🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Tào Tháo mở tiệc mừng đài Đổng Tước
Khổng Minh ba lần trêu tức Chu Du
Nói về Chu Du bị Khổng Minh phục
ba cánh quân của Quan Công, Hoàng Trung và Nguỵ Diên đánh cho đại bại. Hoàng
Cái và Hàn Đương vội cứu xuống thuyền, thuỷ quân bị chết rất nhiều. Chu Du ngoảnh
trông lên thấy Huyền Đức, Khổng Minh, Tôn phu nhân và quân sĩ đóng cả trên đỉnh
núi, làm gì chẳng tức điên ruột? Vết thương chưa lành, lại vỡ tung ra, ngất
nhào xuống thuyền. Các tướng cứu tỉnh, quay thuyền chạy trốn. Khổng Minh không
cho quân đuổi, cùng với Huyền Đức về Kinh Châu ăn mừng, khao thưởng tướng sĩ.
Chu Du về Sài Tang, còn bọn Tưởng
Khâm về Nam Từ báo với Tôn Quyền. Quyền tức lắm muốn cử Trình Phổ làm đại đô đốc,
đem quân sang lấy Kinh Châu. Chu Du cũng dâng thư xin điều binh sang đánh báo
thù.
Trương Chiêu can rằng:
- Việc này không nên vội. Tào
Tháo vẫn lăm le muốn báo thù trận Xích Bích, vì sợ Tôn, Lưu hai nhà đồng tâm hiệp
lực với nhau, cho nên chưa dám làm. Nay chúa công vì tức giận chốc lát vội vàng
gây sự đánh nhau, Tháo tất nhiên thừa cơ đến đánh, nước Ngô ta sẽ nguy khốn
ngay.
Cố Ung cũng nói:
- Ở đây thế nào chẳng có quân do
thám của Hứa Đô. Nếu biết Tôn, Lưu bất hoà Tháo tất nhiên sai người đến câu kết
với Lưu Bị. Bị e sợ Giang Đông, sẽ phải đi theo Tào Tháo. Như thế Giang Nam bao
giờ mới được yên ổn? Không gì bằng sai người đến Hứa Đô, tâu xin cho Lưu Bị làm
chức châu mục ở Kinh Châu. Tào Tháo thấy vậy, tất nhiên lo sợ không dám nhòm đến
mặt Đông Nam, và Lưu Bị cũng không oán gì chúa công nữa. Rồi ta sẽ sai người
tâm phúc, dùng kế phản gián, làm cho Tào Tháo với Lưu Bị đánh lẫn nhau, bấy giờ
ta sẽ thừa cơ tính lấy, chắc chắn thắng lợi.
Quyền khen rằng:
- Nguyên Thán nói chí phải! Nhưng
ai đi sứ được đây?
Cố Ung nói:
- Ở đây có một người Tào Tháo rất
kính mến, có thể đảm nhận việc ấy được.
Quyền hỏi người nào.
Ung đáp:
- Hoa Hâm hiện có mặt ở đây, sao
không sai hắn?
Quyền mừng lắm, sai ngay Hoa Hâm
mang biểu đến Hứa Đô. Hâm lĩnh mệnh lên đường thẳng đến Hứa Đô xin ra mắt Tào
Tháo. Được tin Tháo đang hội cả quần thần ở Nghiệp Quận ăn mừng đài Đồng Tước,
Hâm liền đến ngay Nghiệp Quận.
Tào Tháo từ khi thua ở Xích Bích,
vẫn có ý muốn đánh báo thù, nhưng còn ngại Tôn, Lưu đồng tâm hiệp lực, nên chưa
dám khinh động.
Năm Kiến An thứ 15 (210) đài Đồng
Tước hoàn thành, Tháo hội cả các quan văn võ ở Nghiệp Quận, mở tiệc ăn mừng.
Đài này xây trên bờ Chương Hà,
toà chính giữa gọi là Đồng Tước, toà bên phải là Ngọc Long, toà bên hữu là Kim
Phượng, đều cao mười trượng, hai bên xây hai cái cầu thông với nhau, trăm ngàn
cửa ngõ, trong đền ngoài cửa, vàng son choáng lộn.
Hôm ấy, Tháo đầu đội mũ vàng khảm
ngọc, mình mặc áo bào gấm xanh, giày kết hạt châu, ngồi chễm chệ ở tầng trên,
các văn võ đứng hầu bên dưới. Tháo muốn xem các tướng thi cung tên, bèn sai người
hầu cận mang một chiếc chiến bào bằng gấm Tây Xuyên, treo trên cành liễu. Dưới
gốc cây dựng một cái bia, chỗ đứng bắn cách xa một trăm bước, các tướng chia
làm hai đội: Người tôn tộc họ Tào mặc áo bào đỏ, còn các tướng khác mặc áo bào
xanh. Ai nấy đều đeo cung cứng tên dài, cưỡi ngựa đứng sẵn chờ lệnh.
Tháo truyền lệnh rằng:
- Ai bắn trúng hồng tâm, thì được
thưởng cẩm bào, nếu bắn không tin sẽ bị phạt uống một chén nước lã.
Lệnh vừa truyền xuống, trong đội
áo đỏ có một tướng trẻ tuổi, tế ngựa nhảy ra. Mọi người trông xem ai, thì là
Tào Hưu. Hưu phi ngựa dạo đi dạo lại hai ba vòng, rồi rút một mũi tên, giương đẫy
sức cung, bắn ra một phát, trúng giữa hồng tâm. Chiêng trống nổi lên, tiếng reo
mừng ầm ĩ. Tào Tháo ngồi trên cũng mừng nói rằng:
- Đó là ngựa thiên lý của nhà ta
đó!
Vừa toan sai ngươi ra lấy áo bào
thưởng cho Tào Hưu, thì trong đội áo xanh có một tướng tế ngựa ra kêu lên rằng:
- Áo bào của thừa tướng, nên nhường
cho chúng tôi là người ngoài lấy trước, trong tôn tộc không nên tranh lấy phần
hơn.
Tháo nhìn xem ai, thì là Văn
Sính.
Các quan nói:
- Hãy để xem Văn Trọng bắn thế
nào đã!
Văn Sính giương cung, tế ngựa, bắn
một phát, cũng trúng hồng tâm. Mọi người reo mừng ầm ĩ. Chiêng trống khua vang.
Sính hô lớn lên rằng:
- Đem áo bào lại đây mau!
Đội áo đỏ lại có một tướng tế ngựa
ra thét lên rằng:
- Văn Liệt bắn trước, sao ngươi
dám nẫng tay trên? Hãy xem ta bắn để giải hoà cho cả người đây này!
Nói đoạn, giương cung bắn một
phát, cũng trúng hồng tâm. Chúng vỗ tay reo ầm cả lên, trông ra thì Tào Hồng. Hồng
sắp đến lĩnh áo, lại có một tướng trong đội áo xanh chạy ra giương cung nói lớn:
- Ba anh bắn thế chưa tài, xem ta
bắn đây nhé!
Chúng nhìn xem ai, thì là Trương
Cáp. Cáp phi ngựa, quay lưng lại, bắn một phát, cũng trúng hồng tâm nốt. Bốn
mũi tên cắm thành vòng trong hồng tâm. Ai cũng khen là tài bắn cả. Cáp nói:
- Cẩm bào phải về tay ta chớ!
Cáp nói chưa dứt lời, bỗng lại có
một tướng áo đỏ tế ngựa ra nói rằng:
- Ngươi quay lưng lại bắn cũng
chưa giỏi! Hãy xem ta bắn trúng hồng tâm giữa bốn mũi tên cho mà xem.
Tướng ấy là Hạ Hầu Uyên. Uyên tế
ngựa ra đứng chỗ cũ bắn, cũng quay mình lại ra bắn một phát, trúng ngay vào khoảng
giữa bốn mũi tên. Chiêng trống lại khua ầm ĩ. Uyên kìm ngựa, thu cung lại reo
lên rằng:
- Mũi tên này đã đáng lấy áo bào
chưa?
Lại có một tướng áo xanh nhảy ra
gọi rằng:
- Hãy để áo gấm ấy cho Từ Hoảng!
Uyên hỏi:
- Anh còn bắn thế nào tài hơn được
ta nữa, mà đòi lấy áo gấm?
- Anh bắn tin hồng tâm cũng chưa
giỏi! Hãy xem ta bắn lấy cái áo gấm đây này!
Nói đoạn, Hoảng bèn giương cung đặt
tên, ngắm cành liễu bắn một phát, cành liễu gãy đôi, áo bào rơi xuống đất. Từ
Hoảng tế ngựa lại lấy áo khoác lên vai, lên trước đài bẩm to rằng:
- Tạ ơn thừa tướng ban áo gấm!
Tào Tháo và các quan ai cũng khen
tài. Hoảng quay ngựa toan trở về, bỗng có một tướng áo xanh nhảy xổ ra gọi rằng:
- Anh mang áo đi đâu? Hãy mau mau
để đó cho ta!
Chúng trông ra thì là Hứa Chử.
Từ Hoảng nói:
- Áo đã ở trong tay ta rồi, anh
cướp lại sao nổi?
Chử chẳng nói chẳng rằng, xốc ngựa
tới giật áo bào. Hai ngựa giáp nhau, Hoảng cầm cung giọt Hứa Chử. Chử một tay nắm
lấy cung, một tay lôi Hoảng khỏi bàn đạp, Hoảng bỏ cung nhảy xuống ngựa. Chử
cũng nhảy xuống theo. Hai người giằng co vật lộn. Tháo gọi hai người lên cả
trên đài. Từ Hoảng trợn mày trừng mắt, Hứa Chử mím miệng nghiến rắng, hai người
chỉ lăm le chực đánh nhau.
Tháo cười, bảo rằng:
- Ta chỉ nhờ sức mạnh của các
ông, có tiếc gì một cái áo gấm?
Liền gọi các tướng lên hết cả
trên đài, ban cho mỗi người một tấm gấm Tây Xuyên. Các tướng cùng lạy tạ. Tháo
mời các tướng ngồi theo thứ tự ăn yến. Tiếng nhạc vang lừng, trên cạn dưới nước
trăm thứ trò vui, quan văn tướng võ, chén thù chén tạc, vui vẻ vô cùng.
Tháo bảo các quan văn rằng:
- Tướng võ thì lấy ngựa bắn cung
làm vui, uy dũng như thế đủ rồi. Còn các ông đều là những người hay chữ, đã lên
đến chỗ đài cao, sao không vịnh một bài thơ hay để ghi lấy thắng cảnh này?
Các quan đều khom lưng, thưa:
- Xin tuân lệnh!
Bấy giờ, bọn quan văn có Vương
Lãng, Chung Do, Vương Sán, Trần Lâm mỗi người hiến một bài thơ, bài nào cũng ca
ngợi công đức Tào Tháo như trời biển, xứng đáng lên ngôi thiên tử. Tháo xem từng
bài, rồi cười mà nói rằng:
- Các ông văn hay, khen ta khi
quá lời. Ta vốn là người ngu lậu, khi trước cũng may mà được phong chức hiếu
liêm. Sau gặp buổi thiên hạ loạn lạc, ta có làm một cái nhà mát cách thành Tiêu
năm mươi dặm về phía đông. Ta cũng muốn mùa xuân mùa hạ thì đọc sách, mùa thu
mùa đông thì săn bắn, đợi khi nào thì thiên hạ thái bình, mới ra làm quan.
Không ngờ triều đình triệu ra cho làm điển quân hiệu uý. Ta mới đổi nguyện vọng
xưa, muốn ra dẹp giặc, lập công với nước, chỉ mong sau khi ta mất đi, được để ở
trên mộ chí rằng: “Mộ của quan cố Chinh tây tướng quan Tào hầu”. Ấy thế là ta
mãn nguyện. Nhớ lại, từ khi ta giết Đổng Trác, quét sạch Khăn vàng, trừ được
Viên Thuật, phá được Lã Bố, dẹp tan đám Viên Thiệu, Lưu Biểu, dần dần bình định
được cả thiên hạ, mình làm đến chức tể tướng ngôi phú quý tưởng tột bậc rồi,
còn mong gì hơn nữa? Nếu triều đình không có ta, chưa biết bao giờ người xưng đế,
bao kẻ xưng vương rồi đó. Lắm người thấy ta quyền cao chức trọng, ngờ cho ta có
bụng này khác, thật là lầm lớn! Ta thường nhớ Khổng Tử khen đức tốt của vua Văn
Vương nhà Chu, lời xưa ta vẫn canh cánh bên lòng. Nhưng muốn cho ta bỏ binh quyền
đi, ra ở chỗ đất được phong là Võ bình hầu, thì cũng không xong: vì ta không
còn binh quyền trong tay, tất sẽ bị kẻ khác hãm hại. Ta mà bị hại, thì nhà nước
cũng sụp đổ. Bởi thế ta không thể mến cái tiếng hão mà mang cái vạ thật, chắc
các ông không ai biết nỗi lòng cho ta!
Các quan cùng đứng dậy, lạy mà
nói rằng:
- Dẫu Y Doãn, Chu Công ngày xưa
cũng không bằng được thừa tướng!
Người sau có thơ rằng:
Chu Công giữa lúc bị gièm pha,
Giá phỏng bấy giờ đều chết cả
Còn ai biết được chính hay tà?
Tào Tháo uống luôn vài cốc rượu,
không ngờ say quá, gọi tả hữu mang nghiên bút đến, cũng toan đề chơi một bài
thơ Đồng Tước. Tháo sắp hạ bút xuống viết, chợt có tin báo rằng:
- Đông Ngô sai Hoa Hâm đến dâng
biểu, tâu xin cho Lưu Bị làm Kinh Châu mục. Tôn Quyền gả em gái cho Lưu Bị,
chín quận trên sông Hán đã về tay Lưu Bị quá nửa rồi!
Tháo nghe nói hoảng sợ, chân tay
luống cuống, quẳng ngay bút xuống đất.
Trình Dục hỏi:
- Thừa tướng đang lúc ở giữa đám
quân trăm vạn, tên đạn bời bời, chưa khi nào phải sợ hãi đến thế, nay nghe thấy
Lưu Bị được Kinh Châu, mà sao thất kinh vậy?
Tháo nói:
- Lưu Bị như con rồng trong đám
người, xưa nay chưa được xuống nước bao giờ, nay được Kinh Châu khác nào rồng
khô mà vào bể lớn, trách nào ta chẳng giật mình.
Trình Dục nói:
- Thừa tướng có biết Hoa Hâm đến
đây là có ý làm sao chưa?
Tháo nói:
- Chưa biết.
Dục nói:
- Tôn Quyền vốn ghét Lưu Bị, muốn
cất quấn đến đánh, lại sợ thừa tướng thừa cơ đến báo thù, cho nên dâng biểu tiến
cử Lưu Bị để Bị yên lòng và để thừa tướng đừng mong mỏi gì nữa.
Tháo gật đầu nói rằng:
- Ngươi nói phải lắm!
Dục lại nói:
- Tôi có một mẹo này, khiến cho
Tôn, Lưu xâu xé lẫn nhau, rồi thừa tướng sẽ thừa cơ đánh phá, chỉ một trận là
diệt được cả hai tên.
Tháo mừng lắm, hỏi mẹo làm sao.
Trình Dục thưa:
- Đông Ngô chỉ trông cậy vào Chu
Du. Thừa tướng nên tâu phong cho Chu Du làm thái thú ở Nam Quận; Trình Phổ làm
thái thú ở Giang Hạ, còn Hoa Hâm thì cho làm quan ở đây. Như thế Chu Du tất
sinh thù địch với Lưu Bị. Ta sẽ thừa cơ ở hai bên xâu xé nhau mà đánh thì có
hay hơn không?
Tháo nói:
- Lời Trọng Đức hợp ý ta lắm!
Liền gọi Hoa Hâm đến đài, thưởng
cho rất hậu.
Hôm ấy tan tiệc, Tháo dẫn văn võ
đến Hứa Xương, tâu phong cho Chu Du làm thái thú Nam Quận, Trình Phổ làm thái
thú Giang Hạ, Hoa Hâm làm đại lý thiếu khanh ở lại kinh đô. Sứ giả đưa tới Đông
Ngô, Chu Du, Trình Phổ đều nhận tước phong cả.
Du lĩnh chức rồi, lại càng nghĩ
cách báo thù, mới dâng thư lên Ngô hầu, xin sai Lỗ Túc sang đòi Kinh Châu.
Quyền gọi Lỗ Túc vào bảo rằng:
- Ngươi hầu chủ cho Lưu Bị mượn
Kinh Châu, nay hắn dây dưa mãi không trả, còn đợi đến bao giờ?
Túc thưa:
- Trong văn khế hẹn rằng khi nào
lấy được Tây Xuyên mới trả kia mà!
Quyền gắt mắng:
- Cứ nói lấy được Tây Xuyên, nay
vẫn chưa thấy cất quân, còn đợi đến già à?
Túc thưa:
- Vậy tôi xin sang đòi.
Nói rồi, liền đi thuyền sang Kinh
Châu.
Huyền Đức, Khổng Minh lâu nay ở
Kinh Châu, tích chứa lương thảo, luyện tập quân mã, hiền sĩ gần xa quy phục rất
nhiều. Sực có tin báo Lỗ Túc đến, Huyền Đức hỏi Khổng Minh:
- Tử Kính đến chuyến này có mục
đích gì?
Khổng Minh nói:
- Mới rồi, Tôn Quyền tâu cho chúa
công làm Kinh Châu mục, là vì sợ Tào Tháo. Tháo phong Chu Du làm thái thú Nam
Quận là muốn cho Tôn, Lưu đánh lẫn nhau, hắn ở giữa kiếm lợi. Nay Lỗ Túc đến
đây, tất là Chu Du thụ chức rồi, sai Túc sang đòi Kinh Châu đó thôi.
Huyền Đức hỏi:
- Thế thì trả lời làm sao?
Khổng Minh đáp:
- Nếu Lỗ Túc nhắc đến việc Kinh
Châu, thì chúa công cứ oà lên khóc, khóc đến chỗ thảm thiết, tôi sẽ xin ra
khuyên giải.
Bàn định đâu đấy, Huyền Đức ra tiếp
Lỗ Túc vào phủ ngồi chơi.
Túc nói:
- Hoàng thúc nay đã là rể Đông
Ngô, tức như chúa công tôi, tôi đâu dám ngồi.
Huyền Đức nói:
- Tử Kính là bạn cũ của ta, sao
quá khiêm tốn vậy?
Túc mới ngồi; uống trà xong, Túc
nói:
- Tôi phụng mệnh Ngô hầu, chỉ vì
việc Kinh Châu mà đến đây. Hoàng thúc mượn Kinh Châu cũng đã lâu rồi, nay hai
nhà lại kết thân với nhau, nên nể mặt nhau một chút, mau trao trả cho xong.
Huyền Đức nghe nói, ôm mặt khóc
hu hu lên. Túc sợ hỏi:
- Sao hoàng thúc lại thế?
Huyền Đức cứ khóc. Khổng Minh ở
sau bình phong, bước ra nói:
- Tử Kính có hiểu cớ làm sao mà
chúa công tôi khóc thế không?
Túc nói:
- Tôi thật không biết.
Khổng Minh nói:
- Có khó gì mà không biết. Trước
kia chúa công tôi mượn Kinh Châu có hẹn rằng bao giờ lấy được Tây Xuyên thì trả.
Nhưng suy đi nghĩ lại: Lưu Chương ở Ích Châu là em chúa công tôi, đôi bên cùng
là máu mủ nhà Hán cả. Nếu cất quân sang cướp lấy thành trì, e thiên hạ chê cười.
Ích Châu đã không lấy được mà lại phải trả Kinh Châu thì còn chỗ nào mà ở? Mà
không trả thì e mất thân tình, việc thực khó nghĩ, bởi thế mới đau lòng mà
khóc.
Khổng Minh nói động đến niềm tâm
sự của Huyền Đức, Huyền Đức càng đấm ngực giẫm chân, khóc ầm lên. Lỗ Túc khuyên
rằng:
- Hoàng thúc chớ nên phiền não,
hãy bàn với Khổng Minh thế nào cho phải thì thôi!
Khổng Minh nói:
- Nhờ Tử Kính về ra mắt Ngô hầu,
xin chớ tiếc lời, hãy tha thiết bày tỏ cái tình cảnh đó mà cho khoan hạn ít lâu
nữa.
Túc nói:
- Lỡ Ngô hầu không nghe thì làm
thế nào?
Khổng Minh nói:
- Ngô hầu đã gả em gái cho hoàng
thúc tôi, có lẽ nào chẳng nghe? Nhờ Tử Kính về nói đỡ cho khéo.
Lỗ Túc vốn là người nhân từ độ lượng,
thấy Huyền Đức sầu não làm vậy, đành phải vâng lời. Huyền Đức và Khổng Minh bái
tạ. Tiệc xong, Lỗ Túc từ biệt xuống thuyền, đi thẳng đến Sài Tang, thuật chuyện
lại với Chu Du.
Du giẫm chân xuống đất nói rằng:
- Tử Kính lại mắc lừa Gia Cát Lượng
rồi! Khi xưa Lưu Bị ở nhờ Lưu Biểu còn có bụng muốn cướp lấy Kinh Châu, huống
chi là đối với Lưu Chương ở Tây Xuyên? Y cứ nói quanh mãi thế này, e lại luỵ đến
ông mất! Nay ta có một mẹo này, chắc Gia Cát Lượng không sao thoát được, Tử
Kính phải đi cho một chuyến nữa mới xong.
Túc hỏi:
- Xin cho tôi được biết mưu hay
ra sao?
Du đáp:
- Tử Kính không phải đến Ngô hầu
làm chi, cứ lại sang Kinh Châu, bảo với Lưu Bị rằng: “Tôn, Lưu hai nhà đã kết
thân với nhau, thì cũng như một nhà. Nếu hoàng thúc không nỡ lấy Tây Xuyên, hãy
để Đông Ngô khởi quân đi đánh lấy hộ. Lấy được Tây Xuyên rồi, thì Đông Ngô đem
châu ấy làm của hồi môn, mà hoàng thúc phải trả Kinh Châu cho Đông Ngô”.
Túc nói:
- Tây Xuyên xa xôi lắm, chưa dễ
đã lấy được, kế ấy của đô đốc, có lẽ không xong chăng?
Du cười nói rằng:
- Tử Kính thật thà quá! Ông tưởng
tôi lấy Tây Xuyên thật cho hắn ư? Ta mượn tiếng lấy Tây Xuyên, kỳ thực là sang
lấy Kinh Châu, để hắn không đề phòng trước. Quân mã ta kéo sang Tây Xuyên phải
đi qua Kinh Châu, ta bắt y phải cung cấp tiền lương, Lưu Bị thế nào cũng ra
khao quân ta sẽ thừa cơ giết phăng đi, rồi cướp lấy Kinh Châu. Có thế, mới rửa
được hận của ta, mà gỡ luôn cả vạ cho ông nữa!
Lỗ Túc mừng lắm, lại sang ngay
Kinh Châu. Khổng Minh bàn với Huyền Đức rằng:
- Lỗ Túc chắc chưa về nói với Ngô
hầu, mà chỉ đến Sài Tang cùng Chu Du bày mưu lập kế gì đó để nhử ta đó thôi.
Nhung hắn nói câu gì, hễ chúa công thấy tôi gật đầu, thì cứ việc nhận lời.
Bàn định xong xuôi, Lỗ Túc vào
chào hỏi rồi nói:
-Ngô hầu ca tụng nhân đức của
hoàng thúc lắm nên bàn với các tướng muốn cất quân sang lấy đỡ Tây Xuyên cho
hoàng thúc, để đổi lấy Kinh Châu, và để làm của hồi môn. Khi quân mã đi qua,
phiền hoàng thúc cung ứng đỡ cho ít nhiều tiền lương.
Khổng Minh nghe xong, gật lấy gật
để, nói rằng:
- Quý báu quá! Không mấy người được
tốt bụng như Ngô hầu.
Huyền Đức chắp tay cảm tạ rằng:
- Đó là nhờ Tử Kính khéo nói giúp
cho đấy!
Khổng Minh nói:
- Khi nào quân mã quý quốc đi qua
đây, sẽ xin ra tận ngoài xa nghênh tiếp, khao quân tử tế.
Lỗ Túc mừng lắm, ăn yến xong, từ
biệt ra về.
Huyền Đức hỏi Khổng Minh:
- Thế là ý làm sao?
Khổng Minh cười ầm lên nói rằng:
- Chu Du đến ngày sắp chết đây!
Mưu kế ấy đến trẻ con nó cũng biết nữa là!
Huyền Đức vẫn chưa nghe ra, lại hỏi,
Khổng Minh nói:
- Đó là mẹo “mượn đường diệt Quắc”[1] khi
xưa, tiếng là lấy Xuyên, kỳ thực là lấy Kinh Châu, đợi khi nào chúa công ra
thành khao quân, thì thừa cơ bắt lấy, rồi đánh ùa vào thành, đó gọi là đánh vào
chỗ sơ hở, lừa lúc ta không để ý đấy thôi!
Huyền Đức hỏi:
- Ta nên làm thế nào?
- Chúa công hãy yên tâm. Ta cần
phải dự sẵn cung tốt để bắn hổ mạnh, móc sẵn mồi thơm để giật cá ngao. Chu Du
mà đến đây, chẳng chết thì cũng ngắc ngoải.
Liền gọi Triệu Vân lại dặn kế:
“Như thế, như thế… ngoài ra mặc ta bố trí”, Huyền Đức mừng lắm.
Người sau có thơ than rằng:
Gia Cát tài tình biết đã lâu
Vẫn tưởng Trường Giang mồi đớp gọn
Nào ngờ cá lại mắc vào câu!
Lỗ Túc trở về thuật lại với Chu
Du, nói Huyền Đức, Khổng Minh mừng lắm, đã sắp sẵn để ra thành khao quân. Du cười
ha hả nói:
- Gia Cát giỏi mấy thì phen này
cũng mắc mưu của ta!
Liền sai Lỗ Túc về báo với Ngô hầu,
và cho Trình Phổ dẫn quân tiếp ứng.
Bấy giờ bệnh tình của Chu Du tạm
bình phục, thân thể đã khoẻ mạnh, Du sai Cam Ninh làm tiên phong, Du cùng với Từ
Thịnh, Đinh Phụng làm đội thứ hai, Lăng Thống, Lã Mông làm hậu đội. Quân thuỷ bộ
cả thảy năm vạn, kéo sang Kinh Châu, Chu Du ngồi trong thuyền, cười cười nói
nói, đinh ninh là Gia Cát Lượng mắc mẹo.
Tiền quân kéo đến Hạ Khẩu. Chu Du
hỏi:
- Kinh Châu có ai đến nghênh tiếp
đó không?
Quân sĩ bẩm:
- Lưu Huyền Đức sai My Chúc đến hầu
đô đốc.
Du cho gọi vào hỏi lễ khao quân
ra làm sao? Chúc bẩm:
- Chúa công tôi đã chuẩn bị sẵn
sàng cả rồi!
Du hỏi:
- Hoàng thúc ở đâu?
Chúc thưa:
- Ở ngoài thành Kinh Châu, chỉ đợi
đô đốc đến để chúc rượu mừng.
Du nói:
- Nay Đông Ngô ta vì việc của nhà
ngươi, phải mang quân đi đánh tận nơi xa, lễ lạt khao quân, phải cho tử tế!
My Chúc xin vâng rồi từ biệt trở
ra. Du sai dâng thuyền kín cả mặt sông, lần lượt kéo đi. Gần đến Công An, cũng
không thấy một chiếc thuyền, một bóng người nào ra nghênh tiếp.
Chu Du giục thuyền đi cho mau, chỉ
còn cách Kinh Châu độ mươi dặm, trên mặt sông vẫn lạnh ngắt như tờ. Quân do
thám báo rằng:
- Trên thành Kinh Châu, chỉ thấy
phất phơ hai lá cờ trắng, ngoài ra chẳng có một ai.
Du trong bụng nghi hoặc, sai áp
thuyền vào bờ, lên bộ, dẫn Cam Ninh, Từ Thịnh, Đinh Phụng và ba nghìn quân sĩ,
nhằm Kinh Châu đi tới. Đến tận dưới thành, vẫn không thấy gì, Du ghìm ngựa lại
sai quân sĩ gọi cửa. Quân trên thành hỏi ai? Quân Ngô đáp:
- Có Chu đô đốc ở Đông Ngô đến
đây!
Nói chưa dứt lời, bỗng một hồi mõ
nổi lên, quân sĩ trên mặt thành nhất tề gươm giáo dựng lên tua tủa. Rồi thấy
Triệu Vân đứng trên chòi cao, gọi hỏi rằng:
- Đô đốc đến đây có việc gì?
Du nói:
- Ta thay chủ ngươi đi lấy Tây
Xuyên, ngươi chưa biết à?
Vân nói:
- Quân sư tôi đã biết đô đốc dùng
mẹo “Mượn đường diệt Quắc” nên sai tôi giữ ở đây. Chúa công tôi nói: “Ta với
Lưu Chương đều là tôn thần nhà Hán cả, sao nỡ bội nghĩa mà cướp lấy Tây Xuyên?
Nếu Đông Ngô thật sự đánh Tây Xuyên, ta sẽ xoã tóc vào ẩn trong núi chớ không
chịu mất tín nghĩa với thiên hạ!”
Chu Du nghe vậy, quay ngựa trở về,
bỗng thấy một người cầm cờ lệnh đến báo rằng:
- Chúng tôi dò biết có quân mã bốn
mặt kéo đến: Quan Vân Trường từ Giang Lăng, Trương Phi từ Tỷ Quy, Hoàng Trung ở
Công An, Nguỵ Diên thì từ con đường nhỏ Sán Lăng; bốn mặt không biết có bao
nhiêu quân mã kéo đến, tiếng reo vang trời dậy đất, chúng hò hét “Chuyến này nhất
bắt sống Chu Du!”
Du gầm lên một tiếng, ngã nhào xuống
ngựa.
Đó là:
Mấy phen tính toán mất công không!
Chưa biết tính mệnh Chu Du phen
này ra sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Đời Xuân thu, nước Tấn mượn đường của nước Ngu để đi qua cướp nước Quắc, cướp xong nước Quắc liền quay lại cướp luôn nước Ngu.
Cửa Sài Tang, Ngọa Long đến viếng tang
Huyện Lỗi Dương, Phượng Sồ quản công việc
Nói về Chu Du khí tức đầy ruột,
ngã quay xuống ngựa, tả hữu cấp cứu xuống thuyền. Lại có quân sĩ bẩm rằng:
- Huyền Đức, Khổng Minh đang ngồi
trên đỉnh núi trước mặt, uống rượu vui cười.
Du càng tức lắm, nghiến răng lại,
nói rằng:
- Người bảo ta không lấy được Tây
Xuyên hay sao, ta thề sang lấy cho mà xem!
Đang cơn tức giận, thì có tin báo
em Tôn Quyền là Tôn Du đến. Chu Du mời vào, thuật rõ đầu đuôi chuyện trước, Tôn
Du nói:
- Tôi phụng mệnh anh tôi đến đây
để giúp đô đốc.
Du thúc quân kéo đi đến Ba Khâu,
bỗng lại có người báo mé thượng lưu có Lưu Phong, Quan Bình chặn ngang sông.
Chu Du lại càng tức nữa. Một lát, thấy Khổng Minh sai người đưa thư đến. Du mở
ra xem, trong thư nói rằng:
“Quân sư trung lang tướng nhà
Hán là Gia Cát Lượng đưa thư này cho đô đốc nước Ngô là Công Cẩn được biết:
“Tôi từ ngày chia tay với ngài
ở Sài Tang đến giờ, vẫn còn lưu luyến chưa quên, nay nghe thấy ngài muốn cất
quân sang lấy Tây Xuyên, tôi thiết nghĩ không nên. Ích Châu, dân thì mạnh, đất
thì hiểm, Lưu Chương tuy rằng hèn đớn, nhưng giữ cũng nổi. Nay muốn thành công
mà bắt quân đi khó nhọc đi đánh xa, vận tải hàng muôn dặm, tôi chắc dẫu đến Ngô
Khởi, Tôn Vũ ngày xưa cũng không sao làm nổi được.
“Tào Tháo mới thua ở Xích Bích
đâu đã phút chốc quên bẵng việc báo thù? Nay ngài cất quân đi đánh phương xa,
Tào Tháo thừa cơ đến đánh, thì Giang Nam ra cám mất. Tôi không nỡ ngồi nhìn mà
không báo trước, xin ngài soi xét”.
Chu Du xem xong, thở dài một tiếng,
gọi tả hữu đem bút mực đến, viết một phong thư, sai người dâng lên Ngô hầu. Rồi
họp các tướng lại dặn rằng:
- Ta không phải là không muốn hết
lòng báo nước, nhưng số mệnh ta đến đây là hết rồi. Các ông nên thờ Ngô hầu cho
thuỷ chung, để cùng dựng nên nghiệp lớn!
Nói đoạn, ngất đi một lúc, rồi dần
dần lại tỉnh, ngửa mặt lên trời thở dài mà than rằng:
- Trời đã sinh ra Du, sao còn
sinh ra Lượng?
Du kêu luôn mấy tiếng rồi mất, thọ
36 tuổi.
Người sau có thơ than rằng:
Xích Bích anh hùng nổi tiếng
a!
Phong lưu tuổi trẻ bậc tài hoa
Thảnh thơi chén rượu từ lời bạn,
Thánh thót cung đàn tỏ ý xa.
Xích Bích dẹp tan muôn hổ báo,
Giang Nam riêng mở một sơn hà
Ba Khâu mệnh bạc từ đây nhé
Lệ ứa hai hàng ruột xót xa!
Các tướng đem thi hài Chu Du về
quàn ở Ba Khâu, rồi sai người mang thư về báo với Tôn Quyền. Quyền nghe tin Chu
Du mất liền khóc vang lên. Rồi mở thư ra xem, thì là thư tiến cử Lỗ Túc để thay
mình. Đại ý trong thư viết:
“Du tôi là kẻ bất tài, may được
đội ơn đãi ngộ đặc biệt, uỷ thác cho những việc quan trọng, thống lĩnh quân mã,
đâu dám không dốc hết sức lực để đền đáp ơn dày? Nhưng sống chết khôn lường, ngắn
dài có số, ý chí chưa đạt, thân thể đã tàn, uất hận kể sao xiết nỗi? Giờ đây,
Tào Tháo ở phía Bắc, bờ cõi chưa yên; Lưu Bị ở nhờ, khác gì nuôi hổ. Việc trong
thiên hạ, chưa biết thế nào? Chính lúc này là lúc kẻ làm bề tôi phải hy sinh vất
vả, vua chúa phải lo lắng gian lao. Lỗ Túc là người trung liệt, gặp việc không cẩu
thả, có thể thay tôi. “Con người lúc sắp chết thì lời nói thường đúng” nếu được
lượng trên soi xét, tôi chết cũng không đến nỗi uổng!”
Tôn Quyền xem thư xong, khóc oà
mà rằng:
- Công Cẩn có tài vương tá, chẳng
may mất sớm thế này, ta còn trông cậy vào ai? Nay để thư lại tiến cử Lỗ Túc, có
đâu ta chẳng nghe lời!
Ngay hôm ấy phong Lỗ Túc làm đại
đô đốc, thống lĩnh cả binh mã, rồi sai người rước linh cữu của Chu Du về táng.
Lại nói Khổng Minh ở Kinh Châu,
đêm xem thiên văn, thấy có một ngôi tướng tinh rơi xuống đất, cười mà nói rằng:
- Chu Du chết rồi!
Đến sáng, nói chuyện với Huyền Đức,
rồi sai người đi do thám, quả nhiên như thế. Huyền Đức hỏi:
- Chu Du chết rồi, bên ấy bây giờ
ra làm sao?
Khổng Minh đáp:
- Người thay Chu Du thống lĩnh
binh quyền chắc là Lỗ Túc. Tôi xem thiên văn thấy tướng tinh tụ ở phương đông;
vậy xin sang Giang Nam một chuyến mượn cớ viếng tang để tìm hiền sĩ về giúp
chúa công.
Huyền Đức nói:
- Chỉ ngại các tướng sĩ Đông Ngô
muốn hại tiên sinh!
Khổng Minh nói:
- Khi Chu Du còn sống, tôi còn chẳng
ngại, nay hắn ta chết rồi, còn lo gì nữa?
Nói đoạn, sai Triệu Tử Long dẫn
năm trăm quân, đem đồ lễ xuống thuyền, đến thẳng Ba Khâu viếng tang. Dọc đường,
được tin Lỗ Túc đã lĩnh chức đô đốc, linh cữu Chu Du đã đưa về Sài Tang, Khổng
Minh bèn đi tắt sang đó. Lỗ Túc ra nghênh tiếp tử tế. Bộ hạ của Chu Du đều muốn
giết Khổng Minh, nhưng thấy Triệu Văn đeo gươm đi kèm không dám hạ thủ. Khổng
Minh sai bày lễ vật trước linh vị Chu Du, thân rót rượu, rồi quỳ xuống đọc một
bài văn tế rằng:
Than ôi, Công Cẩn! Chẳng may
trời hại!
Thọ yểu số trời, ai không ái
ngại!
Rót chén rượu này, lòng ta xót
xa
Ông có khôn thiêng, chứng giám
cho ta!
Viếng ông thuở nhỏ, chơi với
Bá Phù
Trọng nghĩa khinh tài, nhường
nhà cho nhau.
Thương ông trẻ trung, có ý cao
xa,
Gây dựng nghiệp bá, riêng một
sơn hà!
Khen ông sức khoẻ, trấn giữ Ba
Khâu,
Cảnh Thăng mất vía, Tôn Sách
yên lòng.
Thương ông trai trẻ, sánh với
Tiểu Kiều
Rể tôi nhà Hán, xứng đáng trăm
điều.
Thương ông khí khái, ngăn việc
hàng Tào.
Trước chưa chắp cánh, dần dần
bay cao.
Thương ông khôn ngoan, Tưởng
Cán đến dụ,
Chén rượu thảnh thơi, Tào man
mắc mẹo
Thương ông có tài, văn võ kiêm
toàn,
Hoả công phá Tào, chuyển nguy
thành an
Thương ông khi ấy, anh hùng
ghê gớm.
Lệ tuôn hai hàng, thương ông mất
sớm
Lòng thì trung nghĩa, hồn thì
anh linh,
Mới ba chục tuổi, nghìn thu
nêu danh!
Ruột ta rầu rĩ, thương ông tha
thiết,
Trăm thảm nghìn sầu, kể sao
cho xiết!
Trời mây mịt mù, ba quân xót
xa,
Chủ thì sùi sụt, bạn thì lệ
sa!
Lượng tôi bất tài, xin mẹo cầu
mưu,
Giúp Ngô chống Tào, phò Hán
yên Lưu.
Lập thế ỷ giốc, cứu giúp nhau
cùng,
Kẻ mất người còn, xót ruột đau
lòng!
Than ôi, Công Cẩn! Đã biệt
nhau rồi!
Thôi nói chi nữa, thế là xong
đời!
Hồn có khôn thiêng, soi thấy
can tâm
Từ nay thiên hạ, ai kẻ tri âm?
Than ôi! Thương thay! Phục duy
thượng hưởng!
Khổng Minh tế xong, gục xuống đất
khóc, nước mắt giàn giụa như suối, đau đớn vô cùng. Các tướng bảo nhau:
- Người ta nói Khổng Minh không
hoà với Công Cẩn, nay xem tình thương xót thế này, mới biết họ toàn nói nhảm cả!
Lỗ Túc thấy Khổng Minh thương
khóc, cũng ứa nước mắt, nghĩ:
- Khổng Minh vẫn là người tử tế,
chỉ vì Công Cẩn hẹp hòi, tự rước lấy cái chết đó thôi!
Người sau có thơ rằng:
Nam Dương Ngọc Long ngủ chưa dậy,
Tướng tinh lại hạ xuống Thư
thành
Trời xanh trót đã sinh Công Cẩn
Trần thế sao còn nảy Khổng
Minh?
Lỗ Túc đặt tiệc khoản đãi Khổng
Minh. Tiệc xong, Khổng Minh từ biệt ra về, vừa sắp xuống thuyền, bỗng có một
người đội mũ áo đạo sĩ, một tay nắm lấy Khổng Minh cười ha hả, nói:
- Ngươi đã làm Chu Du tức mà chết,
lại còn đến viếng tang, rõ ràng coi thường Đông Ngô không còn ai nữa chăng?
Khổng Minh vội trông lại xem ai,
thì là Phượng Sồ tiên sinh Bàng Thống. Khổng Minh cũng cười lớn dắt tay nhau
lên thuyền nói chuyện.
Khổng Minh đưa một phong thư cho
Bàng Thống và dặn:
- Tôi chắc Tôn Quyền không trọng
dụng được ông, nếu có điều gì không như ý, xin hãy sang Kinh Châu giúp Lưu Huyền
Đức với tôi. Huyền Đức là người khoan nhân trung hậu, tất không phụ cái học của
ông.
Thống nhận lời, rồi từ biệt Khổng
Minh.
Lại nói, Lỗ Túc đưa linh cữu Chu
Du về đến Vu Hồ, Tôn Quyền ra đón, khóc tế trước linh vị, rồi sai hậu táng tại
quê làng. Du có hai trai một gái, con trưởng tên Tuần, con thứ tên Dân, Quyền đều
giúp đỡ rất chu đáo.
Lỗ Túc nói:
- Tôi tài nhỏ trí mọn, Công Cẩn
tiến cử nhầm, quả thật không xứng đáng với chức vụ. Tôi xin cử một người giúp
chúa công. Người này, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, mưu lược chẳng
kém gì Quản, Nhạc, kế sách ngang với Tôn, Ngô. Trước đây Công Cẩn nhờ mẹo người
ấy cũng nhiều, mà Khổng Minh cũng chịu là giỏi; hiện người ấy đang ở Giang Nam,
sao chúa công không trọng dụng?
Quyền nghe nói mừng lắm, liền hỏi
họ tên là gì?
Túc thưa:
- Người ấy ở Tương Dương, họ Bàng
tên Thống, tự là Sĩ Nguyên, đạo hiệu Phượng Sồ tiên sinh.
Quyền mừng lắm, nói:
- Ta nghe tiếng người này đã lâu,
nay có ở đây, nên cho mời lại chơi ngay.
Lỗ Túc mời Bàng Thống đến ra mắt
Tôn Quyền. Thống đến thi lễ xong, Quyền trông thấy Bàng Thống lông mày rậm, mũi
lõ, mặt đen, râu ngắn, hình dung cổ quái, có ý không bằng lòng, mới hỏi rằng:
- Bình sinh ông học môn gì là
chính?
Thống thưa:
- Không câu nệ gì cả, cứ tuỳ cơ
mà ứng biến.
Quyền hỏi:
- Tài học của ông, so với Công Cẩn
thế nào?
Thống cười đáp:
- Tôi học khác Công Cẩn nhiều.
Quyền xưa nay ưa nhất Chu Du, thấy
Thống coi thường Du, càng tỏ vẻ không bằng lòng, bảo Thống rằng:
- Ông hãy về, khi nào cần đến, sẽ
cho người mời.
Thống thở dài một tiếng, rồi trở
ra.
Lỗ Túc hỏi:
- Chúa công sao không dùng Bàng
Sĩ Nguyên?
Quyền đáp:
- Hắn là một cuồng sĩ, dùng làm
quái gì!
Túc nói:
- Trong trận Xích Bích, hắn dâng
kế liên hoàn, lập được công đầu, chắc hẳn chúa công cũng đã biết?
Quyền nói:
- Hồi đó, ý Tào Tháo muốn ghép
thuyền lại chứ vị tất đã là công hắn, ta nhất định không dùng.
Túc trở ra nói với Bàng Thống:
- Không phải là tôi không tiến cử
ông, nhưng chủ tôi chưa nghe, xin ông hãy cố nén lòng chờ đợi.
Thống cúi đầu thở dài, chẳng nói
năng gì.
Túc hỏi:
- Hay là ông không muốn ở đây nữa
chăng?
Thống không đáp. Túc nói:
- Ông có tài giúp chúa yên dân,
đi đâu mà chẳng đắt? Nhưng ông muốn đi xứ nào, nên nói thật cho tôi biết.
Thống nói:
- Tôi muốn sang với Tào Tháo.
Túc nói:
- Chớ nên! Ông mà sang với Tào
Tháo, khác nào ném hạt châu quý vào xó tối. Ông nên sang Kinh Châu theo Huyền Đức,
tất nhiên được trọng dụng.
Thống nói:
- Tôi cũng nghĩ thế, vừa rồi là
câu nói đùa thôi.
Túc nói:
- Tôi xin tiến cử ông với Huyền Đức,
ông sẽ giúp làm cho Tôn, Lưu hai nhà không đánh lẫn nhau, cùng chung sức phá
Tào.
Thống nói:
- Đó là ý chí của tôi từ trước đến
nay vậy!
Liền cầm thư của Túc, sang thẳng
Kinh Châu ra mắt Huyền Đức.
Bấy giờ Khổng Minh đi kinh lý bốn
quận chưa về. Nha lại vào bảo có danh sĩ ở Giang Nam là Bàng Thống đến. Huyền Đức
từng nghe tiếng Thống đã lâu, liền sai mời vào. Thống thấy Huyền Đức chỉ vái
dài một cái chứ không lạy. Huyền Đức thấy Thống xấu xí, cũng tỏ vẻ không vui,
liền hỏi:
- Ông từ xa đến đây, khí vất vả lắm
nhỉ?
Thống chưa đưa thư của Khổng Minh
và Lỗ Túc vội, chỉ đáp rằng:
- Nghe tiếng ngài yêu người hiền,
trọng kẻ sĩ, nên tôi cũng đến yết kiến.
Huyền Đức nói:
- Hai miền Kinh, Sở vừa tạm sắp xếp
yên ổn, chưa có chức gì khuyết. Về phía đông bắc cách đây một trăm ba mươi dặm,
có huyện Lỗi Dương khuyết một chức tri huyện, ông hãy làm tạm vậy, sau này cần
đến sẽ xin trọng dụng.
Bàng Thống nghĩ Huyền Đức đãi
mình sao bạc bẽo thế, muốn trổ tài ra cho biết, nhưng vì Khổng Minh không có mặt
ở đây, nên phải gượng vâng lời, từ biệt trở ra.
Thống đến huyện Lỗi Dương, không
nghĩ gì đến việc cai trị, chỉ uống rượu say khướt suốt ngày. Bao nhiêu việc tiền
lương, kiện cáo, xếp cả một xó.
Có người báo với Huyền Đức, Huyền
Đức giận, nói:
- Đồ hủ nho, sao dám làm rối loạn
pháp luật của ta?
Lập tức gọi Trương Phi lại dặn:
- Hãy đem tuỳ tùng đến các huyện
miền Nam Kinh Châu tuần sát, nếu thấy kẻ nào không công minh, không tuân giữ
pháp luật thì cứ việc trị tội.
Lại sai Tôn Càn đi kèm, để có điều
gì khó khăn thì giúp đỡ.
Phi lĩnh mệnh cùng Tôn Càn đến thẳng
huyện Lỗi Dương. Nha lại và nhân dân đều ra nghênh tiếp, chỉ một mình quan huyện
là không thấy mặt đâu cả.
Phi hỏi:
- Quan huyện đâu?
Nha lại bẩm:
- Từ khi quan huyện Bàng về nhận
chức tới giờ, đã hơn ba tháng, chẳng hỏi han gì việc trong huyện cả, ngày nào
cũng chỉ uống rượu từ sáng đến tối, lúc nào cũng say li bì. Hiện bây giờ cũng
còn đương say nằm một chỗ, chưa đứng dậy được.
Trương Phi giận lắm, muốn bắt
ngay để hỏi tội. Tôn Càn can rằng:
- Bàng Thống là người cao minh,
chưa nên vội vã. Hãy vào huyện hỏi xem làm sao, nếu không phải, sẽ trị tội cũng
chưa muộn.
Phi nghe lời, vào huyện, ngồi
nghiêm chỉnh giữa công đường, sai đòi quan huyện đến hỏi. Bàng Thống bấy giờ mới
ra, áo mũ xốc xếch, chân bước chệnh choạng, miệng còn sặc những hơi rượu.
Phi giận nói:
- Anh ta tưởng ngươi là người
khá, cho làm tri huyện, sao ngươi dám bỏ hết cả việc quan?
Thống cười, nói:
- Tướng quân bảo tôi bỏ những việc
gì?
Phi nói:
- Ngươi đến huyện hơn ba tháng
nay, cả ngày chỉ mê man chè rượu, có coi đâu đến chính sự mà chả bỏ?
Thống đáp:
- Cái thứ huyện nhỏ này được mấy
nỗi công việc, có gì mà phải coi xét? Tướng quân hãy ngồi thư lại một lát, tôi
xin giải quyết đâu đấy ngay cho mà xem!
Lập tức sai nha lại đem hết công
việc bỏ đọng trong ba tháng đến để phân xử. Nha lại tíu tít ôm cả một tập văn
án ra. Những người kiện cáo đứng vòng quanh cả dưới thềm.
Thống mở văn án ra xem, tay thì
viết, miệng thì phê phán, tai thì nghe người thưa bẩm, phải trái phân minh,
không sai một sợi tơ sợi tóc nào. Nhân dân đều cúi đầu bái phục. Chưa đầy nửa
buổi, bao nhiêu giấy má phê xong hết, không sót việc gì. Thống quẳng bút xuống
đất, nói:
- Bỏ bê việc gì nào? Tào Tháo,
Tôn Quyền ta còn chẳng coi vào đâu, huống chi một cái huyện ranh này, việc gì
mà phải bận lòng!
Phi giật mình, đứng ngay dậy, xin
lỗi, nói:
- Tiên sinh thật là bậc cao tài,
tiểu tử có mắt mà không biết. Vậy xin hết sức tiến cử tiên sinh với anh tôi.
Thống bây giờ mới đưa thư của Lỗ
Túc ra. Phi hỏi:
- Sao lúc mới đến ra mắt anh tôi,
tiên sinh không đưa ngay thư này ra?
Thống nói:
- Nếu đưa ngay thì chẳng hoá ra
tôi chỉ nhờ cái thư ấy để cầu cạnh ư?
Phi ngảnh lại bảo Tôn Càn rằng:
- Giá không có ông, suýt nữa bỏ mất
một vị đại hiền!
Liền từ biệt Bàng Thống trở về
Kinh Châu, thuật lại tài của Bàng Thống. Huyền Đức thất kinh, nói:
- Khinh đãi đại hiền, quả thực là
lỗi tại ta!
Phi lại trình thư của Lỗ Túc, Huyền
Đức mở ra xem, trong thư đại ý nói:
“Tài của Bàng Sĩ Nguyên không
phải để làm tri huyện; phải dùng vào chức trị trung biệt giá thì mới vùng vẫy
được. Nếu dùng người mà cứ nhìn mặt mũi xấu hay đẹp, e phụ mất tài học vấn của
người ta, mà để người khác dùng mất, thật đáng tiếc lắm!”
Huyền Đức xem xong, còn đang hối
hận, sực có tin báo Khổng Minh đã về. Huyền Đức ra tiếp vào. Khổng Minh hỏi
ngay rằng:
- Bàng quân sư mấy hôm nay có mạnh
khoẻ không?
Huyền Đức nói rằng:
- Vừa rồi làm tri huyện Lỗi
Dương, hay rượu bỏ cả việc.
Khổng Minh cười, nói:
- Sĩ Nguyên không phải là tài tầm
thường, ông ấy học giỏi gấp mười tôi, tôi đã có thư tiến ông ấy, chúa công đã
xem chưa?
Huyền Đức nói:
- Nếu không có em tôi nói thì
suýt nữa thiệt mất một vị đại hiền.
Lập tức sai ngay Trương Phi ra
huyện Lỗi Dương mời Bàng Thống về. Thống về đến nơi, Huyền Đức xuống thềm xin lỗi.
Lúc này Thống mới đưa thư của Khổng Minh ra.
Huyền Đức xem thư đại ý dặn khi
nào Bàng Sĩ Nguyên đến, thì nên trọng dụng ngay lập tức. Huyền Đức mừng, nói:
- Ngày trước Tư Mã Đức Tháo có
nói là “Phục Long và Phượng Sồ, trong hai người mà được một người thì đủ yên được
thiên hạ”. Nay ta được cả hai, tất nhiên gây lại được cơ đồ nhà Hán.
Lập tức cử Bàng Thống làm phó
quân sư trung lương tướng, cùng với Khổng Minh bàn tính mưu kế huấn luyện quân
sĩ, chuẩn bị đi đánh dẹp.
Có người báo về Hứa Xương rằng:
- Lưu Bị có Gia Cát Lượng, Bàng
Thống làm mưu sĩ, chiêu binh tập mã, chứa cỏ tích lương, kết liên với Đông Ngô,
nay mai tất kéo quân đánh miền Bắc.
Tháo được tin, liền họp cả mưu sĩ
lại bàn việc đánh miền Nam. Tuân Du thưa:
- Chu Du mới chết ta nên đánh Tôn
Quyền trước, rồi sẽ đánh Lưu Bị.
Tháo nói:
- Nếu ta đi đánh nơi xa, chỉ lo
Mã Đằng thừa cơ đánh úp Hứa Xương. Khi đánh ở Xích Bích đã có tin đồn quân Tây
Lương đến cướp, nay phải phòng bị mới được.
Du lại thưa:
- Cứ như ý tôi, thì nên đưa tờ
chiếu phong thêm cho Mã Đằng làm Chinh nam tướng quân, sai sang đánh Tôn Quyền,
dụ hắn vào Hứa Đô mà trừ trước ngay đi, thì mới yên tâm xuống đánh miền Nam được.
Tháo mừng lắm, sai ngay người
mang chiếu đến Tây Lương triệu Mã Đằng về.
Mã Đằng tự là Thọ Thành, dòng dõi
tướng quân Phục Ba Mã Viện khi xưa. Cha tên là Túc, thời vua Hoàn đế làm chức
tri huyện ở Lan Can, quận Thiên Thuỷ, sau mất quan, lưu lạc sang Lũng Tây, ở lẫn
với người Khương, lấy vợ người Khương, sinh ra Mã Đằng. Đằng mình cao tám thước,
tướng mạo hùng dũng, tính nết hiền hậu, ai cũng kính trọng. Cuối đời vua Linh đế,
quân Khương làm phản, Đằng mộ dân quân phá tan được. Trong khoảng giữa đời Sơ
Bình, Đằng được phong làm Chinh tây tướng quân. Đằng cùng với Trấn tây tướng quân
Hàn Toại kết làm anh em.
Hôm ấy Đằng phụng chiếu mệnh liền
bàn với con là Mã Siêu rằng:
- Ta từ khi cùng Đổng Thừa vâng mật
chiếu đến nay, hẹn với Huyền Đức cùng đánh giặc. Chẳng may Đổng Thừa mất rồi,
mà Huyền Đức thì thua mãi, ta lại ở xó Tây Lương hẻo lánh này, chưa có thể hợp
sức được với Huyền Đức.Nay nghe Huyền Đức mới lấy Kinh Châu, ta đang muốn mở
chí khí xưa, không ngờ Tào Tháo lại triệu ta, thì nên nghĩ làm sao?
Mã Siêu thưa:
- Tháo vâng mệnh thiên tử để triệu
cha, nếu không đi, hắn tất trách cha là người chống lệnh. Nên nhân dịp này, vào
ngay kinh đô rồi liệu kế mà giết phăng nó đi, thì chí của cha xưa mới nổi lên
được.
Cháu gọi Mã Đằng bằng chú là Mã Đại
thì can rằng:
- Bụng Tào Tháo hiểm độc lắm, nếu
chú vào đó, sợ bị hắn mưu hại mất.
Siêu nói:
- Con xin đem hết cả quân Tây
Lương, theo cha đánh vào Hứa Đô để trừ hại cho thiên hạ, có gì chẳng được?
Đằng nói:
- Con nên thống lĩnh quân Khương,
giữ gìn lấy Tây Lương cho cha, còn em con là Mã Hưu, Mã Thiết và cháu là Mã Đại
thì theo cả cha đến Hứa Xương. Tào Tháo thấy con ở Tây Lương, lại có Hàn Toại
giúp đỡ, tất nhiên không dám hại cha đâu!
Siêu nói:
- Nếu cha có đi, thì chớ nên coi
thường mà vào Hứa Đô vội. Hãy xem động tĩnh làm sao rồi tuỳ cơ ứng biến mới được.
Đằng nói:
- Cha sẽ liệu khu xử, không phải
lo lắm.
Thế rồi, Mã Đằng dẫn năm nghìn
quân Tây Lương, sai Mã Hưu, Mã Thiết làm tiên phong, Mã Đại đi sau tiếp ứng, từ
từ kéo sang Hứa Xương. Còn cách kinh đô hai chục dặm, Đằng đóng quân lại, không
vào vội.
Tháo nghe tin Mã Đằng đã đến, bèn
gọi quan thị lang là Hoàng Khuê dặn rằng:
- Mã Đằng sắp sửa sang đánh
phương Nam, ta cho ngươi làm hành quân tham mưu. Ngươi nên đến trại Mã Đằng trước
mà khao quân, và bảo hắn rằng: Tây Lương xa xôi, chuyển vận lương thảo khó
khăn, nên không thể nhiều quân mã được. Bởi thế, ta cử thêm đại binh, hiệp sức
cùng đi. Ngày mai bảo hắn vào thành ra mắt thiên tử, rồi ta giao lương thảo
nhân thể.
Khuê lĩnh mệnh, ra gặp Mã Đằng. Đằng
đặt tiệc khoản đãi. Rượu say, Khuê nói rằng:
- Cha tôi là Hoàng Uyển, chết về
nạn Lý Thôi, Quách Dĩ; tôi vẫn căm tức chưa nguôi, không ngờ lại gặp phải tên
giặc dối vua thế này!
Đằng nói:
- Ai là giặc dối vua?
Khuê nói:
- Tào Tháo chớ ai nữa, ông không
biết hay sau mà còn phải hỏi?
Đằng sợ là người của Tào Tháo sai
người thử mình, vội vàng ngăn lại rằng:
- Tai vách mạch rừng, ông chớ nên
nói xằng!
Khuê gắt lên rằng:
- Thế ông quên mất tờ chiếu trong
tay áo rồi à?
Đằng thấy nói vậy, biết là Khuê
thật lòng, mới đem việc kín ra nói với Khuê.
Khuê nói:
- Tháo muốn triệu ông vào thành
chầu vua, không phải có bụng tử tế gì đâu, ông chớ nên vào! Ngày mai nên dẫn
quân đến dưới thành, đợi khi nào Tào Tháo ra điểm quân, sẽ thừa dịp giết đi,
thì việc lớn chắc xong.
Hai người bàn định đâu đó, Hoàng
Khuê từ biệt trở về, trông dáng hãy còn tức giận. Vợ hỏi hai ba lần, Khuê nhất
định không nói. Không ngờ vợ lẽ Khuê là Lý Xuân Hương, vốn phải lòng Miêu Trạch,
em vợ cả Khuê. Trạch đang muốn lấy Xuân Hương nhưng chưa nghĩ được kế gì. Mụ
này thấy chồng có dáng giận, liền nói với Trạch:
- Hôm nay, Hoàng thị lang đi bàn
việc quân trở về, có vẻ tức bực lắm, không hiểu vì lẽ gì?
Trạch nói:
- Nàng nên hỏi thử rằng: “Người
ta ai cũng bảo Lưu Huyền Đức là người nhân đức, Tào Tháo là người gian hùng, là
ý làm sao?” Xem hắn nói thế nào?
Đêm hôm ấy, Hoàng Khuê đến buồng
Xuân Hương, mụ liền buông lời khêu gợi. Khuê nhân lúc này còn say rượu, nói tuột
rằng:
- Nàng là đàn bà, còn biết kẻ tà
người chính, huống chi là ta? Ta muốn giết chết ngay thằng Tào Tháo đi mới hả dạ!
Mụ hỏi:
- Muốn giết thì làm kế gì?
Khuê đáp:
- Ta đã hẹn với Mã Đằng, ngày mai
đến dưới thành thừa cơ giết ngay nó tại chỗ điểm binh.
Mụ đem chuyện nói với Miêu Trạch.
Trạch lập tức đến báo với Tào Tháo. Tháo gọi ngay Tào Hồng, Hứa Chử, Từ Hoảng,
Hạ Hầu Uyên, dặn dò mẹo mực. Các tướng vâng lệnh chuẩn bị đâu đấy. Tháo lại sai
bắt cả nhà Hoàng Khuê giam lại.
Hôm sau, Mã Đằng dẫn quân Tây
Lương đến cửa thành, trông ra trước mặt, thấy một lớp cờ đỏ, toàn là cờ hiệu thừa
tướng, Mã Đằng tưởng là Tào Tháo ra điểm quân, tế ngựa lại gần xem sao. Bỗng
nhiên một tiếng pháo nổ, rồi ở trong đám cờ đỏ, cung tên bắn ra như mưa. Lại có
một tướng xông ra, là Tào Hồng. Mã Đằng vội vàng quay ngựa chạy về, thì hai bên
tiếng reo ầm ầm nổi dậy, bên tả có Hứa Chử, bên hữu có Hạ Hầu Uyên, mé sau có Từ
Hoảng đuổi đến, cắt đôi quân mã Tây Lương, vây chặt ba cha con Mã Đằng vào giữa.
Mã Đằng thấy thế nguy cấp, liều
chết khua đao xông xáo chém giết. Mã Thiết bị tên bắn chết, còn Mã Hưu theo sát
Mã Đằng, xông bên nọ, xáo bên kia, không sao ra được; hai bố con cùng bị thương
nặng, ngựa lại bị tên bắn ngã gục, bởi thế bị bắt sống cả.
Tháo sai trói điệu bố con Mã Đằng
và Hoàng Khuê đem vào hỏi. Khuê kêu là vô tội. Tháo gọi Miêu Trạch ra làm chứng.
Mã Đằng trách mắng Hoàng Khuê rằng:
- Đồ hủ nho kia! Vì mày mà lỡ việc
của tao. Tao không giết được giặc để trừ hại cho nước là do lòng trời!
Tháo sai lôi cả ra, Mã Đằng chửi
mắng không dứt lời. Rồi Mã Đằng cùng Mã Khuê và Hoàng Khuê đều bị hại.
Đời sau có bài thơ than Mã Đằng rằng:
Cha con cùng tử tiết,
Trung trinh nổi tiếng nhà.
Lo nước, thân chi quản,
Trung vua, chết cũng là!
Máu thề, lời còn đó,
Tờ nghĩa, việc chưa xa.
Tây Lương dòng dõi tướng,
Không hổ tiếng Phục Ba!
Miêu Trạch xin với Tào Tháo rằng:
- Chúng tôi không muốn lấy thưởng
gì cả, chỉ xin cho lấy nàng Xuân Hương làm vợ.
Tháo cười nói:
- Mày vì một con đàn bà mà làm hại
mất cả một nhà chồng chị, để quân bất nghĩa này sống làm gì?
Liền sai lôi cả Miêu Trạch, Xuân
Hương và cả nhà Hoàng Khuê ra chợ chém đầu. Thiên hạ ai cũng cám cảnh cho hai đứa
ấy.
Có thơ than rằng:
Vì chút tình riêng hại kẻ
trung.
Tình riêng chưa thoả, máu ròng
ròng…
Gian hùng cũng chẳng ưa quân bạc,
Mưu tiểu nhân kia luống uổng
công!
Tào Tháo sai chiêu an đám quân mã
Tây Lương vào phủ dụ rằng:
- Cha con Mã Đằng làm phản, không
liên can đến chúng bay, không phải sợ hãi chi cả!
Tháo lại truyền cho các tướng phải
giữ chắc các cửa ải, không được cho Mã Đại chạy thoát.
Hãy nói Mã Đại dẫn một nghìn quân
đi sau, quân sĩ trốn về báo tin. Đại giật mình, bỏ cả quân mã, ăn mặc giả làm
lái buôn, đi cả ngày đêm trốn về Tây Lương.
Tào Tháo diệt xong bọn Mã Đằng rồi,
mới quyết ý sang đánh mặt Nam. Chợt được tin báo rằng Lưu Bị luyện tập quân mã,
sắm sửa khí giới, định lấy Tây Xuyên. Tháo thất kinh, nói:
- Nếu để cho Lưu Bị lấy được Tây
Xuyên, thì vây cánh y to mất. Dùng kế gì để trừ đi bây giờ?
Tháo chưa dứt lời, dưới thềm một
người tiến ra thưa rằng:
- Tôi có một mẹo này làm cho Tôn
Quyền, Lưu Bị không nhìn ngó được nhau mà Giang Nam, Tây Xuyên về cả tay thừa
tướng.
Đó là:
Hào kiệt Tây Lương vừa phải nạn,
Anh hùng nam quốc lại thêm lo.
Chưa biết người dâng kế là ai,
xem đến hồi sau sẽ hiểu.
Mã Mạnh Khởi cất quân báo thù
Tào A Man cắt râu, vứt áo
Lại nói, người dâng kế là quan thị
ngự sử Trần Quần tự Trường Văn.
Tháo hỏi:
- Trường Văn có kế gì hay?
Trần Quần thưa:
- Nay Lưu Bị, Tôn Quyền kết với
nhau như môi với răng. Nếu Lưu Bị sang lấy Tây Xuyên, thừa tướng nên sai đại tướng
đem quân ra hội với quân Hợp Phì, tắt sang đánh lấy Giang Nam. Tôn Quyền phải cầu
với Lưu Bị. Lưu Bị mải lấy Tây Xuyên chắc không lòng nào cứu Tôn Quyền. Quyền
không có cứu viện thì quân ít thế suy. Đất Giang Nam nhất định về tay thừa tướng.
Giang Nam lấy xong, thì Kinh Châu chỉ một trận là phá được. Rồi ta sẽ dần dần lấy
Tây Xuyên thế là thiên hạ bình định được cả.
Tháo nói:
- Ngươi nói hợp ý ta lắm!
Lập tức khởi ba mươi vạn đại
quân, sang lấy Giang Nam, truyền cho Trương Liêu ở Hợp Phì, phải trữ sẵn lương
thảo để cấp cho quân ăn.
Quân do thám báo tin cho Tôn Quyền.
Quyền họp cả các tướng lại bàn bạc, Trương Chiêu nói:
- Nên sai Lỗ Túc đưa thư đến Kinh
Châu, cầu cứu Huyền Đức, họp sức lại để chống nhau với Tào. Tử Kính đã làm ơn
cho Huyền Đức, chắc Huyền Đức cũng phải nghe theo. Vả Huyền Đức lại là rể Đông
Ngô, từ chối cũng khó. Nếu Huyền Đức giúp sức thì Giang Nam ta không lo gì nữa!
Quyền nghe lời, cho người đến bảo
Lỗ Túc sang Kinh Châu cầu cứu. Túc vâng mệnh, viết thư đưa sang Huyền Đức. Huyền
Đức xem xong giữ sứ giả nghỉ lại ở nhà khách và sai người ra Nam Quận mời Khổng
Minh. Khổng Minh về đến nơi, Huyền Đức đem bức thư của Lỗ Túc cho xem. Xem xong
Khổng Minh nói:
- Chẳng cần phải động đến quân
Giang Nam, mà cũng chẳng cần phải động đến quân Kinh Châu, Tào Tháo tự nhiên
không nhòm ngó đến miền đông nam nữa.
Nói đoạn, viết thư cho Lỗ Túc
nói:
“Xin cứ việc nằm cao ngủ kỹ,
không phải lo gì, nếu quân bắc đến xâm phạm. Hoàng thúc tôi tự khắc có kế đánh
lui”.
Sứ giả đi rồi, Huyền Đức hỏi rằng:
- Tào Tháo cất ba mươi vạn đại
quân hội với quân Hợp Phì rầm rộ kéo đến, tiên sinh có kế gì đánh lui được
chúng?
Khổng Minh thưa:
- Xưa nay Tào Tháo chỉ lo quân
Tây Lương, nay y giết mất Mã Đằng. Con Mã Đằng là Mã Siêu hiện đang thống lĩnh
quân Tây Lương, tất nhiên căm tức Tào Tháo lắm. Chúa công nên viết một bức thư,
kết liên với Mã Siêu, khiến hắn cất quân vào cửa ải thì Tháo còn thì giờ đâu mà
sang đánh Giang Nam nữa?
Huyền Đức mừng lắm, viết thư sai
người tin cậy mang đến Tây Lương.
Lại nói, Mã Siêu ở lại Tây Lương,
đêm ngủ mơ thấy mình nằm trên vùng đất có tuyết, một đàn hổ đến ăn thịt, giật
mình tỉnh dậy, trong bụng hồ nghi lắm, liền hợp cả tướng tá lại, nói rõ chuyện
trong mộng. Có một tướng nói rằng:
- Mộng ấy là điềm dữ lắm!
Mọi người trông xem ai, thì ra hiệu
uý Bàng Đức, tự là Lệnh Minh.
Siêu hỏi:
- Lệnh Minh thấy thế nào?
Đức thưa:
- Đất tuyết gặp hổ, mộng triệu xấu
lắm, có lẽ lão tướng quân ở Hứa Xương có việc gì chăng?
Đức nói chưa dứt lời, có một người
tất tả chạy vào, khóc lăn xuống đất nói:
- Chú và các em bị hại cả rồi!
Siêu trông ra thì là Mã Đại, Siêu
giật mình hỏi cớ làm sao. Đại nói:
- Chú với quan thị lang là Hoàng
Khuê mưu giết Tào Tháo, chẳng may chuyện lộ, đều bị chém đầu ngoài chợ. Hai em
cũng bị hại cả, chỉ một mình tôi giả làm lái buôn, trốn được về đây!
Siêu nghe nói, khóc lăn xuống đất.
Các tướng vực dậy, Siêu rít lưỡi nghiến răng lại, căm tức Tào Tháo vô cùng. Sực
có tin báo Lưu hoàng thúc ở Kinh Châu sai người mang thư đến. Siêu mở ra xem,
trong thư nói:
“Nhà Hán bất hạnh, Tào Tháo
chuyên quyền, dối vua lừa trên, tàn hại nhân dân. Tôi là Lưu Bị, khi trước cùng
với tiên quân chịu tờ mật chiếu, thề giết giặc Tháo. Nay tiên quân bị Tào Tháo
giết hại, thật là một mối thù không chung trời đất, không chung mặt trời mặt
trăng của tướng quân đó. Nếu tướng quân cất quân Tây Lương đánh phía hữu, tôi
xin cất quân Kinh Tương đánh vào trước mặt, thì có thể bắt được nghịch tặc Tào
Tháo, rửa được thù nhục, khôi phục được nhà Hán. Thư nói không thể hết lời,
mong chờ tin lại”.
Mã Siêu xem xong, gạt nước mắt,
viết thư gửi sứ giả đem về trước, rồi cất cả quân mã Tây Lương sắp sửa kéo đi.
Sực có quan thái thú Tây Lương là Hàn Toại sai người mời Mã Siêu đến chơi. Siêu
đến phủ Hàn Toại, Toại đưa tờ thư của Tào Tháo cho xem, trong thư nói: “Hễ bắt
được Mã Siêu nộp đến Hứa Đô thì phong cho làm Tây Lương hầu”. Siêu lạy thụp xuống,
nói:
- Xin chú trói cả hai anh em tôi
lại, giải về Hứa Xương, khỏi phải đánh nhau khó nhọc!
Hàn Toại đỡ Siêu dậy, bảo rằng:
- Ta đã kết làm anh em với cha
ngươi, nỡ nào hại ngươi? Nếu người cất quân đi đánh báo thù, ta giúp sức cho!
Siêu lạy tạ. Hàn Toại sai chém
ngay sứ giả của Tào Tháo, rồi điểm tám bộ quân mã, nhất tề kéo đi. Tướng tám bộ
ấy là Hầu Tuyển, Trình Ngân, Lý Kham, Trương Hoành, Lương Hưng, Thành Nghi, Mã
Ngoạn và Dương Thu. Tám tướng theo Hàn Toại, họp với thủ hạ Mã Siêu là Bàng Đức,
Mã Đại, quân sĩ cả thảy hai mươi vạn rầm rộ kéo đến Trường An.
Thái thú Trường An là Chung Do
phi báo với với Tào Tháo, một mặt dẫn quân ra bày trận cự địch. Tướng tiên
phong Tây Lương là Mã Đại, dẫn một vạn rưỡi quân đông như kiến rầm rộ kéo đến.
Chung Do ra ngựa hỏi chuyện. Mã Đại cầm thanh đao quý xông vào đánh, chưa đầy một
hiệp Do đã thua to bỏ chạy. Đại vác đao đuổi theo. Mã Siêu và Hàn Toại cũng vừa
dẫn đại quân đến, bao vây thành Trường An. Chung Do lên thành coi giữ. Trường
An nguyên là kinh đô Tây Hán khi xưa, thành cao hào sâu, khó phá ngay được. Mã
Siêu vây hơn mười hôm, đánh không núng chút nào. Bàng Đức dâng kế nói rằng:
- Trong thành này đất sỏi nước mặn,
ăn uống khó khăn, củi lại không có, nay vây mười ngày, quân dân trong ấy đói
khát. Chi bằng tạm rút quân về dùng một mẹo này… thì thành này lấy được dễ như
bỡn!
Mã Siêu nói:
- Kế ấy hay lắm!
Lập tức cho cờ lệnh truyền báo
các đội rút lui. Mã Siêu đi đốc hậu.
Hôm sau Chung Do lên mặt thành đứng
xem, thấy quân Mã Siêu rút hết cả. Do sợ có mưu kế gì, liền sai người đi thám,
quả nhiên quân Siêu đã đi xa rồi, bấy giờ mới vững dạ, mở cửa thành cho quân
dân ra kiếm củi gánh nước, kẻ đi người lại, rầm rập cả ngày.
Đến ngày thứ năm, quân Mã Siêu lại
kéo đến, quân dân tranh nhau chạy vào thành, Chung Do lại đóng cửa thành giữ vững
như trước.
Em Chung Do là Chung Tấn coi giữ
cửa tây, độ chừng canh ba bỗng thấy cửa thành có một đám lửa cháy. Tấn vội vàng
lại cứu, bỗng có một người giơ đao xốc ngựa tới quát to lên rằng:
- Bàng Đức ở đây!
Chung Tấn chưa kịp trở tay, đã bị
Bàng Đức chém lăn xuống ngựa, rồi đánh tan cả đám quân sĩ, chặt khoá, mở toang
cửa thành cho quân Mã Siêu, Hàn Toại kéo vào. Chung Do bỏ thành theo cửa đông
chạy trốn.
Mã Siêu và Hàn Toại lấy được
thành trì, khao thưởng ba quân. Chung Do rút về giữ ải Đồng Quan, phi báo cho
Tào Tháo. Tháo thấy mất Trường An, không dám bàn đến việc đánh miền nam nữa, liền
sai Tào Hồng, Từ Hoảng dẫn một vạn quân mã đi trước, và dặn rằng:
- Các ngươi ra thay cho Chung Do
giữ cửa ải cho vững, trong mười ngày mà mất cửa ải sẽ bị chém cả; ngoài mười
ngày thì không can gì đến các ngươi, ta sẽ dẫn đại quân đi sau.
Hai tướng vâng mệnh cất quân đi
ngay.
Tào Nhân can rằng:
- Tào Hồng tính nóng nảy lắm, tôi
e lỡ việc mất.
Tháo nói:
- Ngươi tải lương thảo đi theo,
ta đến sau tiếp ứng.
Tào Hồng, Từ Hoảng thay Chung Do
giữ vững ải, nhất định không ra đánh. Mã Siêu dẫn quân đến dưới ải, hò cả từ tổ
ba đời nhà Tào Tháo ra chửi mắng. Tào Hồng giận lắm, muốn đem quân ra đánh. Từ
Hoảng can rằng:
- Đó là Mã Siêu cố trêu tức để tướng
quân ra đánh nhau đấy. Ta chớ nên ra, đợi khi nào thừa tướng đến, tự khắc có kế
hay.
Quân Mã Siêu ngày đêm thay phiên
nhau chửi bới. Tào Hồng chỉ muốn đánh, Từ Hoảng cố kìm lại không cho ra. Đến
hôm thứ chín, Tào Hồng đứng trên cửa ải nhìn xem, thấy quân Tây Lương bỏ cả ngựa,
ngồi chơi trên đám cỏ trước cửa ải, nhiều người mỏi mệt, nằm ngủ lăn cả ra đất.
Tào Hồng liền dẫn ba nghìn quân kéo xuống. Quân Tây Lương bỏ cả ngựa, vất cả
giáo mà chạy. Hồng đuổi theo. Bấy giờ Từ Hoảng đang đi kiểm soát xe lương trên ải,
nghe tin Tào Hồng xuống đánh nhau, Hoảng sợ vội vàng dẫn quân theo xuống, gọi
Tào Hồng trở về. Bỗng ở mé sau, tiếng reo nổi lên ầm ĩ. Mã Đại kéo quân đánh tới.
Tào Hồng, Từ Hoảng vội vàng chạy về. Bỗng một hồi trống khua vang, rồi ở sau
núi có hai toán quân ra chặn đường: tả thì Mã Siêu, hữu thì Bàng Đức. Tào Hồng
cầm cự không nổi, mất hơn nửa quân, chọc thủng vòng vây, chạy về ải. Quân Tây
Lương đuổi đánh rát quá, Hồng phải bỏ cửa ải chạy. Bàng Đức đuổi mãi ra khỏi
ngoài cửa Đồng Quan, thì gặp quân mã Tào Nhân kéo đến, cứu được Tào Hồng. Mã
Siêu tiếp ứng Bàng Đức về ải.
Tào Hồng mất Đồng Quan, chạy về
ra mắt Tào Tháo. Tháo hỏi:
- Ta hẹn cho ngươi mười ngày, sao
chín ngày đã để mất cửa ải?
Hồng thưa:
- Quân sĩ Tây Lương sỉ nhục trăm
chiều, lại thấy quân nói mệt mỏi, thừa thế xuống đánh, không ngờ mắc phải kế
gian.
Tháo nói:
- Hồng nó còn ít tuổi, nông nổi,
Từ Hoảng, ngươi phải hiểu chứ!
Hoảng thưa:
- Tôi can mãi không được. Khi ấy
tôi đang điểm xe lương trên ải, đến lúc biết tin thì Hồng đã xuống mất rồi. Tôi
sợ sinh chuyện, vội vàng theo xuống, thì đã mắc mẹo!
Tháo nổi giận, quát sai đem Tào Hồng
ra chém. Các tướng kêu van mãi Tháo mới tha. Hồng tạ tội lui ra.
Tháo tiến quân đến thẳng Đồng
Quan. Tào Nhân nói rằng:
- Nên lập cho vững doanh trại đã,
rồi sẽ đánh nhau!
Tháo nghe lời, sai chặt cây lập
ra ba trại; trại tả thì Tào Nhân giữ, trại hữu thì Hạ Hầu Uyên giữ, còn Tào
Tháo ở trại giữa.
Hôm sau, Tháo dẫn tướng sĩ ba trại
đến trước cửa ải, vừa gặp quân mã Tây Lương cũng tới. Hai bên dàn trận. Tháo cưỡi
ngựa đứng dưới cửa cờ, nhìn quân Tây Lương, người người hùng dũng, tướng tướng
anh hùng; lại thấy Mã Siêu, mặt như nhồi phấn, môi tựa thoa son, lưng hổ, tay
vượn, thế hùng lực mạnh, mình mặc áo giáp bạc, tay cầm ngọn giáo dài, cưỡi ngựa
đứng trước cửa trận, bên tả có Bàng Đức, bên hữu có Mã Đại.
Tháo trong bụng khen thầm, xốc ngựa
tới bảo Siêu rằng:
- Ngươi là con cháu danh tướng
nhà Hán, sao dám làm phản?
Siêu nghiến răng lại, quát mắng:
- Bớ giặc Tào! Mày dối vua lừa
trên, tội đáng chết lắm! Mày hại cha tao và em tao, thù này chẳng đội trời
chung! Tao quyết bắt sống mày, nhai tươi thịt mày mới hả!
Nói xong, Siêu vác giáo xông tới.
Vu Cấm ở sau lưng Tào Tháo nhảy ra. Hai ngựa giao nhau, độ tám chín hiệp, Vu Cấm
địch không nổi chạy về. Trương Cáp ra đánh, được hai mươi hiệp cũng thua chạy.
Tiếp đến Lý Thông, Siêu gắng sức đánh, được vài hiệp, Siêu đâm Thông chết lăn
xuống ngựa. Siêu vẫy ngọn giáo một cái, quân Tây Lương kéo ùa cả ra, quân Tào
thua liểng xiểng, các tướng tá cũng không sao địch nổi. Mã Siêu, Bàng Đức, Mã Đại
dẫn hơn trăm kỵ binh xông vào trung quân bắt Tào Tháo, Tháo ở trong đám loạn
quân, nghe thấy quân Tây Lương hô rằng:
- Thằng mặc áo bào đỏ, chính là
Tào Tháo đấy!
Tháo vội vàng cởi ngay áo đỏ
quăng đi. Lại nghe thấy hô:
- Thằng râu dài chính là Tào
Tháo!
Tháo vội cầm thanh gươm cắt trụi
cả râu. Có người biết, báo với Mã Siêu, Siêu lại sai người hô:
- Thằng nào trụi râu, đó là Tào
Tháo, cứ thằng ấy mà bắt!
Tháo luống cuống không biết làm
thế nào, xé ngay miếng vải cờ, quấn bịt kín cằm chạy trốn.
Đời sau có thơ rằng:
Mạnh Đức hồn bay quẳng áo bào.
Ngân nỗi râu ria đều cắt trụi,
Mã Siêu nổi tiếng bậc tài cao!
Tào Tháo đang chạy bỗng sau lưng
có một người cưỡi ngựa đuổi tới. Tháo ngoảnh nhìn lại, thì chính là Mã Siêu,
Tháo rụng rời hồn vía. Các tướng tá thấy Mã Siêu, ai cũng bỏ chạy thoát thân,
chỉ còn trơ một mình Tào Tháo. Siêu quát lên rằng:
- Tào Tháo chớ chạy nữa!
Tháo run sợ quá tuột cả roi ngựa
xuống đất. Siêu đuổi đến nơi, phóng một ngọn giáo, nhưng vì Tháo chạy vòng
quanh một gốc cây nên mũi giáo trúng vào thân cây. Khi Siêu rút được giáo ra
thì Tào Tháo đã chạy xa rồi. Siêu tế ngựa đuổi gấp. Bỗng ở sườn núi có một tướng
nhảy xổ ra, thét to lên rằng:
- Chớ được hại chủ ta! Có Tào Hồng
ở đây!
Nói đoạn, vác đao xông vào chặn
đánh Mã Siêu. Tháo nhân đó chạy thoát.
Tào Hồng đánh nhau với Mã Siêu bốn
mươi hiệp. Đường đao Tào Hồng dần dần rối loạn, khí lực suy kiệt, may có Hạ Hầu
Uyên dẫn vài chục kỵ binh đến cứu. Mã Siêu chỉ có một mình, sợ không đương nổi,
liền quay ngựa trở về. Hạ Hầu Uyên cũng không đuổi theo nữa.
Tháo về đến trại, nhờ có Tào Nhân
cố chết giữ vững nên không thiệt mấy quân. Tháo vào trướng, than rằng:
- Nếu ta giết mất Tào Hồng thì
hôm nay tất chết về tay Mã Siêu rồi!
Liền trọng thưởng cho Tào Hồng, rồi
thu thập quân mã, cố giữ doanh trại, không ra đánh nữa.
Siêu ngày nào cũng dẫn quân đến
trước trại, chửi mắng thách đánh. Tháo truyền lệnh cho tướng sĩ, cấm ra khỏi trại,
nếu không tuân lệnh thì chém.
Các tướng bẩm rằng:
- Quân Tây Lương dùng giáo dài cả,
ta nên dùng cung nỏ để chống lại.
Tháo mắng rằng:
- Đánh hay không đánh là do ta định
đoạt chớ không tại giặc. Giặc tuy có giáo dài, dễ đã đâm ngay được ta chăng?
Các ngươi cứ giữ gìn cho vững, tự giặc phải lui.
Các tướng nói vụng với nhau rằng:
- Thừa tướng từ trước đến giờ mỗi
lần đi trận, đều xông lên đầu, thế mà hôm nay mới bị thua Mã Siêu, sao đã nhát
làm vậy?
Qua vài hôm, có quân thám về báo
rằng:
- Mã Siêu mời thêm hai vạn quân
tinh nhuệ đến, toàn là bộ lạc người Khương cả.
Tháo nghe tin, mừng lắm. Các tướng
hỏi:
- Mã Siêu thêm quân, thừa tướng lại
mừng là cớ làm sao?
Tháo nói:
- Để khi nào phá xong Mã Siêu, ta
sẽ nói cho các ngươi hay.
Sau ba hôm sau, có tin báo trên ải
lại thêm quân mã. Tháo càng hớn hở mừng rỡ, mở tiệc ăn mừng ở trong trại. Các
tướng đều cười thầm.
Tháo hỏi:
- Các ngươi cười ta không có kế
hoạch gì phá được Mã Siêu, vậy các ngươi có kế gì hay không?
Từ Hoảng thưa rằng:
- Nay thừa tướng đóng đại quân ở
đây, quân giặc cũng đóng toàn quân trên cửa ải. Ở mé tây Vị Hà, tất không có
người phòng giữ. Nên cho một đạo quân đi tắt lẻn sang bến Bồ Bản, chặn đường về
của giặc; thừa tướng thì đem quân sang phía bắc sông mà đánh. Giặc trước sau
không cứu ứng được nhau, chắc sẽ nguy khốn!
Tháo nói:
- Lời Công Minh chính hợp ý ta!
Liền sai ngay Từ Hoảng dẫn bốn
nghìn tinh binh cùng Chu Linh sang đánh úp phía tây Hoàng Hà, phục ở trong hang
núi, đợi quân Tào sang phía bắc sông, sẽ cùng đánh luôn một thể.
Hai tướng lĩnh mệnh dẫn quân đi.
Tháo lại sai Tào Hồng ra bến Bồ Bản trước sắm sửa thuyền bè, để Tào Nhân ở lại
giữ trại, còn mình thì dẫn đại quân sang qua Vị Hà.
Quân thám báo tin cho Mã Siêu biết.
Siêu nói rằng:
- Tào Tháo không đánh mặt Đồng
Quan, mà sắm sửa thuyền bè, muốn sang mé bắc Vị Hà, tất là chặn đường của ta.
Tôi dẫn quân đến giữ bờ bắc. Tháo không sang được, nội trong hai mươi ngày,
lương ở mé bờ đông hết, quân Tháo tất loạn, lúc ấy ta sẽ men bờ sông phía nam
đuổi đánh, chắc bắt sống được Tháo.
Hàn Toại nói:
- Không cần phải làm thế! Cháu
không nghe trong binh pháp có câu: “Quân giặc sang sông đến nửa chừng sẽ đánh”
đó ư? Đợi khi quân Tào ra đến giữa sông, cháu sẽ tự mé nam đánh ập đến. Quân
Tháo tất nhiên chết đuối cả.
Siêu nói:
- Lời chú hay lắm!
Liền sai người đi dò giờ giấc Tào
Tháo sang sông.
Lại nói, Tào Tháo chỉnh đốn hàng
ngũ, chia làm ba toán, lần lượt qua Vị Hà. Khi đến cửa sông, thì mặt trời mới mọc.
Tháo cho quân tinh binh sang trước lập dinh trại, còn mình thì cùng với hơn một
trăm tướng tá hộ vệ, gươm tuốt cầm tay, ngồi xem quân sĩ sang đò. Chợt có tin
báo rằng:
- Ở mé sau, có tướng mặc áo bào
trắng xông đến.
Quân sĩ biết là Mã Siêu, liền ùa
xuống cả thuyền, tranh giành cãi cọ ầm ĩ. Tháo vẫn ngồi yên trỏ gươm quát quân
sĩ không được ồn ào. Bỗng thấy người reo ngựa hí sầm sập kéo đến. Dưới thuyền
có một tướng nhảy vọt lên bờ, kêu lên rằng:
- Giặc đến nơi rồi! Xin thừa tướng
xuống thuyền ngay!
Tháo nhìn xem ai thì là Hứa Chử.
Tháo còn nói cứng:
- Giặc đến thì mặc nó, việc gì mà
sợ?
Nói đoạn, ngoảnh lại đã thấy Mã
Siêu chỉ còn cách độ trăm bước. Hứa Chử vội vàng cõng Tào Tháo xuống thuyền thì
thuyền còn cách bờ những hơn một trượng. Chử nhảy vọt một cái đến được. Các tướng
sĩ thì nhảy cả xuống nước, níu lấy mạn thuyền, tranh nhau trèo lên; thuyền nhỏ
trành đi, sắp ụp. Chử rút gươm chém lia lịa vào mạn thuyền, cánh tay rơi xuống
nước rào rào, rồi sai bơi thuyền đi cho mau. Chử đứng trên mũi thuyền, cầm sào
đẩy. Tháo ngồi thụp ở cạnh chân Hứa Chử. Khi Mã Siêu đến nơi, thì thuyền Tháo
đã ra xa rồi, Siêu giương cung đặt tên, và sai các tướng cùng bắn ra ào ào. Chử
sợ Tháo bị thương, liền dùng tay trái cầm yên ngựa che đỡ cho Tháo.
Mã Siêu xưa nay bắn không sai
phát nào, mấy chục người chở thuyền đều bị chết lăn xuống sông. Thuyền tròng
trành, loanh quanh ở trong dòng nước chảy xiết. Chử một mình ra sức, hai đùi kẹp
lấy bánh lái mà lái, còn một tay đẩy sào, một tay thì che cho Tào Tháo.
Bấy giờ có tri huyện Vị Nam là
Đinh Phi ở trên Nam Sơn, thấy Mã Siêu đuổi Tào Tháo gấp lắm, sợ Siêu hại mất
Tào Tháo, liền thả cả trâu ngựa trong trại ra: ngoài đồng, trên núi, nhan nhản
những trâu cùng ngựa. Quân Tây Lương thấy vậy đều quay lại tranh nhau bắt trâu
ngựa, không nghĩ đến đuổi bắt Tào Tháo nữa, vì thế Tháo được thoát nạn. Khi
sang đến bên kia sông, các tướng nghe tin Tào Tháo chạy nạn, vội vàng đến cứu,
thì Tháo đã lên bờ rồi. Hứa Chử mặc hai áo giáp, tên cắm chi chít.
Các tướng rước Tháo vào trại, rồi
sụp lạy vấn an.
Tháo cười, nói:
- Suýt nữa ta chết về tay thằng
giặc ranh con!
Hứa Chử nói:
- Giá không có người thả trâu ngựa
để dử giặc, thì thế nào giặc cũng qua sông đuổi theo.
Tháo hỏi người đó là ai. Có người
biết là Đinh Phi, thưa với Tháo. Một lát Đinh Phi vào ra mắt, Tháo tạ ơn nói:
- Nếu không có mưu hay của ông
thì tôi đã bị giặc bắt rồi.
Liền phong cho Phi làm điển phong
hiệu uý.
Phi nói:
- Giặc tuy tạm lui, nhưng thế nào
ngày mai cũng còn đến, thừa tướng nên tìm kế chống cự.
Tháo nói:
- Ta đã chuẩn bị đâu đấy cả rồi!
Lập tức sai các tướng đắp một con
rạch ở bờ sông tạm làm chân trại. Khi giặc kéo đến, sẽ dàn quân ra ngoài con trạch,
bên trong cắm đầy cờ quạt làm nghi binh. Lại đào rãnh sâu ven sông, trên che
phên kín, rồi đem quân ra dử giặc. Giặc xô đến tất bị sa hố, tiêu diệt rất dễ.
Mã Siêu về nói chuyện với Hàn Toại
rằng:
- Tôi sắp sửa tóm được Tào Tháo
thì có một tướng cố sức cõng Tháo nhảy xuống thuyền, không biết là ai?
Toại nói:
- Ta nghe Tào Tháo kén người cực
khoẻ cho làm thị vệ dưới trướng, gọi là hổ vệ quân; có kiêu tướng là Điển Vi, Hứa
Chử lĩnh quân ấy. Điển Vi đã chết rồi, nay cứu Tào Tháo hẳn là Hứa Chử. Người ấy
khoẻ mạnh lạ thường, ai cũng gọi là con hổ đại, nếu gặp hắn chớ nên khinh địch.
Siêu nói:
- Tôi cũng nghe tiếng hắn đã lâu!
Toại nói:
- Tào Tháo sang sông, tất đánh mé
sau ta, ta nên đánh cho nhanh, chớ để thành lập thành doanh trại thì khó trừ được.
Siêu nói:
- Cứ như ý cháu, chỉ nên giữ gìn
mặt bắc không cho chúng sang sông là hay hơn cả.
Toại nói:
- Có phải thế thì cháu ở lại giữ
trại, để ta dẫn quân men theo bờ sông đến đánh Tào Tháo, ý cháu thế nào?
Siêu nói:
- Xin cho Bàng Đức làm tiên
phong, đi theo với chú.
Hàn Toại dẫn Bàng Đức và năm vạn
quân, đến thẳng Vị Nam, Tháo sai các tướng ra ngoài đường con trạch dử giặc.
Bàng Đức dẫn một nghìn thiết kỵ xông vào, tiếng hò reo nổi lên, cả người lẫn ngựa
đều sa xuống hố, Bàng Đức nhảy vọt một cái, lên khỏi hố, giết được mấy người,
đánh ra được ngoài vòng vây. Hàn Toại bị vây chặt, Đức lại đi bộ đánh vào cứu
Hàn Toại. Đang đánh, gặp bộ tướng của Tào Nhân là Tào Vinh, Đức chém một nhát
chết luôn, rồi cướp ngay lấy ngựa, đánh mở một đường máu, cứu được Hàn Toại, chạy
về phía nam. Sau lưng, quân Tào đuổi đánh, Mã Siêu dẫn quân ra tiếp ứng, phá
tan quân Tào, cứu được hơn một nửa quân mã nữa. Đánh mãi đến chiều, mới thu
quân về, kiểm điểm lại, thì mất hai tướng là Trình Ngân, Trương Hoành và hơn
hai trăm người chết ở dưới hố.
Mã Siêu bàn với Hàn Toại rằng:
- Nếu để lôi thôi lâu ngày, Tào
Tháo lập xong dinh trại ở Hà Bắc, thì khó lòng đánh được nữa. Chi bằng đêm nay
dẫn quân đến cướp trại.
Toại nói:
- Nên chia quân làm hai cánh,
cánh đi trước, cánh đi sau, để cứu ứng lẫn nhau.
Siêu tự mình làm tiền đội, sai
Bàng Đức, Mã Đại làm hậu ứng, đêm hôm ấy cất quân đi.
Tào Tháo thu quân về đóng ở mé bắc
sông Vị, gọi các tướng lại bảo rằng:
- Giặc thấy ta chưa lập xong
doanh trại, tất đến đánh cướp. Ta nên phục quân bốn mặt, bỏ trống ở giữa, đợi
khi nào giặc kéo vào, ta nổi hiệu pháo lên, bốn mặt đổ ra mà đánh, chắc là bắt
được.
Các tướng vâng lệnh, bố trí đâu
vào đấy cả.
Đêm hôm ấy, Mã Siêu sai Thành
Nghi dẫn ba mươi kỵ binh đi trước do thám, Thành Nghi thấy không có quân mã
ngăn cản, liền xông thẳng vào giữa trại. Quân Tào thấy quân Tây Lương đến, nổi
hiệu pháo lên, quân phục bốn mặt đổ ra, nhưng chỉ vây được ba mươi tên lính kỵ.
Thành Nghi bị Hạ Hầu Đôn giết. Mã Siêu từ mé sau, cùng với Bàng Đức, Mã Đại,
chia quân làm hai đường rầm rộ kéo đến.
Đó là:
Cự sao tướng khoẻ kéo ùa vào?
Chưa biết được thua thế nào, xem
hồi sau sẽ rõ.
HỒI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
Hứa Chử cởi trần đánh Mã Siêu
Tào Tháo xóa thư lừa Hàn Toại
Đêm hôm ấy, hai bên đánh nhau mãi
đến sáng mới thu quân. Mã Siêu đóng quân ở Vị Khẩu, thường thường chia quân đến
đánh trại Tào Tháo. Tháo sai ghép cả thuyền bè ở trong sông Vị Hà thành ba lớp
cầu nổi nối liền với bờ nam. Lại sai Tào Nhân lập một trại ở cạnh sông, bố trí
hàng rào xe tải lương chung quanh. Mã Siêu được tin, truyền cho quân sĩ mỗi người
mang một bó cỏ và đồ dẫn hoả, cùng với Hàn Toại kéo quân đến trước trại xếp cỏ
thành đống rồi châm lửa đốt cháy đùng đùng. Quân Tào địch không nổi phải bỏ trại
chạy. Xe cộ, cầu nổi, đều bị cháy sạch cả. Quân Tây Lương được to, chẹn ngang Vị
Hà.
Tào Tháo lập trại không được,
trong bụng lo buồn, Tuân Du hiến kế rằng:
- Nên lấy đất cát Vị Hà đắp một
toà thành thì mới giữ vững được!
Tháo sai ngay ba vạn quân gánh đất
đắp thành. Mã Siêu lại cho Bàng Đức, Mã Đại, mỗi người dẫn năm trăm quân mã, đến
quấy rối. Đất cát không chắc, quân Tào đắp xong lại đổ. Tháo không biết tính thế
nào.
Bấy giờ vào cuối mùa thu, khí trời
lạnh ngắt, mây đỏ dày đặc, suốt mấy ngày chưa thấy quang đãng. Tháo đương ngồi
buồn trong trại bỗng có tin báo một ông cụ già xin vào ra mắt để hiến kế!
Tháo sai mời vào, thấy người ấy
hình thông cốt bạc, dáng điệu gầy gò. Hỏi ra thì là người ở Kinh Triệu, ẩn náu ở
núi Chung Nam, tên là Lâu Tử Bá, đạo hiệu là Mộng Mai cư sĩ. Tháo tiếp đãi tử tế.
Tử Bá nói rằng:
- Thừa tướng muốn qua Vị Hà lập
trại đã lâu, sao không nhân dịp này đắp thành ngay đi?
Tháo nói:
- Đất đây toàn cát, đắp mãi không
xong, ẩn sĩ có kế gì hay chỉ bảo giúp cho.
Tử Bá nói:
- Thừa tướng dùng binh như thần,
há lại không biết thiên văn? Mấy hôm nay mây mù dày đặc, hễ động có gió bắc là
nước đông lại thành băng. Thừa tướng nên đợi lúc có gió sai quân sĩ gánh đất
múc nước, trộn vào, chỉ một đêm là đắp xong được thành.
Tháo mừng lắm, hậu thưởng cho Tử
Bá. Tử Bá không chịu nhận, đi ngay.
Đêm hôm ấy, quả nhiên có gió bắc
thổi. Tháo sai hết thảy quân sĩ ra gánh đất, khiêng nước, khâu những túi đựng
nước tưới vào, đắp đến đâu đông đến đấy. Vừa sáng thành đã đắp xong.
Quân do thám báo tin cho Mã Siêu,
Siêu dẫn quân lại xem, giật nảy mình, ngờ có thần giúp đỡ. Hôm sau, triệu cả
quân sĩ đánh trống tiến lên. Tháo cỡi ngựa ra cửa trại, chỉ có một mình Hứa Chử
theo sau. Tháo giơ roi gọi lớn:
- Tào Mạnh Đức một mình đến đây,
mời Mã Siêu ra nói chuyện.
Siêu cưỡi ngựa vác giáo xông ra.
Tháo nói:
- Ngươi tưởng ta không lập nổi
dinh trại, nay có một đêm, trời đã đã giúp cho ta xong rồi, sao ngươi không
hàng đi cho sớm sủa?
Mã Siêu giận lắm, muốn xốc tới bắt
sống lấy Tào Tháo, bỗng thấy sau lưng Tào Tháo có một tướng trợn mắt tròn xoe,
tay lăm lăm thanh đại đao, kìm ngựa đứng nhìn.
Siêu đoán là Hứa Chử, trỏ roi hỏi
rằng:
- Ta nghe trong đám này, có một Hổ
hầu, ở đâu?
Hứa Chử vác đao thét lớn:
- Ta là Hứa Chử ở Tiêu Quận đây!
Mắt Chử nảy hào quang, oai phong
thật lẫm liệt. Siêu không dám xông sang nữa, phải quay ngựa trở về.
Tháo cũng đem Hứa Chử về trại.
Quân đôi bên thấy vậy, ai cũng ngạc nhiên.
Tháo bảo với các tướng rằng:
- Giặc cũng biết Trọng Khang là Hổ
hầu!
Từ đó, ai cũng gọi Hứa Chử Hổ hầu.
Hứa Chử nói:
- Ngày mai tôi quyết bắt sống Mã
Siêu.
Tháo nói:
- Mã Siêu khoẻ mạnh dị thường,
không nên khinh địch!
Chử nói:
- Tôi tình nguyện đánh nhau với
nó, chết thì thôi!
Lập tức sai người đưa chiến thư,
nói Hổ hầu thách Mã Siêu ngày mai quyết chiến.
Siêu xem thư, nổi giận nói:
- Sao dám khinh nhau thế?
Bèn phê vào thư là ngày mai thề
giết chết con “hổ dại”.
Hôm sau đôi bên kéo nhau ra dàn
trận. Siêu sai Bàng Đức làm cánh tả, Mã Đại làm cánh hữu, Hàn Toại áp quân đứng
giữa. Siêu vác giáo ghìm ngựa trước cửa trận, gọi to rằng:
- Hổ dại! Ra đây mau!
Tào Tháo đứng dưới cửa cờ, ngoảnh
lại bảo các tướng rằng:
- Mã Siêu không kém gì Lã Bố khi
xưa!
Tháo nói chưa dứt lời, Hứa Chử đã
múa đao tế ngựa chạy ra. Mã Siêu vác giáo xông lại đánh. Hai bên đấu nhau hơn một
trăm hiệp, chưa phân thắng bại, mà ngựa đã kiệt sức. Hai người đều phải trở về
thay ngựa, rồi lại ra trận đánh nhau non trăm hiệp nữa, vẫn chưa ngã ngũ ra
sao. Chử nổi xung lên chạy ngay về, cởi cả áo giáp và mũ, mình trần trùng trục,
vác giáo tế ngựa ra quyết chiến. Hai bên quân sĩ rất sợ hãi. Đánh được ba mươi
hiệp, Chử ráng sức giơ đao bổ xuống đầu Mã Siêu. Siêu tránh ngay được, đâm luôn
một giáo vào giữa rốn Chử. Chử vội vàng quẳng đao, túm luôn ngọn giáo.
Hai người ngồi trên ngựa giằng
nhau, Chử khoẻ quá, bẻ ngọn giáo đánh rắc một cái gãy ngay làm đôi. Mỗi người cầm
nửa cán giáo gãy, giọt nhau lộn bậy. Tháo sợ Chử núng thế, sai Hạ Hầu Uyên, Tào
Hồng ra đánh giúp. Bên này hai cánh quân thiết kỵ của Bàng Đức, Mã Đại thấy vậy
cũng xô cả vào đánh tới tấp. Quân Tháo rối loạn. Cánh tay Hứa Chử bị hai mũi
tên. Các tướng hoảng sợ rút về trại, Siêu đuổi riết đến bờ sông. Quân Tháo thiệt
hại quá nửa. Tháo sai đóng chặt cửa lại, không ra nữa.
Mã Siêu về đến Vị Khẩu, nói với
Hàn Toại rằng:
- Tôi chưa thấy ai đánh nhau dữ dội
như Hứa Chử, quả thực là “hổ dại”.
Lại nói, Tào Tháo liệu không dùng
sức đánh Mã Siêu được, thấy phải dùng mẹo mới xong. Bèn sai Từ Hoảng, Chu Linh
sang mé tây Vị Hà lập trại để đánh kẹp lại. Một hôm, Tháo đứng trên mặt thành
trông thấy Mã Siêu dẫn vài trăm quân kỵ đến thẳng dưới thành, đi lại như bay.
Nhìn một lúc lâu, Tháo quẳng mũ xuống đất, than rằng:
- Thằng ranh này còn sống thì ta
chưa biết chết chôn vào đâu đây!
Hạ Hầu Uyên nghe Tháo nói thế,
trong bụng căm giận, kêu lên rằng:
- Tôi thà rằng chết ở chỗ này, thề
quyết giết giặc Mã!
Nói đoạn, dẫn hơn một nghìn quân
bản bộ, mở tung cửa thành kéo đi. Tháo ngăn lại cũng không được, sợ xảy ra rủi
ro, vội vàng cũng lên ngựa kéo ra tiếp ứng.
Mã Siêu thấy quân Tào Tháo kéo đấn,
liền đổi tiền quân làm hậu quân, hậu quân làm tiền quân, xếp hàng chữ nhất. Hạ
Hầu Uyên đến, Mã Siêu đón đánh. Siêu đang đánh, liếc mắt trông thấy Tào Tháo liền
bỏ ngay Uyên, xông tới bắt Tào Tháo. Tháo thất kinh, quay ngựa chạy. Quân Tào rối
loạn tơi bời.
Đang mải đuổi đánh, sực có tin
báo Tháo có một đạo quân, đã sang mé tây. Vị Hà, hạ trại xong rồi. Siêu giật
mình, không dám đuổi nữa, lập tức thu quân về trại, bàn với Hàn Toại rằng:
- Quân Tào thừa cơ lẻn sang mé
tây Vị Hà, quân ta trước sau cùng bị đánh cả, thì làm thế nào?
Bộ tướng của Hàn Toại là Lý Kham
nói rằng:
- Chi bằng hãy cắt đất xin hoà,
đôi bên tạm thu quân, đợi sang xuân ấm áp, bấy giờ sẽ lại liệu.
Hàn Toại nói:
- Lý Kham nói phải lắm, nên nghe.
Mã Siêu còn dùng dằng chưa quyết,
Dương Thu, Hầu Tuyển cũng khuyên thêm. Bởi thế Hàn Toại sai ngay Dương Thu mang
thư sang trại Tào Tháo, xin cắt đất cầu hoà.
Tháo nói:
- Ngươi hãy về trại, ngày mai ta
sẽ trả lời.
Dương Thu từ biệt ra về.
Giả Hủ vào ra mắt Tào Tháo, nói rằng:
- Chủ ý thừa tướng thế nào?
Tháo hỏi lại:
- Ngươi nghĩ thế nào?
Hủ thưa:
- Phép binh tha hồ lừa dối, nên
giả vờ cầu hoà, rồi dùng kế phản gián, khiến cho Hàn, Mã nghi ngờ lẫn nhau, chỉ
một trận là phá được.
Tháo vỗ tay, reo lên:
- Những người cao kiến trong
thiên hạ có nhiều điều hợp ý nhau thật! Mưu của Văn Hoà cũng đúng như ý ta.
Rồi sai người đưa thư cho Mã
Siêu, nói:
- Đợi ta dần dần rút quân về, và
trả lại cho ngươi mảnh đất phía tây Hoàng Hà.
Một mặt sai bắc cầu nổi, làm ra vẻ
chuẩn bị rút quân thật.
Mã Siêu được thư, bàn với Hàn Toại
rằng:
- Tào Tháo tuy bằng lòng giảng
hoà, nhưng hắn nham hiểm lắm, nếu không đề phòng, e có điều lừa dối gì chăng? Vậy
tôi với chú, nên thay phiên nhau: ngày hôm nay, tôi địch với Tào Tháo, thì chú
địch với Từ Hoảng, ngày mai tôi địch với Từ Hoảng, thì chú địch với Tào Tháo,
chia nhau phòng bị kẻo lại mắc lừa.
Hàn Toại theo đúng kế ấy.
Có người báo cho Tào Tháo biết.
Tháo bảo với Giả Hủ rằng:
- Mẹo ta chắc xong!
Liền hỏi tả hữu xem ngày mai quân
địch cử ai giữ về mặt mình? Tả hữu bẩm Hàn Toại.
Hôm sau,Tháo dẫn các tướng ra trại,
tướng tá vây quanh, Tháo một mình oai vệ đi giữa. Quân Hàn Toại nhiều người
không biết mặt Tào Tháo, tranh nhau dòm xem. Tháo gọi to bảo rằng:
- Quân chúng bay muốn xem Tào
công à? Ta cũng là người, không phải bốn mắt hai miệng gì, chỉ có nhiều mưu mẹo
thôi.
Quân sĩ nghe thấy cùng sợ hãi.
Tháo sai người sang nói với Hàn Toại rằng:
- Thừa tướng muốn Hàn tướng quân
ra nói chuyện.
Hàn Toại ra trận, thấy Tào Tháo
không mặc áo giáp và cầm đồ khí giới gì cả, cũng cởi áo giáp và mặc đồ nhẹ. Hai
người cầm cương ngựa đứng đối diện nói chuyện.
Tháo nói:
- Tôi khi xưa cùng với tướng quân
đỗ một khoa hiếu liêm. Tôi coi tiên quân như hàng chú tôi. Tôi với tướng quân
cùng làm quan triều đình, đến nay cũng đã lâu lắm rồi, không biết tướng quân
năm nay bao nhiêu tuổi nhỉ?
Hàn Toại đáp:
- Tôi năm nay đã bốn mươi tuổi.
Tháo nói:
- Khi xưa ở kinh đô đều thanh
xuân trai trẻ cả, ngày tháng thấm thoắt thế mà nay tuổi đã trung tuần rồi, ước
gì thiên hạ được thái bình, để được vui vẻ với nhau thì hay lắm!
Tháo chỉ nói tỉ mỉ việc ngày xưa,
không hề đả động đến việc việc đánh nhau chút nào. Nói xong lại cười ầm lên.
Hai người trò chuyện một lúc lâu mới từ biệt nhau, quay ngựa ai về trại ấy.
Có người báo với Mã Siêu. Siêu vội
vàng lại hỏi Hàn Toại rằng:
- Hôm nay Tào Tháo nói chuyện gì
với chú thế?
Toại đáp:
- Chỉ nói chuyện cũ ở kinh sư
thôi.
Siêu hỏi:
- Làm sao không nói gì đến việc
quân?
Toại đáp:
- Tào Tháo không nói, chả lẽ ta
nói một mình?
Siêu trong bụng nghi ngờ lắm, nín
lặng ra về.
Tào Tháo về đến trại bảo với Giả
Hủ rằng:
- Ngươi có biết ý ta hôm nay nói
chuyện ở trước trận không?
Hủ thưa rằng:
- Ý ấy tuy rằng khôn, nhưng chưa
ly gián được hai người. Tôi có một mẹo này, khiến Hàn, Mã phải giết lẫn nhau.
Tháo hỏi mẹo gì, Hủ thưa rằng:
- Mã Siêu là một đứa dũng phu, biết
đâu được việc cơ mật. Thừa tướng nên viết một phong thư theo lối đá thảo đưa
cho Hàn Toại, chỗ nào quan trọng thì xoá bỏ đi, nhưng cố ý để lộ cho Mã Siêu biết.
Thế nào, Siêu chẳng đòi xem thư, thấy những chỗ khẩn yếu xoá bỏ lèm nhèm, tất
nhiên nghi là Hàn Toại có tư tình với thừa tướng, nên sửa đổi đi; thế mới ăn khớp
với cuộc nói chuyện bữa trước. Đã nghi thì tất phải sinh loạn, ta lại bí mật
liên kết với các tướng bộ hạ của Hàn Toại, khiến hai bên ly gián lẫn nhau, chắc
chắn phá được Siêu.
Tháo khen rằng:
- Kế của ngươi hay lắm!
Lập tức viết thư, sai một toán tuỳ
tùng đưa sang, rồi trở về.
Quả nhiên có người báo với Mã
Siêu. Siêu càng nghi lắm, đến ngay trại Hàn Toại đòi xem thư. Hàn Toại lấy thư
đưa cho Siêu. Siêu thấy trong thư chỗ thì dập chỗ thì xoá bèn hỏi Toại rằng:
- Trong thư làm sao xoá bỏ lèm
nhèm thế này?
Toại nói:
- Nguyên thư đưa lại vẫn thế,
không biết tại sao?
Siêu nói:
- Không có lẽ Tào Tháo đưa bản
nháp cho chú, đây chắc là chú sợ tôi biết rành mạch cho nên xoá đi đó thôi.
Hàn Toại nói:
- Hoặc giả Tào Tháo đưa nhầm bản
nháp chăng!
- Như thế càng không thể tin được!
Tào Tháo là người cẩn thận, đâu có lầm lẫn làm vậy? Tôi với chú chung sức lại để
đánh giặc, bỗng dưng chú lại thay lòng thế?
Toại nói:
- Nếu cháu không tin chú, thì để
ngày mai, chú gọi Tào Tháo ra nói chuyện, cháu bất thình lình nhảy ra đâm cho
nó một ngọn giáo, là êm chuyện.
Siêu nói:
- Nếu được như thế, chú mới là thực
bụng.
Hai người hẹn hò xong. Hôm sau
Hàn Toại dẫn Hầu Tuyển, Lý Kham, Lương Hưng, Mã Ngoạn, Dương Thu tất cả năm tướng
ra trận. Mã Siêu đứng núp trong cửa cờ. Hàn Toại sai người đến trước trại Tào
Tháo gọi to lên rằng:
- Hàn tướng quân xin mời thừa tướng
ra nói chuyện.
Tháo sai Tào Hồng dẫn ít quân kỵ
ra trước trận gặp Hàn Toại. Còn cách vài bước Hồng ngồi trên ngựa nghiêng mình
nói:
- Đêm qua thừa tướng tôi có nhờ
thưa với tướng quân những câu gì, xin tướng quân chớ để lỡ việc!
Nói xong, quay ngựa trở về.
Siêu nghe Tào Hồng nói như thế, lập
tức nổi giận đùng đùng, vác giáo nhảy xổ ra đâm Hàn Toại. Năm tướng ngăn lại,
khuyên giải Mã Siêu về trại.
Toại nói:
- Cháu chớ nghi ngờ, chú thực
không có bụng dạ gì đâu!
Mã Siêu bấy giờ sao chịu tin nữa,
căm tức trở về.
Hàn Toại cùng với năm tướng, bàn
bạc rằng:
- Việc này làm thế nào cho tỏ được
lòng mình?
Dương Thu nói:
- Mã Siêu cậy khoẻ, thường tỏ vẻ
khinh rẻ chúa công, nếu thắng được Tào Tháo, sao y chịu nhường nhịn. Cứ như ý
tôi, không gì bằng hàng quách ngay Tào Tháo, sau này không đến nỗi mất chức
phong hầu.
Toại nói:
- Ta kết anh em với Mã Đằng, nay
sao nỡ bỏ tình nghĩa cũ?
Dương Thu nói:
- Việc đến thế này, không còn
cách nào khác.
Toại nói:
- Vậy thì ai đi báo tin cho ta được?
Dương Thu xin đi. Toại viết mật
thư, sai ngay Dương Thu đến trại Tào Tháo xin hàng. Tào Tháo mừng lắm, hứa
phong cho Hàn Toại làm Tây Lương hầu, Dương Thu làm Tây Lương thái thú, các tướng
khác cũng đều được phong quan chức cả. Lại hẹn với nhau đốt lửa lên làm hiệu, hợp
sức lại đánh Mã Siêu.
Dương Thu từ về, thuật chuyện lại
với Hàn Toại. Toại mừng lắm, sai quân sĩ chất củi khô ở sau trại, để đốt lửa
làm hiệu. Năm tướng cùng đeo gươm đứng hầu. Hàn Toại định mở tiệc mời Mã Siêu đến
dự rồi giết ngay tại chỗ, nhưng còn phân vân chưa quyết. Không ngờ Mã Siêu đã
biết hết cả, liền dẫn vài tay thủ hạ, đeo gươm đi trước, sai Bàng Đức, Mã Đại
làm hậu ứng. Siêu lẻn vào trong trướng Hàn Toại, nghe thấy năm tướng đang thì
thầm với Hàn Toại, lại nghe tiếng Dương Thu nói rằng: “Việc này không nên để
lâu, nên làm ngay đi!” Siêu giận lắm, tuốt gươm xốc thẳng tới, quát lên rằng:
- Bọn giặc kia! Sao dám bàn nhau
để hại ta?
Ai nấy đều giật mình. Siêu vung
gươm chém vào giữa mặt Hàn Toại. Toại vội giơ tay đỡ, cánh tay liền bị chém gãy
đôi. Năm tướng khoa đao xúm đánh, Siêu bước ra ngoài trướng, năm tướng vây
quanh đánh Siêu túi bụi. Siêu một mình vung gươm ra địch, ánh kiếm lấp loáng đến
đâu, máu tươi bay toé đến đấy, chém đổ Mã Ngoạn, đâm chết Lương Hưng. Còn ba tướng
bỏ chạy tháo thân cả. Siêu lại trở vào giết Hàn Toại nhưng Toại đã được tả hữu
mang đi rồi.
Bỗng nhiên sau trại lửa cháy đùng
đùng, quân các trại kéo ùa cả ra. Siêu vội vàng lên ngựa, Bàng Đức, Mã Đại cũng
vừa đến nơi, hợp nhau đánh giết. Khi Mã Siêu dẫn được quân ra, thì quân Tào đã
bốn mặt kéo lại, mé trước Hứa Chử, mé sau Từ Hoảng, tả có Hạ Hầu Uyên, hữu có
Tào Hồng. Quân Tây Lương còn đánh lẫn nhau, Siêu không thấy Bàng Đức, Mã Đại
đâu liền dẫn hơn trăm quân mã, đứng chẹn ở trên cầu sông Vị. Bấy giờ đã tảng
sáng, chỉ thấy Lý Kham dẫn một toán quân đi qua dưới cầu. Siêu vác giáo tế ngựa
đuổi theo, Lý Kham kéo lệch xệch ngọn giáo mà chạy. Sau lưng Mã Siêu, lại có Vu
Cấm đuổi theo. Cấm giương cung bắn Mã Siêu, Siêu nghe sau lưng có tiếng cung,
né mình tránh khỏi, mũi tên tin ngay vào Lý Kham ở mé trước ngã lộn xuống ngựa.
Siêu quay lại đánh Vu Cấm, Cấm tế ngựa chạy mất. Siêu lại trở về đóng trên cầu.
Quân Tào bốn mặt kéo đến đông như kiến, quân hộ vệ đi đầu, cung tên cứ châu cả
vào bắn tíu tít. Siêu cầm giáo gạt lia lịa, tên rơi tua tủa xuống đất. Siêu kéo
quân kỵ mã xông vào đánh giết, nhưng quân Tào vây bọc dày lắm, không sao ra được.
Đứng trên cầu Siêu reo to một tiếng, rồi đánh bừa vào mé bắc Vị Hà, quân đi
theo đều bị chặn cả lại, chỉ còn độc một mình Mã Siêu, xông xáo trong trận,
Siêu lại bị một mũi tên tin vào ngựa gục xuống, Mã Siêu ngã lăn ra. Quân Tào
xúm đến, chực bắt. Đang khi nguy cấp, bỗng có một toán quân kéo thốc vào, đó là
Bàng Đức và Mã Đại. Hai người cứu được Mã Siêu, rồi lấy một con ngựa của quân
sĩ đưa Siêu cưỡi, cùng xông vào đánh giết, mở một đường máu chạy cả về phía tây
bắc.
Tào Tháo thấy Mã Siêu chạy được,
truyền lệnh cho các tướng rằng:
- Không kể ngày đêm, phải đuổi
cho kịp Mã Siêu. Ai lấy được đầu thì thưởng nghìn nén vàng, phong hầu vạn hộ,
ai bắt sống được, thì phong làm đại tướng quân.
Các tướng được lệnh, tranh nhau lập
công, đuổi theo kỳ cùng mà bắt Siêu. Mã Siêu không còn tưởng gì đến người ngựa
mỏi mệt, cứ cắm đầu cắm cổ chạy. Quân kỵ dần dần tan vỡ, tên nào chạy không kịp
thì đều bị bắt cả. Chỉ còn Bàng Đức, Mã Đại và hơn ba chục kỵ mã, chạy thoát được
về Lâm Thao, quận Lũng Tây.
Tào Tháo đốc quân đuổi mãi đến An
Định, thấy Mã Siêu chạy quá xa rồi mới thu quân về Trường An. Các tướng hội họp
đầy đủ. Hàn Toại đã mất cánh tay trái, thành người tàn phế. Tháo cho ở Trường
An và phong làm Tây Lương hầu. Dương Thu, Hầu Tuyển cũng được phong chức liệt hầu,
trấn giữ cửa Vị Hà. Rồi Tháo hạ lệnh rút quân về Hứa Đô.
Có quan tham quân ở Lương Châu là
Dương Phụ tự Nghĩa Sơn lại Trường An ra mắt Tào Tháo, nói rằng:
- Mã Siêu có sức khoẻ như Lã Bố
khi xưa, lại được người rợ Khương mến phục lắm. Thừa tướng nếu không nhân dịp
này mà trừ ngay đi, sau này lực lượng y to lớn lên rồi, thì các quận ở Lũng Tây
sẽ không còn thuộc quyền thừa tướng nữa. Xin thừa tướng đừng dẫn quân về vội.
Tháo nói:
- Ta cũng muốn lưu quân lại đánh,
nhưng trong nước còn nhiều việc, phương nam vẫn chưa định xong, không thể ở lâu
được. Ngươi ở đây trông nom giúp ta.
Phụ vâng lời, tiến cử cả Vi Khang
làm thứ sử Lương Châu, đề phòng Mã Siêu…
Lúc sắp khởi hành, Phụ bẩm với
Tháo rằng:
- Xin thừa tướng hãy để nhiều
quân ở lại Trường An, phòng khi cứu ứng cho.
Tháo nói;
- Ta đã dự liệu đâu vào đấy cả rồi,
ngươi không phải lo nữa.
Phụ từ biệt đi ra.
Các tướng hỏi Tào Tháo:
- Vừa rồi, lúc đầu giặc mới giữ ở
Đồng Quan, đường mé bắc Vị Hà bỏ trống, sao thừa tướng không từ mặt đông Hoàng
Hà đánh mặt Bằng Dực mà lại cầm cự ở Đồng Quan mãi, dây dưa ngày tháng, sau mới
qua bờ lập trại?
Tháo nói:
- Khi giặc mới đến Đồng Quan, nếu
ta vừa đến mà đánh ngay mặt đông Hoàng Hà, giặc tất chia quân giữ các cửa bến,
thì mặt tây Hoàng Hà không sao sang được nữa. Cho nên ta tập trung nhiều quân ở
Đồng Quan, khiến giặc cũng phải giữ hết cả mé nam, mà để hở mặt tây Hoàng Hà,
nên Từ Hoảng, Chu Linh mới sang được. Sau đó, ta dẫn quân sang mặt bắc, cắm trại
đắp thành, khiến giặc thấy ta yếu thêm kiêu căng, lơ là phòng bị. Ta lại khéo
dùng mẹo phản gián, bồi dưỡng quân sĩ, nên mới phá được như vậy. Đó gọi là “Sét
đánh không kịp bưng tai” là thế! Phép binh biến hoá, không cứ một đường nào.
Các tướng lại hỏi rằng:
- Thừa tướng mỗi lần được tin Mã
Siêu thêm quân thì lại mừng, là ý làm sao?
Tháo nói:
- Quan Trung cách Hứa Đô xa lắm,
nếu giặc cứ giữ vững những nơi hiểm yếu thì đánh đến hai năm cũng không dẹp
xong. Nay địch đến tụ cả vào một chỗ này, quân tuy nhiều nhưng mỗi người một bụng,
lại càng dễ làm kế chia rẽ, chỉ một trận là phá xong cả, cho nên ta mừng.
Các tướng cùng lạy mà nói rằng:
- Thừa tướng mưu mẹo như thần,
không ai theo kịp được!
Tháo cười nói rằng:
- Đó cũng là nhờ tài văn võ các
ngươi đấy!
Liền trọng thưởng các tướng sĩ,
lưu Hạ Hầu Uyên giữ thành Trường An, bao nhiêu hàng binh đều ghép vào các đội
ngũ cả.
Hạ Hầu Uyên tiến cử một người Cao
Lăng, quận Bằng Dực, tên là Trương Ký, tự Đức Dung xin cho làm quan doãn ở Kinh
Triệu, để cùng với Uyên giữ Trường An. Tháo rút quân về Hứa Đô.
Vua Hiến đế bày loan giá, ra tận
ngoài thành tiếp đón; rồi ban chiếu phong cho Tháo được quyền khi vào chầu vua
không phải xưng tên, ở trong triều không phải bước rảo, đeo gươm lên cả trên điện,
cũng như Tiên Hà, tướng nhà Hán thuở xưa. Tự bấy giờ uy danh Tào Tháo lừng lẫy
cả trong ngoài.
Tin ấy truyền đến Hán Trung, kinh
động cả quan thái thú ở đó là Trương Lỗ.
Trương Lỗ nguyên là người ở đất
Phong nước Bái. Tổ Trương Lỗ là Trương Lăng, ẩn ở núi Hộc Minh xứ Tây Xuyên, đặt
ra sách đạo để dạy dỗ người ta, ai cũng kính nể. Sau khi Lăng chết, con là
Trương Hành nối giữ nghiệp ấy. Nhân dân ai đến học đạo đều phải giúp năm đấu
thóc; bấy giờ gọi là “giặc gạo”. Trương Hành mất, Trương Lỗ thay thế, tự xưng
là “Sư quân”. Học trò thì gọi là “quỷ tốt”, người cầm đầu các nhóm học trò thì
gọi là “tế tửu”, ai thống lĩnh nhiều người hơn gọi là “trị đầu đại tế tửu”, cốt
giữ điều thật thà làm gốc, không được dối trá. Ai bị đau ốm gì, phải lập một
đàn để cúng vái; người ốm phải ở riêng một nhà tĩnh mịch, tự xét lại lầm lỗi của
mình, và thú thực cả ra, rồi mới cúng vái cho. Người coi việc cúng vái gọi là
“gian lệnh tế tửu”. Phép cúng thì viết tên họ người ốm, kể tình thú tội, sao ra
ba bản văn gọi là “tam quan thủ thư”. Một bản đặt lên trên đỉnh núi để tâu với
trời; một bản chôn xuống đất để tâu với đất; một bản bỏ xuống nước để tâu với
thuỷ quan. Khi khỏi bệnh, phải tạ lại năm đấu thóc. Lại làm ra một cái nhà gọi
là “nghĩa xá”, trong nhà chứa đủ cơm gạo, củi lửa, đồ ăn, ai qua lại đó cứ vào
lấy mà ăn, ai ăn nhiều quá sẽ bị trời giết.
Trong địa hạt ấy, ai phạm tội được
khoan hồng ba lần, nếu không chừa mới bị trị tội. Ở xứ ấy không có quan cai trị,
mọi việc đều do tế tửu coi giữ.
Trương Lỗ cứ như thế hùng cứ ở xứ
Hán Trung đã ba mươi năm trời. Triều đình cho nơi này xa xôi, không thể đánh dẹp
được, nên phải phong cho Trương Lỗ làm Trấn nam trung lang tướng, lĩnh chức
thái thú ở Hán Ninh, chỉ phải hàng năm tiến cống mà thôi.
Khi ấy, Trương Lỗ nghe tin Tào
Tháo phá được quân Tây Lương, uy danh lừng lẫy, bèn hội các quan lại bàn rằng:
- Mã Đằng ở Tây Lương bị giết,
con là Mã Siêu lại mới thua, Tào Tháo tất đến xâm phạm đất Hán Trung của ta. Ta
muốn tự xưng là Hán Ninh vương, mang quân ra cự nhau với Tào Tháo, các quan
nghĩ sao?
Diêm Phố thưa rằng:
- Dân Hán Xuyên ta dân hơn mười vạn
hộ, của giàu, lương nhiều, bốn mặt thì hiểm trở. Nay Mã Siêu mới thua, quân Tây
Lương từ hang Tý Ngọ chạy vào ngụ ở Hán Trung, thêm vài vạn nữa. Tôi thiết nghĩ
Lưu Chương ở Ích Châu hèn đớn lắm, chi bằng ta hãy lấy bốn mươi mốt châu ở Tây
Xuyên trước làm cơ sở rồi sẽ xưng vương cũng chưa muộn.
Trương Lỗ mừng lắm, liền cùng với
em là Trương Vệ bàn việc cất quân. Quân do thám vội báo tin đó vào Hán Trung.
Lại nói Lưu Chương ở Ích Châu, tự
là Quý Ngọc tức là con Lưu Yên, dòng dõi vua Hán Cung vương. Khoảng năm Nguyên
Hoà đời Cung Đế, Lưu Yên được phong sang ở Cảnh Lăng. Về sau, Yên làm đến chức
quan mục ở Ích Châu. Đến năm Hưng Bình thứ nhất, Yên bị bệnh mất. Quan thái sử
châu ấy là bọn Triệu Vị, tôn Lưu Chương lên kế vào chức của cha. Khi trước, Lưu
Chương giết mất mẹ và em Trương Lỗ, bởi thế hai bên vẫn thù hằn nhau. Chương
sai Bàng Hy làm thái thú Ba Tây, để chống cự Trương Lỗ.
Khi ấy, Bàng Hy dò xét Trương Lỗ
định cất quân vào lấy Tây Xuyên liền phi báo với Lưu Chương. Chương vốn người
nhu nhược, được tin trong bụng lo lắng lắm, vội họp các quan lại bàn bạc. Bỗng
một người ngang nhiên bước ra, nói:
- Chúa công hãy yên tâm, tôi tuy
bất tài, xin uốn ba tấc lưỡi, khiến cho Trương Lỗ không dám nhìn đến Tây Xuyên
nữa.
Đó là:
Kinh Châu hào kiệt mới ra tay.
Chưa biết người dâng kế là ai,
xem hồi sau sẽ rõ.
Trương Vĩnh Niên hỏi vặn Dương Tu
Bàng Sĩ Nguyên bàn lấy Tây Thục
Người hiến kế đó là quan biệt giá
Trương Tùng, tự là Vĩnh Niên, hình thù xấu xí, trán vồ, đầu nhọn, mũi tẹt, răng
vẩu, mình lùn không đầy năm thước, tiếng nói oang oang như chuông.
Lưu Chương hỏi:
- Biệt giá có mưu kế gì cao giải
được nạn Trương Lỗ?
Tùng thưa:
- Tôi nghe Tào Tháo ở Hứa Đô đánh
dẹp trung nguyên, Lã Bố và hai anh em họ Viên đều bị diệt. Vừa đây, Tháo lại
phá được Mã Siêu, thiên hạ không ai địch nổi. Chúa công nên sắm sửa đồ tiến cống,
tôi xin đem sang Hứa Đô, bàn với Tào Tháo cất quân đến đánh Hán Trung để phá
Trương Lỗ. Như thế, Lỗ giữ nhà chửa xong, còn đâu dám nhìn đến Tây Xuyên nữa.
Lưu Chương mừng rỡ, thu xếp vàng
ngọc gấm vóc, sai ngay Trương Tùng đi sứ. Tùng bí mật mang theo một bức địa đồ
Tây Thục cùng vài đầy tớ lên đường. Có người báo tin về Kinh Châu, Khổng Minh
liền sai người sang Hứa Đô dò la tin tức.
Lại nói Trương Tùng tới Hứa Đô,
vào nhà khách tạm nghỉ. Hàng ngày Tùng vào tướng phủ chầu chực xin ra mắt Tào
Tháo. Tào Tháo từ khi đánh được Mã Siêu sinh ra kiêu ngạo, tự đắc, ngày đêm yến
tiệc, ít ra đến ngoài. Chính sự triều đình đều do tướng phủ quyết định cả.
Trương Tùng phải chờ đợi tới ba hôm, lại phải đút lót cho lính canh mới được dẫn
vào ra mắt.
Tháo ngồi trên thềm. Tùng cúi lạy
chào. Tháo hỏi rằng:
- Chủ ngươi mấy năm nay không nộp
cống, là cớ làm sao?
Tùng đáp:
- Vì đường sá xa xôi, giặc cướp
ngăn trở, không thể sang được.
Tháo mắng rằng:
- Ta đã quét sạch cả trung
nguyên, còn trộm giặc nào nữa?
Tùng nói:
- Mặt nam còn có Tôn Quyền, mặt bắc
còn có Trương Lỗ, mặt tây còn có Lưu Bị, mỗi người ít nhất cũng được mười vạn
quân, sao đã gọi là thái bình được?
Tháo trông thấy Trương Tùng xấu
xí, có ý hơi ghét, lại thấy ăn nói lỗ mãng, liền vung tay áo đứng dậy, đi vào
nhà sau.
Tả hữu trách Trương Tùng rằng:
- Ngươi đi sứ, sao không biết giữ
lễ phép, dám nói xúc phạm thế? May thừa tướng thấy người ở xa lại đây, không nỡ
bắt tội, ngươi nên trở về cho mau.
Tùng cười, nói:
- Trong nước Thục ta, không có ai
biết xiểm nịnh!
Bỗng một người ở dưới thềm quát
lên rằng:
- Ngươi bảo nước Thục không có
người xiểm nịnh, thế ở trung nguyên có kẻ xiểm nịnh à?
Tùng trông người ấy, mày nhỏ mắt
xinh, mặt mũi sáng sủa. Hỏi ra thì là con quan thái uý Dương Bưu, tên là Dương
Tu, tự là Đức Tổ, hiện đang làm quan chủ bạ ở phủ thừa tướng. Người ấy học rộng,
biện bác giỏi, thông minh hơn người. Tùng biết Tu có tài mồm mép, muốn hỏi vặn
cho tịt đi. Tu cũng cậy mình tài giỏi, coi thiên hạ không ai ra gì. Bấy giờ thấy
Trương Tùng ăn nói có vẻ châm chọc, Dương Tu bèn mời Trương Tùng ra ngoài phòng
sách ngồi chơi, rồi hỏi rằng:
- Từ Thục đến đây xa xôi lắm, ông
đi thế có vất vả không?
Tùng đáp:
- Phụng mệnh của chủ, dẫu xông
pha vào nơi nước sôi lửa bỏng cũng không dám từ.
Tu hỏi:
- Phong thổ trong Thục thế nào?
Tùng đáp:
- Thục là quận, ở phía tây, xưa gọi
là Ích Châu. Sông có Cẩm Giang là hiểm; núi có Kiếm Các là cao; chung quanh hai
trăm tám thôi đường, ngang dọc hơn ba vạn dặm đất. Làng mạc liên tiếp với nhau,
chợ búa không quãng nào vắng, ruộng nhiều đất tốt, không lo gì nước lụt nắng
to, nước giàu dân no, tiếng đàn sáo rộn ràng, vui vẻ. Thổ sản sinh ra, chứa cao
tày núi, quả thực thiên hạ không đâu bằng.
Tu hỏi:
- Người ở xứ đó thế nào?
Tùng đáp:
- Văn thì có Tương Như[1] là
giỏi; võ thì có Phục Ba là tài; chữa thuốc không ai hơn Trọng Cảnh[2];
xem bói mấy kẻ sánh Quân Bình[3]. Còn những người tam giáo, cửu lưu,
ai ai cũng giỏi giang cả, không sao kể xiết!
Tu hỏi:
- Thủ hạ của Lưu Quý Ngọc được mấy
người như ông?
Tùng đáp:
- Những người văn võ toàn tài,
trí dũng xuất chúng, cùng là kẻ sĩ trung nghĩa khảng khái, kể có hàng trăm, chớ
như tôi là kẻ tầm thường, có thể lấy xe mà chở, lấy đấu mà đong, biết đâu mà
tính cho xuể.
Tu hỏi:
- Hiện nay ông đang làm chức gì?
Tùng đáp:
- Lạm sung vào chức biệt giá, còn
sợ không nổi việc. Dám hỏi ngài làm quan gì ở trong triều?
Tu đáp:
- Tôi hiện nay đang làm chủ bạ phủ
thừa tướng.
Tùng nói:
- Nghe ngài là dòng dõi trâm anh,
sao không làm quan với triều đình, để giúp thiên tử, mà phải làm một kẻ nha lại
ở phủ thừa tướng làm vậy?
Tu nghe nói, thẹn đỏ mặt, nhưng
cũng gượng đáp rằng:
- Tôi tuy làm một chức nhỏ, nhưng
thừa tướng giao cho coi việc sổ sách tiền lương, cũng là việc quan trọng. Vả lại
được gần thừa tướng, sớm tối ngài còn dạy bảo cho nhiều điều có ích. Cho nên
tôi cũng vui lòng nhận.
Tùng cười, nói:
- Tôi nghe Tào thừa tướng, văn
thì không hiểu đạo Khổng, Mạnh; võ thì không tường mẹo Tôn, Ngô; chỉ cậy sức mạnh
mà được lên cao, có tài gì mà dạy bảo được ngài?
Tu nói:
- Ông ở ngoài cõi xa, biết đâu được
tài thừa tướng? Tôi thử đưa ông xem cái này thì biết.
Liền gọi đầy tớ mở tủ lấy một quyển
sách đưa cho Trương Tùng xem. Tùng thấy quyển sách ấy ngoài đề bốn chữ: “Mạnh Đức
tân thư”, mở ra xem hết một lượt, cả thảy mười ba thiên, toàn là phép cốt yếu về
việc dùng binh.
Tùng xem xong hỏi:
- Ông bảo quyển sách này là của
ai làm ra?
Tu đáp:
- Đó là của thừa tướng tham khảo
cổ kim phỏng theo mười ba thiên của Tôn Vũ Tử mà làm ra. Ông khinh thừa tướng
không có tài, thử hỏi quyển sách này đã đáng truyền cho đời sau chưa?
Tùng cười ầm lên mà nói rằng:
- Sách này, trẻ con nước Thục tôi
đứa nào cũng thuộc lòng cả, sao gọi là “tân thư”? Đó là người vô danh đời Chiến
Quốc làm ra, thừa tướng đánh cắp làm của mình, chỉ lừa dối được ông thôi!
Tu nói:
- Sách này của thừa tướng còn cất
kín một chỗ, tuy làm xong nhưng chưa truyền ra đến ngoài, sao dám bảo trẻ con
nước ông cũng thuộc lòng?
Tùng nói:
- Nếu ông không tin, tôi xin đọc
cho ông nghe!
Tùng nói xong, đọc thuộc làu từ đầu
đến cuối, không sai một chữ. Tu giật mình, nói:
- Ông mới đưa mắt nhìn qua đã nhớ
được cả, thực là bậc kỳ tài trong thiên hạ.
Người sau có thơ khen rằng:
Diện mạo lại thanh cao
Tài nói như nước chảy
Mắt liếc tựa ánh sao
Can đảm nhất Tây Thục
Văn chương bậc anh hào
Cổ kim bao sử sách
Xem qua đã thuộc làu.
Khi Tùng định ra về, Tu nói:
- Ông hãy nghỉ tạm nơi quán xá, để
tôi bẩm với thừa tướng, cho ông được vào chầu thiên tử.
Tùng tạm ra ngoài. Tu vào nói với
Tào Tháo rằng:
- Vừa rồi, sao thừa tướng khinh rẻ
Trương Tùng làm vậy?
Tháo nói:
- Nói năng không khiêm tốn, nên
ta coi thường đó thôi!
Tu nói:
- Thừa tướng còn dung nạp được Nễ
Hành, há lại hẹp với Trương Tùng.
Tháo nói:
- Nễ Hành văn chương lừng lẫy đời
nay, ta không nỡ giết đi, chớ Tùng có tài năng gì?
Tu nói:
- Chưa cần nhắc đến tài biện luận
như nước chảy của hắn vội, lúc nãy, tôi có đưa quyển “Tân thư” của thừa tướng
soạn cho hắn xem, hắn đọc qua một lượt là thuộc lòng. Thật là tay học rộng nhớ
dai, trên đời hiếm có. Hắn nói sách ấy là của người đời Chiến quốc làm ra, trẻ
con đất Thục cũng nhớ cả.
Tháo nói:
- Hay là người đời xưa cũng hợp ý
ta chăng?
Lập tức sai xé vụn quyển sách ấy
và đem đốt đi.
Tu nói:
- Người ấy nên cho vào chầu thiên
tử, để cho y được biết uy nghi của thiên triều.
Tháo nói:
- Ngày mai điểm binh ở giáo trường,
ngươi nên đưa hắn đến đó, cho biết lực lượng hùng hậu của ta, để hắn về nói
truyền đi rằng ta nay mai lấy Giang Nam xong, thì lấy đến Xuyên.
Tu vâng lời, hôm sau cùng với
Trương Tùng đến giáo trường phía tây. Tháo điểm năm vạn quân hộ vệ tinh nhuệ,
quả nhiên áo mũ rực rỡ, chiêng trống vang trời, gươm giáo sáng quắc. Bốn mặt
tám phương, cơ nào đội ấy, tinh kỳ phấp phới, người ngựa hăng hái, Tùng chỉ liếc
mắt trông qua. Một lúc lâu, Tháo gọi Tùng đến, chỉ tay hỏi:
- Nước Thục nhà ngươi đã từng được
thấy quân mã hùng dũng thế này chưa?
Tùng đáp:
- Nước Thục tôi chỉ cốt lấy nhân
nghĩa trị người, chớ không thấy binh đao như thế bao giờ.
Tháo tái mặt lại, nhìn Trương
Tùng, Tùng chẳng sợ hãi chút nào. Dương Tu luôn luôn đưa mắt lườm Trương Tùng.
Tháo bảo Tùng rằng:
- Ta coi đồ chuột chết trong
thiên hạ như cỏ rác cả thôi. Quân ta đến đâu, dẹp phải tan, đánh phải vỡ, thuận
với ta thì sống, trái với ta thì chết, ngươi có biết không?
Tùng nói:
- Thừa tướng đưa quân đến đâu,
đánh là thắng, lấy là được. Tùng này đều đã biết. Xưa dẹp Lã Bố ở Bộc Dương,
đánh Trương Tú ở Uyển Thành, trận Xích Bích gặp Chu Du, đường Hoa Dung gặp Quan
Vũ, cắt râu quẳng áo ở Đồng Quan, cướp thuyền tránh tên ở Vị Thuỷ. Đó đều là
thiên hạ vô địch cả!
Tháo nổi giận đùng đùng nói:
- Thằng hủ nho kia! Sao dám vạch
những chỗ xấu của tao?
Liền quát võ sĩ lôi ra chém.
Dương Tu can rằng:
- Tội Trương Tùng tuy đáng chém,
nhưng tự nước Thục vào cống, nếu chém đi, tôi e mất lòng những người ở xa.
Tháo vẫn còn tức. Tuân Úc cũng
can. Tháo mới tha cho tội chết, nhưng sai tả hữu đánh tới tấp đuổi ra.
Tùng ra nhà khách, thu xếp đồ đạc,
ngay đêm ấy ra khỏi thành về Xuyên. Tùng tự nghĩ:
- Ta định đem các châu quận Tây
Xuyên dâng cho Tào Tháo, không ngờ hắn khinh người như vậy! Trước khi đi, ta
trót nói khoác trước mặt Lưu Chương, nay lại tiu nghỉu về không, chắc bị người
đất Thục chê cười. Ta biết Lưu Huyền Đức ở Kinh Châu nhân nghĩa lừng lẫy, chi bằng
về qua lối đó, xem thử ông ta thế nào, rồi sẽ liệu!
Nghĩ lại, liền cưỡi ngựa dẫn bộ hạ
đi thẳng đến địa giới Kinh Châu. Vừa tới hạt Ảnh Châu, thấy có một toán quân mã
chừng năm trăm người, một tướng đi đầu ăn mặc nhã nhặn, dừng ngựa lại hỏi:
- Có phải là quan biệt giá họ
Trương đó không?
Tùng đáp:
- Phải.
Tướng đó vội vàng xuống ngựa,
nói:
- Tôi là Triệu Vân, ở đây đợi
ngài đã lâu.
Tùng cũng xuống ngựa, hỏi:
- Tướng quân có phải là Triệu Tử
Long ở Thường Sơn không?
Vân nói:
- Chính phải. Tôi phụng mệnh chúa
công Lưu Huyền Đức vì thấy đại phu đi đường vất vả ra đây hiến dâng cơm rượu.
Nói xong, sai quân sĩ quỳ xuống
dâng cơm rượu, Vân mời mọc Trương Tùng rất tử tế. Tùng tự nghĩ:
- Người ta đồn Huyền Đức rộng lượng
yêu khách, nay quả nhiên như thế.
Liền cùng với Triệu Vân uống vài
chén rượu, rồi lên ngựa cùng đi.
Tới địa đầu Kinh Châu thì trời đã
tối, Vân mời Tùng vào nghỉ ở quán trọ. Vào đến nơi, đã thấy hơn một trăm người
đứng chực ngoài cửa đánh trống đón tiếp; một tướng lại trước ngựa vái chào,
nói:
- Vì đại phu đi qua sứ này, tôi
là Quan Vũ phụng mệnh anh tôi, ra lau quét nơi quán xá để ngài nghỉ chân.
Tùng xuống ngựa, cùng với Vân Trường,
Triệu Vân vào nhà khách ngồi chơi. Một lát, cơm rượu dọn ra, hai người ân cần mời
mọc, đến khuya tiệc tan. Tùng ngủ lại một đêm ở đấy.
Hôm sau, ăn điểm tâm xong, Tùng
lên ngựa đi được vài dặm, lại gặp một toán quân mã, thì là Huyền Đức dẫn cả Phục
Long, Phượng Sồ đi đón. Trông thấy Trương Tùng từ đằng xa, mấy người đã xuống
ngựa đứng chực rồi. Tùng cũng vội vàng xuống ngựa chào hỏi. Huyền Đức nói:
- Lâu nay thấy nghe nói tiếng lớn
của đại phu, như sấm rót vào mang tai, giận vì non sông cách trở, không nghe được
lời dạy bảo, nay nghe ngài về Thục nên ra đây nghênh tiếp. Nếu ngài có bụng chiếu
cố, xin tạm đến châu tôi, nghỉ ngơi ít lâu, để được thoả lòng mong ước, thì hân
hạnh quá!
Tùng mừng lắm, lên ngựa sóng
cương đi vào thành. Đến phủ đường, hai bên chia ngôi chủ khách ngồi chơi. Huyền
Đức mở tiệc khoản đãi. Trong tiệc Huyền Đức chỉ nói những chuyện đâu đâu, chớ
không hề đả động đến việc Tây Xuyên. Trương Tùng mới nói gợi lên rằng:
- Hoàng thúc coi giữ Kinh Châu mới
có được mấy quận?
Khổng Minh đáp:
- Kinh Châu này mượn tạm của Đông
Ngô, thường Đông Ngô vẫn sai người đến đòi. Vì chủ tôi là rể Đông Ngô, cho nên
còn tạm yên thân ở đây thôi.
Tùng nói:
- Đông Ngô chiếm giữ sáu quận,
tám mươi mốt châu, dân mạnh nước giàu, còn chưa vừa ý sao?
Bàng Thống nói:
- Chủ tôi là hoàng thúc nhà Hán,
không được một châu quận nào; những kẻ khác toàn là giặc nhà Hán, thì lại cậy sức
mạnh chiếm hết châu nọ châu kia, người biết nghĩ thực là không bằng lòng.
Huyền Đức nói:
- Hai ông chớ nên nói thế, ta có
tài đức gì mà dám mong ước cao xa vậy?
Tùng nói:
- Ngài là tôn thân nhà Hán, nhân
nghĩa lừng lẫy bốn biển. Đừng nói gì chiếm cứ châu quận, ngay việc thay thế
chính thống, lên ngôi hoàng đế, cũng chưa phải là quá đáng.
Huyền Đức chắp tay tạ ơn, nói:
- Ông dạy quá lời, tôi đâu dám nhận!
Tiệc tan rồi, Huyền Đức mời
Trương Tùng ở lại ba hôm, ngày nào cũng ăn yến uống rượu, tịnh không nói động
gì đến việc Tây Xuyên cả.
Tùng từ tạ trở về, Huyền Đức tiễn
ra ngoài mười dặm tràng đình, lại mở tiệc làm lễ tiễn hành. Huyền Đức rót chén
rượu mời Tùng và nói:
- Đa tạ đại phu có lòng quý mến, ở
lại chơi trò chuyện ba ngày, hôm nay chia tay nhau không biết bao giờ lại được
nghe lời dạy bảo?
Nói xong, rơm rớm nước mắt.
Trương Tùng tự nghĩ:
- Huyền Đức nhân từ, yêu kính kẻ
sĩ như vậy, ta sao nỡ bỏ? Chi bằng khuyên ông ta lấy Xuyên thì hơn!
Rồi Tùng nói:
- Tôi cũng muốn sớm tối theo hầu
hoàng thúc, nhưng chưa có dịp đó thôi. Tôi coi đất Kinh Châu này, mé đông có
Tôn Quyền như hổ nhe nanh, mé bắc có Tào Tháo như kình há miệng, không phải là
chỗ ở lâu được.
Huyền Đức nói:
- Tôi cũng biết như thế, nhưng
chưa có chốn yên thân.
Tùng nói:
- Ích Châu hiểm trở, đồng ruộng
phì nhiêu ngàn dặm, dân đông nước giàu, những bậc thông minh tài cán lâu nay
thường mộ tiếng hoàng thúc. Nếu cất quân Kinh Tương kéo vào phía tây, thì nghiệp
bá có thể làm nên, mà nhà Hán mới dựng lại được.
Huyền Đức nói:
- Tôi đâu dám mong như thế! Lưu
Ích Châu cũng là tôn thân nhà Hán, ân đức tưới khắp đất Thục đã lâu, người khác
khó lòng lay chuyển được.
Tùng nói:
- Tôi không là kẻ bán chúa cầu
vinh, nay gặp ngài đây, không thể không bày tỏ nỗi lòng: Lưu Quý Ngọc tuy được
Ích Châu, nhưng tính tình nhu nhược, không biết dùng kẻ hiền tài. Vả lại,
Trương Lỗ ở phía bắc thường muốn xâm lấn, lòng người chia ly, chỉ mong được
chúa giỏi. Tùng đi chuyến này là định đem đất dâng cho Tào Tháo, không ngờ tên
nghịch tặc tự phụ gian hùng, khinh rẻ hiền sĩ, nên định đến đây gặp ngài. Ngài
nên lấy Tây Xuyên trước để làm cơ sở, sau sẽ lấy Hán Trung, thu phục Trung
Nguyên, phù tá thiên triều, ghi tên sử sách, công lao to lớn vô cùng. Nếu quả
thật ngài có ý lấy Tây Xuyên, tôi xin hết sức giúp đỡ làm nội ứng. Chưa biết ý
ngài thế nào?
Huyền Đức nói:
- Đa tạ lòng tốt của ông. Nhưng
Lưu Quý Ngọc là đồng tông với tôi, nếu đem quân đến đánh, e thiên hạ chê cười.
Tùng nói:
- Đại trượng phu ở đời, nên gắng
sức lập lấy cơ nghiệp, cầm roi đi trước người ta. Nếu mình không lấy thì người
khác sẽ lấy, hối lại làm sao cho kịp nữa!
Huyền Đức nói:
- Tôi nghe đường Thục gập gềnh,
sông núi trùng trùng điệp điệp, xe không đi lọt bánh, ngựa không chạy sóng đôi,
nếu muốn lấy thì nên dùng kế gì cho được?
Tùng mới thò tay vào túi lấy ra một
bức địa đồ, đưa cho Huyền Đức và nói:
- Tùng cảm ơn đức của minh công,
xin dâng bức địa đồ này, cứ xem vào đây, sẽ biết hết cả đường sá nước Thục.
Huyền Đức mở ra xem, thấy trong
đó ghi cả đường sá xa gần rộng hẹp, núi sông hiểm yếu, kho tàng lương thực rõ
ràng từng tý.
Tùng nói:
- Minh công nên mau mau tính đi
cho xong. Tôi có hai ngươi bạn rất thân là Pháp Chính và Mạnh Đạt. Hai người
này thế nào cũng giúp đỡ minh công. Nếu họ đến Kinh Châu ngài nên đem việc tâm
sự ra cùng bàn bạc.
Huyền Đức chắp tay cảm tạ nói:
- Ơn ông thật như núi cao sông
dài. Sau này thành công, sẽ xin báo đáp xứng đáng.
Tùng nói:
- Tôi gặp được minh chúa, không
thể không bày tỏ hết nỗi lòng, dám đâu mong đợi trả ơn!
Nói đoạn, từ biệt ra về, Khổng
Minh sai Vân Trường tiễn đưa đến hơn chục dặm đường mới quay trở lại.
Trương Tùng về đến Ích Châu, vào
gặp bạn là Pháp Chính. Chính tên tự là Hiếu Trực, quê ở quận Phù Phong, con
trai hiền sĩ Pháp Chân. Tùng vào chơi kể lại với Chính rằng:
- Tào Tháo khinh rẻ hiền sĩ, chỉ
có thể cộng khổ chứ không đồng cam được. Tôi đã đem Ích Châu hứa với Lưu hoàng
thúc từ lâu, nay đến đây bàn bạc với anh.
Pháp Chính nói:
- Tôi chắc Lưu Chương không làm
nên trò gì được, nên vẫn rắp tâm theo Lưu Huyền Đức từ lâu. Ta đã đồng tâm với
nhau thì còn nghi hoặc gì nữa!
Được một lát, Mạnh Đạt cũng đến.
Đạt tự là Tử Khánh, vốn là người đồng hương với Pháp Chính, Đạt vào thấy hai
người đang thì thầm với nhau, mới nói rằng:
- Tôi đã biết ý hai anh rồi, các
anh định dâng Ích Châu cho người khác phải không?
Tùng nói:
- Có thế thực, nhưng anh thử đoán
xem nên dâng cho ai là phải?
Đạt nói:
- Phi Lưu Huyền Đức không xong!
Ba người cùng vỗ tay cười ầm cả
lên. Pháp Chính bảo Tùng rằng:
- Ngày mai, anh vào ra mắt Lưu
Chương thì nên làm thế nào?
Tùng nói:
- Tôi sẽ tiến cử hai anh làm sứ
sang Kinh Châu.
Hai người đồng ý.
Hôm sau, Tùng vào ra mắt Lưu
Chương, Chương hỏi:
- Công việc của Hứa Đô thế nào?
Tùng thưa rằng:
- Tào Tháo là giặc nhà Hán, muốn
cướp lấy cả thiên hạ, không thể trông mong hắn được. Hắn đã có ý cướp lấy Tây
Xuyên rồi.
Chương nói:
- Nếu vậy thì làm thế nào bây giờ?
Tùng nói:
- Tôi có một kế, khiến Tào Tháo,
Trương Lỗ không dám xâm phạm đến bờ cõi ta được.
Chương hỏi:
- Kế gì?
Tùng nói:
- Có Lưu Huyền Đức ở Kinh Châu, vốn
người cùng họ với chúa công. Ông ta nhân từ khoan hậu, có phong cách trưởng giả.
Sau trận Xích Bích, Tào Tháo còn sợ mất vía, huống chi là Trương Lỗ? Chúa công
sao không sai người sang kết liên với ông ấy để làm ngoại viện, tất chống được
Tào Tháo và Trương Lỗ.
Chương nói:
- Việc này phi sai Pháp Chính, Mạnh
Đạt không xong.
Chương lập tức triệu hai người
vào, viết một phong thư, sai Pháp Chính sang thông tin trước, rồi mới sai Mạnh
Đạt lĩnh năm nghìn tinh binh sang đón Huyền Đức vào Xuyên để giúp đỡ mình.
Mấy người đang bàn tính chợt có một
người tất tả chạy vào, mồ hôi đổ ra đầy mặt, kêu lớn lên rằng:
- Nếu chúa công nghe lời Trương
Tùng, thì bốn mươi mốt châu quận này về tay người khác cả!
Tùng giật mình, trông ra thì là
Hoàng Quyền, tự là Công Hành, quê ở Trung Ba, hiện đang làm chủ bạ.
Chương hỏi:
- Huyền Đức là người đồng tông với
ta, ta muốn kết liên làm viện trợ, sao ngươi lại nói thế?
Quyền đáp:
- Tôi đã biết Lưu Bị là người
nhân từ, mềm mỏng mà hơn cả cứng rắn, anh hùng vô địch, nhân dân xa gần đều
mong mỏi. Vả lại, có Gia Cát Lượng, Bàng Thống, Quan, Trương, Triệu, Hoàng làm
vây cánh. Nếu mời y vào Thục, lại đối đãi như bộ hạ thì người ta không chịu, nếu
đối đãi như tân khách thì chả lẽ một nước lại hai chủ? Chúa công nghe lời tôi
thì Tây Thục sẽ vững như Thái Sơn, không nghe lời tôi thì chúa công sẽ bị nguy
tức khắc. Trương Tùng bữa trước đi qua Kinh Châu tất nhiên có thông mưu với Lưu
Bị. Xin chém Trương Tùng, tuyệt giao với Lưu Bị, thì may mắn cho Tây Xuyên lắm
lắm!
Chương nói:
- Thế ngộ Tào Tháo, Trương Lỗ đến
đây, thì lấy gì chống cự?
Quyền nói:
- Không gì bằng thành cao hào
sâu, giữ chắc lấy thành trì, đợi lúc thái bình.
Chương mắng rằng:
- Quân giặc xâm phạm cõi, nguy cấp
ở ngay trước mắt, nếu đợi đến lúc thái bình thì thật là kế chậm chạp rồi!
Liền không nghe lời Hoàng Quyền,
cứ sai Pháp Chính đi sang Kinh Châu.
Lại có một người can rằng:
- Không được! Không được!
Chương nhìn ra thì là quan tòng sự
Vương Luỹ. Luỹ đập đầu xuống đất, nói:
- Nếu chúa công nghe lời Trương
Tùng thì tự rước lấy cái vạ vào mình đó!
Chương nói:
- Ta kết liên với Huyền Đức cốt
chống Trương Lỗ, có việc gì mà nói lắm thế?
Luỹ thưa:
- Trương Lỗ xâm phạm bờ cõi, chẳng
qua như cái mụn ghẻ ngoài da; nhưng mời Lưu Bị vào Xuyên, thì khác nào có bệnh
trong phủ tạng. Huống chi Lưu Bị như con cú dữ ở đời, trước kia theo Tào Tháo,
rồi lại muốn hại Tháo; sau nhờ Tôn Quyền, liền cướp lấy Kinh Châu. Xem tâm địa
như thế, thì ở với nhau làm sao được? Nếu triệu vào đây, chắc Tây Xuyên này hỏng
mất!
Chương mắng:
- Chớ nói càn! Huyền Đức họ hàng
với ta, có đâu nỡ cướp cơ nghiệp của ta!
Nói rồi, sai dìu hai người ra, và
sai Pháp Chính cứ việc đi sứ.
Pháp Chính phụng mệnh sang Kinh
Châu, ra mắt Huyền Đức, chào hỏi xong xuôi, dâng thư lên Huyền Đức mở ra xem,
trong thư viết:
“Em là Lưu Chương, xin có mấy
lời kính gửi lên tôn huynh Huyền Đức tướng quân: lâu nay em vẫn khâm phục uy trời,
nhưng vì đường sá gập ghềnh, chưa kịp cống hiến, rất là áy náy không yên. Em
thường nghe nói: “Xấu tốt, hoạn nạn cùng cứu giúp nhau” bè bạn còn thế, huống
chi chỗ gia quyến thân tộc? Nay Trương Lỗ ở phía bắc, thường muốn cất quân xâm
phạm bờ cõi, em chẳng được an tâm nên cho người dâng thư này xin lĩnh ý tôn
huynh. Nếu tôn huynh nghĩ đến tình nghĩa huynh đệ tôn tộc thì mang quân mã,
tiêu diệt giặc cướp, giúp đỡ nhau mãi mãi, sẽ xin báo đáp xứng đáng. Thư chẳng
hết lời, mong tôn huynh chiếu cố”.
Huyền Đức xem thư mừng rỡ, mở tiệc
thết đãi. Rượu được vài tuần, Huyền Đức bảo tả hữu lui ra, mật bảo Chính rằng:
- Lâu nay vẫn ngưỡng mộ tiếng Hiếu
Trực; Trương biệt giá thường nhắc đến tài đức của ông, nay mới được tiếp, thực
là toại nguyện suốt đời!
Pháp Chính ta lại, nói:
- Tôi là một chức quan nhỏ trong
đất Thục, có gì đáng kể. Nhưng tôi thiết nghĩ: “Ngựa gặp được Bá Nhạc thì mừng
rỡ hí lên, người gặp được tri kỷ thì dẫu chết cũng thoả”. Lời Trương biệt giá bữa
nọ, minh công còn có ý gì nữa không?
Huyền Đức nói:
- Tôi một thân nương thân nhờ đất
khách, buồn bực trong lòng; thường nghĩ rằng: Con chim chích còn chiếm được một
cành mà đậu, con thỏ còn biết đào cái hang ba ngách mà ở, huống chi là người
ta? Tây Thục là đất giàu có, không phải tôi không muốn lấy, nhưng Quý Ngọc là
người cùng họ với tôi, tôi không nỡ cướp lấy thôi!
Pháp Chính nói:
- Ích Châu là một kho tàng của trời,
phi chủ có tài không giữ nổi. Lưu Quý Ngọc không biết dùng người hiền đó thôi,
cơ nghiệp ấy cũng đến về tay người khác mất. Nay y đem cơ nghiệp giao phó cho
tướng quân, chớ nên bỏ lỡ dịp tốt. Tướng quân không nghe có câu rằng: “Bắt thỏ
đuổi trước thì được” đó ư. Nếu tướng quân có ý muốn lấy Tây Xuyên, tôi sẽ xin hết
lòng giúp đỡ.
Huyền Đức chắp tay cảm tạ và nói:
- Xin hãy để tha thứ, tôi bàn bạc
xem sao!
Tiệc tan Khổng Minh đưa Pháp
Chính ra nghỉ nơi nhà khách. Huyền Đức ngồi nghĩ ngợi một mình. Bàng Thống bước
ra nói:
- Việc đáng quyết mà không quyết,
gọi là người ngu. Chúa công là người cao minh sao cũng hồ nghi lắm thế?
Huyền Đức hỏi:
- Theo ý ông thì nên thế nào?
- Kinh Châu này mặt đông có Tôn
Quyền, mặt bắc có Tào Tháo, khó vùng vẫy được. Ích Châu, dân cứ hàng trăm vạn,
đất rộng của giàu, có cơ làm nổi được nghiệp to. Nay may có Trương Tùng, Pháp
Chính làm tay trong, đó là trời cho mình một dịp hay đấy, còn nghĩ gì nữa?
Huyền Đức nói:
- Ta nay đánh nhau với Tào Tháo,
khác nào nước địch với lửa. Tháo vội vàng, ta thư thả; Tháo bạc ác, ta nhân từ;
Tháo dối trá, ta thực thà; việc gì ta cũng phải khác Tháo thì mới thành công. Nếu
vì một chút lợi nhỏ, mà bỏ cả tín nghĩa với thiên hạ, ta không nỡ làm!
Bàng Thống cười, nói:
- Chúa công nói cũng phải lẽ,
nhưng đương lúc loạn lạc này, phép dùng binh tranh thế mạnh, không phải chỉ có
một lối. Nếu cứ cố chấp, thì một bước cũng không đi được, phải quyền biến mới
xong! Lấy sáng đánh tối, lấy thuận đánh nghịch đó là cái đạo của vua Thang, vua
Vũ ngày xưa diệt Kiệt, Trụ vậy! Khi nào thành công sẽ phong cho Quý Ngọc một nước
to khác, thì có việc gì mà chẳng tín nghĩa? Vả lại, chúa công không lấy nay thì
mai cũng về tay ngươi khác mà thôi! Xin chúa công hãy nghĩ cho kỹ.
Huyền Đức bấy giờ mới nghe ra,
nói:
- Thật là lời vàng đá, tôi xin
ghi lòng tạc dạ!
Rồi mời Khổng Minh đến bàn bạc việc
cất quân vào miền tây. Khổng Minh nói:
- Kinh Châu là nơi quan trọng, phải
chia quân để giữ.
Huyền Đức nói:
- Ta cùng Bàng Sĩ Nguyên, Hoàng
Trung, Nguỵ Diên vào Tây Xuyên trước. Còn quân sư nên cùng Quan Vân Trường,
Trương Dực Đức và Triệu Tử Long giữ Kinh Châu.
Khổng Minh vâng lời.
Rồi đó, Khổng Minh coi giữ Kinh
Châu; Quan Công trấn ải Thanh Nê, chọn đường trọng yếu Tương Dương, Trương Phi
tuần tiễu ven sông bốn quận, Triệu Vân đóng ở Giang Lăng giữ Công An.
Huyền Đức sai Hoàng Trung làm tiền
bộ, Nguỵ Diên làm hậu quân, còn mình thì cùng với Lưu Phong và Quan Bình đi
trung quân, Bàng Thống làm quân sư, quân mã bộ năm vạn rầm rộ kéo vào miền tây.
Khi sắp đi, có Liêu Hoá dẫn một
toán quân đến hàng. Huyền Đức cho ra giúp Vân Trường để cự nhau với Tào Tháo.
Mùa đông năm ấy, Huyền Đức đem
quân tiến vào Tây Xuyên, mới đi được vài thôi đường, thì gặp Mạnh Đạt đến nói
Lưu Ích Châu sai dẫn năm nghìn quân lại đón. Huyền Đức sai người đưa thư báo
cho Lưu Chương biết trước. Chương thông tư cho các châu quận dọc đường phải
cung cấp lương thực cho quân sĩ Huyền Đức. Chương định thân ra Bồi Thành nghênh
tiếp liền truyền lệnh sắm sửa xe ngựa màn trướng, tinh kỳ, y giáp cho tươm tất.
Chủ bạ là Hoàng Quyên vào can rằng:
- Chúa công đi chuyến này, tất bị
Lưu Bị hại. Tôi ăn lộc đã lâu, không nỡ để chúa công bị mắc mưu gian, xin chúa
công hãy nghĩ cho kỹ.
Trương Tùng nói:
- Hoàng Quyền chỉ muốn chia rẽ
nghĩa họ hàng chúa công, gây thêm cái oai của giặc cướp, thực là vô ích.
Chương liền mắng Quyền rằng:
- Ý ta đã quyết, ngươi sao cứ gàn
thế?
Quyền đập đầu xuống đất toé máu
ra, rồi bước lên cắn lấy áo Lưu Chương mà can. Chương giận lắm, dứt áo đứng dậy.
Quyền nhất định không buông, bị gãy mất hai răng cửa, Chương quát tả hữu lôi
ra, Quyền khóc ầm lên, ra về.
Chương sắp đi, lại có một người
hô to rằng:
- Chúa công không nghe lời Hoàng
Quyền, muốn đem thân vào chỗ chết à?
Nói đoạn, người ấy nằm lăn ra thềm
để can. Chương trông ra thì là Lý Khôi, quê ở Dũ Nguyên, thuộc Kiến Ninh. Khôi
cúi đầu nói:
- Tôi nghe: vua thì có bầy tôi
can ngăn, cha thì có con cái can ngăn. Lời Hoàng Quyền là lời trung nghĩa, xin
phải nghe mới được! Nếu rước Lưu Bị vào Xuyên thì khác gì rước hổ vào nhà.
Chương nói:
- Huyền Đức là anh họ ta, sao nỡ
hại ta! Hễ ai còn can nữa thì chém!
Đoạn thét tả hữu lôi Lý Khôi ra.
Trương Tùng nói:
- Các quan văn ở đây, ai cũng chỉ
biết đến vợ con, không chịu ra sức giúp nước. Còn những tướng võ thì cậy công
kiêu ngạo, đều có ý khác cả. Nếu không chịu triệu Lưu hoàng thúc vào thì giặc
đánh bên ngoài, dân phản bên trong, con đường thất bại sờ sờ ra đó!
Chương nói:
- Ngươi nghĩ phải lắm, thực rất
có ích cho ta!
Hôm sau, Lưu Chương lên ngựa ra cửa
Du Kiều, tên lính đến báo rằng:
- Có quan tòng sự là Vương Luỹ, tự
trói mình treo ở cửa thành, một tay cầm giấy can, một tay cầm thanh gươm; nói hễ
can mà không nghe, thì cắt đứt dây cho ngã chết ở đấy.
Chương sai ngưới đem thư vào xem.
Đại ý trong thư viết:
“Hạ thần là Vương Luỹ, tòng sự
Ích Châu, khóc đổ máu mắt xin thưa: Tôi thường nghe nói “Thuốc hay đắng miệng
nhưng khỏi bệnh, lời nói ngay khó nghe nhưng lợi cho công việc”. Xưa kia vua
Hoài nước Sở không nghe lời Khuất Nguyên đến họp hội thề ở Vũ Quan liền bị nước
Tần hãm hại. Nay chúa công coi thường, rời khỏi thành trì, định đón Lưu Bị ở Bồi
Thành, e rằng có đi mà không có về được! Nên đem Trương Tùng ra chợ chém đầu,
tuyệt lời hẹn với Lưu Bị thì may mắn cho chúng dân Thục biết chừng nào! May mắn
cho cả cơ nghiệp của chúa công biết chừng nào!”
Chương xem xong, nổi giận mắng rằng:
- Ta chơi với người nhân đức như
gần cụm hoa lan, sao khinh ta lắm thế?
Vương Luỹ kêu to một tiếng, rồi cắt
dây, ngã quay xuống đất, chết liền.
Người sau có thơ than rằng:
Liều chết, tạ ơn dày
Hoàng Quyền răng vừa gãy
Vương Luỹ ai sánh tày?
Lưu Chương dẫn ba vạn quân mã,
đem theo hơn nghìn xe lương thực và vải lụa ra Bồi Thành đón Huyền Đức.
Lại nói, tiền quân của Huyền Đức
đã đến Điếm Giang; quân đi đến đâu cũng được Tây Xuyên cung cấp lương thực. Hiệu
lệnh của Huyền Đức lại nghiêm minh, quân sĩ ai xâm phạm một chút của dân là bị
chém, nên nhân dân dắt già ẵm trẻ, đứng xem chật đường, đốt hương lễ bái. Huyền
Đức dùng lời lẽ ôn tồn để uý lạo.
Pháp Chính nói riêng với Bàng Thống:
- Mới rồi, Trương Tùng có thư mật
đến đây, nói khi đến Bồi Thành gặp Lưu Chương thì sẽ tính luôn, không nên bỏ lỡ
cơ hội.
Thống nói:
- Ý định này không nên nói ra, đợi
khi hai họ Lưu gặp nhau, sẽ nhận dịp giết đi. Nếu tiết lộ ra, tất bên trong
sinh biến.
Pháp Chính nghe lời và và hết sức
giữ bí mật.
Bồi Thành cách Thành Đô ba trăm
sáu mươi dặm. Lưu Chương đến nơi, sai người nghênh tiếp Huyền Đức. Hai đạo quân
đều đóng đồn trên bờ sông Bồi, Huyền Đức vào thành, ra mắt Lưu Chương. Hai bên
kể lể sự tình, gạt nước mắt nói chuyện tâm phúc. Chương mở tiệc khoản đãi. Tiệc
tan, ai về trại ấy nghỉ ngơi.
Chương bảo với các quan rằng:
- Nực cười cho bọn Hoàng Quyền,
Vương Luỹ không biết bụng dạ anh họ ta, cứ hồ nghi xằng. Hôm nay ta được tiếp mới
biết là người nhân nghĩa. Ta được ông ấy giúp cho, thì lo gì Tào Tháo, Trương Lỗ
nữa. Giá không có Trương Tùng thì lỡ cả việc!
Lập tức cởi áo lục bào đang mặc
và lấy năm trăm lạng vàng, sai người đem về Thành Đô thưởng cho Trương Tùng.
Khi đó, các tướng tá là Lưu Hội,
Lãnh Bào, Trương Nhiệm, Đặng Hiền và toàn ban văn võ đều nói:
- Chúa công đừng mừng rỡ vội, Lưu
Bị ngoài mềm trong cứng, chưa dễ mà lường được đâu phải đề phòng mới được.
Chương cười, nói:
- Các người hay lo xa lắm, anh ta
có đâu lại hai lòng?
Ai nấy thở dài, trở ra.
Huyền Đức về đến trại. Bàng Thống
vào ra mắt và nói:
- Chúa công có biết ý tứ Lưu Quý
Ngọc trong bữa tiệc hôm nay thế nào không?
Huyền Đức nói:
- Lưu Quý Ngọc cũng là người
thành thực.
Thống nói:
- Quý Ngọc tuy là người hiền hậu,
nhưng tôi xem ý bọn thủ hạ của y đều có vẻ bất bình cả, chưa biết hay dở làm
sao. Cứ như ý tôi thì ngày mai nên mở một tiệc mời Lưu Chương đến uống rượu, ta
phục sẵn một trăm quân đao phủ, chúa công quẳng chén ra hiệu, giết y ngay tại
chỗ, rồi kéo ùa vào Thành Đô, gươm không phải rút khỏi vỏ, cung không phải lên
đây, chỉ việc ngồi mà cũng bình định xong cả.
Huyền Đức nói:
Quý Ngọc là anh em họ với ta, đối
đãi với ta rất thành thật, vả lại ta mới đặt chân đến đất Thục, ân đức và uy
tín chưa có gì. Nếu ta làm thế, thì trời không dung mà người cũng oán; mưu ấy dẫu
người dùng đạo bá cũng không làm được!
Thống nói:
- Đó là mẹo của Trương Tùng đưa mật
thư cho Pháp Chính, dặn rằng công việc phải tính mau không nên để chậm.
Thống nói chưa dứt lời thì Pháp
Chính vào nói:
- Không phải chúng tôi đều vì lợi
ích riêng đâu, đó là thuận theo mệnh trời thôi!
Huyền Đức nói:
- Lưu Quý Ngọc là đồng tông với
ta, ta không nỡ làm thế.
Chính nói:
- Ngài nói sai rồi! Nếu không làm
thế thì Trương Lỗ có thù Thục giết mất mẹ, tất đến đánh chiếm Thục mất. Ngài vượt
suối trèo đèo, ruổi rong quân mã, mới đến được đây, tiến lên thì thành công mà
rút lui thì vô ích. Nếu cứ dùng dằng mãi thì thật là thất sách. Ngài không quyết
ngay, tôi sợ mưu của mình lộ ra sẽ nguy đến nơi! Chi bằng nhân dịp trời thuận
người theo, mà làm ngay đi, để gây dựng cơ nghiệp cho chóng là hơn cả.
Bàng Thống cũng khuyên hai ba lần
nữa.
Đó là:
Lã thần rắp ý dụng quyền mưu.
Chưa biết Huyền Đức nghĩ ra làm sao, xem hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Tương Như: tên là Tư Mã Tương Như, nhà văn thời
Tây Hán.
- ▲ Trọng Cảnh: Trương Cơ, tự là Trọng Cảnh, thầy
thuốc có tiếng thời Đông Hán.
- ▲ Quân Bình: Nghiêm Quân Bình thầy bói thời Tây
Hán.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét