
Lãnh Bào được thoát, về đến Lạc
Thành nói khoác với chúng rằng:
- Ta giết hơn mười người, cướp được
ngựa, chạy trốn về đây.
Lưu Hội thấy núng thế, sai người
về Thành Đô cầu cứu. Lưu Chương nghe tin mất Đặng Hiền, giật mình, vội vã hội cả
các quan lại bàn bạc. Con trưởng là Lưu Tuần xin lĩnh quân ra giữ Lạc Thành.
Chương nói:
- Con đi thì nên sai ai theo
giúp?
Một người bước ra nói:
- Tôi xin đi!
Chúng trông ra xem ai, té ra, người
cậu là Ngô Ý. Chương nói:
- Được cậu đi thì tốt quá. Vậy ai
có thể làm phó tướng?
Ngô Ý tiến cử Ngô Lan, Lôi Đồng
làm phó tướng dẫn hai vạn quân mã ra Lạc Thành.
Lưu Hội, Trương Nhiệm tiếp đón,
thuật lại đầu đuôi chuyện trước.
Ngô Ý nói:
- Quân giặc đến giáp thành rồi,
khó lòng chống giữ nổi, các ngươi có mẹo gì không?
Lãnh Bào nói:
- Vùng này nằm sát con sông Bồ
Giang, nước sông chảy xiết lắm. Trại Lưu Bị đóng ở chân núi, địa thế rất thấp.
Tôi xin lĩnh năm nghìn quân mang theo cuốc xẻng ra khơi sông Bồi Giang, cho nước
tràn vào trại, thì quân Lưu Bị tất chết đuối cả.
Ngô Ý nghe theo kế ấy, cho Lãnh
Bào ra khơi sông, và sai Ngô Lan, Lôi Đồng đi tiếp ứng. Lãnh Bào vâng lệnh, về
sửa soạn đồ dùng khơi sông.
Huyền Đức sai Hoàng Trung, Nguỵ
Diên mỗi người giữ một trại, mình thì về Bồi Quan cùng với Bàng Thống bàn bạc.
Chợt có tin báo Tôn Quyền bên Giang Đông liên kết với Trương Lỗ ở Đông Xuyên định
tấn công vào cửa Hà Manh.
Huyền Đức thất kinh nói:
- Nếu mất cửa Hà Manh thì ta nghẽn
mất đường về, tiến lên cũng dở mà lui về cũng dở, làm thế nào bây giờ.
Bàng Thống nói với Mạnh Đạt rằng:
- Ông là người trong Thục, quen
biết đường đất, phiền ông ra giữ cửa ải Hà Manh cho.
Đạt nói:
- Tôi xin tiến cử một người cùng
đi thì chắc chắn giữ được.
Huyền Đức hỏi:
- Người nào?
Đạt nói:
- Người này là bộ hạ của Lưu Biểu,
đã từng giữ chức trung lang tướng, quê ở Chi Giang thuộc Nam Quận, tên là Hoắc
Tuấn, tự Trọng Mạc.
Huyền Đức mừng lắm, liền sai hai
người đi ngay.
Bàng Thống lui ra nhà khách nghỉ
ngơi. Người coi cửa vào báo có khách lạ hỏi thăm. Thống ra tiếp vào, thấy người
ấy mình dài tám thước, hình dong kỳ dị, tóc cum cúm xoã cả xuống cổ, quần áo mặc
xốc xếch.
Thống hỏi:
- Tiên sinh tên họ là gì?
Người ấy làm thinh, bước thẳng
lên nhà rồi ghé lưng nằm ngửa ở trên sập.
Bàng Thống ngờ lắm, hỏi gặng hai
ba lần. Người ấy chỉ nói rằng:
- Khoan! Để thong thả ta sẽ kể việc
lớn trong thiên hạ cho mà nghe.
Thống lại càng ngờ lắm, sai tả hữu
bưng cơm rượu ra mời. Người ấy trở dậy ăn ngay, không hề khách sáo gì cả, ăn uống
rất khoẻ, ăn xong lại ngủ liền.
Thống không biết ý tứ người ấy ra
làm sao, sợ là kẻ gian liền mời Pháp Chính đến xem. Chính vội vàng đến, Thống
ra tiếp, bảo Chính rằng:
- Có một người như thế, như thế…
Pháp Chính nói:
- Có lẽ là Bành Vĩnh Ngôn chăng?
Pháp Chính vừa vào đến thềm, thì
người ấy choàng dậy, nói:
- Hiếu Trực lâu nay mạnh khoẻ chứ?
Đó là:
Sóng gió sông Bồi dữ lại yên.
Chưa biết người ấy ra thế nào,
xem đến hồi sau mới rõ.
HỒI THỨ SÁU MƯƠI BA
Gia Cát Lượng đau lòng khóc Bàng Thống
Trương Dực Đức vì nghĩa tha Nghiêm Nhan
Pháp Chính vào gặp người ấy, hai
người chào hỏi nhau rồi vỗ tay cười ầm cả lên. Bàng Thống hỏi thì Pháp Chính
nói:
- Ông này là người ở Quảng Hán, họ
Bành, tên Dạng, tự là Vĩnh Ngô, cũng là một bậc hào kiệt ở nước Thục. Bởi vì
nói thẳng nên trái ý Lưu Chương, bị Chương bắt tội đem gọt đầu, khoá cổ, bắt tù
đầy, cho nên tóc ngắn.
Bàng Thống thấy vậy, có bụng kính
trọng, mới hỏi rằng:
- Ông đến đây có việc gì chăng?
Dạng nói:
- Tôi đến đây, cốt để cứu vài vạn
mạng cho quân của các ông, nhưng để đợi Huyền Đức đến đây, tôi sẽ nói chuyện.
Pháp Chính vội vàng báo với Huyền
Đức, Huyền Đức đến hỏi sự việc làm sao, thì Dạng hỏi:
- Tướng quân có bao nhiêu quân mã
đóng ở hai trại mé trước?
Huyền Đức nói thật rằng:
- Chỉ có Hoàng Trung, Nguỵ Diên ở
đó.
Dạng nói:
- Phép làm tướng, há lại không biết
địa lý hay sao? Trại mé trước đóng gần sông Bồi Giang, nếu giặc tháo nước sông
cho tràn vào, và đem quân chịt cả mặt sau mặt trước, thì quân mình không còn
thoát được một người.
Huyền Đức bấy giờ mới nghĩ ra. Dạng
lại nói:
- Mấy hôm nay, tôi xem thiên văn,
thấy sao Cương ở phương tây, mà sao Thái Bạch thì lâm vào địa phận xứ này tất
có việc không hay, nên phải giữ gìn mới được.
Huyền Đức dùng ngay Bành Dạng làm
mạc tân, sai người mật báo cho Hoàng Trung, Nguỵ Diên ngày đêm phải dụng tâm tuần
phong, giữ gìn kẻo giặc khơi sông Hoàng Trung, Nguỵ Diên bàn định nhau, luân
phiên tuần phòng, động có giặc thì phải báo cho nhau biết.
Nói về Lãnh Bào thấy đếm hôm ấy
mưa to gió lớn, liền dẫn năm nghìn quân, men bờ sông kéo đi chực phá đê cho nước
tràn vào. Bỗng nghe mé sau có tiếng reo hò rầm rĩ, biết có chuẩn bị, vội vàng
rút quân về, thì Nguỵ Diên đã kéo quân đến nơi. Quân Xuyên giày xéo lên nhau mà
chạy. Lãnh Bào đang chạy gặp ngay Nguỵ Diên, đánh nhau chưa được vài hợp, bị
Diên bắt sống. Khi Ngô Lan, Lôi Đồng đến tiếp ứng, lại bị toán quân Hoàng Trung
đánh lui.
Nguỵ Diên giải Lãnh Bào đến Bồi
Quan, Huyền Đức trách mắng rằng:
- Ta xử với ngươi tử tế, tha cho
về, sao ngươi lại dám phản ta? Thứ này thì không sao tha được nữa.
Nói đoạn, sai đem Lãnh Bào ra
chém, rồi trọng thưởng cho Nguỵ Diên.
Huyền Đức mở tiệc, thết đãi Bành
Dạng. Chợt có tin báo Mã Lương tự Kinh Châu mang thư của Khổng Minh đến trình.
Huyền Đức mời vào hỏi, Mã Lương nói:
- Kinh Châu bình yên, chúa công
không phải lo lắng.
Mã Lương trình thư.
Huyền Đức mở ra xem, trong thư viết:
“Lượng tôi tính số Thái Ất,
năm nay là năm Quý Tỵ, sao Cương đóng ở phương tây. Lại xem thiên văn thì thấy
sao Thái Bạch lâm vào địa phận Lạc Thành, ứng vào số mệnh tướng suý, dữ nhiều
lành ít, nên phải cẩn thận lắm mới được”.
Huyền Đức xem xong thư, cho Mã
Lương về trước. Huyền Đức nói:
- Ta sẽ về Kinh Châu để bàn việc ấy.
Bàng Thống nghĩ thầm rằng:
“Đây hẳn là Khổng Minh thấy ta lấy
được Tây Xuyên, lập nên công trạng, cho nên cố ý đưa thư này để cản trở chăng?”
Bèn nói với Huyền Đức rằng:
- Tôi cũng đã xem Thái Ất, biết rằng
Cương tính ở phương tây, ứng về việc chúa công lấy được Tây Xuyên, chứ không phải
điềm xấu. Tôi cũng xem thiên văn thấy sao Thái Bạch lâm vào địa phận Lạc Thành,
thì đã chém Lãnh Bào là ứng vào điềm hung ấy rồi. Chúa công không phải nghi hoặc
gì nữa, nên tiến binh cho mau thôi.
Huyền Đức thấy Bàng Thống giục
giã hai ba lần, mới kéo quân đi. Hoàng Trung, Nguỵ Diên ra tiếp vào trại. Bàng
Thống hỏi Pháp Chính rằng:
- Từ đây vào Lạc Thành có mấy con
đường?
Chính vẽ xuống đất làm địa đồ.
Huyền Đức giở bức đồ của Trương Tùng ra xem thấy không sai một ly. Pháp Chính
nói:
- Mé bắc có một con đường lớn, đi
thẳng vào cửa động Lạc Thành, mé nam có một con đường nhỏ, đi thẳng vào cửa
tây. Hai con đường ấy, đều tiến binh được cả.
Bàng Thống nói với Huyền Đức:
- Tôi sai Nguỵ Diên làm tiên
phong, tiến theo đường nhỏ mé nam, chúa công sai Hoàng Trung làm tiên phong, tiến
theo đường lớn dãy núi phía bắc, cùng đến cả Lạc Thành.
Huyền Đức nói:
- Ta xưa nay quen nghề cung ngựa,
hãy đi đường hẻm. Quân sư nên đi đường lớn mà vào cửa đông, để ta vào cửa tây
cho.
Bàng Thống nói:
- Đường lớn tất có quân ngăn chặn,
chúa công dẫn quân mà chống cự, để tôi đi đường nhỏ.
Huyền Đức nói:
- Quân sư chớ nên đi, đêm qua ta
nằm mơ thấy một vị thần, cầm gậy sắt đánh vào cánh tay phải, tỉnh dậy vẫn còn
thấy đau. Đi chuyến này có lẽ không may.
Bàng Thống nói:
- Tráng sĩ làm trận, không chết
thì bị thương, đó cũng là lẽ thường vậy, can gì tin mộng mà sinh lòng nghi hoặc?
Huyền Đức nói:
- Ta lại nghĩ về cả bức thư của
Khổng Minh nữa, quân sư nên trở về mà giữ lấy Bồi Quan, ý quân sư thế nào?
Thống cười ầm lên, nói:
- Chúa công bị Khổng Minh mê hoặc
rồi đó. Ông ta không muốn tôi một mình làm nổi công trạng, cho nên nói ra thế để
cho chúa công nghi hoặc. Bụng đã nghi thì sinh mộng, hung gì mà hung? Tôi đội
ơn chúa công gan óc lầy đất mới xứng được bụng tôi. Xin cứ đến sáng mai là đi,
không phải nói chi cho lắm.
Ngày hôm ấy, Thống ra lệnh cho
quân sĩ canh năm thổi cơm ăn, sáng rõ thì khởi hành. Hoàng Trung, Nguỵ Diên
lĩnh binh đi trước. Huyền Đức và Bàng Thống cũng sắp sửa đi, bỗng nhiên con ngựa
của Bàng Thống quáng mắt sa chân trước, hất Thống ngã lăn xuống đất. Huyền Đức
vội vàng ở trên mình ngựa nhảy xuống, giữ lấy con ngựa ấy rồi hỏi rằng:
- Quân sư làm sao lại cưỡi ngựa xấu
thế này?
- Ngựa này tôi cưỡi đã lâu, không
thế này bao giờ.
Huyền Đức nói:
- Lâm trận mà ngựa quáng mắt, thường
hay làm lỡ tính mạng người ta. Con ngựa trắng của tôi cưỡi, tính nó thuần lắm,
quân sư cưỡi thì không còn ngại chút nào. Con ngựa xấu thì để tôi cưỡi cho.
Liền đổi ngựa cho Bàng Thống, Thống
tạ ơn nói:
- Xin cảm tạ ơn sâu của chúa
công, dẫu muôn chết cũng không đền đáp được.
Nói xong cùng lên ngựa ra đi. Huyền
Đức thấy Bàng Thống đi, trong bụng vẫn áy náy không yên.
Nói về Ngô Ý, Lưu Hội trong Lạc
Thành, nghe tin Lãnh Bào chết, mới hội các tướng lại bàn bạc. Trương Nhiệm nói:
- Ở mé đông nam núi, có một con
đường nhỏ, rất là hiểm yếu, tôi xin dẫn một toán quân ra giữ đường ấy. Các ông
thì giữ vững lấy Lạc Thành, chớ có sơ suất.
Chợt có tin báo: quân Hán chia
làm hai đường vào lấy thành Trương Nhiệm vội dẫn ba nghìn quân lẻn ra con đường
nhỏ mai phục. Thấy quân Nguỵ Diên đi qua, Nhiệm bảo cứ mặc cho đi, không được
kinh động. Sau thấy quân Bàng Thống đến, quân sĩ của Nhiệm trỏ vào viên đại tướng
cưỡi ngựa trắng, bảo đó là Lưu Bị. Nhiệm mừng lắm, truyền lệnh cho quân sĩ cứ
việc làm như thế, như thế.
Bàng Thống dẫn quân từ từ tiến
đi, ngẩng đầu nhìn thấy hai bên rặng núi liền sát với nhau, cây cối cuối hè um
tùm, rậm rạp. Thống trong bụng nghi hoặc, dừng ngựa lại, hỏi rằng:
- Đây là chỗ nào?
Có tên quân Thục mới hàng, trỏ
lên núi bẩm rằng:
- Ở đây gọi là gò Lạc Phượng.
Thống giật mình nói:
- Hỏng, hỏng! Ta hiệu là Phượng Sồ,
mà đây lại là gò Lạc Phượng, dễ thường quan hệ đến tính mạng ta.
Lập tức truyền lệnh quân sĩ vội
vã rút lui. Bỗng nhiên một tiếng pháo hiệu nổi lên, rồi tên ở trên núi bắn xuống
như châu chấu bay, cứ châu cả vào người cưỡi ngựa trắng mà bắn. Thương hại thay
cho Bàng quân sư, cả người lẫn ngựa chết ở dưới sườn núi.
Bấy giờ Bàng Thống mới có ba mươi
sáu tuổi.
Người sau có thơ than rằng:
Người xấu nhưng mà chí khí cao
Thao lược kém chi mưu Quản, Nhạc
Tài năng coi nhỏ sức Tôn, Tào
Một phương đất hiểm công khai thác
Muôn dặm đường trường bước khổ lao
Độc ác làm chi thiên cẩu giáng?
Thôi thôi số phận biết làm sao!
Khi trước ở vùng đông nam trẻ con
hát rằng:
Đi đến nửa đường, phượng ngã non đông,
Mưa mưa gió gió, đưa đến nhau cùng
Hán nối lên, đường Thục mới thông;
Đường Thục thông, chỉ còn một rồng.
Lời hát ấy quả nhiên đúng.
Hôm ấy Trương Nhiệm bắn chết Bàng
Thống, quân Hán chen chúc chật đường cái, bị chết quá nửa. Tiền quân phi báo với
Nguỵ Diên. Diên vội vàng muốn quay về, nhưng vì đường núi hẹp, đánh nhau không
được, mà đường về lại Trương Nhiệm chen mất và dùng những cứng tên dài ở trên
núi cao bắn xuống. Nguỵ Diên rất lo sợ.
Có quân Thục mới hàng bẩm rằng:
- Không bằng đánh đến Lạc Thành,
sang con đường lớn mà đi.
Nguỵ Diên nghe lời, liền đi trước
mở đường đánh vào Lạc Thành. Bỗng thấy trước mặt bụi bay mù mịt, một toán quân
kéo đến, trông ra thì là tướng giữ Lạc Thành Ngô Lan, Lôi Đồng, sau lưng lại có
Trương Nhiệm đuổi theo. Hai mặt đánh ập lại, vây chặt lấy Nguỵ Diên. Diên cố chết
chống cự nhưng không sao ra được. Chợt thấy hậu quân của Ngô Lan, Lôi Đồng tự
nhiên rối loạn. Hai tướng vội quay ngựa lại cứu, Diên thừa thế đánh thốc chạy
ra, thì thấy có một người tế ngựa múa đao đi trước, gọi to lên rằng:
- Văn Tràng, ta lại cứu cho ngươi
đây!
Diên trông ra thì là lão tướng
Hoàng Trung. Hai bên hợp sức lại, phá tan quân Ngô Lan, Lôi Đồng, kéo đánh thẳng
đến Lạc Thành. Lưu Hội ở trong thành kéo quân ra đánh, may có Huyền Đức ở mé
sau, dẫn quân lại tiếp ứng. Hai tướng vừa đánh vừa chạy về.
Huyền Đức vừa đến trại thì quân của
Trương Nhiệm lại tự con đường nhỏ đánh chặn. Lưu Hội, Ngô Lan, Lôi Đồng cũng
kéo ùa đến, Huyền Đức không giữ nổi hai trại, phải chạy về cửa Bồi Quan. Quân
Thục thừa thế đuổi riết. Huyền Đức người ngựa mỏi mệt, không còn tưởng đến đánh
chắc gì nữa, chỉ cốt chạy cho mau thôi. Gần đến Bồi Quan thì toán quân Trương
Nhiệm đuổi kịp. May có Lưu Phong, Quan Bình dẫn ba vạn quân sinh lực chặn lại,
đánh lui Trương Nhiệm và đuổi theo hơn hai mươi dặm, cướp lại ngựa chiến rất
nhiều.
Huyền Đức dẫn quân vào Bồi Quan,
hỏi thăm tin tức Bàng Thống. Có tên lính thoát chết ở gò Lạc Phượng về báo rằng:
- Quân sư bị tên bắn, cả người lẫn
ngựa chết ở dưới núi.
Huyền Đức nghe báo, thương khóc sầu
thảm, rồi bày đồ cúng tế, ngảnh về phía tây làm lễ chiêu hồn. Các tướng ai nấy
đều thương cảm, khóc lóc…
Hoàng Trung nói:
- Quân sư Bàng Sĩ Nguyên mất rồi,
Trương Nhiệm tất nhiên dẫn quân đến đánh, làm thế nào bây giờ? Chúa công phải
cho người về Kinh Châu mời Gia Cát quân sư đến bàn kế lấy Tây Xuyên mới được.
Trong khi đang bàn thì Trương Nhiệm
đã dẫn quân đến dưới ải khiêu chiến. Hoàng Trung, Nguỵ Diên muốn đánh, Huyền Đức
gàn lại rằng:
- Nhuệ khí vừa bị nhụt mất rồi,
nên giữ vững để đợi quân sư đến.
Hai tướng vâng lệnh, giữ gìn
thành trì cẩn thận.
Huyền Đức viết một phong thư, sai
Quan Bình về Kinh Châu mời Khổng Minh. Từ đó Huyền Đức giữ vững không ra nữa.
Nói về Khổng Minh ở Kinh Châu,
đương hôm mồng bảy tháng bảy, là ngày tết thất tịch, hội cả các quan ăn yến,
bàn việc Huyền Đức lấy Xuyên. Bỗng thấy ở mé chính tây, có một ngôi sao to bằng
cái đấu sa xuống dưới đất, ánh sáng loè ra tứ phía. Khổng Minh giật mình, quăng
chén rượu xuống đất, ôm mặt khóc mà nói rằng:
- Thảm thiết chưa! Đau đớn chưa!
Các quan vội vàng hỏi duyên cớ
làm sao. Khổng Minh đáp rằng:
- Trước đây ta đã tính số Thái Ất
và xem thiên văn biết Bàng quân sư sẽ gặp điều hung dữ nên đã đưa thư cho chúa
công khuyên phải cẩn thận. Ai ngờ đêm nay lại thấy sao sa ở phương chính tây,
Bàng quân sư hỏng mất rồi.
Nói đoạn khóc hu hu lên rằng:
- Thôi thôi! Chúa công ta gãy mất
một cánh tay rồi!
Các quan ai cũng kinh hãi, nhưng
vẫn chưa tin lắm. Khổng Minh nói:
- Chỉ vài hôm nữa khắc có tin đến
nơi.
Đêm hôm ấy tiệc rượu kém phần vui
vẻ.
Qua vài hôm sau, Khổng Minh đang
cùng với Vân Trường và các quan ngồi chơi. Chợt có tin báo Quan Bình đến. Các
quan ai nấy đều giật mình. Quan Bình vào trình tờ thư của Huyền Đức. Khổng Minh
mở ra xem, trong thư nói ngày mồng bảy tháng này, Bàng quân sư bị Trương Nhiệm
bắn chết ở dưới gò Lạc Phượng. Khổng Minh xem thư xong, khóc rầm lên, các quan
đều ứa nước mắt.
Khổng Minh nói:
- Nay chúa công ở Bồi Quan đang
giữa đôi đường tiến thoái lưỡng nan, tôi phải đi mới được.
Vân Trường hỏi:
- Kinh Châu là chỗ quan trọng,
quân sư đi thì ai giữ được, việc này không phải nhỏ đâu!
Khổng Minh nói:
- Trong thư của chúa công tuy
không nói rõ là giao cho ai, nhưng ta đã biết ý, – rồi đưa thư Huyền Đức cho mọi
người xem và nói, – Trong thư chúa công muốn phó thác Kinh Châu cho tôi, bảo
tôi tuỳ theo tài mà dùng. Nay sai Quan Bình mang thư đến đây là ý chúa công muốn
giao việc hệ trọng này cho Vân Trường đó. Vân Trường nên nghĩ đến tình nghĩa vườn
đào, hết lòng coi giữ xứ này, trách nhiệm rất là quan trọng, nên phải cố mới được.
Vân Trường chẳng chút từ chối,
vui vẻ vâng lời ngay. Khổng Minh mở tiệc yến để giao ấn thụ. Vân Trường giơ hai
tay ra lĩnh lấy. Khổng Minh tay cầm quả ấn và nói:
- Ấn này can hệ ở cả trên mình tướng
quân đấy!
Vân Trường khảng khái nói:
- Đại trượng phu đã đảm nhận việc
quan trọng, trừ ra khi nào chết rồi mới thôi.
Khổng Minh thấy Vân Trường nói gở
ra một tiếng “chết”, trong bụng không bằng lòng, đã định không giao, nhưng đã
trót hứa rồi, mới hỏi Vân Trường:
- Tào Tháo kéo quân đến đây thì
làm thế nào?
Vân Trường nói:
- Đem sức ra chống cự lại.
Khổng Minh hỏi:
- Nếu Tào Tháo, Tôn Quyền cùng khởi
binh đến đánh, thì làm thế nào.
Vân Trường nói:
- Chia quân ra chống cự lại.
Khổng Minh nói:
- Nếu như thế thì Kinh Châu nguy
mất! Ta có tám chữ này, tướng quân nhớ cho kỹ thì mới giữ nổi được Kinh Châu.
Vân Trường hỏi tám chữ gì, thì Khổng
Minh nói:
- “Bắc cự Tào Tháo, đông
hoà Tôn Quyền”.
Vân Trường nói:
- Quân sư đã dạy làm vậy, tôi xin
ghi lòng.
Khổng Minh liền giao ấn tín cho
Vân Trường, sai quan văn là Mã Lương, Y Tịch, My Chúc và tướng võ là My Phương,
Liêu Hoá, Quan Bình, Chu Thương ở lại giúp Vân Trường giữ kinh. Một mặt tự thống
lĩnh quân mã vào Xuyên. Trước hết sai Trương Phi dẫn một vạn tinh binh đi đường
bộ sang Ba Châu, đến phía tây Lạc Thành, một mặt sai Triệu Vân dẫn một toán
quân làm tiên phong, đi đường thuỷ kéo đến. Còn mình dẫn bọn Giản Ung, Tưởng Uyển
đi sau. Hẹn với Trương Phi, cùng hội cả ở Lạc Thành, ai đến được trước thì là
công đầu.
Tưởng Uyển tên tự là Công Nhiệm,
người quận Linh Lăng, cũng vào bậc danh sĩ ở Kinh Châu, hiện đang làm thư ký.
Khi ấy Khổng Minh dẫn một vạn rưỡi quân, khởi hành cùng ngày với Trương Phi.
Phi sắp đi, Khổng Minh dặn lại rằng:
- Tây Xuyên lắm hào kiệt, không
nên coi thường đi đường phải răn bảo sĩ tốt, không được nhũng nhiễu đến dân sự
mà làm mất lòng dân. Lại không được hung hăng, đánh đập sĩ tốt lắm. Xin tướng
sĩ mau mau đến hội ở Lạc Thành, chớ để lỡ việc.
Trương Phi mừng rỡ vâng lệnh, lên
ngựa kéo quân đi. Đi đến đâu, nội là chỗ nào chịu hàng, một ly cũng không xâm
phạm đến, tiến theo đường Hán Xuyên, thẳng đến Ba Quận.
Thái thú Ba Quận tên là Nghiêm
Nhan thuộc vào bậc danh tướng nước Thục, tuổi tuy đã già nhưng sức lực còn khoẻ.
Giương cung cứng sử đai đao, có sức muôn người không địch nổi. Nghiêm Nhan giữ
vững thành trì, không kéo cờ hàng.
Trương Phi cách thành mười dặm, lập
một cái trại rồi sai một tên lính vào thành bảo:
- Lão sất phu phải sớm đầu hàng,
ta tha tội cho cả trăm họ trong thành này. Nếu không hàng thì ta đạp đổ cả
thành luỹ, giết sạch già trẻ!
Nguyên khi trước Nghiêm Nhan nghe
thấy tin Pháp Chính mời Huyền Đức vào Xuyên, đã vỗ tay vào bụng mà than rằng:
- Thế mới gọi là ngồi một mình ở
xó núi, rước hổ đến giữ đỡ cho mình.
Về sau, lại nghe thấy tin Huyền Đức
cướp mất ải Bồi Quan, tức giận vô cùng, lăm le chỉ muốn cất quân đến đánh,
nhưng còn ngại đường này có quân khác kéo đến. Bấy giờ nghe tin quân Trương Phi
sắp đến, liền dẫn năm sáu nghìn quân, phòng sẵn để ra nghênh địch.
Có người hiến kế cho Nghiêm Nhan
rằng:
- Trương Phi ở trận Trường Bản,
quát một tiếng lùi được trăm vạn quân Tào; Tào Tháo nghe thấy tiếng là phải
tránh, ta không nên khinh địch. Nay chỉ nên thành cao hào sâu, giữ vững không
ra. Quân bên kia hết lương, tự nhiên phải rút về. Vả lại Trương Phi tính nóng
như lửa, hay đánh đập lính tráng. Nếu không được đánh nhau, tất phải giận, giận
tất đánh lính. Ta nên đợi lúc nào lòng quân bên kia sinh biến, sẽ thừa cơ mà
đánh, thì chắc bắt được Trương Phi.
Nghiêm Nhan nghe kế ấy, truyền lệnh
cho quân sĩ lên hết cả mặt thành giữ gìn. Chợt thấy tên lính gọi to mở cửa.
Nghiêm Nhan bảo cho vào và hỏi. Hắn nói là quân của Trương Phi sai đến và thuật
lại lời Trương Phi dặn. Nhan nổi giận lên, mắng rằng:
- Thằng láo! Sao dám vô lễ thế!
Nghiêm tướng quân đây lại thèm hàng giặc à? Tao mượn cái mồm mày về bảo Trương
Phi thế cho tao!
Nói đoạn, sai võ sĩ đem cắt cả
tai mũi rồi đuổi cổ về.
Tên lính ấy khóc lóc về kể chuyện
lại với Trương Phi. Phi nổi giận, nghiến răng trợn mắt, mặc áo giáp lên ngựa, dẫn
vài trăm kỵ mã đến thẳng thành Ba Quận khiêu chiến.
Nghiêm Nhan giữ trên mặt thành
không ra, sai quân sĩ chửi mắng sỉ nhục. Trương Phi tức quá, mấy phen xông đến
sát cạnh cầu treo, chực qua hào để phá vào thành, nhưng bị tên bắn tán loạn lại
phải quay về. Chờ cho mãi đến chiều tối, cũng không có một người nào ra. Phi
căm tức vô cùng, về trại. Sáng sớm hôm sau, lại dẫn quân đến khiêu chiến.
Nghiêm Nhan đứng trên chòi cao trong thành bắn một phát tên ra, tin ngay vào chỏm
mũ Trương Phi. Phi giận trỏ lên bảo rằng:
- Tao mà bắt được thằng già kia,
thì tao xé xác mày ra mà ăn thịt mới hả!
Đến mãi chiều Phi lại trở về
không.
Ngày thứ ba, Phi dẫn quân đi
quanh thành, hò hét chửi mắng. Đây vốn là một toà thành núi, xung quanh chi
chít những núi cả. Phi cưỡi ngựa leo lên núi, trông vào trong thành, thấy quân
sĩ ăn mặc gọn ghẽ, chia thành đội ngũ, phục ở trong thành. Dân phu thì đi đi lại
lại, chuyển gánh gỗ đá, giúp cho quân để giữ thành. Phi thấy vậy, sai quân kỵ
xuống cả ngựa, ngồi bừa xuống đất để dử quân trong thành ra, nhưng cũng không
thấy rục rịch gì. Mỏi mồm chửi mắng mất một ngày, rồi lại trở về suông như trước.
Trương Phi về trại, nghĩ mãi
không biết làm thế nào dử cho được bên kia ra, chợt tìm được một kế, liền truyền
cho quân sĩ không được đi khiêu chiến nữa; chỉ cho ba bốn mươi tên lính đến dưới
thành mà chửi mắng cho đáo để. Còn mình thì xoay tay ngồi chực sẵn chỉ đợi bên
kia ra là đánh. Quân đến chửi trong ba hôm, bên kia vẫn nhất định không ra.
Trương Phi trợn mắt lên lại nghĩ
được một kế nữa: truyền cho quân tản ra bốn mặt kiếm củi cắt cỏ, tìm đường đi tắt,
không đến gây sự đánh nhau nữa.
Nghiêm Nhan ở trong thành, luôn mấy
hôm không thấy Trương Phi động tĩnh gì, trong bụng nghi hoặc. Sai vài mười tên
lính, giả làm quân kiếm củi của Trương Phi, đi ngầm ra thành, lộn vào đám quân
kiếm củi để nghe ngóng.
Một hôm, quân kiếm củi trở về.
Trương Phi đang ngồi trong trại, giẫm chân xuống quát mắng Nghiêm Nhan rằng:
- Thằng già Nghiêm Nhan kia, mày
trêu tức tao, là mày giết tao đấy!
Có mấy tên lính bước lên bẩm rằng:
- Tướng quân chớ nóng ruột, mấy
hôm nay đã tìm thấy một con đường nhỏ, có thể đi vượt qua được Ba Quận.
Phi cố ý thét to lên rằng:
- Đã có đường đi, sao không bảo
tao ngay?
Chúng bẩm:
- Vì đường ấy mới tìm thấy, chưa
kịp bẩm.
Trương Phi nói:
- Có phải thế thì việc này không
nên để trì hoãn, canh hai đêm hôm nay thổi cơm ăn, sang canh ba nhân sáng trăng
nhổ trại đi hết. Người ngậm tăm, ngựa ngậm tăm, ngựa cởi nhạc, cứ lần lần mà
kéo đi. Tao đi trước mở đường, chúng bay cứ theo thứ tự mà tiến.
Nói đoạn, truyền báo cho cả trại
đều biết. Quân do thám nghe được tin ấy, về ngay trong thành báo cho Nghiêm
Nhan. Nhan mừng rỡ nói rằng:
- Tao đã biết mà! Thằng đểu này
có nhịn được đâu! Mày đi lẻn con đường nhỏ, xem mày đi làm sao cho được! Đúng
là đồ vô mưu, chuyến này chắc là mắc phải kế của tao!
Lập tức truyền cho quân sĩ dự bị
sẵn sàng đêm ra đánh giặc.
Canh hai đêm hôm ấy, Nghiêm Nhan
dẫn quân ra thành, phục sẵn ở con đường hẻm trong rừng, đợi lúc nào Trương Phi
đi qua thì nổi trống lên làm hiệu quân phục đổ ra đánh.
Vào độ cuối canh ba, xa xa trông
thấy Trương Phi cầm một ngọn mâu cưỡi ngựa đi trước, từ từ dẫn quân kéo đi.
Cách vài dặm thì những xe lương lục tục kéo theo sau. Nghiêm Nhan trông thực
đích xác, mới nổi hiệu trống, quân phục bốn mặt đổ ra, cướp giật xe lương. Bỗng
đâu có một tiếng chiêng nổi lên, rồi một toán quân ập ngay đến. Có tiếng gọi to
lên rằng:
- Giặc già kia! Đừng chạy! Ta đợi
ở đây đã lâu!
Nghiêm Nhan vội ngảnh lại xem ai,
thì thấy một tướng đầu beo, mắt tròn hàm én, râu hổ, cầm mâu tế ngựa chạy đến,
chính là Trương Phi. Lại thấy chiêng khua rầm rĩ, quân kéo đến cực nhiều.
Nghiêm Nhan rụng rời hết vía, nhưng cũng phải gượng đánh nhau với Trương Phi.
Đánh độ mười hiệp Trương Phi lừa dử cho Nghiêm Nhan sấn vào. Nhan thúc ngựa xốc
tới chém một nhát. Phi tránh khỏi, sấn ngay vào nắm được dây lưng Nghiêm Nhan
lôi phắt lại, rồi quẳng xuống đất, quân sĩ xô cả vào trói nghiến lại.
Nguyên là Trương Phi dùng mẹo, biết
chắc Nghiêm Nhan tất chặn đường cướp lương, mới cho một người giả làm mình cầm
mâu đi trước, để cho Nghiêm Nhan trông thấy vững tâm, kỳ thực là Phi đi sau để
chực bắt Nghiêm Nhan. Khi thấy hiệu chiêng khua vang, quân Hán kéo ùa cả lại.
Quân Xuyên phải bỏ giáp, cầm ngược giáo xin hàng cả. Phi thừa thế đánh mãi đến
dưới thành Ba Quận, thì hậu quân đã vào được thành rồi. Phi truyền cho quân
không được giết hại hai trăm họ, và yết bảng để yên dân.
Phi vào thành, ngồi trên công sảnh.
Quân đao phủ điệu Nghiêm Nhan đến. Nhan không chịu quỳ. Phi trợn mắt quát mắng
rằng:
- Đại tướng đến đây, sao không
hàng, mà lại dám chống lại?
Nghiêm Nhan coi như không, chẳng
sợ hãi chút nào, mắng lại rằng:
- Chúng bây là đồ vô nghĩa, dám
xâm phạm vào bờ cõi tao. Đây tao chỉ có tướng quân mất đầu, chớ không có tướng
quân chịu hàng!
Phi giận lắm, quát sai tả hữu lôi
ra chém. Nghiêm Nhan lại quát trả rằng:
- Thằng giặc kia! Mày chặt đầu
tao thì cứ việc chặt, cần gì phải giận dữ?
Phi thấy Nghiêm Nhan tiếng nói
hùng dũng, sắc mặt tươi tỉnh như không, liền đổi giận làm mừng, xuống quát tả hữu
lui ra, cởi trói ngay cho Nghiêm Nhan, sai đem áo đến mặc, rồi đỡ lên ngồi trên
gian giữa, cúi đầu xuống mà nói rằng:
- Tôi vẫn biết lão tướng quân là
bậc hào kiệt, vừa rồi lỡ lời xúc phạm đến tướng quân xin tướng quân miễn chấp.
Nghiêm Nhan cảm ơn nghĩa ấy, mới
chịu hàng.
Có thơ khen Nghiêm Nhan rằng:
Lừng lẫy danh tiếng vang
Khí nghĩa, mây cao ngất
Lòng trung, trăng sáng choang
Thà rằng chặt đầu chết
Sao chịu uốn gối hàng!
Ba Châu tướng già ấy
Mới là tướng giỏi giang!
Lại có thơ khen Trương Phi rằng:
Lại hay nghĩa khí phục lòng dân
Đến nay đền miếu nơi Ba Thục
Hương hoả nghìn thu báo đức thần.
Trương Phi hỏi kế vào Xuyên,
Nghiêm Nhan thưa rằng:
- Tôi là tướng thua trận, được đội
ơn dày, không biết lấy gì mà báo lại được. Vậy xin ra sức khuyển mã để giúp tướng
quân, không cần gì phải dùng đến cung tên, mà có thể đến tắt ngay Thành Đô được.
Đó là:
Cho nên tiến thẳng đến Thành Đô.
Chưa biết dùng kế gì, xem hồi sau
mới biết.
Khổng Minh dùng mẹo bắt Trương Nhiệm
Dương Phụ mượn quân phá Mã Siêu
Lại nói, Trương Phi hỏi kế Nghiêm
Nhan, Nhan nói:
- Từ đây đến Lạc Thành, bao nhiêu
đồn ải quân lính đều thuộc lão phu này cai quản cả. Nay cảm ơn tướng quân,
không có gì báo đáp, lão phu xin làm tiền bộ, đi đến đâu, xin gọi hết cả ra
hàng.
Trương Phi mừng rỡ, cảm tạ.
Bởi thế Nghiêm Nhan đi trước,
Trương Phi dẫn đại quân đi sau, đi đến đâu, Nghiêm Nhan gọi tướng giữ ải chỗ ấy
ra hàng. Ai còn ngần ngại, thì Nghiêm Nhan bảo rằng:
- Ta còn chịu hàng nữa là ngươi!
Từ đó cứ theo nhau mà hàng thuận,
không phải đánh nhau một trận nào.
Lại nói, Khổng Minh báo tin ngày
giờ cất quân đi cho Huyền Đức biết, để cùng hội ở Lạc Thành.
Huyền Đức thương nghị với các tướng
rằng:
- Khổng Minh, Dực Đức chia làm
hai đường vào Xuyên, ước với nhau hội cả ở Lạc Thành cùng vào Thành Đô. Đường
thuỷ đường lục khởi hành cả từ hôm 20 tháng bảy, bây giờ cũng đã sắp đến nơi.
Chúng ta cũng nên tiến binh thì vừa.
Hoàng Trung nói:
- Trương Nhiệm ngày nào cũng dẫn
quân đến đây gọi đánh nhau, quân ta ở trong thành không ra, quân nó tất đã chán
nản, không phòng bị cẩn thận như trước nữa. Đêm nay ta nên chia quân ra cướp trại,
còn hơn đánh nhau ban ngày.
Huyền Đức nghe lời, sai Hoàng
Trung đi phía tả, Nguỵ Diên đi phía hữu, Huyền Đức đi giữa. Canh hai đêm hôm ấy
quân mã ba đường nhất tề kéo đi đến trại Trương Nhiệm. Nhiệm quả nhiên không
phòng bị gì. Quân Hán đánh vào trại lớn. Lửa đốt cháy lên ngùn ngụt, quân Thục
chạy tan hoang cả. Huyền Đức thúc quân đuổi đánh mãi đến Lạc Thành; quân trong
thành ra tiếp ứng đón quân Thục vào. Huyền Đức trở về đường giữa đóng trại.
Hôm sau, Huyền Đức dẫn quân đến
vây thành. Trương Nhiệm đóng chặt không ra. Mãi đến hôm sau thứ tư. Huyền Đức cầm
quân đánh cửa tây, sai Hoàng Trung, Nguỵ Diên đánh cửa đông, còn để hai cửa nam
bắc cho quân địch chạy. Nguyên cửa nam toàn là đường núi, cửa bắc có con sông Bồi
Thuỷ, cho nên không bao vây được.
Trương Nhiệm trông thấy Huyền Đức
cưỡi ngựa đi lại đốc thúc quân sĩ đánh cửa tây, từ giờ thìn đến mãi giờ mùi, sức
lực đã mỏi mệt, Nhiệm mới sai Ngô Lan, Lôi Đồng dẫn quân lẻn ra cửa bắc, đi
vòng qua cửa đông đón đánh Hoàng Trung, Nguỵ Diên; còn mình thì dẫn quân lẻn ra
cửa nam, vòng cửa tây địch Huyền Đức. Bao nhiêu quân dân cho lên cả mặt thành
đánh trống hò reo.
Huyền Đức thấy mặt trời đã xế
tây, cho hậu quân lui về trước. Quân sĩ vừa chạy về, bỗng nghe tiếng hò reo rầm
rĩ, rồi quân mã ở trong cửa nam đổ ra, Trương Nhiệm xông thẳng đến trung quân bắt
Huyền Đức. Quân Hán bối rối, Hoàng Trung, Nguỵ Diên lại bị Ngô Lan, Lôi Đồng chặn
đánh, hai bên không cứu được nhau.
Huyền Đức không địch nổi Trương
Nhiệm, tế ngựa chạy vào đường hẻm hang núi. Trương Nhiệm ra sức đuổi theo, dần
dần đuổi kịp. Huyền Đức lúc này chỉ có một người một ngựa ra roi chạy trốn. Bỗng
đâu có một toán quân ở mé trước mặt xông đến, Huyền Đức mất vía, ngồi trên ngựa
kêu lên rằng:
- Trước mặt có quân phục, sau
lưng có quân đuổi theo, thực là trời giết ta đây!
Đang kêu thì có một tướng xồng xộc
chạy đến, nhìn xem ai té ra là Trương Phi. Nguyên Trương Phi cùng với Nghiêm
Nhan đang đi theo đường này đến Lạc Thành. Phi trông thấy mé trước bụi bay mù mịt,
đoán là quân ta đương đánh nhau với quân Xuyên, mới đi mau đến xem làm sao, vừa
may gặp Huyền Đức đang bị Trương Nhiệm đuổi theo. Phi tế ngựa lại đánh. Hai tướng
giao phong mới độ mười hiệp, Nghiêm Nhan ở mé sau kéo đến. Nhiệm vội vàng quay
ngựa về, Phi đuổi mãi đến dưới thành. Nhiệm chạy tót vào thành, kéo cầu treo
lên.
Trương Phi trở về nói với Huyền Đức
rằng:
- Quân sư đi đường thuỷ đến đây,
bây giờ chưa thấy đến, tôi cướp được công đầu rồi!
Huyền Đức hỏi:
- Đường núi hiểm trở như vậy, thế
nào chẳng có quân ngăn trở, sao em lại đến được đây mau chóng thế?
Trương Phi nói:
- Tôi đi đường qua bốn mươi nhăm
chỗ đồn ải, vì có lão tướng là Nghiêm Nhan, cho nên không ai ngăn trở, chẳng tốn
một chút công sức nào.
Lại đem chuyện tha Nghiêm Nhan
thuật lại cho Huyền Đức nghe, và đưa Nghiêm Nhan vào ra mắt Huyền Đức.
Huyền Đức tạ rằng:
- Nếu không có lão tướng quân,
thì em tôi sao có đến được đây?
Bèn cởi ngay áo giáp vàng đang mặc
trong mình, thưởng cho Nghiêm Nhan. Nghiêm Nhan lạy tạ.
Vừa sắp mở tiệc yến uống rượu, chợt
có tiễu mã về báo rằng:
- Hoàng Trung, Nguỵ Diên, đánh
nhau với tướng Xuyên là Ngô Lan, Lôi Đồng; Ngô Ý, Lưu Hội ở trong thành lại dẫn
quân ra đánh giúp. Hoàng, Nguỵ, hai tướng thua trận, chạy cả về phía đông.
Trương Phi được tin, xin với Huyền
Đức chia quân ra cứu. Thế rồi, Huyền Đức ở phía hữu, Trương Phi ở phía tả kéo
quân ra đánh.
Ngô Ý, Lưu Hội nghe mé sau có tiếng
rầm rĩ, hoảng sợ rút ngay vào thành. Ngô Lan, Lôi Đồng mải miết đuổi theo Hoàng
Trung và Nguỵ Diên, bị Huyền Đức, Trương Phi chặn mất đường về. Hoàng, Nguỵ hai
tướng quay đánh vật lại. Ngô, Lôi biết thế không địch nổi, đem cả quân xin
hàng. Huyền Đức cho hàng, đem quân giáp thành hạ trại.
Trương Nhiệm thấy mất hai tướng,
trong bụng lo buồn. Ngô Ý, Lưu Hội nói:
- Quân ta thế nguy lắm, không quyết
một trận tử chiến, thì làm sao đuổi được quân giặc đi. Vậy phải một mặt đến
Thành Đô cầu cứu, một mặt dùng mẹo phá mới xong.
Trương Nhiệm nói:
- Ngày mai tôi dẫn một toán quân
ra khiêu chiến, giả vờ thua chạy quanh về cửa bắc, dử cho quân kia đuổi lại, rồi
trong thành dẫn quân ra mà chít lấy đường về, tôi sẽ quay binh lại đánh, thế mới
có thể phá được.
Ngô Ý nói:
- Lưu tướng quân giúp công tử giữ
thành, tôi dẫn quân ra đánh giúp Trương tướng quân.
Bàn định đâu đấy, hôm sau Trương
Nhiệm dẫn vài nghìn quân mã, mở cờ hò reo ra gọi đánh. Trương Phi cưỡi ngựa
xông tới, chẳng nói chẳng rằng, cầm mâu đánh nhau với Trương Nhiệm. Chưa được
mười hiệp, Trương Nhiệm giả thua chạy vòng quanh thành. Phi cố sức đuổi theo.
Ngô Ý dẫn quân ra chặn ngang. Trương Nhiệm dẫn quân quay lại đánh. Phi bị vây ở
giữa trận, tiến thoát không được. Đang lúc nguy cấp, bỗng đâu có một đội quân từ
bờ sông đánh vào, một viên đại tướng đi trước, tế ngựa cầm giáo giao chiến với
Ngô Ý. Chỉ một hiệp, bắt sống ngay Ngô Ý, phá tan quân giặc, cứu được Trương
Phi, Phi trông ra xem ai, thì là Triệu Vân.
Phi hỏi:
- Quân sư ở đâu?
Vân đáp:
- Quân sư đã đến, dễ thường bây
giờ đã hội nhau với chúa công rồi.
Hai người giải Ngô Ý về trại,
Trương Nhiệm lùi vào cửa đông. Trương, Triệu về đến trại, đã thấy Khổng Minh,
Giản Ung, Tưởng Uyển, ở cả trong trướng rồi. Phi xuống ngựa vào chào Khổng
Minh. Khổng Minh giật mình hỏi rằng:
- Thế nào mà tướng quân đến trước
đây thế?
Huyền Đức thuật lại chuyện Trương
Phi tha Nghiêm Nhan cho Khổng Minh nghe.
Khổng Minh mừng nói rằng:
- Trương tướng quân mà cũng biết
dùng mẹo, đó là hồng phúc của chúa công!
Triệu Vân giải Ngô Ý vào nộp, Huyền
Đức hỏi:
- Ngươi có chịu hàng không?
Ngô Ý thưa:
- Tôi đã bị bắt, còn gì nữa mà chẳng
hàng.
Huyền Đức mừng lắm, cởi trói ngay
cho Ngô Ý.
Khổng Minh hỏi:
- Trong thành còn bao nhiêu tướng
tá?
Ngô Ý thưa:
- Chỉ có con Lưu Quý Ngọc là Lưu
Tuần, cùng với hai tướng là Lưu Hội, Trương Nhiệm mà thôi. Lưu Hội thì chẳng
đáng kể, chỉ có Trương Nhiệm là người ở Thục Quận, can đảm mà lắm mưu lược,
không nên coi thường.
Khổng Minh nói:
- Hãy bắt Trương Nhiệm trước, rồi
sẽ lấy Lạc Thành.
Lại hỏi rằng:
- Mé đông thành này có một cái cầu,
gọi là cầu gì?
Ngô Ý nói:
- Đó là cầu Kim Nhạn.
Khổng Minh cưỡi ngựa đến bên cầu,
ngắm xem quanh bờ sông có một lượt rồi trở về trại gọi Hoàng Trung, Nguỵ Diên đến
truyền lệnh:
- Cách mé nam cầu Kim Nhạn năm
sáu dặm, hai bên lau sậy rậm rạp, nên phục quân ở đó. Nguỵ Diên dẫn một nghìn
quân cầm toàn giáo dài phục ở mé tả, chỉ việc đâm người cưỡi trên ngựa, Hoàng
Trung dẫn một nghìn quân cầm toàn mã tấu, phục ở mé hữu, chỉ việc chặt chân ngựa.
Đánh tan quân giặc thì Trương Nhiệm tất chạy theo đường nhỏ mé đông núi. Trương
Dực Đức phục sẵn hai nghìn quân ở đó mà bắt lấy.
Lại sai Triệu Vân phục mé bắc cầu
Kim Nhạn, và dặn rằng:
- Đợi khi nào ta dử Trương Nhiệm
qua khỏi cầu, ngươi cho phá tan cầu đi, rồi dàn quân ở mé bắc cầu, để cho
Trương Nhiệm không dám chạy về bắc, mà rút lui về phía nam, chắc mắc mẹo ta!
Sắp đặt xong, ngay hôm ấy ra trại
dụ địch.
Lại nói, Lưu Chương sai Trác Ung,
Trương Dực đến giúp Lạc Thành. Trương Nhiệm để Lưu Hội, Trương Dực ở thành giữ
nhà còn mình thì cùng với Trác Ung chia làm hai đội. Nhiệm đi trước, Ung đi
sau, kéo ra đánh giặc.
Khổng Minh dẫn một toán quân hàng
ngũ lộn xộn qua cầu Kim Nhạn, đối trận với Trương Nhiệm. Khổng Minh đầu đội
khăn lượt, tay cầm quạt lông, ngồi trên chiếc xe bốn bánh, hai bên hơn một trăm
kỵ đi kèm, trỏ sang Trương Nhiệm mà bảo rằng:
- Tào Tháo dẫn trăm vạn quân,
nghe thấy tiếng ta đã phải rút chạy. Mày là thằng nào, sao không đầu hàng?
Trương Nhiệm trông thấy quân Khổng
Minh không được tề chỉnh, cười mát nói rằng:
- Người ta đồn Gia Cát Lượng dùng
binh như thần, nay xem ra, mới biết là hữu danh vô thực!
Nói đoạn Nhiệm giơ giáo vẫy một
cái, quân mặt sau kéo ùa cả lên. Khổng Minh liền bỏ xe, lên ngựa chạy về bên
kia cầu. Trương Nhiệm dẫn quân đuổi đánh, vừa qua khỏi cầu Kim Nhạn, thì thấy
quân Huyền Đức ở mé tả, quân Nghiêm Nhan ở mé hữu, kéo ập cả lại. Nhiệm biết là
mắc mẹo, vội vàng rút về, thì cầu đã gãy mất rồi, muốn chạy về mé bắc, lại thấy
một toán quân của Triệu Vân án ngữ, mới rẽ ra phía nam, men theo bờ sông mà chạy.
Chạy độ năm sáu dặm, bỗng nhiên ở trong bụi lau sậy có hai toán quân của Hoàng
Trung, Nguỵ Diên đổ ra, bên thì giáo đâm, bên thì dao chặt, đánh tan tác quân
Trương Nhiệm. Nhiệm dẫn vài trăm quân kỵ chạy thoát, trốn vào trong đường núi,
lại gặp Trương Phi, Nhiệm toan tháo lui, Phi quát to lên một tiếng, quân sĩ ập
cả vào, bắt sống ngay được Trương Nhiệm.
Trác Ung thấy Trương Nhiệm mắc mẹo,
đến ngay quân Triệu Vân xin hàng. Vân dẫn cả về trại lớn. Huyền Đức thưởng cho
Trác Ung.
Trương Phi giải Trương Nhiệm đến,
Khổng Minh cùng ngồi ở trong trướng, Huyền Đức bảo rằng:
- Các tướng trong Thục, theo nhau
quy hàng cả, ngươi sao không sớm hàng?
Trương Nhiệm trợn mắt lên quát rằng:
- Trung thần há chịu thờ hai chúa
à?
Huyền Đức nói:
- Ngươi không thức thời đấy thôi,
hàng thì ta cho khỏi chết.
Nhiệm nói:
- Bây giờ ta hàng, về sau sẽ
không hàng, nên giết ta mau!
Huyền Đức ngần ngại không nỡ.
Trương Nhiệm thì cứ quát to mãi lên. Khổng Minh sai đem chém cho y được toàn
danh tiếng.
Đời sau có thơ than rằng:
Trung liệt há cam thờ hai chủ
Trương quân anh dũng chết lưu
danh
Cao sáng khác nào vầng trăng tỏ,
Đêm đêm toả bóng chốn Đô Thành.
Huyền Đức cảm thương Trương Nhiệm
lắm, sai thu nhặt thi hài, táng ở cạnh cầu Kim Nhạn để tỏ là người trung tiết.
Hôm sau, sai Nghiêm Nhan, Ngô Ý
và cả bọn hàng tướng kéo đến Lạc Thành gọi to lên rằng:
- Mở cửa mà chịu hàng cho mau, chớ
để nhân dân trong thành chịu khổ.
Lưu Hội ở trên mặt thành quát mắng
ầm ĩ. Nghiêm Nhan sắp rút tên ra bắn, bỗng thấy một tướng ở trên thành rút gươm
chém Lưu Hội ngã gục ngay xuống, rồi mở tung cửa thành ra hàng. Quân Huyền Đức
vào thành. Lưu Tuần mở cửa Tây chạy thoát về Thành Đô.
Huyền Đức treo bảng yên dân. Người
giết Lưu Hội tên là Trương Dực, quê ở Vũ Dương.
Huyền Đức được Lạc Thành, hậu thưởng
cho các tướng.
Khổng Minh nói:
- Lạc Thành đã hạ xong, Thành Đô ở
ngay trước mắt. Chỉ còn ngại châu quận ở ngoài không được yên ổn, nên sai
Trương Dực, Ngô Ý dẫn Triệu Vân ra phủ dụ các châu quận vùng Ngoại Thuỷ, Giang
Dương và Kiến Vi, sai Nghiêm Nhan, Trác Ung dẫn Trương Phi ra phủ dụ châu quận
vùng Ba Tây, Đức Dương, cắt quan cai trị, cho dân được yên ổn, rồi dẫn quân về
để lấy Thành Đô.
Triệu Vân, Trương Phi lĩnh mệnh,
người nào đi ngả nấy.
Khổng Minh hỏi:
- Mé trước còn đồn ải nào nữa
không?
Các hàng tướng bẩm rằng:
- Chỉ còn một cửa ải Miên Trúc nữa,
nếu được nốt cửa ấy, thì Thành Đô như ở trong tay rồi!
Khổng Minh liền bàn việc tiến
quân. Pháp Chính nói:
- Lạc Thành bị vỡ, đất Thục nguy
lắm rồi. Chúa công muốn lấy nhân nghĩa thu phục dân chúng, xin đừng tiến binh vội,
để tôi viết một phong thư, sai người đem đến dâng Lưu Chương, bày tỏ lẽ lợi hại,
tự nhiên Chương phải hàng.
Khổng Minh nói:
- Lời Hiếu Trực phải đấy!
Liền sai viết thư, cho người đem
đến Thành Đô.
Lưu Tuần trốn về, thuật chuyện lại
với cha rằng Lạc Thành đã mất. Lưu Chương vội vàng hội các quan lại bàn bạc.
Có quan tòng sự là Trịnh Độ hiến
kế rằng:
- Lưu Bị tuy rằng lấy được thành
trì của ta, nhưng quân ít, lòng dân chưa phục, không có lương sẵn, chỉ nhờ thóc
lúa ngoài đồng. Chi bằng ta đem hết cả dân Ba Tây, Tử Đồng dời sang vùng phía
tây sông Bồi Thuỷ, bao nhiêu kho tàng cùng thóc lúa ngoài đồng, đốt cho sạch nhẵn.
Thành cho cao, hào cho sâu mà giữ cho thật vững. Chúng đến đánh, ta không ra.
Quân chúng trông cậy vào đâu được, chẳng qua chỉ trăm ngày cạn lương tất phải
rút về. Bấy giờ, ta sẽ thừa thế đuổi đánh chắc bắt được Lưu Bị.
Lưu Chương nói:
- Kế ấy không xong! Ta thấy dẹp
giặc để cho yên dân, chớ không khi nào làm nhiễu dân để chống với giặc. Kế ấy
không phải là kế hay.
Đang bàn việc thì có người mang
thư của Pháp Chính đến. Chương cho đòi vào, người ấy trình thư lên. Chương mở
ra xem, trong thư nói rằng:
“Khi trước tôi phụng mệnh sang
kết hiếu với Lưu hoàng thúc, không ngờ tả hữu chúa công, không ai biết gì, đến
nỗi xảy ra sự thế này. Nay hoàng thúc lại nghĩ cái tình cũ họ hàng khi trước. Nếu
chúa công chịu hàng ngay đi, tất không bị bạc đãi. Xin nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ,
rồi trả lời cho biết”.
Lưu Chương giận lắm, xé thư mắng
lớn Pháp Chính là đồ bán chúa cầu vinh, quên ơn trái nghĩa, đuổi sứ giả đi, rồi
sai em vợ là Phí Quan dẫn quân ra giữ cửa ải Miên Trúc. Phí Quan lại tiến một
người ở Nam Dương tên là Lý Nghiêm, cùng lĩnh quân ra giữ ải, hai người vội vã
đi ngay.
Quan thái thú ở Ích Châu tên là Đổng
Hoà, tự là Ấu Tể, quê ở Chi Giang thuộc Nam Quận xin sang Hán Trung mượn thêm
quân. Chương nói:
- Trương Lỗ thâm thù với ta, sao
chịu cho quân sang cứu?
Hoà nói:
- Tuy rằng có thù với ta, nhưng
quân Lưu Bị ở Lạc Thành, thế ta nguy cấp lắm. Ta mà nguy thì Hán Trung cũng phải
nguy, khác nào môi hở thì răng phải lạnh. Nếu nói rõ lợi hại, tất Lỗ cũng phải
nghe theo.
Chương bèn viết thư sai người
sang Hán Trung cầu cứu.
Nay nói Mã Siêu, từ khi thua trận,
chạy trốn vào rợ Khương, đã hơn hai năm, kết hiếu với người rợ Khương, đánh chiếm
các châu quân vùng Lũng Tây, đi đến đâu ai cũng phục, chỉ còn Ký Châu, đánh mãi
không hạ được.
Quan thái thú là Vi Khang thường
sai người đến chỗ Hạ Hầu Uyên cầu cứu. Uyên chưa được lệnh Tào Tháo, chưa dám động
binh. Vi Khang chờ mãi không được, bàn với chúng ra hàng Mã Siêu. Quan tham
quân là Dương Phụ khóc mà can rằng:
- Mã Siêu là phản tặc, không nên
hàng!
Khang nói:
- Sự thể đã đến đây này, chẳng
hàng còn đợi đến bao giờ nữa?
Phụ cố can mãi, Khang không nghe,
mở tung cửa thành ra hàng.
Siêu giận lắm, nói rằng:
- Nay sự thể đã nguy cấp lắm mi mới
chịu hàng, không phải là thực bụng.
Bèn bắt cả nhà Vi Khang hơn bốn
mươi người giết sạch.
Có người nói:
- Dương Phụ khuyên Vi Khang đừng
hàng, nên bắt mà chém đi!
Siêu nói:
- Người ấy khuyên thế là biết giữ
nghĩa, không nên giết.
Lại dùng Dương Phụ làm tham quân,
Phụ tiến cử Lương Khoan, Triệu Cù. Siêu cũng dùng cho làm tướng cả.
Dương Phụ nói với Mã Siêu rằng:
- Vợ tôi mới mất ở Lâm Thao, xin
nghỉ hai tháng, về lo liệu việc tang, xong việc sẽ xin lại đến.
Mã Siêu cho về.
Phụ về qua huyện Lịch Thành, vào
chơi quan phủ di tướng quân là Khương Tự. Khương Tự với Phụ là anh em con cô
con cậu. Mẹ Khương Tự là cô ruột Phụ, bấy giờ đã tám mươi hai tuổi. Phụ vào lạy
cô, nói:
- Cháu coi thành mà không giữ nổi,
chủ chết mà không chết theo, xấu hổ không mặt nào dám trông thấy cô nữa. Hiện
nay Mã Siêu làm phản, giết mất quan thái thú, sĩ dân ai ai cũng oán. Thế mà anh
cháu cứ ngồi giữ Lịch Thành, không tưởng gì đến đánh giặc, đạo làm tôi con đâu
có thế được.
Nói xong, khóc chảy máu mắt.
Mẹ Khương Tự gọi con vào trách mắng
rằng:
- Vi sứ quân bị hại, cũng là lỗi
tại mày!
Lại bảo với Phụ rằng:
- Mày đã hàng người ta, ăn lộc của
người ta rồi cớ sao lại manh tâm làm phản người ta?
Phụ nói:
- Cô ơi! Cháu hàng giặc là muốn
lưu cái thân lại để báo thù cho chủ, chớ sao có chịu hàng giặc!
Tự nói rằng:
- Mã Siêu khoẻ lắm, khó lòng đánh
nổi được!
Phụ nói:
- Siêu tuy khoẻ, nhưng không có
mưu, đánh dễ như không. Tôi đã ước Lương Khoan, Triệu Cù, nếu anh khởi quân thì
hai người ấy xin làm nội ứng.
Mẹ Khương Tự bảo con rằng:
- Mày không sớm liệu, còn đợi bao
giờ? Ai mà chẳng chết, chết về trung nghĩa, thì chết cũng vinh. Mày đừng nghĩ
ngợi về tao nữa. Nếu mày không nghe lời cháu tao, thì tao thà rằng thắt cổ mà
chết ngay đi, kẻo để vướng víu bụng mày.
Tự thấy mẹ nói vậy, bèn bàn với
quan thống quân hiệu uý là Doãn Phụng, Triệu Ngang. Triệu Ngang có con là Triệu
Nguyệt, hiện đang làm tỳ tướng Mã Siêu. Khi ấy Ngang vâng lời, về bàn với vợ là
Vương thị rằng:
- Hôm nay ta bàn nhau với Khương
Tự. Dương Phụ, Doãn Phụng, muốn cất quân đánh báo thù cho Vi Khang. Nhưng con
ta đang đi theo với Mã Siêu, nếu ta khởi quân, Mã Siêu giết con ta trước, thì
làm thế nào bây giờ?
Vương Thị quát lên mắng rằng:
- Báo thù cho chủ, thân còn chẳng
quản, huống chi là con? Nếu chỉ biết vì con mà bỏ việc nghĩa, thiếp xin chết
trước đi cho rảnh!
Lúc ấy Triệu Ngang mới quyết.
Hôm sau, Khương Tự, Dương Phụ cất
quân đóng ở Lịch Thành, Doãn Phụng, Triệu Ngang cất quân đóng ở Kỳ Sơn. Vương
thị đem hết cả đồ tư trang và tiền lụa theo chồng ra Kỳ Sơn, thưởng cho quân sĩ
để khuyến khích.
Mã Siêu nghe Khương Tự, Dương Phụ
cùng Doãn Phụng, Triệu Ngang cất quân đi giận lắm, bắt ngay Triệu Nguyệt đem
chém. Rồi dẫn Bàng Đức, Mã Đại cất quân đến đánh Lịch Thành. Khương Tự, Dương
Phụ dẫn quân ra thành trận, hai người mặc bào trắng, cưỡi ngựa ra quát mắng rằng:
- Quân phản tặc bất nghĩa kia!
Mã Siêu giận quá, xông thẳng ngay
vào đánh. Dương Phụ, Khương Tự địch làm sao nổi Mã Siêu, thua to ù té chạy cả.
Siêu thúc quân đuổi đánh. Bỗng đâu mặt sau, tiếng reo ầm ĩ, quân của Triệu
Ngang, Doãn Phụng kéo đến. Siêu vội vàng quay lại chống mặt sau. Hai bên mới đổ
dồn vào đánh quân Mã Siêu. Bỗng lại có một đạo quân kéo ập đến đánh. Toán quân ấy,
nguyên là Hạ Hầu Uyên vừa được lệnh của Tào Tháo sai đến phá Mã Siêu. Siêu chống
đỡ không nổi được ba mặt, thua chạy suốt cả đêm đến sáng mới về được Ký Thành.
Khi Siêu về đến thành gọi cửa,
thì trên mặt thành bắn xuống như mưa. Lương Khoan, Triệu Cù đứng trên mặt thành
quát mắng, lại bắt vợ Mã Siêu là Dương thị và ba đứa con nhỏ, chém chết quăng
thây xuống.
Siêu tức uất lên, suýt nữa ngã ngựa.
Mé sau lại có Hạ Hầu Uyên đuổi đến, Siêu không dám ham đánh nhau, dẫn Bàng Đức,
Mã Đại đánh mở một lối mà chạy. Trước mặt lại gặp Dương Phụ, Khương Tự chặn đường.
Mã Siêu xông xáo chạy được thoát. Lại gặp phải Doãn Phụng, Triệu Ngang đánh một
trận nữa, quân sĩ tan nát, lẻ tẻ chỉ còn độ năm sáu mươi quân kỵ. Chạy mãi đến
canh tư, về đến Lịch Thành. Quân giữ thành tưởng là quân Khương Tự kéo về, mở cửa
thành ra tiếp vào. Siêu vào thành, giết từ cửa nam giết đi, nhân dân trong
thành sạch nhẵn. Khi đến nhà Khương Tự, bắt mẹ già Tự ra. Bà không hãi chút
nào, trỏ vào mặt Mã Siêu mà mắng. Siêu giận lắm, rút gươm chém luôn. Lại bắt tuốt
già trẻ cả nhà Khương Tự, Doãn Phụng, Triệu Ngang giết sạch. Chỉ có vợ Triệu
Ngang là Vương thị theo chồng đi đánh giặc được thoát.
Hôm sau, Hạ Hầu Uyên kéo quân đến
Lịch Thành. Mã Siêu phải bỏ thành chạy về phía tây. Đi chưa được hai mươi dặm lại
gặp Dương Phụ chặn đường. Siêu nghiến răng xông vào đánh. Phụ có bảy anh em
cùng xúm vào địch Mã Siêu, Siêu giết cả bảy người, Dương Phụ phải năm vết đâm,
vẫn lăn xả vào mà đánh. Mã Đại, Bàng Đức thì chặn ở mé sau. Hạ Hầu Uyên vừa đuổi
đến nơi, Siêu lại chạy, chỉ còn Bàng Đức, Mã Đại và năm sáu tên kỵ mã đi theo.
Hạ Hầu Uyên phủ dụ nhân dân các xứ
Lũng Tây, sai bọn Khương Tự chia nhau ra giữ các nơi, rồi đem Dương Phụ về Hứa
Đô ra mắt Tào Tháo. Tháo phong cho Phụ làm quan nội hầu.
Phụ từ chối nói:
- Tôi không có công trừ tai nạn,
lại không dám chết vì nghĩa, tội đáng chém đầu, còn mặt mũi nào nhận chức nữa?
Tháo khen ngợi phong tước cho.
Mã Siêu, Bàng Đức, Mã Đại sang
Hán Trung theo Trương Lỗ, Lỗ được Mã Siêu mừng lắm, cho rằng phía tây có thể
thôn tính được Ích Châu, phía đông có thể chống chọi với Tào Tháo, liền bàn việc
gả con gái cho Siêu. Đại tướng là Dương Bách can rằng:
- Vợ con Mã Siêu gặp phải thảm hoạ,
cũng là bởi tự Mã Siêu cả. Chúa công sao lại gả con gái cho y?
Lỗ nghe lời ấy mới thôi. Có người
đem lời Dương Bách nói với Mã Siêu. Siêu giận lắm, có ý muốn giết Dương Bách.
Bách biết, bàn nhau với anh là Dương Tùng, cũng có ý muốn trừ Mã Siêu.
Khi ấy Lưu Chương sai sứ đến
Trương Lỗ cầu cứu. Lỗ không nghe. Chương lại sai Hoàng Quyền đến cầu cứu. Quyền
vào ra mắt Dương Tùng trước, nói rằng:
- Đông và Tây, ví như môi răng với
nhau. Nếu mà Tây Xuyên vỡ thì Đông Xuyên cũng khó giữ. Quý quốc bằng có lòng đến
cứu, xin dâng hai mươi châu cảm ơn.
Tùng mừng lắm, dẫn Hoàng Quyền
vào ra mắt Trương Lỗ bày tỏ điều lợi hại và xin dâng hai mươi châu. Lỗ hám lợi,
nghe xong muốn cất quân sang cứu.
Diêm Phố can rằng:
- Lưu Chương có thù với chúa
công, nay việc cấp phải đến cầu cứu, mới nói thác ra xin nộp đất, đó là lời lừa
dối, chúa công chớ nên nghe.
Bỗng ở dưới thềm, có người tiến
lên nói rằng:
- Tôi tuy bất tài, xin lĩnh một đội
quân sang bắt sống Lưu Bị, và bắt Lưu Chương phải cắt đất rồi mới về.
Đó là:
Tinh binh lại tự Hán Trung sang
Chưa biết người xin đi là ai, xem
qua hồi sau mới rõ.
Huyền Đức nhận chức được Ích Châu mục
Lại nói, Diêm Phố đang khuyên
Trương Lỗ đừng giúp Lưu Chương, thì Mã Siêu bước ra thưa rằng:
- Tôi cảm ơn chúa công, không biết
lấy gì báo được. Nay tôi xin lĩnh một toán quân, đánh lấy cửa Hà Manh, bắt sống
Lưu Bị và bắt Lưu Chương phải cắt hai mươi châu nộp chúa công.
Trương Lỗ mừng lắm, sai Hoàng Quyền
theo đường hẻm về trước, rồi điểm hai vạn quân giao cho Mã Siêu. Bấy giờ Bàng Đức
đau bệnh không đi được, nằm ở lại Hán Trung. Trương Lỗ sai Dương Bách làm giám
quân. Siêu cùng em là Mã Đại, chọn ngày lên đường.
Huyền Đức vẫn đóng quân ở tại Lạc
Thành, được tin Pháp Chính cho người về báo rằng:
- Trịnh Độ khuyên Lưu Chương đốt
trụi thóc lúa ngoài đồng và kho tàng ở các nơi, dời cả nhân dân Ba Tây sang
lánh ở vùng tây Bồi Thuỷ, thành cao hào sâu, giữ chặt không ra đánh.
Huyền Đức, Khổng Minh nghe xong đều
giật mình, nói:
- Nếu họ dùng kế ấy thì ta nguy mất!
Pháp Chính cười, nói:
- Chúa công không lo, kế ấy tuy
thâm độc nhưng Lưu Chương cũng không dùng đâu.
Được mấy hôm, có người cho biết
là Lưu Chương không chịu di chuyển nhân dân, không nghe lời Trịnh Độ. Huyền Đức
mới yên tâm. Khổng Minh nói:
- Ta nên tiến quân lấy Miên Trúc
cho mau, nếu lấy xong thì Thành Đô lấy dễ như chơi vậy!
Huyền Đức sai Hoàng Trung, Nguỵ
Diên tiến đi. Tướng giữ Miên Trúc là Phí Quan sai Lý Nghiêm dẫn ba nghìn quân
ra cự. Hai bên dàn trận, Hoàng Trung đánh nhau với Lý Nghiêm hơn năm mươi hiệp
chưa phân thắng phụ. Khổng Minh ở trong trận sai khua chiêng thu quân. Hoàng
Trung quay về hỏi rằng:
- Tôi sắp bắt được Lý Nghiêm,
quân sư làm sao lại thu quân về thế?
- Ta coi võ nghệ của Lý Nghiêm,
không thể dùng sức bắt được. Ngày mai đánh trận nữa, ngươi nên giả làm thua, dử
cho y đuổi vào trong đường núi, rồi ta phục quân mà bắt lấy.
Hoàng Trung lĩnh kế ấy. Hôm sau,
Lý Nghiêm lại dẫn quân đến. Hoàng Trung ra địch, chưa được mười hiệp Trung quay
ngựa chạy. Nghiêm đuổi theo, lần lần đuổi vào trong hang núi. Lúc ấy Nghiêm mới
sực nghĩ ra, định quay về, thì đã thấy Nguỵ Diên dẫn quân chặn mất đường về rồi.
Khổng Minh đứng trên đỉnh núi gọi
rằng:
- Anh kia! Không hàng ngay đi thì
hai bên ta đã phụ sẵn cung nỏ cứng, định để báo thù cho Bàng Sĩ Nguyên đó!
Lý Nghiêm vội vàng xuống ngựa cởi
giáp xin hàng. Khổng Minh dẫn về ra mắt Huyền Đức. Huyền Đức đối xử với Nghiêm
rất tử tế.
Lý Nghiêm nói:
- Phí Quan tuy là họ hàng với Lưu
Quý Ngọc, nhưng chơi với tôi thân thiết lắm. Tôi xin vào thành dụ y ra hàng.
Huyền Đức sai Lý Nghiêm vào thành
dụ Phí Quan hàng. Nghiêm vào thành Miên Trúc thuật chuyện cho Phí Quan nghe,
nói Huyền Đức nhân đức nếu không hàng đi, tất có vạ về sau. Quan nghe lời ấy, mở
cửa thành ra hàng.
Huyền Đức vào thành Miên Trúc,
bàn việc cất quân tiến lấy Thành Đô. Sực có ngựa hoả tốc về báo rằng:
- Mạnh Đạt, Hoắc Tuấn giữ ải Hà
Manh, nay bị Trương Lỗ sai Mã Siêu, Mã Đại, Dương Bách đem quân đến đánh nguy cấp
lắm, nếu chậm đến cứu thì mất cửa ải mất!
Huyền Đức nghe tin giật mình. Khổng
Minh nói:
- Tất phải Trương, Triệu hai tướng
mới đánh nổi được Mã Siêu.
Huyền Đức nói:
- Tử Long ra phủ dụ các quận chưa
về, có Dực Đức ở nhà, nên sai y đi cho mau.
Khổng Minh nói:
- Chúa công đừng nói vội, để tôi
khích Dực Đức đã.
Trương Phi nghe tin Mã Siêu đến
đánh cửa ải, chạy vào kêu to lên rằng:
- Cáo từ kha kha, tôi xin đi ra
đánh Mã Siêu đây!
Khổng Minh giả đò không nghe tiếng,
chỉ nói với Huyền Đức rằng:
- Mã Siêu xâm phạm cửa ải, xem chừng
ở đây không ai địch nổi, dễ thường phải cho người về Kinh Châu, gọi Vân Trường
sang mới xong!
Trương Phi gầm lên rằng:
- Quân sư sao khinh tôi thế? Tôi
khi trước, một mình còn chống nổi được trăm vạn quân Tào Tháo, có sợ gì một thằng
Mã Siêu?
Khổng Minh nói:
- Dực Đức khi xưa cách sông chặn
cầu là vì Tào Tháo không biết hư thực thế nào, nên không dám đến. Nay Mã Siêu
là tay kiêu hùng, thiên hạ ai cũng biết tiếng. Sáu trận đánh ở Vị Kiều, làm cho
Tào Tháo phải cắt râu, quẳng áo, suýt nữa mất mạng. Sức lực ấy không phải tầm
thường, dẫu đến Vân Trường cũng còn e không địch nổi kia đấy!
Phi nói:
- Tôi xin đi, nếu không đánh nổi
Mã Siêu, xin chịu tội chết!
Khổng Minh nói:
- Tướng quân có chịu viết tờ cam
kết, thì làm cho tiên phong.
Rồi nói với Huyền Đức rằng:
- Xin chúa công đi cho một chuyến,
để Lượng ở nhà giữ Miên Trúc, đợi Tử Long về rồi sẽ liệu.
Nguỵ Diên cũng xin đi. Khổng Minh
sai Diên lĩnh năm trăm quân tiễu mã đi trước, Trương Phi đi thứ nhì. Huyền Đức
dẫn đại quân đi sau.
Nguỵ Diên đến cửa ải trước, gặp
ngay Dương Bách. Diên đánh nhau với Bách chưa đầy mười hiệp. Bách thua chạy,
Diên muốn tranh công của Trương Phi, đuổi dấn lên đánh. Trước mặt gặp toán quân
của Mã Đại, Diên tưởng là Mã Siêu, xông ngay vào đánh. Đại giả đò thua chạy,
Diên đuổi theo. Đại quay mình bắn một phát, tin ngay vào cánh tay Nguỵ Diên.
Diên vội vàng quay ngựa về. Đại đuổi mãi đến dưới cửa ải. Bỗng gặp một tiếng
thét như sấm, từ trên ải phi ngựa xuống. Tướng ấy nguyên là Trương Phi vừa mới
đến, nghe mé trước đang đánh nhau, mới tế ngựa lại xem ra làm sao, thì thấy Nguỵ
Diên trúng tên thua chạy. Phi mới xông vào cứu Nguỵ Diên, quát to lên rằng:
- Mi tên là gì, hãy nói cho ta biết
đã, rồi sẽ đánh nhau!
Mã Đại nói:
- Ta là Mã Đại ở Tây Lương đây!
Phi nói:
- Té ra mi không phải là Mã Siêu!
Mi không địch nổi được ta đâu, nên về bảo ngay thằng Mã Siêu ra đây, nói có
Trương Dực Đức là người nước Yên ở đây nhé!
Mã Đại nổi giận quát rằng:
- Mi sao dám coi thường ta?
Nói đoạn, cầm đao tế ngựa xông
vào chém Trương Phi. Mới được vài hiệp, Mã Đại liệu thế không địch nổi, bỏ chạy,
Trương Phi sắp đuổi đánh, thì trên cửa ải có một người tế ngựa xuống gọi rằng:
- Em hãy thong thả, chớ đuổi vội!
Trương Phi ngoảnh lại xem ai, thì
là Huyền Đức, Trương Phi mới quay ngựa về. Huyền Đức bảo rằng:
- Anh sợ em nóng nảy, cho nên
theo đến đây. Có phải đánh được Mã Đại, hãy nghỉ ngơi một đêm, để ngày mai đánh
Mã Siêu.
Sáng hôm sau, Mã Siêu khua trống
om sòm, kéo quân đến dưới ải. Huyền Đức đứng trên trông xuống, thấy Mã Siêu đầu
đội mũ chỏm sư tử, mình mặc áo giáp bạc, bào trắng, đai nịt khác thường, mặt
mũi khôi ngô, sức lực hơn người. Huyền Đức than rằng:
- Người ta nói “Cẩm Mã Siêu”, quả
nhiên như thế.
Trương Phi muốn xuống ải đánh Mã
Siêu, Huyền Đức ngăn lại bảo rằng:
- Mã Siêu mới đến, khí lực đang
hăng, ta hãy nên tránh đi.
Mã Siêu ở dưới ải, chỉ thách
Trương Phi ra ngựa. Trương Phi thì hăm hở muốn nuốt sống ngay Mã Siêu, nhưng ba
bốn phen đều bị Huyền Đức gàn lại. Dần dần đến buổi trưa, Huyền Đức thấy quân
Mã Siêu đã có dáng mỏi mệt, mới kén năm trăm quân kỵ, cho theo Trương Phi xuống
ải.
Mã Siêu thấy Trương Phi xuống ải,
lùi quân lại độ hơn trăm bước, dàn trận. Trương Phi vác mâu tế ngựa xuống gọi
to lên rằng:
- Bớ Mã Siêu! Ngươi có biết
Trương Dực Đức ở nước Yên là ai không?
Mã Siêu đáp:
- Nhà tao đời đời làm công hầu,
biết đâu đến tên thất phu quê kệch!
Phi giận lắm, xông thẳng vào
đánh. Hai bên đánh nhau hơn trăm hiệp, chưa ai kém ai một nước nào. Huyền Đức đứng
xem than rằng:
- Thế mới gọi là hổ tướng!
Huyền Đức sợ Trương Phi mệt sức,
có rủi ro gì chăng, vội vàng khua chiêng thu quân.
Hai tướng cùng trở về.
Trương Phi về đến trại, nghỉ ngựa
một lát, rồi chỉ quàng cái khăn bịt tóc, lên ngựa lại ra trận gọi đánh. Mã Siêu
ra liền. Huyền Đức sợ Trương Phi yếu thế, cũng cưỡi ngựa xuống ải, đến thẳng
trước trận đứng xem. Hai người giao phong hơn trăm hiệp càng đánh càng khoẻ mãi
ra. Huyền Đức khua chiêng thu quân. Hai tướng lại ai về trận ấy.
Lúc này trời đã tối. Huyền Đức bảo
Trương Phi rằng:
- Mã Siêu khoẻ lắm, không nên
khinh địch, hãy rút quân về ải, ngày mai sẽ lại đánh nhau.
Trương Phi đánh đang hăng máu,
không chịu trở về, kêu lên rằng:
- Chết tôi cũng không về vội!
Huyền Đức nói:
- Tối rồi, không nên đánh nhau.
Phi nói:
- Đốt cho nhiều đuốc lên để đánh
nhau đêm.
Mã Siêu thay ngựa khác, rồi lại
ra trận gọi rằng:
- Trương Phi có dám đánh nhau ban
đêm không?
Trương Phi đổi ngựa cho Huyền Đức,
tế ngựa ra trận quát rằng:
- Ta không giết được mi, thề
không lên cửa ải!
Siêu nói:
- Ta không bắt sống được mi, nhất
định không về trại.
Quân hai bên reo ầm cả lên, đốt
hàng trăm nghìn bó đuốc, sáng vằng vặc như ban ngày. Hai tướng ra trận đánh
nhau, mới được hai mươi hiệp, Mã Siêu quay ngựa chạy về. Trương Phi quát lên rằng:
- Mi chạy đi đâu?
Nguyên là Mã Siêu thấy đánh không
đổ được Trương Phi, mới giả cách thua chạy, để lừa cho Phi đuổi đến. Siêu cầm
giấu một cái truỳ đồng trong tay, quay mình nhằm vào giữa mặt Trương Phi quật
sang. Phi thấy Mã Siêu chạy, cũng đã có ý đề phòng, khi truỳ đồng văng đến, thì
Phi né mình ra một bên, truỳ đồng bay sạt qua mang tai.
Trương Phi quay ngựa trở về, Mã
Siêu lại đuổi. Phi dừng ngựa lấy cung tên, quay mình lại bắn một phát. Siêu
cũng tránh được. Hai tướng lại ai về trại ấy.
Huyền Đức đứng trước cửa trận gọi
rằng:
- Ta lấy nhân nghĩa đãi người,
không thèm lừa dối. Mã Mạnh Khởi, ngươi cứ thu quân về nghỉ, ta không đuổi theo
đâu!
Mã Siêu nghe nói, tự mình đi chặn
mặt sau cho quân dần dần rút lui về. Huyền Đức cũng thu quân lên ải.
Hôm sau, Trương Phi lại muốn xuống
ải đánh nhau. Bỗng có tin báo quân sư đã đến, Huyền Đức ra tiếp vào. Khổng Minh
nói:
- Mã Siêu là hổ tướng trên đời, nếu
để cho đánh nhau mãi với Dực Đức, tất có một người bị hại. Cho nên tôi phải để
Tử Long, Hán Thăng ở lại giữ Miên Trúc, vội vã đến đây, có thể dùng một mẹo nhỏ,
để Mã Siêu về hàng với chúa công.
Huyền Đức nói:
- Ta thấy Mã Siêu khoẻ mạnh, có bụng
yêu lắm, làm thế nào cho y hàng với ta?
Khổng Minh nói:
- Tôi nghe Trương Lỗ ở Đông
Xuyên, muốn tự xưng là Hán Ninh vương. Mưu sĩ Dương Tùng lại tham ăn của đút.
Ta nên sai người đi đường tắt đến Hán Trung, trước hết đem bạc vàng kết liên với
Dương Tùng, rồi đưa thư cho Trương Lỗ, nói rằng: “Ta đánh nhau với Lưu Chương,
là có ý báo thù cho nhà ngươi, ngươi đừng có nghe lời người khác mà cự nhau với
ta. Khi nào xong việc sẽ tâu cho người làm Hán Ninh vương”. Nói thế để Trương Lỗ
triệt Mã Siêu về. Khi đó, ta sẽ dùng mẹo gọi Mã Siêu lại hàng.
Huyền Đức mừng lắm, lập tức viết
thư, sai Tôn Càn mang vàng ngọc, châu báu đi tắt sang Hán Trung. Càn vào ra mắt
Dương Tùng, dâng vàng ngọc, nói chuyện làm vậy. Tùng mừng rỡ, dẫn ngay Tôn Càn
vào ra mắt Trương Lỗ, bày tỏ ý kiến Huyền Đức và trình thư lên.
Trương Lỗ xem xong, nói:
- Huyền Đức chỉ là chức Tả tướng
quân, bảo cử thế nào được cho ta làm Hán Ninh vương?
Tùng thưa:
- Ông ta là hoàng thúc nhà Hán,
tiến cử cho chúa công là đáng lắm.
Lỗ mừng quá, sai sứ ra bảo Mã
Siêu bãi binh. Tôn Càn ở lại nhà Dương Tùng để nghe tin tức. Không được mấy bữa,
sứ giả về báo rằng:
- Mã Siêu nói là chưa thành công,
không chịu bãi binh.
Trương Lỗ sai người đòi hai ba lần
Siêu vẫn không chịu về.
Dương Tùng nói:
- Người ấy vốn là người có hành
vi không đáng tin, nay đòi mãi không về, tất có ý muốn làm phản.
Tùng lại xui người nói phao lên rằng:
- Mã Siêu muốn cướp lấy Tây
Xuyên, để tự lập làm chủ nước Thục, báo thù cho cha, chớ không chịu làm bề tôi
Hán Trung.
Trương Lỗ nghe tin đồn như thế, hỏi
kế Dương Tùng. Tùng thưa:
- Một mặt sai người đến Mã Siêu
biết muốn thành công thì trong một tháng làm theo ba việc: một là phải lấy cho
được Tây Xuyên, hai là phải đem đầu Lưu Chương về nộp; ba là phải đuổi quân
Kinh Châu đi cho hết. Nếu làm không xong, thì phải mang đầu về mà nộp. Một mặt
sai Trương Vệ điểm quân giữ lấy cửa ải, phòng ngừa quân Mã Siêu có biến động gì
chăng.
Trương Lỗ nghe lời, sai người đến
trại Mã Siêu nói ba việc ấy. Siêu thất kinh mà rằng:
- Sao bỗng dưng mà giở quẻ ngay
được thế?
Siêu mới bàn với Mã Đại, muốn rút
quân về.
Dương Tùng lại nói phao lên rằng:
- Mã Siêu chuyến này mang quân về,
tất sinh bụng khác.
Bởi thế Trương Vệ chia quân ra
làm bảy đường, giữ các cửa ải, không cho quân Mã Siêu trở về. Siêu bấy giờ tiến
thoát hai đường cùng khó, không biết nghĩ làm sao.
Khổng Minh nói với Huyền Đức rằng:
- Hiện nay Mã Siêu đang lúc tiến
thoát lưỡng nan, tôi xin thân đến trại Mã Siêu, uốn ba tấc lưỡi, dụ y về hàng.
Huyền Đức nói:
- Tiên sinh như chân tay lòng ruột
của tôi, nếu xảy ra sự gì, thì làm thế nào?
Khổng Minh cố ý xin đi, Huyền Đức
nhất định giữ lại. Đang khi ấy, thì có tin vào báo Tử Long có thư đưa một người
ở Tây Xuyên đến hàng. Huyền Đức gọi vào hỏi, thì là người Du Nguyên quận Kiến
Ninh, tên là Lý Khôi, tự là Đức Ngang.
Huyền Đức hỏi:
- Trước kia ngươi can mãi Lưu
Chương, sao nay lại chịu theo ta?
Khôi nói:
- Tôi nghe “Chim khôn tìm cây mà
đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ”. Trước kia tôi can Lưu Chương, là để trọn nghĩa
làm tôi. Đã không thể dùng, tất là không nên việc. Minh công nhân nghĩa khắp cả
thiên hạ, tôi chắc làm nên công việc to, nên tôi đến xin hàng.
Huyền Đức nói:
- Tiên sinh đến đây, tất có việc
gì giúp ích cho tôi chăng?
Khôi nói:
- Tôi nghe Mã Siêu đang gặp phải
bước khó xử. Khi trước tôi ở Lũng Tây, có quen biết y, nay xin sang dụ y về
hàng.
Khổng Minh mừng nói rằng:
- Hay lắm! Hay lắm! Tôi đang cần
một người đi đỡ cho tôi, may lại được ông đến đây. Nhưng xin hỏi ý ông dụ Mã
Siêu thế nào?
Lý Khôi ghé vào tai Khổng Minh
nói nhỏ cứ như thế, như thế, Khổng Minh mừng rỡ, lập tức sai đi.
Lý Khôi đến trại Mã Siêu, cho người
vào báo tin trước. Mã Siêu biết Lý Khôi là người giỏi mồm mép, tất đến dụ mình,
mới phục sẵn hai mươi tên đao phủ dưới trướng và dặn rằng:
- Hễ tao sai giết, thì chúng mày
cứ băm nhỏ như cám cho tao!
Một lát, Lý Khôi ngạo nghễ bước
vào. Mã Siêu ngồi chễm chệ trên trướng không đứng dậy, mắng phủ đầu ngay:
- Mi đến đây làm gì?
Khôi nói:
- Ta chỉ đến đây làm thuyết
khách!
Siêu nói:
- Gươm của ta mới mài đây, mi thử
nói đi xem, hễ nói không thông, thì ta sẽ muợn đầu mi để thử gươm!
Khôi cười, nói:
- Tai vạ tướng quân ở ngay trước
mắt, ta chỉ e gươm mới mài chẳng thử nổi được đầu ta lại thử vào đầu mi đó
thôi.
Siêu nói:
- Ta việc gì mà có vạ?
Khôi nói:
- Ta nghe: nàng Tây Thi nước Việt,
ai khéo chê đến đâu, cũng không che lấp được cái đẹp; nàng Vô Diệm nước Tề, ai
khéo khen đến đâu cũng không che lấp được cái xấu. Mặt trời đến trưa thì phải xế,
mặt trăng tròn rồi thì phải khuyết, đó là lẽ thường thiên hạ. Nay tướng quân
cùng với Tào Tháo thì có mối thù vì Tào Tháo đã giết cha, ở Lũng Tây lại có thù
giết mất vợ con. Trước không cứu được Lưu Chương mà đuổi quân Kinh Châu đi, sau
không chế nổi được Dương Tùng để thấy mặt Trương Lỗ. Nay bốn biển không nhà, một
thân vô chủ. Nếu lại có trận thua ở Vị Kiều, Ký Thành, thì mặt mũi nào mà nhìn
đến thiên hạ nữa?
Siêu ngồi cúi đầu, suy nghĩ rồi tạ
rằng:
- Ông nói phải lắm, nhưng tôi
không có đường lối nào mà đi bây giờ.
Khôi nói:
- Tướng quân đã nghe lời tôi, sao
lại còn phục quân đao phủ ở dưới trướng?
Siêu có ý thẹn, mới đuổi cả những
quân đao phủ ra.
Khôi nói:
- Lưu hoàng thúc biết kính người
hiền, trọng kẻ sĩ. Tôi chắc rằng ông ấy làm nổi được việc to, cho nên bỏ Lưu
Chương mà theo ông ấy. Tôn quân[1] nhà tướng quân khi xưa, có kết
với hoàng thúc cùng nhau đánh giặc, sao tướng quân không bỏ nơi tối tăm ra nơi
sáng sủa để báo thù cho cha và lập công danh có được không?
Mã Siêu mừng lắm, liền gọi Dương
Bách vào, chém một nhát chết, rồi xách đầu cùng với Mã Đại đi theo Lý Khôi lên
cửa ải xin hàng.
Huyền Đức thân ra ngoài cửa tiếp
vào, thết đãi tử tế. Siêu lạy tạ, nói:
- Nay mới gặp được minh chúa, ví
cũng như quét đám mây mù mà trông thấy trời xanh.
Bấy giờ Tôn Càn ở bên Dương Tùng
vừa về. Huyền Đức lại sai Mạnh Đạt, Hoắc Tuấn giữ ải, còn mình thì rút quân đi
lấy Thành Đô. Hoàng Trung, Triệu Vân ra nghênh tiếp Huyền Đức vào thành Miên
Trúc.
Có tin báo tướng Thục là Lưu Tuấn,
Mã Hán dẫn quân đến khiêu chiến.
Triệu Vân nói: Tôi xin đi bắt hai
thằng ấy. Nói đoạn lên ngựa đi liền. Bấy giờ Huyền Đức đang ngồi tiếp đãi Mã
Siêu, vừa uống được mấy chén thì Tử Long đã xách đầu hai tướng đem về nộp ở trước
tiệc. Mã Siêu thấy vậy, thất kinh, lại càng kính phục Tử Long lắm.
Siêu nói:
- Không cần gì quân mã của chúa
công phải đánh nhau nữa, để Siêu gọi Lưu Chương ra hàng. Nếu không hàng, Siêu
xin cùng với em là Mã Đại đánh lấy Thành Đô, hai tay dâng lên chúa công.
Huyền Đức mừng lắm, hôm ấy uống
rượu vui vẻ.
Quân Thục thua trận, về Ích Châu
báo với Lưu Chương.
Chương kinh hãi, đóng chặt cửa
thành lại không dám ra. Có tin báo Mã Siêu mang quân đến cứu, hiện đã đến mé bắc
thành rồi. Chương bấy giờ mới dám lên thành đứng xem, thấy Mã Siêu, Mã Đại ở dưới
thành gọi to lên rằng:
- Mời Lưu Quý Ngọc ra đây nói
chuyện.
Chương đứng trên thành hỏi xuống.
Siêu trỏ roi lên bảo rằng:
- Ta vốn phụng mệnh Trương Lỗ lại
cứu Ích Châu. Nhưng không ngờ Trương Lỗ nghe lời Dương Tùng dèm pha, muốn hại
ta, nên ta đã theo về với Lưu hoàng thúc. Ông cũng nên nộp đất xin hàng, kẻo để
nhân dân khổ sở. Nếu còn mê hoặc thì ta đánh thành đây!
Lưu Chương nghe xong, mặt xám như
gió, khí uất đầy ruột, ngã quay xuống mặt thành. Các tướng cứu tỉnh dậy. Chương
nói:
- Ta xét việc không được minh, hối
lại làm sao cho kịp. Thà rằng mở cửa mà hàng, khéo để khổ đến nhân dân.
Đổng Hoà nói:
- Trong thành còn có ba vạn quân,
tiền lương đủ dùng được một năm, can gì mà đã phải hàng?
Lưu Chương nói:
- Cha con ta ở nước Thục hơn hai
mươi năm, không có ân đức gì với dân. Thế mà đánh nhau ba năm nay, máu thịt tơi
bời khắp đồng áng, tội lỗi tại ta cả, ta nghĩ sao cho đành dạ. Chi bằng hàng
quách đi để yên nhân dân.
Các tướng thấy nói chua xót làm vậy,
ai cũng rỏ nước mắt.
Bỗng có một người tiến lên nói rằng:
- Chúa công nói thế, chính hợp
lòng trời lắm!
Chương trông xem, thì là người
Tây Sung Ba Tây, tên là Tiêu Chu tự Doãn Nam tài xem thiên văn. Chương hỏi lại,
Tiêu Chu thưa rằng:
- Tôi xem thiên văn, thấy các vì
sao tụ cả ở Thục Quận. Trong các ngôi sao, có một ngôi to sáng lắm, hình như mặt
trăng, đó là tượng đế vương. Vả lại năm ngoái có trẻ con hát rằng: “Muốn ăn cơm
gạo mới nên đợi tiên chủ sang”, đó cũng là điềm trời báo trước, chúa công không
nên trái lòng trời.
Hoàng Quyền, Lưu Ba nghe thấy nói
vậy, đều rút gươm ra chực chém Tiêu Chu. Chương ngăn lại không cho giết.
Chợt có tin báo rằng:
- Quan thái thú ở Thục Quận là Hứa
Tĩnh trèo qua thành ra hàng Lưu Bị rồi!
Chương nghe tin, khóc vang lên,
trở về phủ. Hôm sau, Huyền Đức sai Giản Ung vào thành dụ Lưu Chương. Chương mở
cửa thành ra tiếp vào. Ung ngồi trên xe ngạo nghễ tự đắc lắm. Bỗng có một người
rút gươm ra quát rằng:
- Tiểu nhân đắc chí, dưới mắt
không coi ai vào đâu, mi dám khinh người Thục ta chăng?
Ung vội vàng xuống xe chào hỏi.
Người ấy quê ở Miên Trúc Quảng Hán tên là Tần Bật, tự là Tử Sắc. Ung cười, nói:
- Tôi không biết hiền huynh, xin
thứ lỗi cho.
Hai người cùng vào ra mắt Lưu
Chương, kể chuyện Huyền Đức nhân đức, không có lòng nào nỡ hại. Chương mới quyết
ý ra hàng, đãi Giản Ung tử tế.
Hôm sau, Chương mang ấn thụ, sổ
sách cùng ngồi xe với Giản Ung đến xin hàng. Huyền Đức ra ngoài trại tiếp vào,
cầm tay Lưu Chương khóc mà nói:
- Tôi không phải là không muốn
làm điều nhân nghĩa, cùng là bất đắc dĩ mà phải thế này!
Chương vào trại, dâng cả ấn thụ,
sổ sách, rồi cùng với Huyền Đức cưỡi ngựa vào thành.
Huyền Đức vào Thành Đô, trăm họ
bày đồ hương hoa bái vọng khắp dọc đường.
Huyền Đức vào công sảnh, các quan
quỳ lạy cả dưới thềm.
Chỉ có Hoàng Quyền, Lưu Ba đóng cửa
không chịu ra. Các tướng muốn bắt giết ngay, Huyền Đức không cho, truyền lệnh rằng:
- Ai dám hại hai người ấy thì giết
cả họ.
Truyền lệnh rồi, Huyền Đức vào tận
nhà hai người mời ra làm quan. Hai người cảm ơn ấy mới chịu ra.
Khổng Minh nói rằng:
- Tây Xuyên nay đã bình định,
không thể để một nước có hai chủ, nên cho Lưu Chương sang ở bên Kinh Châu.
Huyền Đức nói:
- Ta mới lấy được Thục Quận, chưa
nên để Quý Ngọc đi xa.
Khổng Minh nói:
- Lưu Chương mất cơ nghiệp, chỉ
vì nhu nhược quá, chúa công nếu bắt chước nhân đức của đàn bà, làm đến việc
không có quyết đoán, tôi e rằng cũng không ở được đất này mãi đâu!
Huyền Đức nghe lời, mở một tiệc yến
to, mời Lưu Chương đến ăn tiệc, phong cho làm Trấn oai tướng quân, bảo thu xếp
của cải, đưa vợ con gia nhân đầy tớ sang ở huyện Công An bên Kinh Châu, khởi
hành ngay hôm ấy.
Huyền Đức tự lĩnh chức mục Ích
Châu, trọng thưởng cho các văn võ theo hàng, định danh tước: Nghiêm Nhan làm tiền
tướng quân, Pháp Chính làm thái thú Thục Quận; Đổng Hoà làm chưởng sử; Bàng
Nghĩa làm tư mã, Lưu Ba làm tả tướng quân; Hoàng Quyền làm hữu tướng quân.
Ngoài ra, Ngô Ý, Phí Quan, Bành Dạng, Trác Ung, Lý Nghiêm, Ngô Lan, Lôi Đồng,
Lý Khôi, Trương Dực, Tần Bật, Tiêu Chu, Lã Nghĩa, Hoắc Tuấn, Đặng Chi, Dương Hồng,
Chu Quần, Phí Vĩ, Phí Thi, Mạnh Đạt, văn võ cả thảy hơn sáu mươi người, đều được
tuyển dụng.
Lại phong Gia Cát Lượng làm quân
sư, Quan Vân Trường làm Đăng khấu tướng quân, Hán Thọ đình hầu, Trương Phi làm
Chinh lỗ tướng quân, Tân đình hầu; Triệu Vân làm Trấn viễn tướng quân, Hoàng
Trung làm Chinh tây tướng quân, Nguỵ Diên làm Dương võ tướng quân; Mã Siêu làm
Bình tây tướng quân. Còn bọn Tôn Càn, Giản Ung, My Chúc, My Phương, Lưu Phong,
Ngô Ban, Quan Bình, Chu Thương, Liêu Hoá, Mã Lương, Mã Tốc, Tưởng Uyển, Y Tịch,
bao nhiêu văn võ ở Kinh Tương, đều được thăng thưởng.
Huyền Đức sai sứ mang năm trăm
cân vàng, một ngàn cân bạc, năm nghìn vạn quân tiền, một nghìn tấm gấm Tây Thục
sang Kinh Châu thưởng cho Vân Trường. Các quan tướng khác, cũng được thưởng
theo cấp bậc cả. Rồi giết trâu, mổ bò khao quân sĩ, mở kho phát chẩn cho nhân
dân. Quân dân ai nấy cùng vui vẻ.
Bình định xong Ích Châu, Huyền Đức
lại muốn lấy những ruộng nương tốt ở Thành Đô, chia cho các quan. Triệu Vân can
rằng:
- Nhân dân Ích Châu, gặp phải việc
binh hoả mấy năm nay, ruộng vườn bỏ hoang, nay nên trả lại cho dân, để họ yên
cư lạc nghiệp thì dân mới phục, không nên cướp lấy làm phần thưởng riêng.
Huyền Đức mừng lắm, nghe theo lời
ấy, sai Gia Cát Lượng định ra luật lệ trị nước, hình pháp hơi nặng. Pháp Chính
can rằng:
- Ngày xưa vua Cao tổ đặt ra pháp
luật, chỉ có ba điều nhân dân đều cảm phục. Xin quân sư phải rộng hình nhẹ luật
để yên lòng dân.
Khổng Minh nói:
- Ngươi chỉ biết một, chưa biết đến
hai. Nhà Tần dùng phép dữ dội quá, muôn dân cùng oán, cho nên vua Cao tổ dùng
phép rộng rãi để được lòng dân. Nay Lưu Chương nhu nhược, chính lệnh không được
nghiêm, thể thống dần dần suy tàn, chiều chuộng cho người ta ngôi chức cho
vinh, ngôi cao quá thì sinh hỗn, yêu người ta ân tình chí thiết, ân đằm thắm
quá thì sinh nhờn, bởi thế nên nát bét. Ta nay trên dưới có phép tắc, có phép tắc
rồi mới biết ơn, tước lộc có hạn có ngữ, có hạn ngữ rồi mới biết vinh. Ân uy gồm
đủ, trên dưới có bậc, đạo trị dân như thế là rõ ràng.
Pháp Chính chịu lẽ ấy là phải. Từ
đó, quân dân yên ổn, chia binh ra giữ khắp cả bốn mươi mốt châu, đâu đấy đều được
an cư lạc nghiệp.
Pháp Chính làm thái thú ở Thục Quận,
báo ân báo oán, không bỏ sót một bữa cơm ân đức hay một cái lườm nguýt giận hờn.
Có người nói với Khổng Minh nên hạn chế quyền hành Pháp Chính đi, Khổng Minh
nói:
- Trước kia chúa công ta ngồi khốn
ở một xứ Kinh Châu, phía bắc sợ Tào Tháo, phía đông gờm Tôn Quyền. Nay nhờ có
Hiếu Trực giúp cho, mới cất cánh bay liệng lên được, không sợ ai dè ép mình nữa.
Ta nay lòng nào cấm đoán Hiếu Trực, không cho y hả được một chút ý riêng hay
sao?
Pháp Chính nghe Khổng Minh nói thế,
từ đó cũng phải chùn tay.
Một hôm, Huyền Đức đang ngồi chơi
với Khổng Minh. Chợt có Quan Bình từ Kinh Châu phụng lệnh Quan Vân Trường sai đến
tạ ơn cho vàng gấm. Huyền Đức triệu vào, Quan Bình lạy xong trình thư và nói rằng:
- Cha tôi nghe Mã Siêu võ nghệ giỏi
lắm, muốn vào Xuyên để đọ tài. Vậy sai tôi đến bẩm với bá phụ việc ấy.
Huyền Đức giật mình, nói:
- Nếu Vân Trường vào Thục thi võ
với Mã Mạnh Khởi, hai người tất hại mất một người, thì làm thế nào?
Khổng Minh thưa:
- Chẳng hề chi việc ấy, để tôi viết
mấy chữ gửi về là xong.
Huyền Đức sợ Vân Trường nóng tính
vào Xuyên ngay chăng, bèn sai Khổng Minh viết thư, giao cho Quan Bình cấp tốc
đưa về Kinh Châu.
Bình về đến Kinh Châu, Vân Trường
hỏi:
- Ta muốn thí võ với Mã Siêu, mày
có bẩm cho ta không?
Bình dâng trình tờ thư của Khổng
Minh, Vân Trường mở xem.
Thư nói rằng:
“Tôi nghe tướng quân muốn thi
đọ cao thấp với Mã Mạnh Khởi. Cứ ý tôi thấy, thì Mạnh Khởi tuy hùng dũng hơn
người, nhưng chẳng qua cũng vào một bọn Kình Bố, Bành Việt[2] đó
thôi, chỉ khả dĩ đua ganh với Dực Đức thì được, chớ sao sánh được với ông Râu
dài tuyệt vời?
“Nay tướng quân phục mệnh giữ
Kinh Châu là một việc quan hệ rất lớn. Nếu tướng quân vào Xuyên, ở Kinh Châu nhỡ
xảy việc gì thì tội để đâu cho hết! Xin tướng quân phải nghĩ mới được!”
Vân Trường xem xong, vuốt râu cười
mà nói rằng:
- Khổng Minh biết bụng ta lắm!
Bèn đưa thư cho các quan xem, rồi
không có ý vào Xuyên nữa.
Đây nói, Tôn Quyền ở Đông Ngô
nghe tin Huyền Đức lấy được Tây Thục rồi, mới hội bọn Trương Chiêu, Cố Ung đến
bàn rằng:
- Khi xưa Lưu Bị mượn Kinh Châu của
ta, hẹn khi nào lấy được Tây Thục đuổi Lưu Chương ra Công An thì trả. Nay đã lấy
được bốn mươi mốt châu Thục rồi, ta nên sai người đến đòi Kinh Châu, nếu không
trả thì ta khởi binh đến đánh, các ngươi nghĩ thế nào?
Chiêu thưa rằng:
- Nước Ngô mới yên, không nên động
binh vội. Tôi có một kế này, khiến cho Lưu Bị phải đem Kinh Châu hai tay dâng
lên nộp trả chúa công.
Đó là:
Đông Ngô lại hỏi nước non xưa.
Chưa biết Trương Chiêu hiến kế ra
làm sao, xem đến hồi sau thì rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Bố đẻ.
- ▲ Kình Bố và Bành Việt là hai võ tướng đời Hán Cao tổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét