🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Dùng chước lạ, Khổng Minh mượn tên
Dâng kế mật, Hoàng Cái chịu nhục
Lỗ Túc vâng lời Chu Du xuống thuyền
thăm dò Khổng Minh, Khổng Minh đón vào khoang thuyền ngồi chơi. Túc nói:
- Mấy bữa nay bận việc quân, chưa
lúc nào rảnh đến hầu chuyện tiên sinh được.
Khổng Minh nói:
- Chính tôi cũng chưa đến mừng đô
đốc được.
Túc hỏi:
- Có việc gì mà mừng?
Khổng Minh nói:
- Việc Công Cẩn sai ông đến dò
tôi xem có biết hay không, việc ấy chính nên mừng.
Lỗ Túc tái mặt hỏi:
- Sao tiên sinh biết?
Khổng Minh đáp:
- Mẹo ấy chỉ lừa được Tưởng Cán.
Tào Tháo tuy cũng mắc mẹo, nhưng hắn tất nghĩ ra, song không chịu nhận lỗi đâu.
Nay Trương, Sái hai người đã chết, Giang Đông không phải lo gì nữa, sao chẳng mừng
được! Tôi lại nghe Tào Tháo cho Vu Cấm, Mao Giới lên thay lĩnh chức thuỷ quân
đô đốc. Hai người ấy chỉ có mang tính mệnh cả thuỷ quân Tào Tháo mà quẳng đi,
chớ làm chi được!
Lỗ Túc nghe xong, nói một vài câu
qua loa rồi từ biệt ra về. Khổng Minh dặn Lỗ Túc:
- Tử Kính có về, đừng nói với
Công Cẩn rằng tôi biết trước việc ấy nhé! Sợ rồi Công Cẩn mang lòng ghen ghét.
Lại kiếm chuyện để mưu hại tôi.
Lỗ Túc vâng lời trở về, ra mắt
Chu Du, kể hết đầu đuôi, Du thất kinh, nói:
- Người này quyết không sao để được,
ta phải chém đi mới xong.
Lỗ Túc can:
- Nếu ta giết Khổng Minh, sẽ bị
Tào Tháo cười cho.
Du nói:
- Ta sẽ lấy phép công mà chém,
cho hắn chết cũng không oán được ta.
Lỗ Túc hỏi:
- Phép công gì?
Du nói:
- Tử Kính không phải nói, đến mai
sẽ biết.
Hôm sau, Du hội cả các tướng dưới
trướng, mời Khổng Minh đến bàn việc. Khổng Minh đến, Du hỏi:
- Nay sắp đánh nhau với Tào Tháo ở
trên mặt sông, nên dùng vũ khí gì đánh cho tiện?
Khổng Minh thưa:
- Trên mặt sông lớn, cốt lấy cung
tên làm đầu.
Du nói:
- Lời tiên sinh hợp ý tôi lắm! Hiện
trong quân đang thiếu tên bắn, phiền tiên sinh trông nom giúp cho việc làm mười
vạn chiếc tên. Đây là việc công, xin tiên sinh chớ nên từ chối.
Khổng Minh nói:
- Đô đốc đã sai, tôi xin hết sức.
Xin hỏi mười vạn tên khi nào dùng đến?
Du hỏi:
- Trong mười hôm, có làm xong
không?
Khổng Minh nói:
- Quân Tào nay mai sắp đến, nếu đợi
mười ngày, việc lớn hỏng mất.
Du hỏi:
- Tiên sinh liệu độ mấy hôm thì
xong?
Khổng Minh thưa:
- Trong nội ba ngày sẽ nộp đủ mười
vạn tên.
Du nói:
- Việc quân không phải trò đùa
đâu!
Khổng Minh nói:
- Đâu có dám đùa với đô đốc, tôi
xin làm giấy cam đoan, nếu ba ngày không xong, cam chịu trọng tội.
Du mừng lắm, gọi ngay quan chính
tư[1] mang giấy tờ ra làm cam kết, rồi mở tiệc khoản đãi và
nói:
- Khi nào xong việc, sẽ có hậu
thưởng.
Khổng Minh nói:
- Hôm nay đã không kịp rồi, ngày
mai bắt đầu làm, đến ngày thứ ba, xin đô đốc sai năm trăm quân đến bờ sông nhận
tên đem về.
Khổng Minh uống thêm vài chén rồi
từ biệt.
Lỗ Túc hỏi Chu Du:
- Người này nói khoác chăng?
Du nói:
- Rõ ràng hắn tự mua lấy cái chết,
chứ ta cũng không bắt ép gì hắn. Hôm nay đông đủ mặt các quan, làm tờ cam kết,
dù hắn có mọc cánh cũng không bay thoát. Ta dặn bọn thợ cố làm dây dưa, và
không cấp đủ cho đồ dùng, tất nhiên hắn lỡ hẹn. Khi ấy ta trị tội, xem có kêu
ca được nữa không? Tử Kính thử sang thăm dò tình hình, về báo cho ta biết.
Lỗ Túc vâng lệnh, đến gặp Khổng
Minh.
Khổng Minh nói:
- Ta đã bảo Tử Kính đừng nói chuyện
gì với Công Cẩn, e Công Cẩn lại tìm kế hại ta. Không ngờ Tử Kính không chịu giấu
giếm hộ, hôm nay, quả nhiên lại có chuyện. Trong ba ngày, làm sao vót nổi mười
vạn tên, Tử Kính phải cứu ta mới được.
Túc nói:
- Ông tự rước lấy tội, tôi biết cứu
làm sao bây giờ?
Khổng Minh nói:
- Tử Kính cho ta mượn hai chục
chiếc thuyền, mỗi chiếc dùng ba chục tay thuỷ thủ tốt. Trên thuyền căng vải
xanh che chung quanh, và xếp hơn nghìn bó cỏ ở hai bên mạn thuyền. Ta sẽ có kế.
Đến ngày thứ ba bảo đảm có đủ mười vạn tên cho mà xem. Nhưng chớ để cho Công Cẩn
biết nữa, nếu hắn biết thì kế ta hỏng mất đó.
Túc vâng lời, nhưng chưa hiểu rõ
mưu mô khổng Minh ra sao. Lúc về gặp Chu Du, quả nhiên Túc không đả động gì đến
việc mượn thuyền, chỉ bảo không thấy Khổng Minh dùng đến tre, gỗ, lông chim và
sơn nhựa gì cả, chỉ nói rằng đã có cách.
Du rất ngạc nhiên nói:
- Thử đợi đến hôm thứ ba xem sao.
Lỗ Túc cắt riêng hai chục chiếc
thuyền nhanh nhẹ, mỗi chiếc ba chục người bơi, đủ đồ vải căng, cỏ bó, dự bị sẵn
sàng cho Khổng Minh. Ngày thứ nhất không thấy gì, ngày thứ hai cũng vậy. Mãi đến
hôm thứ ba, độ canh tư, Khổng Minh mới lén sai người mời Lỗ Túc xuống thuyền.
Túc hỏi:
- Ông gọi tôi đến có việc gì?
Khổng Minh nói:
- Mời ông cùng đi lấy tên một thể.
Túc hỏi:
- Lấy tên ở đâu?
Khổng Minh nói:
- Tử Kính không phải hỏi, cứ đi sẽ
biết.
Nói rồi, sai lấy thừng chạc dàng
cả hai chục thuyền làm một, cho bơi thẳng lên phía bắc.
Đêm ấy, sương mù phủ kín trời,
trên mặt sông lại càng mờ mịt, giáp mặt không trông thấy nhau. Khổng Minh giục
quân chèo thuyền đi thật gấp. Quả thật là sương mù rất đẹp, rất nên thơ.
Lỗ Túc sợ hãi hỏi:
- Quân Tào ùa ra thì làm thế nào?
Khổng Minh cười đáp:
- Tôi chắc Tào Tháo thấy sương mù
thế này, không dám cho quân ra. Chúng mình cứ yên trí uống rượu làm vui, đợi
khi nào sương tan thì về.
Canh năm đêm ấy, thuyền đến sát
thuỷ trại của Tào Tháo. Khổng Minh sai đổ thuyền quay mũi về hướng tây, dàn
thành hàng chữ nhất, rồi đánh trống và hò reo ầm ĩ.
Trong trại Tào, nghe thấy tiếng
trống đánh, tiếng reo hò, Mao Giới, Vu Cấm vội vàng phi báo với Tào Tháo.
Tháo truyền lệnh rằng:
- Sương mù dày đặc, quân giặc kéo
đến bất thần, tất có mai phục, không nên khinh động.
Tháo chỉ ra lệnh cho quân cung nỏ
bắn tứ tung ra, lại sai người lên trại cạn gọi Trương Liêu, Từ Hoảng mỗi người
dẫn ba nghìn quân cung nỏ cấp tốc đến bờ sông trợ chiến. Hiệu lệnh đến nơi thì
Vu Cấm, Mao Giới sợ quân nam tràn vào thuỷ trại, đã sai quân bắn rào rào ra rồi
một lát quân trên cạn cũng đến, ước hơn vạn người, đều chĩa vào chỗ có tiếng trống
bắn xuống như mưa. Khổng Minh một mặt lại sai quay mũi thuyền về phía tây, áp
vào trại thuỷ đỡ lấy tên; một mặt vẫn cứ thúc trống hò reo ầm ĩ. Khi mặt trời đã
mọc, sương mù dần tan, Khổng Minh sai thu thuyền kéo về. Các bó cỏ trên hai chục
chiếc thuyền, bó nào cũng chi chít những tên cắm.
Khổng Minh sai quân sĩ đồng thanh
reo to lên rằng:
- Tạ ơn thừa tướng giúp tên!
Khi quân vào báo cho Tháo biết,
thì thuyền nhẹ nước xuôi, đã đi xa hàng hai chục dặm rồi, đuổi không kịp nữa.
Tào Tháo tức bực vô cùng.
Khổng Minh quay thuyền về nói với
Lỗ Túc rằng:
- Mỗi thuyền được ước chừng năm
sáu nghìn tên mà không hề tốn chút công sức nào của Đông Ngô cả. Thế là đã được
hơn mười vạn tên, nay mai lại đem tên bắn lại quân Tào, chẳng tiện lắm ư?
Túc nói:
- Tiên sinh thực là thần thánh.
Làm sao lại biết đêm nay có sương mù lớn thế?
Khổng Minh nói:
- Làm tướng mà không biết thiên
văn, không tường địa lý, không biết được thuật pháp, không hiểu được âm dương,
không tính trận đồ, không giỏi binh thế, đó là tướng xoàng. Từ ba hôm trước, ta
đã tính biết hôm nay có sương mù lớn, nên mới dám nhận thời hạn ba hôm. Công Cẩn
hạn cho ta mười ngày, mà thuyền thợ, đồ dùng không có gì đủ, chực đem một tội lỗi
nhỏ để hại ta; nhưng số mệnh ta đã có trời, hại làm sao nổi!
Lỗ Túc chịu là giỏi.
Thuyền vừa cập bến, đã thấy năm
trăm quân của Chu Du đứng chực lĩnh tên. Khổng Minh bảo lên thuyền mà lấy, được
hơn chục vạn chiếc đem về nộp. Lỗ Túc vào ra mắt Chu Du, thuật lại cả việc đi lấy
tên. Du giật mình, thở dài than rằng:
- Khổng Minh mẹo thần, tính giỏi,
ta thật không bằng!
Ngày sau có thơ rằng:
Gần xa không rõ nước mênh mang
Tên bắn như mưa thuyền không núng
Khổng Minh tài trí vượt Chu lang
Một lát, Khổng Minh cũng vào gặp
Chu Du. Du ra ngoài trại đón và khen rằng:
- Mưu kế tiên sinh tài tình lắm,
khiến người ta phải kính phục.
Khổng Minh nói:
- Đó chỉ là một chút mẹo vặt, có
gì là lạ đâu?
Du mời Khổng Minh vào trướng uống
rượu, rồi hỏi rằng:
- Hôm qua, chúa công tôi cho người
đến thúc giục tiến quân, tôi chưa nghĩ được mẹo gì lạ, xin tiên sinh dạy cho.
Khổng Minh thưa:
- Tài tôi thường lắm, nghĩ sao được
diệu kế?
Du nói:
- Hôm trước, tôi xem thuỷ trại của
Tào Tháo cực kỳ nghiêm chỉnh, rất hợp binh pháp, không dễ phá được. Tôi đã nghĩ
ra một mẹo, chưa biết có dùng được hay không, xin tiên sinh quyết định giúp.
Khổng Minh nói:
- Đô đốc đừng nói vội, xin hãy
cùng viết vào lòng bàn tay, xem có khớp nhau không đã.
Du mừng lắm, sai đem nghiên bút
ra, viết ngầm vào bàn tay một chữ, rồi đưa bút cho Khổng Minh. Khổng Minh cũng
viết một chữ. Hai người ngồi lại gần, xoè bàn tay ra, rồi cùng cười ầm cả lên.
Té ra trong tay Chu Du đề một chữ “Hoả”, trong tay Khổng Minh cũng một chữ “Hoả”.
Chu Du nói:
- Hai chúng ta đã hợp ý nhau, chắc
không còn nghi ngờ gì nữa, xin đừng tiết lộ cho ai biết.
Khổng Minh nói:
- Việc là việc chung cả hai nhà,
có lẽ đâu lại để lộ chuyện. Tào Tháo đã hai phen mắc mẹo của tôi, nhưng chắc lần
này hắn cũng không phòng bị. Đô đốc cố gắng lên thì thế nào cũng được.
Tan tiệc đâu về đấy, các tướng
không ai biết câu chuyện ra sao.
Tào Tháo, từ khi mất mười lăm mười
sáu vạn tên, trong lòng buồn tức lắm. Tuân Du hiến kế rằng:
- Giang Đông có Chu Du, Gia Cát
Lượng, hai người hợp mưu với nhau, khó lòng phá nổi. Ta hãy sai người đến Giang
Đông trá hàng, làm tay trong, dò xét đầy đủ tình hình mới có thể phá được.
Tháo nói:
- Ngươi nói chính hợp ý ta. Vậy
ngươi thử xem ai đi làm được việc ấy?
Tuân Du thưa:
- Sái Mạo bị giết, em hắn là Sái
Trung, Sái Hoà hiện đang làm phó tướng. Thừa tướng nên ban ơn cho họ vui lòng gắn
bó với ta, rồi sai sang trá hàng, tất Đông Ngô không nghi kỵ.
Tháo theo lời ấy, đang đêm, gọi
hai người vào trướng dặn rằng:
- Hai người hãy dẫn một số quân
sang Đông Ngô trá hàng, hễ thấy động tĩnh gì, sai người về mật báo ngay. Khi
nào thành công, ta sẽ ban thưởng thêm; chớ có ăn ở hai lòng nhé!
Sái Trung, Sái Hoà bẩm:
- Xin thừa tướng chớ nghi, vợ con
chúng tôi ở cả Kinh Châu, chúng tôi có đâu dám thế! Hai chúng tôi quyết lấy đầu
Chu Du, Gia Cát Lượng về dâng dưới trướng.
Tháo trọng thưởng cho hai người.
Hôm sau, hai người đem năm trăm
tên quân, chở vài chiếc thuyền, thuận gió xuôi xuống bờ phía nam. Chu Du đang
tính toán việc tiến quân, chợt có tin báo có thuyền ở Giang Bắc sang, tự xưng
tên là Sái Hoà, Sái Trung, em ruột Sái Mạo, đến hàng. Du cho gọi vào. Hai người
vừa khóc vừa lạy, nói:
- Anh chúng tôi là Sái Mạo, không
có tội gì, tự dưng bị Tào Tháo giết mất. Chúng tôi muốn báo thù cho anh, nên
sang đầu hàng. Mong đô đốc thu dụng cho, chúng tôi xin làm tiền bộ.
Du mừng rỡ, trọng thưởng cho hai
người rồi sai dẫn quân theo Cam Ninh làm tiền bộ. Hai người lạy tạ, chắc mẩm Du
đã trúng kế rồi.
Du gọi Cam Ninh vào dặn rằng:
- Hai thằng này không mang theo vợ
con, chẳng phải thực bụng hàng đâu, đúng Tào Tháo sai đến làm gian tế đây. Nay
ta muốn biến kế của nó thành kế của mình, để nó báo tin về cho Tào Tháo. Ngươi
phải ân cần khoản đãi chúng nó, nhưng phải đề phòng. Đợi khi nào ta cất quân
đi, sẽ đem giết chúng để tế cờ. Ngươi phải cẩn thận, không được để lỡ việc.
Cam Ninh vâng lời trở ra. Lỗ Túc
vào gặp Chu Du, nói:
- Việc Sái Trung, Sái Hoà đến
hàng chỉ là giả dối, không nên dùng vội.
Du mắng rằng:
- Hai người ấy vì Tào Tháo giết
oan mất anh, nên đến hàng để trả thù, giả gì mà giả? Ngươi hay đa nghi thế,
dùng làm sao được người giỏi trong thiên hạ?
Túc nín lặng lui ra, đến nói với
Khổng Minh. Khổng Minh chỉ cười.
Túc nói:
- Ông cười gì thế?
Khổng Minh nói:
- Tôi cười ông không biết đó là
Công Cẩn dùng mưu. Sông to cách trở, do thám đi lại khó khăn. Tháo sai hai người
sang trá hàng để dò xét quân ta. Công Cẩn lại muốn mượn kế nó làm kế mình, dùng
chúng thông báo tin tức đỡ mình. Binh pháp cần phải dối trá, mưu của Công Cẩn rất
hay.
Túc bấy giờ mới hiểu.
Đêm hôm ấy, Chu Du đang ngồi
trong trướng, bỗng thấy Hoàng Cái lẻn vào ra mắt, Du hỏi:
- Công Phúc đang đêm đến đây, tất
có mưu hay bàn bạc.
Cái thưa:
- Quân giặc nhiều, quân ta ít,
không nên cầm cự lâu. Sao không dùng kế hoả công?
Du hỏi:
- Ai xui ông hiến kế ấy?
Cái thưa:
- Tôi tự nghĩ ra, không có ai bày
vẽ cho cả.
Du nói:
- Ta vẫn muốn dùng kế ấy, cho nên
mới giữ Sái Trung, Sái Hoà ở đây, để chúng nó đưa tin tức về cho nhau; nhưng hiềm
vì không có ai thi hành kế trá hàng cho ta cả.
Cái thưa:
- Tôi xin đảm nhận.
Du nói:
- Nếu không chịu khổ sở một chút,
thì khi nào Tào Tháo chịu tin?
Cái thưa:
- Tôi đội hậu ân của họ Tôn, dẫu
gan óc lầy đất cũng cam.
Du lại tạ rằng:
- Ông chịu thực hiện kế khổ nhục
này, thật là may mắn cho Giang Đông quá.
Cái thưa:
- Tôi chết cũng không oán hận
chút nào!
Nói rồi tạ trở ra.
Hôm sau, Chu Du nổi trống họp các
tướng. Khổng Minh cũng đến, Chu Du nói:
- Tháo dẫn hàng trăm vạn quân,
doanh trại liên tiếp hơn ba trăm dặm, không phải một ngày mà phá xong được. Nay
truyền cho các tướng, mỗi người phải lĩnh lương thảo ba tháng, phòng chống nhau
với giặc.
Du nói vừa dứt lời, Hoàng Cái tiến
ra nói:
- Đừng nói ba tháng, dẫu cấp cả
ba mươi tháng lương thảo cũng chẳng làm trò gì? Nội trong cả tháng này, có thể
phá được thì phá, nếu không phá nổi, thì chi bằng theo lời Tử Bố, bỏ giáp quẳng
gươm, ngoảnh mặt về bắc mà hàng đi cho rảnh!
Chu Du nghe nói tái mặt lại, nổi
giận đùng đùng, thét lớn:
- Ta đây phụng mệnh chúa công, chỉ
huy ba quân phá Tào, ai dám nói đến hàng là chém. Nay đang lúc hai bên đối địch,
mày dám mở mồm ra nói câu ấy, làm ngã lòng quân, không chém đầu mày thì còn bảo
được ai!
Liền quát võ sĩ lôi Cái ra chém.
Cái cũng tức giận nói lớn:
- Ta từ khi theo Phá lỗ tướng
quân[2] đến nay, tung hoành miền đông nam trải qua ba đời rồi,
khi ấy đâu đã có ngươi?
Du giận quá, thét chém cho mau.
Cam Ninh bước lên can rằng:
- Công Phúc là cựu thần của Đông
Ngô, xin hãy khoan thứ cho.
Du quát lên rằng:
- Sao mày dám nói lôi thôi, làm
loạn phép tắc của tao?
Lập tức thét tả hữu lấy roi vụt
Cam Ninh túi bụi rồi đuổi ra.
Các quan đều quỳ xuống can rằng:
- Tội Hoàng Cái thực là đáng chết,
nhưng giết Cái thì không có lợi cho việc quân. Xin đô đốc hãy khoan thứ cho, tạm
ghi tội lại đó, đợi phá xong Tào Tháo, sẽ đem chém cũng chưa muộn.
Chu Du vẫn hầm hầm, các quan nằn
nì kêu van mãi, Du mới nói:
- Nếu không nể mặt các quan, thì
ta quyết lấy đầu mày đó! Nay hãy tha cho mày tội chết!
Du bèn sai tả hữu vật cổ Hoàng
Cái xuống đánh một trăm roi.
Các quan lại kêu van, Du hất đổ cả
bàn đi, quát mắng các quan, và thét bảo đánh đập. Tả hữu lật áo Hoàng Cái, vật
sấp xuống đánh, đánh năm chục roi. Các quan lại xúm vào xin tha. Du đứng dậy,
chỉ mặt Hoàng Cái nói:
- Mày còn dám coi thường tao
chăng? Hãy cho chịu năm chục trượng đó, nếu còn vô lễ, hai tội sẽ trị nhân thể.
Rồi vừa đi vừa mắng nhiếc om sòm
trở vào trong trướng.
Các tướng ra vực Hoàng Cái dậy,
thấy da thịt tả tơi, máu me đầm đìa. Khi về đến trại, ngất đi mấy lần. Ai đến hỏi
thăm cũng ứa hai hàng nước mắt. Lỗ Túc cũng đến thăm, rồi xuống thuyền trách Khổng
Minh rằng:
- Hôm nay Công Cẩn giận đánh
Hoàng Cái như thế, chúng tôi là bộ hạ Công Cẩn nên không ai dám mạnh dạn can
ngăn đã đành; tiên sinh là khách, sao chỉ thu tay đứng xem, không nói giúp cho
một câu gì?
Khổng Minh cười nói:
- Tử Kính còn dối ta!
Túc nói:
- Từ khi tôi cùng với tiên sinh
sang sông đến giờ, chưa hề có câu gì dối nhau, sao tiên sinh lại nói thế?
Khổng Minh nói:
- Thế ra Tử Kính không biết Công
Cẩn đánh đau Hoàng Cái là mưu kế đó ư? Tại sao còn cần đến tôi khuyên can?
Lỗ Túc bấy giờ mới biết, Khổng
Minh nói:
- Không dùng mẹo khổ nhục, làm
sao đánh lừa được Tào Tháo? Nay đô đốc tất sai Hoàng Cái sang trá hàng, và mượn
bọn Sái Trung đưa tin về trước. Tử Kính có đến chơi với Công Cẩn, chớ có nói là
ta biết mẹo ấy nhé! Chỉ nên nói rằng ta cũng oán Công Cẩn ác quá là xong.
Túc về, vào gặp Chu Du. Du mời
vào sau trướng ngồi chơi. Túc nói:
- Hôm nay, làm sao đô đốc đánh
Công Phúc đau quá thế?
Du hỏi:
- Các tướng có ai oán ta không?
Túc nói:
- Nhiều người thắc mắc lắm!
Du hỏi:
- Ý Khổng Minh thế nào?
- Khổng Minh cũng oán đô đốc bạc
đãi tướng sĩ.
Du cười, nói:
- Phen này ta mới lừa được Khổng
Minh!
Túc hỏi làm sao, Du nói:
- Đánh Hoàng Cái là kế của ta đó.
Ta muốn sai hắn trá hàng, nên trước hết dùng kế khổ nhục để đánh lừa Tào Tháo,
rồi sau dùng kế hoả công thì mới có thể thắng được.
Túc trong bụng phục Khổng Minh là
cao kiến, nhưng không dám nói rõ.
Hoàng Cái đau nằm trong trướng,
các tướng đều đến hỏi thăm. Cái chẳng nói năng gì cả, cứ thở dài sườn sượt. Chợt
báo có quan tham mưu là Hám Trạch lại thăm. Cái sai mời vào tận chỗ nằm, đuổi tả
hữu lui ra ngoài. Hám Trạch hỏi:
- Tướng quân có thù hằn gì với đô
đốc chăng?
Cái nói:
- Không thù hằn gì cả.
Trạch nói:
- Thế thì vừa rồi ông bị đòn có
phải là kế khổ nhục không?
Cái hỏi:
- Sao ông biết?
- Tôi xem bộ dạng Công Cẩn, mười
phần đã đoán được chín.
Cái nói:
- Tôi chịu hậu ân họ Tôn đã ba đời,
không lấy gì báo được, nên hiến kế ấy để phá Tào Tháo. Thân tôi tuy đau khổ,
nhưng lòng tôi hả hê. Tôi xem trong đám tướng sĩ, không ai là tâm phúc của tôi;
duy có ông là người trung nghĩa, nên tôi mới dám thổ lộ can trường.
Trạch nói:
- Phải chăng ông muốn dùng tôi
dâng thư trá hàng?
Cái đáp:
- Quả thị tôi có ý đó, chưa biết
ông có chịu giúp cho không?
Hám Trạch hớn hở nhận lời.
Ấy thực là:
Mưu thần vì nước lại đồng tâm.
Chưa biết Hám Trạch sang dâng thư
làm sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
- ▲ Quan giữ hình luật trong quân.
- ▲ Chỉ Tôn Kiên.
Hám Trạch mật dâng thư giả hàng
Bàng Thống khéo dùng liên hoàn kế
Hám Trạch tự là Đức Nhuận, người
làng Sơn Âm, quận Cối Kê, nhà nghèo nhưng chăm học, phải đi làm thuê; thường
hay mượn sách về xem, xem xong một lượt là nhớ như in không bao giờ quên nữa.
Trạch lại có tài biện bác, có can đảm. Tôn Quyền dùng làm tham mưu. Trạch chơi
với Hoàng Cái thân thiết lắm, nên Cái nhờ dâng thư trá hàng, Trạch vui lòng nhận
ngay và nói:
- Đại trượng phu ở đời, không lập
được công danh sự nghiệp gì, chẳng hoá ra cùng với cỏ cây mục nát ư? Ông đã
quên mình báo chúa, đây tôi dám há tiếc thân!
Hoàng Cái nhảy choàng xuống đất lạy
tạ. Trạch nói:
- Việc không nên để lâu, xin đi
ngay hôm nay!
Cái nói:
- Thư tôi đã viết sẵn rồi.
Trạch nhận lấy thư. Đến đêm giả
làm ông lão đánh cá, bơi chiếc thuyền con sang thẳng bờ phía bắc. Đêm hôm ấy,
sao lạnh đầy trời; vừa canh ba thì thuyền Hám Trạch tới cạnh thuỷ trại quân
Tào. Quân tuần tiễu trên sông bắt được, vào báo với Tào Tháo.
Tháo hỏi:
- Có lẽ là gian tế chăng?
Quân thưa:
- Chỉ có một ông lão đánh cá, tự
xưng là tham mưu bên Đông Ngô, tên là Hám Trạch, lại trình việc cơ mật.
Tháo sai dẫn vào. Bấy giờ trên
trướng, đèn đuốc sáng loà, Tháo ngồi ngất ngưởng trên ghế hỏi rằng:
- Ngươi đã làm tham mưu bên Đông
Ngô, nay đến đây có việc chi?
Trạch nói:
- Trước kia, tôi thấy người ta đồn
Tào thừa tướng cầu người hiền như kẻ khát nước. Nay nghe lời nói thật không ăn
khớp chút nào. Thôi, Hoàng Công Phúc, ngươi nghĩ lầm mất rồi!
Tháo nói:
- Ta sắp sửa đánh nhau với Đông
Ngô, thấy ngươi một mình đi lẻn đến đây, lẽ nào chẳng phải hỏi?
Hám Trạch nói:
- Hoàng Công Phúc là cựu thần ba
đời bên Đông Ngô. Nay vô cớ bị Chu Du dập đánh khổ sở trước mặt các tướng. Công
Phúc lấy làm căm tức vô cùng, bởi vậy, muốn sang hàng thừa tướng để báo thù, liền
bàn với tôi. Tôi với ông ta như anh em ruột một nhà, cho nên dâng hộ tờ mật
thư, chưa biết thừa tướng có dùng cho không?
Tháo hỏi:
- Thư đâu?
Hám Trạch đưa thư ra trình. Dưới
đèn, Tháo mở xem, trong thư nói rằng:
“Tôi là Hoàng Cái, đội ơn sâu
họ Tôn, đáng lẽ không dám ăn ở hai lòng mới phải. Nhưng xét tình thế bây giờ,
thì đem quân sáu quận Giang Đông mà địch với quân trăm vạn ở Trung Nguyên, ít địch
sao nổi nhiều, thiên hạ đều thấy rõ cả. Các tướng sĩ bên Đông Ngô, bất kỳ khôn
dại, ai cũng biết cái lẽ như thế. Duy có Chu Du ba tuổi ranh, tính tình nông nổi,
tự cao tự đại, muốn đem trứng chọi với đá, lại ỷ thế lộng quyền, phạt kẻ vô tội
mà không thương người có công. Tôi là cựu thần, bỗng dưng bị đánh, căm tức biết
ngần nào!
“Tôi được nghe tiếng thừa tướng
đem bụng chân thành đãi người, nhún mình dùng kẻ sĩ. Vậy tôi xin đem quân lại
hàng, mong lập lấy chút công và rửa nhục trước. Lương thảo cùng đồ khí giới, sẽ
xin đem cả thuyền lại nộp sau. Khóc ra máu, lạy trình thư này, xin đừng hồ nghi
gì cả!”
Tháo ngồi trên ghế, xem đi xem lại
tờ thư hơn chục lượt, rồi bỗng dưng đập tay xuống án, trợn mắt nổi giận lên mà
nói rằng:
- Hoàng Cái dùng kế khổ nhục, sai
người đến dâng thư trá hàng, dám to gan đánh trống qua cửa nhà sấm phải không?
Và thét tả hữu lôi Trạch ra chém.
Khi Trạch bị dẫn đi, nét mặt vẫn thản nhiên như không. Trạch chỉ ngẩng mặt lên
trời cười ngất.
Tháo sai lôi lại quát hỏi:
- Ta đã biết rõ ruột gan ngươi,
ngươi còn cười gì nữa?
Trạch nói:
- Thưa! Tôi đâu dám cười ông! Tôi
cười Hoàng Công Phúc không biết người đó thôi!
Tháo hỏi:
- Thế nào là không biết người?
Trạch đáp:
- Chém thì cứ chém, việc gì phải
hỏi lôi thôi?
Tháo nói:
- Ta đây học binh thư từ nhỏ, còn
lạ gì những mẹo ấy, ngươi lừa ai thì được, chớ lừa ta sao nổi?
Trạch nói:
- Xin ông hãy cho tôi biết mẹo lừa
ở chỗ nào?
Tháo nói:
- Để ta nói thẳng cho ngươi biết,
để ngươi có chết cũng không oán thán gì được nữa. Nếu các ngươi thật tâm muốn
hàng, sao không định trước ngày giờ? Thế có phải là gian hay không?
Trạch nghe xong, phì cười, nói:
- Nói thế mà không biết thẹn, dám
khoe khoang biết nhiều binh thư! Thôi, biết điều thì thu quân về cho mau, đừng
có đánh chác gì nữa mà bị Chu Du tóm được. Đồ vô học kia! Tiếc thay, ta chết uổng
về tay ngươi!
Tháo hỏi:
- Sao lại bảo ta là vô học?
Trạch đáp:
- Ngươi không biết cơ mưu, không
hiểu đạo lý, vô học rành rành ra đấy còn gì!
Tháo nói:
- Ngươi cứ vạch những chỗ không
đúng của ta ra xem nào?
Trạch nói:
- Ngươi không kính trọng người hiền,
hà tất phải nhiều lời làm gì? Ta chỉ có chết là hết!
Tháo nói:
- Nếu ngươi đưa ra đủ lý lẽ thì tự
nhiên ta sẽ kính phục ngay.
Trạch nói:
- Thế ngươi không biết câu: “Trốn
chúa đi lén, không thể hẹn giờ sao? Nếu hẹn trước mà lỡ ra việc trong chưa
xong, ngoài đã có binh tiếp ứng, chẳng hoá ra lộ chuyện mất à? Do đó gặp lúc
thuận tiện thì làm, chứ hẹn trước làm sao được. Ngươi không hiểu lẽ đó, định giết
người tử tế, quả là đồ vô học.
Tháo nghe xong, dịu ngay nét mặt,
bước xuống xin lỗi nói:
- Tôi xét việc không tinh, lỡ phạm
đến oai ngài, xin tha thứ cho.
Hám Trạch nói:
- Tôi với Hoàng Công Phúc đã dốc
một lòng đến hàng, khác nào trẻ nít mong cha mẹ, còn có điều gì là dối trá nữa.
Tháo mừng lắm nói:
- Nếu hai ông mà lập được công to
này, ngày sau sẽ được phong tước cao hơn những người khác.
Trạch nói:
- Chúng tôi có phải vì tước lộc
mà lại đây đâu, chính vì thuận lẽ trời, hợp lòng người đó thôi.
Tháo sai đem rượu khoản đãi. Một
lát, có người vào ghé tai nói nhỏ với Tào Tháo. Tháo nói:
- Đưa thư ra xem nào!
Người đó trình thư lên. Xem xong,
Tháo tỏ vẻ vui mừng. Hám Trạch nghĩ thầm đây hẳn là Sái Hoà, Sái Trung đưa tin
về báo chuyện Hoàng Cái bị đòn, nên Tháo mừng việc ta đến hàng là thật bụng hẳn.
Tháo nói:
- Phiền tiên sinh trở về Giang
Đông, cùng với Hoàng Công Phúc hẹn ngày đưa tin sang bên này cho tôi biết trước,
để đem quân ra tiếp ứng.
Trạch thưa:
- Tôi đã bỏ xứ Giang Đông mà đến
đây, không mặt mũi nào dám về nữa. Xin thừa tướng sai người tin cẩn khác.
Tháo nói:
- Nếu sai người khác, tôi e tiết
lộ việc chăng?
Trạch từ chối mãi rồi nói:
- Tôi có về thì phải đi ngay,
không ở đây lâu được.
Tháo thưởng cho vàng lụa. Trạch
không nhận, từ tạ trở ra, lại bơi chiếc thuyền nhỏ về Giang Đông.
Trạch thuật lại tất cả với Hoàng
Cái. Cái nói:
- Giá không được ông là người biện
bác giỏi, thì ta chịu khổ cũng uổng công.
Trạch xin ra trại Cam Ninh để dò
ý tứ Sái Trung, Sái Hoà. Cái nói:
- Hay lắm!
Trạch đến trại, nói với Ninh rằng:
- Hôm qua tướng quân cứu Hoàng
Công Phúc mà cũng bị đánh, tôi rất căm tức.
Ninh chỉ cười không nói. Giữa lúc
ấy thì Sái Trung, Sái Hoà ở đâu vừa đến. Trạch đưa mắt cho Cam Ninh, Ninh hiểu
ý nói ngay rằng:
- Công Cẩn chỉ hợm tài, chẳng coi
chúng ta ra gì. Ta nay bị nhục thật xấu hổ với các người bên sông Trường Giang.
Nói đoạn, mắm miệng nghiến răng,
đập tay xuống bàn gầm thét. Trạch giả tảng ghé vào tai Cam Ninh nói mấy câu.
Ninh cúi sầm ngay mặt xuống, nín lặng, chỉ thở dài ba tiếng.
Sái Trung, Sái Hoà thấy hai người
có ý muốn làm phản, mới hỏi thử:
- Chẳng hay tướng quân và tiên
sinh sao buồn bực làm vậy?
Trạch nói:
- Các ngươi biết thế nào được những
điều đau khổ trong lòng chúng ta!
Sái Hoà nói:
- Có lẽ hai vị định phản Đông Ngô
mà hàng Tào Tháo chăng?
Hám Trạch tái mặt lại. Cam Ninh
tuốt gươm đứng dậy nói:
- Việc của ta bị lộ rồi, phải giết
hai thằng này đi mới có thể giữ kín được!
Sái Trung, Sái Hoà vội nói:
- Hai ông chớ lo, chúng tôi cũng
xin đem việc tâm phúc bày tỏ với các ông.
Ninh nói:
- Nói mau lên!
Hoà nói:
- Tào công sai hai chúng tôi đến
trá hàng đây, nếu hai ông có ý quy thuận Tào công, chúng tôi xin dẫn tiến.
- Có thật thế không?
Hai người đồng thanh đáp:
- Đâu dám nói dối!
Ninh vờ mừng rỡ nói:
- Nếu được như thế, thì chính là
trời đem lại dịp may cho ta rồi!
Hai người nói:
- Việc Hoàng Công Phúc và tướng
quân bị nhục, tôi đã báo tin về cho thừa tướng rồi.
Hám Trạch cũng nói:
- Ta đã dâng thư hàng của Công
Phúc sang thừa tướng rồi, nay đến rủ Hưng Bá cùng đến hàng đây.
Ninh nói:
- Đại trượng phu đã gặp được minh
chủ, cũng nên quyết một lòng đi theo.
Bốn người chén tạc chén thù, bàn
việc tâm sự với nhau. Hai anh em họ Sái lập tức viết thư báo cho Tào Tháo, nói
Cam Ninh sẽ cùng với chúng làm nội ứng. Hám Trạch lại viết thư riêng sai người
đưa sang Tào Tháo. Trong thư nói Hoàng Cái muốn đến, nhưng chưa có dịp thuận tiện,
khi nào thấy đoàn thuyền có cắm cờ xanh ở đầu, đó chính là thuyền đến hàng.
Tháo được luôn hai bức thư, trong
bụng vẫn nghi nghi hoặc hoặc, liền hội các mưu sĩ lại bàn rằng:
- Bên Trường Giang, Cam Ninh bị
Chu Du làm nhục, xin làm nội ứng, Hoàng Cái bị đòn, sai Hám Trạch sang xin
hàng, đều chưa đáng tin lắm. Ai dám sang trại Chu Du dò xem hư thực ra sao?
Tưởng Cán bước ra nói:
- Tôi bữa trước sang Đông Ngô,
chưa làm được việc gì, vẫn còn áy náy. Nay xin liều đi chuyến nữa, quyết dò được
sự thật về báo với thừa tướng.
Tháo mừng rỡ, sai ngay Tưởng Cán
đi. Cán cưỡi chiếc thuyền nhỏ, bơi thẳng đến cạnh thuỷ trại phía nam Trường
Giang cho người vào báo. Chu Du thấy Cán lại đến, mừng nói rằng:
- Ta thành công được là nhờ người
này đây.
Lập tức dặn Lỗ Túc: “Mời Bàng Thống
đến bảo cứ làm như thế… như thế cho ta”.
Bàng Thống tự là Sĩ Nguyên, quê ở
Tương Dương, tránh loạn sang ngụ bên Giang Đông. Lỗ Túc thường tiến cử lên Chu
Du. Thống chưa kịp đến ra mắt, thì Du đã sai Túc đến hỏi kế phá Tào. Thống mật
bảo Túc rằng:
“Muốn phá quân Tào, phải dùng hoả
công, nhưng trên mặt sông to, một chiếc thuyền bén lửa thì các thuyền khác tản
ra chạy được cả. Chỉ có dùng kế liên hoàn, khiến Tháo phải ghép cả thuyền vào một
chỗ, mới có thể thắng được”.
Túc về nói lại với Chu Du. Du phục
lắm và bảo Túc:
- Chỉ có Bàng Sĩ Nguyên mới thực
hiện được kế ấy cho ta mà thôi.
Túc nói:
- Chỉ sợ Tào Tháo xảo quyệt, đi
thế nào được?
Chu Du còn đang phân vân, tìm
chưa ra cơ hội, thì được tin Tưởng Cán lại sang. Du mừng lắm, một mặt dặn dò
Bàng Thống thi hành mưu kế, một mặt cho người mời Tưởng Cán vào. Cán thấy không
ai ra đón, trong bụng ngờ vực, liền sai buộc thuyền ở chỗ hẻo lánh rồi vào. Du
hầm hầm nổi giận nói rằng:
- Tử Dực sao dám khinh ta thế?
Cán cười, đáp:
- Ta nghĩ ông là chỗ tình nghĩa
anh em cũ, muốn đến bày tỏ tâm sự, sao lại bảo ta lừa lọc?
Du nói:
- Ngươi muốn dụ ta hàng Tào, trừ
phi sông cạn đá mòn ta mới chịu! Lần trước ta nghĩ tình bạn cũ, mời uống rượu
và lưu ngủ chung giừơng; không ngờ ngươi ăn cắp thư của ta, lẻn về báo với Tào
Tháo, để Trương Doãn, Sái Mạo bị giết, làm hỏng việc của ta. Hôm nay ngươi bỗng
dưng lại, chắc không có bụng tốt đâu! Nếu ta không nghĩ đến tình xưa, thì chỉ
cho ngươi một nhát dao đứt làm hai đoạn! Ta cũng muốn tống ngươi về cho rảnh,
nhưng độ vài hôm nữa ta sẽ đánh phá Tào Tháo, nên phải giữ ngươi lại, kẻo tiết
lộ quân cơ!
Liền sai tả hữu đưa Cán ra nghỉ
trong một cái am, gần núi Tây Sơn, và bảo:
- Đợi khi nào ta phá xong Tào
Tháo, sẽ tiễn ngươi sang sông cũng vừa.
Tưởng Cán đang chực nói thì Chu
Du đã trở vào sau trướng rồi. Tả hữu lấy ngựa cho Tưởng Cán cưỡi, và dẫn đến am
nhỏ sau núi, cắt hai tên lính hầu hạ.
Cán ở đó vừa buồn vừa lo, ăn ngủ
không yên. Đêm hôm ấy, trăng sao vằng vặc. Cán dạo ra sau am, nghe văng vẳng có
tiếng đọc sách. Cán lần theo, mãi đến cạnh núi, thấy có căn nhà tranh, ánh đèn
le lói. Cán nhòm vào thấy một người đang ngồi đọc binh thư, trước đèn treo một
thanh kiếm. Cán nghĩ người này hẳn là dị nhân đây, liền gõ cửa vào chơi. Người
đó ra đón Cán vào, tư thế rất trịnh trọng. Cán hỏi tên họ, người đó đáp:
- Tôi là Bàng Thống, tự là Sĩ
Nguyên.
Cán nói:
- Có phải là Phượng Sồ tiên sinh
đó không?
Thống đáp:
- Chính phải.
Cán mừng, nói:
- Tôi lâu nay vẫn nghe tiếng
ngài, sao nay lại ẩn dật ở đây?
Thống nói:
- Chu Du cậy tài khinh người, nên
tôi phải đến ở chỗ này. Xin hỏi ông là ai?
Cán đáp:
- Tôi là Tưởng Cán.
Thống mời vào thảo am nói chuyện.
Cán nói:
- Cứ như tài của tiên sinh, đi
đâu mà chẳng được trọng dụng. Nếu tiên sinh chịu sang với Tào công, tôi xin tiến
dẫn.
Thống nói:
- Tôi muốn bỏ đất Giang Đông này
đã lâu. Ông đã có lòng tiến dẫn, thì phải đi ngay mới được, nếu để chậm trễ,
Chu Du biết, sẽ làm hại mất.
Ngay đêm hôm ấy, Thống cùng với
Cán xuống núi, ra bờ sông tìm chiếc thuyền của mình trước, chở như bay về Giang
Bắc.
Về đến trại, Cán vào trước, thuật
chuyện lại với Tào Tháo. Tháo thấy có Phượng Sồ tiên sinh đến, ra ngay ngoài
trướng đón vào, chia ngôi chủ khách ngồi chơi, rồi hỏi:
- Chu Du tuổi còn non choẹt mà đã
hợm mình khinh người, không dùng được mưu hay. Tôi được nghe tiếng lớn của tiên
sinh đã lâu, nay đã có lòng hạ cố, có điều gì xin tiên sinh cứ dạy bảo cho.
Thống thưa:
- Tôi vẫn được nghe thừa tướng
dùng binh rất giỏi, nay xin cho được xem việc bố trí quân sĩ thế nào.
Tháo sai đem ngựa và mời Bàng Thống
đi xem trại trên cạn trước. Hai người dóng ngựa lên chỗ cao đứng quan sát. Thống
khen rằng:
- Những trại này tựa vào sườn
núi, men rừng, trước sau liên hệ với nhau, ra vào có cửa, lui tới có đường, dẫu
Tôn, Ngô, Nhương Thư ngày xưa cũng không thể hơn được!
Tháo nói:
- Tiên sinh chớ có quá khen, còn
mong dạy bảo giúp cho.
Lại mời Thống đi xem trại dưới nước,
thấy ở mé nam chia làm hai mươi bốn cửa, thuyền lớn bao bọc phía ngoài như một
bức thành: Giữa là những thuyền nhỏ, lối ra vào thật phân minh. Thống cười,
nói:
- Thừa tướng dụng binh thế này,
tiếng đồn quả nhiên không ngoa!
Rồi lại trỏ sang Giang Nam, nói:
- Chu lang! Chu lang! Nay mai tất
chết!
Tháo mừng lắm, về trại, mở tiệc
thết đãi, cùng thống đàm luận về cách dùng binh. Thống lý lẽ hùng biện, ứng đối
trôi chảy. Tháo kính phục lắm, ân cần mời mọc. Thống giả say, hỏi rằng:
- Bẩm thừa tướng, ở đây có thầy
lang giỏi không?
Tháo hỏi:
- Cần thầy lang làm gì?
Thống nói:
- Tôi xem chừng thuỷ quân của thừa
tướng ốm nhiều, cần có thầy lang giỏi mới chữa được.
Bấy giờ, quân Tào không quen thuỷ
thổ, bệnh thổ tả phát ra, nhiều người bị chết. Tháo đang lo nghĩ, chợt nghe Thống
nói thì làm gì chẳng phải hỏi. Thống bèn nói:
- Phương pháp luyện tập thuỷ quân
của thừa tướng thật là tuyệt diệu, nhưng tiếc chưa được toàn diện.
Tháo hỏi gặng hai ba lần. Thống
nói:
- Tôi có một kế, khiến cho thuỷ
quân không mắc tật bệnh gì, có thể yên ổn thành công.
Tháo mừng lắm, hỏi kế hay. Thống
nói:
- Trong sông lớn này, nước thuỷ
triều khi lên khi xuống, sóng gió liên miên. Người phương bắc không quen ngồi
thuyền bị sóng đánh nghiêng ngả mới sinh ra bệnh. Nếu đem thuyền lớn nhỏ, ghép
lại thành từng cụm độ ba chục chiếc hoặc năm chục chiếc, đầu đuôi dùng xích sắt
ghép liền với nhau, trên thuyền lát ván phẳng phiu, như thế chẳng những người
đi lại dễ dàng, mà đến ngựa chạy cũng được. Nên làm ngay lúc này đi, thì còn lo
chi thuỷ triều và sóng gió nữa.
Tào Tháo bước xuống tạ, nói:
- Giá tiên sinh không vạch cho kế
hay này, thì phá sao được Đông Ngô!
Thống nói:
- Tôi cũng mới nghĩ nông cạn thế
thôi, xin thừa tướng thử liệu xem có nên không?
Tháo lập tức truyền thợ rèn, ngày
đêm đúc dây xích và đánh lớn ghép chặt các thuyền lại. Quân sĩ được tin, ai nấy
đều mừng rỡ.
Người sau có thơ rằng:
Bày mưu đặt mẹo khéo thông đồng
Nếu không có kế liên hoàn ấy
Công Cẩn làm sao lập được công?
Bàng Thống lại nói với Tào Tháo rằng:
- Tôi xem tình hình các bậc hào
kiệt bên Giang Đông, lắm người oán Chu Du. Tôi xin đem ba tấc lưỡi, dụ bọn ấy về
hàng thừa tướng. Còn một mình Chu Du không có người giúp đỡ tất bị thừa tướng bắt
sống thôi. Du đã bị tan, thì Lưu Bị cũng chẳng giở trò gì được nữa.
Tháo nói:
- Tiên sinh lập được công to này,
Tháo sẽ tâu với thiên tử, phong ngài làm chức tam công.
Thống nói:
- Tôi không phải vì phú quý đâu,
chỉ muốn cứu dân đó thôi. Thừa tướng có sang sông, chớ nên tàn hại dân lắm.
Tháo nói:
- Tôi thay trời mà trị dân, lẽ
đâu lại giết hại dân?
Thống xin tờ chứng nhận của Tháo
để phòng khi quân Tháo kéo sang khỏi động chạm đến họ hàng nhà mình.
Tháo nói:
- Họ hàng tiên sinh ở cả đâu?
Thống thưa:
- Ở cả bờ sông bên kia, nếu được
giấy đó thì bình an vô sự.
Tháo sai viết giấy đóng dấu vào rồi
giao cho Thống. Thống lạy tạ nói:
- Sau khi tôi đi rồi, thừa tướng
nên gấp rút tiến quân, chớ để cho Chu Du biết.
Tháo cho là phải. Thống từ biệt
ra đến bờ sông, sắp bước chân xuống thuyền, bỗng có một người nắm chặt lấy Bàng
Thống mà nói rằng:
- Ngươi to gan thật! Hoàng Cái
dùng kế khổ nhục. Hám Trạch đưa thư trá hàng, còn ngươi lại đến bày kế liên
hoàn. Ta chỉ sợ bọn ngươi đốt không xuể được thôi! Bọn ngươi mưu mô ác độc, chỉ
lừa được Tào Tháo, chớ bịt sao nổi mắt ta!
Bàng Thống rụng rời hết vía.
Ấy là:
Ai ngờ tây bắc lắm người khôn!
Chưa biết người ấy là ai, xem đến
hồi sau sẽ hiểu.
---------------------------------------------------
Mở tiệc yến, Tào Tháo ngâm thơ
Khóa chiến thuyền, bắc quân dùng võ
Bàng Thống nghe người đó nói giật
nảy mình, vội ngoảnh lại trông thì là bạn cũ Từ Thứ. Trong bụng Thống bấy giờ mới
yên. Nhìn trước nhìn sau không có ai, Thống mới nói:
- Nếu anh làm lộ kế của tôi, thì
nhân dân tám mươi mốt châu bên Giang Nam đều do tay anh giết cả đấy!
Từ Thứ cười, nói:
- Thế còn tính mạng tám mươi ba vạn
quân mã ở đây sẽ ra sao?
Thống nói:
- Nguyên Trực! Anh định phá kế của
tôi thật à?
Thứ nói:
- Tôi đội ơn sâu Lưu hoàng thúc,
không lúc nào quên. Tào Tháo làm mẹ tôi chết, tôi đã thề suốt đời không bày một
mưu kế gì cho y cả; lẽ đâu tôi lại phá kế của anh? Chỉ vì tôi cũng ở trong đám
quân này, một mai giao tranh gay go khốc liệt thì tránh sao khỏi tai nạn? Anh
hãy bày cho tôi một kế thoát thân, tôi sẽ xin gắn miệng lại mà đi ngay chỗ
khác.
Thống cười, nói:
- Nguyên Trực nghĩ xa lắm, nhưng
kế ấy thì có khó gì!
Thống liền ghé vào tai Từ Thứ nói
nhỏ vài câu. Thứ mừng rỡ, vái tạ. Thống từ biệt xuống thuyền về Giang Đông.
Lại nói, chiều hôm ấy, Từ Thứ sai
người lẻn đến các trại, phao một tin đồn. Hôm sau, quân lính túm năn tụm ba, chỗ
nào cũng ghé tai, chạm trán thì thầm với nhau. Quân do thám về báo với Tháo rằng:
trong quân có tin đồn Hàn Toại, Mã Đằng ở Tây Lương làm phản đang kéo về đánh Hứa
Đô.
Tháo giật mình, vội vàng họp các
mưu sĩ lại bàn bạc:
- Ta dẫn quân sang đánh mặt nam,
lúc nào cũng lo lắng về bọn Mã Đằng, Hàn Toại. Tin đồn chưa biết hư thực thế
nào, nhưng cũng nên đề phòng mới được.
Tháo vừa dứt lời. Từ Thứ bước ra
thưa:
- Tôi từ khi đội ơn thừa tướng
thu dùng, chưa lập được chút công lao nào. Nay tôi xin lãnh ba nghìn quân mã,
ra giữ ải Tản Quan, nếu xảy việc gì khẩn cấp, sẽ xin báo tin lên thừa tướng.
Tháo mừng, nói:
- Nếu Nguyên Trực chịu khó đi
cho, ta không còn lo ngại gì nữa. Hiện ở cửa ải cũng đã có quân sĩ, ông thống
lĩnh cả một thể. Ta cấp cho ông ba nghìn quân mã bộ nữa, cùng Tang Bá làm tiên
phong, ông nên lập tức đi ngay, đừng trì hoãn.
Từ Thứ từ biệt Tào Tháo, cùng
Tang Bá lĩnh quân đi. Đó chính là kế Bàng Thống cứu Từ Thứ.
Đời sau có thơ rằng:
Lo vì Đằng, Toại nổi qua mâu.
Một lời Bàng Thống xui Nguyên Trực,
Có khác chi như cá thoát câu.
Tào Tháo từ khi sai Từ Thứ đi khỏi,
trong bụng tạm yên. Một hôm, cưỡi ngựa đi xem xét chung quanh các trại trên bộ,
rồi đến thuỷ trại. Tháo đi trên chiếc thuyền to, giữa cắm cờ hiệu chữ Suý. Hai
bên bày thuỷ trại, trên thuyền phục hơn một nghìn tay cung nỏ. Tháo ngồi chót
vót tầng trên.
Hôm 15 tháng 11 năm Kiến An thứ
mười hai (207) khí trời tạnh tẽ, sóng gió êm lặng, Tháo sai mở một tiệc rượu có
cả ca nhạc trên thuyền to để hội các tướng. Trời tối dần, vầng trăng hiện trên
đỉnh núi phía Đông, vằng vặc như ban ngày: dải sông Trường Giang nằm vắt ngang
như tấm lụa. Tháo ngồi trên thuyền, ta hữu vài trăm người, mặc toàn gấm vóc,
vác qua, cầm kích đứng hầu hai bên. Các quan văn võ ngồi theo ngôi thứ. Tháo đứng
ngắm bốn phương trời mênh mông, bát ngát: dãy núi Nam Bình lồ lộ như tranh vẽ;
phía Đông bờ cõi Sài Tang, phía Tây sông dài Hạ Khẩu; phía Nam dãy núi Phàn
Sơn; phía Bắc khu rừng Ô Lâm. Tháo lấy làm khoan khoái, nói với quan quân:
- Ta từ khi khởi nghĩa, vì nước
trừ những kẻ hung bạo, thề quyết quét sạch bốn biển, san phẳng thiên hạ, duy chỉ
còn Giang Nam là chưa lấy được thôi! Nay ta có trăm vạn hùng binh, lại nhờ sức
các ông, lo gì chẳng thành công? Sau khi ta thu phục được Giang Nam, thiên hạ
yên ổn rồi, ta sẽ tha hồ cùng với các ông chung hưởng phú quý, vui vẻ đời thái
bình!
Văn võ cùng đứng dậy nói:
- Chúng tôi chỉ mong sao thừa tướng
chóng thành công, trọn đời chúng tôi đều được nhờ phúc ấm của thừa tướng.
Tháo mừng lắm, sai tả hữu đi rót
rượu mời các quan. Uống mãi đến đêm, Tháo say, trỏ sang phía Nam, nói:
- Bớ Chu Du! Lỗ Túc! Chúng mày
không biết lòng trời. Nay may có người của chúng mày đến hàng ta làm nội ứng,
phá từ trong phá ra, đó là trời giúp ta vậy!
Tuân Du thưa:
- Thừa tướng không nên nói, e bị
tiết lộ.
Tháo cười ha hả, nói:
- Mọi người có mặt ở đây đều là
tâm phúc của ta cả, nói ra có ngại gì!
Lại trỏ sang Hạ Khẩu nói:
- Bớ Lưu Bị, Gia Cát Lượng kia! Bọn
mày không biết sức mình như con sâu cái kiến, cứ hòng đẩy núi Thái Sơn. Sao ngu
lắm thế?
Rồi ngoảnh lại bảo các quân:
- Ta nay đã 54 tuổi rồi, nếu lấy
được Giang Nam thì sở nguyện của ta cũng đạt được. Khi xưa, ta quen thân với Kiều
công ở Giang Nam, biết ông có hai người con gái xinh đẹp tuyệt trần. Về sau,
không ngờ về tay Tôn Sách và Chu Du. Ta vừa xây xong đài Đồng Tước trên bờ sông
Chương, nếu hạ được Giang Nam, ta sẽ bắt hai nàng Kiều ấy đem về đài Đồng Tước,
để vui hưởng tuổi già, ta mới mãn nguyện!
Nói rồi cười ầm cả lên!
Ông Đỗ Mục ở đời nhà Đường có vịnh
một bài thơ rằng:
Giữa mài nhận biết việc tiên triều.
Gió đông nếu chẳng vì Công Cấn,
Đồng Tước đêm xuân khoá nhị Kiều!
Tào Tháo đang vui cười, bỗng thấy
con quạ vừa kêu vừa bay về phía Nam. Tháo hỏi:
- Quạ ấy làm sao mà đang đêm lại
kêu?
Tả hữu bẩm:
- Quạ thấy sáng trăng, tưởng trời
đã sáng, cho nên bay ra kêu.
Tháo lại cười ầm lên.
Bấy giờ, Tháo đã quá say, cầm một
ngọn giáo, đứng trên mũi thuyền, đổ một chén rượu xuống sông rồi lại uống luôn
ba chén đầy nữa, cắp ngang ngọn giáo, nói với các tướng:
- Từ khi ta cầm ngọn giáo này,
phá Khăn vàng, bắt Lã Bố, diệt Viên Thuật, thu Viên Thiệu, thọc sâu vào Tái Bắc,
ruỗi thẳng đến Liêu Đông, tung hoành bốn bể, thật không phụ ý chí của kẻ đại
trượng phu! Ta làm một bài hát, các ông đều hoạ chơi cho vui.
Bài hát rằng:
Có khác chi hạt móc sáng ngày.
Nguồn sâu lai láng vơi đầy,
Giải phiền hoạ có rượu này làm vui!
Tràng áo xanh ngậm ngùi lòng tớ.
Hươu ngoài đồng hớn hở gọi nhau.
Khách ta, ta đã gặp nhau,
Gảy đàn, thổi sáo ngó hầu thêm vui!
Trăng sáng tỏ, bùi ngùi trong dạ,
Nỗi lo này biết ngỏ cùng ai?
Chuyện trò kể lể xa xôi,
Nhớ người nghĩa cũ cười vui đề huề…
Quạ đêm trăng bay về nam hậu,
Lượn ba vòng biết đậu cành nao?
Nước càng sâu, núi càng cao,
Chu công trọng khách xôn xao kéo về…
Tháo hát đoạn, mọi người hoạ
theo, cười đùa vui vẻ. Bỗng một người bước vào, nói:
- Giữa lúc hai bên đang đối địch,
tướng sĩ đang cố sức, sao thừa tướng nói gở vậy?
Tháo nhìn xem thì là Lưu Phúc, thứ
sử Dương Châu. Phúc trước làm quan ở Hợp Phì, xây đắp nhiều thành quách, tập họp
những dân xiêu tán, mở trường học, khai khẩn ruộng đất, dạy dỗ nhân dân. Phúc
theo Tào Tháo đã lâu, lập được nhiều công trạng.
Khi ấy, Tháo cắp ngang ngọn mâu,
hỏi lại rằng:
- Ta nói gở điều gì?
Phúc thưa:
- Những câu: “Trăng sáng… Quạ bay
lượn ba vòng… Không biết đậu vào đâu…”, là những câu gở.
Tháo nổi giận, nói:
- Mày sao dám bẻ tao?
Nói rồi phóng một ngọn giáo, đâm
chết Lưu Phúc. Ai cũng kinh hãi, bữa tiệc cũng tan.
Hôm sau, Tháo tỉnh rượu, hối hận
quá. Con Phúc là Lưu Hy kêu xin đem thây cha về táng. Tháo khóc, nói:
- Hôm qua, ta say rượu quá, lỡ giết
mất cha ngươi, giờ hối lại không kịp mất rồi. Vậy nên dùng lễ tam công làm ma
cho cha ngươi.
Lại sai quân sĩ hộ tống linh cữu
đưa về an táng.
Hôm sau, thuỷ quân đô đốc Mao Giới
và Vu Cấm vào bẩm rằng:
- Các thuyền lớn nhỏ đã ghép đâu
vào đấy, tinh kỳ khí giới cũng đủ cả. Xin thừa tướng điều khiển cho quân sĩ luyện
tập để nay mai cất quân.
Tháo ra trại thuỷ, ngồi trên một
chiến thuyền to ở chính giữa đòi các tướng đến nghe lệnh. Quân thuỷ và quân bộ
đều chia làm năm hiệu cờ. Quân thuỷ, tướng trung quân cờ vàng là Mao Giới, Vu Cấm;
tướng tiền quân cờ đỏ là Trương Cáp; tướng hậu quân cờ đen là Lã Kiền; tướng tả
quân cờ xanh là Văn Sính; tướng hữu quân cờ trắng là Lã Thông. Quân mã bộ thì Từ
Hoảng làm tướng tiền quân, cờ đỏ; Lý Điển làm tướng hậu quân, cờ đen; Nhạc Tiến
làm tướng tả quân, cờ xanh; Hạ Hầu Uyên làm tướng hữu quân, cờ trắng; Hạ Hầu
Đôn, Tào Hồng thì tiếp ứng cả hai đường thuỷ lục; Hứa Chử, Trương Liêu hộ vệ và
đi lại đốc chiến. Còn bao nhiêu tướng tá, đội nào cứ theo đội ấy mà đi.
Lệnh truyền vừa dứt, trong trại
thuỷ nổi ba hồi trống, các đội thuyền buồm lần lượt theo từng cửa tiến ra. Hôm ấy
nổi gió tây bắc, buồm vải kéo lên, các thuyền xông pha sóng gió vững chắc như
đi trên mặt đất. Quân sĩ trên thuyền nhảy nhót ra oai, kẻ phóng giáo, người múa
gươm tả hữu, trước sau, đội nào cơ ấy, rất là nghiêm chỉnh. Lại có hơn năm chục
chiếc thuyền nhỏ ở ngoài, đi lại tuần phòng, đốc thúc. Tháo đứng trên tường đài
quan sát quân tập luyện, trong bụng vui mừng, cho rằng quân tướng thế này đánh
đâu chẳng được. Liền sai hạ buồm, thuyền nào lại theo đội ấy kéo về trại.
Tháo lên trướng, nói với các mưu
sĩ:
- Nếu không có trời giúp, thì sao
ta được diệu kế của Phượng Sồ? Dây xích ghép thuyền thành cụm, quả nhiên đi dưới
nước như đi trên đất bằng!
Trình Dục thưa:
- Thuyền ghép cả lại làm một tuy
vững chắc thật, nhưng nếu bị đánh hoả công thì khó bề xoay xở, không thể không
đề phòng được.
Tháo cười lớn, nói:
- Ngươi tuy cũng đã lo xa, nhưng
chưa hiểu biết đầy đủ.
Tuân Du nói:
- Trọng Đức nói phải đấy, sao thừa
tướng còn cười?
Tháo nói:
- Phép đánh hoả công phải nhờ sức
gió. Đang mùa này, chỉ có gió tây bắc, làm gì có gió đông nam. Nếu nó dùng hoả
công tức là nó lại đốt quân nó, đây ta có sợ gì? Giả thử vào tiết tiểu xuân
tháng mười thì ta đã phòng bị từ lâu rồi!
Các tướng đều phục lắm, nói:
- Thừa tướng cao kiến lắm, chúng
tôi còn kém xa!
Tháo ngoảnh lại bảo các tướng:
- Quân các châu Thanh, Từ, Yên, Đại,
xưa nay không quen cưỡi thuyền. Nay không dùng kế ấy, thì qua thế nào được đại
Trường Giang hiểm trở?
Bỗng hai tướng nhảy ra, bẩm rằng:
- Tiểu tướng tuy sinh trưởng ở U,
Yên, nhưng ngồi thuyền đánh thuỷ cũng được. Nay xin thừa tướng cho mượn hai chục
chiếc thuyền tuần tiễu, bơi thẳng sang bờ nam, cướp lấy cờ trống đem về, để mọi
người biết quân miền bắc đánh thuyền cũng giỏi.
Tháo nhìn xem thì là Tiêu Súc và
Trương Nam tướng cũ Viên Thiệu, Tháo nói:
- Các ngươi sinh trưởng miền bắc,
e đánh thuyền không quen. Quân Giang Nam qua lại trên mặt nước, luyện tập thành
thạo, chớ nên khinh thường mà đùa với tính mạng.
Hai người kêu to rằng:
- Nếu không đánh được, xin chịu
thi hành quân pháp.
Tháo nói:
- Chiến thuyền đã ghép liền cả rồi,
chỉ còn thuyền nhỏ, chở độ vài chục người, e đánh nhau không tiện.
Tiêu Súc bẩm:
- Nếu dùng thuyền to, sao gọi là
tài? Chúng tôi chỉ xin lĩnh hai chục chiếc thuyền nhỏ, chia đôi mỗi người dẫn một
nửa, sang thẳng trại thuỷ Giang Nam, cướp được cờ chém được tướng trở về mới
nghe.
Tháo nói:
- Ta trao cho các ngươi hai chục
chiếc thuyền và năm trăm quân tinh tráng, mang toàn giáo dài nỏ cứng; sáng mai
sẽ huy động các thuyền trong trại thuỷ ra giữa sông làm thanh thế và sai Văn
Sính dẫn ba chục chiếc thuyền đi tuần để tiếp ứng cho hai người về.
Tiêu Súc, Trương Nam mừng rỡ lui
ra.
Hôm sau, canh tư thổi cơm, canh
năm nai nịt gọn gàng, trong trại thuỷ chiến trống nổi lên thuyền bè ùa ra, dàn
trên mặt sông. Một dải Trường Giang, cờ hiệu xanh đỏ rợp trời. Tiêu Súc và
Trương Nam dẫn hai chục chiếc thuyền tuần tiễu, xuyên qua trại tiến lên, nhắm
Giang Nam lướt tới.
Nói về bên Giang Nam, từ hôm trước
nghe tiếng trống đánh ầm ầm; ở xa trông sang thấy Tào Tháo điểm duyệt quân thuỷ;
quân sĩ vào báo với Chu Du. Du trèo lên núi cao quan sát, nhưng quân Tào đã thu
cả về trại rồi. Hôm sau trống lại thúc ầm ĩ, quân sĩ trèo lên gò cao nhòm sang
thấy một số thuyền nhỏ rẽ sóng bơi đến. Du hỏi các tướng ai dám ra địch, thì
Hàn Đương, Chu Thái, hai người cùng đứng ra nói:
- Tôi xin tạm làm tiên phong phá
địch!
Du mừng rỡ truyền lệnh cho các trại
phải giữ gìn cẩn thận, không đâu được khinh động. Hàn Đương, Chu Thái, mỗi người
lĩnh năm chiếc thuyền tuần tiễu chia làm hai ngả kéo ra.
Lại nói Tiêu Súc, Trương Nam cậy
có sức mạnh, chèo thuyền như bay sang bờ nam. Hàn Đương chỉ mặc một áo giáp che
ngực, tay cầm giáo dài, đứng trên đầu thuyền. Thuyền Tiêu Súc đến trước, sai
quân bắn tới tấp sang thuyền Đông Ngô, Đương giơ lá mộc lên đỡ. Tiêu Súc khoa
giáo dài đâm Hàn Đương, bị Đương đâm lại một mũi, chết gục ngay xuống. Trương
Nam ở phía sau, thét lên ruổi tới. Chu Thái chèo thuyền ra địch. Trương Nam vác
giáo đứng trên mũi thuyền, hai bên cung nỏ bắn nhau tới tấp. Chu Thái tay mộc
tay đao, khi hai thuyền còn cách nhau độ bảy tám thước, Chu Thái nhảy ngay sang
thuyền Trương Nam, chém một nhát, Nam ngã lăn xuống nước. Thái múa đao chém lia
lịa, thuyền địch tan chạy. Hàn Đương, Chu Thái thúc thuyền đuổi đánh, ra đến giữa
sông vừa gặp thuyền Văn Sính đến, hai bên lại dàn thuyền kịch chiến.
Chu Du dẫn các tướng trèo lên đỉnh
núi trông sang bờ bắc, thấy thuyền to dàn khắp mặt nước, cờ hiệu phấp phới,
hàng ngũ chỉnh tề. Lại ngoảnh xem Hàn Đương, Chu Thái cầm cự với Văn Sính; hai
người dốc toàn lực ra đánh, Văn Sính phải bỏ chạy. Hai người thúc thuyền đuổi
theo. Du sợ đuổi vào nơi nguy hiểm, liền phất cờ trắng và sai khua chiêng thu
quân. Hai người mới quay thuyền về trại.
Chu Du vẫn còn đứng trên núi,
nhìn chiến thuyền bên kia vào cả thuỷ trại, ngoảnh lại bảo các tướng rằng:
- Chiến thuyền Giang Bắc nhiều
hơn lá tre, Tào Tháo lại nhiều mưu kế, ta tìm cách gì phá cho được?
Mọi người chưa kịp thưa lại, bỗng
thấy lá cờ vàng giữa trại Tào bị cơn gió to thổi gãy gục, bay ra giữa sông. Du
cười lớn, nói:
- Đó là điềm không hay rồi!
Du đang mải quan sát, bỗng một trận
gió đùng đùng thổi đến, sóng vật tới bờ. Cái dải cờ bay tạt vào mặt Chu Du. Du
sực nghĩ tới điều gì, bỗng kêu rú lên một tiếng rồi ngã vật ra phía sau, miệng
thổ máu tươi. Các tướng vội vàng vực Du đứng dậy, thì Du đã mê man không biết
gì nữa rồi.
Rõ là:
Quân nam đâu dễ phá quân Tào.
Chưa biết tính mạng Chu Du thế
nào, xem đến hồi sau sẽ rõ.
----------------------------------------------------
Đàn Thất tinh, Gia Cát cầu phong
Cửa Tam Giang, Chu Du phóng hỏa
Lại nói Chu Du đứng trên đỉnh
núi, quan sát hồi lâu, bỗng nhiên ngã vật về phía sau, miệng thổ máu tươi, bất
tỉnh nhân sự. Tả hữu vực vào trướng, các tướng đến thăm; ai nấy đều ngơ ngác
nhìn nhau, nói:
- Quân Tào hàng trăm vạn, khác
nào hổ rình kình đớp. Không may, đô đốc bị tai nạn thế này, nếu quân Tào kéo đến,
thì làm thế nào?
Lập tức một mặt sai người về báo
với Ngô hầu; một mặt tìm thấy thuốc điều trị.
Lỗ Túc thấy Chu Du nằm một chỗ,
trong lòng buồn bã, đến chơi Khổng Minh, thuật chuyện Chu Du bị bệnh bất ngờ.
Khổng Minh nói:
- Theo ý ông thì ra làm sao?
Túc nói:
- Đó cũng là phúc Tào Tháo mà vạ
Đông Ngô thôi!
Khổng Minh cười, nói:
- Bệnh Công Cẩn, tôi có thể chữa
được.
Túc nói:
- Nếu được như thế, thì may cho
Đông Ngô quá!
Liền mời Khổng Minh cùng đến thăm
Chu Du.
Lỗ Túc vào trước ra mắt Chu Du,
thấy Du trùm chăn kín đầu. Túc hỏi:
- Bệnh tình đô đốc ra sao?
Du nói:
- Ruột gan đau quặn, thỉnh thoảng
lại mê mẩn.
Túc hỏi:
- Đô đốc đã dùng thuốc gì rồi?
Du nói:
- Uống vào lại nôn oẹ ra, không
thuốc nào chịu.
Túc nói:
- Tôi vừa đến chơi Khổng Minh, Khổng
Minh nói có thể chữa được bệnh đô đốc. Ông ta đang ở ngoài trướng, xin cho mời
vào khám chữa!
Du sai mời vào, rồi bảo tả hữu đỡ
dậy ngồi trên giường.
Khổng Minh nói:
- Mấy bữa nay không đến hầu, ngờ
đâu ngọc thể bất an!
Du nói:
- Người ta hoạ phúc sớm tối khôn
lường, biết đâu mà giữ cho xuể!
Khổng Minh cười, nói:
- Trời kia gió mưa bất thường,
người ta có liệu trước được không?
Du nghe nói tái mặt đi, rên khừ
khừ.
Khổng Minh hỏi:
- Trong bụng đô đốc, nghe như hơi
đầy có phải không?
Du đáp:
- Phải.
Khổng Minh nói:
- Nên uống những vị thuốc mát mới
được.
Du nói:
- Tôi đã uống nhưng đều vô hiệu.
Khổng Minh nói:
- Trước hết phải chữa cái khí, nếu
khí thuận, thì thở hít cũng dễ, rồi tự nhiên sẽ khỏi bệnh.
Du tin chắc Khổng Minh hiểu được
ý mình, liền hỏi thử rằng:
- Muốn cho thuận được khí, nên uống
thuốc gì?
Khổng Minh cười, nói:
- Tôi có một phương thuốc, làm
cho đô đốc thuận được khí.
Du hỏi:
- Phương thuốc gì, xin tiên sinh
cho biết?
Khổng Minh mượn giấy bút, bảo tả
hữu lui ra ngoài rồi viết mười sáu chữ như sau:
“Muốn đánh Tào công
Phải dùng hoả công
Muôn việc đủ cả
Chỉ thiếu gió đông”.
Viết xong, đưa cho Chu Du và nói:
- Căn bệnh của đô đốc ở đây!
Du xem xong giật mình, nghĩ rằng:
- Khổng Minh thật là thần thánh,
biết hết cả ruột gan ta! Cần phải nói rõ sự thật mới xong!
Rồi cười, nói với Khổng Minh:
- Tiên sinh đã biết gốc bệnh của
tôi, vậy phải dùng thuốc gì trị được? Việc gấp đến nơi rồi, xin dạy cho.
Khổng Minh nói:
- Tôi tuy rằng bất tài, nhưng có
gặp được một dị nhân truyền cho quyển “Kỳ môn độn giáp thiên thư” có thể gọi được
gió, bảo được mưa. Đô đốc muốn cần đến gió đông nam, thì phải lập đàn tại núi
Nam Bình, gọi là đàn Thất tinh, bề cao chín thước, chia làm ba tầng, dùng một
trăm hai chục người cầm cờ đứng xung quanh. Tôi xin lên đàn, dùng phép, mượn
gió đông nam thật to ba ngày ba đêm để đô đốc dùng binh. Đô đốc nghĩ thế nào?
Du nói:
- Chẳng cần đến ba ngày ba đêm,
chỉ một đêm gió to là xong việc. Nhưng xin tiên sinh phải làm ngay cho, chớ để
chậm chạp.
Khổng Minh nói:
- Ngày 20 tháng 11 là ngày giáp
tý, bắt đầu tế gió, đến ngày 22 là ngày bính dần thì gió im, có được không?
Du nghe nói mừng lắm, đứng choàng
dậy, lập tức sai quân đến núi Nam Bình đắp đàn, và điều một trăm hai mươi tên
lính cầm cờ giữ đàn, sẵn sàng nghe lệnh.
Khổng Minh từ biệt Chu Du, cùng với
Lỗ Túc lên ngựa đến núi Nam Bình, xem xét địa thế. Rồi sai quân sĩ lấy đất đỏ ở
phương đông nam đắp đàn, chu vi rộng 24 trượng mỗi tầng cao ba thước, cả thảy
là chín thước.
Tầng dưới cắm 28 lá cờ sao.
Phương đông 7 lá cờ xanh, theo
hình chòm sao Thanh long là: giốc, cang, đê, phòng, tâm, vĩ, cơ. Phương bắc 7
lá cờ đen, theo hình chòm sao Huyền vũ là: đẩu, ngưu, nữ, hư nguy, thất, bích.
Phương tây 7 lá cờ trắng, theo hình chòm sao Bạch hổ là: khuê, lâu, vị, mão, tất,
thuỷ, sâm. Phương nam 7 lá cờ đỏ, theo hình chòm sao Chu tước là: tỉnh, quỷ, liễu,
tính, trương, dực, chẩn.
Tầng thứ hai 64 lá cờ cắm xung
quanh, theo phương vị 64 quẻ, đứng dàn ra tám mặt.
Tầng trên nữa dùng bốn người; người
nào cũng phải đội mũ bịt tóc, mặc áo the thâm, áo dài đai rộng, giày đỏ quần
vuông. Mé trước, một người đứng bên tả, cầm cái cần dài, trên đầu cầm cắm lông
gà, để chiêu gió; một người đứng bên hữu cũng cầm cái cần dài, trên đầu cần buộc
cờ hiệu thất tinh, để khiến chiều gió. Mé sau, một người bên tả cắp thanh bảo
kiếm, một người bên hữu bưng cái lư hương. Ở dưới chân đàn lại có 24 người vác
cờ xí và khí giới đứng quanh bốn phía.
Đến ngày 20 giáp tý, tháng 11, giờ
tốt, Khổng Minh tắm gội sạch sẽ, mặc áo phù thuỷ, xoã tóc đi chân không đến trước
đàn, dặn Lỗ Túc:
- Ông về giúp Chu Du điều quân, nếu
tôi cầu không được gió cũng đừng nên trách.
Lỗ Túc từ biệt ra về. Khổng Minh
dặn các tướng sĩ coi đàn:
- Không ai được tự tiện bỏ chỗ đứng
mà đi chỗ khác; không ai được quay đầu ghé tai, nói năng bậy bạ; không ai được
thất kinh sợ hãi. Ai trái lệnh sẽ bị chém đầu!
Chúng đều tuân lệnh răm rắp:
Khổng Minh khoan thai bước lên
đàn, quan sát phương hướng đâu đấy, đốt hương rót nước, ngẩng mặt lên trời khấn
thầm một hồi, rồi xuống đàn vào trướng nghỉ. Lại truyền cho quân sĩ thay đổi
nhau ăn uống.
Mỗi ngày Khổng Minh lên đàn ba lần,
xuống đàn ba lần, mà mãi vẫn không thấy có gió đông nam.
Đây nói Chu Du mời Trình Phổ, Lỗ
Túc và các tướng chực sẵn dưới trướng, chỉ đợi có gió đông nam là cất quân đi.
Một mặt báo tin cho Tôn Quyền để tiếp ứng. Hoàng Cái đã dự sẵn hai chục chiếc
hoả thuyền, mũi thuyền cắm chông sắt, trong thuyền chứa đầy lau sậy, củi khô tẩm
dầu mỡ, trên rắc lưu hoàng, diêm tiêu, dùng vải xanh che kín. Trên mũi thuyền cắm
cờ xanh, đuôi thuyền đóng sẵn một cái xuồng dự bị, sẵn sàng đợi lệnh Chu Du.
Cam Ninh, Hám Trạch kèm riết Sái
Trung, Sái Hoà trong thuỷ trại, ngày nào cũng uống rượu, không cho một tên lính
nào lên đến bờ; xung quanh toàn là quân mã Đông Ngô bao vây chặt chẽ, chờ lệnh
cấp trên.
Chu Du đang ngồi bàn việc trong
trướng, có thám tử vào báo rằng:
- Thuyền của Ngô hầu đã bỏ neo
cách trại tám mươi lăm dặm, chỉ đợi tin lành của đô đốc.
Du liền sai Lỗ Túc truyền báo cho
quan quân, tướng sĩ: ai nấy đều phải thu xếp thuyền bè, khí giới cho đủ; khi
nào có lệnh xuống, không được chậm chạp một phút nào, nếu ai lầm lỡ, lập tức
chiếu quân pháp trị tội. Các tướng được lệnh ấy, ai nấy khoa chân múa tay, sẵn
sàng chiến đấu.
Hôm ấy, trời gần tối, bầu trời
sáng sủa, không phe phẩy một tí gió nào. Du nói với Lỗ Túc:
- Khổng Minh nói sai rồi, trời
đông tháng rét thế này, làm gì có được gió đông nam?
Túc nói:
- Tôi chắc Khổng Minh không phải
là người nói bậy.
Gần đến canh ba, bỗng nhiên nghe
thấy tiếng gió thổi, cờ quạt tung bay. Du ra trướng xem, thấy đuôi cờ bay về
phía tây bắc. Một lát, gió đông nam nổi lên ầm ầm, Du giật mình nói:
- Người này có phép đoạt được trời
đất, có thuật tài hơn quỷ thần. Nếu để sống thì thế nào cũng gây vạ lớn cho
Đông Ngô, chi bằng giết trước để khỏi lo về sau.
Nói rồi, lập tức gọi hai tướng bộ
quân đô uý là Đinh Phụng, Từ Thịnh, đến bảo rằng:
- Hai người dẫn một trăm quân, Từ
Thịnh đi đường thuỷ, Đinh Phụng đi đường bộ, cùng đến cả đàn Thất tinh ở núi
Nam Bình, không hỏi han chi cả, cứ việc chặt phăng ngay đầu Gia Cát Lượng, đem
về đây lấy thưởng.
Hai tướng lĩnh mệnh. Từ Thịnh dẫn
một trăm tay đao phủ, nhổ thuyền đi trước, Đinh Phụng dẫn một trăm tay cung nỏ
lên ngựa đi sau, đến cả núi Nam Bình. Dọc đường thấy gió đông nam đang nổi to lắm.
Người đời sau có thơ rằng:
Gió đâu phút chốc nổi đùng đùng,
Ví không Gia Cát dùng mưu lạ,
Công Cẩn khôn ngoan luống uổng công?
Quân mã Đinh Phụng đến trước;
trông lên thấy tướng sĩ đang cầm cờ đứng đón gió trên đàn. Phụng xuống ngựa, cắp
gươm lên đàn, không thấy Khổng Minh đâu, đâm hoảng, hỏi các tướng sĩ ở đó, thì
họ nói Khổng Minh vừa xuống đàn đi rồi. Phụng vội vàng xuống đàn đi tìm thì
thuyền Từ Thịnh cũng vừa đến. Hai người tụ ở bờ sông. Tiểu tốt báo rằng chiều
hôm qua, có một chiếc thuyền đỗ ở bến trước mặt và mới rồi thấy Khổng Minh xoã
tóc xuống thuyền, thuyền ấy vừa ngược sông. Hai tướng lập tức chia làm hai đường
thuỷ lục đuổi theo.
Từ Thịnh sai kéo căng buồm, lướt
nhanh như gió. Đuổi cách thuyền trước không xa mấy, Thịnh đứng trên mũi thuyền
gọi to lên rằng:
- Quân sư đừng đi vội, đô đốc tôi
có lời mời!
Khổng Minh đứng ở sau thuyền cười
ha hả nói:
- Ông hãy về bẩm với đô đốc dùng
binh cho khéo, Lượng tôi tạm về Hạ Khẩu, khi khác sẽ xin đến hầu.
Từ Thịnh nói:
- Xin hãy dừng thuyền một chút,
có việc khẩn cấp muốn nói.
Khổng Minh nói:
- Ta đã biết đô đốc chẳng dung,
thể nào cũng sai giết ta, nên đã dặn trước Tử Long đến đón, tướng quân không cần
phải đuổi theo nữa!
Từ Thịnh thấy thuyền Khổng Minh
không có buồm nên cố sức đuổi theo; khi đuổi gần kịp, thấy Triệu Tử Long giương
cung đặt tên, đứng ở lái thuyền, gọi to lên rằng:
- Ta là Triệu Tử Long ở Thường
Sơn đây! Ta phụng mệnh đến đón quân sư, sao ngươi dám đuổi theo? Đáng lẽ ta cho
một phát tên kết liễu đời người mới phải, nhưng e mất tình hoà khí giữa hai
nhà. Song cũng phải cho ngươi biết tay ta mới được!
Nói đoạn bắn một phát, đứt phăng
dây cột buồm ở thuyền Từ Thịnh; cánh buồm rơi xuống sông, thuyền quay ngang
ngay ra. Triệu Tử Long liền sai giương buồm theo chiều gió mà đi, thuyền bay
vùn vụt như tên, đuổi cũng không kịp. Đinh Phụng ở trên bờ, gọi Từ Thịnh ghé
thuyền vào, bảo rằng:
- Gia Cát Lượng mưu thần tài
thánh, không ai bì được. Lại có Triệu Vân, sức địch muôn người. Ngươi có biết
trận đánh ở Đương Dương, Trường Bản không? Chúng mình chỉ việc quay về báo là
hơn cả.
Hai tướng bèn về ra mắt Chu Du,
thuật lại việc Khổng Minh đã hẹn trước Triệu Vân sang đón. Chu Du giật mình
nói:
- Người này đa mưu quá, làm cho
ta chẳng yên tâm chút nào.
Lỗ Túc nói:
- Hãy để phá xong Tào Tháo, rồi
ta sẽ liệu.
Du đồng ý, đòi các tướng đến nghe
lệnh. Trước hết, sai Cam Ninh đem Sái Trung và hàng binh đi men theo bờ phía
nam, mang toàn cờ hiệu, đến thẳng rừng Ô Lâm là kho lương của Tào Tháo, kéo sâu
vào đến nơi, đốt lửa lên làm hiệu. Chỉ để một mình Sái Hoà ở lại trong trại, có
việc dùng đến.
Thứ nhì, gọi Thái Sử Từ vào dặn:
- Ngươi lĩnh ba nghìn quân, đến
thẳng địa giới Hoàng Châu, chặn đường quân Tào ở Hợp Phì đến tiếp ứng. Lúc nào
giáp chiến quân Tào thì đốt lửa làm hiệu; trông thấy cờ đỏ tức là quân tiếp ứng
của Ngô hầu tới. Hai đội này đi xa hơn cả, phải đi trước.
Thứ ba, gọi đến Lã Mông, lĩnh ba
nghìn quân đi ra rừng Ô Lâm để tiếp ứng Cam Ninh, đốt trại Tào Tháo.
Thứ tư, sai Lăng Thống lĩnh ba
nghìn quân, chặn ngang biên giới Di Lăng, hễ thấy Ô Lâm nổi lửa, thì dẫn quân đến
tiếp ứng.
Thứ năm, gọi Đổng Tập lĩnh ba
nghìn quân đến thẳng Hán Dương theo đường Hán Xuyên đánh vào trại Tào Tháo, hễ
nhìn thấy cờ trắng, kéo ra Hán Dương tiếp ứng Đổng Tập.
Sáu đội chiến thuyền chia đường
cùng tiến.
Lại sai Hoàng Cái chuẩn bị hoả
thuyền, một mặt cho quân mang thư hẹn với Tào Tháo đêm nay đến hàng; một mặt điều
bốn đội thuyền đi theo Hoàng Cái để tiếp ứng. Đội nhất là Hàn Đương, đội nhì là
Chu Thái, đội ba là Tưởng Khâm, đội tư là Trần Vũ. Mỗi đội mang ba trăm chiếc
thuyền, hai chục chiếc hoả thuyền đi hàng đầu. Chu Du cùng với Trình Phổ ngồi
trên chiếc thuyền to đốc chiến; Từ Thịnh, Đình Phụng làm tả hữu hộ vệ. Còn Lỗ
Túc, Hám Trạch và bọn mưu sĩ ở nhà giữ trại. Trình Phổ thấy Chu Du có tài điều
khiển quân sĩ rất lấy làm kính phục.
Lại nói, Tôn Quyền sai sứ mang ấn
tín đến báo Chu Du là đã cử Lục Tốn làm tiên phong, tiến thẳng ra Kỳ Hoàng, Ngô
hầu tự đem quân làm tiếp ứng. Du lại sai người đốt hoả pháo ở núi Tây Sơn, và
phất cờ hiệu ở núi Nam Bình. Đâu đấy chuẩn bị đầy đủ, chỉ đợi đến chập tối là
khởi sự.
Nói về Lưu Huyền Đức ở Hạ Khẩu,
đương chờ Khổng Minh về, chợt thấy một đội thuyền kéo đến, là thuyền Lưu Kỳ lại
thăm dò tình hình. Huyền Đức mời ngồi trên lầu và nói:
- Gió Đông Nam nổi đã lâu, mà Tử
Long đi đón Khổng Minh vẫn chưa thấy về, tôi rất lo ngại.
Quân sĩ chỉ đằng xa về phía Phàn
Khẩu nói:
- Chiếc thuyền buồm căng gió tiến
lại kia, chắc là thuyền quân sư rồi!
Huyền Đức, Lưu Kỳ vội vàng xuống
đón. Phút chốc thuyền ghé vào bờ. Khổng Minh và Tử Long bước lên. Huyền Đức mừng
rỡ, hỏi han trò chuyện, Khổng Minh nói:
- Các việc khác xin hãy để thư thả;
khi trước, tôi có hẹn quân mã và chiến thuyền, đã thu xếp xong chưa?
Huyền Đức nói:
- Xong đã lâu, chỉ đợi quân sư về
cắt đặt.
Khổng Minh cùng với Huyền Đức,
Lưu Kỳ lên trướng ngồi, rồi bảo Tử Long:
- Tử Long đem ba nghìn quân mã
sang sông, đi tắt đến đường hẻm Ô Lâm, tìm chỗ nào cây cối rậm rạp mai phục. Cuối
canh tư đêm nay, Tào Tháo thế nào cũng chạy qua đường ấy, đợi quân Tào đi được
nửa chừng thì đốt lửa lên, đổ ra mà đánh. Tuy không giết được cả, nhưng chắc giết
được một nửa.
Vân nói:
- Ô Lâm có hai đường, một đường
sang Nam Quận, một đường về Kinh Châu, biết đón ở đường nào?
Khổng Minh nói:
- Nam Quận địa thế hiểm lắm, Tào
Tháo không dám qua, tất phải sang Kinh Châu, để kéo về Hứa Đô.
Triệu Vân lĩnh kế đi trước.
Khổng Minh lại gọi Trương Phi đến,
bảo rằng:
- Dực Đức lĩnh ba nghìn quân mã
sang sông, mai phục trong hang Hồ Lô, Tào Tháo không dám qua nam Di Lăng, tất
chạy qua bắc Di Lăng. Ngày mai, lúc tạnh mưa, quân Tào đến đó thổi cơm; hễ thấy
có khói thì đốt lửa ở sườn núi rồi đổ ra mà đánh. Tuy không bắt được Tào Tháo,
nhưng công của Dực Đức cũng không phải là nhỏ.
Phi lĩnh kế đi ngay.
Lại dặn My Chúc, My Phương, Lưu
Phong phải mang thuyền đi quanh sông vây bắt bại quân, tước lấy khí giới. Ba
người lĩnh kế tiến quân.
Khổng Minh đứng dậy bảo Lưu Kỳ rằng:
- Một dải Võ Sương vô cùng hiểm yếu,
xin công tử dẫn quân về ngay, bố trí ở các cửa bến. Quân Tào thua chạy đến đó,
xông ra mà bắt, nhưng chớ nên đi xa thành luỹ của mình.
Lưu Kỳ từ biệt Huyền Đức và Khổng
Minh đem quân đi.
Khổng Minh bảo Huyền Đức rằng:
- Chúa công nên đóng quân ở cửa
Phàn Khẩu, lên núi cao mà xem Chu Du đêm nay thành công lớn.
Bấy giờ, Vân Trường đứng cạnh, Khổng
Minh không đả động gì đến. Vân Trường không sao nhịn được, nói to lên rằng:
- Tôi từ khi theo anh tôi đi đánh
dẹp đến nay kể cũng đã lâu, chưa khi nào tôi phải lùi lại sau. Nay gặp trận
đánh to thế này, không thấy quân sư hỏi han gì đến là ý làm sao?
Khổng Minh cười, nói:
- Vân Trường đừng trách, tôi muốn
nhờ tướng quân giữ cho một chỗ hiểm yếu, nhưng còn hơi ngại một chút, chưa dám
phiền đến.
Vân Trường nói:
- Nghi ngại điều gì, xin cho tôi
biết?
Khổng Minh nói:
- Khi xưa, Tào Tháo đãi tướng
quân hậu lắm, thế nào tướng quân chẳng nhớ ơn. Nay Tào Tháo thua trận, tất chạy
qua đường Hoa Dung. Nếu sai túc hạ đi, tất nhiên túc hạ tha cho hắn thoát, bởi
thế, chưa dám phiền tới.
Vân Trường nói:
- Quân sư nghĩ thế, thật là có bụng
tốt. Khi xưa Tào Tháo có trọng đãi tôi. Nhưng tôi đã chém Nhan Lương, Văn Sú,
giải vây thành Bạch Mã để báo ơn rồi. Nay nếu có gặp y, tôi đâu dám dễ dàng tha
y được.
Khổng Minh nói:
- Nếu tướng quân tha thì làm sao?
Vân Trường nói:
- Xin theo quân luật.
Khổng Minh nói:
- Nếu thế, phải làm giấy cam
đoan.
Vân Trường xin ký giấy cam đoan,
rồi hỏi lại rằng:
- Tào Tháo không chạy qua đường ấy,
thì quân sư dạy thế nào?
Khổng Minh nói:
- Tướng quân nên tìm trái núi nào
cao ở đường hẻm Hoa Dung, chất cỏ đốt lửa lên, để dử quân Tào đến.
Vân Trường nói:
- Tào Tháo thấy có lửa, biết có
mai phục, sao hắn chịu đến?
Khổng Minh cười, nói:
- Tướng quân không nhớ trong binh
pháp có câu “Hư hư thực thực” đó ru? Tháo giỏi dùng binh, có thể mới lừa được hắn.
Hắn trông thấy lửa, cho là ta hư trương thanh thế, tất nhiên tìm đến lối đó. Tướng
quân không được thả cho hắn đi!
Vân Trường lĩnh mệnh dẫn Chu
Thương, Quan Bình và năm trăm quân đao phủ ra đường Hoa Dung mai phục.
Huyền Đức nói nhỏ với Khổng Minh
rằng:
- Em tôi là người nghĩa khí lắm.
Nếu Tào Tháo quả nhiên đi qua đó, chỉ sợ em tôi lại tha mất thôi!
Khổng Minh thưa:
- Tôi xem thiên văn, biết số Tào
Tháo chưa chết, nên mới để một mối tình nghĩa ấy cho Vân Trường làm, cũng là một
việc hay.
Huyền Đức nói:
- Tiên sinh mưu kế như thần, trên
đời hiếm có!
Khổng Minh cùng Huyền Đức sang cả
Phàn Khẩu xem Chu Du đánh trận, để Tôn Càn, Giản Ung ở lại giữ thành.
Nói về Tào Tháo ở trong thuỷ trại,
cùng tướng tá bàn bạc, chỉ đợi tin Hoàng Cái. Hôm ấy gió đông nam nổi to, Trình
Dục vào bẩm rằng:
- Hôm nay có gió đông nam, xin thừa
tướng đề phòng mới được.
Tháo cười, nói:
- Hôm nay là ngày đông chí, khí
nhất dương mới sinh ra, trách nào chẳng có gió đông nam, có gì lạ!
Chợt quân sĩ vào báo có thuyền
Giang Đông đưa mật thư của Hoàng Cái đến. Tháo gọi vào. Người ấy dâng thư lên,
trong thư nói: “Chu Du phòng bị cẩn mật lắm, chưa tìm được kế thoát
thân. Nay nhân có lương thảo ở hồ Phiên Dương mới tải đến, Chu Du sai tôi đi ra
tiếp nhận, dịp may đã tới, sớm tối gì tôi cũng giết được danh tướng Giang Đông,
đem thủ cấp sang hàng. Chỉ vào khoảng canh hai đêm nay hễ thấy thuyền nào cắm cờ
xanh thì chính là thuyền lương”.
Tháo mừng lắm, họp các tướng trên
thuyền to, đợi xem thuyền Hoàng Cái đến.
Lại nói bên Giang Đông, chiều tối
hôm ấy, Chu Du gọi Sái Hoà ra, sai quân trói lại. Hoà kêu là vô tội. Du mắng rằng:
- Mày là thằng nào, dám đến đây
trá hàng? Nay ta đang thiếu một thứ lễ vật tế cờ, hãy mượn cái đầu mày đấy!
Hoà cố cãi không được, kêu to lên
rằng:
- Cam Ninh, Hám Trạch cũng đồng
mưu với tôi!
Du nói:
- Đó là do ta sai khiến đấy!
Nói đoạn, sai điệu Sái Hoà ra bờ
sông dưới cột cờ đèn, rót rượu đốt vàng, chém đầu lấy máu tế cờ, xong dong thuyền
kéo đi.
Hoàng Cái ngồi trên chiếc hoả
thuyền thứ ba, chỉ mặc một áo giáp che bụng, tay cầm dao cực sắc, trên cờ hiệu
để bốn chữ “Tiên phong Hoàng Cái”, thuận gió giương buồm đến thẳng núi Xích
Bích.
Bấy giờ, gió đông thổi mạnh, sóng
cuốn ầm ầm. Tháo ngồi trên thuyền, trông sang phía nam, mặt trăng lấp ló, toả
sáng dòng sông, tựa hồ muôn vạn rắn vàng giỡn trên mặt nước. Tháo đón gió vui
cười, tỏ vẻ đắc chí lắm.
Chợt một tên quân chỉ tay nói:
- Phía nam sông có cánh buồm nhấp
nhô xuôi gió tiến lại.
Tháo lên cao đứng trông. Quân
nói:
- Thuyền cắm toàn cờ xanh, giữa
có một lá cờ to đề mấy chữ lớn “Tiên phong Hoàng Cái”.
Tháo mừng, nói:
- Công Phúc lại hàng, thật là trời
giúp ta!
Thuyền Đông Ngô lướt tới gần.
Trình Dực đứng ngắm hồi lâu, bỗng bảo Tháo:
- Thuyền này khả nghi lắm, không
nên cho vào gần trại.
Tháo hỏi:
- Sao ngươi biết?
Dực thưa:
- Thuyền tải lương thì nặng mới
phải, thuyền này đã nhẹ lại nổi bồng bềnh. Vả lại, đêm nay gió đông nam to lắm,
nếu có âm mưu gì, thì làm thế nào?
Tháo nghe ra, liền hỏi các tướng:
- Ai dám ra cản thuyền ấy lại cho
ta?
Văn Sính nói:
- Tôi quen nghề sông nước, xin đi
một chuyến!
Nói xong, lập tức nhảy xuống chiếc
thuyền nhỏ, tay vẫy vài mươi chiếc thuyền tuần tiễu đi ra. Sính đứng đầu thuyền,
gọi to lên rằng:
- Thừa tướng truyền cho các thuyền
kia không được vào gần trại vội, hãy thả neo đậu cả lại giữa sông!
Quân sĩ cũng đều quát lớn:
- Hạ buồm xuống cho mau!
Quân nói chưa dứt lời, cung nỏ đã
bắn sang rào rào, Văn Sính bị tên trúng cánh tay trái, ngã ngay xuống thuyền.
Quân Tào rối loạn chạy về. Thuyền bên này còn cách trại Tào độ hai dặm, Hoàng
Cái cầm dao vẫy một cái, các thuyền mé trước nhất tề đốt lửa. Lửa được gió, gió
bốc lửa, thuyền bay vùn vụt như tên, rực cháy ngút trời: hai chục chiếc hoả
thuyền tràn vào thuỷ trại.
Thuyền trong trại Tào Tháo bén lửa
bốc cháy tứ tung, lại bị xích sắt khoá chặt, không sao chạy thoát. Bên kia
sông, pháo nổ đùng đùng, bốn mặt hoả thuyền ùa đến. Trên mặt sông Tam Giang gió
cuốn lửa bay, trên trời dưới nước đỏ rực như mặt trời mọc. Tào Tháo trông lên
các trại trên bờ lại thấy mấy chỗ bốc cháy.
Hoàng Cái ngồi trên chiếc thuyền
nhỏ với vài thuỷ thủ bơi thuyền, xông vào trong đám lửa, tìm bắt Tào Tháo. Tháo
thấy thế nguy cấp lắm, định bỏ thuyền to chạy lên bờ; chợt có Trương Liêu chở một
chiếc thuyền con đến, đỡ Tháo xuống; Tháo vừa xuống được thì chiếc thuyền to đã
bắt lửa cháy rồi. Trương Liêu và vài chục người bảo vệ Tào Tháo chạy lên bờ.
Hoàng Cái thấy có người mặc áo cẩm bào đỏ xuống thuyền, biết là Tào Tháo, sai
bơi mau ngay thuyền đến, tay cầm dao sắc gọi to lên rằng:
- Tào tặc chớ chạy, Hoàng Cái đã
đến đây!
Tào Tháo luôn miệng kêu khổ,
Trương Liêu giương cung lắp tên, đợi Hoàng Cái tới gần, bắn ra một phát. Lúc
này gió thổi vù vù, Hoàng Cái đang ở trong đám lửa, nghe sao thấy tiếng tên bắn,
nên bị trúng ngay vào giữa vai, ngã lăn xuống sông.
Ấy là:
Đau đớn chưa khỏi lại đau tên.
Chưa biết tính mệnh Hoàng Cái sống
thác thế nào, xem đến hồi sau sẽ biết.
Gia Cát Lượng khéo tình đường Hoa Dung
Quan Vân Trường vì nghĩa tha Tào Tháo
Lại nói đang đêm hôm ấy Trương
Liêu bắn trúng Hoàng Cái ngã xuống sông, cứu được Tào Tháo chạy lên bờ, tìm được
ngựa thì quân sĩ đã rối loạn cả rồi.
Hàn Đương xông vào đánh thuỷ trại,
bỗng quân sĩ báo tin có một người ở dưới bánh lái đang gọi tên mình. Hàn Đương
lắng nghe, thấy tiếng gọi:
- Công Nghĩa cứu ta với!
Đương nhận đúng là tiếng Hoàng
Cái, vội vàng vớt lên, thấy Hoàng Cái bị tên bắn trúng, bèn ghé răng cắn rút
tên ra, nhưng đầu tên mắc trong thịt, Đương vội vàng cởi áo ướt của Cái ra, lấy
gươm khoét thịt lấy đầu tên, rồi xé vải cờ buộc chặt lại; lại cởi chiến bào của
mình thay cho Hoàng Cái, sai thuyền đưa về trại chữa thuốc.
Hoàng Cái xưa nay bơi lội đã
quen, cho nên đang lúc đại hàn, ngã xuống sông cũng không việc gì.
Đêm hôm ấy, lửa đỏ rực trời, tiếng
reo dậy đất. Bên tả, hai đội quân của Hàn Đương, Tưởng Khâm, từ mé tây núi Xích
Bích đánh đến. Bên hữu, hai đội quân của Chu Thái, Trần Vũ từ mé đông núi Xích
Bích đánh vào; ở giữa đại đội chiến thuyền của Chu Du, Trình Phổ, Từ Thịnh,
Đinh Phụng xốc tới. Trong thì lửa đốt, ngoài thì quân đánh. Đó thật là: thuỷ
chiến cửa Tam Giang, dàn quân núi Xích Bích. Quân Tào người bị giáo đâm, kẻ
trúng tên bắn, chết cháy, chết đuối, không biết bao nhiêu mà kể…
Đời sau có thơ rằng:
Xích Bích thuyền bè phút sạch không!
Lửa bốc đùng đùng mây biển đỏ,
Chu Du nhờ đó phá Tào công!
Lại có bài thơ tứ tuyệt rằng:
Chinh chiến thời xưa khéo lạ lùng.
Quân sĩ Giang Đông, không đón Nguỵ,
Gió đông có ý giúp Chu lang.
Lại nói Cam Ninh sai Sái Trung
đưa đường vào cướp trại Tào Tháo; đến nơi Ninh chém chết ngay Sái Trung, rồi đốt
lửa lên làm hiệu. Lã Mông thấy trung quân có hiệu lửa, liền đốt luôn vài chục
nơi để tiếp ứng Cam Ninh. Đổng Tập, Phan Chương cũng chia nhau đốt lửa hò reo,
trống đánh rộn rã.
Tào Tháo cùng với Trương Liêu dẫn
hơn chục quân kỵ mã chạy trong rừng lửa, nhìn ra phía trước chẳng chỗ nào là chỗ
không có lửa cháy. Đang chạy, thì thấy Mao Giới cứu được Văn Sính, dẫn vài chục
quân vừa chạy đến. Tháo sai quân tìm đường, Trương Liêu chỉ tay nói:
- Chỉ còn có đường Ô Lâm rộng rãi
để chạy thôi.
Tháo chạy tắt ra đường Ô Lâm. Bỗng
có một toán quân đuổi tới, gọi to lên rằng:
- Giặc Tào đừng chạy nữa!
Trong ánh lửa, hiện ra lá cờ hiệu
Lã Mông. Tháo thúc quân cứ việc chạy, để Trương Liêu đi sau đánh nhau với Lã
Mông. Một lát, lại thấy trước mặt có lửa bốc, một toán quân ở trong hang núi
kéo ra, gọi to lên rằng:
- Lăng Thống ở đây!
Tào Tháo rụng rời hồn vía, may
đâu có một toán quân cũng vừa chạy đến, kêu lớn:
- Thừa tướng đừng sợ, có Từ Hoảng
ở đây!
Và xốc vào đánh Lăng Thống một chập,
rồi tháo đường chạy cả về phía bắc. Lại thấy một toán quân mã đóng trên sườn
núi, Từ Hoảng ra hỏi, thì là Mã Diên và Trương Khải, tướng cũ Viên Thiệu đã
hàng Tào. Hai tướng ấy có ba nghìn quân mã, cắm trại ở đó. Đêm hôm ấy, trông thấy
lửa sáng rực trời, chưa dám khinh động, vừa may gặp Tào Tháo. Tháo sai hai tướng
dẫn một nghìn quân đi trước mở đường, còn bao nhiêu bắt đi kèm để bảo vệ.
Tháo được toán quân dồi dào sinh
lực ấy, trong bụng hơi vững. Mã Diên, Trương Khải hai tướng tế ngựa đi trước,
chưa được mười dặm, bỗng nghe tiếng quát ầm ĩ, một toán quân đổ ra, tướng đi đầu
thét lên rằng:
- Tao là Cam Hưng Bá ở Đông Ngô
đây!
Mã Diên đang chực giao chiến thì
đã bị Cam Ninh đưa một nhát dao, lăn ngay xuống ngựa. Trương Khải vác giáo xông
tới. Ninh quát to một tiếng, Khải trở tay không kịp, bị một nhát dao chết nốt.
Hậu quân phi báo Tào Tháo. Tháo lúc đó chỉ mong quân Hợp Phì đến cứu; không ngờ
Tôn Quyền chặn ở đường Hợp Phì, trông thấy lửa sáng dưới sông, biết là quân
mình thắng trận, liền sai Lục Tốn đốt lửa làm hiệu. Thái Sử Từ thấy có hiệu lửa,
liền hợp quân với Lục Tốn đánh bừa vào, Tào Tháo phải chạy rẽ ra Di Lăng. Giữa
đường, gặp Trương Cáp, Tháo sai Cáp đi chặn hậu. Tháo ra roi tế ngựa chạy mãi đến
canh năm, ngoảnh lại trông thấy khói lửa đã xa, mới tạm yên tâm, và hỏi:
- Đây là xứ nào?
Tả hữu bẩm:
- Đây là phía tây rừng Ô Lâm,
phía bắc đất Nghi Đô.
Tháo ngồi trên ngựa, nhìn thấy
cây cối um tùm, núi non trùng điệp, bỗng nhiên cười sằng sặc mãi không thôi.
Các tướng hỏi:
- Thừa tướng cười gì?
Tháo nói:
- Ta không cười ai, chỉ cười Chu
Du ít mưu, Gia Cát Lượng kém mẹo. Nếu phải ra tay, ta cho phục sẵn một đạo quân
ở chỗ này, thì sẽ ra sao nhỉ?
Tháo nói chưa dứt lời, đã thấy trống
đánh thùng thùng, lửa bốc ngùn ngụt. Tháo sợ hãi quá, suýt nữa ngã ngựa. Một
toán quân xông ra, rồi một tướng thét lên:
- Ta là Triệu Tử Long, phụng mệnh
quân sư, đợi ở đây đã lâu rồi!
Tháo sai Từ Hoảng, Trương Cáp hai
người ra địch Triệu Vân, còn mình cứ việc cắm cổ chạy. Tử Long không đuổi theo,
chỉ cố cướp đoạt tinh kỳ, khí giới thôi. Tháo thoát nạn.
Lúc này, trời đã gần sáng, mây
đen phủ kín cả bầu trời, gió đông nam vẫn chưa tắt. Bỗng nhiên một trận mưa đổ
xuống như trút nước, ướt cả áo giáp. Tào Tháo và quân sĩ đội trời mà chạy, người
nào người nấy bụng đói như cào, Tháo thả quân vào các làng mạc cướp gạo và tìm
lửa để thổi cơm ăn. Sắp thổi cơm, thì một toán quân đuổi đến. Tháo hoảng quá,
trông ra thì là Lý Điển, Hứa Chử, đưa một bọn mưu sĩ vừa chạy tới. Tháo mừng rỡ,
thúc quân đi luôn không ăn vội, và hỏi:
- Phía trước mặt kia là địa phận
nào?
Quân sĩ bẩm:
- Một bên là đường to đi nam Di
Lăng, một bên là đường núi đi bắc Di Lăng.
Tháo lại hỏi:
- Đi đường nào về Nam Quận, Giang
Lăng cho gần?
Quân sĩ thưa:
- Đi đường nam Di Lăng, qua cửa
hang Hồ Lô, về Nam Quận gần hơn.
Tháo bảo ngay đi đường nam Di
Lăng. Đến cửa hang Hồ Lô, quân sĩ đã đói lả cả rồi, không nhấc chân được nữa.
Ngựa cũng kiệt sức, lắm con ngã lăn ra dọc đường. Tháo cho quân tạm nghỉ. Quân
sĩ khi nãy vào các làng mạc, kẻ thì cướp được gạo củi, người thì giật được nồi
niêu, liền đem cả ra tìm chỗ khô ráo, bắc bếp thổi cơm, cắt cả thịt ngựa nướng
ăn. Rồi người nào người nấy cởi áo ra hóng gió cho khô; ngựa tháo yên cho gặm cỏ.
Tháo ngồi trong rừng, bỗng dưng lại
ngẩng mặt cười sằng sặc. Các tướng hỏi:
- Vừa rồi thừa tướng cười Chu Du,
Gia Cát Lượng, đã xuất hiện ngay một đám Triệu Tử Long, tổn hại bao nhiêu quân
mã. Sao bây giờ thừa tướng lại cười?
Tháo nói:
- Ta vẫn cười Gia Cát Lượng, Chu
Du là kém mưu trí, nếu ta dùng binh, thì phục sẵn quân ở chỗ này, ngồi chơi ăn
sẵn, chúng ta chẳng chết cũng bị trọng thương. Họ không tính đến nước đó, nên
ta cười.
Tháo đang cười cười nói nói, bỗng
phía trước phía sau tiếng hò reo nổi lên ầm ĩ. Tháo giật mình, bỏ cả giáp, nhảy
lên ngựa, phần; lớn quân sĩ chưa kịp thu ngựa về, đã thấy bốn mặt lửa cháy đùng
đùng, một đạo quân dàn trước cửa hang, tướng đi đầu là Trương Dực Đức, cắp mâu
kìm ngựa, hét lớn:
- Bớ giặc Tháo, mi định chạy đi
đâu?
Tướng sĩ trông thấy Trương Phi, đều
rụng rời hết vía. Hứa Chử vội vàng cưỡi ngựa không yên ra địch Trương Phi;
Trương Liêu, Từ Hoảng cũng tế ngựa xúm vào đánh. Quân sĩ hai bên đánh nhau lộn
bậy. Tháo tế ngựa chạy thoát. Các tướng cũng dần dần rút cả.
Trương Phi đuổi theo. Tháo cắm cổ
chạy. Khi chạy đã xa. Tháo ngoảnh nhìn các tướng, thấy bị thương rất nhiều.
Đang đi, quân sĩ bẩm rằng:
- Trước mặt là ngã ba đường, xin
hỏi thừa tướng đi đường nào?
Tháo hỏi:
- Đi đường nào cho gần?
Quân sĩ bẩm:
- Con đường lớn phẳng phiu lắm,
nhưng xa hơn năm chục dặm; con đường nhỏ sang Hoa Dung gần năm chục dặm, nhưng
hẹp và gồ ghề khó đi.
Tháo sai người lên núi quan sát,
người ấy trở xuống báo rằng:
- Trong đường nhỏ có mấy chỗ khói
bốc nghi ngút, đường lớn thì không thấy gì.
Tháo truyền cho các tướng đi theo
đường nhỏ Hoa Dung.
Các tướng hỏi:
- Có khói lửa, tất có mai phục,
sao lại đi đường ấy?
Tháo nói:
- Các tướng không biết trong binh
thư có câu “Hư là thực, thực là hư” à? Gia Cát Lượng khôn ngoan, cho nên sai
người đốt lửa ở sườn núi hẻo lánh để ta không dám đi qua núi, rồi phục binh sẵn
ở đường lớn. Ta đã biết tỏng rồi, khi nào còn mắc mẹo hắn.
Các tướng đều nói:
- Thừa tướng mưu cơ giỏi lắm, khó
ai bì kịp!
Rồi cùng nhau đem quân chạy theo
lối Hoa Dung. Bấy giờ, quân mã mỏi mệt, thương binh phải gượng gạo dắt díu,
cõng đỡ nhau mà đi, quần áo ướt sũng, tả tơi; vũ khí cờ quạt xơ xác. Trong số
này, phần nhiều bị đuổi riết ở đường Di Lăng mới rồi, chỉ còn cưỡi ngựa trần,
yên cương chẳng có. Vả đang lúc trời đông rét mướt, khổ não không sao kể xiết.
Đang đi, Tháo thấy tiền quân dừng
ngựa đứng lại. Tháo hỏi làm sao; quân quay về bảo rằng:
- Đường hẻm chân núi, vì buổi
sáng mưa to, nước đọng thành vũng, bùn lầy ngập vó ngựa, khó đi lắm.
Tháo điên tiết, quát mắng:
- Phép hành quân, gặp núi phải mở
lối, gặp nước phải bắc cầu, có lẽ đâu bùn lầy không đi được?
Lập tức truyền lệnh, cho quân già
yếu và bị thương từ từ đi sau. Còn bao nhiêu quân cường tráng phải gánh đất, kiếm
cỏ rác để đắp đường cho phẳng phiu; phải làm ngay để lấy đường đi, ai trái lệnh
sẽ chém đầu. Quân sĩ được lệnh phải tụt xuống ngựa, đẵn tre chặt gỗ để lấp đường.
Tháo lại sợ sau lưng có quân đuổi
theo, sai Trương Liêu, Hứa Chử, Từ Hoảng dẫn một trăm lính kỵ, tuốt gươm cầm sẵn
trong tay, tên nào chậm chạp thì chém. Lúc này, quân sĩ đều đói mệt, lăn queo
ra đường. Tháo thét người ngựa giẫm lên trên mà đi, chết hại không biết bao
nhiêu, tiếng kêu khóc vang cả đường sá.
Tháo giận, nói:
- Sống chết có số, việc gì mà phải
khóc? Hễ đứa nào khóc nữa thì chém!
Trong ba toán quân mã, một toán ở
lại sau, một toán đi trước đắp đường, lấp hố, còn một toán đi kèm với Tào Tháo.
Đi khỏi quãng hiểm trở, ra đến đường cái phẳng phiu hơn. Tháo ngoảnh lại thấy
chỉ còn hơn ba trăm quân mã, quần áo tả tơi. Tháo giục đi cho mau. Các tướng
thưa:
- Người ngựa kiệt sức quá rồi,
xin cho tạm nghỉ một chút!
Tháo nói:
- Đến hẳn Kinh Châu, sẽ nghỉ cũng
vừa!
Lại đi được độ vài dặm. Tháo ngồi
trên ngựa, giơ roi cười sằng sặc lên. Các tướng hỏi:
- Thừa tướng lại cười gì thế?
Tháo nói:
- Người ta khen Chu Du, Gia Cát
Lượng lắm mưu nhiều trí nhưng theo ta, chỉ là lũ xoàng thôi. Nếu họ phục sẵn một
toán quân ở đây, thì chúng ta đành khoanh tay chịu trói cả.
Tháo nói chưa dứt lời, tiếng pháo
đâu lại nổ lên đùng đùng, hai bên năm trăm quân đao phủ dàn ra, đi đầu là Quan
Vân Trường cầm thanh long đao, cưỡi ngựa xích thố, chắn ngang đường đi. Quân
Tào nhìn thấy, ba hồn bảy vía lên mây cả, ngơ ngác nhìn nhau, Tháo bảo các tướng
rằng:
- Đã đến đường đất này, chỉ còn
liều chết mà đánh thôi!
Các tướng nói:
- Người tuy còn có thể địch nổi,
nhưng ngựa thì đã kiệt sức quá rồi, đánh sao được nữa?
Trình Dục nói:
- Tôi vẫn biết Vân Trường vốn
kiêu ngạo với người trên, nhưng không chấp kẻ dưới; coi thường người khoẻ,
nhưng không nỡ hiếp người yếu; ân oán phân minh, tín nghĩa rõ ràng. Thừa tướng
khi xưa có ân tình với ông ấy, nay nên thân ra kêu cầu, hoạ may mới thoát được
nạn này.
Tào Tháo nghe lời, tế ngựa ra
nghiêng mình nói với Vân Trường:
- Tướng quân lâu nay vẫn mạnh khoẻ
chứ?
Vân Trường cũng nghiêng mình đáp
lại:
- Tôi phụng mệnh quân sư, đợi thừa
tướng ở đây đã lâu.
Tháo nói:
- Tháo tôi thua trận, thế nguy, đến
đây không còn đường nào nữa. Xin tướng quân nghĩ đến tình nghĩa khi xưa làm trọng.
Vân Trường nói:
- Trước đây, tôi tuy đội ơn sâu của
thừa tướng, nhưng đã chém Nhan Lương, Văn Sú, giải vây thành Bạch Mã, để đền
đáp rồi. Còn việc hôm nay tôi đâu dám vị chút tình riêng mà bỏ việc công cho được.
Tháo nói:
- Thế tướng quân còn nhớ đến việc
qua năm cửa ải chém sáu tướng không? Đại trượng phu phải trọng điều tín nghĩa.
Tướng quân thông hiểu sách Xuân thu, há không biết việc Dữu Công Chi Tư đuổi
theo Tử Chạc Nhụ Tử[1] đó ư?
Vân Trường xưa nay vẫn là người
trọng nghĩa, nhớ đến ân tình Tào Tháo khi xưa đãi mình rất hậu và việc ra khỏi
năm cửa ải chém sáu tướng, không khỏi động lòng. Vả lại, trông thấy quân Tào đứa
nào cũng rơm rớm nước mắt, đứng run cầm cập, lòng càng không nỡ. Bởi thế, quay
ngựa lại bảo quân sĩ rằng: “Bốn mặt giãn cả ra!” rõ ràng có ý tha cho Tào Tháo.
Tháo thấy vậy, liền cùng với các tướng kéo ồ cả đi. Vân Trường quay ngựa lại,
thì Tào Tháo đã đi qua rồi. Vân Trường quát to lên một tiếng, quân Tào vội xuống
ngựa, quỳ lạy, sụt sùi khóc lóc. Vân Trường càng không nỡ, còn đang do dự thì
Trương Liêu tế ngựa vừa đến. Vân Trường lại nhớ đến tình bạn cũ, thở dài một tiếng,
thả cho đi hết.
Người sau có thơ rằng:
Khéo đâu đường hẻm gặp Quan Công.
Chỉ vì tình nghĩa còn ghi tạc,
Nên để rồng tù thoát xuống sông.
Tháo thoát được nạn Hoa Dung, ra
khỏi cửa rừng, ngoảnh lại trông quân mình chỉ còn hai mươi bảy tên lính kỵ. Mãi
đến chiều tối, sắp tới Nam Quận, lại thấy lửa bốc sáng rực, một đội quân mã kéo
ra chặn đường.
Tháo hoảng quá, nói:
- Thôi! Mạng ta đến đây là hết!
Một lát, tiền quân lại gần, té ra
quân mã của Tào Nhân. Tháo bấy giờ mới hoàn hồn.
Tào Nhân ra nghênh tiếp và nói:
- Tuy biết tin thua trận, nhưng
không dám bỏ thành đi cứu, nên đóng ở gần để nghênh tiếp.
Tháo nói:
- Ta suýt nữa không được trông thấy
nhà ngươi!
Bèn dẫn quân vào Nam Quận nghỉ
ngơi. Tiếp đó Trương Liêu cũng về tới nơi, thuật lại chuyện nhân đức của Vân
Trường. Tháo kiểm lại các tướng thấy nhiều người bị thương lắm, bèn cho phép
nghỉ ngơi cả ở đó.
Tào Nhân mở tiệc rượu để Tào Tháo
giải buồn, có đủ mặt các mưu sĩ. Tháo bỗng nhiên ngẩng mặt lên khóc hu hu. Các
mưu sĩ hỏi:
- Khi thừa tướng ở trong hang hổ
trốn nạn, còn chẳng sợ hãi gì. Nay đã về đến thành nhà, người được ăn uống thảnh
thơi, ngựa được nghỉ ngơi dưỡng sức, lẽ ra nên thu xếp quân mã, để đánh báo
thù, việc gì phải khóc?
Tháo nói:
- Ta khóc Quách Phụng Hiếu đó. Nếu
Phụng Hiếu còn sống thì không đến nỗi có trận thua này.
Nói rồi vỗ bành bạch vào bụng và
khóc rằng:
- Thương xót thay Phụng Hiếu! Đau
đớn thay Phụng Hiếu! Mến tiếc thay Phụng Hiếu!
Các mưu sĩ ai cũng hổ thẹn, nín lặng
chẳng ai nói gì cả.
Hôm sau, Tháo gọi Tào Nhân vào bảo
rằng:
- Ta nay phải về Hứa Đô, thu xếp
quân mã, để đánh báo thù. Ngươi cần giữ vững lấy Nam Quận. Ta có một mật kế
trong phong giấy này, khiến Đông Ngô không dám nhòm ngó Nam Quận nữa.
Tào Nhân bẩm:
- Còn Hợp Phì, Tương Dương, thì
nên giao cho ai giữ?
Tháo nói:
- Kinh Châu giao cho ngươi trông
nom; Tương Dương ta đã sai Hạ Hầu Đôn đến giữ rồi. Còn Hợp Phì là nơi hiểm yếu
nhất ta sai Trương Liêu làm chủ tướng, Lý Điển, Nhạc Tiến làm phó tướng, trấn
thủ đất ấy. Nếu có việc gì nguy cấp thì phi báo cho ta biết.
Tháo dặn dò đâu đấy, rồi dẫn các
tướng lên ngựa về Hứa Đô, lại đem theo cả các quan văn võ đã hàng ở Kinh Châu
đi, Tào Nhân sai Tào Hồng giữ Di Lăng và Nam Quận, để phòng Chu Du đến cướp.
Lại nói, Quan Vân Trường tha Tào
Tháo, rồi dẫn quân trở về. Bấy giờ các đạo quân đều bắt được ngựa, khí giới, tiền
lương, đem cả về Hạ Khẩu. Chỉ có Vân Trường về tay không, ra mắt Huyền Đức. Khổng
Minh đang chúc mừng Huyền Đức, thấy nói Vân Trường đến, vội vàng đứng lên cầm
chén rượu ra đón và nói rằng:
- Mừng tướng quân lập được công
to nhất một đời, và trừ được hại lớn cho cả thiên hạ! Đáng lẽ tôi phải ra tận
xa đón mừng mới phải!
Vân Trường nín lặng chẳng nói gì.
Khổng Minh lại nói:
- Hay là tại chúng tôi không ra
ngoài xa đón tiếp, cho nên tướng quân không bằng lòng chăng?
Rồi ngoảnh lại bảo tả hữu:
- Sao các ngươi không báo tin cho
ta biết trước?
Vân Trường nói:
- Tôi xin đến chịu tội.
Khổng Minh nói:
- Hay là Tào Tháo không chạy qua
đường Hoa Dung chăng?
Vân Trường đáp:
- Chính hắn chạy qua đường ấy,
nhưng vì tôi bất tài, nên hắn chạy thoát được.
Khổng Minh hỏi:
- Thế có bắt được tướng sĩ nào
không?
Vân Trường đáp:
- Không bắt được gì cả.
Khổng Minh nói:
- Thôi! Chắc là Vân Trường nghĩ đến
ân Tào tháo khi xưa, cố ý tha cho hắn rồi. Tờ cam kết hiện còn ở đây, không thể
không chiếu theo quân luật được!
Liền quát võ sĩ lôi Vân Trường ra
chém:
Đó là:
Nên để nghìn thu nức tiếng thơm.
Chưa biết tính mạng Vân Trường ra
thế nào, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Xuân thu: Dữu Công Chi Tư người nước Vệ, đuổi Tử Chạc
Nhụ Tử. Hai người đều bắn giỏi, nhưng Tử Chạc vì ốm, không cầm được cung.
Dữu Công nói: “Doãn Công dạy ta bắn, lại là học trò ngươi. Vậy ta không muốn
đem nghề của ngươi làm hại ngươi”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét