🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Lưu Huyền Đức đưa dân qua sông
Triệu Tử Long một ngựa cứu chúa
Lại nói Trương Phi thấy nước ở
thượng lưu đổ về, vội vàng đem quân lên chặn đường Tào Nhân, thì gặp ngay Hứa
Chử đến. Hai tướng giao phong, Hứa Chử không dám ham đánh, cướp đường chạy
thoát. Trương Phi quay lại đuổi, gặp ngay Huyền Đức cùng Khổng Minh men bờ sông
đi ngược lên. Lưu Phong, My Phương đi sắp thuyền sẵn. Mọi người xuống cả đò
sang sông, kéo về Phàn Thành. Khổng Minh sai đem thuyền bè đốt sạch.
Tào Nhân thu nhặt tàn quân, đóng ở
Tân Dã, sai Tào Hồng về ra mắt Tào Tháo, trình việc thua trận, Tháo nổi giận
nói:
- Gia Cát thôn phu, to gan thực!
Lập tức khởi ba quân đông như kiến
cỏ, kéo đến Tân Dã đóng trại; rồi sai quân sĩ, một mặt kiểm soát trên núi, một
mặt lấp sông Bạch Hà, đoạn chia đại quân làm tám đường, nhất tề đến lấy Phàn
Thành.
Lưu Hoa can rằng:
- Thừa tướng mới đến Tương Dương,
trước hết hãy mua lấy lòng dân đã. Nay Huyền Đức dời hết cả dân Tân Dã vào Phàn
Thành, nếu ta đến ngay thì dân hai huyện ra cám cả. Chi bằng, sai người chiêu
hàng Lưu Bị, dù Bị không hàng, mình cũng được cái tiếng là thương dân. Nếu Bị
hàng, thì có phải đất Kinh Châu không đánh cũng được không?
Tháo nghe lời ấy, liền hỏi:
- Ai đi sứ được?
Lưu Hoa nói:
- Từ Thứ rất thân với Lưu Bị, nay
hắn cũng có mặt ở đây, sao không sai hắn đi một chuyến?
Tháo nói:
- E hắn đi không trở về?
Hoa nói:
- Nếu hắn đi không trở về, thiên
hạ sẽ chê cười hắn, thừa tướng không phải lo điều ấy.
Tháo lập tức gọi Từ Thứ đến bảo rằng:
- Ta muốn san phẳng Phàn Thành,
nhưng nghĩ lại thương dân. Ông hãy đến dụ Lưu Bị, nếu y lại hàng, sẽ được tha tội
và phong tước; ví bằng y ngoan cố thì quân dân đều chết, đá ngọc nát tan. Tôi
biết ông là người trung nghĩa, nên mới nhờ ông việc này, xin chớ phụ nhau.
Từ Thứ lĩnh mệnh đến Phàn Thành.
Huyền Đức, Khổng Minh ra đón, hai bên cùng kể lể tình xưa nghĩa cũ. Thứ nói:
- Tào Tháo sai tôi đến đây dụ sứ
quân, chẳng qua giả danh mua chuộc lòng người đó thôi. Nay Tháo chia quân làm
tám đạo, lấp sông Bạch Hà mà tiến, tôi e Phàn Thành không giữ được, nên liệu mà
đi chỗ khác.
Lưu Bị muốn lưu Từ Thứ ở lại. Thứ
tạ nói rằng:
- Nếu tôi không trở về, tất thiên
hạ chê cười. Nay mẹ già đã mất, thôi đành ôm hận suốt đời. Vả thân tôi tuy ở
bên đó song thề chết không bày một kế gì. Sứ quân đã có Ngoạ Long giúp đỡ, lo
gì nghiệp lớn chẳng thành.
Thứ xin từ biệt. Huyền Đức không
dám ép nài.
Từ Thứ về ra mắt Tào Tháo, nói
Lưu Bị không chịu hàng.
Tháo giận lắm, ngay hôm ấy hạ lệnh
tiến quân.
Huyền Đức hỏi kế Khổng Minh, Khổng
Minh nói:
- Phải cấp tốc bỏ Phàn Thành, lấy
Tương Dương tạm trú.
Huyền Đức lại hỏi:
- Thế còn trăm họ đi theo đã lâu,
sao nỡ bỏ?
Khổng Minh lại bảo:
- Nên sai người thông báo cho
nhân dân biết là ai muốn đi theo thì đi, ai không muốn đi thì ở lại.
Trước hết sai Quan Vũ ra bờ sông
sắp sẵn thuyền bè; Tôn Càn, Giản Ung thì đi loan báo khắp thành rằng:
- Nay quân Tào sắp đến, thành trì
trơ trọi này không thể cầm cự lâu được, trăm họ ai muốn đi theo thì cùng sang
sông.
Dân hai huyện đồng thanh reo lên
rằng:
- Dù chết, chúng tôi cũng vui
lòng theo sứ quân.
Liền đó, trăm họ khóc lóc ra đi.
Già trẻ dắt díu, trai gái bế bồng, lũ lượt sang đò. Hai bờ sông, tiếng khóc như
ri. Huyền Đức ở trên thuyền trông thấy, rất cảm động nói:
- Chỉ vì một mình ta, mà để trăm
họ mắc nạn lớn, ta sống làm chi?
Nói rồi, định đâm đầu xuống sông.
Tả hữu vội vàng ngăn lại. Nghe thấy thế ai cũng đau lòng xót ruột. Khi thuyền
đi đến bờ phía nam, ngoảnh lại thấy những người ở lại, đều hướng cả về nam mà
khóc. Huyền Đức lại sai Vân Trường giục thuyền sang chở nốt rồi mới lên ngựa.
Đi đến cửa đông thành Tương Dương, chỉ thấy trên mặt thành tinh kỳ phấp phới,
trên bờ hào gài chông chà kín mít. Huyền Đức dừng ngựa gọi to rằng:
- Hiền điệt Lưu Tôn! Ta chỉ vì
trăm họ mà đến đây, không có bụng gì đâu, mở cửa ra mau.
Tôn nghe Huyền Đức đến, sợ không
dám ra. Sái Mạo và Trương Doãn lên thẳng chòi canh, thét quân sĩ bắn như mưa.
Trăm họ ở ngoài thành đều trông lên chòi canh mà khóc. Bỗng trong thành, có một
tướng dẫn vài trăm quân lên thẳng lầu thành quát to:
- Sái Mạo, Trương Doãn, những thằng
giặc bán nước kia! Lưu sứ quân vốn người nhân đức, nay vì cứu dân đến đây, sao
dám chống cự?
Mọi người nhìn xem ai thì là Nguỵ
Diên, tự là Văn Tràng mình cao tám thước, mặt đỏ như gấc, quê ở Nghĩa Dương.
Diên múa đao công đến chém chết tướng sĩ canh cửa, mở toang cửa thành, bỏ cầu
treo xuống, gọi to lên:
- Xin Lưu hoàng thúc mau mang
quân vào thành cùng giết những thằng giặc bán nước.
Trương Phi tế ngựa định vào, Huyền
Đức vội ngăn lại nói:
- Không được làm trăm họ sợ hãi!
Nguỵ Diên cứ mải gọi quân mã vào
thành, bỗng có một tướng tế ngựa ra, quát lên rằng:
- Nguỵ Diên, mày là một thằng vô
danh tiểu tốt, sao dám làm loạn? Có biết tao là đại tướng Văn Sính đây không?
Nguỵ Diên giận lắm, vác thương tế
ngựa đến đánh. Quân sĩ hai bên đánh lộn nhau dưới thành, tiếng reo ầm ĩ, Huyền
Đức nói:
- Ai ngờ muốn cứu dân lại hoá ra
hại dân! Ta không muốn vào Tương Dương nữa.
Khổng Minh nói:
- Giang Lăng là một nơi hiểm yếu ở
Kinh Châu, chi bằng ta hãy ra lấy trước làm nơi căn cứ đã!
Huyền Đức nói:
- Chính hợp ý ta.
Lập tức đem trăm họ dời Tương
Dương, chạy đến Giang Lăng. Nhiều dân ở Tương Dương, nhân lúc rối ren, trốn ra
theo Huyền Đức.
Nguỵ Diên đánh nhau với Văn Sính
từ giờ tỵ đến giờ mùi, quân sĩ chết sạch, Diên tế ngựa chạy trốn, tìm mãi không
thấy Huyền Đức, phải sang Tràng Sa theo thái thú Hàn Huyền.
Lại nói Huyền Đức cùng đi với hơn
mười vạn quân dân, vài nghìn cỗ xe lớn nhỏ và rất nhiều gồng gánh, đồ đạc. Đi
qua mộ Lưu Biểu, Huyền Đức đem các tướng đến lạy trước mộ, khóc mà than rằng:
- Đứa em nhục nhã là Bị, không
tài đức gì, phụ lòng anh ký thác, tội ở một mình em, không can gì đến trăm họ,
xin linh hồn anh cứu lấy trăm họ Kinh Tương!
Huyền Đức khấn thảm thiết lắm,
quân dân đều ứa nước mắt. Chợt lại có tin báo rằng:
- Đại quân Tào Tháo đã đóng ở
Phàn Thành, đương sai người chuẩn bị thuyền bè, sắp sửa sang đò đuổi theo.
Các tướng nói:
- Giang Lăng hiểm yếu, đủ cự được
với giặc. Nay đem mấy vạn dân, ngày đi được hơn mười dặm, thì bao giờ mới đến
nơi? Nếu quân Tào kéo đến thì làm thế nào? Chi bằng hãy tạm bỏ dân lại mà đi
trước.
Huyền Đức khóc rằng:
- Ta mưu việc lớn, chẳng qua cũng
lấy dân làm gốc. Nay người ta theo mình sao nỡ bỏ!
Trăm họ nghe nói, ai cũng cảm động.
Đời sau có thơ than rằng:
Lên thuyền gạt lệ cảm ba quân.
Đến nay thăm hỏi Tương Giang khẩu
Phụ lão còn truyền nhớ sứ quân.
Lại nói Huyền Đức dẫn trăm họ từ
từ tiến đi. Khổng Minh nói:
- Quân Tào sắp đuổi đến nơi, nên
sai Vân Trường sang Giang Hạ cầu cứu công tử Lưu Kỳ, bảo Kỳ cấp tốc đi thuyền về
hội ở Giang Lăng.
Huyền Đức theo lời, liền viết thư
sai Vân Trường cùng với Tôn Càn đem năm trăm quân đến Giang Hạ cầu cứu. Trương
Phi đi chặn hậu. Triệu Vân bảo vệ gia thuộc, còn các tướng đi trông nom trăm họ.
Mỗi ngày chỉ đi được hơn mười dăm lại nghỉ.
Tào Tháo ở Phàn Thành, sai người
sang sông đến Tương Dương triệu Lưu Tôn đến. Tôn sợ hãi không dám đi. Sái Mạo,
Trương Doãn xin đi, Vương Uy mật nói với Tôn rằng:
- Tướng quân đã theo hàng, Huyền
Đức lại chạy, Tào Tháo tất lơ là không phòng bị gì. Xin tướng quân phục kỵ binh
ở nơi hiểm mà đánh, chắc bắt được Tháo. Bắt được Tháo rồi thì uy danh sẽ lừng lẫy
thiên hạ; Trung Nguyên dẫu rộng, nhưng chỉ phát một tờ hịch là định xong. Cơ hội
này không mấy khi gặp, xin tướng quân chớ để nhỡ.
Tôn đem lời ấy, nói với Sái Mạo.
Mạo mắng Vương Uy rằng:
- Ngươi không biết mệnh trời, sao
dám nói càn?
Uy giận lắm, mắng lại:
- Thằng giặc bán nước kia! Ta chỉ
giận không nuốt sống được mày thôi!
Mạo muốn đem giết, Khoái Việt
ngăn lại, Mạo cùng Trương Doãn đến Phàn Thành vào bái kiến Tào Tháo, thái độ hết
sức xu nịnh. Tháo hỏi:
- Quân mã, tiền lương Kinh Châu,
ước được bao nhiêu?
Mạo thưa:
- Kỵ binh được ba vạn, quân bộ mười
lăm vạn, quân thuỷ tám vạn, cả thảy hai mươi sáu vạn. Lương thảo quá nửa ở
Giang Lăng; còn các nơi cũng đủ dùng một năm.
Tháo lại hỏi:
- Chiến thuyền có bao nhiêu, do
ai quản lĩnh?
Mạo thưa:
- Chiến thuyền lớn nhỏ cả thảy bảy
nghìn chiếc, do hai chúng tôi quản lĩnh.
Tháo liền phong cho Sái Mạo làm
Trấn nam hầu thuỷ quân đại đô đốc; Trương Doãn làm Trợ thuận hầu thuỷ quân phó
đô đốc.
Hai người mừng lắm, lạy tạ.
Tháo lại hỏi:
- Lưu Cảnh Thăng mất rồi, mà còn
lại biết hàng thuận, ta sẽ tâu với thiên tử cho làm chủ Kinh Châu mãi mãi.
Hai người lạy tạ lui ra.
Tuân Úc nói:
- Sái Mạo, Trương Doãn là đồ xiểm
nịnh, sao chúa công phong cho tước cao như thế, lại cho làm đô đốc thuỷ quân?
Tháo cười, nói:
- Ta sao lại chẳng biết người, chỉ
vì quân đất bắc không quen đánh thuỷ, nên phải tạm dùng bọn chúng. Khi nào việc
xong, ta sẽ định liệu.
Sái Mạo, Trương Doãn về gặp Lưu
Tôn nói:
- Tào thừa tướng hứa phong cho
chúa công làm chủ Kinh Châu mãi.
Tôn mừng lắm, hôm sau cùng với mẹ
là Sái phu nhân đem ấn tín sang sông đón rước Tào Tháo.
Tháo phủ dụ xong, lập tức đem
quân tướng sang đóng ngoài thành Tương Dương.
Sái Mạo, Trương Doãn, sai trăm họ
trong thành đốt hương đón rước. Tháo lấy lời ngọt ngào uỷ lạo, rồi vào thành. Đến
phủ ngồi với Khoái Việt, Tháo lại phủ dụ rằng:
- Ta không mừng được Kinh Châu,
chỉ mừng được Di Độ đó thôi.
Nói xong, phong cho Việt chức
thái thú Giang Lăng, tước Phàn Thành hầu. Bọn Phó Tốn, Vương Sán đều được làm
quan nội hầu, và cử Lưu Tôn làm thứ sử Thanh Châu, bắt phải đi ngay lập tức.
Tôn nghe lệnh thất kinh, từ chối
nói rằng:
- Tôn nay không muốn làm quan,
xin cho ở nhà giữ quê hương cha mẹ.
Tháo nói:
- Thanh Châu gần kinh đô, cho
ngươi vào triều đình làm quan, kẻo ở Kinh Tương có kẻ mưu hại.
Tôn hai ba lần từ chối, Tháo
không cho, bất đắc dĩ phải cùng Sái phu nhân đi Thanh Châu; chỉ có tướng cũ là
Vương Uy đi theo, còn bao nhiêu quan viên đều tiễn đến cửa sông rồi quay về.
Tháo gọi Vu Cấm đến dặn rằng:
- Ngươi dẫn khinh kỵ đuổi theo,
giết cả hai mẹ con đi để khỏi lo hậu hoạn.
Vu Cấm được lệnh, mang quân đuổi
theo, thét lớn:
- Ta phụng mệnh thừa tướng theo
giết mẹ con mày! Mau sớm nộp thủ cấp đi!
Sái phu nhân ôm Lưu Tôn khóc ầm
ĩ. Vu Cấm thét quân sĩ hạ thủ, Vương Uy tức giận cố sức chống cự, cũng bị giết
nốt.
Vu Cấm về báo, Tháo trọng thưởng
cho, lại sai đem quân vào Long Trung tìm bắt cho được gia quyến Khổng Minh,
nhưng chẳng biết đã dời đi đâu rồi.
Số là Khổng Minh biết trước đã
sai người mang gia quyến đến lánh ẩn ở Tam Giang.
Tháo tức lắm.
Tương Dương đã yên, Tuân Du nói:
- Giang Lăng là đất hiểm ở Kinh
Tương, tiền lương rất nhiều, nếu Lưu Bị chiếm cứ chỗ ấy, thì khó lòng lấy nổi.
Tháo nói:
- Ta có quên đâu!
Liền sai chọn một người trong số
các tướng ở Tương Dương để dẫn đường. Thấy vắng mặt Văn Sính. Tháo sai người đi
tìm, bấy giờ Sính mới chịu lại hầu. Tháo hỏi:
- Sao ngươi chậm trễ thế!
Sính đáp:
- Làm bầy tôi mà không giúp được
chủ giữ lấy giang sơn, xấu hổ lắm, không mặt nào đến sớm được.
Nói xong, sụt sùi khóc.
Tháo khen:
- Thật là trung thần!
Và cho ngay làm thái thú Giang Hạ
tước quan nội hầu, sai đem quân đi mở đường.
Thám mã chạy về báo rằng:
- Lưu Bị dẫn bách tính đi chậm lắm,
mỗi ngày chỉ đi được hơn mười dặm; tính đến nay mới đi được hơn ba trăm dặm.
Tháo sai kén lấy năm nghìn thiết
kỵ cấp tốc đuổi theo, hẹn cho một ngày một đêm phải đuổi kịp Lưu Bị. Đại quân lục
tục kéo sau.
Bấy giờ, Huyền Đức dẫn hơn mười vạn
dân và hơn ba nghìn quân mã, từ từ kéo sang Giang Lăng. Triệu Vân thì bảo vệ
gia quyến Huyền Đức; Trương Phi đi chặn hậu.
Khổng Minh nói:
- Vân Trường sang Giang Hạ không
thấy tin tức gì cả, không biết ra sao?
Huyền Đức nói:
- Xin phiền quân sư đi cho một
chuyến. Lưu Kỳ nhớ ơn quân sư dạy cho khi trước, công việc tất có kết quả.
Khổng Minh vâng lời, liền cùng
Lưu Phong đem ngay năm trăm quân sang Giang Hạ cầu cứu.
Hôm ấy, Huyền Đức cùng đi với Giản
Ung, My Chúc, My Phương, bỗng một cơn gió lốc kéo đến trước mặt, đất cát bay mù
mịt lấp cả mặt trời. Huyền Đức thất kinh hỏi rằng:
- Thế là điềm gì đó?
Giản Ung giỏi tính âm dương, bấm
một quẻ, rồi hoảng sợ nói rằng:
- Điềm này hung dữ lắm! Chỉ nội
đêm nay sẽ xảy ra. Chúa công đành phải bỏ bách tính mà chạy mới thoát.
Huyền Đức nói:
- Trăm họ theo ta từ Tân Dã đến
đây, bỏ rơi sao đành?
Ung nói:
- Chúa công cứ lưu luyến mãi thì
tai vạ tới nơi mất.
Huyền Đức hỏi rằng:
- Trước mặt kia là đâu?
Tả hữu đáp:
- Trước mặt là huyện Đương Dương,
có một trái núi, gọi là Cảnh Sơn.
Huyền Đức truyền quân tạm đến
đóng ở đó.
Bấy giờ, trời cuối thu sang đông,
gió lạnh thấu xương, mặt trời sắp lặn, tiếng khóc dậy đất.
Độ canh tư, thấy góc tây bắc có
tiếng reo hò ầm ĩ vang lại. Huyền Đức giật mình, dẫn hơn hai nghìn tinh binh ra
nghênh địch. Quân Tào ùa đến. Không sao địch nổi, Huyền Đức liều chết cầm cự.
Đương khi nguy cấp, may được Trương Phi dẫn quân đến, đánh mở một đường máu, cứu
được Huyền Đức rồi nhằm phía đông chạy miết. Văn Sính ra chặn đường. Huyền Đức
ra mắng rằng:
- Thằng phản chủ kia! Mày còn mặt
mũi nào trông thấy người ta nữa?
Văn Sính hổ thẹn quá chừng, dẫn
quân chuồn thẳng về phía đông bắc.
Trương Phi bảo vệ Huyền Đức, vừa
đánh vừa chạy, mãi đến sáng thấy tiếng hò reo đã xa. Huyền Đức mới nghỉ ngựa,
nhìn lại thủ hạ thì chỉ còn vẻn vẹn hơn trăm kỵ binh đi theo. Trăm họ, gia quyến
và bọn My Chúc, My Phương, Giản Ung, Triệu Vân tất cả hơn nghìn người không biết
lạc lõng đâu cả. Huyền Đức khóc ầm lên, nói:
- Hơn mười vạn nhân dân, chỉ vì mến
ta, nên gặp nạn lớn này; các tướng cùng gia quyến không biết sống chết ra sao,
dẫu gỗ đá cũng phải đau xót!
Đương lúc buồn rầu, bỗng thấy My
Phương mặt vẫn còn cắm mấy cái tên, lò dò đi đến, nói:
- Tử Long đi theo Tào Tháo rồi!
Huyền Đức mắng rằng:
- Tử Long là bạn cũ của ta, lẽ
đâu phản bội!
Trương Phi nói:
- Nay hắn thấy chúng ta thế cùng
sức hết, hoặc giả ham phú quý mà theo Tào Tháo chăng?
Huyền Đức nói:
- Tử Long theo ta trong cơn hoạn
nạn, lòng như sắt đá, phú quý không thể lung lạc được.
My Phương nói:
- Thật mắt tôi trông thấy hắn chạy
về phía tây bắc.
Trương Phi nói:
- Tôi xin đi tìm, nếu gặp chỉ đâm
cho một nhát kích là xong đời.
Huyền Đức nói:
- Không nên hồ đồ như thế. Em há
không nhớ chuyện Vân Trường giết Nhan Lương, Văn Sú đó sao? Tử Long bỏ đi ắt có
rủi ro gì đấy. Ta chắc Tử Long không khi nào bỏ ta.
Trương Phi không chịu nghe, dẫn
hai mươi quân kỵ mã đến cầu Trường Bản; thấy mé đông cầu có một dãy cây cối,
Phi nghĩ ngay ra một kế, liền sai quân chặt cành cây buộc vào đuôi ngựa, rồi
thúc ngựa chạy tứ tung trong rừng, cho bụi mù lên để làm nghi binh. Trương Phi
vác mâu, cưỡi ngựa đứng trên cầu, nhìn trừng trừng về phía tây.
Lại nói, từ lúc canh tư Triệu Vân
cự nhau với quân Tào, đi lại xông xáo, đánh vừa đến sáng, tìm không thấy Huyền
Đức, lại bỏ lạc cả gia quyến Huyền Đức. Vân nghĩ bụng rằng:
- Chủ ta đã đem Cam, My hai phu
nhân cùng A Đẩu uỷ thác cho ta, nay lạc mất cả, ta còn mặt nào trông thấy chủ nữa.
Chi bằng ta liều chết đánh giặc, cứu cho được hai phu nhân và A Đẩu.
Vân nhìn lại tả hữu thì chỉ còn
có ba bốn mươi quân kỵ mã đi theo, Vân tế ngựa vào trong đám loạn quân tìm kiếm,
dân hai huyện kêu khóc như ri, người trúng tên, kẻ bị đâm, bỏ cả con cái, anh
em, chạy tán loạn.
Vân đương đi, thấy có một người nằm
trên bãi cỏ, trông xem thì là Giản Ung. Vân vội hỏi:
- Có thấy hai chúa mẫu đâu không?
Ung nói:
- Hai phu nhân bỏ cả xe, ôm A Đẩu
mà chạy; ta tế ngựa chạy theo, đi qua sườn núi, chẳng may bị một tướng đâm nhát
kích ngã nhào, ngựa bị cướp mất, ta không lấy lại được, nên chịu nằm đây.
Vân bảo lính nhường ngựa cho Giản
Ung cưỡi, và đỡ Ung đi trước, nhờ báo với chủ nhân rằng: “Tôi dù lên trời, xuống
đất, thế nào cũng quyết tìm cho được hai phu nhân và A Đẩu; bằng không tìm thấy,
xin chết trên bãi chiến trường!”
Nói xong tế ngựa chạy thẳng về
phía gò Trường Bản, chợt thấy một người gọi to rằng:
- Triệu tướng quân đi đâu thế?
Vân dừng ngựa lại hỏi:
- Ngươi là ai?
Người ấy đáp:
- Tôi là lính hầu của Lưu sứ
quân, sai đi hộ tống xa trượng, bị tên lăn xuống đây.
Vân hỏi luôn tin tức hai phu
nhân, tên lính nói:
- Mới rồi thấy Cam phu nhân xoã
tóc đi chân không theo một lũ đàn bà con gái thường dân chạy ở phía nam.
Vân nghe xong không hỏi gì nữa, tế
ngựa theo phía nam đi tìm, thấy một đám đông dân chúng chừng vài trăm người, vừa
đàn ông, vừa đàn bà đang chạy tất tả.
Vân gọi to lên rằng:
- Trong đám có Cam phu nhân
không?
Phu nhân đi cuối cùng, trông thấy
Triệu Vân, oà lên khóc. Vân xuống ngựa, bỏ giáo, khóc mà rằng:
- Để cho chủ mẫu thất lạc, chính
là tội Vân… My phu nhân cùng ấu chúa đâu rồi?
Cam phu nhân nói:
- Ta cùng với My phu nhân bị giặc
đuổi, bỏ cả xe cộ, lẩn vào đám thường dân, lại gặp một toán quân mã xô vào. My
phu nhân cùng A Đẩu không biết lạc vào đâu, duy chỉ có một mình ta trốn chạy đến
đây.
Đương nói chuyện lại thấy dân
chúng kêu khóc ầm lên, nhìn ra thấy một người bị trói trên lưng ngựa, chính là
My Chúc, theo sau, một tướng tay cầm mã tấu, dẫn thêm một nghìn quân tên là Thuần
Vu Đạo, là bộ tướng của Tào Nhân. Đạo bắt được My Chúc đem nộp để lấy công. Triệu
Vân quát to một tiếng, tế ngựa xông tới. Đạo không địch nổi, bị Vân đâm một
giáo chết. Vân cứu được My Chúc, lấy được đôi ngựa, mời Cam phu nhân cưỡi, đánh
giết mở một con đường đi thẳng đến gò Trường Bản. Đến nơi, chỉ thấy Trương Phi
cưỡi ngựa đứng trên cầu, cầm ngang ngọn mâu gọi to rằng:
- Tử Long sao dám phản anh ta?
Vân nói:
- Ta còn tìm chưa thấy chủ mẫu và
A Đẩu, nên rớt lại sau, sao lại bảo là phản?
Phi nói:
- Nếu không có Giản Ung cho biết
trước thì ta không làm ngơ đâu!
Vân hỏi:
- Chúa công đâu?
Phi đáp:
- Ở ngay phía trước kia, cách đây
không xa.
Vân bảo My Chúc rằng:
- My Tử Trọng hãy bảo vệ Cam phu
nhân đi trước, để ta đi tìm nốt My phu nhân và ấu chúa đã.
Nói xong, dẫn vài quân kỵ mã theo
lối cũ trở lại. Đương chạy, gặp một tướng tay cầm giáo sắt, lưng đeo gươm, dẫn
vài chục quân kỵ tế ngựa đến. Triệu Vân chẳng nói chẳng rằng, xốc tới đánh
luôn. Mới được một hiệp, Vân đâm chết tướng ấy, quân đi theo chạy tan cả.
Nguyên tướng đó là Hạ Hầu Ân, cận
vệ đeo gươm của Tào Tháo. Nguyên Tháo có hai thanh gươm báu, một thanh gọi là “Ỷ
Thiên”, một thanh gọi là “Thanh Công”. Thanh “Ỷ Thiên” Tháo đeo luôn bên mình,
còn thanh “Thanh Công” thì giao cho Hạ Hầu Ân. Thanh gươm này chém sắt như chém
bùn, sắc bén vô cùng. Hôm ấy Hạ Hầu Ân cậy mình có sức khoẻ, đi cách xa Tào
Tháo, chỉ chực xông vào đám bách tính cướp giật, không ngờ gặp phải Triệu Vân.
Vân đâm chết Ân rồi đoạt lấy thanh gươm xem, thấy có hai chữ “Thanh Công”, mạ
vàng, biết ngay là gươm báu, liền giắt vào mình, rồi xông vào vòng vây, ngoảnh
lại xem thủ hạ thì không còn ai nữa, chỉ trơ trọi có một mình. Nhưng Vân vẫn
không chồn dạ chút nào, cứ xông xáo đi tìm, gặp ai cũng hỏi tin tức My phu nhân
và A Đẩu. Có một ngưới trỏ bảo rằng:
- Vừa thấy phu nhân ôm một đứa
bé, đùi bên trái thì bị thương, chạy không được, đến ngồi ở trong bức tường đổ
trước mặt kia.
Vân vội vàng theo đến, chỉ thấy một
cái nhà cháy có bức tường đất đổ. My phu nhân ôm A Đẩu ngồi ở bờ giếng cạn khóc
lóc. Vân xuống ngựa, lạy thụp xuống đất.
Phu nhân nói:
- Thiếp được gặp tướng quân đây,
thực là số mệnh A Đẩu còn sống. Tướng quân nên thương lấy cha nó, long đong nửa
đời rồi mà mới có một mụn con. Xin tướng quân giữ gìn thế nào, cho nó còn được
trông thấy mặt cha thì thiếp chết cũng cam tâm.
Vân nói:
- Phu nhân đến nỗi này, cũng là tội
Vân, xin phu nhân không nên nói nhiều, hãy mau lên ngựa. Vân đi bộ theo, cố sức
đánh để bảo vệ phu nhân cùng A Đẩu ra khỏi vòng vây.
My phu nhân nói:
- Không xong rồi! Tướng quân
không thể không có ngựa. Đứa trẻ này hoàn toàn trông cậy vào tướng quân. Vả thiếp
bị thương nặng, dù chết cũng chẳng đáng tiếc; xin tướng quân hãy bế A Đẩu đi
cho mau, đừng vì thiếp mà mang luỵ nữa.
Vân nói:
- Tiếng reo đã gần, quân đuổi
theo sắp đến, xin mời phu nhân mau mau lên ngựa.
My phu nhân nói:
- Quả thật thiếp không sao đi được,
xin tướng quân đừng để lỡ cả hai.
Liền đưa A Đẩu cho Triệu Vân và
nói rằng:
- Tính mệnh đứa trẻ này hoàn toàn
nằm trong tay tướng quân đó.
Triệu Vân năm lần bảy lượt mời
phu nhân lên ngựa nhưng phu nhân cứ nằng nặc không nghe. Bốn bề tiếng hò reo lại
nổi dậy.
Vân nói lớn lên rằng:
- Phu nhân không nghe lời tôi,
quân giặc kéo đến thì làm thế nào?
My phu nhân liền bỏ con xuống đất,
rồi gieo ngay mình xuống giếng khô mà chết.
Đời sau có thơ than rằng:
Chân không bảo vệ ấu quân ư?
Hy sinh cứu lấy dòng Lưu Bị,
Dũng cảm ai bằng nữ trượng phu!
Triệu Vân thấy phu nhân chết rồi,
sợ quân Tào đến cướp mất xác, liền đạp đổ bức tường xuống, lấp kín giếng. Rồi cởi
dây lưng thắt áo giáp ra, bỏ miếng hộ tâm kính xuống, đem A Đẩu buộc vững vào
lòng, vác giáo nhảy lên ngựa. Giữa lúc ấy, một tướng dẫn đội bộ quân đến, chính
là Yến Minh, bộ tướng của Tào Hồng. Minh vác một thanh đao ba ngạc hai lưỡi, đến
đánh Triệu Vân, chưa đầy ba hiệp, bị Vân đâm một nhát giáo chết. Vân lại đánh
tan cả quân tướng, mở một đường chạy. Đương chạy, trước mặt lại có một toán quân
chặn đường, môt viên tướng đi đầu, cờ hiệu đề bốn chữ lớn “Hà Gian Trương Cáp”.
Vân chẳng đôi hồi, khua giáo đánh
liền. Được hơn mười hiệp, Vân không dám ham đánh nữa, cướp đường mà chạy.
Trương Cáp đuổi theo, Vân ra roi chạy miết, không ngờ đánh huỵch một cái cả người
lẫn ngựa sa xuống hố sâu. Trương Cáp vội vác giáo lại đâm. Bỗng nhiên một đạo hồng
quang từ dưới hố bốc lên, con ngựa nhảy vọt lên khỏi hố.
Đời sau có thơ than rằng:
Vó ngựa xông pha thoát khỏi vây
Bốn chục hai năm thiên tử mệnh
Tướng quân được dịp trổ thần oai.
Trương Cáp thấy thế, sợ hãi rút
lui.
Triệu Vân đương tế ngựa chạy, bỗng
sau lưng lại thấy có hai tướng gọi to rằng:
- Triệu Vân đừng chạy nữa!
Trước mặt cũng lại thấy hai tướng,
mỗi tướng cầm một thứ binh khí, chặn ngang đường. Hai tướng đuổi sau lưng là Mã
Diên, Trương Dĩ; hai tướng chặn trước mặt là Tiêu Súc, Trương Nam. Bốn người
cùng là thủ hạ cũ của Viên Thiệu.
Triệu Vân cố sức đánh với bốn tướng.
Quân Tào kéo ùa cả đến. Vân rút gươm “Thanh Công” chém tứ tung, chém vào đâu,
người và áo giáp cứ đứt phăng phăng, máu chảy như suối. Vân đánh tan được các
quân tướng, ra khỏi vòng vây.
Bấy giờ Tào Tháo đứng trên đỉnh
núi Cảnh Sơn, trông thấy một tướng đi đến đâu người giãn ra đến đấy, vội hỏi tả
hữu người đó là ai?
Tào Hồng tế ngựa xuống hỏi rằng:
- Chiến tướng kia tên họ là gì?
Vân nói:
- Ta là Triệu Tử Long ở Thường
Sơn.
Hồng về báo với Tào Tháo. Tháo
nói:
- Thực là hổ tướng, ta nên bắt sống
lấy.
Liền sai ngươi tế ngựa đi truyền
báo cho các nơi rằng:
- Triệu Vân đi đến đâu, không ai
được bắn lén, chỉ cốt bắt sống thôi.
Nhờ lệnh ấy, Triệu Vân thoát được
nạn. Đó cũng là phúc của A Đẩu nữa.
Trong trận này, Triệu Vân đem
chúa ở trong bọc ra khỏi vòng vây, chém gãy được hai lá cờ to, cướp được ba ngọn
giáo; giáo đâm gươm chém, trước sau cả thảy giết được hơn năm mươi danh tướng của
quân Tào.
Đời sau có thơ khen rằng:
Đương Dương ai kẻ dám tranh hùng?
Xưa nay cứu chúa xông trăm trận
Chỉ có Thường Sơn Triệu Tử Long.
Khi ấy Triệu Vân ra thoát vòng
vây, cách xa trận địa chính, máu me đỏ ngòm cả áo chiến bào. Vân đương đi dưới
sườn núi, lại thấy hai toán quân tràn ra: đó là anh em Trung Tấn, Trung Thân, bộ
tướng của Hạ Hầu Đôn, một người dùng lưỡi tầm sét, một người dùng ngọn hoả
kích, quát to lên rằng:
- Triệu Vân mau mau xuống ngựa chịu
trói!
Ấy mới là:
Vực rồng lại nổi trận phong ba…
Chưa biết Tử Long làm thế nào
thoát thân, xem đến hồi sau mới rõ.
Trương Dực Đức đại náo cầu Trường Bản
Lưu Dự Châu thua chạy cửa Hán Tân
Lại nói Trung Tấn, Trung Thân chặn
đường Triệu Vân. Vân hoa giáo đâm, Tấn giơ búa đỡ. Hai ngựa giao nhau, chưa được
ba hiệp, Tấn bị Vân đâm một nhát giáo ngã nhào, rồi Vân cướp đường chạy. Trung
Thân vác kích đuổi theo, sắp đến sau lưng, ngọn kích chỉ còn cách Triệu Vân có
vài tấc. Vân quay đầu ngựa lại, thì hai người chạm vào nhau. Vân tay trái lấy
giáo gạt hoạ kích, tay phải rút gươm báu ra, chém một nhát, Thân đứt phăng nửa
mũi và nửa mặt. Trung Thân chết lăn xuống đất, quân lính chạy tan cả.
Triệu Vân thoát được, chạy về cầu
Trường Bản; lại nghe thấy đằng sau có tiếng reo, thì là Văn Sính dẫn quân đuổi
tới. Vân đến đầu cầu thì người ngựa đã mỏi mệt, vẫn thấy Trương Phi cưỡi ngựa đứng
trên cầu, liền kêu to:
- Dực Đức cứu ta với!
Phi nói:
- Tử Long cứ chạy cho mau, còn
quân đuổi theo cứ mặc ta chống cự.
Vân tế ngựa qua cầu, đi được hơn
hai mươi dặm, thì gặp Huyền Đức cùng mọi người đang nghỉ dưới gốc cây. Vân xuống
ngựa thụp xuống đất khóc. Huyền Đức cũng khóc. Vân thở hổn hển nói:
- Tội Vân chết vạn lần cũng còn
nhẹ. My phu nhân vì bị thương nặng, không chịu lên ngựa, nên gieo mình xuống giếng
tự vẫn. Vân phải đạp đổ bức tường đất để lấp giếng đi. Bụng mang công tử, mình
phá vòng vây, nhờ hồng phúc của chúa công, may mắn thoát nạn. Vừa nãy công tử
còn oe oe ở trong bọc, bây giờ không thấy động đậy gì nữa, hay là thế nào rồi
đây…
Vân vội cởi bọc ra xem, thì A Đẩu
vẫn ngủ say, Vân mừng rỡ nói:
- May quá công tử không việc gì!
Rồi hai tay nâng đưa cho Huyền Đức.
Huyền Đức đỡ lấy A Đẩu, rồi ném
phịch xuống đất nói:
- Vì mày suýt nữa ta mất một viên
đại tướng!
Triệu Vân vội vàng cúi xuống đất
ôm lấy A Đẩu, khóc lạy, nói:
- Vân dù gan óc lầy đất, cũng
không đủ báo được!
Người sau có thơ rằng:
Rồng nhỏ nằm tròn bọc Tử Long.
Trung ấy lấy gì yên ủi được,
Ném con thu lấy bụng anh hùng.
Lại nói, Văn Sính đem quân đuổi
theo Triệu Vân đến cầu Trường Bản, thì gặp Trương Phi, râu hùm vểnh ngược, hai
mắt trợn trừng, tay cầm xà mâu, cưỡi ngựa đứng sừng sững trên cầu. Lại thấy sau
rừng ở mé đông cầu, bụi bay mù mịt, Sính tưởng có quân phục, dừng ngay ngựa lại,
không dám theo nữa. Một lát, Tào Nhân, Lý Điển, Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên, Nhạc
Tiến, Trương Liêu, Hứa Chử lũ lượt kéo đến. Trương Phi vẫn cứ trợn mắt, cầm
ngang ngọn mâu đứng sững trên cầu.
Tướng Tào thấy vậy, ai cũng sợ là
mẹo của Khổng Minh không dám tiến gần nữa và bày thành thế trận.
Các tướng Tào đứng dàn hàng chữ
nhất ở bên tây cầu, rồi sai người phi ngựa báo với Tào Tháo. Tháo nghe tin cũng
lật đật lên ngựa chạy đến.
Trương Phi trợn mắt tròn xoe
trông thấy hậu quân có tán vóc vàng, mao, việt, tinh, kỳ: đoán biết là Tào Tháo
hoài nghi nên đến xem, Phi bèn thét lên một tiếng cực to rằng:
- Ta là Trương Dực Đức nước Yên
đây! Ai dám cùng ta quyết một trận tử chiến nào?
Tiếng Phi to như tiếng sấm, quân
Tào nghe thấy run cầm cập.
Tào Tháo vội sai cụp tán xuống,
ngoảnh lại bảo tả hữu:
- Bây giờ ta mới nhớ lời Vân Trường
nói khi trước rằng Trương Dực Đức ở trong đám quân trăm vạn, lấy đầu thượng tướng
như thò tay vào túi lấy đồ vật. Nay gặp Dực Đức không nên khinh địch.
Nói chưa dứt lời, Trương Phi lại
trợn mắt quát một tiếng nữa:
- Trương Dực Đức người nước Yên
đây! Ai dám cùng ta quyết một trận tử chiến nào?
Tào Tháo thấy Trương Phi kiêu
dũng như thế, có ý muốn lui.
Trương Phi thấy sau trận Tào hơi
rục rịch, lại vác mâu quát to:
- Đánh cũng không đánh, lui cũng
chẳng lui, là cớ làm sao?
Phi quát chưa dứt tiếng, Hạ Hầu
Kiệt ở bên cạnh Tào Tháo khiếp sợ quá, đứt ruột vỡ gan, ngã nhào xuống ngựa.
Thào liền quay ngựa chạy. Quân tướng Tháo thấy vậy cũng nhằm hướng tây chạy cả.
Thật là: Đứa con nít miệng còn hôi sữa, chịu làm sao được tiếng sấm sét; kẻ tiều
phu ốm yếu sao chịu nổi tiếng gầm của hổ báo? Lúc ấy, người vứt giáo, kẻ rớt
mũ, không biết bao nhiêu mà kể. Người như nước trào, ngựa như núi lở, quân lính
giày xéo lên nhau.
Đời sau có thơ rằng:
Ngang mâu, chững ngựa, mắt long lanh.
Bên tai một tiếng vang như sấm,
Khiếp vía quân Tào vội rút nhanh.
Tào Tháo sợ oai Trương Phi, tế ngựa
chạy về tây, mũ trâm rơi cả, đầu tóc rũ rượi. Trương Liêu, Hứa Chử phải chạy
lên giữ lấy dây cương. Trương Liêu thấy Tào Tháo rụng rời, hết vía bèn nói rằng:
- Thừa tướng đừng sợ, Trương Phi
chỉ có một mình thôi! Giờ ta quay binh lại đánh, chắc bắt được Lưu Bị.
Tháo bấy giờ mới hoàn hồn, sai
ngay Trương Liêu, Hứa Chử trở lại cầu Trường Bản xem sao.
Nói về Trương Phi thấy quân Tào
xô nhau chạy cả, không dám duổi theo, liền truyền cho hai mươi tên kỵ mã đương
tế ngựa sau rừng, cởi những cành cây buộc ở đuôi ngựa ra, chặt phá cầu đi, rồi
về ra mắt Huyền Đức, thuật lại việc chặt cầu. Huyền Đức nói:
- Em ta dũng cảm thì dũng cảm thực,
nhưng tiếc vì mưu mẹo kém.
Phi hỏi sao, Huyền Đức nói:
- Tào Tháo khôn lắm, em chặt cầu
đi, tất hắn sắp đem quân đuổi đến bây giờ.
Phi nói:
- Tôi quát mấy tiếng, đẩy lui hắn
mấy dặm, đâu còn dám quay đầu lại?
Huyền Đức nói:
- Giá em để nguyên cái cầu, thì hắn
tưởng có quân mai phục tất không dám sang. Nay chặt cầu đi, hắn biết mình ít
quân sợ hãi, tất hắn đuổi theo. Mà quân hắn hàng trăm vạn, dẫu có qua sông Trường
Giang, sông Hán Thuỷ thì lấy người mà lấp cũng được, một cái cầu gãy có coi ra
mùi gì?
Nói xong lập tức dẫn cả bọn theo
đường nhỏ đi tắt ra Hán Tân theo lối Miện Dương.
Trương Liêu, Hứa Chử đi dò xem
tin tức cầu Trường Bản, về báo rằng:
- Trương Phi đã chặt cầu và đi rồi.
Tháo nói:
- Nếu hắn chặt cầu tức là có ý sợ
rồi.
Bèn truyền ngay lệnh sai một vạn
quân dựng ba nhịp cầu nổi, đến đêm hôm ấy phải xong.
Lý Điển nói:
- Tôi sợ đó là mưu Gia Cát Lượng
chăng, không nên khinh tiến.
Tháo nói:
- Trương Phi là một đứa dũng phu,
có mưu mẹo gì mà sợ!
Bèn truyền lệnh hoả tốc tiến
quân.
Huyền Đức đi gần đến Hán Tân, bỗng
thấy phía sau bụi bay mù mịt, trống đánh vang trời, tiếng reo dậy đất liền nói:
- Trước mặt có sông to ngăn trở,
sau lưng có quân đuổi theo, làm thế nào bây giờ?
Rồi vội vàng sai Triệu Vân chuẩn
bị cự địch.
Tào Tháo truyền lệnh trong quân rằng:
- Nay Lưu Bị như cá trong chậu,
như hổ trong cũi nếu không bắt sống lúc này thì khác nào thả cá xuống biển, đuổi
hổ về rừng, các tướng nên cố sức!
Quân tướng nghe vậy, ai cũng cố sức
đuổi riết. Bỗng sau núi tiếng trống nổi lên, một đội quân mã kéo ra, gọi to lên
rằng:
- Ta đợi đây đã lâu rồi!
Tướng đi đầu là Vân Trường, tay
vác đao thanh long, cưỡi ngựa xích thố, sang Giang Hạ, mượn được một vạn quân
mã, về đến nửa đường dò biết được tin đánh nhau ở Đương Dương, Trường Bản, nên
từ đường ấy đánh lại.
Tào Tháo trông thấy Vân Trường, lập
tức dừng ngựa, ngoảnh lại bảo các tướng rằng:
- Lại mắc mẹo của Gia Cát Lượng rồi!
Liền cấp tốc truyền lệnh đại quân
rút lui.
Vân Trường đuổi theo hơn mười dặm,
rồi trở lại bảo vệ bọn Huyền Đức đến Hán Tân. Tới nơi, thấy bè đã trực sẵn rồi,
Vân Trường mời Huyền Đức, Cam phu nhân và A Đẩu xuống ngồi yên ổn dưới thuyền.
Vân Trường hỏi rằng:
- Chị hai sao không có ở đây?
Huyền Đức bèn thuật lại chuyện ở
Đương Dương. Vân Trường than rằng:
- Khi trước săn ở Hứa Điền, nếu
theo ý tôi, bây giờ đâu có tai hoạ này!
Huyền Đức nói:
- Ta biết vậy, nhưng lúc đó “Ném
chuột sợ vỡ đồ quý” đấy thôi.
Còn đương nói chuyện, bỗng thấy
trên bờ nam trống trận thùng thùng, thuyền bè như kiến, thuận buồm xuôi gió
đương vùn vụt kéo đến. Huyền Đức giật mình. Khi thuyền lại gần, thấy một tướng
mặc bào trắng, giáp bạc, đứng tên mũi thuyền lên tiếng hỏi rằng:
- Thúc phụ lâu nay mạnh khoẻ chứ?
Cháu thật có tội to!
Trông ra thì là Lưu Kỳ. Kỳ sang
thuyền khóc lạy nói:
- Được tin thúc phụ bị khốn với
Tào Tháo, nên cháu đem quân lại tiếp ứng.
Huyền Đức mừng lắm. Hai bên hội
quân làm một rồi phóng thuyền đi. Đương đi, bỗng lại thấy phía tây nam có một đội
chiến thuyền xếp hàng chữ nhất theo gió lướt tới. Lưu Kỳ giật mình nói:
- Quân Giang Hạ cháu đã huy động
hết đến đây rồi, nay lại có chiến thuyền đến chặn đường, nếu không phải là quân
Tào Tháo tất là của Giang Đông thôi, làm thế nào bây giờ?
Huyền Đức ra ngoài đứng trông thì
thấy một người khăn lượt, áo bào ngồi ở mũi thuyền, té ra là Khổng Minh, có Tôn
Càn đứng sau lưng. Huyền Đức vội vàng mời sang thuyền, hỏi sao lại đến đây. Khổng
Minh nói:
- Lượng đến Giang Hạ trước hết
sai Vân Trường về Hán Tân để lên bộ tiếp ứng. Tôi cũng đoán Tào Tháo thế nào
cũng đuổi theo, chúa công thì không đi về Giang Lăng làm gì, tất thế nào cũng
tìm đường tắt về Hán Tân; nên tôi mời công tử đến trước để tiếp ứng, còn tôi
thì ra Hạ Khẩu đem hết quân lại đây giúp đỡ.
Huyền Đức mừng rỡ, hội quân làm một,
rồi bàn kế phá Tào Tháo. Khổng Minh nói:
- Thành Hạ Khẩu hiểm trở, lại nhiều
lương thảo có thế giữ được lâu. Xin chúa công hãy đến đóng đồn ở đó. Công tử về
ngay Giang Hạ, thu xếp chiến thuyền, sắm sửa khí giới làm thế ỷ đốc, mời có thể
chống cự được Tào Tháo. Nếu về cả Giang Hạ thì cô thế lắm!
Lưu Kỳ nói:
- Quân sư dạy rất phải, nhưng tôi
lại muốn mời thúc phụ hãy tạm đến Giang Hạ, thu xếp quân mã đâu đấy đã, rồi sẽ
về Hạ Khẩu cũng vừa.
Huyền Đức nói:
- Cháu nói cũng phải!
Rồi sai ngay Vân Trường lĩnh năm
nghìn quân đến giữ Hạ Khẩu; Huyền Đức, Khổng Minh, và Lưu Kỳ cùng sang Giang Hạ.
Hãy nói, Tào Tháo gặp Vân Trường
chặn mất đường, nghi có quân mai phục, không dám đuổi theo; lại sợ đường thuỷ bị
Huyền Đức cướp mất Giang Lăng trước, nên cấp tốc kéo quân đến Giang Lăng. Quan
thị trung là Đặng Nghĩa và quan biệt giá là Lưu Tiên đã biết hết việc Tương
Dương rồi, liệu không địch nổi với Tào Tháo, bèn dẫn quân dân Kinh Châu ra
hàng.
Tào Tháo vào thành yên dân xong,
tha cho Hàn Tung bị giam và phong cho làm đại hồng lô. Các quan viên đều được
phong thưởng cả. Tào Tháo bàn với các tướng rằng:
- Nay Lưu Bị đã sang Giang Hạ, sợ
hắn cấu kết với Đông Ngô, thì càng khó trị, phải tìm kế trừ ngay đi mới được.
Tuân Du nói:
- Nay nên huy động đại quân để ra
oai rồi sai người đưa hịch đến Giang Đông, mời Tôn Quyền hội săn ở Giang Hạ,
cùng bắt Lưu Bị, chia sẻ Kinh Châu và kết đồng minh vĩnh viễn với nhau. Tôn Quyền
tất sợ hãi lại hàng, thì việc của ta chắc thành công.
Tháo nghe kế ấy, lập tức ra hịch
sai sứ sang Giang Đông, một mặt điểm quân mã, quân bộ và quân thuỷ, cả thảy tám
mươi ba vạn, lại nói thăng lên những một trăm vạn quân; thuỷ lục đều tiến, quân
thuyền quân kỵ cùng đi, theo dọc bờ sông Trường Giang kéo đến; phía tây nối liền
với đất Kinh Giáp, phía đông tiếp giáp Kỳ Hoàng, doanh trại nối với nhau dài
hơn ba trăm dặm.
Nói về Giang Đông, Tôn Quyền
đương đóng quân ở quận Sài Tang, được tin đại quân Tào Tháo đến Tương Dương;
Lưu Tôn đã ra hàng, mà quân Tào lại sớm khuya đi gấp đường đến lấy lại Giang
Lăng. Quyền bèn họp các mưu sĩ lại bàn kế phòng thủ.
Lỗ Túc nói:
- Kinh Châu tiếp giáp nước ta,
giang sơn hiểm trở, nhân dân giàu có, nếu chiếm được đất ấy thì đủ để xây nghiệp
đế vương. Nay Lưu Biểu mới chết, Lưu Bị mới thua, tôi xin phụng mệnh sang Giang
Hạ viếng tang, nhân tiện bảo Lưu Bị phủ dụ các tướng của Lưu Biểu, đồng tâm hiệp
lực với ta để phá Tào Tháo, nếu Bị vui lòng nghe theo thì việc lớn phải xong.
Quyền đồng ý, lập tức sai Lỗ Túc
đem lễ vật sang Giang Hạ viếng tang.
Lại nói Huyền Đức đến Giang Hạ
cùng với Khổng Minh và Lưu Kỳ bàn việc, Khổng Minh nói:
- Tào Tháo thế to lắm, khó lòng địch
nổi, không bằng ta sang nhờ Tôn Quyền ở Giang Đông để làm ứng viện. Nam, Bắc
hai bên giữ miếng với nhau, ta ở giữa kiếm lợi, có gì mà chẳng được.
Huyền Đức nói:
- Giang Đông lắm mưu thần giỏi,
nhìn xa thấy rộng, sao họ chịu nạp ta!
Khổng Minh cười đáp rằng:
- Nay Tào Tháo dàn quân trăm vạn,
chiếm cứ Giang Hán; tất nhiên Giang Đông phải cho người lại đây dò la xem hư thực
thế nào? Nhược bằng có sứ đến, tôi xin mượn một cánh buồm thuận gió đến thẳng
Giang Đông, chỉ ba tấc lưỡi đủ làm cho hai quân nam bắc thôn tính lẫn nhau. Nếu
quân nam được ta dùng đánh Tào Tháo, lấy đất Kinh Châu. Nếu quân bắc được, ta
thừa thế tính lấy Giang Nam cũng nên.
Huyền Đức nói:
- Kế ấy rất hay, nhưng làm thế
nào khiến cho Giang Đông sai người đến đây được?
Vừa nói dứt lời, có tin báo rằng:
- Tôn Quyền ở Giang Đông sai Lỗ
Túc lại viếng tang, thuyền đã ghé bờ.
Khổng Minh cười nói:
- Việc to chắc xong!
Rồi hỏi luôn Lưu Kỳ:
- Ngày trước Tôn Sách mất, Tương
Dương có sai người sang viếng không?
Kỳ đáp:
- Giang Đông với nhà tôi có tử
thù[1], đâu có đi lại hiếu hỉ?
Khổng Minh nói:
- Thế thì Lỗ Túc đến đây, không
phải để viếng tang mà là để dò xét tình hình ta đó thôi.
Lại bảo với Huyền Đức rằng:
- Hễ Lỗ Túc hỏi đến việc động
tĩnh của Tào Tháo thì chúa công cứ một mực nói không biết. Hễ hỏi đến hai ba lần,
thì bấy giờ chúa công bảo hắn hỏi Gia Cát Lượng.
Bàn định xong xuôi bèn sai người
ra đón Lỗ Túc vào. Túc vào viếng tang xong, Lưu Kỳ nhận đồ phúng rồi mời Túc đến
gặp Huyền Đức. Huyền Đức rước vào nhà trong uống rượu, Túc nói:
- Lâu nay, nghe thấy đại danh
hoàng thúc, nhưng chưa có dịp nào được bái kiến, nay được gặp thực là hân hạnh.
Mới đây, hoàng thúc đánh nhau với Tào Tháo, tất biết rõ tình hình. Dám hỏi quân
Tào Tháo ước được độ bao nhiêu?
Huyền Đức đáp:
- Tôi binh mọn tướng ít, Tháo đến
là chạy, còn biết gì đến tình hình bên ấy như thế nào.
Túc nói:
- Tôi nghe hoàng thúc dùng mưu của
Khổng Minh, hai phen đánh hoả công làm cho Tào Tháo kinh hồn lạc phách, sao
hoàng thúc lại bảo không biết?
Huyền Đức nói:
- Hoạ chăng hỏi Khổng Minh thì mới
biết được rõ.
Túc nói:
- Khổng Minh ở đâu, xin cho được
gặp một chút.
Huyền Đức sai mời Khổng Minh ra.
Túc vái chào rồi hỏi:
- Xưa nay vẫn mộ tài đức tiên
sinh, chưa được bái kiến bao giờ. Nay may mắn được gặp, xin cho biết việc an
nguy ngày nay.
Khổng Minh nói:
- Mưu gian của Tào Tháo tôi đã biết
cả, chỉ giận sức mình chưa đủ, nên còn tạm lánh đó thôi.
Túc lại hỏi:
- Hoàng thúc nay định ở đây hay
đi đâu?
Khổng Minh đáp:
- Sứ quân tôi có quen thái thú
Ngô Thần ở Thương Ngô, nay sắp sang đó để nhờ.
Túc nói:
- Ngô Thần lương khan binh ít, giữ
mình còn chẳng nổi, cho ai nhờ được?
Khổng Minh nói:
- Chỗ ấy tôi cũng biết không ở
lâu được, nay hãy nương tạm, rồi sau sẽ liệu kế khác.
Túc nói:
- Tôn tướng quân tôi hùng cứ sáu
quận, binh giỏi lương nhiều, lại kính hiền trọng sĩ, anh hùng miền Giang Đông
nhiều người quy phục. Nay xin hiến ông một kế. Chi bằng tiên sinh sai người tâm
phúc sang liên kết với Đông Ngô để cùng mưu toan việc lớn.
Khổng Minh nói:
- Lưu sứ quân cùng với Tôn tướng
quân xưa nay không được quen nhau, sợ uổng mất lời. Vả lại không có ai là tâm
phúc có thể sai đi được.
Túc nói:
- Lệnh huynh Gia Cát Cẩn hiện
đang làm tham mưu ở Giang Đông, đêm ngày mong được gặp tiên sinh. Tôi tuy không
có tài, xin cùng tiên sinh vào ra mắt Tôn tướng quân để bàn việc lớn.
Huyền Đức nói:
- Khổng Minh là thầy ta, rời ta một
lúc không xong, đi thế nào được?
Túc cố nài ba bốn lần, Huyền Đức
cứ giả vờ không nghe. Khổng Minh nói:
- Việc đã kíp rồi, tôi xin phụng
mệnh đi một chuyến.
Huyền Đức bấy giờ mới đồng ý.
Lỗ Túc đứng dậy từ biệt Huyền Đức,
Lưu Kỳ, rồi cùng với Khổng Minh lên thuyền đến quận Sài Tang.
Ấy là:
Khiến cho tướng sĩ giặc Tào tan.
Chưa biết Khổng Minh đi chuyến
này ra thế nào, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Ngày trước Tôn Kiên, bố Tôn Sách, bị hại ở Kinh Châu.
Gia Cát Lượng khua lưỡi bẻ bọn nho
Lỗ Tử Kính dùng sức bác lời chúng
Lỗ Túc và Khổng Minh từ biệt Huyền
Đức. Lưu Kỳ, xuống thuyền đến quận Sài Tang. Hai người ngồi trong thuyền nói
chuyện. Lỗ Túc dặn Khổng Minh rằng:
- Tiên sinh có vào ra mắt Tôn tướng
quân, thì đừng nói thật bên Tào Tháo lắm quân nhiều tướng nhé!
Khổng Minh nói:
- Điều ấy Tử Kính không phải dặn.
Tôi sẽ liệu lời đối đáp.
Khi thuyền cập bến, Túc mời Khổng
Minh về nghỉ trong nhà khách, rồi thân vào gặp Tôn Quyền trước. Quyền đương họp
các quan văn võ ở trong triều bàn việc, nghe tin Lỗ Túc về, gọi ngay vào, hỏi:
- Tử Kính sang Giang Hạ thấy hiện
tình thế nào?
Túc đáp:
- Cũng đã biết được ít nhiều, xin
để thư thả sẽ thưa.
Quyền đưa tờ hịch của Tào Tháo
cho Túc xem và bảo rằng:
- Hôm nọ Tào Tháo sai sứ đưa hịch
đến đây, ta đã cho sứ quay về. Nay đương bàn việc ấy với các quan chưa xong.
Túc lấy tờ hịch xem. Trong hịch
nói đại khái như sau:
“Ta phụng mệnh vua, đánh kẻ có
tội. Cờ trỏ về nam, Lưu Tôn phải bó tay, dân Kinh Tương nghe thấy tin, răm rắp
hàng phục. Nay thống lĩnh trăm vạn hùng binh, nghìn viên thượng tướng, muốn
cùng với tướng quân họp săn ở Giang Hạ, để đánh Lưu Bị, cùng chia đất đai, giao
hảo với nhau mãi mãi. Xin đừng ngờ vực, trả lời ngay cho”.
Lỗ Túc xem xong, hỏi:
- Ý chúa công thế nào?
Quyền nói:
- Ta cũng chưa quyết định.
Trương Chiêu nói:
- Tào Tháo thống lĩnh quân trăm vạn,
mượn tiếng thiên tử, đánh dẹp bốn phương, mình chống cự lại thì là nghịch. Vả lại
chỗ dựa của chúa công để chống với Tào Tháo là sông Trường Giang. Nay Tháo đã lấy
được Kinh Châu, ta không còn độc chiếm cái thế hiểm trở của con sông đó rồi,
khó địch được nữa. Vậy, cứ ý tôi, đầu hàng là kế vẹn toàn.
Các mưu sĩ đều nói:
- Lời Tử Bố chính hợp lòng trời!
Tôn Quyền ngồi ngần ngừ không
nói.
Trương Chiêu lại tiếp:
- Chúa công không nên nghi ngại
gì nữa. Nếu hàng Tào thì dân Đông Ngô được yên, mà sáu quận Giang Nam cũng giữ
được.
Tôn Quyền vẫn cúi đầu không nói
gì.
Một lát Quyền đứng dậy, thay áo.
Lỗ Túc theo sau, Quyền biết ý cầm tay Túc hỏi rằng:
- Ý ông thế nào?
Túc nói:
- Vừa rồi, bọn họ nói như thế, là
không hiểu bụng tướng quân. Mọi người, ai cũng có thể hàng Tào Tháo được, duy
có tướng quân thì không hàng được.
Quyền hỏi:
- Sao vậy?
Túc nói:
- Như Lỗ Túc này mà hàng, thì
Tháo phong cho làm quan, áo gấm về làng, mà cũng không phải mất đất đai gì cả.
Tướng quân mà hàng Tào thì về đâu? Chức tước bất quá phong hầu là cùng, xe một
cỗ, ngựa một con, đầy tớ vài ba người, muốn ngồi ngoảnh mặt về nam mà xưng cô[1] có
còn được nữa không? Xem như thế, ý họ ai cũng chỉ biết thân người nấy mà thôi,
có nghĩ gì đến chủ đâu! Xin tướng quân chớ nghe, nên sớm định kế lớn.
Quyền than rằng:
- Ta nghe họ nghị luận thật là thất
vọng. Tử Kính mới ngỏ kế lớn, chính hợp ý với ta. Quả thật trời đem Tử Kính cho
ta đó! Nhưng Tháo mới được quân Viên Thiệu, gần đây lại được quân Kinh Châu, thế
lớn lắm, ta sợ địch không nổi.
Túc nói:
- Tôi vừa sang Giang Hạ, đem được
em Gia Cát Cẩn là Gia Cát Lượng về đây, chúa công nên gọi vào hỏi, sẽ biết tình
hình thế nào.
Tôn Quyền hỏi:
- Ngoạ Long tiên sinh có ở đây à?
Túc nói:
- Hiện đương nghỉ ở ngoài nhà
khách.
Quyền nói:
- Hôm nay đã tối rồi, đừng cho
vào gặp vội. Để ngày mai họp cả văn võ dưới trướng, trước hết cho gặp các tay
anh tuấn Giang Đông đã, rồi sẽ mời lên triều đường bàn việc.
Túc nhận mệnh trở ra. Hôm sau Túc
vào nhà khách, ra mắt Khổng Minh, lại dặn rằng:
- Hôm nay ông vào gặp chủ tôi,
xin chớ nói Tào Tháo nhiều binh lắm tướng.
Khổng Minh cười, đáp rằng:
- Tôi sẽ tuỳ cơ mà liệu, không để
lỡ việc đâu!
Túc mới dẫn Khổng Minh đến dưới
trướng, đã thấy bọn Trương Chiêu, Cố Ung, toàn ban văn võ hơn hai chục người,
mũ cao đai rộng, y phục chỉnh tề, ngồi có thứ tự rồi, Khổng Minh chào hỏi từng
người, thông tính danh đâu đấy, rồi đến ngồi trên ghế tân khách.
Bọn Trương Chiêu thấy Khổng Minh
phong thái đàng hoàng, tự nhiên, độ lượng, khảng khái, biết rằng người này tất
là người đi thuyết khách. Trương Chiêu mới gợi trước rằng:
- Chiêu tôi là một kẻ học trò ngu
hèn bên Giang Đông, lâu nay vẫn được nghe tiếng tiên sinh nằm khểnh trong Long
Trung, ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, lời ấy chẳng biết thực hay hư?
Khổng Minh đáp:
- Phải. Lượng tôi cũng có hợm
mình mà ví thế.
Chiêu lại nói:
- Mới đây, tôi mới nghe Lưu Dự
Châu ba lần cầu đến tiên sinh ở trong lều tranh, may được tiên sinh như cá được
nước, những toan thu sạch cả Kinh Tương, thế mà nay chỉ có một buổi sáng mà về
tay Tào Tháo hết; chẳng hay ông thế nào?
Khổng Minh nghĩ thầm rằng:
- Trương Chiêu là tay mưu sĩ bậc
nhất của Tôn Quyền, nếu mình không áp đảo được hắn thì sao thuyết phục được Tôn
Quyền?
Bèn đáp rằng:
- Kẻ lấy đất Hán Thượng, ta coi dễ
như trở bàn tay, hiềm vì chủ ta là Lưu Dự Châu, muốn làm điều nhân nghĩa, không
nỡ cướp cơ nghiệp của người đồng tông, cho nên nhất định không lấy. Lưu Tôn là
một đứa trẻ thơ, tin nghe lời nịnh, bí mật hàng Tào, cho nên mới để cho Tào
Tháo ngông cuồng. Nay chủ ta đóng quân ở Giang Hạ, sẽ có kế khác, những kẻ tầm
thường có hiểu sao được?
Chiêu nói:
- Nếu thế thì tiên sinh lời nói
không đi đôi với việc làm rồi. Tiên sinh đã ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị,
mà Quản Trọng ngày xưa giúp Hoàn công trị được chư hầu, định được thiên hạ; Nhạc
Nghị ngày xưa giúp nước Yên đương suy yếu mà hạ được hơn bảy mươi thành nước Tề.
Hai người ấy thực là có tài tế thế. Tiên sinh thì trước ở trong lều tranh, chỉ
cười phong cợt nguyệt, xếp gối ngồi cao; Nay đã theo Lưu Dự Châu, thì phải vì
dân mà mưu điều lợi, bỏ điều hại, dẹp trừ kẻ loạn tặc mới phải chứ! Vả khi tôi
xem Lưu Dự Châu chưa được tiên sinh, ai cũng mong ngóng, đến đứa trẻ con cũng
cho đó là hổ sinh cánh, nhà Hán sắp sửa lại hưng, họ Tào sắp đổ. Cựu thần trong
triều đình, ẩn sĩ nơi rừng rú, ai cũng lau mắt chờ xem, tưởng là tiên sinh với
Lưu Dự Châu, sắp xua tan mây mù trên trời cao, để cho thiên hạ lại được nhìn thấy
ánh sáng mặt trời mặt trăng; cứu vớt dân ra khỏi cơn nước lửa, giúp đỡ thiên hạ
yên ổn làm ăn, chính là lúc này vậy. Ai ngờ từ khi tiên sinh về với Dự Châu,
quân Tào mới đến, đã bỏ giáp quẳng gươm, trông thấy bóng là chạy; trên không
báo được Lưu Biểu, để yên thứ dân; dưới lại chẳng giúp được con côi, giữ lấy bờ
cõi, bỏ Tân Dã, chạy khỏi Phàn Thành; thua Đương Dương, chạy ra Hạ Khẩu, chẳng
có lấy một chỗ dung thân. Thế chẳng hoá ra Dự Châu từ khi được tiên sinh lại
không bằng trước ư? Quản Trọng, Nhạc Nghị chắc cũng như thế đó ư? Đó là mấy lời
quê kệch, xin tiên sinh đừng chấp.
Khổng Minh nghe xong, cười ha hả
mà rằng:
- Cái chí khí của chim bằng, các
loại chim há biết được sao? Ví như người bệnh nặng, trước hết phải cho uống nước
cơm, nước cháo, thuốc thang; lúc nào phủ tạng điều hoà, thân thể hồi phục, bấy
giờ mới cho bổ bằng cá thịt, trị bằng thuốc mạnh, thì gốc bệnh mới tiệt, sinh mệnh
mới an toàn. Nếu bệnh còn nặng, phủ tạng còn yếu, đã trị ngay bằng thuốc mạnh,
bổ ngay bằng vị ngon, thì khó lòng chữa khỏi được. Chủ ta, trước thua ở Nhữ
Nam, đến nhờ Lưu Biểu, quân không đầy một nghìn, tướng chỉ có Quan, Trương, Triệu
chính là lúc bệnh đang nguy ngập. Tân Dã là một huyện nhỏ, hẻo lánh, dân cư
thưa thớt, lương thực ít ỏi, chủ ta chẳng qua đến nương tạm đó mà thôi, có phải
muốn khư khư ngồi giữ cái xó ấy đâu? Trong hoàn cảnh quân sĩ không sẵn, thành
quách không bền, quân không luyện tập, chạy ăn từng bữa, thế mà lửa cháy Bác Vọng,
nước ngập Bạch Hạ, khiến bọn Hà Hầu Đôn, Tào Nhân phải lòng run mật vỡ; thiết
tưởng Quản Trọng, Nhạc Nghị dùng binh cũng vị tất đã hơn gì! Đến như Lưu Tôn
hàng Tào, Dự Châu hoàn toàn không biết; vả lại, không nỡ nhân lúc loạn mà cướp
lấy cơ nghiệp người đồng tông. Thật là đại nhân, đại nghĩa! Còn trận thua ở
Đương Dương, vì có vài vạn dân, già trẻ dắt díu nhau đi theo, không nỡ bỏ, nên
mỗi ngày chỉ đi được mười dặm, không thiết đến lấy Giang Lăng, cam chịu thất bại,
ấy cũng là đại nhân đại nghĩa vậy. Còn như ít không địch được nhiều, thì được
thua chỉ là việc thường thôi. Ngày xưa vua Cao tổ luôn thua Hạng Vũ, sau chỉ một
trận ở Cái Hạ là thành công; đó không phải là mẹo tài của Hàn Tín đó ư? Tín thờ
Cao tổ đã lâu cũng không mấy khi thắng; bởi vì kế lớn nhà nước, xã tắc an nguy,
đều đã có chủ trương. Không như cái lũ khoác lác hư danh, bịp bợm, ngồi một xó
mà lý thuyết suông thì không ai bằng; đến lúc có việc thì trăm phần chẳng được
phần nào, thật đáng để cho thiên hạ chê cười!
Bị thuyết một hồi, Trương Chiêu
không còn thở ra được câu nào nữa. Lại có một người cất tiếng hỏi rằng:
- Nay Tào Tháo quân hàng trăm vạn,
tướng ước nghìn viên, uy thế như rồng như hổ, nuốt chửng Giang Hạ, ông bảo làm
sao?
Khổng Minh trông xem ai, thì là
Ngu Phiên. Khổng Minh nói:
- Tào Tháo thu quân rơm rác của
Viên Thiệu, nhặt quân ô hợp của Lưu Biểu, dù đông mấy trăm vạn cũng không đáng
sợ gì hết.
Ngu Phiên cười mát:
- Quân thua ở Đương Dương, kế
cùng ở Hạ Khẩu, đi van xin cứu viện không xong, còn nói không sợ, thật là khoác
lác để bịp người đó thôi!
Khổng Minh đáp:
- Lưu Dự Châu đem vài nghìn quân
nhân nghĩa địch sao được trăm vạn quân tàn bạo? Lui về giữ Hạ Khẩu là để chờ thời
cơ đấy! Nay Giang Đông, binh tinh lương đủ, lại có sông Trường Giang hiểm trở,
thế mà còn xui chủ uốn gối hàng giặc. Từ đó mà suy, thì Lưu Dự Châu thật không
sợ gì giặc Tháo vậy!
Ngu Phiên chịu cứng. Lại có một
người lên tiếng hỏi:
- Khổng Minh muốn uốn lưỡi Tô Tần,
Trương Nghi sang làm thuyết khách ở Giang Đông này chăng?
Khổng Minh nhìn xem ai thì là Bộ
Trắc, bèn đáp rằng:
- Bộ Tử Sơn chỉ biết Tô Tần,
Trương Nghi là biện sĩ, chuyên nghề nói mép, chứ chưa biết Tô Tần, Trương Nghi
cũng là những trang hào kiệt. Tô Tần đeo ấn làm tướng sáu nước, Trương Nghi hai
lần làm tướng nhà Tần, đều có tài giúp gây nên cơ nghiệp, đâu thèm so sánh với
những kẻ sợ thế mạnh, lấn người yếu, tránh kiếm, lẩn đao. Các ngươi muốn nghe
thấy Tào Tháo phao tin đã vội co vòi xin hàng rồi, còn dám cười Tô Tần, Trương
Nghi sao được?
Bộ Trắc im ngay, không dám nói gì
nữa.
Lại có một người hỏi rằng:
- Thế Khổng Minh cho Tào Tháo là
người thế nào?
Khổng Minh nhìn xem ai, thì là Tiết
Tung bèn đáp rằng:
- Tào Tháo là giặc nhà Hán, can
gì phải hỏi?
Tung nói:
- Ông lầm rồi. Nhà Hán truyền
ngôi kế thế mãi đến nay, số trời sắp hết, giờ đây, Tháo đã nắm được hai phần ba
thiên hạ rồi, nhân tâm ai cũng quy phục cả. Duy chỉ có Lưu Dự Châu không biết
thiên thời, muốn gượng tranh với Tháo, khác nào trứng chọi với đá, sao chẳng thất
bại?
Khổng Minh quát to lên rằng:
- Tiết Kính Văn sao dám thở ra
câu vô quân, vô phụ vậy? Người ta sinh ra ở đời phải lấy trung hiếu làm cốt.
Ông đã làm tôi nhà Hán, nếu kẻ nào phản nghịch, phải thề giết nó đi, mới là phải
đạo. Nay tổ tôn Tào Tháo đời đời ăn lộc nhà Hán, Tháo đã không nghĩ báo ơn, lại
mang lòng phản nghịch, thiên hạ đều oán ghét cả. Ông lại dám đổ cho số trời, thật
là con người vô quân vô phụ, không xứng đáng bàn luận! Chớ có nói nữa!
Tiết Tung đỏ mày xay mặt, câm như
miệng hến. Lại một người hỏi rằng:
- Tào Tháo tuy rằng mượn tiếng
thiên tử để sai khiến chư hầu, nhưng cũng còn là con cháu ông tướng quốc Tào
Tham[2] ngày xưa. Lưu Dự Châu vẫn tự xưng là dòng dõi Trung Sơn
Tĩnh vương, nhưng không có bằng cớ nào; hiện mắt trông thấy chỉ là một người dệt
chiếu, bán giày, sánh với Tào Tháo sao được?
Khổng Minh nhìn xem ai, thì là Lục
Tích, liền cười nói rằng;
- Ông có phải là người ăn cắp
quýt ở trong bữa tiệc của Viên Thiệu đó không? Xin hãy ngồi nghe ta giảng giải
cho: Tào Tháo đã là con cháu tướng quốc họ Tào, thì là đời đời làm tôi nhà Hán,
nay dám chuyên quyền ngang ngược, khinh nhờn cả vua; như thế hắn không những là
vô quân mà lại là khinh cả tổ tiên mình; không những là loạn thần nhà Hán, mà
còn là đứa con bất hiếu của họ Tào nữa. Lưu Dự Châu đường đường một đấng tôn thất,
đương kim hoàng đế hiện đã xét gia phả và phong tước cho, sao dám bảo là không
có căn cứ? Vả đức Cao tổ ngày xưa, xuất thân làm đình trưởng, mà sau được thiên
hạ, thì dệt chiếu, bán giày có gì là nhục? Kiến thức ông như trẻ con, không nên
ngồi nói chuyện với cao sĩ.
Lục Tích ngồi im thin thít.
Lại có người hỏi rằng:
- Khổng Minh chỉ được cái già mồm
lý lẽ, không phải là chính luận; không cần dài dòng làm gì nữa, hãy xin hỏi Khổng
Minh đã học được những sách gì?
Khổng Minh nhìn xem thì là Nghiêm
Tuấn, liền đáp:
- Tìm từng chương, dò từng câu,
chỉ là bọn hủ nho mà thôi, sao có xây dựng được nước non cơ nghiệp? Vả như ngày
xưa Y Doãn cày ở đất Sằn, Tử Nha câu trên sông Vị, Trương Lương, Trần Bình, Đặng
Vũ, Cảnh Cam, đều có tài giúp nước cả, mà cũng không cần xét xem ngày thường học
những sách vở gì! Có đâu lại bắt chước bọn thư sinh, bo bo sách vở, cãi đen bàn
trắng, múa văn khua bút đó ư?
Nghiêm Tuấn cúi đầu tiu nghỉu ngồi
im. Lại một người lớn tiếng hỏi:
- Ông chỉ được việc nói khoác là
giỏi, vị tất đã có thực học, tôi chỉ sợ bọn nhà nho cười cho thôi.
Khổng Minh nhìn xem thì là Trình
Đức Khu ở Nhữ Nam, liền đáp:
- Nho cũng có nho quân tử, cũng
có nho tiểu nhân. Nho quân tử thì trung vua yêu nước, giữ chính ghét tà, chuyên
làm những điều ích lợi chung, tiếng để đời sau. Còn như loại tiểu nhân thì chỉ
gọt dũa văn chương, miệt mài nghiên bút; còn trẻ làm phú đầu bạc đọc kinh, dưới
bút dẫu có nghìn lời, trong bụng không được một mẹo. Xem như Dương Hùng[3] văn
chương có tiếng một đời, mà phải hạ mình đi thờ Vương Mãng rồi cũng đến đâm đầu
xuống lầu mà chết. Thế gọi là nho tiểu nhân, dẫu ngày làm hạng vạn câu thơ,
cũng có ích gì đâu!
Trình Đức Khu cũng ứ cổ nốt.
Các tướng thấy Khổng Minh ứng đối
như nước chảy, ai cũng sợ mất vía. Lúc đó, còn có hai người là Trương Ôn, Lạc
Thống sắp sửa muốn hỏi. Bỗng bên ngoài có một người chạy vào quát to lên rằng:
- Khổng Minh là bậc kỳ tài đời
nay, các ngươi lấy môi mép vặn người ta, đó không phải kính trọng khách. Đại
quân của Tào Tháo đã đến bờ cõi, tìm kế chống giặc chẳng tìm, cứ ngồi đấu khẩu
như thế ích gì?
Các tướng nhìn xem ai, thì là
Hoàng Cái, tự là Công Phúc, người Linh Lăng, hiện đương làm quan coi lương ở
Đông Ngô. Lúc ấy Hoàng Cái bảo Khổng Minh rằng:
- Tôi nghe “Nói nhiều dù được lợi,
cũng không bằng ngồi im không nói”. Sao ông không đem lời vàng đá ra mà nói với
chủ tôi, đâu lại thừa hơi mà cãi vã với họ làm gì?
Khổng Minh đáp:
- Các ông ấy không biết việc đời
mà hỏi, chẳng lẽ không nói.
Hoàng Cái, Lỗ Túc dẫn Khổng Minh
vào đến cửa giữa gặp Gia Cát Cẩn. Khổng Minh chào hỏi, Cẩn nói:
- Hiền đệ đã sang Giang Đông, sao
không lại thăm ta?
Khổng Minh đáp:
- Em đã thờ Lưu Dự Châu, nên phải
đặt viêc công lên trước, rồi sau mới tới việc tư. Việc công chưa xong, nên chưa
dám đến, xin anh tha thứ cho.
Cẩn nói:
- Hiền đệ vào yết kiến Ngô hầu
xong, rồi đến chỗ ta nói chuyện.
Nói đoạn, đi thẳng.
Lỗ Túc nói:
- Mới rồi tôi dặn những điều gì,
không nên quên đấy.
Khổng Minh gật đầu xin vâng. Hai
người lên đến thềm chào hỏi tử tế. Tôn Quyền xuống đón, đãi rất tử tế. Thi lễ
xong, Quyền mời Khổng Minh ngồi. Các quan văn võ đứng sắp hàng hai bên.
Lỗ Túc đứng bên cạnh Khổng Minh,
chỉ đợi xem Khổng Minh nói với Quyền như thế nào. Khổng Minh giãi bày ý kiến
Huyền Đức, rồi liếc mắt nom Tôn Quyền, thấy Quyền mắt biếc râu đỏ, tướng mạo đường
bệ, liền nghĩ thầm rằng:
- Người này tướng mạo khác thường,
chỉ ưa nói khích chứ không ưa thuyết phục; đợi khi nào hỏi, bấy giờ ta sẽ khích
cho mấy câu là hơn!
Khi tả hữu dâng trà xong, Tôn Quyền
nói:
- Tôi thường được nghe Lỗ Tử Kính
nói đến tài túc hạ, nay may được gặp, xin túc hạ có điều gì hay chỉ bảo cho.
Khổng Minh đáp:
- Chúng tôi không tài ít học,
không đáng để ngài hỏi.
Quyền nói:
- Túc hạ mới rồi ở Tân Dã, giúp
Lưu Dự Châu đánh nhau với Tào Tháo, tất biết tình hình bên Tào thế nào?
Khổng Minh đáp:
- Lưu Dự Châu binh đơn, tướng ít;
thành Tân Dã đã nhỏ lại không có lương, đâu dám chống nhau với Tào Tháo.
Quyền hỏi:
- Quân Tào nhiều hay ít?
Khổng Minh nói:
- Cả quân mã, quân bộ và quân thuỷ,
ước được hơn trăm vạn.
Quyền trố mắt, ngạc nhiên hỏi:
- Ông nói dối ta chăng?
Khổng Minh đáp:
- Không dám dối đâu! Tào Tháo ở
Duyện Châu đã có hai mươi vạn; bình xong Viên Thiệu, lại thêm được năm sáu mươi
vạn; quân mới mộ ở Trung Nguyên được ba bốn mươi vạn. Tính ra có kém gì một
trăm năm mươi vạn. Thế mà Lượng nói có một trăm vạn là vì sợ người Giang Đông mất
vía đó thôi!
Lỗ Túc đứng cạnh, nghe nói, tái mặt
lại, đưa mắt cho Khổng Minh. Khổng Minh cứ lờ đi.
Quyền lại hỏi:
- Chiến tướng của Tào Tháo nhiều
hay ít?
Khổng Minh nói:
- Những mưu sĩ lắm mưu nhiều trí
và những tướng đấu tài đánh giỏi ít ra cũng được vài nghìn.
Quyền lại hỏi:
- Nay Tào Tháo đã bình được Kinh
Sở, còn có tham vọng gì nữa không?
Khổng Minh đáp:
- Tào Tháo hiện nay hạ trại kín
ven sông, sắm sửa thuyền bè, chẳng lấy Giang Đông thì lấy đâu?
Quyền lại hỏi:
- Đối với âm mưu ấy của Tháo, nên
đánh hay không, xin túc hạ hãy quyết định giúp ta một lời?
Khổng Minh nói:
- Lượng tôi có một lời, nhưng chỉ
sợ tướng quân chẳng chịu nghe thôi.
Quyền nói:
- Xin cho nghe mấy lời cao kiến.
Khổng Minh nói:
- Trước kia thiên hạ đại loạn,
nên tướng quân phải dấy binh ở Giang Đông, Lưu Dự Châu tụ quân ở Hán Nam, để
cùng tranh giành với Tào Tháo. Nay Tháo đã dẹp được nạn lớn, tình hình sắp ổn định
xong. Vừa đây Tháo lại phá được Kinh Châu, uy lừng bốn bể. Bây giờ, dẫu có anh
hùng cũng không có đất dụng võ, cho nên Dự Châu phải trốn tránh đến đây. Vậy
xin tướng quân lượng sức mà tính toán công việc. Nếu tướng quân có thể lấy quân
Ngô, Việt mà chống Tào Tháo được, thì nên sớm cự tuyệt nó đi. Nếu không muốn thế,
sao không theo ngay lời các mưu sĩ đã bàn, thu quân mã, xếp áo giáp lại, rồi
ngoảnh mặt về phương bắc mà hàng?
Tôn Quyền chưa kịp đáp, Khổng
Minh lại nói rằng:
- Tướng quân ngoài mặt thì giả tiếng
phục tùng nhưng bên trong bụng vẫn còn ngờ vực. Việc kíp rồi mà không quyết
đoán, thì vạ đến nơi rồi đó!
Tôn Quyền lại hỏi:
- Nếu quả như lời ông, thì sao
Lưu Dự Châu không hàng Tào đi?
Khổng Minh đáp:
- Ngày xưa Điền Hoành[4] là
một tráng sĩ nước Tề còn biết giữ nghĩa không chịu nhục, huống chi Lưu Dự Châu
là tôn thân nhà Hán, anh hùng lừng lẫy trên đời, kẻ sĩ thảy đều trông mong. Việc
không xong là bởi trời, có đâu lại chịu luồn cúi người ta?
Tôn Quyền nghe Khổng Minh nói
xong, nét mặt hầm hầm, rũ áo đứng dậy, lui vào nhà sau. Các quan cùng tủm tỉm
cười và giải tán.
Lỗ Túc trách Khổng Minh rằng:
- Sao tiên sinh lại nói thế? May
mà chủ tôi rộng lượng, không nỡ trách ngay, chứ những lời tiên sinh vừa nói là
khinh miệt chủ tôi lắm đấy.
Khổng Minh ngẩng mặt cười, nói:
- Sao không có lượng bao dung như
thế? Ta đã có mẹo phá được Tào Tháo, vì không hỏi tới, nên ta không nói đó
thôi.
Túc hỏi:
- Nếu quả tiên sinh có mẹo hay,
tôi xin vào mời chủ tôi ra để tiên sinh dạy cho.
Khổng Minh nói:
- Quân trăm vạn của Tào Tháo, ta
coi như đàn kiến, chỉ giơ tay một cái là tan ra như cám cả!
Túc nghe nói, liền vào nhà sau gặp
Tôn Quyền. Quyền lúc ấy vẫn còn bực, ngoảnh lại bảo Lỗ Túc rằng:
- Khổng Minh khinh ta quá chừng!
Túc nói:
- Tôi cũng đã trách Khổng Minh,
thì Khổng Minh cười và trách lại rằng chúa công không có lượng dung người, cho
nên Khổng Minh có mẹo phá Tào cũng không muốn nói ra cho biết. Xin chúa công
hãy thử hỏi Khổng Minh xem thế nào?
Quyền bèn lập tức nguôi giận làm
vui, nói:
- À, thế ra Khổng Minh vẫn có mẹo
hay, nên nói khích ta. Ta một lúc nghĩ nông cạn, tý nữa lỡ mất việc to.
Lập tức cùng Lỗ Túc lại ra triều
đường, mời Khổng Minh vào nói chuyện.
Quyền xin lỗi Khổng Minh rằng:
- Vừa rồi tôi trót lỡ lời, xin
tiên sinh tha lỗi cho.
Khổng Minh cũng tạ lại rằng:
- Lượng nói năng lỗ mãng, xin tướng
quân cũng thứ tội cho.
Quyền mời ngay Khổng Minh vào nhà
sau làm tiệc khoản đãi. Được vài tuần rượu, Quyền hỏi rằng:
- Tào Tháo vốn chỉ ghét Lã Bố,
Lưu Biểu, Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Dự Châu với tôi mà thôi. Nay đã trừ được
cả, duy chỉ còn Dự Châu với tôi. Tôi không thể đem cả nước Ngô dâng cho người
ta được. Kế của tôi đã quyết, nhưng khi Lưu Dự Châu giúp cho thì cũng không ai
đương nổi được Tào Tháo bây giờ. Mà Dự Châu lại vừa mới thua trận, làm thế nào
mà chống được nạn này.
Khổng Minh nói:
- Dự Châu tuy mới thua, nhưng
Quan Vân Trường còn thống lĩnh hàng vạn tinh binh; Lưu Kỳ ở Giang Hạ cũng có chừng
vạn quân sĩ. Quân Tào Tháo từ xa đến, tất cũng mỏi mệt; mới đây, lại đuổi Dự
Châu, quân khinh kỵ đi ba trăm dặm một ngày, khác nào nỏ cứng giương lên đã đuối
sức, chưa chắc bắn thủng được mảnh lụa mỏng. Vả lại người phương bắc không quen
đánh thuỷ; quân dân ở Kinh Châu gặp thế bí phải phục Tào, chớ không phải là tự
nguyện. Nay tướng quân thật muốn đồng tâm hiệp lực với Dự Châu, thì làm gì
không phá được Tào Tháo? Quân Tào mà bị phá, tất phải kéo về bắc, thì thế Kinh,
Ngô lại mạnh, mà hình thành thế chân vạc được. Cơ hội được thua, chỉ trong lúc
này, xin tướng quân hãy nghĩ cho kỹ mà quyết đi!
Quyền mừng lắm, nói:
- Mấy lời của tiên sinh, thật đã
làm sáng mắt tôi. Ý tôi đã quyết, không còn hồ nghi gì nữa.
Ngay hôm ấy, Quyền bàn bạc cất
quân để cùng đi phá Tào Tháo và sai Lỗ Túc đem ý định đó truyền ra cho văn võ đều
biết. Rồi đưa Khổng Minh đến nhà khách nghỉ ngơi.
Trương Chiêu biết Tôn Quyền muốn
cất quân, mới bàn với mọi người rằng:
- Lại mắc phải mẹo của Khổng Minh
mất rồi!
Chiêu vội vàng vào ra mắt Tôn Quyền,
nói:
- Chúng tôi nghe chúa công muốn dấy
binh đánh nhau với Tào Tháo. Chúa công hãy nên so mình với Viên Thiệu xem thế
nào? Tào Tháo khi trước binh mọn, tướng ít, còn đánh được Viên Thiệu; huống bây
giờ cầm hơn trăm vạn quân trong tay sang đánh mặt nam, há nên khinh địch? Nếu
chúa công nghe lời Gia Cát Lượng, hấp tấp dấy binh, thì thật là đem củi khô đi
chữa cháy vậy.
Tôn Quyền chỉ cúi đầu, ngồi im.
Cố Ung nói:
- Lưu Bị vì bị Tào Tháo đánh
thua, nên muốn mượn quân ta để cự lại Tháo, chúa công sao lại để cho người ta lợi
dụng mình? Xin hãy nghe lời Tử Bố.
Tôn Quyền cũng ngần ngừ không quyết.
Bọn Trương Chiêu ra, Lỗ Túc lại vào nói rằng:
- Bọn Trương Chiêu lại khuyên tướng
quân đừng cất quân để xin hàng Tào Tháo; đó đều là mưu của kẻ chỉ biết giữ mình
và vợ con đó thôi, xin chúa công đừng nghe.
Tôn Quyền vẫn còn do dự. Túc lại
nói:
- Nếu chúa công hoài nghi, tất bị
chúng làm lỡ việc.
Quyền nói:
- Ngươi hãy lui ra, để ta còn
nghĩ kỹ đã.
Túc trở ra. Bấy giờ bọn võ tướng
có nhiều người muốn đánh, nhưng bọn quan văn thì ai cũng muốn hàng; mọi người
bàn bạc phân vân, không nhất trí.
Tôn Quyền vào nhà ăn ngủ không
yên, vẫn phân vân chưa định. Ngô quốc thái[5] thấy thế mới hỏi:
- Con suy nghĩ đến việc gì đến nỗi
bỏ cả ăn lẫn ngủ thế?
Quyền nói:
- Nay Tào Tháo đóng quân ở Giang
Hán, có ý muốn đánh xuống Giang Nam, hỏi các văn võ, kẻ muốn hàng, người muốn
đánh. Nếu đánh thì e mình ít không địch nổi nhiều; muốn hàng thì sợ Tào Tháo
không dung; bởi thế con phân vân chưa định.
Ngô quốc thái nói:
- Con không nhớ lời chị ta lúc
lâm chung dặn lại thế nào ư?
Tôn Quyền sực nhớ lời trước, như
người say tỉnh lại, như người ngủ mê thức dậy.
Ấy là:
Nên để Chu lang lập chiến công.
Muốn biết lời di chúc của quốc thái, xin xem hồi sau.
Chú thích cuối trang
- ▲ Vương tự xưng là cô cũng như hoàng đế tự xưng là trẫm.
- ▲ Công thần của Hán Cao tổ.
- ▲ Dương Hùng: nhà từ phú đời Hán, từng làm quan
dưới thời Vương Mãng, nhân phạm tội sợ ngồi tù, nhảy từ trên lầu xuống tự
sát.
- ▲ Điền Hoành người nước Tề thời cuối Tần. Khi vua Tề bị
bắt, Điền Hoành tự xưng là vua Tề. Hán Cao tổ sai người đến dụ hàng, Điền
Hoành cùng bộ hạ không chịu khuất phục, tự sát.
- ▲ Vợ lẽ Tôn Kiên, dì ghẻ Tôn Quyền.
Khổng Minh dùng kế khích Chu Du
Tôn Quyền quyết mưu đánh Tào Tháo
Lại nói Ngô quốc thái thấy Tôn
Quyền nghi hoặc không quyết, mới bảo:
- Khi hấp hối, mẹ con dặn phải
theo di chúc của Bá Phù là phàm công việc trong nước không quyết định được thì
hỏi Trương Chiêu, việc bên ngoài không quyết định được nên hỏi Chu Du. Nay sao
con không mời Chu Du về mà hỏi?
Quyền mừng lắm, lập tức sai sứ ra
Phiên Dương mời Chu Du về bàn việc.
Nguyên Chu Du đang ở hồ Phiên
Dương, luyện tập quân thuỷ, nghe tin Tào Tháo đem quân đại quân đến Hán Thượng,
liền cấp tốc về Sài Tang để bàn việc quân. Sứ giả chưa kịp đi, thì Chu Du đã về
đến nơi. Lỗ Túc vốn thân với Chu Du, đi ra đón trước, và thuật lại đầu đuôi việc
trước cho Du nghe.
Chu Du nói:
- Tử Kính đừng lo, tôi đã có chủ
trương rồi, hãy nên mời ngay Khổng Minh đến.
Lỗ Túc lên ngựa đi luôn.
Chu Du vừa ngồi nghỉ ngơi, chợt
báo có Trương Chiêu, Cố Ung, Trương Hoành và Bộ Trắc, bốn người đến thăm. Du mời
vào trong nhà ngồi chơi, hỏi han sức khoẻ mọi người. Trương Chiêu nói:
- Đô đốc có biết việc mất còn của
Giang Đông không?
Du nói:
- Chưa biết.
Chiêu nói:
- Tào Tháo cầm trăm vạn quân,
đóng ở Hán Thượng. Hôm trước, có đưa tờ hịch đến đây, mời chúa công hội săn ở
Giang Hạ. Tuy hắn định thôn tính ta, nhưng chưa nói rõ ra thôi. Bọn Chiêu chúng
tôi đã khuyên chúa công nên hàng đi, hoạ may Giang Đông mới tránh được vạ.
Không ngờ Lỗ Túc dắt ngay anh Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị ở Giang Hạ về.
Vì hắn muốn trả thù Tào Tháo, nên nói khích chúa công. Lỗ Túc thì ù lì, không
hiểu gì cả. Nay chỉ đợi đô đốc về để quyết định dứt khoát việc ấy.
Du hỏi:
- Thế ý kiến các ông có giống
nhau không?
Bọn Cố Ung đáp:
- Chúng tôi đã bàn bạc, ý kiến đều
giống nhau cả rồi.
Du nói:
- Ta cũng muốn hàng đã lâu. Các
ông hãy đi về đi, sáng mai ra mắt chúa công, ta sẽ có quyết định.
Được một lát, lại có tin bọn chiến
tướng là Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương đến.
Du mời vào. Thăm hỏi xong, Trình
Phổ hỏi:
- Đô đốc có biết Giang Đông nay
mai về tay người khác không?
Du nói:
- Chưa biết.
Phổ nói:
- Bọn tôi từ khi theo Tôn tướng
quân, mở mang cơ nghiệp, lớn nhỏ hơn trăm trận đánh, mới có được sáu quận thành
trì. Nay chúa công nghe bọn mưu sĩ muốn hàng Tào Tháo. Thật là việc nhơ nhuốc
đáng tiếc! Chúng tôi thà chết chứ không khi nào chịu nhục. Xin đô đốc khuyên
chúa công quyết kế khởi binh. Chúng tôi xin thề cố chết mà đánh.
- Thế ý kiến các ông có giống
nhau không?
Hoàng Cái phẫn uất đứng dậy, vỗ
tay lên trán, nói:
- Tôi thề rằng đầu này mất thì mất,
chớ không bao giờ hàng Tào!
Cả bọn cũng đồng thanh nói không
khi nào chịu hàng.
Du nói:
- Ta đang muốn quyết chiến với
Tào Tháo, há chịu hàng. Xin các tướng hãy về, ta vào ra mắt chúa công sẽ có quyết
định.
Bọn Trình Phổ trở ra. Chưa giập
bã trầu, lại có quan văn là Gia Cát Cẩn và Lã Phạm đến.
Du đón vào. Chào hỏi xong xuôi,
Gia Cát Cẩn nói:
- Em tôi là Gia Cát Lượng từ Hán
Thượng lại đây nói việc Lưu Dự Châu muốn kết với Đông Ngô để đánh Tào Tháo. Các
quan văn võ bàn định chưa xong, vì em tôi là sứ giả, nên tôi không tiện nói nhiều,
chỉ đợi đô đốc về quyết định.
Du nói:
- Ý ông thế nào?
Cẩn nói:
- Hàng thì dễ yên, đánh thì khó
giữ.
Chu Du cười, nói:
- Tôi đã có chủ trương, ngày mai
đến phủ sẽ quyết định.
Chợt lại có bọn Lã Mông, Cam Ninh
đến, Du mời vào cùng bàn luận việc đó. Kẻ muốn hàng người muốn đánh, tranh luận
gay go.
Chu Du nói:
- Không phải nói chi cho lắm,
ngày mai xin cứ đến cả phủ để thảo luận.
Mọi người ra về. Chu Du cười nhạt
lúc lâu mới thôi.
Chiều hôm ấy được tin Lỗ Túc đưa
Khổng Minh đến, Du ra tận cửa đón vào. Thi lễ xong, chia ngôi chủ khách ngồi
chơi. Túc hỏi Chu Du rằng:
- Nay Tào Tháo huy động lực lượng
lớn xâm chiếm miền Nam, hoà với đánh, chỉ có hai đường, chúa công chưa quyết định,
cốt đợi tướng quân. Ý kiến tướng quân thế nào?
Du nói:
- Tào Tháo mượn tiếng thiên tử,
thì không nên kháng cự; vả lại thế Tào to lắm, chưa dễ địch nổi. Đánh thì tất
thua, mà hàng thì dễ yên. Ý ta đã quyết, ngày mai ta vào hầu chúa công xin sai
sứ đi hàng Tào.
Lỗ Túc ngạc nhiên, nói:
- Ông nói lầm rồi! Cơ nghiệp
Giang Đông đã trải ba đời rồi, sao một chốc mà để vào tay người khác? Tôn Bá
Phù trước đã dặn phàm công việc ngoài phó thác cho tướng quân. Chính lúc này phải
trông cậy vào tướng quân để giữ sao cho cơ nghiệp Đông Ngô vững như Thái Sơn.
Chẳng dè tướng quân cũng theo lời mấy đứa… hèn nhát đó sao?
Du nói:
- Sáu quận Giang Đông, nhân dân
đông đúc biết bao. Nay nếu bị nạn binh đao tất quy oán cho ta, nên ta nhất định
xin hàng.
Lỗ Túc nói:
- Không thể thế được. Tướng quân
là bậc đại anh hùng, Đông Ngô là nơi hiểm trở, vị tất Tào Tháo đã làm mưa gió
gì được!
Hai người cùng tranh luận, Khổng
Minh chỉ ngồi thu tay cười mát. Du hỏi:
- Tiên sinh có việc gì mà cười?
Khổng Minh đáp:
- Tôi có cười gì đâu, chỉ cười Tử
Kính không thức thời.
Túc hỏi:
- Sao tiên sinh bảo tôi không thức
thời?
Khổng Minh đáp:
- Công Cẩn muốn hàng Tào, rất là
hợp lẽ.
Du nói:
- Khổng Minh là người thức thời,
tất một lòng như ta.
Túc nói:
- Khổng Minh! Sao ông lại nói thế?
Khổng Minh đáp:
- Tháo rất giỏi việc dùng binh,
thiên hạ không ai địch nổi. Trước chỉ có Lã Bố, Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu
là dám chống cự. Mấy người ấy đều bị Tháo giết cả rồi, thiên hạ không còn ai nữa!
Chỉ có Lưu Dự Châu là không thức thời, mới dám gượng gạo chống lại, nay thân cô
thế cô ở đất Giang Hạ, mất còn chưa biết ra sao? Tướng quân quyết kế hàng Tào,
để bảo toàn vợ con, phú quý; còn như vận nước đổi thay, phó mặc trời, có chi
đáng tiếc!
Lỗ Túc giận lắm, nói:
- Người muốn cho chủ ta uốn gối
chịu nhục với lũ giặc nước à?
Khổng Minh nói:
- Ta có một kế, không phải cần đến
khiêng dê gánh rượu, không phải nộp nước dâng ấn, cũng không cần phải thân sang
sông; chỉ sai một người sứ với chiếc thuyền nhẹ đưa hai người sang sông mà
thôi. Tào Tháo được hai người ấy, thì lập tức trăm vạn quân cũng cởi giáp, cuốn
cờ rút lui ngay.
Du hỏi:
- Dùng hai người nào mà lui được
quân Tào?
Khổng Minh nói:
- Đất Giang Đông mà bỏ hai người ấy,
bất quá như cây to rụng một cái lá, kho lớn mất một hạt thóc. Nhưng Tào Tháo được
hai người ấy, lập tức sẽ cuốn cờ, cởi giáp, vui mừng rút lui ngay.
Du lại hỏi:
- Hai người nào?
Khổng Minh nói:
- Khi tôi ở Long Trung, nghe tin
Tháo mới dựng một cái đài ở trên sông Chương Hà, gọi là Đồng Tước, trang hoàng
lịch sự, rồi kén những con gái đẹp trong thiên hạ nhốt đầy trong đó. Tháo vốn
là đồ hiếu sắc, biết bên Giang Đông ông Kiều công có hai người con gái, con lớn
là Đại Kiều, con nhỏ là Tiểu Kiều. Hai người đều nhan sắc, chim sa cá lặn, hoa
nhường, nguyệt thẹn. Tháo từng thề rằng: Một là ta thề đạp bằng bốn bể, dựng
nên nghiệp hoàng đế; hai là lấy được hai chị em nàng Kiều ở Giang Đông, đem về
đài Đồng Tước để vui tuổi già, thì dẫu chết cũng không tiếc gì đời nữa! Nay
Tháo tuy đem quân trăm vạn, chực chiếm Giang Nam, nhưng thật ra chỉ vì hai người
con gái ấy. Tướng quân sao không tìm Kiều công, đem nghìn vàng mua lấy hai người
con gái rồi sai người mang dâng cho Tào Tháo, Tháo mãn nguyện tất rút quân về.
Đó cũng là kế Phạm Lãi dâng Tây Thi cho Ngô Vương, sao không kíp làm đi?
Du hỏi:
- Có gì làm chứng về việc Tào
Tháo muốn được hai nàng Kiều không?
Khổng Minh nói:
- Con nhỏ Tào Tháo là Tào Thực, tự
là Tử Kiến, có tài đặt bút thành văn. Tháo sai làm một bài phú, gọi là phú đài
Đồng Tước. Ý chính trong bài phú ấy, chỉ nói về nhà Tào nếu làm thiên tử thì thề
sẽ lấy cho kỳ được hai nàng Kiều.
Du hỏi:
- Ông có nhớ bài phú ấy không?
Khổng Minh nói:
- Tôi thích lời văn hoa mỹ của
bài ấy, nên cũng thuộc.
Du nói:
- Xin thử đọc cho nghe.
Khổng Minh đọc luôn bài phú,
trong bài có mấy câu:
“Lập song đài ư tả hữu hề! Hữu Ngọc
long dữ Kim phụng; lãm nhị kiều ư Đông Nam hề! Lạc chiêu tịch chí dữ cộng”.
(Nghĩa là: Dựng hai đài ở bên tả
bên hữu, có đài Ngọc long, có đài Kim phụng. Nhốt hai nàng Kiều bên Đông Nam; để
sớm chiều cùng vui vầy)[1].
Chu Du nghe xong mấy câu ấy, đỏ mặt
tía tai, đứng phắt dậy trỏ tay về phương Bắc mà mắng rằng:
- Thằng giặc Tào này khinh ta quá
chừng!
Khổng Minh vội ngăn lại, nói:
- Ngày xưa chúa rợ Hung Nô hay
xâm lấn bờ cõi, thiên tử nhà Hán còn phải đem công chúa gả cho nó, để cầu hoà,
nay tướng quân tiếc làm chi hai người con gái thường dân ấy?
Du nói:
- Ông chưa rõ Đại Kiều là vợ Tôn
Bá Phù, Tiểu Kiều là vợ Du đó.
Khổng Minh giả vờ sợ sệt nói:
- Tôi thật vô tình, nói năng lỗ mỗ,
tội đáng chết, đáng chết!
Chu Du nói:
- Ta thề cùng thằng giặc già một
còn một mất!
Khổng Minh nói:
- Tướng quân nên nghĩ cho chín, kẻo
hối về sau.
Du nói:
- Ta đã vâng lời Tôn Bá Phù uỷ
thác, có lẽ hạ mình hàng Tào. Vừa rồi ta nói thế, là thử lòng nhau đó thôi. Ta
từ khi ở Phiên Dương về đây, vẫn có chủ trương đánh miền Bắc; dù dao búa kề đầu
cũng không lay được. Xin Khổng Minh giúp ta một tay, cùng phá giặc Tào.
Khổng Minh nói:
- Nếu ngài không bỏ Lượng, thì Lượng
xin đem hết lòng khuyển mã, sớm tối vâng lời sai khiến.
Du nói:
- Ngày mai ta vào yết kiến chúa
công, sẽ bàn ngay việc cất quân.
Khổng Minh và Lỗ Túc từ biệt Chu
Du ra về.
Sáng sớm hôm sau, Tôn Quyền ra
công đường; bọn quan văn là Trương Chiêu, Cố Ung, hơn ba mươi người; bọn quan
võ là Trình Phổ, Hoàng Cái, hơn ba mươi người, áo mũ san sát, gươm đeo sáng quắc,
chia ngôi thứ đứng hai bên.
Một lát, Chu Du vào yết kiến, thi
lễ xong, Tôn Quyền ân cần thăm hỏi. Du nói:
- Gần đây, nghe Tào Tháo đóng
binh ở Hán Thượng, có đưa thư sang đây, ý kiến chúa công thế nào?
Quyền đưa tờ hịch cho Chu Du xem.
Du xem xong, cười nói:
- Thằng giặc già cho Giang Đông
ta là không có ai chăng, sao dám quá khinh nhờn ta thế!
Quyền hỏi:
- Ý ngươi thế nào?
Du nói:
- Chúa công đã cùng với văn võ
bàn định chưa?
Quyền nói:
- Mấy hôm nay bàn luận việc ấy;
người thì khuyên ta nên hàng, kẻ lại bảo ta nên đánh; ý ta chưa định bề nào,
xin Công Cẩn quyết định cho.
Du nói:
- Ai khuyên chúa công hàng?
Quyền đáp:
- Bọn Trương Chiêu đều muốn hàng.
Du hỏi ngay Trương Chiêu:
- Xin cho ý kiến muốn hàng của
tiên sinh thế nào?
Chiêu nói:
- Tào Tháo mượn tiếng triều đình
để dẹp đánh bốn phương, nay lại mới được Kinh Châu, uy thế ngày càng lớn. Giang
Đông ta mà có cự được với Tào Tháo là nhờ dựa vào sông Trường Giang; giờ đây
Tào Tháo có hàng trăm nghìn chiếc thuyền, thuỷ lục cùng tiến, ta lấy gì mà chống
được. Không bằng hãy hàng, rồi sau sẽ liệu kế khác.
Chu Du nói:
- Đó là lời bàn của bọn hủ nho.
Giang Đông từ khi lập nước đến giờ, đã trải ba đời, sao nỡ chốc lát bỏ mất?
Quyền mới hỏi:
- Thế đánh thì có kế gì?
Chu Du nói:
- Tháo tuy giả danh là tướng nhà
Hán, thật ra là giặc nhà Hán. Mà tướng quân là bậc thần võ hùng tài, nhờ cơ
nghiệp của cha anh, binh giỏi lương nhiều, đáng lẽ tung hoành cả trong thiên hạ,
trừ kẻ bạo tàn, sao lại phải hàng giặc? Vả lại, Tháo đi chuyến này mắc phải nhiều
điều kỵ trong binh pháp; đất bắc chưa yên, còn cái hoạ Mã Đằng, Hàn Toại sau
lưng, mà Tháo dám ở lâu để đánh phương Nam, là một điều kỵ; quân Bắc không quen
đánh dưới nước, mà Tháo dám bỏ yên ngựa dùng thuyền bè, tranh giành với Đông
Ngô, là hai điều kỵ; đang mùa đông rét mướt, ngựa không có cỏ khô ăn, mà dám khởi
binh, là ba điều kỵ; đem quân ở lục địa tiến sâu vào chỗ sông hồ, không quen
thuỷ thổ, nhiều người đau ốm, là bốn điều kỵ. Quân Tháo phạm bốn điều kỵ ấy, dẫu
nhiều cũng phải thua. Tướng quân bắt được Tháo ở chính lúc này. Du chỉ xin vài
vạn tinh binh, đến đóng ở Hạ Khẩu, đủ phá được Tào Tháo cho tướng quân xem.
Tôn Quyền đứng vùng dậy nói:
- Thằng giặc già muốn cướp ngôi
nhà Hán đã lâu, chỉ e có hai anh em họ Viên, Lã Bố, Lưu Biểu với ta mà thôi.
Nay mấy người ấy đã mất, duy chỉ còn có ta. Ta cùng với giặc già, thề không
chung sống. Người nói đánh, chính hợp ý ta. Quả là trời cho ngươi xuống giúp ta
đó!
Chu Du nói:
- Tôi xin vì tướng quân quyết một
trận huyết chiến, dù chết cũng không từ. Chỉ sợ tướng quân còn hồ nghi chưa định.
Quyền rút ngay thanh gươm đeo ở
mình, chặt xuống góc bàn trước mặt, nói rằng:
- Các quan các tướng, ai còn nói
hàng Tào, sẽ như cái góc bàn này.
Nói xong, tặng luôn thanh gươm
cho Chu Du, phong Chu Du làm đại đô đốc. Trình Phổ làm phó đô đốc; Lỗ Túc làm
tân quân hiệu uý. Nếu văn quan võ tướng, ai không tuân lệnh, dùng thanh gươm ấy
chém đi.
Chu Du nhận gươm, nói:
- Ta phụng mệnh chúa công, đem
quân đánh Tào Tháo, chư tướng và quan viên, ngày mai đều phải ra trại trận ở cạnh
bờ sông nghe lệnh. Ai chậm chạp lầm lỗi cứ chiếu theo trong bảy điều cấm lệnh,
năm mươi tư tội trảm quyết thi hành.
Nói rồi, Du từ biệt Tôn Quyền bước
ra khỏi phủ; các quan văn võ giải tán, đâu về đấy.
Chu Du về đến dinh, cho mời Khổng
Minh vào bàn việc. Khổng Minh đến. Du nói:
- Hôm nay, trong phủ bàn định đã
xong, xin tiên sinh cho biết kế hay để phá Tào Tháo.
Khổng Minh nói:
- Bụng Tôn tướng quân chưa thật ổn,
không thể định kế được vội.
Du hỏi:
- Thế nào là trong bụng chưa ổn?
Khổng Minh nói:
- Vẫn còn có ý sợ quân Tào nhiều,
quân mình ít không địch nổi. Tướng quân nên nói rõ quân số để Tôn tướng quân vững
dạ thì việc lớn ắt xong.
Du nói:
- Tiên sinh nói phải lắm!
Du bèn vào ngay, ra mắt Tôn Quyền.
Quyền hỏi:
- Đêm khuya Công Cẩn còn đến đây,
chắc hẳn có việc gì?
Du thưa:
- Ngày mai cất quân, chúa công
còn nghi hoặc chút nào không?
Quyền nói:
- Ta chỉ còn lo quân Tào nhiều lắm,
sợ không địch nổi thôi.
Du cười, nói:
- Tôi chỉ vì việc ấy mà đến đây,
nói rõ để chúa công biết. Chúa công thấy hịch Tào Tháo nói dối có trăm vạn
quân, nên sinh lòng nghi sợ, không xét rõ hư thực thế nào. Nay xét ra, hắn huy
động quân mã trong nước chẳng qua được mười lăm, mười sáu vạn, mà đã mệt mỏi cả
rồi; số quân thu được của họ Viên cũng độ bảy tám vạn, nhưng đa số vẫn còn nghi
ngờ chưa phục. Quân số tuy nhiều cũng không đáng sợ. Tôi chỉ xin năm vạn quân
là đủ phá nổi. Chúa công chớ nên áy náy nữa.
Quyền vỗ vào lưng Chu Du mà nói rằng:
- Công Cẩn nói đến điều ấy, thật
gỡ được mối hoài nghi cho ta. Tử Bố không biết gì, ta mất tin cậy. Chỉ có ngươi
với Tử Kính là hợp bụng với ta thôi. Vậy thì ngươi hãy cùng với Tử Kính, Trình
Phổ mang quân đi trước. Ta thu xếp thêm quân mã, tải nhiều lương thực, làm hậu ứng
cho. Tiền quân phỏng có điều gì không được như ý, thì đã có ta đây. Ta phen này
quyết nhau với giặc Tào, không còn hồ nghi gì nữa!
Chu Du từ tạ ra về, bụng nghĩ thầm
rằng:
- Khổng Minh đã đoán trúng được cả
ruột gan Ngô hầu, mà mưu kế gì cũng hơn ta một bậc. Nếu để lâu tất gây vạ cho
Đông Ngô ta, chi bằng giết quách đi cho rảnh.
Rồi lập tức sai người mời Lỗ Túc
vào, bàn việc muốn giết Khổng Minh.
Túc can rằng:
- Không nên! Nay giặc Tào chưa
phá được, mà đã giết mất người hiền sĩ, thế là tự mình hại người giúp việc cho
mình đó.
Du nói:
- Người này giúp Lưu Bị, tất gây
vạ cho Đông Ngô về sau.
Túc nói:
- Nên sai anh ruột y là Gia Cát Cẩn
sang dụ y về với Đông Ngô chẳng hay hơn ư?
Du chịu là phải. Sáng hôm sau, Du
đến hành dinh, ngồi cao trên trướng, quân đao phủ đứng sắp hàng hai bên, hội họp
cả văn võ lại để truyền lệnh.
Nguyên Trình Phổ hơn tuổi Chu Du,
thấy Du quyền to hơn mình, có ý không vui, giả ốm không đến, sai con là Trình
Tư đi thay.
Du truyền lệnh cho các tướng rằng:
- Phép vua không thể thân sơ, chức
phận ai nấy phải giữ. Hiện nay Tào Tháo lộng quyền, tệ hơn Đổng Trác, giam
thiên tử ở Hứa Đô, đóng bạo quân ở biên cảnh. Ta nay phụng mệnh ra đánh, các
ông cùng phải gắng sức đồng lòng. Quân đi đến đâu, không được quấy nhiễu dân sự.
Ai có công thì thưởng, ai có tội thì phạt, không tư vị ai cả.
Nói đoạn, sai Hàn Đương, Hoàng
Cái làm tiền bộ tiên phong, lĩnh chiến thuyền đi ngay hôm ấy, đến cửa sông Tam
Giang đóng trại, chờ có lệnh khác sẽ hay; Tưởng Khâm, Chu Thái làm đội thứ hai;
Lăng Thống, Phan Chương làm đội thứ ba; Thái Sử Từ, Lã Mông làm đội thứ tư; Lục
Tốn, Đổng Tập làm đội thứ năm; Lã Phạm, Chu Trị đi tuần phòng cả bốn mặt, và đốc
thúc quan quân thuỷ lục phải song song tiến lên, hẹn nội nhật hôm ấy phải đi cả.
Các tướng được lệnh, ai nấy thu xếp
thuyền bè vũ khí ra đi. Trình Tư về thuật lại với cha rằng Chu Du điều binh hợp
phép lắm. Trình Phổ giật mình nói:
- Ta vẫn khinh Chu lang nhu nhược,
không xứng đáng làm tướng. Nay y giỏi như thế, thật là tướng tài! Ta há chẳng
phục sao?
Lập tức Phổ đến trại Chu Du tạ tội,
Du cũng khiêm tốn tạ lại.
Hôm sau, Du mời Gia Cát Cẩn đến bảo
rằng:
- Lệnh đệ là Khổng Minh có tài
vương tá, sao lại hạ mình đi thờ Lưu Bị. Nay mai y đến Giang Đông, phiền tiên
sinh chớ có quản công, đến dụ y về với Đông Ngô, thì Chúa Công được thêm một
tay giỏi, mà anh em tiên sinh lại được đoàn tụ, chẳng hay lắm ru?
Cẩn thưa:
- Từ khi tôi đến Giang Đông, chưa
lập được một chút công nào, nghĩ cũng xấu hổ lắm. Nay đô đốc đã sai, tôi xin cố
gắng.
Nói rồi lên ngựa chạy ngay đến
ngay nhà khách, vào thăm Khổng Minh. Khổng Minh mời vào, hỏi han trò chuyện rồi,
Cẩn khóc mà nói rằng:
- Em có biết Bá Di, Thúc Tề ngày
xưa không?
Khổng Minh nghĩ thầm đây tất là
Chu Du cho đến dụ mình, liền đáp lại rằng:
- Bá Di, Thúc Tề là bậc thánh hiền
đời xưa.
Cẩn nói:
- Hai ông ấy dẫu đến lúc chết đói
ở núi Thú Dương, anh em cũng còn ở với nhau một chỗ. Nay ta với em, ruột thịt một
nhà, thế mà mỗi người thờ một chủ, sớm tối không được đoàn tụ với nhau, chẳng
đáng thẹn với Di Tề lắm ư?
Khổng Minh nói:
- Anh nói là tình em giữ là
nghĩa. Anh với em cùng là dòng dõi nhà Hán. Nay Lưu hoàng thúc là tôn thất nhà
Hán, nếu anh bỏ Đông Ngô về thờ hoàng thúc với em, thì trước không hổ thẹn với
bầy tôi nhà Hán, sau nữa anh em lại được họp mặt nhau, thế là tình nghĩa hai đường
vẹn cả. Anh nghĩ thế nào?
Cẩn nghĩ bụng, mình đến dụ nó, chẳng
hoá nó lại dụ mình. Rồi ngồi ngẩn mặt ra, chẳng nói được câu gì. Lát sau Cẩn đứng
dậy ra về yết kiến Chu Du, thuật lại lời Khổng Minh. Du nói:
- Ý ông làm sao?
Cẩn nói:
- Tôi đội hậu ơn Tôn tướng quân,
có đâu nỡ bỏ!
Du nói:
- Ông đã có bụng trung với chủ
như thế, không phải nói nữa. Còn Khổng Minh ta sẽ có cách thuyết phục y.
Thế mới là:
Trí đối trí, tưởng là dễ hợp,
Tài chọi tài, lại hoá ghen
nhau.
Chưa biết Chu Du có mẹo gì thuyết phục được Khổng Minh, xin xem hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Chính trong bài phú đài Đồng Tước thì vế sau là: “Liên nhị kiều ư đông tây hề, nhược trang không chi chuế đống”, nghĩa là “Liền hai cái cầu ở bên đông bên tây, như cầu vồng ở trên không”. Khổng Minh đổi chữ kiều là cầu ra chữ Kiều là nàng Kiều, đông tây ra đông nam để khích Chu Du, vì Đại Kiều là vợ Tôn Sách, Tiểu Kiều là vợ Chu Du.
Cửa Tam Giang, Tào Tháo hao binh
Hội Quần anh, Tưởng Cán mắc mẹo
Lại nói Chu Du nghe Gia Cát Cẩn
nói, giận Khổng Minh lắm, âm mưu muốn giết. Hôm sau điểm quân xong, Du vào chào
từ biệt Tôn Quyền. Quyền nói:
- Ngươi cất quân đi trước, ta lập
tức đi sau tiếp ứng!
Chu Du từ tạ trở ra, cùng với Lỗ
Túc, Trình Phổ cất quân đi và mời Khổng Minh đi cùng một thể. Khổng Minh vui vẻ
nhận lời, lên cả thuyền, giương buồm kéo đến Hạ Khẩu, cách cửa Tam Giang ba bốn
mươi dặm đóng trại. Thuyền bè đỗ rất có trật tự.
Chu Du hạ trại ở giữa, trên bờ
thì dựa vào núi Tây Sơn lập doanh trại, chung quanh cũng lập đồn phòng bị cả.
Khổng Minh ở riêng một chiếc thuyền nhỏ. Chu Du phân phát đâu đấy rồi sai người
mời Khổng Minh đến bàn việc. Khổng Minh đến trung quân vào gặp Chu Du, Du nói:
- Ngày trước quân Tào Tháo ít,
quân Viên Thiệu nhiều, thế mà Tháo đánh được Thiệu, ấy là bởi vì Tháo dùng mưu
Hứa Du, trước hết triệt lương thực ở Ô Sào. Nay quân Tào tám mươi ba vạn, quân
ta chỉ độ năm sáu vạn, cự sao nổi, tất cũng phải đốt lương của Tháo trước, rồi
mới phá được. Tôi đã dò biết được lương thảo Tào Tháo chứa cả ở núi Tụ Thiết.
Tiên sinh ở Hán Thượng đã lâu, am hiểu đường đất, xin phiền tiên sinh cùng với
Quan, Trương, Tử Long, đi ngay đến đó triệt lương của Tào Tháo. Tôi xin giúp
thêm một nghìn quân mã. Hai bên cùng vì việc chủ cả, xin tiên sinh đừng có
thoái thác.
Khổng Minh nghĩ thầm rằng:
- Chắc họ dụ ta không nổi, nên lập
kế hại ta. Nếu ta từ chối, họ hẳn chê cười, chi bằng cứ vâng lời rồi sẽ liệu kế
khác.
Nghĩ vậy Khổng Minh vui vẻ xin
vâng lệnh.
Chu Du thấy Khổng Minh nhận lời
cũng mừng lắm. Khổng Minh từ giã ra về. Lỗ Túc hỏi nhỏ Chu Du:
- Ông sai Khổng Minh đi đốt lương
là ý làm sao?
Du nói:
- Ta muốn giết Khổng Minh, nhưng
ngại thiên hạ chê cười, cho nên mượn tay Tào Tháo giết đi, để khỏi lo về sau.
Túc nghe nói, liền đến chơi Khổng
Minh, xem Khổng Minh có biết ý gì không, nhưng chỉ thấy Khổng Minh cứ điềm
nhiên như không, sắp sửa điểm quân mã để đi. Túc thương hại mới hỏi gợi rằng:
- Tiên sinh đi chuyến này, chắc
có thành công được không?
Khổng Minh cười, nói:
- Ta đánh thuỷ, đánh bộ, đánh mã,
đánh xe, môn nào cũng giỏi, khó gì mà chẳng thành công, chớ chẳng như ông và
Chu lang chỉ biết có một nghề mà thôi đâu!
Túc hỏi:
- Tôi với Công Cẩn, thế nào là chỉ
biết có một nghề?
Khổng Minh nói:
- Tôi nghe trẻ con ở Giang Nam có
hát rằng: “Mặt bộ cầm quân tài Tử Kính, ra sông đánh thuỷ có Chu Du”. Xét như vậy,
thì ông chỉ tài trên bộ, chẹn đường giữ ải; còn Chu lang thì chỉ biết đánh thuỷ,
chớ đánh bộ thì kém.
Túc lại mang lời ấy về nói với
Chu Du. Du nổi giận nói:
- Sao dám bảo ta không đánh được
mặt bộ? Có phải thế thì không khiến Khổng Minh đi nữa, để ta tự mang quân đến
cướp lương Tào ở núi Tụ Thiết cho mà xem.
Túc lại đem chuyện nói với Khổng
Minh, Khổng Minh cười, bảo:
- Công Cẩn sai ta đi cướp lương,
là cố ý mượn tay Tào Tháo giết ta. Ta mới nói đùa một câu, Công Cẩn đã không chịu
được. Hiện nay đang lúc dùng người, chỉ mong sao cho Ngô hầu đồng tâm với Lưu sứ
quân, mới thành công được. Nếu mang bụng hại lẫn nhau, thì việc lớn sẽ hỏng mất.
Tào Tháo lắm mưu, xưa nay hắn chỉ quen cướp lương của người ta, lẽ đâu hắn chẳng
phòng giữ cẩn thận. Công Cẩn mà đi, tất nó bắt được. Nay hãy đánh mặt thuỷ trước,
để làm bớt cái nhuệ khí của hắn đi, rồi sẽ liệu kế khác đánh phá mới được. Tử
Kính nên về nói với Công Cẩn cho khéo.
Lỗ Túc lập tức đang đêm về nói với
Chu Du, thuật lại lời Khổng Minh. Du lắc đầu, giẫm chân xuống nói rằng:
- Kiến thức người này, hơn gấp mười
ta, nếu không trừ ngay đi, tất để vạ về sau.
Túc can rằng:
- Nay đang lúc cần người, xin hãy
coi việc nước là trọng, đợi khi nào phá xong được Tào Tháo, bấy giờ sẽ liệu
cũng vừa.
Du nghe lời.
Nay lại nói Huyền Đức dặn dò Lưu
Kỳ giữ lấy Giang Hạ, còn mình cùng với các tướng dẫn quân sang Hạ Khẩu. Từ xa
trông sang phía nam bờ sông, thấy cờ bay phấp phới, gươm giáo sáng quắc, biết
là Đông Ngô đã cất quân, bèn đem cả quân Giang Hạ đến đóng ở Phàn Khẩu. Huyền Đức
họp các tướng sĩ lại bàn:
- Khổng Minh từ khi sang Đông Ngô
đến nay không thấy tin tức gì, không biết sự thể ra sao? Ai có thể đi dò xét
tình hình về báo cho ta?
My Chúc xin đi. Huyền Đức sai
mang dê, rượu và đồ lễ sang Đông Ngô, giả tiếng khao quân, để dò xét hư thực.
Chúc vâng lệnh, bơi một chiếc thuyền thuận dòng sang sông, thẳng đến trại Chu
Du. Quân sĩ vào báo,Du mời vào. My Chúc lạy hai lạy, dâng đồ lễ vật và bày tỏ ý
Huyền Đức. Du nhận lễ rồi mở tiệc khoản đãi.
Chúc nói:
- Khổng Minh sang đây đã lâu, xin
cho về một thể.
Du nói:
- Khổng Minh đang cùng ta lập mưu
phá Tào Tháo, về thế nào được? Ta cũng muốn gặp Lưu Dự Châu để cùng bàn việc,
nhưng ta đang thống lĩnh đại quân, không thể đi xa được. Nếu Dự Châu có lòng hạ
cố đến chơi một chút, thì ta hả lòng mong đợi lắm.
My Chúc vâng lời, lạy từ trở ra.
Lỗ Túc hỏi Chu Du rằng:
- Ông muốn tiếp Lưu Huyền Đức để
bàn việc gì?
Du nói:
- Huyền Đức như con thú dữ trong
đời, không thể không trừ được. Nay ta thừa cơ dụ y đến giết đi, để trừ một mối
lo to cho nước nhà.
Túc can ngăn hai ba lần, Du nhất
định không nghe, truyền ngay lệnh rằng:
- Huyền Đức đến đây, thì phục sẵn
năm mươi tên đao phủ ở trong buồng; hễ lúc nào ta quẳng cái làm hiệu, thì ùa ra
giết đi.
My Chúc về ra mắt Huyền Đức, thuật
chuyện Chu Du muốn mời đến chơi để bàn bạc việc gì. Huyền Đức sai thu xếp một
chiếc thuyền nhẹ, định đi ngay, Vân Trường can rằng:
- Chu Du là người đa mưu, lại
không có thư của Khổng Minh, hoặc có mưu lừa gì chăng, không nên khinh thường.
Huyền Đức nói:
- Ta nay kết liên với Đông Ngô,
cùng phá Tào Tháo. Nay Chu Du muốn gặp ta, nếu ta không đi thì không phải là
tình đồng minh với nhau. Hai bên cứ ngờ vực lẫn nhau, việc to hỏng mất.
Vân Trường nói:
- Nếu huynh trưởng muốn sang đó,
em xin đi theo.
Trương Phi cũng xin đi. Huyền Đức
nói:
- Chỉ Vân Trường đi là đủ. Dực Đức
với Tử Long ở nhà giữ trại; Giản Ung phải giữ Ngạc Huyện cho vững, ta đi sẽ về
ngay.
Phân công đâu đấy rồi, Huyền Đức
bèn cùng Vân Trường chỉ đem hai mươi tên quân, bơi một chiếc thuyền nhỏ sang
Giang Đông.
Huyền Đức ngắm trông chiến thuyền
Giang Đông cùng với tinh kỳ binh giáp dàn ra hai bên tả hữu tề chỉnh lắm, trong
bụng cũng đã mừng thầm.
Quân sĩ vào báo với Chu Du rằng
Lưu Dự Châu đã đến. Du hỏi:
- Y đem thuyền đến nhiều hay ít?
Quân sĩ bẩm:
- Chỉ có độc một chiếc thuyền và
hơn hai mươi tên tuỳ tùng.
Du cười, nói:
- Bọn này thật đáng chết!
Lập tức sai quân đao phủ mai phục
đâu đấy, rồi ra trại đón Huyền Đức vào.
Huyền Đức dẫn Vân Trường và tuỳ
tùng vào thẳng trung quân. Đôi bên chào nhau xong, Du mời Huyền Đức ngồi lên
trên. Huyền Đức nói:
- Tiếng tướng quân lẫy lừng cả
thiên hạ, Bị này tài đức gì, dám đâu phiền đến tướng quân phải trọng vọng.
Nói rồi chia ngôi chủ khách ngồi
chơi. Chu Du mở tiệc khoản đãi.
Khi ấy Khổng Minh tình cờ ra chơi
bờ sông, nghe tin Huyền Đức đến gặp Chu Du, thất kinh, vội lẻn vào trung quân
xem động tĩnh ra làm sao, thấy trên mặt Chu Du đầy những sát khí, trông vào hai
bên màn vách thì thấy đặc những quân đao phủ. Khổng Minh sợ hãi nói:
- Thế này thì làm thế nào?
Nói rồi lại nhìn Huyền Đức, chỉ
thấy Huyền Đức cười cười nói nói như không; lại thấy một người cắp gươm đứng hầu
sau lưng Huyền Đức, nhìn xem ai thì là Quan Vân Trường, Khổng Minh mừng, nói:
- Chủ ta không có gì đáng lo nữa
rồi!
Nói xong không vào nữa, quay ra bờ
sông đứng đợi.
Chu Du mời mọc Huyền Đức uống rượu;
được vài tuần, Du bèn đứng dậy cầm chén để mời, sực trông thấy Vân Trường cắp
gươm đứng sau Huyền Đức, liền hỏi ai. Huyền Đức nói:
- Em tôi là Quan Vân Trường đó!
Du giật mình hỏi:
- Có phải là người chém Nhan
Lương, Văn Sú khi xưa khi đó không?
Huyền Đức đáp:
- Chính phải!
Du thất kinh, mồ hôi đổ toát ra cả
áo. Rồi rót rượu mời Vân Trường uống. Một lát, Lỗ Túc vào.
Huyền Đức nói:
- Khổng Minh ở đâu, nhờ Tử Kính mời
lại đây gặp một lát.
Chu Du nói:
- Đợi khi nào phá xong Tào Tháo,
bấy giờ sẽ gặp nhau cũng được.
Huyền Đức nín lặng. Vân Trường
đưa mắt cho Huyền Đức. Huyền Đức biết ý, đứng ngay dậy từ biệt Chu Du mà rằng:
- Nay tôi hãy xin cáo biệt, khi
nào phá được giặc thành công, xin lại sang mừng.
Du cũng không giữ lại, tiễn ra cửa
dinh. Huyền Đức từ biệt ra đến bờ sông, đã thấy Khổng Minh ở trong thuyền, Huyền
Đức mừng rỡ. Khổng Minh nói:
- Chúa công có biết việc nguy cấp
hôm nay không?
Huyền Đức ngạc nhiên nói:
- Không biết có việc gì?
Khổng Minh nói:
- Nếu không có Vân Trường thì
chúa công đã bị Chu Du hại rồi.
Huyền Đức bấy giờ mới vỡ lẽ; bèn
mời Khổng Minh cùng về Phàn Khẩu.
Khổng Minh nói:
- Tôi tuy ở kề miệng hổ, nhưng vững
như Thái Sơn. Chúa công trở về, đúng đến hôm 20 tháng 11 là ngày Giáp Tý, phải
sai Tử Long mang một chiếc thuyền nhỏ chờ tôi ở mé Nam bờ sông, chớ có sai hẹn,
Huyền Đức hỏi ý làm sao, Khổng
Minh nói:
- Cứ xem gió đông nam nổi lên lúc
nào, thì tôi về lúc ấy.
Huyền Đức đi chưa được vài dặm,
chợt thấy trên thượng lưu có năm sáu chục chiếc thuyền bơi đến, một đại tướng cầm
ngang ngọn mâu đứng trên mũi thuyền, thì là Trương Phi. Nguyên Phi sợ Huyền Đức
gặp lỡ làng gì, một mình Vân Trường không địch nổi, cho nên mới đem thuyền đến
tiếp ứng. Ba người cùng nhau về trại.
Lại nói, Chu Du tiễn xong Huyền Đức
về trại. Lỗ Túc hỏi rằng:
- Ông đã mời Huyền Đức đến đây,
sao lại không giết nữa?
Du nói:
- Quan Vân Trường là một hổ tướng
đời nay, cùng với Huyền Đức không rời nhau lúc nào, nếu ta hạ thủ, thì y tất giết
ta trước.
Túc nghe nói cũng rợn tóc gáy. Chợt
lại có tin vào báo Tào Tháo sai người đưa thư đến. Du gọi vào. Sứ giả dâng thư
lên. Du cầm thư xem thì thấy đề ở ngoài phong bì rằng: “Đại thừa tướng nhà Hán
giao cho Chu đô đốc phải mở thư này”. Du nổi giận, không mở thư ra xem nữa, xé
nát, quẳng xuống đất và quát sai điệu sứ giả ra chém.
Lỗ Túc can rằng:
- Hai nước đánh nhau, không nên
chém sứ giả.
Du không nghe, nói:
- Phải chém để thị oai!
Rồi Du sai chém luôn sứ giả, cho
đầy tớ mang đầu về bên Tào. Đoạn Du hạ lệnh cho Cam Ninh làm tiên phong, Hàn
Đương làm tả dực, Tưởng Khâm làm hữu dực, Du thì tự lĩnh các tướng đi tiếp ứng;
sáng hôm sau, canh tư thổi cơm ăn, canh năm mở thuyền, đánh trống hò reo bắt đầu
sang đánh Tào.
Tào Tháo thấy Chu Du xé thư chém
sứ giả, bèn nổi giận đùng đùng, lập tức sai Sái Mạo, Trương Doãn và bọn hàng tướng
Kinh Châu làm tiền bộ, Tháo tự lĩnh hậu quân, đốc thúc chiến thuyền kéo đến của
Tam Giang. Vừa tới nơi, đã thấy thuyền Đông Ngô đen kịt cả sông, một đại tướng
ngồi đầu thuyền gọi to lên rằng:
- Ta là Cam Ninh đây, ai dám ra
đây quyết chiến với ta không?
Sái Mạo sai em là Sái Huân tiến
lên trước. Hai thuyền gần nhau, Cam Ninh giương cung đặt tên bắn sang một phát.
Huân ngã gục ngay xuống. Ninh thúc thuyền đánh dấn vào, muôn ngàn cung nỏ nhả
tên như mưa, quân Tào không sao địch nổi. Lại có Hàn Đương ở tả, Tưởng Khâm ở hữu,
hai mặt cùng xông thẳng vào đội quân Tào. Quân Tào quá nửa là quân vùng Thanh,
Từ, xưa nay không quen đánh thuỷ, chèo chống không vững, chiến thuyền chòng
chành, nghiêng ngả trên mặt sông. Bên này, ba đội thuyền của bọn Cam Ninh tung
hoành trên mặt nước. Chu Du lại thúc thuyền đánh giúp, quân Tào chết hại không
biết bao nhiêu mà kể. Đánh nhau từ giờ tỵ đến giờ mùi, Chu Du tuy thắng, nhưng
vẫn sợ quân Tào nhiều lắm, mình địch không nổi, lập tức khua chiêng thu thuyền
về trại.
Quân Tào thua trận trở về. Tháo
lên trại trên cạn, chỉnh đốn lại quân mã, rồi đòi Trương Doãn, Sái Mạo vào
trách mắng:
- Quân Đông Ngô ít, thế mà nó
đánh được mình, đó là các người không chịu hết lòng đó thôi!
Sái Mạo thưa:
- Quân thuỷ ở Kinh Châu, lâu nay
không được luyện tập, mà quân ở Thanh, Từ thì không quen đánh thuỷ, nên mới bị
thua. Nay nên lập một thuỷ trại, cho quân Thanh, Từ ở trong, quân Kinh Châu ở
ngoài, hàng ngày phải tập tành, khi nào giỏi mới dùng được.
Tháo nói:
- Người đã làm thuỷ quân đô đốc,
thế nào tiện thì cứ làm, việc gì còn phải hỏi ta?
Trương, Sái hai người ra luyện
quân thuỷ. Suốt dải ven sông, lập ra một thuỷ trại cực to, thuyền lớn đóng xung
quanh phía ngoài, thuyền nhỏ ở trong. Chia ra làm hai mươi cửa, có đường đi lối
lại nối liền, đèn đuốc sáng rực trời; doanh trại trên cạn dài hơn ba trăm dặm,
khói, lửa nghi ngút.
Lại nói, Chu Du được trận về trại,
khao thưởng ba quân, sai người báo tin thắng lợi với Ngô hầu. Đêm hôm ấy, Chu
Du lên cao đứng trông, thấy mé tây ánh lửa rực trời. Tả hữu bẩm rằng:
- Đó là ánh đèn đuốc ở bên quân
Tào đó!
Du cũng hoảng. Hôm sau Du muốn
thân đến xem thuỷ trại Tào Tháo, liền sai sửa soạn một chiếc thuyền lầu, đem
theo đồ âm nhạc và vài viên tướng khoẻ, mỗi người đeo một bộ cung tên thực tốt,
từ từ bơi sang. Đến cạnh trại Tháo, Du truyền đỗ thuyền lại, kèn, sáo nổi lên
inh ỏi. Du nhìn trộm thuỷ trại địch, giật mình, nói rằng:
- Thật là đạt mức tuyệt diệu của
quân thuỷ!
Lại nói rằng:
- Ai là đô đốc thuỷ quân bên Tào
thế?
Tả hữu bẩm:
- Sái Mạo và Trương Doãn.
Du nói:
- Hai người này ở Giang Đông đã
lâu, thạo nghề đánh thuỷ, ta phải lập mẹo trừ trước đi, mới có thể phá được Tào
Tháo.
Giữa lúc ấy, quân vào báo với Tào
Tháo rằng Chu Du đến xem trộm trại. Tháo sai chèo thuyền đuổi bắt. Du thấy cờ
hiệu trong trại thuỷ phe phẩy vội sai nhổ neo, chèo thuyền bay vùn vụt; khi
thuyền Tháo ra khỏi cửa trại, thì Chu Du đã đi xa hàng chục dặm rồi. Quân Tào
đuổi không kịp, quay về báo với Tào Tháo.
Tháo hỏi các tướng:
- Hôm qua ta vừa thua một trận, mất
cả nhuệ khí, hôm nay nó lại sang xem trộm trại ta, ta nên dùng kế gì mà phá cho
được?
Tháo hỏi chưa dứt lời, có một người
bước ra thưa rằng:
- Tôi thuở nhỏ là bạn đồng học với
Chu Du, chơi với nhau thân lắm. Nay xin đem ba tấc lưỡi sang Giang Đông dụ người
ấy lại hàng.
Tháo mừng lắm, trông ra thì là Tưởng
Cán, tự là Tử Dực quê ở Cửu Giang hiện đang làm mạc tân. Tháo bèn hỏi:
- Tử Dực chơi với Chu Du thân lắm
à?
Cán thưa:
- Thừa tướng yên tâm, tôi sang tả
ngạn chuyến này nhất định thành công.
Tháo lại hỏi:
- Có cần mang đồ vật gì đi không?
Cán nói:
- Chỉ một tiểu đồng đi hầu, với
hai người chèo thuyền là đủ.
Tháo mừng lắm, mở tiệc rượu tiễn
Tưởng Cán. Cán đội khăn cát đằng, mặc áo vải rộng tay, ngồi một chiếc thuyền
con, đến thẳng trại Chu Du, sai người vào báo là có bạn cũ Tưởng Cán lại thăm.
Chu Du đang ngồi trong trướng bàn
việc, nghe tin Tưởng Cán đến chơi, cười mà nói rằng:
- Thuyết khách đến đây rồi!
Liền nghé vào tai các tướng dặn
dò như thế… như thế. Ai nấy vâng lệnh đi ra. Du sửa lại áo mũ chỉnh tề, dẫn vài
trăm tuỳ tùng đều mặc áo gấm, đội mũ hoa, tiền hô hậu ủng đi ra. Tưởng Cán dẫn
một tiểu đồng, mặc áo xanh, ngang nhiên bước tới. Du đón tiếp rất lễ độ.
Cán hỏi:
- Công Cẩn lâu nay mạnh khoẻ chớ?
Du đáp:
- Tử Dực xông pha sóng gió đến
đây, làm thuyết khách cho Tào Tháo đó chăng?
Cán ngạc nhiên, nói:
- Ta lâu nay không gặp túc hạ,
nên đến thăm hỏi, cớ sao lại nghi ta là thuyết khách?
Du cười, nói:
- Ta đây tuy không thông minh bằng
Sư Khoáng[1] ngày xưa, nhưng nghe tiếng đàn cũng biết bụng người.
Cán nói:
- Túc hạ bạc đãi cố nhân thế, tôi
xin cáo thoái.
Du cười, kéo cánh tay Cán mà nói:
- Ta chỉ sợ anh làm thuyết khách
cho Tào Tháo, nếu không có ý ấy, thì can gì phải đi ngay?
Hai người cùng vào trướng, chào hỏi
xong, phân chủ khách ngồi chơi, lập tức Du cho mời hết các tay anh kiệt vào ra
mắt Tử Dực. Được một lát, các văn quan võ tướng mặc toàn áo gấm, tỳ tướng mặc
toàn áo giáp bạc, xếp thành hai hàng đi vào. Du bảo vái chào cả một lượt, rồi mới
ngồi sang hai bên. Đoạn Du truyền mở tiệc cực to, cử khúc nhạc thắng trận, mọi
người thay phiên nhau đứng dậy mời rượu. Du bảo với các quan rằng:
- Đây là ông bạn học với tôi từ
ngày bé, tuy ở bên Giang Bắc đến chơi, nhưng không phải là thuyết khách của Tào
Tháo, các quan đừng nghi.
Nói rồi cởi thanh kiếm đeo trong
mình giao cho Thái Sử Từ và dặn rằng:
- Ông đeo thanh kiếm này làm người
giám tửu. Hôm nay chỉ được nói chuyện bầu bạn vui vẻ với nhau thôi, ai nói động
đến chuyện quân sự giữa Đông Ngô với Tào Tháo sẽ bị chém lập tức.
Thái Sử Từ vâng lệnh, đeo thanh
gươm ngồi giám tiệc. Tưởng Cán sợ hãi, chẳng dám nói lôi thôi gì cả.
Chu Du nói:
- Tôi từ khi cất quân ra đến nay,
chưa từng nhắp một giọt rượu. Hôm nay gặp được cố nhân, lại không có điều chi
nghi kỵ, nên uống một bữa thực say!
Nói rồi, Du cười ha hả, cuộc rượu
thật thoả thuê.
Trên tiệc, bát đũa ngổn ngang.
Lúc đã chếnh choáng hơi men, Du dắt tay Tưởng Cán ra ngoài trướng; quân sĩ áo
mũ lịch sự, vác kích cầm giáo đứng hầu, Du hỏi:
- Thế quân ta có hùng tráng
không?
Cán đáp:
- Thật là quân như hổ như báo cả.
Du lại đưa Cán đến sau trại,
lương thảo chồng chất như núi. Du nói:
- Lương của ta có đủ dùng không?
Cán đáp:
- Quân đã giỏi, lương lại nhiều,
quả tiếng đồn không ngoa.
Du giả say, cười ầm lên, nói:
- Tưởng nhớ lại khi ta cùng với Tử
Dực còn học với nhau, có mong đâu được như ngày nay.
Cán nói:
- Công Cẩn có biệt tài, được thế
cũng đáng!
Du cầm tay Cán, nói:
- Tài trai sinh ở đời gặp được chủ
tri kỷ, ngoài là nghĩa vua tôi, trong là tình xương thịt, nói thì nghe, kế thì
dùng, hoạ phúc có nhau. Như thế, dẫu đến Tô Tần, Trương Nghi, Lục Giả, Lục Sinh
có sống lại, miệng nói như nước, lưỡi sắc như dao, cũng không lay chuyển được
lòng ta!
Nói rồi lại cười ầm lên.
Tưởng Cán mặt xám lại như tro. Du
lại dắt Cán vào trướng uống rượu với các tướng, nhân đó mà trỏ vào các tướng mà
nói:
- Đây toàn là anh kiệt ở Giang
Đông cả đấy! Hội hôm nay nên gọi là hội Quần anh.
Bữa rượu kéo dài mãi đến tối, đèn
nến thắp lên, Du đứng dậy múa gươm hát mấy câu:
Công danh đã lập, lòng mình thảnh thơi!
Lòng thảnh thơi, vui chơi thích tính,
Chén say rồi đủng đỉnh hát ngông…
Du hát đoạn, cử toạ cười ầm cả
lên. Đến canh khuya, Cán tạ từ, nói:
- Tửu lượng tôi không sao kham được
nữa.
Du sai cất tiệc, các tướng đâu về
đấy.
Du nói:
- Lâu nay không ngủ chung với Tử
Dực, nay phải gác chân lên nhau mà ngủ một đêm.
Du giả làm say quá, dắt Cán vào
màn, rồi để nguyên cả áo mũ nằm ngủ, nôn oẹ bừa bãi.
Cán ngủ sao được, nghe thấy bên
ngoài trống đã điểm canh hai, bèn đứng dậy, trông thấy đèn vẫn còn sáng mà Chu
Du thì đã ngủ say, tiếng ngáy như sấm. Cán trông lên bàn, thấy một đống thư từ,
mới lẻn ra xem trộm. Đó toàn là thư các nơi gửi về, trong có một phong ngoài đề:
“Sái Mạo, Trương Doãn cẩn phong”. Cán giật mình, mở ra xem, trong thư nói như
sau:
“Chúng tôi hàng Tào Tháo, không
phải có bụng mong phú quý đâu, cũng là bất đắc dĩ. Nay đã lừa được quân Tào nhốt
cả trong thuỷ trại rồi. Khi nào được dịp, xin nộp đầu Tào Tháo ở dưới cờ. Nay
mai có người đến, sẽ có tin báo, xin chớ nghi ngờ gì cả. Nay kính thư”.
Cán xem xong nghĩ rằng:
- Té ra hai thằng này vẫn kết
liên với Đông Ngô!
Lập tức giấu ngay tờ thư ấy vào
tay áo, Cán định xem thêm thư khác, thì thấy Chu Du trở mình, bèn vội vàng tắt
đèn đi ngủ. Du nói lảm nhảm trong mồm rằng: “Tử Dực, vài hôm nữa cho anh xem đầu
Tào Tháo!” Lại thấy Du nói: “Tử Dực! Anh hãy ở đây, ta sẽ cho anh xem đầu giặc
Tháo!” Lúc Cán hỏi lại thì Chu Du đã ngủ khì ra rồi.
Cán nằm trên giường, đến mãi canh
tư, thấy có người vào trướng gọi: “Đô đốc đã tỉnh chưa?” Chu Du ra bộ nằm mê sực
tỉnh, hỏi rằng:
- Ai nằm trên giường thế kia?
Người ấy đáp:
- Đô đốc mời Tử Dực cùng ngủ, đã
quên rồi à?
Du hối hận nói:
- Ta chưa khi nào uống rượu say
thế này; hôm nay say quá, không biết có nói lỡ điều gì không?
Người ấy nói:
- Giang Bắc có người đến đây…
Du nói:
- Nói se sẽ chứ!
Rồi gọi Cán:
- Tử Dực! Tử Dực!
Cán bấy giờ vẫn tỉnh, nhưng vờ ngủ
say không thưa, Du lẻn ra ngoài trướng. Cán lắng tai nghe lỏm, thì thấy người
bên ngoài nói rằng: “Trương Doãn, Sái Mạo cho người lại bảo chưa thể nào hạ thủ
được…” Những câu sau nói nhỏ quá nên Cán nghe không rõ.
Một lát, Chu Du trở vào, lại gọi:
- Tử Dực!
Cán vẫn vờ ngủ không thưa. Du
cũng cởi áo đi ngủ.
Cán nằm nghĩ thầm rằng:
- Chu Du là người cẩn thận, sáng
dậy không thấy thư, tất nhiên sẽ không để cho mình được thoát!
Vừa sang canh năm, Cán dậy gọi
Chu Du. Du vẫn ngủ say. Cán bèn đội khăn mặc áo, lẻn ra ngoài trướng, gọi tiểu
đồng, đi thẳng đến cửa trại. Quân canh hỏi:
- Tiên sinh đi đâu?
Cán nói:
- Ta ở đây mãi, sợ lỡ việc đô đốc,
nên ta tạm cáo từ.
Quân sĩ cũng không cản trở gì cả.
Cán xuống thuyền bơi như bay về
ra mắt Tào Tháo.
Tháo hỏi:
- Tử Dực đi có được việc không?
Cán thưa:
- Chu Du chí khí cao nhã lắm,
không sao dụ được.
Tháo giận, nói:
- Đi đã không được việc, lại bị
nó chê cười cho à?
Cán thưa:
- Tuy rằng không dụ được Chu Du,
nhưng cũng điều tra được một việc giúp thừa tướng. Xin hãy cho tả hữu lui cả ra
ngoài.
Cán lấy thư ra và thuật lại đầu
đuôi câu chuyện cho Tào Tháo nghe.
Tháo nổi giận, nói:
- Chà! Hai thằng dám vô lễ thế à?
Lập tức cho đòi Trương Doãn, Sái
Mạo vào. Tháo hỏi:
- Nay ta định sai các ngươi tiến
quân đây!
Mạo bẩm:
- Quân sĩ tập chưa được giỏi,
không nên tiến vội.
Tháo gắt rằng:
- Nếu đợi đến lúc quân sĩ tâp giỏi,
thì đầu tao đã nộp cho Chu Du rồi!
Hai người không hiểu ý thế nào,
lúng túng chẳng biết nói năng ra sao. Tháo bèn quát võ sĩ lôi hai người ra
chém. Một lát võ sĩ đem đầu vào dâng, Tháo sực nghĩ ra ngay, nói rằng:
- Thôi! Ta mắc mẹo rồi!
Người sau có thơ than rằng:
Khôn thế sao lại mắc mẹo gian?
Hỡi ơi! Sái, Trương, quân bán chúa,
Rước voi giày mả, chết không oan!
Các tướng thấy Tháo giết Trương,
Sái, bèn vào hỏi nguyên nhân làm sao, Tháo biết mình mắc mưu, nhưng vẫn không
chịu nhận lỗi, bèn bảo các tướng rằng:
- Hai người ấy khinh thường quân
pháp nên ta giết đi.
Ai nấy đều thở dài buồn bã. Tháo
chọn Mao Giới và Vu Cấm cử thay làm thuỷ quân đô đốc.
Quân do thám tin về cho Chu Du.
Du mừng rỡ, nói:
- Ta chỉ lo hai người ấy, nay đã
trừ xong, lòng ta thanh thản vô cùng.
Lỗ Túc nói:
- Đô đốc dùng binh như thế, lo gì
chẳng phá được Tào Tháo.
Du nói:
- Ta chắc rằng các tướng không ai
hiểu mưu ta, chỉ có Gia Cát Lượng kiến thức hơn ta, chắc mẹo này cũng không giấu
được hắn. Tử Kính thử sang dò xem hắn có biết hay không, rồi về báo cho ta.
Ấy là:
Ướm hỏi người ngoài có biết không?
Chưa biết Lỗ Túc đi dò Khổng Minh
thế nào, xem đến hồi sau mới rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Sư Khoáng: nhạc sư nước Tấn thời Xuân thu, rất
giỏi phân biệt âm thanh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét