🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Huyền Đức dùng mẹo đánh úp Phàn Thành
Nguyên Trực tế ngựa tiến cử Gia Cát
Lại nói, Tào Nhân tức giận, dẫn
binh mã cấp tốc vượt qua sông, định san phẳng Tân Dã.
Đan Phúc thắng trận, về huyện bàn
với Huyền Đức rằng:
- Tào Nhân đóng quân ở Phàn
Thành, nếu biết hai tướng bị giết, tất huy động đại quân đến báo thù.
Huyền Đức hỏi:
- Nên dùng kế gì bây giờ?
Đan Phúc nói:
- Nếu hắn đem hết quân sang đây,
Phàn Thành bỏ ngỏ, ta có thể thừa cơ đánh úp.
Huyền Đức hỏi kế. Phúc ghé vào
tai Huyền Đức nói nhỏ mấy câu. Huyền Đức hớn hở, truyền lệnh chuẩn bị sẵn sàng.
Chợt có thám mã báo Tào Nhân đã dẫn
đại quân sang sông kéo đến nơi. Đan Phúc nói:
- Tôi đoán không sai.
Rồi mời Huyền Đức đem quân nghênh
địch.
Trận thế dàn xong, Triệu Vân ra
ngựa, gọi tướng giặc nói chuyện. Tào Nhân sai Lý Điển ra giao chiến với Triệu
Vân. Được độ vài chục hiệp, Lý Điển biết sức không cự nổi, quay ngựa chạy về.
Vân tế ngựa đuổi theo, nhưng quân Tào bắn chặn lại. Đôi bên cùng thu quân về trại.
Lý Điển về gặp Tào Nhân nói:
- Quân giặc tinh nhuệ lắm, không
nên coi thường. Chi bằng hãy rút quân về Phàn Thành.
Tào Nhân cả giận, nói:
- Lúc chưa xuất quân, ngươi đã
làm ngã lòng quân sĩ ta. Nay lại giả tảng thua, tội đáng chém. Đao phủ đâu, lôi
ra chặt đầu nó đi.
Các tướng xúm lại can mãi, Điển mới
khỏi chết. Rồi, Nhân tự dẫn binh đi tiền bộ, cho Lý Điển đi hậu quân. Hôm sau
đánh trống tiến binh, bày thành thế trận, sai người hỏi Huyền Đức rằng:
- Có biết thế trận của ta không?
Đan Phúc trèo lên chỗ cao, ngắm một
hồi, rồi xuống nói với Huyền Đức:
- Đây là trận “Bát môn kim toả”.
Có tám cửa là: hưu, sinh, thương, đỗ, cảnh, tử, kinh, khai. Nếu nhắm các cửa
sinh, cửa cảnh, cửa khai mà đánh vào thì thắng, vào các cửa thương, kinh, hưu,
thì bị thiệt hại; vào cửa đỗ, cửa tử, thì chết hết. Tám cửa tuy bố trí chỉnh tề,
nhưng chỉ thiếu lực lượng chủ chốt ở giữa. Nếu ta tiến váo cửa sinh góc đông
nam, rồi đánh sang cửa cảnh góc tây thì trận này phải tan vỡ.
Huyền Đức truyền lệnh cho quân sĩ
giữ vững lấy góc trận và sai Triệu Vân đem năm trăm quân từ mặt đông nam tiến
vào, lướt qua cửa tây mà ra ngoài trận.
Được lệnh, Vân lập tức vác giáo
lên ngựa, đem quân thắng đến góc đông nam, hò reo đánh vào giữa trận. Tào Nhân
lui chạy về phía bắc. Vân không đuổi theo, đánh xộc ra cửa tây, rồi lại từ cửa
tây đánh sang góc đông nam. Quân Tào đại loạn.
Huyền Đức thúc quân đánh ùa vào:
Quân Tào Nhân thua to chạy trốn. Đan Phúc truyền lệnh không đuổi theo, thu quân
về.
Tào Nhân bị thua trận ấy, mới tin
lời Lý Điển, bèn cho mời Điển đến bảo rằng:
- Trận mới rồi mà cũng phá được,
trong quân Lưu Bị tất có người giỏi.
Lý Điển nói:
- Tôi tuy ở đây nhưng bụng vẫn
còn lo Phàn Thành.
Tào Nhân nói:
- Đêm nay ta đến cướp trại; nếu
thắng ta sẽ liệu kế khác; nhược bằng thua, bấy giờ ta sẽ rút về Phàn Thành.
Lý Điển nói:
- Không nên, Huyền Đức chắc có
phòng bị.
Nhân nói:
- Đa nghi như vậy thì dùng binh
thế nào được?
Rồi Nhân không nghe lời Lý Điển,
tự dẫn quân đi tiền đội, sai Lý Điển đi hậu ứng, canh hai đêm hôm ấy đến cướp
trại Huyền Đức.
Đan Phúc đang ngồi bàn bạc với
Huyền Đức ở trong trại, bỗng có cơn gió giật đùng đùng nổi lên. Phúc nói:
- Đêm nay Tào Nhân tất đến cướp
trại đây!
Huyền Đức nói:
- Ta lấy gì địch lại?
Đan Phúc nói:
- Tôi đã bố trí cả rồi.
Bèn cắt đặt đâu vào đấy.
Đến canh hai, Tào Nhân kéo đến gần
trại, thấy bốn mặt lửa cháy ngùn ngụt. Nhân biết trong trại có phòng bị, vội vã
rút lui. Triệu Vân đuổi theo. Nhân không kịp thu quân về trại, tất tả chạy về
phía bắc sông. Đến bờ sông, đang hoang mang tìm đò, thì một toán quân kéo đến,
tướng đi đầu là Trương Phi. Tào Nhân liều chết đánh nhau. Lý Điển bảo vệ Tào
Nhân xuống được thuyền sang sông. Quân Tào chết đuối quá nửa.
Tào Nhân sang khỏi sông, chạy
ngay về Phàn Thành sai người gọi cửa. Bỗng trên thành một hồi trống nổi rồi một
tướng xông ra, thét lớn:
- Phàn Thành vào tay ta đã lâu rồi!
Quân Tào giật mình, nhìn ra thì
là Vân Trường.
Tào Nhân rụng rời, quất ngựa chạy.
Vân Trường đuổi đánh. Tào Nhân lại thiệt một số quân nữa, vội vã chạy về Hứa
Xương. Dọc đường, Nhân mới được tin Huyền Đức có Đan Phúc làm quân sư, bày mưu
đặt kế.
Đây nói Huyền Đức toàn thắng, kéo
quân vào Phàn Thành.
Quan huyện lệnh Lưu Bật ra đón,
Huyền Đức vào thành, phủ dụ dân chúng xong, Lưu Bật rước về nhà mở tiệc khoản
đãi. Bật cũng là tôn thân nhà Hán, quê ở Trường Sa. Trong tiệc Huyền Đức thấy một
người đứng hầu, tư thế hiên ngang, liền hỏi Bật:
- Người này là ai?
Bật thưa:
- Đó là Khấu Phong, con họ Khấu ở
La Hầu, cháu gọi tôi bằng cậu, vì cha mẹ chết cả, nên đến ở với tôi.
Huyền Đức tỏ vẻ yêu mến, muốn nhận
làm con nuôi, Lưu Bật mừng rỡ nhận lời ngay và bảo Khấu Phong ra lạy Huyền Đức
làm cha nuôi, đổi tên họ là Lưu Phong, Huyền Đức dẫn về, sai lạy Vân Trường, Dực
Đức làm chú.
Vân Trường cười:
- Anh đã có con rồi, hà tất phải
nuôi con nuôi, sau này chắc sinh loạn!
Huyền Đức nói:
- Ta đãi nó như con, tất nó phải
thờ ta như cha. Việc gì mà loạn?
Vân Trường tỏ vẻ không bằng lòng.
Huyền Đức bàn với Đan Phúc, sai Triệu Vân đem một nghìn quân giữ Phàn Thành,
còn mình thì dẫn quân về Tân Dã.
Lại nói Tào Nhân, Lý Điển về Hứa
Đô, vào ra mắt Tào Tháo, khóc lạy xuống đất xin chịu tội và thuật đầu đuôi việc
hao binh tổn tướng. Tháo nói:
- Được thua là chuyện thường của
nhà binh, nhưng không biết ai bày mưu cho Lưu Bị?
Tào Nhân nói là mẹo của Đan Phúc.
Tháo hỏi:
- Đan Phúc là người thế nào?
Trình Dục nói:
- Người ấy không phải là Đan
Phúc. Thuở nhỏ hắn tập múa gươm. Cuối năm Trung Bình (đời vua Linh đế) hắn giết
người để báo thù cho kẻ khác, rồi xoã tóc bôi nhọ mặt đi trốn. Bị nha lại tóm
được, hắn không nói họ tên, liền bị trói bỏ lên xe, đem đi rong chợ, đánh trống
gọi loa cho dân phố nhận mặt. Cũng có người biết, nhưng không ai dám nói. Sau
được các bè bạn đánh tháo, cứu thoát hắn ra. Hắn mới thay tên đổi họ, đi lánh nạn,
gắng sức học hành, tìm kiếm danh sư khắp nơi. Hắn thường đi lại đàm luận với Tư
Mã Huy. Hắn quê ở Dĩnh Châu, tên là Từ Thứ, tự là Nguyên Trực, Đan Phúc chỉ là
họ tên giả của hắn thôi.
Tháo lại hỏi:
- Tài của Từ Thứ so với ngươi thế
nào?
Dục thưa:
- Người ấy mười phần, Dục không lấy
được một.
Tháo nói:
- Đáng tiếc hiền sĩ đều về với
Lưu Bị cả; vây cánh y đã thành, biết làm thế nào?
Dục đáp:
- Từ Thứ tuy ở với Lưu Bị, nhưng
nếu thừa tướng muốn dùng, gọi về cũng dễ.
Tháo hỏi:
- Làm thế nào dụ hắn về được?
Dục thưa:
- Từ Thứ là người chí hiếu. Bố mất
sớm, chỉ còn mẹ già ở nhà. Hiện nay em là Từ Khang đã mất, mẹ già không ai phụng
dưỡng, thừa tướng nên sai người lừa mẹ hắn đến Hứa Xương, rồi bắt mụ ấy viết
thư gọi con về đây, chắc Từ Thứ thế nào cũng phải nghe theo.
Tháo mừng lắm, sai người cấp tốc
đi bắt mẹ Từ Thứ. Chẳng bao lâu, quân bắt được mẹ Từ Thứ dẫn về. Tháo đối đãi rất
tử tế, rồi bảo Từ mẫu rằng:
- Ta được biết Từ Nguyên Trực,
con trai bà, là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Nay y ở Tân Dã, giúp tên nghịch thần
Lưu Bị, phản bội triều đình. Có khác nào viên ngọc quý rơi trong vũng bùn, thật
đáng tiếc! Nay ta muốn nhờ bà viết thư gọi y về Hứa Đô, ta sẽ tâu lên thiên tử,
nhất định y sẽ được trọng thưởng.
Rồi sai tả hữu lấy nghiên bút, giấy
mực lại, bảo Từ mẫu viết thư.
Từ mẫu hỏi:
- Lưu Bị là người thế nào?
Tháo đáp:
- Là một kẻ hèn mọn ở Bái Quận, mạo
xưng là “hoàng thúc”, vốn chẳng có tín nghĩa gì. Có thể nói ngoài vỏ là người
quân tử, mà trong ruột là một đứa tiểu nhân.
Từ mẫu đùng đùng nổi giận:
- Ngươi xảo quyệt đến thế là
cùng! Từ lâu ta đã biết Huyền Đức là con cháu Trung Sơn Tĩnh vương, cháu chắt
Hiếu Cảnh hoáng đế. Ông ấy khiêm tốn, quý trọng hiền sĩ, kính cẩn đãi người, tiếng
nhân đức lừng lẫy khắp thiên hạ. Từ già đến trẻ, từ kẻ chăn trâu đến người kiếm
củi, ai cũng biết ông là một bậc anh hùng đời nay. Con ta phò tá người ấy, thật
là xứng đáng. Còn ngươi, tuy là tướng nhà Hán, nhưng thực là giặc nhà Hán, lại
còn dám bảo Huyền Đức là nghịch thần? Ngươi định đẩy con ta bỏ chỗ sáng vào
hang tối, há chẳng biết nhục lắm sao?
Nói xong bà cầm ngay nghiên mực
đá quẳng vào mặt Tào Tháo. Tháo giận lắm, thét võ sĩ lôi Từ mẫu ra chém. Trình
Dục vội can rằng:
- Từ mẫu nói xúc phạm đến thừa tướng,
là cốt để tìm đường chết. Nếu thừa tướng giết đi, không những mang tiếng bất
nghĩa, mà lại đề cao cái đức của Từ mẫu. Mẹ chết rồi, Từ Thứ tất đem hết tài
trí ra giúp Lưu Bị để trả thù. Chi bằng không giết, làm cho Từ Thứ thân ở một
nơi, lòng nghĩ một nơi, dù có giúp Lưu Bị cũng không tận sức. Hơn nữa, để Từ mẫu
sống, Dục sẽ có kế lừa Từ Thứ về đây giúp thừa tướng.
Tháo nghe lời, tha chém Từ mẫu và
đem nuôi nấng ở riêng một nhà. Trình Dục ngày ngày đến thăm hỏi, nói dối là anh
em kết nghĩa với Từ Thứ, ân cần phụng dưỡng chẳng khác mẹ đẻ. Thường thường Dục
đem biếu Từ mẫu thứ nọ thứ kia, lại kèm theo danh thiếp, Từ mẫu cũng gửi thiếp
đáp lại. Dục bắt chước đúng được lối chữ của Từ mẫu, liền viết một bức thư giả,
sai người tâm phúc đem sang Tân Dã, tìm đến hành dinh Đan Phúc.
Quân sĩ dẫn vào gặp Từ Thứ, Thứ
biết tin có thư của mẹ vội gọi vào và hỏi. Người đó thưa:
- Tôi là người hầu ở nhà khách,
vâng lời của lão phu nhân, mang trình ngài một phong thư.
Thứ bóc ra xem. Thư rằng:
“Gần đây, em con đã mất, mẹ
thành tứ cố vô thân. Đang cơn sầu thảm, không ngờ Tào thừa tướng đánh lừa đưa đến
Hứa Xương, nói rằng con theo phản Nguỵ, bắt mẹ giam cầm. May nhờ có bọn Trình Dục,
mẹ mới được an toàn. Nếu con về hàng, mẹ sẽ thoát chết. Nhận được thư này, con
hãy nhớ ơn đức cù lao, gấp rút tới đây cho toàn đạo hiếu. Rồi dần dà sẽ tính việc
về quê cày cấy làm ăn, khỏi mắc tai vạ. Tính mạng mẹ lúc này chẳng khác nghìn
cân treo sợi tóc, chỉ mong chờ cứu viện. Thư chẳng hết lời”.
Từ Thứ xem xong, nước mắt chứa
chan, đem thư vào yết kiến Huyền Đức, nói rằng:
- Tôi vốn người Dĩnh Châu, tên là
Từ Thứ, tự Nguyên Trực, vì lánh nạn phải đổi tên là Đan Phúc. Khi trước, nghe
thấy Cảnh Thăng chiêu hiền nạp sĩ cũng đã đến gặp, nhưng khi bàn việc, mới biết
hắn là đồ vô dụng, nên viết thư từ biệt. Đêm nọ, đến chơi nhà ông Thuỷ Kính, có
kể lại chuyện ấy; Thuỷ Kính trách tôi là người không biết chủ, và nói có Lưu Dự
Châu ở đây, sao không đi theo. Bởi thế, tôi mới đi hát rong ở chợ để động đến
tai sứ quân, nay được sứ quân tin dùng. Không ngờ lão mẫu bị Tào Tháo bày mưu lừa
đến Hứa Xương sắp đem sát hại. Mẹ tôi có viết thư lại gọi, tôi không thể không
về. Không phải tôi không muốn đem tài khuyển mã để báo đáp sứ quân, nhưng vì
thân mẫu bị bắt, không thể làm sao được. Nay xin từ biệt và mong có cơ hội gặp
sứ quân sau.
Huyền Đức nghe nói, khóc rống
lên:
- Tình nghĩa mẹ con là tính trời,
Nguyên Trực đừng có nghĩ ngợi gì đến Bị nữa. Đợi sau khi gặp lão phu nhân rồi,
có thể Bị lại được nghe lời chỉ bảo.
Từ Thứ lạy tạ muốn đi ngay. Huyền
Đức nói:
- Xin hãy sum vầy một đêm, mai sẽ
đi sớm.
Tôn Càn mật bảo Huyền Đức:
- Nguyên Trực là kỳ tài thiên hạ,
lại ở Tân Dã đã lâu, tình hình quân ta thế nào đều biết rõ cả. Nay nếu hắn về với
Tào Tháo tất nhiên được trọng dụng, nguy cho ta lắm. Chúa công phải cố lưu lại
đừng cho đi. Tào Tháo thấy hắn không đến tất đem giết mẹ hắn. Hắn biết mẹ chết,
chắc phải báo thù, sẽ cố sức đánh Tào Tháo.
Huyền Đức nói:
- Không được. Mượn tay người khác
giết mẹ người ta để ta dùng con là bất nhân; giữ người ta lại không cho đi để cắt
đứt cái đạo mẹ con là bất nghĩa. Ta thà chết chứ không khi nào làm những việc bất
nhân bất nghĩa.
Ai nấy đều thán phục.
Huyền Đức mời Thứ uống rượu, Thứ
nói:
- Nay mẹ tôi còn ở trong ngục, dù
nước vàng rượu ngọc cũng không sao trôi vào cổ họng được.
Huyền Đức nói:
- Bị thấy ông sắp đi, như mất cả
tay phải tay trái, dù gan rồng tuỷ phượng, ăn cũng không ngon.
Hai người ngồi nhìn nhau, nước mắt
tầm tã, chờ sáng. Các tướng đã bày tiệc tiễn đưa ở ngoài cõi.
Huyền Đức, Từ Thứ cùng lên ngựa,
hai ngựa sóng đôi ra ngoài thành.
Đến cuối tràng đình, hai người xuống
ngựa từ biệt nhau. Huyền Đức bưng một chén rượu bảo Từ Thứ rằng:
- Bị nay phận mỏng duyên hèn,
không được cùng tiên sinh tụ hội, chúc tiên sinh khéo thờ chủ mới để chóng nên
công danh.
Từ Thứ khóc, nói:
- Tôi tài nhỏ trí mọn, đội ơn sứ
quân trọng dụng, nay chẳng may nửa đường phải từ biệt, chỉ vì mẹ già mà thôi.
Dù Tào Tháo có ép nài tôi cũng thề trọn đời không bày một mưu kế gì cho y cả.
Huyền Đức đáp:
- Tiên sinh ra đi. Bị này cũng sẽ
liệu đường tránh ẩn vào nơi rừng rú.
Thứ nói:
- Tôi sở dĩ muốn cùng sứ quân mưu
đồ nghiệp vương bá, là nhờ ở tấm lòng này. Nay vì việc mẹ già, lòng tôi bối rối,
dù cố gắng ở lại, cũng vô ích. Sứ quân nên cầu người hiền khác cũng toan nghiệp
lớn, việc gì mà đã vội ngã lòng.
Huyền Đức thở dài nói:
- Cao hiền trong thiên hạ, còn có
ai hơn tiên sinh!
Từ Thứ nói:
- Tôi tài trí tầm thường, không
dám nhận lời khen ấy.
Lúc sắp đi, Từ Thứ ngoảnh lại nói
với các tướng:
- Xin các ông hết lòng thờ sứ
quân để tên tuổi ghi vào tre lụa[1], sự nghiệp nêu trong sử xanh, đừng
có như Thứ này là người hữu thuỷ vô chung.
Các tướng ai cũng thương cảm.
Huyền Đức không nỡ chia tay, tiễn
hết cung đường này đến cung đường khác.
Từ Thứ nói:
- Không dám phiền sứ quân đi tiễn
xa quá. Đến đây, Thứ xin cáo biệt.
Huyền Đức ngồi trên ngựa, cầm tay
Từ Thứ nói:
- Tiên sinh chuyến này đi, mỗi
người một phương trời, biết ngày nào lại được gặp nhau?
Nói xong, nước mắt tuôn xuống như
mưa. Thứ cũng khóc rồi cáo biệt.
Huyền Đức dừng ngựa bên rừng,
trông theo Từ Thứ và bọn tuỳ tùng vội vã kéo đi, khóc mà nói:
- Nguyên Trực đi rồi, ta làm thế
nào bây giờ?
Huyền Đức gạt nước mắt trông
theo, lại bị rặng cây trước mặt che khuất bèn lấy roi trỏ vào rừng, nói:
- Ta muốn chặt hết cây cối chỗ
này đi!
Các tướng hỏi vì cớ gì? Huyền Đức
nói:
- Cánh rừng này che khuất Nguyên
Trực của ta.
Huyền Đức đang trông theo, chợt
thấy Từ Thứ cưỡi ngựa quay lại.
Huyền Đức mừng rỡ, nghĩ thầm:
- Nguyên Trực quay lại, có lẽ
không muốn đi chăng?
Liền hớn hở tế ngựa lên trước đón
hỏi:
- Tiên sinh trở lại, hẳn là không
định đi nữa?
Thứ ghìm ngựa nói với Huyền Đức:
- Lúc tôi ra đi, ruột rối bời bời,
quên bẵng đi một việc: Trong vùng này có một bậc kỳ tài ở tại Long Trung, cách
Tương Dương hai mươi dặm, sứ quân nên đến mà tìm.
Huyền Đức nói:
- Dám phiền Nguyên Trực mời giúp
người đó ra cho Bị.
Thứ nói:
- Người đó không thể gọi ra được,
sứ quân phải thân đến mà mời. Nếu được người đó, không khác gì nhà Chu được Lã
Vọng[2] nhà Hán được Trương Lương[3].
Huyền Đức lại hỏi:
- Tài đức người đó so với tiên
sinh thế nào?
Thứ đáp:
- Tôi mà so với người đó, khác
nào ngựa hèn sánh với kỳ lân, quạ đen sánh với phượng hoàng. Người đó thường ví
mình với Quản Trọng[4], Nhạc Nghị[5]. Cứ như ý tôi, Quản,
Nhạc còn kém xa. Người đó có tài ngang trời dọc đất, thiên hạ chắc chỉ có một
không hai.
Lưu Bị mừng, hỏi:
- Xin cho biết tên họ người đó?
Thứ đáp:
- Người ấy quê ở Dương Đô, quận
Lang Nha, họ Gia Cát tên Lượng, tự Khổng Minh; vốn là dòng dõi nhà quan Tư lệ
hiệu uý Gia Cát Phong ngày xưa. Cha tên là Khuê, tự là Tử Cống, nguyên làm quận
thừa ở Thái Sơn, mất sớm. Lượng theo chú là Huyền, Huyền cùng với Lưu Biểu quen
biết nhau, nên đến nương tựa, rồi dựng nhà ở Tương Dương. Đến khi Huyền mất, Lượng
mới cùng em là Gia Cát Quân ra cày cấy, làm ăn ở Nam Dương, thường hay ngâm bài
“Lương phủ ngâm” (Nhạc phủ). Chỗ ở có trái núi Ngoạ Long Cương, nhân thế tự gọi
là Ngoạ Long tiên sinh. Người đó là bậc kỳ tài đệ nhất đời nay. Sứ quân phải chịu
hạ mình đến đó mà gặp. Nếu được ngưòi ấy giúp cho thì lo gì việc thiên hạ không
định xong!
Huyền Đức nói:
- Ngày trước, Thuỷ Kính tiên sinh
đã nói với Bị rằng: “Phục Long, Phượng Sồ chỉ cần được một trong hai người cũng
đủ định thiên hạ”. Nay theo lời ông có phải người ấy là Phục Long hay Phượng Sồ
không?
Thứ nói:
- Phượng Sồ là Bàng Thống ở Tương
Dương, còn Phục Long chính là Gia Cát Khổng Minh đó.
Huyền Đức mừng cuống lên, nói:
- Hôm nay mới hiểu được tiếng Phục
Long, Phượng Sồ. Ngờ đâu đại hiền ở ngay trước mắt, nếu tiên sinh không nói thì
Bị có mắt cũng như mù.
Người đời sau có thơ khen Từ Thứ
ruổi ngựa tiến Gia Cát.
Thơ rằng:
Trên đường từ biệt lệ tuôn đầy
Một lời như sấm mùa xuân dậy
Thúc giục rồng nằm cất cánh bay
Từ Thứ tiến cử Khổng Minh, rồi từ
biệt Huyền Đức quay ngựa đi.
Huyền Đức nghe theo Từ Thứ nói mới
hiểu những lời của Tư Mã Đức Tháo, lúc ấy như tỉnh được giấc ngủ mê, giải được
cơn say rượu. Về đến nhà vội vàng sắm lễ vật rất hậu, cùng Quan, Trương đến Nam
Dương mời Khổng Minh.
Lại nói Từ Thứ từ biệt Huyền Đức,
cảm tình lưu luyến, lại sợ Khổng Minh không chịu ra giúp, nên đi thẳng đến Ngoạ
Long Cương, vào lều tranh gặp Khổng Minh. Khổng Minh hỏi đến làm gì. Thứ nói:
- Thứ muốn hết lòng thờ Lưu Dự
Châu, chẳng may, mẹ già bị Tào Tháo bắt giam, đưa thư đến gọi, nên phải bỏ mà
đi. Lúc chia tay, tôi có tiến cử tiên sinh. Thế nào nay mai Huyền Đức cũng đến
đây yết kiến, mong tiên sinh đừng từ chối, hãy trổ hết đại tài ra giúp Huyền Đức,
Thứ cũng được cảm tạ muôn phần.
Khổng Minh nghe nói, ra vẻ giận,
nói:
- Thế ra ngươi coi ta như là vật
dùng để cúng tế có phải không?
Nói xong, rũ vạt áo đi vào.
Từ Thứ bẽn lẽn đi ra, lên ngựa ruổi
thẳng đến Hứa Xương gặp mẹ.
Ngàn dặm thăm nhà, bởi nhớ thân
Chưa biết việc sau thế nào, xem đến
hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Đời xưa chưa có giấy, thường ghi tên tuổi những người
có công đức vào mảnh tre hay vuông lụa.
- ▲ Lã Vọng: tướng tài thời Tây Chu, giúp Chu Vũ
vương diệt nhà Thương.
- ▲ Trương Lương: mưu sĩ nhà Hán.
- ▲ Quản Trọng: nhà chính trị nước Tề, thời Xuân
thu.
- ▲ Nhạc Nghị: thượng tướng quân nước Yên, thời Chiến
quốc.
---------------------------------------------------------
Tư Mã Huy hai lần tiến cử danh sĩ
Lưu Huyền Đức ba lượt đến tận lều tranh
Lại nói, Từ Thứ đi gấp đến Hứa
Xương, Tào Tháo được tin, sai ngay Tuân Úc, Trình Dục và một bọn mưu sĩ ra đón.
Thứ vào tướng phủ yết kiến Tào
Tháo. Tháo hỏi:
- Ông là người cao minh, cớ sao lại
hạ mình thờ Lưu Bị?
Thứ nói:
- Tôi từ thuở nhỏ trốn nạn, lưu lạc
giang hồ; ngẫu nhiên đến Tân Dã, bèn kết bạn với Huyền Đức. Lão mẫu ở đây, được
săn sóc chu đáo, tôi cảm tạ vô cùng.
Tháo nói:
- Nay ông về đây, được sớm tối hầu
hạ mẫu thân và tôi cũng được nghe lời dạy bảo.
Thứ lạy tạ trở ra, vội đến gặp mẹ,
khóc lóc quỳ lạy dưới thềm. Từ mẫu thất kinh hỏi:
- Mày đâm đầu vào chốn này làm
gì?
Thứ đáp:
- Gần đây, con ở Tân Dã, thờ ông
Lưu Dự Châu vừa rồi tiếp được thư của mẹ, nên cấp tốc phải đến đây.
Từ mẫu giận quá, đập tay xuống
bàn, mắng rằng:
- Đồ nhơ nhuốc kia! Mày trôi dạt
mấy năm nay, tao tưởng học hành cũng đã khá, ai ngờ mày lại còn ngu thế! Mày đã
đọc sách, nên biết trung hiếu không thể vẹn được cả đôi. Mày há lại không biết
Tào Tháo là tên giặc dối trên lừa dưới à? Còn Lưu Huyền Đức nhân nghĩa lan rộng
bốn bể, lại là dòng dõi nhà Hán, mày đã đi theo, chính là tìm được chủ rồi. Nay
chỉ tin một mảnh thư giả, không suy xét kỹ càng, vội bỏ chỗ sáng đâm đầu vào
hang tối, rước lấy tiếng xấu. Thật là đồ ngu! Tao còn mặt mũi nào trông thấy
mày nữa! Thật mày bôi nhọ tổ tông, sống thừa trong khoảng trời đất vậy!
Từ Thứ nghe mẹ mắng đến nỗi cứ nằm
rạp xuống đất không dám ngẩng mặt lên nữa.
Từ mẫu liền trở vào sau bình
phong. Được một lát, người nhà ra báo rằng lão bà đã treo cổ tự tử ở xà nhà.
Từ Thứ vội chạy vào cứu, thì Từ mẫu
đã tắt thở rồi.
Người sau có thơ khen Từ mẫu rằng:
Tiếng thơm nghìn thuở!
Thủ tiết vẹn toàn
Tề gia đầy đủ
Dạy con phải đường
Đành mình chịu tội
Khí ngất núi non
Nghĩa đầy gan phổi
Trách mắng Tào Man
Vạc nấu chẳng ngại
Gươm chém không sờn
Chỉ sợ con mình
Bôi nhọ tổ tiên
So bà chặt khung [1]
Sánh bà đâm cổ [2]
Sống được tiếng hay
Chết vừa đúng chỗ
Hiền thay Từ mẫu!
Tiếng thơm nghìn thuở!
Từ Thứ thấy mẹ chết, khóc ngất
đi, giờ lâu mới tỉnh. Tào Tháo sai người đem lễ phúng đến, lại thân đến viếng.
Từ Thứ đem linh cữu mẹ táng ở gò
phía nam Hứa Xương, cư tang giữ mộ. Tháo cho cái gì cũng không lấy.
Khi ấy Tào Tháo muốn bàn mưu đi
đánh miền nam, Tuân Úc can rằng:
- Mùa rét, chưa nên cất quân, đợi
sang xuân ấm áp sẽ hay.
Tháo nghe theo, bèn sai khơi một
cái ngòi dẫn nước sông Chương Hà vào một cái ao, gọi là ao Huyền Vũ để luyện tập
quân thuỷ, chuẩn bị nam chinh.
Lại nói Huyền Đức sắp sửa mang lễ
vật sang Long Trung cầu Gia Cát Lượng, chợt có người báo rằng:
- Ngoài cửa có một tiên sinh mũ
cao áo rộng, đạo mạo khác thường, muốn vào thăm.
Huyền Đức nói:
- Có lẽ Khổng Minh chăng?
Lập tức, mặc áo nghiêm chỉnh ra
đón tiếp, nhìn xem thì đó là Tư Mã Huy, Huyền Đức mừng lắm, mời vào nhà trong,
rước lên ngồi trên, rồi vái mà hỏi rằng:
- Bị từ khi xa tiên nhân, vì việc
quân bận rộn lắm, chưa đến hầu được. Nay được ngài hạ cố đến đây, thật thoả
lòng mong ước.
Huy nói:
- Tôi nghe Từ Nguyên Trực ở đây,
nên lại thăm một chút.
Huyền Đức nói:
- Gần đây, vì bị giặc Tháo bắt
giam mẹ già, lão bà có sai người mang thư sang đây gọi nên Nguyên Trực đã về Hứa
Xương rồi.
Huy nói:
- Thôi, mắc mẹo Tào Tháo rồi! Tôi
đã biết Từ mẫu là người rất trọng khí tiết; dù Tào Tháo có giam cầm bà ấy cũng
không khi nào chịu viết thư gọi con. Thư ấy đúng là thư giả. Nguyên Trực không
về thì mẹ còn sống, nay về rồi thì mẹ chắc chết.
Huyền Đức thất kinh hỏi cớ làm
sao?
Huy đáp:
- Từ mẫu cao nghĩa lắm, tất hổ thẹn
không muốn trông mặt con nữa.
Huyền Đức nói:
- Lúc chia tay, Nguyên Trực có tiến
cử người ở Nam Dương là Gia Cát Lượng. Người đó thế nào?
Huy cười nói:
- Nguyên Trực muốn đi thì cứ đi,
lại còn dắt người đó ra để làm khổ người ta.
Huyền Đức hỏi:
- Sao tiên sinh lại nói thế?
Huy nói:
- Khổng Minh cùng với Thôi Châu
Bình ở Bác Lăng, Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Xuyên, Mạnh Công Uy và Từ Nguyên Trực
ở Nhữ Nam, bốn người kết bạn thân với nhau. Mấy người kia học hành rất chăm,
duy có Khổng Minh chỉ xem những đoạn cốt yếu, thường ngồi rung đùi ngâm vịnh, rồi
trỏ vào bốn người mà nói: “Các anh rồi làm quan, chỉ làm đến thứ sử, quận thú
là cùng”. Họ hỏi chí Khổng Minh thế nào, Khổng Minh chỉ cười không nói, thường
tự ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị ngày xưa. Tài người đó không thể nào lường
được.
Huyền Đức nói:
- Sao Dĩnh Châu lắm người hiền thế?
Huy nói:
- Ngày xưa, có An Quy tài xem
thiên văn, thường nói rằng: “Các vì sao tụ trên không phận đất Dĩnh”, tất đất
này lắm người hiền sĩ.
Lúc ấy Vân Trường đứng bên cạnh
nói:
- Tôi nghe Quản Trọng, Nhạc Nghị
là hai người có tiếng ở đời Xuân thu và đời Chiến quốc, sự nghiệp lừng lẫy
thiên hạ. Khổng Minh tự so sánh với hai người ấy, chẳng phải là nói quá hay
sao?
Huy cười, nói rằng:
- Cứ ý tôi thì hai người ấy vị tất
đã đáng so sánh với Khổng Minh. Tôi muốn so sánh Khổng Minh với hai người khác.
Quan Công hỏi hai người nào, Huy
nói:
- Khổng Minh có thể so sánh với
Khương Tử Nha làm nên cơ nghiệp tám trăm năm của nhà Chu và Trương Tử Phòng làm
nên cơ nghiệp bốn trăm năm của nhà Hán.
Ai cũng ngạc nhiên. Huy bước xuống
thềm từ biệt ra về, Huyền Đức lưu lại không được. Huy ra khỏi cửa, ngẩng mặt
lên trời cười to rằng:
- Ngoạ Long tuy gặp chủ, nhưng
không gặp thời, tiếc lắm thay!
Nói rồi, Huy thong dong đi thẳng.
Huyền Đức than rằng:
- Thế mới thật là hiền sĩ ẩn dật!
Hôm sau, Huyền Đức cùng với Quan,
Trương và bọn tuỳ tùng đến Long Trung, nhìn về phía xa xa đã thấy mấy người
đương cày bừa ở sườn núi, miệng hát rằng:
Đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông
Người đời đen trắng đôi phường
Kẻ đi người lại tranh đường nhục vinh
Kẻ vinh chỉ biết mình sung sướng
Người nhục kia vất vưởng vất vơ
Nam Dương có bậc ẩn cư
Nằm co ngủ kỹ thờ ơ việc đời
Huyền Đức nghe hát, kìm ngựa gọi
mấy người nông phu lại hỏi:
- Ai làm ra bài ca ấy?
Nông phu đáp:
- Bài ca ấy của Ngoạ Long tiên
sinh làm ra.
Huyền Đức hỏi:
- Nhà Ngoạ Long tiên sinh ở đâu?
Nông phu đáp:
- Ở mé nam núi này, có một dãy gò
cao, gọi là gò Ngoạ Long. Trước gò, trong quãng rừng thưa, có một cái lều
tranh, đấy là nhà Gia Cát tiên sinh.
Huyền Đức cảm ơn, giật ngựa đi
lên. Đi chưa được vài dặm, xa xa đã thấy gò Ngoạ Long, quả nhiên phong cảnh
khác thường.
Đời sau đã có một bài cổ phong
nói về chỗ ở của Ngoạ Long như sau:
Một dãy gò cao, suối lượn quanh…
Nước chảy ầm ầm phơi đá trắng
Gò cao chót vót ngất mây xanh.
Hình như rồng cuốn trên tảng đá
Phượng hoàng đậu dưới bóng thông ngả
Cửa phên khép cánh kín nhà tranh
Cao sĩ nằm khàn bền vững dạ.
Bình phong: dãy trúc um tùm lá
Bốn mùa hoa rụng nức mùi hương
Đầu giường chồng chất nhiều sách lạ
Trong nhà lui tới không người thường.
Vượn kia dâng quả gõ cửa ngoài
Hạc kia đêm thanh nghe đọc sách
Túi đàn thêu gấm gác đầu bàn
Thanh kiếm vảy rồng treo trước vách.
Tiên sinh trong lầu rất thanh nhàn
Khi nhân cày cấy cũng không can
Chỉ đợi sấm xuân tỉnh giấc mộng
Gọi to một tiếng thiên hạ an.
Huyền Đức đến trước trại xuống ngựa,
đến gõ cửa. Có tiểu đồng ra hỏi. Huyền Đức nói:
- Tôi là hoàng thúc Lưu Bị, Hán tả
tướng quân, Nghi thành đình hầu, châu mục Dự Châu, lại đây bái kiến tiên sinh.
Tiểu đồng nói:
- Tên ông dài lắm, tôi không nhớ
được.
Huyền Đức nói:
- Em cứ vào nói có Lưu Bị lại hầu.
Tiểu đồng nói:
- Tiên sinh sớm hôm nay vừa đi
chơi vắng.
Huyền Đức hỏi:
- Đi chơi đâu?
Tiểu đồng đáp:
- Tiên sinh tôi nay đây mai đó,
không biết đi đâu.
Huyền Đức lại hỏi:
- Bao giờ tiên sinh về?
Tiểu đồng nói:
- Khi thì dăm ba bữa, khi thì
mươi mười hai hôm, không biết chừng.
Huyền Đức lấy làm buồn rầu.
Trương Phi nói:
- Hắn không có nhà thì về quách
cho xong!
Huyền Đức nói:
- Hãy đợi một lát nữa.
Vân Trường nói:
- Không bằng hãy về, rồi sai người
lại nghe tin tức.
Huyền Đức nghe theo và dặn lại em
bé:
- Bao giờ tiên sinh về, em trình
hộ rằng có Lưu Bị lại hầu nhé.
Nói rồi, lên ngựa đi được vài dặm,
ngoảnh lại xem phong cảnh Long Trung, quả nhiên núi không cao nhưng thanh nhã,
nước không sâu mà trong suốt, đất không rộng nhưng bằng phẳng, rừng không lớn
nhưng rậm rạp. Vượn hạc quấn quýt, thông trúc um tùm, ngắm mãi không chán. Chợt
thấy một người dung mạo hiên ngang, mặt mũi tuấn tú, đầu đội khăn tiêu diêu[3],
mình bận áo thâm rộng, tay chống gậy gỗ lê, đương ở hẻm núi đi ra.
Huyền Đức nói:
- Đúng Ngoạ Long tiên sinh kia rồi!
Rồi vội vàng xuống ngựa bước tới
thi lễ, hỏi rằng:
- Tiên sinh có phải là Ngoạ Long
không?
Người ấy hỏi lại:
- Tướng quân là ai?
Huyền Đức đáp:
- Tôi là Lưu Bị.
Người đó nói:
- Tôi là bạn Khổng Minh, tên là
Thôi Châu Bình ở Bác Lăng, không phải Khổng Minh đâu.
Huyền Đức nói:
- Tôi được biết đại danh của ngài
đã lâu, nay may được gặp, xin ngài tạm dừng chân ở đây, dạy cho một vài điều.
Hai người lại ngồi trên phiến đá
trong rừng. Quan, Trương đứng hầu bên cạnh. Châu Bình hỏi:
- Tướng quân muốn tìm Khổng Minh
làm gì?
Huyền Đức đáp:
- Bây giờ thiên hạ loạn lạc, bốn
phương rối ren, tôi muốn gặp Khổng Minh để tìm kế yên dân định nước.
Châu Bình cười, nói:
- Ông lấy việc dẹp loạn làm chủ yếu,
thế cũng là nhân đức rồi. Nhưng từ xưa đến nay, khi yên khi loạn bất thường. Từ
khi Cao tổ chém rắn khởi nghĩa, trừ được nhà Tần vô đạo, thế là hết đời loạn
sang đời thái bình. Đến đời vua Ai đế, Bình đế nhà Hán đã được hơn hai trăm
năm, thái bình lâu rồi, Vương Mãng thoán nghịch, thế là hết đời trị lại đến đời
loạn. Về sau vua Quang Vũ trung hưng, sửa sang cơ nghiệp, thế là lại hết đời loạn
sang đời trị đó. Từ bấy giờ đến nay được hai trăm năm rồi, dân hưởng thái bình
đã lâu thì can qua bùng nổ, đây chính là thời kỳ từ yên đến loạn, chưa dễ bình
định ngay được. Tướng quân muốn khiến Khổng Minh chuyển xoay trời đất, chắp vá
càn khôn, tôi e khó lắm, chỉ uổng hơi sức mà thôi. Tướng quân chẳng nghe người
ta nói: “Thuận trời thì an nhàn, trái trời thì vất vả”, “Số đã định, thì không
chống lại được” hay sao?
Huyền Đức nói:
- Tiên sinh dạy thế thực là cao
kiến, nhưng tôi là dòng dõi nhà Hán, phải ra tay gây dựng lại cơ nghiệp, dám
đâu đổ cho số với mệnh.
Châu Bình nói:
- Tôi là người quê mùa, biết gì
mà dám bàn đến việc thiên hạ. Bởi thấy ngài hỏi đến, nên cũng nói càn thế thôi.
Huyền Đức đáp:
- Cảm ơn ngài dạy cho. Nhưng
không biết hôm nay Khổng Minh đi đâu?
Châu Bình đáp:
- Tôi cũng muốn vào thăm mà không
biết đi đâu.
Huyền Đức nói:
- Xin mời tiên sinh về huyện chơi
có được không?
Châu Bình nói:
- Tính tôi ưa đi chơi dông dài,
thờ ơ với công danh đã lâu, xin để cho khi khác sẽ gặp lại nhau.
Nói xong, vái rồi đi.
Huyền Đức cùng Quan, Trương lên
ngựa trở về. Trương Phi nói:
- Tìm Khổng Minh đã chẳng thấy, lại
gặp ngay cái anh hủ nho này, chuyện hão lâu quá!
Huyền Đức nói:
- Đấy cũng là những lời của bậc ẩn
dật đó.
Ba người về đến Tân Dã. Được vài
ngày, Huyền Đức sai người đi thăm dò xem Khổng Minh đã về chưa. Một hôm, người
thăm dò về báo Ngoạ Long tiên sinh đã về. Huyền Đức sai ngay người thắng ngựa.
Trương Phi nói:
- Khổng Minh chỉ là một tên thôn
phu quèn, hà tất đại ca phải thân đến. Cứ sai người đi gọi cũng được.
Huyền Đức mắng rằng:
- Em há không nhớ lời Mạnh Tử
nói: “Muốn cầu người hiền mà không biết đạo, khác gì muốn cho người ta vào nhà
mình mà lại đi đóng cửa lại”. Khổng Minh là bậc đại hiền thời nay, cho đi gọi
sao được?
Bèn lại lên ngựa đến Long Trung.
Quan, Trương cũng đi theo.
Bấy giờ, đang thời tiết mùa đông,
khí trời rét buốt, mây xám nghịt trời. Ba người đi chưa được vài dặm, bỗng
nhiên trời nổi cơn gió bấc, tuyết bay phơi phới, núi tựa ngọc gieo, rừng như bạc
rắc.
Trương Phi nói:
- Giời rét, đất đóng băng, đánh
nhau còn chẳng được, lại phải lận đận đi cầu người vô ích làm chi! Không bằng
trở về Tân Dã, tội gì mà dầm mưa dãi tuyết thế này!
Huyền Đức nói:
- Chính ta muốn làm cho Khổng
Minh biết đến lòng nhiệt thành của ta. Các em có sợ rét thì hãy về trước.
Phi nói:
- Chết còn chẳng ngại, ngại chi
rét! Chỉ sợ đại huynh vất vả uổng công thôi!
Huyền Đức nói:
- Em chớ nói nhiều lời, hãy theo
ta đi!
Gần đến nhà tranh, chợt nghe thấy
tiếng ca trong một quán rượu bên cạnh đường. Huyền Đức dừng ngựa lại nghe, lời
ca rằng:
Than ôi, lâu chẳng gặp ngày dương xuân!
Ngươi chẳng thấy lão nhân Đông Hải
Lìa bụi gai theo với vua Văn
Chư hầu bát bách lai thần
Gặp điềm cá trắng Mạnh Tân sang đò.
Mục Xã một trận đánh to
Công danh lừng lẫy ai so được tày?
Cao Dương lại có thầy hay rượu
Vái Cao hoàng theo điệu làm tôi
Bàn mưu vương bá kỳ tài
Lọt tai cũng phải mời ai lên ngồi
Thành Tề, hạ bảy mươi hai
Thế gian há dễ mấy ai nối mình?
Hai người công tích rành rành
Đến nay ai bảo là anh hùng nào?
Một người hát xong, người khác lại
tiếp luôn.
Lời ca rằng:
Gây cơ đồ Hán bốn trăm năm,
Đời Hoàn, Linh vận lửa tắt ngấm,
Gian thần tặc tử tay cầm quyền to.
Chốn ngự toạ rắn bò điềm gở,
Nơi ngọc đường cầu mộng yêu ma,
Bốn phương trộm giặc đổ ra,
Gian hùng lũ lượt theo đà múa may.
Chúng ta chỉ vỗ tay nói tếu,
Buồn ra hàng chén rượu cho vui.
Một mình sung sướng thảnh thơi,
Chẳng cầu tiếng để muôn đời làm chi!
Hai người hát xong, vỗ tay cười ầm
lên. Huyền Đức nói:
- Có lẽ Ngoạ Long ở trong này.
Liền xuống ngựa bước vào, thấy
hai người đương dựa bàn, đối nhau uống rượu; một người mặt trắng râu dài, một
người mặt mũi khôi ngô. Huyền Đức vái, rồi hỏi:
- Thưa hai ông, ông nào là Ngoạ
Long tiên sinh?
Người râu dài hỏi lại:
- Ông là ai, tìm Ngoạ Long làm
gì?
Huyền Đức đáp:
- Thưa tôi là Lưu Bị, muốn tìm
tiên sinh để cầu mưu giúp đời yên dân.
Người râu dài nói:
- Chúng tôi không phải là Ngoạ
Long mà là bạn Ngoạ Long đấy thôi. Tôi là Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Châu; ông
này là Mạnh Công Thành ở Nhữ Nam.
Huyền Đức mừng, nói:
- Tôi được biết đại danh của hai
tiên sinh đã lâu, nay được bái yết, thực là may quá. Nhân tôi có mang theo cả
ngựa, xin mời hai tiên sinh cùng đến nhà Ngoạ Long với tôi.
Quảng Nguyên nói:
- Chúng tôi là bọn quê mùa, chẳng
biết đâu đến những việc trị nước yên dân, xin đừng bận lòng hỏi chúng tôi những
việc ấy. Mời ông cứ lên ngựa đi tìm Ngoạ Long.
Huyền Đức từ giã hai người rồi
lên ngựa đi thẳng đến Ngoạ Long Cương. Tới trước nhà, gõ cửa, hỏi tiểu đồng:
- Hôm nay, tiên sinh có nhà
không?
Tiểu đồng đáp:
- Đang ngồi trên nhà xem sách.
Huyền Đức mừng lắm, theo ngay tiểu
đồng đi vào. Đến cửa giữa, nhìn thấy câu đối:
Ninh tĩnh nhi chí viễn.[4]
Huyền Đức đương xem câu đối, lại
nghe có tiếng ngâm thơ, vội vàng đứng nép bên cạnh cửa nhòm vào thấy trên nhà
tranh, có một thanh niên ngồi ôm gối, sưởi cạnh hoả lò mà hát rằng:
Sĩ ẩn mình, phi minh chủ không thờ.
Nông thôn vui thú cày bừa,
Thảnh thơi đàn sách đợi cơ chuyển vần.
Huyền Đức đợi hát xong mới bước
lên thềm vái chào, nói:
- Bị lâu nay hâm mộ tiên sinh,
chưa được dịp nào bái kiến. Mới đây được Từ Nguyên Trực tiến cử, vội đến tiên
trang; rủi phải về không; nay xông pha mưa gió đến đây, được chiêm ngưỡng tôn
nhan, thật may mắn quá!
Người thanh niên vội đáp lễ, nói:
- Tướng quân có phải là Lưu Dự
Châu đến tìm anh tôi không?
Huyền Đức ngẩn người, hỏi rằng:
- Thế ra tiên sinh cũng không phải
Ngoạ Long sao?
Người thanh niên đáp:
- Tôi là Gia Cát Quân em Ngoạ
Long; chúng tôi ba anh em; anh cả là Gia Cát Cẩn, hiện đương làm mạc tân bên
Tôn Trọng Mưu ở Giang Đông; Khổng Minh là anh thứ hai tôi.
Huyền Đức hỏi:
- Ngoạ Long hôm nay có nhà không?
Quân đáp:
- Hôm qua vừa có Thôi Châu Bình đến
rủ đi chơi rồi.
Huyền Đức hỏi đi chơi đâu, Quân
nói:
- Khi thì bơi chiếc thuyền nhỏ
chu du trên sông; khi thì thăm hỏi các nhà sư trên núi; khi thì tìm anh em bạn ở
chốn hương thôn; khi thì vui gảy đàn, đánh cờ trong hang núi. Anh tôi đi, ở bất
thường không biết đâu mà tìm.
Huyền Đức nói:
- Tôi thực là duyên mỏng phận
hèn, hai phen đi đều không được gặp đại hiền!
Quân nói:
- Mời ngài hãy thư thả ngồi chơi
xơi nước.
Trương Phi nói:
- Tiên sinh ấy đã đi vắng, xin đại
huynh lên ngựa về thôi.
Huyền Đức nói:
- Ta đã cất công đến đây, chẳng lẽ
không bày tỏ một đôi lời.
Lại hỏi Gia Cát Quân:
- Tôi nghe nói lệnh huynh Ngoạ
Long tiên sinh tinh thông thao lược, mài miệt binh thư có phải không?
Quân nói:
- Tôi không được biết.
Trương Phi nói:
- Hỏi người ta làm gì! Mưa to gió
lớn, đại huynh đi về cho sớm!
Huyền Đức mắng át đi. Quân nói:
- Anh tôi đi vắng, không dám lưu
ngựa xe ở lại lâu, xin để khi khác đáp lễ.
Huyền Đức nói:
- Tôi đâu dám mong tiên sinh hạ cố.
Vài hôm nữa Bị sẽ đến hầu. Hôm nay nhân đây, xin tiên sinh cho mượn bút giấy,
tôi viết bức thư để lại, nhờ chuyển đến lệnh huynh, để tỏ ý ân cần của tôi.
Quân đưa bút mực ra. Huyền Đức viết
một bức thư như sau:
“Bị tôi lâu nay hâm mộ cao
danh, đã hai lần đến yết kiến đều không được gặp phải trở về, ân hận vô cùng.
Tôi trộm nghĩ mình là dòng dõi
nhà Hán, lạm hưởng danh tước, mà nay trông thấy triều đình suy sụp, kỷ cương rối
ren, gian hùng loạn nước, giúp dân, nhưng kém tài kinh luân, cho nên mong ngóng
tiên sinh mở lòng nhân từ trung nghĩa, đứng ra trổ hết tài lớn của Lã Vọng, thi
thố hết kế lạ của Tử Phòng, thì thiên hạ may lắm! Xã tắc may lắm!
Nay trước có mấy lời bày tỏ với
tiên sinh, Bị xin về tắm gội ăn chay, đến bái tôn nhan một lần nữa, để giãi
lòng quê kệch, xin tiên sinh soi xét cho”.
Huyền Đức viết thư xong, đưa gửi
Gia Cát Quân rồi từ biệt ra về. Quân tiễn ra tận cửa; Huyền Đức còn ân cần, dặn
đi dặn lại đôi ba lần.
Huyền Đức vừa lên ngựa sắp đi,
thì thấy tiểu đồng đứng ngoài bờ rào vẫy tay nói:
- Lão tiên sinh đã đến!
Lưu Bị nhìn ra thấy bên phía tây
chiếc cầu nhỏ, có một người đội mũ ấm trùm đầu, mặc áo hồ cừu, cưỡi con lừa,
theo sau một tiểu đồng mặc áo xanh đi hầu, tay xách một bầu rượu, đương rẽ tuyết
đi lại, qua cái cầu nhỏ đang ngâm một bài thơ:
Muôn dặm mây đỏ ối
Bời bời hoa tuyết bay
Nước non hình sắc đổi
Ngẩng mặt trông trên trời
Tưởng là rồng ngọc chọi
Vây mai tua tủa bay
Một lát khắp bốn cõi
Cưỡi lừa qua cầu con
Than vì mai gầy cỗi
Huyền Đức nghe ngâm xong, nói rằng:
- Đây hẳn là Ngoạ Long rồi!
Rồi nhảy xuống ngựa, bước tới
chào, nói:
- Tiên sinh xông pha rét mướt, nhọc
mệt lắm nhỉ? Bị này đợi mãi tiên sinh.
Người ấy vội xuống lừa, đáp lễ.
Gia Cát Quân ở đằng sau nói:
- Đây là Hoàng Thừa Ngạn, ông nhạc
anh tôi đó, không phải Ngoạ Long đâu.
Huyền Đức nói:
- Vừa rồi nghe câu thơ ngài ngâm
rất cao nhã.
Thừa Ngạn nói:
- Nhân lão phu xem bài “Lương phủ
ngâm” ở nhà con rể có nhớ được một đoạn. Nay qua cầu nhỏ, chợt thấy cây hoa mai
bên rào, nên sực nhớ lại đọc chơi, không ngờ quý khách nghe thấy.
Huyền Đức nói:
- Ngài đã gặp lệnh tế chưa?
Thừa Ngạn đáp:
- Lão cũng đương đến tìm Ngoạ
Long đây.
Huyền Đức nghe xong, từ biệt
Hoàng Thừa Ngạn, rồi cưỡi ngựa về. Đang cơn mưa tuyết dữ dội, Huyền Đức vừa đi
vừa ngoảnh lại ngắm gò Ngoạ Long, buồn rầu không biết ngần nào.
Đời sau có thơ vịnh cảnh đương
cơn mưa tuyết, Huyền Đức đến thăm Khổng Minh rằng:
Lững thững về suông dạ cảm hoài
Chi chít khe cầu hoa tuyết đóng
Lạnh lùng yên ngựa dặm đường dài
Chạm đầu lả tả hoa lê rụng
Vướng mặt tơi bời hoa liễu rơi
Ngoảnh cổ dừng roi nhìn chốn cũ
Chói loà ánh bạc Ngoạ Long phơi
Từ khi Huyền Đức về Tân Dã, ngày
tháng thấm thoát đã sang xuân mới, liền sai người đem cỏ thi ra bói, kén chọn
ngày tốt, ăn chay ở sạch ba ngày, tắm gội hun hương, thay quần đổi áo, rồi sang
gò Ngoạ Long yết Khổng Minh.
Quan, Trương được tin cũng phát
chán, kéo nhau vào can. Thế là:
Khiêm tốn làm cho hào kiệt nghi
Chưa biết chuyện ra sao, xem hồi
sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Mẹ Mạnh Tử.
- ▲ Mẹ Vương Lăng.
- ▲ Như ta chít khăn đầu rìu.
- ▲ Thanh đạm để sáng chí,
----------------------------------------------------------------
Long Trung quyết kế thiên hạ chia ba
Tôn thị báo thù, Trường Giang đại chiến
Lại nói, Huyền Đức hai lần đi
không được gặp Khổng Minh, lại định đi lần nữa.
Quan Công nói:
- Huynh trưởng đã hai lần thân đến
nhà bái yết, lễ nghi như vậy là quá hậu rồi. Có lẽ Gia Cát Lượng cũng chỉ có hư
danh, không có thực tài nên mới tránh mặt không cho gặp đấy thôi. Sao huynh trưởng
quá sùng bái người ấy làm vậy?
Huyền Đức nói:
- Không phải thế đâu. Ngày xưa Tề
Hoàn công muốn đi cầu một người quê mùa ở Đông Quách, năm lần đi mới được gặp,
huống chi ta muốn cầu một bậc đại hiền?
Trương Phi nói:
- Đại huynh nhầm đó, gã nhà quê
đó sao gọi là đại hiền được? Thôi, chuyến này không cần đại huynh đi nữa. Nếu hắn
không đến, em sẽ lấy thừng trói điệu về đây là ổn chuyện.
Huyền Đức mắng:
- Chú không nhớ việc Văn vương
ngày xưa đi cầu Khương Tử Nha, Văn vương còn kính người hiền như thế nào à! Chú
sao vô lễ quá vậy? Lần này chú đừng đi nữa, để ta đi cùng Vân Trường thôi.
Phi nói:
- Hai anh đều đi cả, tiểu đệ ở
nhà làm gì?
Huyền Đức nói:
- Nếu muốn đi thì không được thất
lễ!
Phi vâng theo.
Nói rồi, ba người cưỡi ngựa cùng
bọn tuỳ tùng đến Long Trung. Còn cách lều tranh độ nửa dặm, Huyền Đức xuống ngựa
đi bộ. Gặp Gia Cát Quân, Huyền Đức vội vàng thi lễ, hỏi:
- Lệnh huynh hôm nay có nhà
không?
Quân đáp:
- Anh tôi mới về chiều qua, tướng
quân đến hôm nay thì gặp.
Nói rồi, ung dung đi ra.
Huyền Đức nói:
- Phen này may được gặp tiên sinh
đây!
Trương Phi nói:
- Người này mới vô lễ chứ! Dẫn
luôn bọn ta vào nhà thì đã mất gì, sao cứ cắm đầu đi thẳng?
Huyền Đức nói:
- Ai có việc người nấy, bắt buộc
người ta sao được?
Ba người lại đi, đến trước nhà gõ
cửa; tiểu đồng ra mở cửa, nói:
- Tiên sinh hôm nay có nhà, nhưng
đương ngủ.
Huyền Đức nói:
- Đã vậy, xin đừng báo tin vội.
Rồi dặn Quan, Trương hãy đứng chực
ngoài ngõ, Huyền Đức rón rén đi vào, thấy Khổng Minh đương nằm ngủ trên ghế.
Huyền Đức bèn chắp tay đứng chực dưới thềm. Được một lúc lâu, Khổng Minh vẫn
chưa dậy.
Quan, Trương đứng đợi ngoài ngõ
mãi, chẳng thấy động tĩnh gì, mới lẻn vào xem, thì thấy Huyền Đức vẫn chắp tay
đứng hầu.
Trương Phi giận lắm, bảo Vân Trường
rằng:
- Lão tiên sinh này sao kiêu kỳ lắm
thế? Thấy anh ta đứng thế kia, nó càng giả vờ ngủ khì không dậy! Để em ra sau
nhà cho một mồi lửa, xem nó có phải dậy không?
Vân Trừơng can mãi Trương Phi mới
thôi. Huyền Đức bắt hai người phải ra ngoài đứng đợi, rồi trông vào trong nhà,
thấy Khổng Minh giở mình, nhưng rồi lại quay mặt vào vách tường ngủ yên.
Tiểu đồng toan lại đánh thức, Huyền
Đức bảo:
- Chớ nên đánh thức vội!
Rồi lại đứng đợi một lúc nữa, Khổng
Minh mới tỉnh giấc, miệng ngâm bài thơ rằng:
Bình sinh ta biết ta!
Thềm tranh giấc xuân đẫy
Ngoài song bóng ác tà…
Ngâm xong, Khổng Minh mới quay ra
hỏi tiểu đồng rằng:
- Có tục khách nào đến đây không?
Tiểu đồng thưa:
- Có Lưu hoàng thúc đứng đợi đây
đã lâu lắm.
Khổng Minh liền vùng dậy nói:
- Sao không báo tin ngay! Để ta dậy
thay áo đã!
Rồi đi vào nhà trong, một lúc mới
mặc áo đội khăn chỉnh tề ra tiếp.
Huyền Đức thấy Khổng Minh mình
cao tám thước, mặt đẹp như ngọc, đầu đội khăn lượt, mình mặc áo cánh hạc, hình
dáng thanh thoát như tiên.
Huyền Đức lạy thụp xuống đất nói
rằng:
- Tôi là kẻ ngu hèn, dòng dõi nhà
Hán, quê ở quận Trác, lâu nay được nghe tiếng lớn tiên sinh, như sấm bên tai;
đã hai lần đến hầu, đều chưa được gặp. Tôi có viết bức thư nhờ đệ tới, không biết
đã được tiên sinh xem đến chưa?
Khổng Minh nói:
- Tôi là một người quê mùa ở Nam
Dương, tính quen lười biếng, mấy lần đội ơn tướng quân có lòng hạ cố, tự nghĩ
thấy hổ thẹn vô cùng.
Hai người chào lễ nhau xong, bèn
phân ngôi chủ khách ngồi chơi. Tiểu đồng bưng trà lên. Uống xong, Khổng Minh
nói:
- Tôi xem bức thư tướng quân, biết
là lòng tướng quân đêm ngày lo việc dân việc nước. Nhưng vì Lượng này tuổi còn
trẻ, tài còn kém, chưa đáp được lòng mong mỏi của ngài.
Huyền Đức nói:
- Không có lẽ những lời của Tư Mã
Đức Tháo và Từ Nguyên Trực đều lầm cả hay sao? Mong tiên sinh đừng chê kẻ ngu
hèn này mà dạy bảo cho.
Khổng Minh nói:
- Đức Tháo, Nguyên Trực thực là
cao sĩ trong đời. Lượng này là một kẻ đi cày, dám đâu bàn việc thiên hạ. Hai
ông ấy tiến cử lầm người rồi, xin tướng quân chớ vứt ngọc quý mà tìm đá vôi.
Huyền Đức nói:
- Những bậc trượng phu mang tài
kinh bang tế thế, há chịu chết già trong chốn lâm tuyền hay sao? Xin tiên sinh
hãy trông đến đời sống của muôn dân, dạy bảo cho điều hay lẽ phải để đầu óc mờ
tối của tôi được sáng tỏ ra.
Khổng Minh cười nói:
- Xin cho biết chí của tướng
quân?
Huyền Đức bảo người nhà lui ra rồi
nói:
- Nhà Hán nghiêng đổ, kẻ gian thần
cướp quyền. Bị này không lượng sức mình, muốn đem sức lớn mà bỏ ra với thiên hạ,
nhưng tài nông trí cạn, chẳng làm nên trò trống gì. Xin tiên sinh hãy mở mắt
giúp cho và cứu Bị đang cơn vận khốn, thì thật là may mắn!
Khổng Minh nói:
- Từ khi Đổng Trác phản nghịch đến
nay, hào kiệt bốn phương trỗi dậy. Như Tào Tháo thế kém Viên Thiệu mà đánh được
Thiệu; đó không phải chỉ có thiên thời mà cũng có mưu người nữa. Nay Tháo đã cầm
được quân trăm vạn, mượn tiếng thiên tử để khống chế chư hầu, xem đó thật không
thể tranh giành với hắn được. Tôn Quyền giữ đất Giang Đông đã được ba đời, đất
đai hiểm trở mà lòng dân lại quy phục, xem thế Giang Đông cũng chỉ dùng để giúp
ta, chớ không thôn tính được. Duy chỉ còn Kinh Châu, phía bắc có sông Hán, sông
Miện, kéo dài đến tận Nam Hải; phía đông nối liền với Ngô Hội, phía tây thông
vào Ba Thục, chỗ ấy là đất dụng võ, phải có chúa giỏi mới giữ nổi, trời để dành
riêng cho tướng quân đó. Tướng quân nghĩ sao? Lại còn Ích Châu, hình thế hiểm
trở, ruộng đất phì nhiêu nghìn dặm, thực là một vựa thóc của trời. Cao Tổ ngày
xưa cũng do nơi đó mà dựng thành nghiệp đế. Nay Lưu Chương ngu si hèn yếu, dân
nhiều, nước giàu mà không biết trông coi, những người hiền tài đều chỉ mong được
vua sáng mà thờ. Tướng quân đã là dòng dõi nhà vua, tín nghĩa toả ra bốn bể,
thu nạp anh hùng, mong người hiền như khát nuớc, nếu tướng quân gộp được châu
Kinh, châu Ích, giữ vững nơi hiểm trở, mặt tây hoà với các tộc, mặt nam phủ dụ
các nước Di, Việt; ngoài thì liên kết với Tôn Quyền, trong thì sửa sang việc
chính trị, đợi lúc thiên hạ có biến, sai một thượng tướng đem quân Kinh Châu tiến
sang Uyển Lạc, còn tướng quân thì đem quân Ích Châu tiến xa Tần Xuyên, nhất định
trăm họ phải đem giỏ cơm bầu nước đến đón tướng quân. Nếu được như thế, nghiệp
lớn mới thành, nhà Hán mới phục hưng được. Đó là việc mà Lượng bày tỏ với tướng
quân, tướng quân thử xét xem.
Nói xong, sai tiểu đồng đem bản đồ
treo giữa nhà, rồi trỏ bảo Huyền Đức rằng:
- Đây là địa đồ năm mươi bốn châu
ở Tây Xuyên. Tướng quân muốn thành nghiệp bá, thì phải nhường thiên thời cho
Tào Tháo ở phía bắc, nhường địa lợi cho Tôn Quyền ở phía nam, còn tướng quân
thì nắm vững lấy nhân hoà. Trước hãy chiếm Kinh Châu làm nơi căn bản, sau lấy đến
Tây Xuyên để dựng cơ đồ, hình thành cái thế chân vạc, rồi sau mới tính đến
Trung Nguyên được.
Huyền Đức nghe nói, chắp tay tạ rằng:
- Lời nói của tiên sinh, mở sáng
chỗ tối tăm cho Bị, làm cho Bị này như gạt đám mây đen trông thấu đến trời
xanh. Nhưng Lưu Biểu ở Kinh Châu, Lưu Chương ở Ích Châu đều là tôn thân nhà
Hán, Bị sao nỡ cướp lấy?
Khổng Minh nói:
- Ban đêm, Lượng đã xem thiên
văn, biết Lưu Biểu cũng không thọ được mấy nỗi nữa. Còn Lưu Chương không phải
người chủ lập được cơ nghiệp, sau này Kinh, Xuyên cũng phải về tay tướng quân cả.
Huyền Đức nghe nói, cúi đầu lạy tạ.
Chỉ qua cuộc đàm luận này cũng đủ
thấy Khổng Minh chưa ra khỏi lều tranh mà đã biết tình thế thiên hạ chia ba rồi.
Thật ngàn xưa không ai sánh kịp!
Người sau có thơ khen rằng:
Nay tới Nam Dương gặp Ngoạ Long,
Muốn biết sau này chia thế vạc,
Địa đồ cười trỏ, đứng mà trông!
Huyền Đức vái mời Khổng Minh và
nói:
- Bị tuy danh hèn đức kém, cũng
xin tiên sinh chớ bỏ rơi kẻ ngu hèn này, xuống núi giúp đỡ, Bị xin chắp tay cúi
đầu nghe lời dạy bảo.
Khổng Minh nói:
- Lượng này lâu nay quen tay cày
tay cuốc, chểnh mảng việc đời, không thể vâng mệnh được.
Huyền Đức khóc nói:
- Tiên sinh không xuống núi giúp
cho thì trăm họ sẽ ra sao?
Nói xong hai hàng nước mắt lã chã
rơi thấm ướt cả vạt áo.
Khổng Minh thấy Lưu Bị quả là
thành thật, liền nói rằng:
- Tướng quân đã không ruồng bỏ.
Lượng này xin đem hết tài khuyển mã ra phò tá.
Huyền Đức mừng lắm, lập tức gọi
Quan, Trương vào lạy dâng lễ vật, vàng, lụa, Khổng Minh từ chối không lấy.
Huyền Đức nói:
- Đó không phải là lễ vật đi cầu
bậc đại hiền, mà chỉ là để biểu lộ tấm lòng của Bị này đó thôi!
Khổng Minh mới chịu nhận.
Đêm hôm ấy cả anh em Lưu, Quan,
Trương cùng ngủ lại trong trại.
Hôm sau, Gia Cát Quân, về Khổng
Minh dặn rằng:
- Ta chịu ân Lưu hoàng thúc ba lần
hạ cố, không thể từ chối được. Em ở nhà, chăm việc cày bừa ruộng nương không được
bỏ hoang, đợi bao giờ thành công anh sẽ về đây ẩn dật.
Đời sau có bài thơ than rằng:
Công thành thân thoái chớ quên lời
Chỉ vì tiên chúa đinh ninh dặn,
Ngũ Trượng sao sa luống ngậm ngùi!
Lại có một bài cổ phong như sau:
Núi Mang Đãng máu rắn chứa chan
Giết Tần phá Sở gian nan
Hàm Dương truyền kế hai trăm năm trời
Vua Quang Vũ nối ngôi Đông Lạc
Đến Hoàn, Linh cơ nghiệp nghiêng xô
Hứa Xương vua Hiến dời đô
Anh hùng bốn bể ồ ồ nổi lên
Tào Tháo đã chuyên quyền được thể
Tôn Quyền dựng nghiệp Giang Đông
Dự Châu một phận long đong
Nương mình Tân Dã cô cùng một nơi
Ngoạ Long vốn là người đại chí
Quân trong tay chia vị chính kỳ
Nhận lời Từ Thứ khi đi
Lều tranh ba lượt nằn nì thăm coi
Tuổi tiên sinh mới hai mươi bảy
Xếp cầm thư ra khỏi điền viên
Lấy Kinh rồi lại lấy Xuyên
Ra tay kinh tế, cán tuyền càn khôn
Lời đầu lưỡi khua cơn sấm gió
Mẹo trong lòng sáng tỏ trăng cao
Rồng bay hổ dữ khác nào
Xưa nay có một, tiếng cao muôn đời!
Ba anh em Huyền Đức từ biệt Gia
Cát Quân, rồi cùng Khổng Minh về Tân Dã. Huyền Đức đãi Khổng Minh vào bậc thầy,
ăn cùng một bàn, ngủ cùng một chiếu, hàng ngày chỉ bàn việc thiên hạ. Khổng
Minh nói:
- Tào Tháo ở Kinh Châu đào ao Huyền
Vũ để tập thuỷ quân, tất có ý muốn xâm chiếm Giang Nam. Ta nên sai người qua
sông, dò xem tình hình ra sao.
Huyền Đức nghe lời, sai người
sang Giang Đông.
Lại nói từ khi Tôn Sách mất, Tôn
Quyền trấn giữ Giang Đông, nối cơ nghiệp của phụ huynh, dùng nhiều hiền sĩ, mở
một nhà tiếp khách ở Ngô Hội; sai Cố Ung, Trương Hoành ra đó chiêu đãi tân
khách bốn phương. Suốt mấy năm liền, họ lần lượt tiến cử nhau rất nhiều. Như:
Hám Trạch, tự là Đức Nhuận ở Cối Kê; Nghiêm Tuấn, tự là Man Tài ở Bành Thành;
Tiết Tôn tự là Kính Văn ở huyện Bái; Trình Bỉnh tự là Đức Khu ở Nhữ Dương; Chu
Hoàn tự là Hưu Mục và Lục Tích tự là Công Kỷ ở Ngô Quận; Trương Ôn tự là Huệ Thứ
ở nước Ngô; Lạc Thống tự là Công Tục ở Ô Thương; Ngô Sán tự là Khổng Hưu ở Ô
Trình; tất cả đều tấp nập kéo đến Giang Đông.
Tôn Quyền kính trọng, tiếp đãi rất
hậu, lại được mấy tướng giỏi nữa, như: Lã Mông tự là Tử Minh ở Nhữ Dương; Lục Tốn
tự là Bá Ngôn ở Ngô Quận; Từ Thịnh tự là Văn Hướng ở Lương Gia; Phan Chương tự
là Đông Khê ở Đông Quận; Đinh Phụng tự là Thừa Uyên ở Lư Giang. Văn võ bấy
nhiêu người đồng tâm giúp đỡ, cho nên Giang Đông nổi tiếng là thu nạp được nhiều
người tài giỏi.
Năm Kiến An thứ bảy, Tào Tháo phá
được Viên Thiệu rồi, sai sứ sang Giang Đông bảo Tôn Quyền cho con sang chầu
vua. Tôn Quyền còn do dự chưa định. Ngô Thái phu nhân mời gọi bọn Chu Du,
Trương Chiêu đến bàn bạc. Trương Chiêu nói:
- Tào Tháo dụ ta cho thế tử vào
chầu tức là dùng thế kiềm chế chư hầu đó. Nếu không đi, Tháo kéo đại quân sang
đánh Giang Đông, tình hình sẽ nguy ngập.
Chu Du nói:
- Tướng quân thừa kế cơ nghiệp của
cha anh, thâu gồm được cả nhân dân sáu quận, binh mạnh lương nhiều, tướng sĩ hết
lòng, có việc gì bức bách mà phải đặt con tin với người ta. Đưa con tin đến rồi
tất phải phục tùng họ Tào; khi hắn có lệnh, đòi ta không đi không được; như thế
chẳng hoá ra cúi đầu chịu cho người ta kiềm chế hay sao? Cứ ý tôi thì không nên
cho thế tử vào chầu, đợi sự biến xảy ra, lúc ấy ta sẽ có kế hay đối phó.
Ngô thái phu nhân nói:
- Công Cẩn nói phải đó!
Tôn Quyền nghe theo, khước từ sứ
giả, không cho con vào chầu.
Từ đó Tào Tháo có ý muốn đánh
Giang Nam. Chỉ vì việc phương bắc chưa yên, nên chưa rảnh tay cất quân nam
chinh được.
Đến tháng mười một năm Kiến An thứ
tám, Tôn Quyền dẫn quân đánh Hoàng Tổ, hai bên đánh nhau trên sông Đại Giang,
quân Tổ thua chạy.
Bộ tướng Tôn Quyền là Lăng Tháo,
bơi một chiếc thuyền nhỏ vào Hạ Khẩu, bị tướng địch là Cam Ninh bắn chết. Con
Lăng Tháo là Lăng Thống mới mười lăm tuổi, ráng sức cướp lại thây cha đem về.
Quyền thấy chiều gió không lợi,
thu quân về Đông Ngô. Lại nói, em Tôn Quyền là Tôn Dực làm thái thú ở Đan
Dương, tính nóng lại hay rượu, khi say thường hay đánh đập quân lính. Đốc tướng
ở Đan Dương là Vỉ Lãm và quân thừa là Đái Viên vẫn có ý muốn giết Dực. Hai người
liền kết bạn tâm phúc với tên tuỳ tùng của Tôn Dực là Biên Hồng cùng nhau bàn
âm mưu giết Dực.
Hồi ấy các huyện lệnh và tướng tá
đều họp nhau ở Đan Dương. Dực mở tiệc khoản đãi, vợ Dực là Từ thị xinh đẹp, lại
thông minh, có tài bói dịch. Hôm ấy, Từ thị bói một quẻ rất xấu, khuyên chồng đừng
ra tiếp khách. Dực không nghe.
Đến chiều, tiệc tan, Biên Hồng
theo Dực ra ngoài cửa và rút dao chém chết Dực. Vỉ Lãm, Đái Viên đổ tội cho
Biên Hồng, bắt Hồng đem chém ở chợ.
Dực chết rồi, hai người thừa thế
cướp đoạt của cải, tỳ thiếp của Dực. Vỉ Lãm thấy Từ thị có nhan sắc, mới bảo rằng:
- Ta đã báo thù cho chồng nàng,
nàng nên theo ta, nếu không sẽ chết.
Từ thị thưa:
- Chồng thiếp chết chưa được mấy
ngày, thiếp đâu nỡ thế. Xin hãy gắng đợi đến ngày ba mươi sửa lễ trừ phục, rồi
sẽ xin theo cũng chưa muộn.
Lãm đồng ý.
Từ thị lập tức sai người mật báo
hai tướng tâm phúc cũ của chồng là Tôn Cao và Phó Anh đến, khóc bảo rằng:
- Khi chồng thiếp còn sống, vẫn
thường bảo hai ông là người trung nghĩa. Nay hai thằng giặc Vỉ, Đái giết chồng
thiếp, rồi vu cho Biên Hồng; cướp cả của cải cho chí kẻ hầu người ở, đem chia
nhau. Vỉ Lãm lại muốn chiếm cả thân thiếp nữa. Thiếp đã phải giả cách vâng lời
cho yên lòng nó. Hai tướng quân nên sai người sớm khuya báo tin với Ngô hầu; một
mặt lập kế để trừ hai thằng giặc ấy để rửa thù này, thì kẻ sống người thác ai
cũng hàm ân.
Từ thị nói xong bèn sụp xuống lạy.
Tôn Cao, Phó Anh cùng khóc nói:
- Hai chúng tôi ngày xưa đều được
đội ơn phu quân. Nay chúng tôi còn cố sống lại, cũng là để tìm kế báo thù cho
chủ. Phu nhân đã sai khiến, dám đâu không hết sức!
Bèn mật sai người tâm phúc đi báo
Tôn Quyền.
Đến tối ba mươi, Từ thị gọi Tôn,
Phó đến trước, mai phục ở sau màn trong phòng ngủ, rồi bày đồ tế lễ. Tế xong,
nàng bỏ áo tang ra, tắm gội xông hương, trang điểm lịch sự, cười nói tự nhiên.
Vỉ Lãm thấy vậy mừng lắm.
Đến đêm, Từ thị sai Hoàn ra mời
Lãm vào phủ, mở tiệc uống rượu. Rượu say rồi, Từ thị mời Lãm vào phòng ngủ, Lãm
mừng quýnh, lảo đảo bước vào. Từ thị bèn hô rằng:
- Hai tướng quân Tôn, Phó đâu rồi?
Hai tướng từ trong màn, vác đao
nhảy ra. Vỉ Lãm chưa kịp trở tay, đã bị Phó Anh chém một nhát ngã vật xuống đất.
Tôn Cao lại bồi thêm một nhát nữa, Lãm chết ngay.
Từ thị lại cho mời cả Đái Viên đến.
Viên vừa đến cửa, cũng bị Tôn, Phó giết nốt. Hai người sai bắt giết sạch họ
hàng, bè đảng của họ Vỉ và họ Đái. Từ thị lại mặc đồ tang phục, và mang đầu Vỉ
Lãm, Đái Viên tế trước linh vị chồng.
Được mấy ngày, Tôn Quyền dẫn quân
mã đến Đan Dương, thấy Từ thị đã trừ được hai tên giặc Vỉ, Đái rồi, liền phong
cho Tôn Cao, Phó Anh làm nha môn tướng, sai giữ Đan Dương; rồi đem Từ thị về dưỡng
lão.
Người Giang Đông ai cũng khen đức
họ Từ. Đời sau có thơ rằng:
Khôn ngoan tỏ mặt nữ anh hùng,
Tục thần theo giặc, trung thần chết
Mở mắt nhìn xem khách má hồng!
Lại nói, Đông Ngô hồi ấy đã bình
định được bọn giặc cướp ở các vùng rừng núi. Trên sông Đại Giang, chiến thuyền
có hơn bảy nghìn chiếc.
Tôn Quyền cử Chu Du làm đại đô đốc,
tổng chỉ huy cả thuỷ lục quân mã.
Đến tháng mười năm Kiến An thứ mười
hai, mẹ Tôn Quyền là Ngô thái phu nhân bị bệnh nguy cấp lắm đòi Chu Du, Trương
Chiêu đến trước màn bảo rằng:
- Ta vốn là người nước Ngô, thuở
nhỏ cha mẹ mất sớm, cùng với em ta là Ngô Cảnh dời sang Việt Trung, sau ta lấy
họ Tôn, sinh được bốn con. Con trưởng là Sách, lúc nó ra đời, ta nằm chiêm bao
thấy nuốt mặt trăng vào bụng; con thứ hai là Quyền lúc đẻ ta nằm chiêm bao thấy
nuốt mặt trời. Thầy bói nói rằng: Mơ thấy mặt trời, mặt trăng chui vào bụng tất
sinh quý tử. Chẳng may Sách mất sớm, nay trao cả cơ nghiệp Giang Đông giao phó
cho Quyền. Mong các ngươi hết lòng giúp đỡ, ta có chết cũng được yên tâm.
Lại dặn Tôn Quyền:
- Con phải thờ Tử Bố và Công Cẩn
như bậc thầy. Em gái ta cũng lấy cha con, tức là mẹ của con đấy, một mai ta nằm
xuống, con phải thờ phụng như mẹ vậy. Còn em gái con cũng phải nuôi dưỡng chu
đáo và kén một người chồng giỏi cho nó.
Nói xong thì mất, Tôn Quyền
thương khóc, rồi làm lễ tống táng.
Đến mùa xuân năm sau, Tôn Quyền
bàn muốn sang đánh Hoàng Tổ. Trương Chiêu can:
- Có tang chưa đầy năm, không nên
cất quân vội.
Chu Du nói:
- Việc báo thù rửa hận, cần gì phải
đợi hết tang?
Quyền còn do dự chưa quyết, thì Bắc
bình đô uý Lã Mông vào thưa rằng:
- Tôi giữ cửa sông bỗng có Cam
Ninh là bộ tướng của Hoàng Tổ đến hàng. Tôi hỏi kỹ mới biết rằng Ninh tự là
Hưng Bá, quê ở Lâm Giang, thuộc Ba Quận. Hắn làu thông kinh sử, sức khoẻ mạnh,
tính hào hiệp, thường vẫn tụ họp những kẻ lánh nạn, tung hoành khắp chốn giang
hồ. Hắn đeo một cái chuông đồng, lắc chuông lên, ai nghe cũng phải xa lánh. Lại
thường dùng gấm Tây Xuyên làm buồm thuyền, người bấy giờ gọi là “giặc buồm gấm”.
Về sau, Cam Ninh hối lại, đổi nết dữ, làm điều thiện, đem quân đến hàng Lưu Biểu,
nhưng thấy Biểu hèn kém, muốn sang theo Đông Ngô, lại bị Hoàng Tổ giữ lại ở Hạ
Khẩu. Mới rồi, Đông Ngô đến đánh. Tổ cũng nhờ có sức Cam Ninh, mới lấy lại được
Hạ Khẩu. Nhưng Tổ bạc đãi Cam Ninh lắm. Đô đốc là Tô Phi nhiều lần tiến cử với
Tổ, nhưng Tổ bảo: “Ninh là bọn thuỷ tặc, trọng dụng làm gì!” Do đó Ninh oán giận.
Tô Phi biết ý, liền đặt tiệc mời Cam Ninh đến nhà, bảo rằng: “Tôi đã nhiều lần
tiến cử ông, nhưng chúa công nhất định không dùng; ngày tháng thoi đưa, đời người
thấm thoát, ông nên lo xa. Tôi đã xin cho ông làm huyện trưởng huyện Ngạc, để
ông dễ đường ra đi hay ở lại”. Nhờ đó Ninh qua được Hạ Khẩu, muốn đến Giang
Đông, lại e Giang Đông oán việc giúp Hoàng Tổ giết Lăng Tháo ngày trước. Tôi
nói: “Chúa công mong người hiền như lúc khát cầu nước, không nhớ oán cũ đâu. Vả
lúc đó ai cũng thờ chủ người nấy, việc gì mà oán giận”. Ninh mừng rỡ liền dẫn
quân sang sông định ra mắt chúa công, xin chúa công định đoạt.
Tôn Quyền mừng lắm, nói:
- Ta được Hưng Bá, chắc phá được
Hoàng Tổ.
Rồi sai Lã Mông dẫn Cam Ninh vào.
Ninh chào lạy xong, Quyền nói:
- Hưng Bá về đây, ta thật hả
lòng, lẽ nào còn nhắc đến oán hờn? Xin chớ nghi ngờ, hãy cứ bảo ta kế phá Hoàng
Tổ.
Ninh nói:
- Nay vận nhà Hán mỗi ngày một
suy, Tào Tháo thế tất cướp lấy ngôi vua và cướp lấy Nam Kinh. Lưu Biểu không có
chí lớn, con lại ngu hèn, không thể giữ nổi cơ nghiệp. Minh công nên tính sớm,
nếu để chậm thì Tào Tháo nhắc tay trên mất. Giờ đây, nên đánh Hoàng Tổ trước, Tổ
già lẫn lại tham lam xâm phạm của dân, ai cũng oán ghét; khí giới bỏ rỉ, quân
không có kỷ luật gì. Nếu minh công sang đánh tất phá được Tổ. Phá được Hoàng Tổ
rồi, khua trống vào phía tây, giữ cửa Sở đánh lấy Ba, Thục. Như thế nhất định
nghiệp bá phải thành.
Tôn Quyền mừng rỡ nói:
- Đó thật là những lời vàng ngọc.
Liền cử Chu Du làm đại đô đốc, tổng
chỉ huy thuỷ lục quân, Lã Mông làm tiền bộ tiên phong, Đổng Tập, Cam Ninh làm
phó tướng, Quyền tự dẫn mười vạn đại quân đi đánh Hoàng Tổ.
Quân do thám được tin vội về báo
Giang Hạ.
Hoàng Tổ vội họp phó tướng lại
bàn bạc; sai Tô Phi làm đại tướng; Trần Tựu, Đặng Long làm tiên phong đem hết
quân Giang Hạ ra đón đánh.
Trần Tựu, Đặng Long mỗi người dẫn
một đội chiến thuyền, chẹn ngang Miện Khẩu. Trên mỗi chiến thuyền đều gài hơn
nghìn cung nỏ cứng, lại lấy dây xích buộc dằng các thuyền vào với nhau.
Trống trên thuyền vang dậy, cung
nỏ bắn ra tua tủa, quân Đông Ngô kéo đến, nhưng không sao tiến lên được, phải
lùi xa vài dặm. Cam Ninh bảo Đổng Tập rằng:
- Việc đã thế này, không tiến
cũng không xong.
Lập tức lựa hơn trăm chiếc xuồng,
mỗi chiếc dùng năm mươi tên quân tinh tráng trong đó hai mươi người bơi xuồng,
còn ba mươi người đều mặc áo giáp, tay cầm phạng, xông thẳng đến cạnh chiến
thuyền bên địch, bất chấp tên đạn, lăn xả vào chặt đứt dây xích, các thuyền đều
quay ngang cả. Cam Ninh nhảy vọt lên thuyền, chém chết Đặng Long. Trần Tựu bỏ
thuyền chạy. Lã Mông trông thấy, nhảy ngay xuống xuồng, cầm bơi chèo bơi thẳng
vào đội thuyền bên địch, châm lửa đốt. Trần Tựu sắp chạy được lên bờ. Lã Mông cố
chèo đuổi theo, sấn đến tận trước mặt, chém một nhát, Trần Tựu chết lăn nhào ra
đó. Đến khi Tô Phi dẫn quân tới bờ sông để tiếp ứng, thì các tướng Đông Ngô đã
kéo ồ cả lên bờ. Thế không đương nổi, quân Tổ đại bại. Tô Phi đang cắm đầu chạy,
gặp ngay đại tướng Đông Ngô là Phan Chương. Hai ngựa kề nhau, chỉ được vài hiệp,
Tô Phi bị Chương bắt sống, đem đến nộp Tôn Quyền.
Tôn Quyền sai tả hữu hãy bỏ vào
xe tù, đợi bắt được Hoàng Tổ, sẽ giết luôn thể; rồi thúc ba quân đêm ngày đánh
phá Hạ Khẩu.
Thế là:
Đến nỗi ra tro đội chiến thuyền.
Chưa biết Hoàng Tổ được thua thế
nào, xem hồi sau sẽ rõ.
----------------------------------------------------------
Thành Kinh Châu, công tử ba lần cầu kế
Gò Bác Vọng, quân sư bắt đầu dùng binh
Lại nói, Tôn Quyền thúc quân công
phá Hạ Khẩu, Hoàng Tổ hao binh tổn tướng, biết chừng giữ không nổi, liền bỏ
Giang Hạ, chạy về Kinh Châu. Cam Ninh cũng đoán như thế, nên đem quân mai phục
sẵn ngoài cửa Đông. Tổ dẫn vài chục quân kỵ xông ra ngoài cửa đông, đang cắm cổ
chạy bỗng có tiếng reo ầm ĩ, Cam Ninh chặn lại. Tổ ngồi trên ngựa bảo Ninh rằng:
- Ta chưa hề bạc đãi nhà ngươi,
nay sao bức nhau quá vậy?
Ninh mắng rằng:
- Trước ở Giang Hạ, lập bao nhiêu
công lao, thế mà ngươi vẫn coi ta là giặc cướp sông, nay còn muốn gì?
Hoàng Tổ thấy xin không được bèn
tế ngựa chạy. Cam Ninh thúc quân rượt tới. Đương đuổi lại nghe thấy sau núi có
tiếng reo hò, Ninh ngoảnh lại xem ai thì hoá ra là Trình Phổ. Ninh sợ Phổ đến
tranh công, vội giương cung đặt tên bắn một phát, Hoàng Tổ lăn xuống ngựa, Ninh
chặt lấy đầu quay ngựa trở lại, phối hợp với quân Trình Phổ, cùng về ra mắt Tôn
Quyền, dâng đầu Hoàng Tổ. Quyền sai bỏ vào hòm gỗ, đợi khi về Giang Đông sẽ đặt
lên tế bố rồi trọng thưởng cho ba quân, và thăng Cam Ninh lên chức đô uý.
Tôn Quyền bàn muốn chia quân giữ
Giang Hạ, Trương Chiêu nói:
- Không nên giữ cái thành trơ trọi
ấy làm gì, hãy rút quân về Giang Đông. Lưu Biểu được tin ta phá Hoàng Tổ, tất lại
báo thù; ta đem quân nghỉ ngơi đánh quân khó nhọc, chắc thắng Lưu Biểu. Biểu
thua, ta sẽ thừa thế đánh dấn đi, Kinh Tương nhất định về tay ta.
Quyền nghe lời, liền rút hết cả
quân về Giang Đông. Dọc đường, Tô Phi ở trong xe tù mật sai người cầu cứu Cam
Ninh. Ninh nói:
- Điều đó Phi chẳng nói, ta cũng
đã nghĩ đến.
Khi đại quân về đến Ngô Hội, Tôn
Quyền sai đem chém Tô Phi, để lấy đầu Phi và đầu Tổ dâng lên tế bố.
Cam Ninh vào ra mắt Tôn Quyền, rập
đầu xuống lạy, kêu rằng:
- Tôi trước kia không gặp được Tô
Phi, thì xương thịt ngày nay đã lấp đầy rãnh rồi, còn đâu được gắng sức hầu hạ
dưới cờ của tướng quân. Tội Phi thực đáng chết, nhưng cũng vì chút nghĩa ấy,
tôi xin đem nộp lại chức để chuộc tội cho Phi.
Quyền nói:
- Hắn từng ban ơn cho ngươi, nên
ta vì ngươi mà tha cho hắn. Nhưng nếu hắn trốn mất thì sao?
Ninh nói:
- Phi được thoát chết sẽ đội ơn
chúa công vô cùng, lẽ đâu còn trốn. Nếu Phi trốn đi, tôi xin đem đầu nộp dưới
thềm.
Tôn Quyền bèn tha cho Tô Phi, chỉ
đem đầu Hoàng Tổ làm lễ tế bố. Tế xong Quyền họp đại hội văn võ mở tiệc ăn mừng.
Đương khi chén tạc chén thù, bỗng thấy một người đứng dậy khóc rống lên, rồi
rút gươm toan chém Cam Ninh. Cam Ninh vội vác ghế đỡ. Tôn Quyền giật mình, nhìn
ra là Lăng Thống. Trước kia khi Cam Ninh ở Giang Hạ, bắn chết cha Thống; nay thấy
mặt Ninh, Thống liền muốn báo thù.
Quyền vội vàng ngăn lại bảo Thống
rằng:
- Hưng Bá bắn chết cha ngươi, bấy
giờ ai cũng thờ chủ người nấy, không thể không gắng sức. Nay đều là người một
nhà, lại còn nhắc đến thù cũ làm gì? Muôn việc phải nể mặt ta mới được.
Lăng Thống rập đầu khóc to, nói:
- Cái thù không đội trời chung
này, không thể không báo!
Quyền và các quan khuyên can mãi,
Lăng Thống chỉ trừng mắt nhìn Cam Ninh. Ngay hôm ấy, Tôn Quyền sai Cam Ninh dẫn
năm nghìn quân và một trăm chiếc thuyền ra trấn thủ Hạ Khẩu để tránh mặt Lăng
Thống. Lại phong thêm cho Thống làm đô uý; Thống phải nhịn, nhưng bụng vẫn căm.
Từ đó Đông Ngô đóng nhiều chiến
thuyền, chia quân phòng thủ bờ sông, sai Tôn Tĩnh dẫn một đạo quân giữ Ngô Hội.
Quyền tự lĩnh đại quân đóng ở Sài Tang. Chu Du hàng ngày luyện tập thuỷ quân ở
hồ Phiên Dương để phòng khi đánh dẹp.
Lại nói, Huyền Đức sai quân đi
thăm dò tin tức Giang Đông, quân về báo:
- Đông Ngô đã phá vỡ Hoàng Tổ rồi,
nay đương đóng quân ở Sài Tang.
Huyền Đức mời Khổng Minh đến bàn
bạc. Đang nói chuyện chợt có sứ của Lưu Biểu đến mời Huyền Đức sang Kinh Châu
bàn việc. Khổng Minh nói:
- Chắc là vì Giang Đông phá vỡ
Hoàng Tổ, nên Lưu Biểu mới cho mời sứ quân sang bàn kế báo thù. Tôi xin đi
cùng, tuỳ cơ ứng biến sẽ có mẹo hay.
Huyền Đức nghe lời, để Quan Công ở
lại giữ Tân Dã và sai Trương Phi dẫn năm trăm binh mã đi theo sang Kinh Châu.
Huyền Đức ngồi trên ngựa, hỏi Khổng Minh rằng:
- Nay vào gặp Cảnh Thăng nên đối
đáp thế nào?
Khổng Minh nói:
- Trước hết nên xin lỗi vụ Tương
Dương đã. Nếu Biểu sai chúa công sang đánh Giang Đông không nên nhận lời ngay.
Chỉ nói hãy về Tân Dã thu xếp quân mã đã.
Huyền Đức nghe theo. Đến Kinh
Châu, Huyền Đức vào nhà khách nghỉ ngơi, để Trương Phi đóng quân ngoài thành, rồi
cùng Khổng Minh vào yết kiến Lưu Biểu. Làm lễ xong, Huyền Đức đứng đưới thềm
xin lỗi.
Biểu nói:
- Ta đã biết rõ vụ hiền đệ bị mưu
hại rồi. Lúc đó ta định chém ngay Sái Mạo để tạ hiền đệ, vì có nhiều người van
xin, nên mới tạm tha, xin hiền đệ tha thứ cho ta.
Huyền Đức nói:
- Tôi nghĩ việc ấy không can gì đến
Sái tướng quân mà do người dưới đấy thôi!
Lưu Biểu nói:
- Nay Giang Hạ thất thủ, Hoàng Tổ
bị giết, nên mời hiền đệ đến bàn kế báo thù.
Huyền Đức nói:
- Hoàng Tổ tính thô bạo, không biết
dùng người, mới gặp vạ ấy. Nay nếu ta cất quân nam chinh, lỡ Tào Tháo ở mặt bắc
kéo đến thì làm thế nào?
Biểu nói:
- Tôi nay tuổi già đau yếu, không
làm việc được, hiền đệ nên lại đây giúp tôi. Một mai tôi mất rồi, hiền đệ sẽ
làm chủ Kinh Châu này.
Huyền Đức nói:
- Sao anh dạy thế? Cái thế như Bị
này gánh vác sao nổi việc lớn ấy?
Khổng Minh đưa mắt ra hiệu cho
Huyền Đức, Huyền Đức nói:
- Hãy cho thư thả, để Bị nghĩ một
kế hay.
Nói rồi, liền cùng Khổng Minh về
nhà khách. Khổng Minh nói:
- Cảnh Thăng muốn trao Kinh Châu
cho chúa công, sao lại từ chối?
Huyền Đức nói:
- Cảnh Thăng đãi ta rất hậu, sao
lại nỡ nhân lúc nguy mà cướp cơ nghiệp người ta.
Khổng Minh than rằng:
- Thật là một vị chúa nhân từ!
Hai người đương nói chuyện, chợt
báo có công tử Lưu Kỳ xin vào gặp. Huyền Đức mời vào, Kỳ khóc nói rằng:
- Dì ghẻ cháu ghét cháu lắm, tính
mệnh cháu nguy đến nơi, xin chú thương tình cứu cho.
Huyền Đức nói:
- Đấy là việc riêng trong nhà
cháu, sao lại đi hỏi chú?
Khổng Minh mỉm cười. Huyền Đức hỏi
kế Khổng Minh.
Khổng Minh nói:
- Đấy là việc nhà, tôi không dám
biết đến.
Một lúc, Huyền Đức tiễn Lưu Kỳ ra
đến cửa, rồi ghé vào tai Kỳ nói nhỏ:
- Đến mai ta sai Khổng Minh đến tạ
cháu, cháu nên… như thế… như thế… Ông ta sẽ có diệu kế.
Kỳ từ tạ ra về. Hôm sau, Huyền Đức
giả cách đau bụng, nhờ Khổng Minh thay mình đến tạ Lưu Kỳ. Khổng Minh vâng lời,
đi đến cửa nhà Lưu Kỳ, xuống ngựa, vào gặp Lưu Kỳ. Kỳ mời vào nhà trong. Uống
nước xong, Kỳ nói:
- Kế mẫu muốn hại Kỳ, xin tiên
sinh cứu cho.
Khổng Minh nói:
- Lượng là một người khách đâu
dám nhúng tay vào việc gia đình của người khác, lỡ có điều gì bị lộ thì hại to.
Nói xong, đứng dậy cáo từ. Kỳ
nói:
- Tiên sinh đã hạ cố đến đây, xin
đừng vội về.
Liền dắt Khổng Minh vào phòng uống
rượu. Vừa được vài chén, Kỳ lại nói:
- Kế mẫu không muốn dùng Kỳ, xin
tiên sinh cho một lời giải nguy.
Khổng Minh lại nói:
- Việc này Lượng không dám bàn đến.
Nói xong lại muốn ra về.
Kỳ nói:
- Tiên sinh không nói thì thôi,
sao cứ đòi về?
Khổng Minh lại ngồi xuống.
Kỳ nói:
- Kỳ có bó sách cổ xin mời tiên
sinh lên xem qua một chút.
Nói rồi Kỳ dắt Khổng Minh lên
trên lầu nhỏ.
Khổng Minh hỏi:
- Sách đâu?
Kỳ khóc nói:
- Kế mẫu không dung, tính mạng Kỳ
đang treo đầu sợi tóc. Tiên sinh nỡ nào không một lời giải cứu?
Khổng Minh bực mình đứng dậy, định
trở xuống thì thang đã cất đi rồi.
Kỳ thưa rằng:
- Kỳ muốn cầu cứu kế hay, nhưng
tiên sinh sợ tiết lộ, nên không chịu nói. Nay ở chốn này, trên không đến trời,
dưới không đến đất, miệng tiên sinh nói ra, chỉ có tai Kỳ nghe thấy, xin tiên
sinh dạy cho.
Khổng Minh nói:
- Người sơ không nên làm ly gián
người thân, Lượng sao dám bày mưu cho công tử?
Kỳ nói:
- Tiên sinh không bảo cho, thì mạng
Kỳ chắc không vẹn toàn. Kỳ xin chết ngay trước mặt tiên sinh.
Liền rút gươm ra muốn tự vẫn.
Khổng Minh vội ngăn lại nói:
- Hãy thong thả ta đã có kế hay
đây.
Kỳ lạy, nói:
- Xin tiên sinh dạy bảo ngay cho.
Khổng Minh nói:
- Công tử há không biết chuyện
Thân Sinh và Trùng Nhĩ đấy ư[1]? Thân Sinh ở trong thì chết, Trùng
Nhĩ ở ngoài thì yên. Nay Hoàng Tổ mới chết. Giang Hạ thiếu người phòng thủ,
công tử nên xin đem quân ra giữ ở đó, chắc có thể tránh được tai vạ.
Kỳ mừng rỡ bái tạ Khổng Minh một
lần nữa, rồi gọi người bắc thang đưa Khổng Minh xuống gác.
Khổng Minh về gặp lại Huyền Đức
thuật lại chuyện ấy, Huyền Đức mừng lắm.
Hôm sau, Lưu Kỳ dâng thư, xin đi
trấn Giang Hạ. Lưu Biểu lúng túng, cho mời Huyền Đức vào bàn. Huyền Đức nói:
- Giang Hạ là chốn quan trọng,
không nên sai người ngoài, cần phái công tử đi. Việc ở mặt đông nam, thì xin
huynh trưởng cùng các cháu đảm đương, còn mặt tây bắc, Bị xin coi giữ.
Biểu nói:
- Mới đây, tôi nghe Tào Tháo ở
Nghiệp Quận đào ao Huyền Vũ để luyện tập thuỷ quân, tất có ý đánh xuống miền
nam, ta cần phải đề phòng.
Huyền Đức đáp:
- Em đã biết, xin anh đừng lo.
Nói rồi, bái từ về Tân Dã. Lưu Biểu
sai ngay Lưu Kỳ dẫn ngay ba nghìn quân ra trấn thủ Giang Hạ.
Lại nói Tào Tháo bãi chức tam
công, tự phong mình làm thừa tướng kiêm cả ba chức ấy, cử Mao Giới làm đông tào
duyện, Thôi Viêm làm tây tào duyện; Tư Mã Ý làm văn học duyện.
Tư Mã Ý tự là Trọng Đạt, quê ở Hà
Nội, quận Ôn; con quan doãn Kinh Triệu là Tư Mã Phong; cháu thái thú Dĩnh Châu
Tư Mã Tuấn, em quan chủ bạ Tư Mã Lãng.
Tháo biên chế quan văn đâu vào đấy
rồi, bèn họp cả các tướng bàn xuống việc đánh phương nam.
Hạ Hầu Đôn đứng lên nói rằng:
- Gần đây nghe tin Lưu Bị ở Tân
Dã, ngày ngày luyện tập quân sĩ. Để vậy, tất có lo về sau, nên sớm liệu đi mới
được.
Tháo sai ngay Hạ Hầu Đôn làm đô đốc,
Vu Cấm, Lý Điển, Hạ Hầu Lan, Hàn Hạo làm phó tướng, lĩnh mười vạn quân kéo thẳng
đến thành Bác Vọng để thừa cơ đánh vào Tân Dã.
Tuân Úc can rằng:
- Lưu Bị đã là anh hùng, lại thêm
có Gia Cát Lượng làm quân sư, không nên khinh địch.
Đôn nói:
- Lưu Bị như lũ chuột, thế nào ta
cũng bắt được.
Từ Thứ nói:
- Xin tướng quân chớ coi thường
Huyền Đức, nay Huyền Đức được Gia Cát Lượng giúp đỡ, chẳng khác hổ thêm cánh đấy.
Tháo hỏi:
- Gia Cát Lượng là người thế nào?
Thứ đáp:
- Lượng tự là Khổng Minh, tên hiệu
Ngoạ Long tiên sinh, có tài ngang trời dọc đất, có mưu xuất quỷ nhập thần, thật
là kỳ sĩ đời nay, không nên xem nhẹ.
Tháo hỏi:
- So với ông thế nào?
Thứ nói:
- Tôi đâu dám sánh với Lượng. Thứ
này chỉ là ánh đom đóm, còn Lượng là ánh trăng rằm.
Hạ Hầu Đôn nói:
- Nguyên Trực lầm rồi. Tôi coi
Gia Cát Lượng như cỏ rác, sợ quái gì. Nếu tôi đánh một trận, không bắt sống được
cả Lưu Bị và Gia Cát Lượng, thì tôi xin đem đầu về chịu tội với thừa tướng.
Tháo nói:
- Được, ngươi sớm đưa tin thắng
trận về cho ta hả dạ.
Đôn phấn khởi, từ biệt Tào Tháo,
dẫn quân lên đường.
Lại nói từ khi được Khổng Minh,
Huyền Đức đối đãi như bậc thầy. Quan, Trương thấy vậy không bằng lòng, nói:
- Khổng Minh tuổi trẻ, có tài cán
gì, sao anh trọng đãi quá thế? Vả lại từ khi về đây, đã thấy y làm được việc gì
tài ba đâu!
Huyền Đức nói:
- Ta được Khổng Minh như cá được
nước, hai em chớ nên nhiều lời.
Hai người nghe nói lẳng lặng lui
ra.
Một hôm có người đem biếu một cái
đuôi trâu, Huyền Đức dem đuôi trâu đan thành chiếc mũ. Khổng Minh ở ngoài vào
trông thấy, nghiêm sắc mặt lại nói:
- Minh công không còn phải lo đến
việc gì nữa à?
Huyền Đức vội vàng ném chiếc mũ
xuống và xin lỗi:
- Tôi mượn việc đó để tiêu khiển
đấy thôi!
Khổng Minh nói:
- Minh công tự so mình với Tào
Tháo như thế nào?
Huyền Đức nói:
- Không bằng được!
Khổng Minh nói:
- Quân của minh công chẳng qua được
vài nghìn, nếu quân Tào kéo đến đánh thì lấy gì chống cự?
Huyền Đức nói:
- Chính tôi đương lo việc ấy
nhưng nghĩ chưa ra kế nào hay.
Khổng Minh nói:
- Minh công nên cho tuyển mộ thật
nhiều dân binh để tôi huấn luyện thì có thể chống được giặc.
Huyền Đức liền tuyển mộ ngay được
ba nghìn người. Khổng Minh sớm tối dạy bảo diễn tập phương pháp đánh trận.
Chợt có người báo Tào Tháo sai Hạ
Hầu Đôn dẫn mười vạn quân rầm rộ kéo đến Tân Dã. Trương Phi nghe tin, nói với
Quan Công rằng:
- Tốt hơn hết, nên để Khổng Minh
ra nghênh địch.
Giữa lúc ấy, Huyền Đức cho gọi
hai người vào, bảo rằng:
- Hạ Hầu Đôn kéo quân đến rồi, ta
đối phó như thế nào?
Trương Phi nói:
- Sao đại huynh không sai “nước”[2] đi
để chống giặc.
Huyền Đức nói:
- Mưu thì ta phải nhờ đến Khổng
Minh, nhưng dũng cảm thì phải nhờ đến hai anh em mới xong, không nên suy tị như
thế.
Quan, Trương đi ra, Huyền Đức mời
Khổng Minh đến bàn, Khổng Minh nói:
- Chỉ sợ Quan, Trương không phục
tùng hiệu lệnh. Nếu chúa công thực muốn tôi chỉ huy, xin giao kiếm ấn cho tôi.
Huyền Đức sai lấy kiếm ấn trao
cho Khổng Minh, Khổng Minh liền họp các tướng lại để nghe lệnh. Trương Phi bảo
Vân Trường rằng:
- Ta hãy thử đến nghe lệnh, xem hắn
xếp đặt ra sao?
Khổng Minh truyền lệnh:
- Bên tả núi Bác Vọng có núi Dự
Sơn, bên hữu có rừng An Lâm, có thể phục quân mã được. Vân Trường dẫn một nghìn
quân ra mai phục ở núi Dự Sơn đón địch, địch kéo đến, cứ mặc cho chúng đi qua,
khi nào các xe lương thực tới, nếu thấy mé nam có hiệu lửa sẽ thả quân ra đánh,
đốt sạch lương thực của giặc đi. Dực Đức dẫn một nghìn quân ra sau rừng An Lâm,
mai phục trong hang núi, cũng đợi khi nào mé nam có hiệu lửa bấy giờ sẽ kéo đến
đốt kho lương ở thành Bác Vọng. Quan Bình, Lưu Phong dẫn năm trăm quân sắp sẵn
củi đuốc, chực ở hai bên sườn gò Bác Vọng, chập tối địch kéo đến, thì đốt lửa
lên. Lại gọi Triệu Vân ở Phàn Thành về sai đi tiền bộ, không cần đánh đuợc mà
chỉ đánh cốt lấy thua, chúa công dẫn một toán quân tiếp ứng. Ai nấy đều phải
theo kế mà làm, không được để lỡ.
Vân Trường nói:
- Chúng tôi đều ra nghênh địch cả,
không hiểu quân sư ngài nhận việc gì?
Khổng Minh nói:
- Ta chỉ ngồi nhà giữ thành.
Trương Phi cười ầm lên nói:
- Chúng tôi đều đi đánh nhau cả,
còn ông thì ngồi khểnh ở nhà, thảnh thơi quá!
Khổng Minh nói:
- Kiếm ấn ở đây, ai không tuân lệnh,
ta lập tức chém đầu.
Huyền Đức nói:
- Hai em phải biết “Người có tài
ngồi trong màn quyết thắng ở ngoài nghìn dặm”, hai em không được trái lệnh.
Trương Phi nói:
- Hãy xem kế của hắn có hiệu nghiệm
không đã, bấy giờ ta sẽ hỏi tội cũng chưa muộn.
Hai người đem quân đi. Các tướng
cũng chưa ai biết thao lược của Khổng Minh ra sao, nay nghe lệnh, nhưng vẫn
nghi hoặc, không được yên tâm.
Khổng Minh bảo Huyền Đức rằng:
- Chúa công nay dẫn quân đến dưới
núi Bác Vọng đóng đồn. Tối mai thế nào quân giặc cũng kéo đến, chúa công nên bỏ
trại rút chạy, hễ thấy lửa cháy thì lập tức đem quân quay lại đánh. Tôi cùng My
Chúc, My Phương dẫn năm trăm quân giữ huyện.
Lại sai Tôn Càn, Giản Ung sắp sẵn
tiệc ăn mừng và sổ ghi công. Mọi việc sắp đặt đã xong, nhưng chính Huyền Đức
cũng còn ngờ vực.
Lại nói Hạ Hầu Đôn cùng bọn Vu Cấm,
dẫn quân đến thành Bác Vọng, chia một nửa tinh binh làm tiền đội, còn bao nhiêu
đi sau bảo vệ xe lương thực.
Bấy giờ đương mùa thu, gió may
hây hẩy. Quân mã đương đi, trông thấy trước mặt cát bay mịt mù, Đôn liền dàn
thành thế trận và hỏi quan hướng đạo:
- Đây là chỗ nào?
Quan hướng đạo thưa:
- Trước mặt là gò Bác Vọng, mé
sau là cửa sông La Xuyên.
Đôn sai Vu Cấm, Lý Điển giữ vững
góc trận, tự mình cưỡi ngựa ra trước trận, nhìn về phía xa xa thấy một toán
quân mã kéo lại, Đôn cười ầm lên. Các tướng lấy làm lạ hỏi:
- Tướng quân cười gì thế?
Đôn nói:
- Ta cười Từ Nguyên Trực khoe với
thừa tướng rằng Gia Cát Lượng là người giỏi. Nay xem cách dùng binh của hắn,
đem thứ quân mã thế kia đối địch với ta, khác nào đem đàn dê đánh nhau với hổ
báo. Ta đã nói trước mặt thừa tướng rằng sẽ bắt sống Lưu Bị và Gia Cát Lượng,
nay nhất định ta làm được việc ấy.
Nói rồi Đôn tế ngựa xông lên.
Triệu Vân ra ngựa, Đôn mắng rằng:
- Bọn mi theo Lưu Bị có khác gì
cô hồn theo ma quỷ.
Vân cả giận tế ngựa lại đánh, được
vài hiệp giả tảng thua chạy. Hạ Hầu Đôn đuổi theo, Vân chạy độ hơn mười dặm,
quay ngựa lại đánh, chưa được vài hiệp lại chạy.
Hàn Hạo tế ngựa lên trước can rằng:
- Triệu Vân dử địch sợ có mai phục.
Đôn nói:
- Quân giặc như thế, dẫu có mai
phục cả mười mặt, ta cũng chẳng sợ!
Rồi Đôn nhất định không nghe lời
Hàn Hạo, đuổi thẳng đến gò Bác Vọng. Bỗng nghe pháo nổ, Huyền Đức tự dẫn quân
xông tới tiếp ứng.
Hạ Hầu Đôn cười, bảo Hàn Hạo rằng:
- Quân mai phục đó! Ta không đến
được Tân Dã chiều nay, thì nhất định không nghỉ quân.
Nói xong, Đôn lại thúc quân tiến
lên. Huyền Đức và Triệu Vân rút chạy.
Bấy giờ trời đã tối, mây kéo dày
đặc, lại không có ánh trăng. Gió thổi càng mạnh. Hạ Hầu Đôn cứ thúc quân đuổi
miết. Vu Cấm, Lý Điển đi vào quãng đường hẹp nhỏ, thấy hai bên lau sậy um tùm.
Điển bảo Cấm rằng:
- Khinh địch tất phải thua. Phía
nam này, đường sá chật hẹp, sông núi san sát cây cối rậm rạp, nếu địch đánh hoả
công thì tính sao?
Cấm nói:
- Người nói phải đó. Ta nên tiến
lên trước nói với đô đốc cho hậu quân đóng lại.
Lý Điển quay ngựa trở lại, hô:
- Hậu quân hãy đi chậm lại!
Nhưng người ngựa đương chạy như
vũ bão, không tài nào kìm lại được.
Vu Cấm vội tế ngựa lên trước, gọi
to rằng:
- Tiền quân của đô đốc dừng lại!
Hạ Hầu Đôn đương chạy, thấy Vu Cấm
rượt tới liền hỏi duyên cớ làm sao. Cấm nói:
- Phía nam này đường sá chật hẹp,
sông núi san sát, cây cối rậm rạp, phải đề phòng hoả công mới được.
Đôn sực tỉnh, lập tức truyền lệnh
cho quân mã không được tiến công nữa. Nói chưa dứt lời, sau lưng đã có tiếng
reo hò ầm ĩ, lửa cháy đùng đùng; tiếp đó hai bên lau sậy cũng bốc cháy. Chỉ
trong chớp mắt, ba bề bốn bên biến thành biển lửa, lại gặp gió to, lửa bốc càng
mạnh, quân Tào dẫm đạp lên nhau, chết không biết bao nhiêu mà kể.
Triệu Vân quay lại đánh giết, Hạ
Hầu Đôn xông pha ra khỏi được biển lửa chạy thục mạng.
Khi Lý Điển thấy tình thế không lợi,
vội quay gấp về thành Bác Vọng, thì gặp ngay một cánh quân chặn đường đi đầu là
Vân Trường. Lý Điển xông ngựa đánh bừa, cướp đường tháo chạy. Vu Cấm thấy xe
lương bị cháy sạch, liền men theo đường nhỏ chạy trốn.
Hạ Hầu Lan, Hàn Hạo xúm lại cứu
xe lương thì chạm trán Trương Phi. Chưa được vài hiệp, Lan bị Phi cho một xà
mâu chết lăn nhào xuống ngựa. Hạo cướp đường chạy thoát.
Hai bên đánh nhau suốt một đêm:
Quân Tào bị giết, xác chất đầy đồng, máu chảy thành sông.
Đời sau có thơ rằng:
Cười cười nói nói vẫn ung dung
Tào Man nghe tiếng hồn bay bổng
Rời khỏi lều tranh đệ nhất công!
Hạ Hầu Đôn nhặt nhạnh tàn quân,
rút về Hứa Xương.
Khổng Minh cũng thu quân về.
Quan, Trương, hai người nhìn nhau, nói:
- Khổng Minh quả là bậc anh tài!
Đi chưa được vài dặm, gặp My
Chúc, My Phương dẫn quân xúm xít theo hầu một cỗ xe nhỏ; trong xe có một người
ngồi chễm chệ, chính là Khổng Minh. Quan, Trương xuống ngựa sụp lạy. Một lúc
Huyền Đức, Triệu Vân, Lưu Phong, Quan Bình đều đến, thu thập quân sĩ, đem lương
thảo bắt được chia cho tướng sĩ, rồi kéo quân về Tân Dã.
Trăm họ ra đón rước chật hai bên
đường vái, lạy mà nói rằng:
- Chúng tôi được an toàn, cũng là
nhờ sứ quân dùng được người hiền vậy.
Khổng Minh về đến huyện, bảo Huyền
Đức rằng:
- Hạ Hầu Đôn thua, thế nào Tào
Tháo cũng đem đại quân đến.
Huyền Đức nói:
- Nếu vậy thì làm thế nào?
Khổng Minh nói:
- Tôi đã có một kế địch được quân
Tào.
Thế là:
Tránh quân, lại phải cậy mưu hay.
Chưa biết Khổng Minh bày kế gì, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Thân Sinh và Trùng Nhĩ là hai con trai của vua Tấn Hiến
công đời Xuân Thu. Hiến công quá yêu nữ phi Lệ cơ. Lệ cơ muốn lập con mình
làm thái tử, nên đã gièm pha ám hại hai con trai của Hiến công. Thân Sinh
buộc phải tự sát, còn Trùng Nhĩ chạy ra nước ngoài.
- ▲ “Nước” đây chỉ Khổng Minh. Huyền Đức thường nói: “Ta
được Khổng Minh như cá gặp nước”.
-----------------------------------------------------
Sái phu nhân bàn hiến Kinh Châu
Gia Cát Lượng hỏa thiêu Tân Dã
Lại nói Huyền Đức hỏi Khổng Minh
kế chống cự quân Tào, Khổng Minh nói:
- Tân Dã là một huyện nhỏ, không ở
lâu được. Mới đây, tôi nghe Lưu Biểu bị bệnh nguy cấp lắm, chúa công phải nhân
dịp này chiếm lấy Kinh Châu làm căn cứ đã, rồi hãy chống cự Tào Tháo sau.
Huyền Đức nói:
- Kế của tiên sinh hay lắm nhưng
tôi đã chịu ơn Cảnh Thăng, không nỡ làm thế!
Khổng Minh nói:
- Nếu chúa công không lấy bây giờ,
sau sẽ hối không kịp.
Huyền Đức nói:
- Thà rằng ta chết thì thôi, chớ
không chịu làm điều phi nghĩa.
Khổng Minh nói:
- Vậy để liệu kế khác.
Lại nói Hạ Hầu Đôn về Hứa Xương,
tự trói mình lại, vào lạy Tào Tháo, xin chịu tội. Tháo tha tội cho, Đôn nói:
- Tôi gặp phải quỷ kế của Gia Cát
Lượng, y dùng hoả công, phá vỡ cả quân mã của ta.
Tháo nói:
- Ngươi dùng binh từ thuở bé, há
không biết rằng ở chốn hiểm phải phòng hoả công à?
Đôn nói:
- Lý Điển và Vu Cấm đã nhắc bảo,
nhưng hối lại thì sự đã rồi.
Tháo lập tức thưởng cho Lý Điển
và Vu Cấm.
Đôn nói:
- Lưu Bị hung hăng như thế, thật
là cái hoạ lớn không thể không trừ ngay đi.
Tháo nói:
- Ta cũng chỉ lo có Lưu Bị và Tôn
Quyền mà thôi, còn những bọn khác có ngại gì. Nay nên nhân dịp này bình định
Giang Nam mới được.
Lập tức truyền lệnh huy động năm
mươi vạn quân, sai Tào Nhân và Tào Hồng làm đội thứ nhất; Trương Liêu và Trương
Cáp làm đội thứ nhì; Hạ Hầu Đôn và Hạ Hầu Uyên làm đội thứ ba; Vu Cấm và Lý Điển
làm đội thứ tư. Tháo tự lĩnh các tướng làm đội thứ năm. Mỗi đội dẫn mười vạn
quân, Hứa Chử làm chiết xung tướng quân, dẫn ba nghìn quân đi tiên phong, lại
chọn ngày Bính Ngọ, tháng bảy, năm thứ mười ba đời Kiến An (208) xuất phát.
Thái trung đại phu là Khổng Dung
can rằng:
- Lưu Bị, Lưu Biểu là tôn thân
nhà Hán, không nên khinh thường mà đánh. Tôn Quyền nắm giữ sáu quận, lại được
sông Trường Giang hiểm trở, cũng không dễ lấy được đâu. Nay thừa tướng huy động
đạo quân vô đạo ấy, tôi e trái với nguyện vọng của thiên hạ.
Tháo giận nói:
- Lưu Biểu, Lưu Bị, Tôn Quyền đều
là bọn nghịch thần, sao lại không đánh?
Liền mắng đuổi Khổng Dung ra và hạ
lệnh “Ai can nữa thì chém”.
Khổng Dung ra khỏi phủ, ngẩng mặt
lên trời than rằng:
- Người chí bất nhân đi đánh người
chí nhân, chẳng thua sao được!
Lúc ấy, người khách nhà quan ngự
sử đại phu Khước Lự, nghe thấy câu đó, liền báo với chủ. Khước Lự vốn đã nhiều
lần bị Khổng Dung khinh miệt, vẫn đương căm tức Dung, vội vàng đem chuyện ấy
vào tâu với Tào Tháo, lại nói thêm vào:
- Khổng Dung ngày thường vẫn
khinh thừa tướng, lại chơi thân với Nễ Hành, Nễ Hành tán dương Khổng Dung là
“Trọng Mỗ không mất”; Khổng Dung lại gọi Nễ Hành là “Nhan Hồi tái sinh”. Lần
trước Nễ Hành nói xấu thừa tướng, cũng là tự Khổng Dung xui đó.
Tào Tháo giận lắm, lập tức sai
đình uý đi bắt Khổng Dung. Khổng Dung có hai con, còn nhỏ tuổi, lúc ấy đương ngồi
ở nhà đánh cờ, bỗng có người nhà cấp báo rằng:
- Có đình uý đến bắt tôn quân sắp
sửa đem chém, sao hai công tử không trốn tránh cho mau?
Hai công tử nói:
- Trong cái tổ vỡ, trứng đâu có
lành được?
Nói chưa dút lời, đình uý đã đến
bắt cả nhà Khổng Dung đem chém, thây Khổng Dung thì đem bêu ở ngoài chợ.
Có một người ở Kinh Triệu, tên là
Chi Tập, đến khóc lóc lăn bên thây Khổng Dung, Tháo biết tin, giận lắm, muốn giết
luôn, Tuân Úc can rằng:
- Tôi nghe Chi Tập thường can Khổng
Dung: “Ông cương trực quá, tất là rước vạ vào thân”. Nay Dung chết mà hắn khóc,
tức là người có nghĩa, xin thừa tướng đừng giết.
Tháo tha cho. Chi Tập thu thập
thi thể cha con Khổng Dung đem tống táng.
Người sau có thơ khen Khổng Dung
rằng:
Hào khí át cầu vồng
Trên ghế khách chật ních
Trong cốc rượu chẳng không
Văn chương lừng thiên hạ
Cười nói khinh vương công
Sử sách khen trung trực
Quan danh ghi thái trung
Tào Tháo giết Khổng Dung rồi,
truyền lệnh quân mã năm đội lần lượt kéo đi, chỉ để bọn Tuân Úc ở lại giữ Hứa
Xương.
Lại nói ở Kinh Châu, Lưu Biểu bệnh
nguy kịch lắm, bèn sai người mời Huyền Đức đến dặn dò việc thừa tự, Huyền Đức dẫn
Quan, Trương đến Kinh Châu, Biểu nói:
- Bệnh ta đã đặt vào đến mạng mỡ,
không biết sớm tối lúc nào, muốn uỷ thác đứa con côi cho hiền đệ. Nhưng con ta
bất tài, sợ không nối được nghiệp bố. Sau khi chết, xin hiền đệ tự lĩnh lấy
Kinh Châu cho.
Huyền Đức khóc lạy nói rằng:
- Em xin hết sức giúp cháu nhỏ,
đâu dám có ý gì khác.
Đang nói chuyện, có tin báo Tào
Tháo tự thống lĩnh đại binh đến đánh. Huyền Đức vội vàng từ biệt Lưu Biểu, về
ngay Tân Dã.
Lưu Biểu đương ốm, nghe tin ấy,
lo lắm, bàn bạc việc viết di chúc, sai Huyền Đức giúp con trưởng là Lưu Kỳ làm
chủ Kinh Châu.
Sái phu nhân thấy vậy, giận lắm,
đóng ngay cửa trong lại, sai Sái Mạo, Trương Doãn canh giữ cửa ngoài.
Bấy giờ, Lưu Kỳ ở Giang Hạ, nghe
tin cha đau nặng, vội vàng về Kinh Châu thăm cha. Vừa đến cửa ngoài, Sái Mạo lại
nói rằng:
- Công tử phụng mệnh cha, coi giữ
Giang Hạ, trách nhiệm rất nặng, nay dám tự tiện bỏ về, nhỡ Đông Ngô kéo đến,
thì làm thế nào? Nếu vào ra mắt chúa công, chúa công nổi giận, bệnh lại tăng
thêm, đó là bất hiếu. Công tử nên cấp tốc về ngay đi!
Lưu Kỳ đứng ở ngoài cửa, khóc rống
một hồi rồi đành phải lên ngựa trở về Giang Hạ.
Lưu Biểu bệnh tình nguy cấp lắm,
mong mãi không thấy con cả về. Ngày Mậu Thân tháng tám, kêu to vài tiếng rồi chết.
Đời sau có thơ than rằng:
Nay thấy Lưu quân ở Hán Dương
Đều vì gà mái hư gia đạo,
Đến nỗi không lâu phải diệt vong!
Lưu Biểu chết rồi, Sái phu nhân
cùng với Sái Mạo, Trương Doãn bàn bạc, viết tờ di chúc giả cho con thứ là Lưu
Tôn làm chủ Kinh Châu; xong rồi mới cho báo tang.
Khi ấy, Lưu Tôn mới 14 tuổi, tư
chất khá thông minh. Tôn họp các quan lại bàn rằng:
- Cha ta chẳng may tạ thế, anh ta
hiện ở Giang Hạ, lại có chú ta là Lưu Huyền Đức ở Tân Dã. Các ngươi lập ta làm
chủ, nếu chú ta và anh ta đem quân về hỏi tội, thì ăn nói làm sao?
Mọi người còn chưa nghĩ ra sao
thì mạc quan là Lý Khuê thưa rằng:
- Công tử nói rất phải. Nay nên
đưa thư cáo tang đến Giang Hạ, mời đại công tử về làm chủ Kinh Châu rồi cử Huyền
Đức cùng coi việc lớn. Mặt bắc địch được Tào Tháo, mặt nam chống được Tôn Quyền,
đó là kế vẹn toàn.
Sái Mạo mắng rằng:
- Mày là thằng nào, dám mở mồm
nói càn, trái lời di chúc của chúa công!
Lý Khuê to tiếng mắng lại rằng:
- Mày cấu kết trong ngoài, mưu mô
với nhau, giả mạo làm di mệnh, bỏ con trưởng lập con thứ, chín quận Kinh Tương
sẽ mất không ở trong tay họ Sái. Chúa công có thiêng chắc giết mày đi!
Sái Mạo tức lắm, quát tả hữu lôi
ra chém. Lý Khuê, đến lúc chết, vẫn còn chửi mắng không dứt lời.
Rồi đó, Sái Mạo lập Lưu Tôn lên
làm chủ, tôn tộc họ Sái chia nhau lĩnh luôn Kinh Châu; còn Sái phu nhân cùng
Lưu Tôn đến ở Tương Dương để phòng Lưu Kỳ, Lưu Bị; nhân thể đem linh cữu Lưu Biểu
táng ở gò Hán Dương, phía đông thành Tương Dương mà không báo tang cho Lưu Kỳ,
Lưu Bị biết.
Lưu Tôn đến Tương Dương, vừa tháo
yên ngựa xong, có người báo Tào Tháo dẫn đại quân đi thẳng đến Tương Dương. Tôn
thất kinh, bèn mời lũ Khoái Việt, Sái Mạo đến bàn, đông tào duyện là Phó Tôn
nói:
- Không những phải lo Tào Tháo
đem quân đến mà thôi, nay đại công tử ở Giang Hạ, Huyền Đức ở Tân Dã ta đều
không cho đến báo tang; nếu họ đem quân về hỏi tội, thì Kinh Tương nguy mất.
Tôi có một kế làm cho dân Kinh Tương vững như núi Thái Sơn, lại giữ toàn được
danh tước cho chúa công.
Tôn hỏi:
- Kế gì?
Tôn nói:
- Chi bằng đem chín quận Kinh
Tương dâng Tào Tháo, Tháo chắc trọng đãi chúa công.
Tôn mắng rằng:
- Ngươi chỉ nói càn. Ta mới nối
cơ nghiệp của tiên quân, ngồi chưa yên chỗ, có lẽ đâu đã bỏ cho người khác.
Khoái Việt nói:
- Phó Công Đễ nói phải lắm. Thuận
hay nghịch đều phải theo tình hình chung. Khoẻ hay yếu, đều có thế hẳn hoi. Vả
Tào Tháo đánh nam dẹp bắc đều lấy danh nghĩa triều đình. Nếu chúa công chống lại
thì vẫn mang tiếng phản nghịch. Hơn nữa chúa công mới lên, việc lo bên ngoài
chưa xong, việc lo bên trong lại sắp đến. Dân Kinh Tương nghe quân Tào đến,
chưa đánh đã mất vía rồi, thì còn địch thế nào được?
Tôn nói:
- Lời các ông đều phải cả, không
phải tôi không nghe theo; nhưng cơ nghiệp của tiên quân để lại cho, phút chốc
phải sang tay cho người khác, chỉ e thiên hạ chê cười cho!
Tôn nói chưa dứt lời, có một người
ngang nhiên nói:
- Phó Công Đễ, Khoái Di Độ nói
đúng lắm, sao chúa công không nghe theo?
Các tướng nhìn xem ai, thì ra là
Vương Sán, tự là Trọng Tuyên người ở Cao Bình, quận Sơn Dương. Sán hình dáng gầy
gò, mình mẩy bé nhỏ, thuở bé lại chơi nhà quan trung lang Sái Ung. Bữa ấy trong
nhà Ung đang đông khách quý ngồi chơi. Ung nghe thấy Sán đến chơi, lật đật đi
trái cả giày ra đón; khách khứa thấy vậy, ai cũng ngạc nhiên, hỏi rằng:
- Quan trung lang sao lại tôn
kính riêng chú bé này như thế?
Ung nói:
- Chú bé có tài lạ, ta cũng không
bằng.
Sán quả là người học rộng nhớ
dai, không ai sánh kịp, thường xem bài văn bia ở cạnh đường, chỉ đọc qua một lượt
là thuộc lòng; xem người ta đánh cờ, đương đánh mà xoá đi, Sán bày ngay lại được,
không sai một quân. Tính toán cũ ng giỏi, văn chương nhất đời ấy. Khi 17 tuổi,
Sán được cử làm hoàng môn thị lang nhưng không chịu ra. Sau vì chạy loạn đến
Kinh Tương, Lưu Biểu đãi làm thượng khách. Hôm đó, Sán hỏi Lưu Tôn:
- Tướng quân tự so mình có bằng
Tào công không?
Tôn đáp không bằng được.
Sán nói:
- Tào công binh cường tướng khoẻ,
nhiều trí lắm mưu; bắt sống Lã Bố ở Hạ Phì; phá vỡ Quan Thiệu ở Quan Độ, đuổi
Lưu Bị ở Lũng Hữu; trừ Ô Hoàn ở Bạch Lang; đánh dẹp, bình định, không sao kể xiết.
Nay lại kéo đại quân xuống Nam Hạ, thế Kinh Tương thực khó lòng địch nổi. Kế của
hai ông Phó, Khoái rất hay. Tướng quân nên quyết ngay đi, kẻo về sau lại hối.
Tôn nói:
- Tiên sinh dạy phải lắm, nhưng
tôi còn phải bẩm để mẫu thân biết đã.
Nói chưa dứt lời, đã thấy Sái phu
nhân ở sau bức bình phong bước ra, bảo Tôn rằng:
- Ba ông đã đồng ý với nhau mà bảo
thế, hà tất phải hỏi ta.
Lưu Tôn lúc này mới quyết định, lập
tức viết thư hàng, sai Tống Trưng bí mật mang đến bản doanh Tào Tháo. Trung
vâng lệnh, đi thẳng tới Uyển Thành, ra mắt Tào Tháo và dâng thư lên.
Tháo mừng lắm, trọng thưởng cho Tống
Trung và sai về bảo Lưu Tôn ra thành đón rước, rồi sẽ cho giữ Kinh Châu mãi.
Tống Trung lạy từ biệt Tào Tháo
trở về Kinh Tương. Lúc sắp qua sông, chợt gặp một toán quân mã kéo đến, trông
ra thì là Quan Vân Trường, Tống Trung chưa kịp tránh thì bị Vân Trường gọi lại,
hỏi tỉ mỉ công việc Kinh Châu. Trung trước còn giấu giếm, sau Vân Trường truy
riết, phải nói thật cả.
Vân Trường thất kinh, bắt luôn Tống
Trung đến Tân Dã ra mắt Huyền Đức, kể lại tường tận việc đó.
Huyền Đức nghe xong, khóc ầm lên.
Trương Phi nói:
- Việc thế này, nên chém Tống
Trung trước, rồi cất quân sang sông chiếm lấy Tương Dương, giết Sái thị và Lưu
Tôn, rồi hãy đánh nhau với Tào Tháo.
Huyền Đức nói:
- Chú hãy im đi, để cho ta liệu.
Rồi quát hỏi Tống Trung:
- Mày thấy chúng nó mưu mô như thế
nào, sao không báo cho ta biết trước? Nay ta chém mày cũng vô ích, bước ngay
đi!
Trung bái tạ, ôm đầu lủi thủi đi
thẳng. Huyền Đức đang buồn bực, chợt có tin công tử Lưu Kỳ sai Y Tịch đến, Huyền
Đức vẫn còn nhớ ơn Y Tịch cứu giúp khi trước, nên xuống thềm đón vào, rồi tạ ơn
hai ba lượt.
Tịch nói:
- Đại công tử ở Giang Hạ nghe tin
quận Kinh Châu đã mất, Sái phu nhân cùng với lũ Lưu Tôn bàn nhau không báo
tang, lập Lưu Tôn làm chủ. Công tử sai người đến Kinh Dương dò xét, quả thật là
thế, sợ sứ quân không biết nên sai tôi đem tin buồn đến trình, và xin sứ quân
khởi hết binh mã sang Tương Dương hỏi tội.
Huyền Đức xem xong thư, bảo Y Tịch
rằng:
- Cơ Bá chỉ biết Lưu Tôn chiếm
ngôi, chứ chưa biết Lưu Tôn đã đem cả chín quận Kinh Tương dâng lên Tào Tháo rồi.
Tịch thất kinh, nói rằng:
- Sao sứ quân biết việc ấy?
Huyền Đức mới kể lại chuyện bắt
được Tống Trung, Tịch nói:
- Nếu thế sứ quân nên mượn danh
nghĩa viếng tang, đến Tương Dương dụ Lưu Tôn ra đón, lập tức bắt lấy, giết sạch
những bọn tòng đảng thì Kinh Tương nhất định về tay sứ quân.
Khổng Minh nói:
- Lời Cơ Bá chí phải, chúa công
nên nghe theo.
Huyền Đức ứa nước mắt, nói rằng:
- Lúc anh ta sắp mất đã gửi con
cho ta; nay nếu ta bắt lấy con, cướp lấy đất, thì sau này xuống chín suối còn mặt
mũi nào trông thấy anh ta nữa!
Khổng Minh nói:
- Chúa công không theo kế ấy, nay
quân Tào đã đến Uyển Thanh rồi, thì lấy gì chống cự?
Huyền Đức nói:
- Chi bằng chạy ra Phàn Thành để
tránh.
Đương bàn định, có thám mã phi
báo:
- Quân Tào đã đến Bác Vọng.
Huyền Đức vội vàng bảo Y Tịch về
Giang Hạ sắp sẵn quân mã, còn mình cùng Khổng Minh bàn kế đánh địch.
Khổng Minh nói:
- Xin chúa công cứ bình tĩnh. Lần
trước chỉ có một bó lửa, đã đốt hơn một nửa quân mã Hạ Hầu Đôn. Lần này, quân
Tào lại đến, dù có làm cho nó mắc phải kế trước, thì mình cũng không thể ở Tân
Dã được nữa. Chi bằng ta đi Phàn Thành cho sớm thì hơn.
Lập tức sai người treo bảng bốn cửa
thành, thông báo nhân dân rằng: Bất cứ ai, không nề già, trẻ, trai, gái, muốn
theo thì hôm nay cùng đi Phàn Thành để tạm lánh giặc, không nên chậm trễ. Lại
sai Tôn Càn sang sông sắp đặt thuyền đò để chở trăm họ; còn My Chúc, hộ tống
gia quyến các quan đến Phàn Thành; một mặt, họp các tướng lại để nghe lệnh.
Trước hết sai Quan Công đem một
nghìn quân lên thượng lưu sông Bạch Hà mai phục, mang theo nhiều bao tải đựng đầy
đất cát để lấp khúc sông, đợi đến cuối canh ba hôm sau, hễ nghe tiếng người ngựa
rầm rộ ở hạ lưu thì vớt những túi đất lên cho nước tràn xuống, rồi cứ thuận
dòng sông kéo về tiếp ứng.
Lại sai Trương Phi dẫn một nghìn
quân mai phục ở bến đò Bác Lăng. Khúc sông này nước chảy từ từ, quân Tào bị ngập
tất trốn qua lối đó, bấy giờ thừa thế đánh về để tiếp ứng.
Lại sai Triệu Vân dẫn ba nghìn
quân, chia làm bốn đội; Vân tự lĩnh một đội phục cửa đông; còn ba đội phục ba cửa
tây, nam, bắc. Nhưng trước hết phải gài những vật bắt lửa như lưu hoàng, diêm
tiêu trong các mái nhà trong thành. Quân Tào vào thành tất phải nghỉ ở nhà dân.
Chiều tối hôm sau thế nào cũng có gió lớn. Hễ nổi gió, thì sai quân phục ba cửa
tây, nam, bắc bắn tên lửa vào thành; lúc lửa bốc lên to, bên ngoài hò reo ầm
lên để trợ oai. Các cửa đều phải giữ cả, duy cửa đông bỏ ngỏ cho giặc chạy. Khi
giặc chạy ra, thì thừa thế đuổi đánh, đến sáng sẽ hội với hai tướng Quan,
Trương, thu quân về Phàn Thành.
Còn My Phương, Lưu Phong đem hai
nghìn quân, một nửa cờ đỏ, một nửa cờ xanh, đóng trước gò Thước Vĩ, cách Tân Dã
ba mươi dặm; hễ thấy quân Tào đến thì cho quân cờ đỏ chạy về tả, quân cờ xanh
chạy về hữu. Quân địch nghi hoặc tất không dám đuổi. Hai người lúc ấy chia nhau
ra mai phục, đợi trong thành nổi lửa, sẽ kéo ra đuổi đánh bại binh, rồi lên cả
trên thượng lưu Bạch Hà để tiếp ứng.
Khổng Minh cắt đặt xong xuôi,
cùng với Huyền Đức lên chỗ cao đứng quan sát, đợi tin thắng trận.
Lại nói Tào Nhân, Tào Hồng đem mười
vạn quân làm tiền đội. Đằng trước, đã có Hứa Chử dẫn ba nghìn quân thiết giáp mở
đường rầm rộ kéo đến Tân Dã. Trưa hôm ấy đi đến gò Thước Vĩ, trông thấy trước
gò một toán quân mã cầm toàn cờ hiệu xanh đỏ. Hứa Chử thúc quân tiến lên.
Lưu Phong, My Phương chia làm bốn
đội, cờ đỏ chạy về mé tả, cờ xanh chạy về mé hữu.
Hứa Chử dừng ngựa ra lệnh:
- Hãy dừng lại, đây chắc có quân
mai phục, quân ta đóng ở đây thôi.
Nói rồi, một mình một ngựa báo với
tiền đội Tào Nhân.
Tào Nhân nói:
- Đó là nghi binh, không có mai
phục, ngươi nên tiến quân mau lên, ta sẽ thúc quân tiếp ứng đến.
Hứa Chử quay ngựa tới trước gò,
hô quân đánh vào trong rừng, đuổi tìm toán quân mã lúc nãy, thì chẳng thấy một
người nào nữa. Lúc ấy mặt trời đã lặn về tây. Hứa Chử vừa định tiến lên thì
trên núi thổi còi, đánh trống ầm ĩ, Chử vội ngẩng đầu lên, thấy trên đỉnh núi cắm
một hàng cờ, trong đó có đôi lọng, bên tả thì Huyền Đức, bên hữu thì Khổng Minh
ngồi đối diện uống rượu.
Hứa Chử tức lắm, đem quân tìm đường
lên núi, bị gỗ, đá ở trên lăn xuống, không tài nào lên được; lại nghe mé sau
núi có tiếng reo rầm trời, định tìm lối đến đánh thì trời đã tối.
Tào Nhân kéo quân đến, ra lệnh
hãy cướp thành thì bốn cửa mở toang. Quân Tào xông vào không thấy ngăn trở;
trong thành cũng không có một bóng người nào cả. Tào Hồng nói:
- Lưu Bị gặp thế bí, nên đem cả
trăm họ chạy trốn rồi, quân ta hãy tạm nghỉ lại, sáng mai sẽ tiến.
Lúc này quân sĩ đều mệt và đói
khát cả, liền tranh nhau thổi cơm ăn. Tào Nhân, Tào Hồng vào nghỉ trong huyện.
Cuối canh một, gió to nổi lên.
Lính gác chạy vào báo cháy. Tào Nhân nói:
- Chắc quân sĩ thổi cơm, sơ ý để
lửa cháy đấy thôi, không được xôn xao.
Nói chưa dứt lời, Nhân lại liên
tiếp nhận được tin ba cửa tây, nam, bắc đều bốc cháy. Khi Tào Nhân ra lệnh tất
cả các tướng phải lên ngựa ngay, thì toàn huyện đã trở thành bể lửa bốc sáng rực
trời. Lửa đêm hôm ấy lại cháy dữ hơn lửa đồn Bác Vọng hôm trước.
Đời sau có thơ than rằng:
Tháng chín sang năm đánh Hàn Xuyên
Phong Bá ra oai huyện Tân Dã
Chúc Dung bay xuống Diễm ma thiên[1].
Tào Nhân dẫn tướng tá xông pha
khói lửa tìm đường chạy trốn. Thấy cửa đông không có lửa, Nhân vội vàng chạy ra
phía đó. Quân sĩ giày xéo lẫn nhau, chết nhiều vô kể. Bọn Tào Nhân vừa thoát được
nạn lửa thì đằng sau đã thấy ngay Triệu Vân dẫn quân đuổi đến đánh giết. Quân
Tào tranh nhau chạy trốn, không ai dám ngoảnh cổ lại. Đang chạy, bị My Phương
kéo quân ra bồi cho một trận nữa. Tào Nhân thua to, cướp đường rút chạy. Lưu
Phong lại dẫn quân ra chặn đường, hai bên đánh nhau đến canh tư.
Bấy giờ, người ngựa đều mệt, quân
Tào phần lớn bị bỏng, sém trán, cháy đầu, chạy đến sông Bạch Hà, thấy nước sông
không sâu, người ngựa hí hửng lội xuống uống nước, người thì ồn ào, ngựa thì gầm
hí.
Lại nói Vân Trường đã đem những
túi sỏi lấp khúc sông trên rồi, vừa sẩm tối thấy lửa cháy ở Tân Dã, đến canh tư
lại nghe dưới hạ lưu có tiếng người ngựa kêu, vội vàng hô quân sĩ rút túi sỏi đất
lên, nước đổ xuống như thác, rồi kéo quân theo xuống. Quân Tào lại chết đuối vô
số.
Tào Nhân dẫn quân nhằm chỗ nước
chảy nhẹ, cướp đường chạy. Đi đến bến đò Bác Lăng, lại thấy tiếng reo ầm ĩ, một
toán quân kéo đến chặn đường, đại tướng đi đầu là Trương Phi. Phi quát to:
- Giặc Tào lại chịu chết cho mau!
Quân Tào hết vía.
Thế là:
Bên sông lại gặp cơn gió đen.
Chưa biết tính mệnh quân Tào thế
nào, xem hồi sau mới rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Chúc Dung: tên thần lửa. Diễm ma thiên:
chỗ đóng quân của hoả thần.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét