🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Viên Bản Sơ hao binh tổn tướng
Quan Vân Trường treo ấn gói vàng
Viên Thiệu toan chém Huyền Đức.
Huyền Đức khoan thai bước lên nói:
- Minh công chỉ nghe một lời mà
muốn dứt tình ngay? Bị từ khi ở Từ Châu thất tán, em là Quan Vũ không biết còn
hay mất; thiên hạ người giống mặt nhau không ít, chắc đâu tướng mặt đỏ râu dài
là Vân Trường, minh công sao không xét cho kỹ?
Viên Thiệu vốn là người hay do dự,
nghe Huyền Đức nói bèn trách Thư Thụ:
- Tý nữa ta nghe lời ngươi, giết
mất người hiền.
Rồi lại mời Lưu Bị lên trướng ngồi,
bàn cách báo thù cho Nhan Lương. Dưới trướng có một người tiến lên nói:
- Nhan Lương với tôi như anh em,
nay Lương bị giết, tôi phải rửa hận.
Người ấy mình cao tám thước, mặt
như mặt con giải trũi[1] tên Văn Sú, là danh tướng ở Hà Bắc.
Thiệu mừng nói:
- Phi người không ai báo được thù
cho Nhan Lương. Ta cho đem mười vạn quân, qua ngay Hoàng Hà, đuổi giết quân
Tào.
Thư Thụ nói:
- Không nên. Nay nên đóng quân ở
bến Diên Tân rồi chia một nửa sang bên Quan Độ, mới thực là thượng sách. Nếu
đem cả binh sang sông, phỏng thử có điều gì, thì rút về làm sao được?
Thiệu mắng:
- Chỉ vì các ngươi làm trì hoãn
lòng quân, kéo dài ngày tháng để lỡ việc lớn đó thôi. Ngươi há lại không biết
câu: “Binh quý thần tốc” hay sao?
Thư Thụ trở ra, than rằng:
- Người trên thì kiêu căng, kẻ dưới
thì tham công; nước sông Hoàng Hà chảy cuồn cuộn, ta cũng đành liều chăng!
Rồi cáo bệnh, không ra bàn việc
quân nữa.
Huyền Đức nói:
- Bị đội ơn lớn, chưa lấy gì báo
đáp, nay muốn cùng đi với Văn tướng quân, trước là để báo đáp minh công, sau là
để dò xem tin tức Vân Trường.
Thiệu ưng ý, sai Văn Sú cùng Huyền
Đức lĩnh tiền bộ, Sú nói:
- Huyền Đức là tướng bị thua
luôn, cho ra quân không lợi. Nay chúa công muốn cho ông ấy cùng đi, tôi xin
chia ba vạn quân để ông ta đi sau làm hậu bộ.
Bởi thế Văn Sú lĩnh bảy vạn đi
trước, Huyền Đức lĩnh ba vạn đi sau.
Đây nói Tào Tháo từ khi thấy Quan
Công chém được Nhan Lương, lại càng kính trọng lắm, làm biểu tâu lên triều
đình, phong cho Vân Trường là Hán Thọ đình hầu, đúc ấn giao cho Quan Công.
Chợt có tin báo: Viên Thiệu lại
sai đại tướng là Văn Sú sang sông Hoàng Hà, hiện đã đóng quân ở bến Diên Tân.
Tháo sai người đem dân cư ở đó dời
sang phía tây sông, rồi đem quân ra đánh, truyền lệnh lấy hậu quân làm tiền
quân, lấy tiền quân làm hậu quân, lương thảo cho đi trước, binh lính kéo đi
sau.
Lã Kiền hỏi:
- Lương đi trước, quân đi sau là
ý làm sao?
Tháo nói:
- Lương thảo đi sau, bị cướp mất
nhiều, nên cho đi trước.
Kiền lại hỏi:
- Thế lúc giặc đến, thì làm thế
nào?
Tháo nói:
- Bấy giờ sẽ liệu.
Kiền trong bụng nghi hoặc, không
hiểu. Tào Tháo cứ sai chở lương thảo và các xem đồ đi men sông đến Diên Tân.
Tháo ở hậu quân, nghe thấy tiền quân reo hò, vội cho người ra xem, mọi người đều
báo:
- Văn Sú dẫn binh lại, quân ta đều
bỏ cả lương thảo, bốn mặt chạy tán loạn, hậu quân thì ở xa, bây giờ làm thế
nào?
Tháo lấy roi trỏ vào hai cái gò đất
ở phía nam, bảo:
- Chỗ kia có thể tạm tránh.
Người, ngựa vội vàng chạy cả lên
gò đất.
Tháo truyền cho quân sĩ cởi áo
giáp, ngồi nghỉ, thả hết cả ngựa ra.
Quân Văn Sú kéo ập ngay đến. Các
tướng nói:
- Giặc đã đến, xin cho thu ngựa lại
rồi kéo về Bạch Mã.
Tuân Du vội vàng ngăn lại:
- Chính là để dử giặc, sao lại
lui!
Tháo đưa mắt cho Tuân Du mà cười.
Du biết ý, không nói nữa. Quân Văn Sú đã lấy được lương thảo xa trượng, lại
tranh nhau cướp ngựa. Quân sĩ nhốn nháo mất cả hàng ngũ.
Bấy giờ Tháo sai quân, tướng xuống
đánh. Quân Văn Sú rối loạn. Quân Tào vây bọc lại. Văn Sú một mình chống chọi,
quân sĩ giày xéo lẫn nhau mà chạy. Văn Sú ngăn cấm không được, cũng phải quay
ngựa chạy nốt. Tháo đứng trên nói trỏ xuống bảo:
- Văn Sú là danh tướng Hà Bắc, ai
có thể bắt cho ta?
Trương Liêu, Từ Hoảng hai ngựa
cùng xông ra, gọi to:
- Văn Sú đừng chạy nữa.
Văn Sú ngoảnh lại, thấy hai tướng
đuổi theo, cắp vững ngọn giáo, giương cung đặt tên, định bắn Trương Liêu. Từ Hoảng
kêu to lên:
- Tướng giặc không được bắn trộm.
Trương Liêu cúi đầu vội tránh,
mũi tên cắm ngay vào cái chỏm mũ, đứt phăng dải mũ, Liêu cố sức đuổi. Văn Sú lại
bắn phát nữa trúng ngay giữa trán ngựa. Ngựa gục hai chân trước, Liêu ngã xuống
đất. Văn Sú quay ngựa trở lại, Từ Hoảng tay cầm búa lớn, giơ lên đánh chặn đường.
Quân Văn Sú ở mặt sau kéo đến. Hoảng liệu địch không nổi, quay ngựa chạy về.
Văn Sú cứ men sông đuổi theo. Chợt thấy hơn mười quân kỵ mã, cờ hiệu phấp phới,
một tướng đứng đầu, cầm long đao tế ngựa đến, chính là Quan Vũ.
Quan Công quát to một tiếng: “Tướng
giặc đừng chạy!” rồi xông lại đánh Văn Sú. Chưa được ba hiệp, Văn Sú thấy núng
liền quay ngựa chạy. Ngựa Quan Công chạy nhanh, sấn kịp ngay sau lưng Văn Sú,
Quan Công đưa một nhát đao, Văn Sú ngã chết ngay dưới chân ngựa.
Tào Tháo ở trên gò đất thấy Quan
Công chém được Văn Sú, thúc quân sĩ ùa cả ra đánh. Quân Hà Bắc ngã xuống sông
chết quá nửa. Lương thảo và ngựa lại bị quân Tào cướp lại được cả.
Quan Vũ dẫn vài mươi quân kỵ mã tả
xông hữu đột. Giữa lúc đánh nhau dữ dội, Huyền Đức dẫn ba vạn quân theo sau vừa
kéo đến. Thám tử đi trước trở về báo:
- Lần này lại là tướng đỏ mặt râu
dài chém chết Văn Sú rồi.
Huyền Đức vội vàng tế ngựa lên
xem, cách sông trông thấy một đội quân mã, đi lại như bay, trên lá cờ viết bảy
chữ “Hán Thọ đình hầu Quan Vân Trường”.
Huyền Đức tạ thầm trời đất:
- Em ta quả nhiên còn ở bên Tào
Tháo!
Huyền Đức định gọi sang chào hỏi,
nhưng quân Tào kéo đến, Huyền Đức phải thu quân về.
Viên Thiệu đem quân tiếp ứng đến
Quan Độ hạ trại. Quách Đồ, Thầm Phối nói:
- Phen này lại là Quan Vũ giết chết
Văn Sú, thế mà Lưu Bị còn giả cách không biết.
Viên Thiệu nổi giận mắng:
- Thằng giặc tai to, sao dám như
thế?
Một lát Huyền Đức vào. Thiệu thét
lôi ra chém.
Huyền Đức nói:
- Tôi có tội gì?
Thiệu nói:
- Mày lại cố ý sai em mày giết mất
của tao một viên đại tướng nữa, sao lại nói là vô tội?
Huyền Đức nói:
- Xin để tôi giãi bày một lời rồi
hãy giết: Tào Tháo vốn ghét tôi, nay biết tôi ở chỗ minh công, sợ tôi giúp minh
công, nên sai em tôi giết hai tướng. Minh công biết, tất nhiên giận tôi. Thế là
Tháo muốn mượn tay minh công để giết tôi đó. Xin minh công nghĩ lại.
Viên Thiệu nói:
- Huyền Đức nói phải lắm! Tý nữa
các ngươi để ta phải chịu cái tiếng giết người hiền.
Nói rồi, quát tả hữu lui ra và mời
Huyền Đức lên ngồi trên trướng. Huyền Đức nói:
- Bị nay đội ơn khoan hồng của
minh công, không biết lấy gì báo đáp. Nay muốn sai một người tâm phúc đem mật
thư đưa cho Vân Trường, cho biết tin tôi ở đây. Em tôi tất phải đi suốt ngày
đêm đến ngay giúp minh công, cùng đánh Tào Tháo, để báo thù cho Nhan Lương, Văn
Sú, minh công nghĩ thế nào?
Viên Thiệu mừng nói:
- Ta được Vân Trường tức là được
một viên tướng giỏi gấp mười lần Nhan Lương, Văn Sú.
Lưu Bị viết thư, chưa tìm được
người được sai đi. Thiệu truyền lui quân về Võ Dương, hạ trại liên tiếp vài
mươi dặm, đóng quân lại, không ra đánh nữa.
Tháo sai Hạ Hầu Đôn đem quân chặn
cửa ải Quan Độ, còn mình thì rút quân về Hứa Đô, mở đại yến mời các quan và mừng
công Vân Trường. Nhân bảo Lã Kiền:
- Hôm trước ta cho lương thảo đi
trước, quân đi sau, là mẹo để dử giặc. Bấy giờ duy chỉ có Tuân Du biết ý ta.
Mọi người đều thán phục.
Đương ăn yến, chợt có người báo:
- Đất Nhữ Nam có giặc Hoàng Cân
là Lưu Tích, Cung Đô rất là ngang tàn, Tào Hồng đánh mãi không được, xin cho
quân ra cứu.
Vân Trường nghe nói, tiến lên
thưa:
- Tôi xin đem hết sức khuyển mã
phá giặc Nhữ Nam.
Tháo nói:
- Vân Trường vừa có công to, chưa
kịp trọng thưởng được, ta sao lại để Vân Trường đi đánh giặc phải chịu khó nhọc?
Quan Công nói:
- Tôi nhàn rỗi lâu nay hay sinh bệnh
tật. Xin cho tôi đi một chuyến.
Tào Tháo khen là có chí khí, điểm
năm vạn quân, sai Vu Cấm, Nhạc Tiến làm phó tướng, hôm sau đi liền.
Tuân Úc thầm bảo Tháo:
- Vân Trường vẫn có lòng về với họ
Lưu, nếu biết có tin ở đâu, thì y đi ngay, không nên sai đi đánh luôn.
Tháo nói:
- Lần này để y lập công, lần sau
không sai đi nữa.
Quan Công lĩnh binh đến gần Nhữ
Nam, dừng quân đóng trại. Đang đêm bỗng bắt được hai người đi do thám. Quan
Công trông trong hai người, nhận được một người là Tôn Càn, liền đuổi tả hữu
ra, rồi hỏi Càn rằng:
- Từ khi tan vỡ, không nghe thấy
tin tức gì, sao ông lại ở đây?
Càn nói:
- Tôi từ khi trốn nạn, xiêu dạt
sang Nhữ Nam, may gặp được Lưu Tích cho vào nương tựa ở đó. Nay tướng quân sao
lại ở bên Tào Tháo? Thế còn Cam, My hai phu nhân thì thế nào?
Quan Công đem hết cả chuyện đầu
đuôi thuật lại cho Tôn Càn nghe. Càn nói:
- Mới đây tôi nghe tin ông Huyền
Đức ở bên Viên Thiệu, muốn sang theo, chưa có dịp nào tiện. Nay Lưu Tích, Cung
Đô hai người đã hàng Thiệu, cùng giúp đánh Tào. May đâu lại gặp tướng quân đến
đây, nên mới sai quân dẫn đường, tôi giả làm quân do thám đến báo để tướng quân
biết. Ngày mai, Lưu Tích, Cung Đô hai người ra đánh giả cách thua tướng quân một
trận. Ông đem hai phu nhân đến chỗ Viên Thiệu để gặp Huyền Đức.
Quan Công nói:
- Anh ta đã ở bên Viên Thiệu, thế
nào sớm tối ta cũng sang ngay. Nhưng ta đã chém mất hai tướng của Viên Thiệu, sợ
có việc biến xảy ra.
Càn nói:
- Để tôi đến đó xem hư thực ra
sao, rồi sẽ về báo lại.
Quan Công nói:
- Ta được trông thấy anh ta, dù
có chết cũng không từ. Nay ta về Hứa Đô, từ giã Tào Tháo đã.
Rồi đang đêm ngầm tiễn Tôn Càn
đi.
Hôm sau, Quan Công dẫn quân ra,
Cung Đô mặc áo giáp ra trận, Quan Công hỏi:
- Chúng bay sao dám làm phản triều
đình?
Đô đáp:
- Mày là đứa phản chủ, còn trách
gì ta?
Quan Công hỏi:
- Ta thế nào là phản chủ?
Đô đáp:
- Lưu Huyền Đức ở bên Viên Bản
Sơ, sao mày lại đi theo Tào Tháo?
Quan Công không trả lời, quất ngựa
múa đao xông vào. Cung Đô bỏ chạy ngay. Quan Công đuổi theo. Đô ngoảnh lại bảo
Quan Công rằng:
- Ân nghĩa chủ cũ, không nên
quên. Ông cứ cho quân tiến nhanh lên, ta nhường Nhữ Nam cho.
Quan Công biết ý, thúc quân xông
vào. Lưu Tích, Cung Đô cùng giả làm thua, chạy tản ra bốn mặt. Quan Công cướp
được châu quận, yên dân xong, rút quân về Hứa Xương.
Tào Tháo ra ngoài quách đón, khao
thưởng quân sĩ. Ăn yến xong, Vân Trường về nhà, vào thăm hai chị, đứng ở ngoài
cửa. Cam phu nhân hỏi:
- Hai lần chú ra quân, có nghe
tin hoàng thúc ở đâu chưa?
Quan Công đáp:
- Thưa chưa!
Rồi trở ra. Hai phu nhân hu hu
khóc, nói:
- Hoàng thúc dễ thường mất rồi.
Chú sợ hai chị em ta buồn rầu, nên giấu không nói thật chứ gì?
Đương khóc, có một người lính già
đứng hầu ngoài cửa, nói:
- Xin hai phu nhân đừng khóc.
Chúa công hiện ở bên Hà Bắc với Viên Thiệu.
Hai bà hỏi:
- Sao nhà ngươi biết?
Người lính thưa:
- Tôi theo Quan tướng quân đi
đánh giặc, có người ở trên trận nói chuyện.
Hai bà gọi ngay Vân Trường đến
trách:
- Hoàng thúc chưa từng phụ ngươi
bao giờ, nay ngươi được chịu ân Tào Tháo, quên cả nghĩa cũ, không lấy sự thực bảo
chúng ta là cớ làm sao?
Quan Công cúi đầu nói:
- Anh nay thực ở Hà Bắc, em chưa
dám để hai chị biết, là sợ việc lỡ ra tiết lộ, không lợi. Việc này nên lo tính
thong thả, không nên vội vàng.
Cam phu nhân nói:
- Chú nên lo tính cho mau.
Quan Công lui về, nghĩ cách nên
đi thế nào, đứng ngồi không yên.
Nguyên là Vu Cấm dò biết Lưu Bị ở
Hà Bắc, đã báo với Tào Tháo. Tháo sai Trương Liêu đến dò ý Quan Công. Quan Công
hôm ấy đương ngồi buồn, Trương Liêu vào mừng:
- Nghe anh khi ra trận, đã biết
tin Huyền Đức, nên em đến mừng.
Quan Công đáp:
- Chủ cũ tuy ở đó, nhưng chưa được
gặp, đã có chi đáng mừng.
Liêu lại hỏi:
- Anh kết thân với Huyền Đức, so
giữa anh với tôi, bên nào thân hơn.
Quan Công nói:
- Tôi với anh là nghĩa bầu bạn;
tôi với Huyền Đức bầu bạn mà là anh em, anh em mà lại là vua tôi, hai đường ví
với nhau thế nào được?
Liêu mới hỏi:
- Nay Huyền Đức ở Hà Bắc, anh có
đi theo không?
Quan Công nói:
- Lời nói ngày trước, sao lại
trái được! Nhờ Văn Viễn hết lòng trình bày hộ tôi với thừa tướng.
Trương Liêu đem lời Quan Công về
nói lại với Tào Tháo. Tháo nói:
- Ta đã có cách giữ lại.
Quan Công đương ngồi nghĩ ngợi,
chợt thấy báo có người bạn cũ đến hỏi thăm. Quan Công mời vào, thì là người
không quen bao giờ. Quan Công hỏi:
- Ông là ai?
Người lạ đáp:
- Tôi là Trần Chấn, người ở Nhữ
Nam, bộ hạ của Viên Thiệu.
Quan Công giật mình, vội vàng bảo
tả hữu lui ra, rồi hỏi:
- Tiên sinh lại đây chắc có việc
gì?
Chấn đưa ra một phong thư, Quan
Công mở ra xem thì là thư của Huyền Đức, đại lược trong thư nói:
“Bị cùng túc hạ, kết nghĩa vườn
đào, thề cùng sống thác, nay sao nửa đường bỏ nhau, cắt đứt ân nghĩa? Túc hạ nếu
muốn lập công danh, toan đường phú quý, Bị xin đem đầu dâng túc hạ để túc hạ lập
nên công lớn. Thư nói không xiết, chịu chết ngồi chờ lệnh”.
Quan Công xem xong thư, khóc to
nói:
- Tôi không phải không muốn tìm
anh, chỉ vì chẳng biết anh ở đấy, chớ đâu dám cầu phú quý mà quên lời thề cũ.
Trần Chấn nói:
- Huyền Đức mong đợi ông lắm. Ông
đã không trái ước cũ, nên đi nhanh đến gặp Huyền Đức.
Quan Công nói:
- Làm người sinh trong trời đất,
không có thuỷ chung, không phải là quân tử. Ta lúc lại đây phân minh, thì lúc ở
đây đi cũng phải phân minh. Nay tôi viết thư, nhờ tiên sinh đem về cho anh tôi
biết trước, để tôi từ giã Tào Tháo, sẽ đem cả hai chị về gặp anh tôi sau.
Chấn nói:
- Ngộ Tào Tháo không nghe thì làm
thế nào?
Quan Công đáp:
- Ta thà chết, chớ sao chịu ở lại
đây!
Chấn nói:
- Ông mau viết thư trả lời, để
Lưu sứ quân khỏi mong đợi.
Quan Công viết thư đáp lại:
“Trộm nghĩ: đã là nghĩa thì
không bao giờ phụ lòng; đã là trung thì không bao giờ sợ chết. Vũ này từ thuở
nhỏ bé đọc sách, hơi biết lễ nghĩa. Xem truyện, Dương Giốc Ai và Tả Bá Đào[2] thường
than thở hai ba lần, mà sa nước mắt.
“Khi trước giữ thành Hạ Phì,
trong lòng không có thóc chứa, ngoài chẳng có viện binh, đã toan liều chết,
nhưng vì có trọng trách đối với hai chị, không dám quyên sinh để phụ lòng uỷ
thác của anh, cho nên còn tạm nương náu đây, mong có ngày cùng nhau tụ hội.
“Mới đây em đến Nhữ Nam, mới
biết tin anh. Xin lập tức từ giã Tào công, đem hai chị về. Em bằng có bụng
khác, thần người cùng giết. Moi gan rạch mật, bút giấy nói không hết lời, bái
kiến có ngày, xin nhủ lòng soi xét”.
Trần Chấn mang thư về, Quan Công
vào nhà trong nói với hai chị, rồi vào ngay tướng phủ để từ biệt Tào Tháo. Tháo
đã biết trước, sai treo một cái biển “hồi tỵ”[3] ở ngoài tướng
phủ. Quan Công đành lủi thủi trở về, sai những người tuỳ tùng cũ, thu xếp xe ngựa
sẵn sàng, lại dặn bảo trong nhà: phàm bao nhiêu những đồ Tào Tháo cho, đều để cả
lại, cái tơ cái tóc cũng không được mang đi.
Hôm sau Quan Công lại đến tướng
phủ để từ tạ. Ngoài cửa vẫn có biển “hồi tỵ”. Quan Công đến luôn mấy lần, đều
không được vào, bèn đến nhà Trương Liêu để nói chuyện. Liêu cũng cáo ốm không
ra. Quan Công nghĩ:
- Đây là Tào thừa tướng có ý
không cho ta đi. Chí ta đã quyết, há lại còn dùng dằng ở lại nữa sao?
Bèn viết một phong thư từ tạ Tào
Tháo. Thư như sau:
“Tôi từ trước đã thờ hoàng
thúc, thề cùng sống chết, trên: trời cao, dưới: đất dày, đều đã chứng giám;
ngày nọ thất thủ Hạ Phì, tôi xin ba điều, đã được thừa tướng chấp nhận. Nay được
tin chủ cũ ở bên Viên Thiệu, tôi nhớ lại lời thề ngày trước há dám sai trái? Ơn
mới tuy hậu, nghĩa cũ khó quên, dâng thư cáo từ, xin soi xét cho. Ơn còn thiếu
chưa báo được hết, xin đợi khi khác”.
Viết xong, dán lại, sai người
mang đến tướng phủ. Một mặt đem những vàng bạc đã được tặng mấy lần trước gói hết
cả lại bỏ vào kho, treo ấn Hán Thọ đình hầu trên sảnh đường, rồi mời hai phu
nhân lên xe.
Quan Công cưỡi ngựa Xích thố tay
cầm thanh long đao, dẫn bọn người tuỳ tùng cũ đi hộ tống xa trượng, đi tắt ra cửa
thành. Lính canh cửa ngăn lại, Quan Công trừng mắt, giơ long đao lên, quát to một
tiếng, lính canh lẩn tránh hết cả. Quan Công ra khỏi cửa thành dặn những người
tuỳ tùng:
- Các ngươi hộ tống xa trượng đi
trước. Ngộ có người đuổi theo, đã có ta ở sau chống lại. Không được để hai phu
nhân sợ hãi.
Quân hầu cứ theo đường cái quan,
đẩy xe đi.
Tào Tháo đang ngồi cùng mọi người
bàn tán chuyện Quan Công thì có người mang thư của Quan Công vào trình.
Tháo mở ra xem, thất kinh nói:
- Vân Trường đi mất rồi!
Chợt lại có tướng giữ cửa bắc phi
ngựa lại báo:
- Quan Công cướp cửa đi ra, xe ngựa
đồ đạc hơn hai mươi người, đi về phía bắc.
Lại có người ở nhà Quan Công đến
báo:
- Quan Công gói hết cả các đồ
vàng bạc của thừa tướng cho ngày trước, để ở trong kho. Mười người mỹ nữ để ở
nhà trong, ấn Hán Thọ đình hầu thì treo ở nhà sảnh đường, những kẻ hầu người hạ
của thừa tướng cắt đến đều không đem đi, chỉ mang những người tuỳ tùng cũ và
hành lý tuỳ thân đi ra cửa bắc.
Mọi người đều ngạc nhiên. Một
viên tướng nhảy ra nói:
- Tôi xin đem ba nghìn quân thiết
kỵ bắt sống Quan Vũ đem về nộp thừa tướng!
Mọi người nhìn xem là ai, thì là
Sái Dương.
Thế mới thực là:
Lại gặp ba nghìn lính hổ lang
Chưa biết Sái Dương xin đi đuổi Quan Công thế nào, xem đến hồi sau mới tỏ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Tên con thú kỳ dị trong truyện thần thoại, biết phân
biệt phải trái, hễ thấy hai người đánh nhau thì lấy sừng húc vào người
trái lẽ.
- ▲ Dương Giốc Ai, Tả Bá Đào người nước Yên ở thời Chiến
quốc, hai người kết bạn thề cùng sống chết. Nghe tin vua nước Sở quý trọng
người hiền, hai người rủ nhau đến nước Sở. Đi đường trời rét, lương thực
ít, Bá Đào bảo Ai: “Anh giôi hơn tôi, anh đi thôi” bèn nhường cả quần áo
và lương thực cho Ai, rồi vào rừng chết.
- ▲ Tránh xa, không được đến gần. Cái biển của các quan lại
đời phong kiến, thường dùng hoặc mang đi đường, hoặc treo trước cửa, ra hiệu
cho người ngoài đừng lai vãng đến.
Trong bọn bộ hạ Tào Tháo, ngoài
Trương Liêu ra, có Từ Hoảng là thân với Quan Vũ, còn các tướng ai cũng kính phục,
duy chỉ có Sái Dương là không phục, cho nên hôm ấy nghe tin Quan Công đi, Sái
Dương xin đi đuổi bắt về.
Tháo nói:
- Không quên chủ cũ, lúc đến, lúc
đi đều phân minh, thế mới thực là trượng phu. Các ngươi nên bắt chước.
Nói rồi mắng Sái Dương, không cho
đi đuổi.
Trình Dục nói:
- Thừa tướng đãi Quan Vũ rất hậu,
nay không bái từ, tự tiện đi, viết nhăng mảnh giấy gửi lại, khinh nhàm oai
trên, là có tội lớn. Nếu tha cho y về với Viên Thiệu, khác gì cho hổ thêm cánh,
chi bằng đuổi giết đi, để dứt vạ về sau.
Tháo nói:
- Trước ta đã hứa, không nên thất
tín. Người ta đã vì chủ cũ, không nên đuổi.
Nhân thế bảo Trương Liêu:
- Vân Trường gói vàng treo ấn, của
cải không thay lòng, tước lộc không đổi chí, những người như thế ta rất kính trọng.
Bây giờ Vân Trường đi cũng chưa xa, ta muốn ra kết thân với hắn, để lưu lại một
chút tình về sau. Ngươi nên cưỡi ngựa đi trước, mời hắn dừng lại, đợi ta ra tiễn,
còn có lộ phí và chiến bào đem tặng, để làm kỷ niệm.
Trương Liêu vâng lệnh, cưỡi ngựa
đi trước, Tào Tháo dẫn vài mươi kỵ mã đi sau.
Vân Trường cưỡi ngựa Xích thố, sức
đi được nghìn dặm, giá có một mình thì chẳng ai đuổi kịp, nhưng vì hộ tống xa
trượng, phải đi thong thả. Chợt nghe đằng sau có người gọi:
- Xin Vân Trường hãy đi chậm lại.
Quan Công ngoảnh lại, thấy Trương
Liêu cưỡi ngựa đến. Quan Công giục những người tuỳ tùng cứ đẩy xa trượng theo
đường cái đi mau lẹ lên trước, còn mình thì dừng ngựa lại tay cầm vững long
đao, hỏi:
- Văn Viễn định đuổi theo bắt ta
chăng?
Liêu thưa:
- Không phải thế, thừa tướng biết
anh đi xa, muốn ra tiễn chân, cho nên sai tôi lại đây, xin anh hãy dừng ngựa lại.
Quan Công nói:
- Dù đội thiết kỵ của thừa tướng
kéo đến, ta xin quyết một trận tử chiến.
Nói rồi dừng ngựa, đứng ở trên cầu
trông lại, thấy Tào Tháo dẫn vài mươi quân kỵ mã chạy đến, đằng sau có bọn Hứa
Chử, Từ Hoảng, Vu Cấm, Lý Điển. Tháo thấy Quan Công cầm đao cưỡi ngựa đứng trên
cầu, liền truyền các tướng dừng cả lại, đứng sắp hàng hai bên. Quan Công thấy
các tướng đi tay không, bấy giờ mới vững dạ.
Quan Công ngồi trên ngựa, cúi
mình xuống nói:
- Trước tôi đã có lời thưa với thừa
tướng. Nay chủ cũ tôi ở Hà Bắc, thế tất tôi phải vội đi. Đã mấy lần đến phủ,
không được vào hầu, cho nên đã có bức thư để cáo từ, gói vàng bạc, ấn, nộp lại
thừa tướng. Xin thừa tướng đừng quên lời ước ngày trước.
Tháo nói:
- Ta còn muốn thủ tín với thiên hạ,
sao lại phụ lời ước. Nhưng sợ tướng quân đi đường thiếu dùng, nên đem ít đồ
hành trang lại tiễn.
Nói xong sai một tướng xuống ngựa
bưng một mâm vàng đến.
Quan Công nói:
- Tôi nhiều lần đội ơn thừa tướng
ban thưởng, hãy còn đủ dùng. Xin để lại số vàng này thưởng cho tướng sĩ.
Tháo nói:
- Quà nhỏ mọn thưởng công to lớn,
sao tướng quân lại từ chối?
Quan Công nói:
- Chút công nhỏ mọn đáng kể chi!
Tháo cười nói:
- Quan Vân Trường là nghĩa sĩ
trong thiên hạ, tiếc vì ta kém phúc, không lưu lại được. Nay gọi là có chiếc cẩm
bào để giãi bày tấm lòng thành.
Nói rồi sai một tướng hai tay
nâng tay áo cẩm bào dâng lên.
Vân Trường sợ có mưu kế gì, không
dám xuống ngựa, dùng mũi long đao khều lấy cẩm bào, quàng lên vai, gò cương ngựa
quay đầu lạy tạ:
- Đội ơn thừa tướng cho áo. Có
ngày sẽ gặp lại nhau.
Tạ rồi, xuống cầu nhằm phía bắc tế
ngựa đi thẳng.
Hứa Chử nói:
- Kẻ đó thực vô lễ, sao không bắt
lấy?
Tháo nói:
- Người ta một mình một ngựa,
chúng ta hơn mười người, trách nào người ta chẳng nghi? Ta đã có lời ước, không
nên đuổi.
Nói rồi, cùng các tướng trở về.
Tào Tháo vừa đi đường vừa khen vừa tiếc Quan Công.
Quan Công tế ngựa chạy theo cho kịp
xa trượng. Chạy ước được ba mươi dặm, chẳng thấy xa trượng đâu, Quan Công liền
tế ngựa tìm quanh cả bốn mặt. Chợt nghe ở trên đỉnh núi có tiếng gọi:
- Quan tướng quân hãy đứng lại.
Quan Công ngẩng mặt lên trông,
thì thấy một chàng trẻ tuổi, khăn vàng áo gấm, vác giáo cưỡi ngựa, dưới cổ ngựa
treo một cái đầu người, dẫn hơn một trăm quân bộ, chạy lại.
Quan Công hỏi:
- Ngươi là ai?
Chàng trẻ tuổi bỏ giáo xuống ngựa,
thụp lạy. Vân Trường sợ có mưu mẹo gì, dừng ngựa cầm đao hỏi:
- Xin tráng sĩ cho biết tên họ.
Người ấy đáp:
- Tôi là Liêu tên Hoá, tự là
Nguyên Kiệm, vốn người Tương Dương, nhân thời loạn, lưu lạc giang hồ, tụ tập được
hơn năm trăm người, cướp bóc kiếm ăn. Mới rồi có người bạn là Đỗ Viễn, xuống
núi tuần tiễu, nhỡ cướp phải hai vị phu nhân đem lên núi. Tôi hỏi người theo hầu,
mới biết là phu nhân của Lưu hoàng thúc nhà Đại Hán. Lại nghe có tướng quân đi
hộ tống, tôi muốn đưa ngay hai phu nhân xuống núi. Đỗ Viễn ăn nói càn dỡ, tôi
giết đi, đem đầu lại nộp tướng quân, xin chịu tội.
Quan Công hỏi:
- Hai phu nhân ở đâu?
- Hiện ở trên núi.
Quan Công sai đem ngay xuống núi.
Được một lúc hơn một trăm người rước xa trượng ra. Quan Công xuống ngựa, đặt
đao, chắp tay đứng trước xe hỏi:
- Hai chị có bị sợ hãi gì không?
Hai phu nhân nói:
- May nhờ Liêu tướng quân cứu
cho, chớ không thì đã bị Đỗ Viễn nó làm nhục rồi.
Quan Công hỏi những người tuỳ
tùng:
- Liêu Hoá làm thế nào cứu hai
phu nhân?
Họ thưa:
- Đỗ Viễn cướp hai phu nhân đem
lên núi, định chia với Liêu Hoá mỗi người lấy một bà làm vợ. Hoá hỏi căn do làm
sao, khi đã biết rồi, có bụng kính nể, can Đỗ Viễn, Viễn không nghe, nên Liêu
Hoá giết đi.
Quan Công nghe nói, liền tạ Liêu
Hoá. Hoá xin đem bộ hạ đi theo Quan Công. Quan Công nghĩ người ấy là dư đảng của
Khăn Vàng, không nên cho đi theo, bèn từ tạ không nhận. Liêu Hoá lại đem biếu
vàng lụa, Quan Công cũng không lấy. Liêu Hoá từ biệt, dẫn quân về núi.
Quan Công liền đem việc Tào Tháo
ra tiễn, tặng bào, kể lại với hai chị, rồi giục xe đi.
Đến chiều tối vào nghỉ trọ một
nhà trong làng. Chủ nhà đầu râu tóc bạc ra đón hỏi tên họ. Quan Công thi lễ
nói:
- Tôi là Quan Vũ em Lưu Huyền Đức.
Chủ nhà lại hỏi:
- Ngài có phải là ông Quan Công
đã chém Nhan Lương, Văn Sú không?
Quan Công thưa:
- Phải, chính tôi.
Ông già mừng lắm, mời ngay Quan
Công vào nhà.
Quan Công thưa:
- Còn hai vị phu nhân ngồi trên
xe.
Ông già gọi vợ con ra đón vào
trong nhà. Quan Công chắp tay đứng hầu bên cạnh hai phu nhân. Ông già mời ngồi,
Quan Công nói:
- Hai chị tôi đây, tôi không dám
ngồi.
Ông già biết ý, bảo vợ con mời
hai phu nhân vào nhà trong khoản đãi, còn mình thì ở ngoài nhà tiếp Quan Công.
Quan Công hỏi tên họ ông già, ông già thưa:
- Tôi họ Hồ tên Hoa, đời vua Hoàn
Đế từng làm nghị lang, về sau từ quan về làng ở. Nay có con giai là Hồ Ban, làm
tùng sự phủ quan thái thú Huỳnh Dương tên là Vương Thực. Nếu tướng quân có đi
qua đường ấy, nhờ đưa hộ một phong thư cho con tôi.
Quan Công xin vâng.
Hôm sau, cơm sớm xong, Quan Công
mời hai chị lên xe, nhận lấy thư của Hồ Hoa, từ biệt nhau, rồi đi sang Lạc
Dương. Đi đến một cửa quan là cửa Đông Lĩnh, tướng giữ quan tên là Khổng Tú,
đem năm trăm quân đóng trên ngọn núi. Quân sĩ lên báo với Khổng Tú. Tú ra cửa
quan tiếp đón. Quan Công xuống ngựa, thi lễ. Tú hỏi:
- Tướng quân đi đâu?
- Tôi vừa cáo từ thừa tướng, sang
Hà Bắc để tìm anh.
Tú nói:
- Viên Thiệu ở Hà Bắc, chính là kẻ
đối đầu với thừa tướng, tướng quân sang đấy, hẳn có giấy tờ của thừa tướng.
Quan Công đáp:
- Vì hành kỳ vội quá, không kịp
xin giấy tờ.
Tú nói:
- Nếu không có giấy tờ, tôi phải
sai người trình thừa tướng, rồi mới dám để tướng quân đi.
Quan Công nói:
- Đợi phải bẩm báo, lỡ mất hành
trình của tôi.
Tú đáp:
- Phép tắc bắt buộc, phải thế mới
được.
Quan Công hỏi:
- Ngươi không cho ta qua cửa quan
phải không?
Tú nói sẵng:
- Muốn đi thì phải để già trẻ lại
đây làm con tin.
Quan Công nổi giận, cầm đao toan
giết Khổng Tú. Tú chạy vào cửa quan, nổi trống họp quân, mặc áo giáp, lên ngựa,
kéo ra cửa quân quát to:
- Ngươi dám vượt cửa quan chăng?
Quan Công truyền xa trượng lui lại,
rồi cầm long đao, giục ngựa tiến thẳng vào đánh Khổng Tú. Tú vác giáo, nghênh địch.
Hai ngựa đấu nhau chỉ được một hiệp, Tú bị chém chết ngã dưới chân ngựa.
Quân sĩ chạy tan cả.
Quan Công gọi lại bảo:
- Quân sĩ đừng chạy, ta giết Khổng
Tú là bất đắc dĩ. Việc này không liên can gì đến các ngươi. Nhờ các ngươi thưa
lại với thừa tướng: “Khổng Tú muốn hại ta, nên ta phải giết đi”.
Quân sĩ đều thụp xuống lạy trước
ngựa. Quan Công lại mời hai phu nhân ra ngoài cửa quan, đi về đường Lạc Dương.
Có người báo thái thú Lạc Dương
là Hàn Phúc biết tin, Phúc họp ngay các tướng lại bàn. Nha tướng là Mạnh Thản
nói:
- Không có giấy tờ của thừa tướng,
tất là đi lén lút, nếu không ngăn lại, tất bị tội lỗi.
Hàn Phúc nói:
- Quan Công dũng mãnh lắm. Nhan
Lương, Văn Sú đều bị hắn giết. Nay không thể dùng sức địch lại với hắn, chỉ nên
dùng mưu mới được.
Mạnh Thản nói:
- Tôi có một kế: lấy chông chà
rào kín cửa quan, đợi khi hắn đến, tôi ra đánh nhau, rồi giả tảng thua chạy, dử
cho hắn đuổi theo, ông đứng núp một nơi, lấy tên mà bắn. Nếu bắn ngã ngựa, bắt
giải về Hứa Đô, chắc được trọng thưởng.
Vừa bàn định xong, quân vào báo
xa trượng của Quan Công đã đến. Hàn Phúc đeo cung cài tên, đem một nghìn quân
mã dàn ngoài cửa quan, hỏi:
- Người đến kia là ai?
Quan Công ngồi trên ngựa, cúi
mình nói:
- Hán Thọ đình hầu Quan mỗ xin nhờ
đường đi qua.
Hàn Phúc hỏi:
- Có giấy tờ của thừa tướng
không?
Quan Công đáp:
- Ta bận việc không kịp lấy.
Hàn Phúc nói:
- Ta phụng mệnh thừa tướng trấn
thủ đất này, chuyên việc khám xét kẻ gian đi lại. Nếu không có giấy tờ, tức là
đi trốn.
Quan Công nói:
- Khổng Tú ở Đông Lĩnh không cho
ta đi, vừa bị ta giết chết. Ngươi cũng muốn chết à?
Hàn Phúc nói:
- Ai bắt lấy nó cho ta!
Mạnh Thản cưỡi ngựa ra, múa đôi
đao đón đánh. Quan Công bảo xa trượng lui lại, rồi tiến lên đánh Mạnh Thản.
Đánh được ba hiệp, Mạnh Thản quay ngựa chạy, chỉ mong dụ Quan Công đuổi theo,
không ngờ ngựa của Quan Công chạy nhanh quá, đến ngay sau lưng, Quan Công đưa một
nhát dao, sả Thản làm hai đoạn.
Quan Công quay ngựa trở lại, Hàn
Phúc nấp ở trong cửa giương cung bắn trộm, trúng vào cánh tay trái Quan Công.
Quan Công lấy miệng cắn tên rút ra, máu chảy không thôi, liền quay đầu xông thẳng
đến Hàn Phúc đánh tan mọi người. Hàn Phúc chạy không kịp bị Quan Công chém một
nhát, đứt từ đầu tới vai. Quân sĩ kinh hoảng tan cả.
Quan Công lấy lụa buộc chỗ bị
thương. Giữa đường sợ có người ngấm ngầm mưu hại, nên liền đêm hôm ấy, Quan
Công đi ngay đến cửa quan Nghi Thuỷ.
Tướng giữ cửa quan ấy là người ở
Tinh Châu, họ Biện tên Hỷ, giỏi dùng dùi lưu tinh, nguyên là dư đảng Khăn Vàng,
sau theo Tào Tháo, được Tháo sai giữ cửa quan này.
Biện Hỷ nghe Quan Công sắp đến,
bèn mai phục hơn hai trăm đao phủ ở trong ngôi chùa Trấn Quốc, rồi dặn quân gõ
chén làm hiệu, ồ ra giết Quan Công.
Sắp đặt đâu đấy, Hỷ ra đón Quan
Công. Quan Công thấy Biện Hỷ ra đón, liền xuống ngựa chào hỏi. Hỷ nói:
- Tướng quân tiếng tăm lừng lẫy
thiên hạ, ai chẳng kính trọng. Nay tướng quân lại tìm về với hoàng thúc, đủ rõ
là người trung nghĩa.
Quan Công kể lại chuyện giết Khổng
Tú và Hàn Phúc. Hỷ nói:
- Tướng quân giết đi là phải. Tôi
gặp thừa tướng sẽ xin thay tướng quân trình bày với thừa tướng hết mọi uẩn
khúc.
Quan Công mừng lắm, cùng lên ngựa
đi với Biện Hỷ qua cửa Nghi Thuỷ. Đến trước chùa Trấn Quốc hai người xuống ngựa.
Các sư đánh chuông ra đón.
Chùa Trấn Quốc vốn là chùa của
vua Minh đế làm ra, vua thường đến dâng hương ở đó. Trong chùa có hơn ba mươi
sư tăng; trong bọn tăng lại có một vị sư là người cùng làng với Quan Công, pháp
danh là Phổ Tĩnh.
Phổ Tĩnh đã biết mưu Biện Hỷ, mới
bước ra chào Quan Công và hỏi:
- Tướng quân rời Bồ Dương đã bao
nhiêu năm nay?
Quan Công nói:
- Gần được hai mươi năm.
Phổ Tĩnh hỏi:
- Tướng quân còn nhận được bần
tăng không?
Quan Công đáp:
- Tôi đi đã lâu, nên không nhớ được.
Phổ Tĩnh nói:
- Nhà tôi với nhà tướng quân chỉ
cách nhau một con sông.
Biện Hỷ thấy Phổ Tĩnh kể tình quê
hương, sợ tiết lộ âm mưu của mình, liền mắng rằng:
- Ta mời tướng quân đến ăn yến,
mi là nhà sư, sao được nói lôi thôi?
Quan Công nói:
- Người làng gặp nhau, tài gì
không kể lại chuyện cũ?
Phổ Tĩnh mời Quan Công vào nhà
phương trượng xơi nước. Quan Công nói:
- Hai vị phu nhân ngồi trên xe,
nên dâng nước trước.
Phổ Tĩnh sai bưng hai chén nước
ra mời hai phu nhân, rồi mời Quan Công vào phương trượng. Phổ Tĩnh lấy giới đao
đeo trong lưng giơ lên, đưa mắt ra hiệu cho Quan Công. Quan Công hiểu ngay, sai
tả hữu đeo đao đứng hầu.
Biện Hỷ mời Quan Công lên ngồi
trên pháp đường ăn tiệc. Quan Công hỏi ngay:
- Biện quân mời Quan mỗ đây là có
ý tốt hay có ý gì không?
Biện Hỷ chưa kịp trả lời, Quan
Công đã thấy ở trong buồng có quân đao phủ đứng núp, liền quát mắng Biện Hỷ:
- Ta tưởng mi là người tốt, ai ngờ
mi dám như thế!
Biện Hỷ biết việc đã lộ, thét lớn:
- Các ngươi hạ thủ ngay đi!
Quân phục chưa kịp trở tay đã bị
Quan Công tuốt gươm chém giết, chạy tan hết cả. Biện Hỷ chạy xuống thềm, chạy
quanh hành lang. Quan Công bỏ gươm, cầm long đao đuổi chém. Biện Hỷ ngầm dùng
phi truỳ ném Quan Công. Quan Công lấy long đao gạt đi, sấn vào chém một nhát,
Biện Hỷ đứt làm hai khúc.
Quan Công quay lại xem hai chị.
Quân sĩ đang vây đặc ở xung quanh, thấy Quan Công đến, vội vàng chạy tan cả.
Quan Công thoát nạn đến tạ Phổ
Tĩnh:
- Nếu không có sư phụ, tôi đã bị
giặc hại rồi.
Phổ Tĩnh nói:
- Bần tăng cũng khó lòng ở đây được
nữa, sẽ thu xếp y bát[2] đi nơi khác, chúng ta sẽ có ngày gặp
nhau. Xin tướng quân lên đường giữ gìn cẩn thận.
Quan Công lạy tạ, rồi hộ tống xa
trượng đi sang Huỳnh Dương.
Thái thú Huỳnh Dương là Vương Thực,
vốn là thông gia với Hàn Phúc, nghe tin Phúc bị Quan Công giết, mới nghĩ kế hại
ngầm. Khi Quan Công đến nơi, Thực ra đón chào tử tế. Quan Công kể việc đi tìm
anh.
Thực nói:
- Tướng quân đi đường vất vả, hai
phu nhân trên xe mỏi mệt, xin mời vào thành tạm nghỉ ở nhà khách một đêm, ngày
mai sẽ lên đường.
Quan Công thấy Thực mời đón ân cần,
bèn mời hai chị vào thành.
Trong nhà khách xếp đặt chu tất.
Thực mời Quan Công đi dự tiệc, Quan Công cáo từ, Thực sai người đưa cỗ đến nhà
khách. Quan Công vì đi đường nhọc mệt, mời hai chị ăn cơm chiều xong, để hai chị
nghỉ ở phòng chính; sai những người tuỳ tùng đi nghỉ, cho ngựa ăn. Quan Công
cũng cởi áo giáp nghỉ ngơi.
Thực mật gọi tùng sự Hồ Ban:
- Quan Công đi trốn, giữa đường lại
giết thái thú và tướng giữ quan, phạm tội đáng chết. Người ấy vũ dũng khó địch
nổi. Đêm nay ngươi đem một nghìn quân vây kín nhà khách, mỗi người một bó đuốc,
đợi đến canh ba, nhất tề phóng hoả. Không phân biệt ai, đốt chết hết. Ta tự đem
quân ứng tiếp.
Hồ Ban vâng lời điểm quân sĩ, ngầm
đem củi khô chất đầy chung quanh nhà khách, hẹn giờ khởi sự.
Hồ Ban bụng nghĩ:
- Ta nghe tiếng Quan Vân Trường
đã lâu nhưng chưa biết mặt, để ta sẽ vào ghé dòm xem sao.
Bèn rón rén vào trong nhà khách,
hỏi dịch lại:
- Quan tướng quân ngồi đâu?
Lại nói:
- Ngài đang ngồi trên sảnh đường
xem sách.
Hồ Ban sẽ rón rén lại tận nơi, thấy
Quan Công tay trái vuốt râu đương ngồi dựa kỷ, chong đèn xem sách.
Ban thất kinh nói:
- Thực là người giời!
Quan Công nghe nói bèn hỏi:
- Ai đó?
Hồ Ban bước ngay vào thụp xuống lạy
mà rằng:
- Tôi là Hồ Ban tùng sự quan thái
thú Huỳnh Dương.
Quan Công hỏi:
- Có phải ngươi là con Hồ Hoa ở Hứa
Đô không?
Ban thưa:
- Vâng.
Quan Công bảo người nhà mở khăn
gói lấy thư đưa cho Ban. Ban xem xong, than rằng:
- Tý nữa tôi hại nhầm người trung
nghĩa.
Rồi mật báo:
- Vương Thực mang lòng bất nhân
muốn hại tướng quân, đã sai quân vây kín nhà khách, hẹn đến canh ba phóng hoả.
Nay tôi xin đi trước mở cửa thành, tướng quân nên thu xếp đi ngay.
Quan Công cả sợ vội vàng mặc áo
giáp cầm đao lên ngựa, mời hai chị lên xe. Vừa ra khỏi cửa, quả nhiên thấy quân
sĩ mỗi đứa đã cầm một bó lửa đứng chờ. Quan Công đến cửa thành, thấy mở cửa, giục
xa trượng cấp tốc chạy ra cho nhanh.
Bấy giờ Hồ Ban quay về phóng hoả.
Quan Công đi chưa được vài dặm,
ngoảnh lại thấy lửa sáng rực, đằng sau có ngựa đuổi theo. Vương Thực đi trước,
gọi to:
- Quan Vũ đừng chạy!
Quan Công dừng ngựa lại mắng:
- Thằng đểu kia! Tao với mi có
thù gì nhau, sao mi lại sai người phóng hoả định hại ta?
Vương Thực vác giáo lại đánh, bị
Quan Công chém ngang lưng đứt làm hai đoạn. Người ngựa chạy tan cả.
Quan Công thúc xa trượng đi mau.
Đi đường nghĩ cảm ơn Hồ Ban mãi.
Quan Công đi đến đầu địa giới Hoạt
Châu, có người báo với Lưu Diên. Diên dẫn vài mươi quân kỵ ra ngoài thành đón.
Quan Công ngồi trên ngựa cúi mình
nói:
- Quan thái thú lâu nay vẫn được
mạnh khoẻ?
Diên nói:
- Nay ông định đi đâu?
Quan Công nói:
- Tôi từ biệt thừa tướng, đi tìm
gia huynh.
Diên nói:
- Huyền Đức nay ở chỗ Viên Thiệu,
Thiệu là kẻ thù của thừa tướng, sao lại để ông đi?
Quan Công nói:
- Trước đã giao hẹn như thế.
Diên nói:
- Nay bến Hoàng Hà, bộ tướng của
Hạ Hầu Đôn là Tần Kỳ coi giữ, e không để ông qua đò.
Quan Công nói:
- Quan thái thú cho nhờ thuyền có
được không?
Diên nói:
- Tuy tôi có thuyền nhưng không
dám cho ông mượn.
Quan Công nói:
- Trước tôi giết Nhan Lương, Văn
Sú giải vây cho túc hạ, nay muốn mượn mấy chiếc thuyền mà không cho là cớ làm
sao?
Diên nói:
- Chỉ sợ Hạ Hầu Đôn biết, sẽ bắt
tội tôi.
Quan Công biết Diên là người vô dụng
nên cứ cho đẩy xe đi thẳng.
Đi đến cửa sông Hoàng Hà, Tần Kỳ
dẫn quân ra hỏi:
- Người đến kia là ai?
Quan Công nói:
- Hán Thọ đình hầu Quan mỗ.
Kỳ hỏi:
- Đi đâu?
Quan Công nói:
- Ta muốn sang Hà Bắc tìm anh là
Lưu Huyền Đức, xin cho nhờ bến đò.
Kỳ hỏi:
- Có công văn của thừa tướng
không?
Quan Công nói:
- Ta không chịu quyền phép của thừa
tướng, còn có công văn gì?
Kỳ nói:
- Ta vâng lệnh Hà Hầu tướng quân
giữ cửa ải này. Ngươi dù có cánh cũng không bay qua được!
Quan Công nổi giận nói:
- Ta đã giết những đứa ngăn trở
ta giữa đường, mi có biết không?
Kỳ nói:
- Mi chỉ giết những đứa tướng hèn
vô danh chứ mi dám giết ta à?
Quan Công lại nói:
- Mày đã bằng Nhan Lương, Văn Sú
chưa?
Tần Kỳ cả giận, tế ngựa lại đánh.
Hai ngựa gặp nhau mới được một hiệp, đao Quan Công vừa giơ lên, đầu Tần Kỳ đã
rơi xuống.
Quan Công bảo quân sĩ:
- Kẻ ngăn ta đã chết rồi, các
ngươi không có việc gì phải sợ mà chạy. Kiếm ngay cho ta mấy chiếc thuyền để ta
qua sông.
Quân sĩ vội vàng chở thuyền vào bờ.
Quan Công mời hai phu nhân xuống thuyền, qua sông Hoàng Hà. Từ đây thuộc về đất
của Viên Thiệu.
Tính ra Quan Công đi quan có năm
cửa quan, giết cả thảy sáu tướng. Đời sau có thơ khen rằng:
Tìm anh dấn bước dạ xôn xao
Xông pha nghìn dặm bon chân ngựa
Xung đột năm quan múa lưỡi đao
Trời đất chứa chan lòng tiết nghĩa
Núi non lừng lẫy tiếng anh hào
Một mình chém tướng ai đương nổi
Để vịnh xưa nay kể xiết bao!
Quan Công vừa đi vừa than:
- Ta nào muốn giết người ở dọc đường
làm chi. Việc làm vừa rồi đều là bất đắc dĩ cả. Nếu Tào công biết, tất trách ta
là người phụ ân.
Đương đi, chợt thấy một người phi
ngựa từ đằng bắc đến gọi to:
- Vân Trường hãy đứng lại.
Quan Công dừng ngựa lại xem, thì
là Tôn Càn.
Quan Công hỏi:
- Từ khi xa nhau ở Nhữ Nam, tin tức
bấy nay thế nào?
Tôn Càn nói:
- Từ khi tướng quân rút quân về,
Lưu Tích, Cung Đô lại cướp lại Nhữ Nam, sai tôi sang Hà Bắc kết hiếu với Viên
Thiệu, mời Huyền Đức cùng bàn kế phá Tào Tháo. Không ngờ tướng sĩ Hà Bắc ghen
ghét nhau. Điền Phong thì vẫn còn ở tù, Thư Thụ thì bị bãi chức; Thẩm Phối,
Quách Đồ thì tranh nhau quyền hành. Thiệu tính hay ngờ vực, không có quyết
đoán. Tôi cùng hoàng thúc bàn bạc phải tìm kế thoát thân. Nay hoàng thúc đã
sang Nhữ Nam hợp sức với Lưu Tích, Cung Đô rồi. Sợ tướng quân chưa biết, lại đến
chỗ Viên Thiệu, e bị hại chăng, nên hoàng thúc sai tôi đi đón tướng quân, may gặp
được ở đây, mời tướng quân về ngay Nhữ Nam gặp hoàng thúc.
Quan Công đưa Tôn Càn đến chào
hai phu nhân. Hai phu nhân hỏi rõ tin tức. Tôn Càn nói:
- Hai lần Viên Thiệu toan giết
hoàng thúc, nay may thoát thân đã đến Nhữ Nam rồi. Hai phu nhân có thể đến gặp
hoàng thúc ở đấy.
Hai phu nhân đều bưng mặt khóc.
Quan Công nghe lời Tôn Càn, không
sang Hà Bắc, đi tắt về Nhữ Nam. Đang đi, đằng sau cát bụi bay mù, một toán người
ngựa đuổi theo, đi đầu là Hạ Hầu Đôn. Đôn gọi to:
- Quan Vũ đừng chạy!
Ấy là:
Một quân theo đuổi lại đua gươm
Muốn biết Quan Công thoát thân thế
nào, xem hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Ông tốt râu, chỉ Quan Công.
- ▲ Hai thứ tuỳ thân của nhà sư. Y là áo cà sa, bát là bát đựng cơm do tín đồ cung dưỡng (Theo tục lệ cũ, các nhà sư mang bát lấy cơm của tín đồ gọi là “khất thực”).
Quan Công cùng Tôn Càn đưa hai
phu nhân sang Nhữ Nam, không ngờ Hạ Hầu Đôn đem ba trăm quân kỵ mã đuổi theo.
Tôn Càn bảo vệ xa trượng đi trước. Quan Công quay ngựa lại bảo Hạ Hầu Đôn:
- Mi lại đuổi ta làm mất cả lượng
khoan hồng của thừa tướng!
Hạ Hầu Đôn nói:
- Thừa tướng không có công văn
truyền báo. Mi đi dọc đường giết người, lại giết cả bộ tướng của tao, rất là vô
lễ. Phen này ta quyết bắt mi giải về để thừa tướng xét xử.
Nói xong, tế ngựa vác giáo toan
đánh Quan Công. Chợt thấy đằng sau một người cưỡi ngựa chạy đến, nói to:
- Không được đánh nhau với Vân
Trường!
Quan Công dừng cương ngựa lại. Sứ
giả thò tay vào bọc lấy tờ công văn ra, bảo Hạ Hầu Đôn rằng:
- Thừa tướng kính yêu Vân Trường
là người trung nghĩa, sợ qua các quan có việc ngăn trở, nên sai tôi đem công
văn này báo khắp nơi.
Đôn hỏi:
- Thế Quan Vũ đi đường giết mấy
tướng giữ ải, việc ấy thừa tướng đã biết chưa?
Sứ thưa:
- Việc ấy thừa tướng chưa biết.
Đôn nói:
- Thế thì ta phải bắt sống nó đem
về trình thừa tướng mới được, rồi thừa tướng có tha thì tha.
Quan Công nói:
- Ta há sợ mi à?
Rồi vỗ ngựa cầm đao sấn vào đánh
Đôn. Đôn cầm giáo nghênh địch. Hai người đánh nhau được mười hiệp, lại có một
người phi ngựa đến nói to:
- Hai tướng quân hãy dừng tay!
Đôn chống giáo hỏi:
- Thừa tướng bảo bắt Quan mỗ phải
không?
Sứ giả thưa:
- Không phải! Thừa tướng sợ các
tướng giữ cửa quan ngăn cản Quan tướng quân, nên sai tôi đem công văn đến báo
các nơi cứ để Quan tướng quân đi.
Đôn lại hỏi:
- Thế việc nó giết người, thừa tướng
đã biết chưa?
Sứ giả nói:
- Chưa.
Đôn nói:
- Nếu thừa tướng chưa biết thì
không thể tha được.
Đôn chỉ huy quân sĩ vây lấy Quan
Công. Quan Công giận lắm, múa đao lại đánh. Hai bên sắp sửa giao chiến, bỗng
sau trận có một người tế ngựa lại gọi to:
- Vân Trường, Nguyên Nhượng đừng
đánh nhau nữa!
Hai người cùng trông ra xem ai,
thì là Trương Liêu. Hai bên đều ghìm ngựa lại. Trương Liêu lại gần nói:
- Phụng chỉ thừa tướng: vì biết
Vân Trường đi đường có vượt qua mấy cửa quan giết mấy tướng, thừa tướng sợ Vân
Trường đi đường bị ngăn trở, nên sai tôi đi truyền dụ các ải cứ để cho Vân Trường
đi.
Hạ Hầu Đôn nói:
- Tần Kỳ là cháu Sái Dương, hắn
đem gửi ta, nay bị Quan mỗ giết, Sái Dương sao chịu để yên?
Liêu nói:
- Tôi gặp Sái tướng quân, sẽ có
cách phân giải. Thừa tướng đã có lượng khoan dung để cho Vân Trường đi, ông
không nên trái lệnh thừa tướng.
Hạ Hầu Đôn đành rút quân về.
Liêu hỏi Quan Công:
- Vân Trường nay muốn đi đâu?
Quan Công nói:
- Tôi nghe anh tôi bây giờ không ở
chỗ Viên Thiệu nữa nên định đi tìm khắp thiên hạ.
Liêu nói:
- Nếu chưa biết Huyền Đức ở đâu,
hãy trở về gặp thừa tướng đã, anh nghĩ thế nào?
Quan Công cười nói:
- Có lẽ đâu lại thế! Văn Viễn về
gặp thừa tướng làm ơn tạ tội hộ tôi.
Nói rồi vái chào Trương Liêu, từ
biệt.
Trương Liêu và Hạ Hầu Đôn đem
quân về.
Quan Công theo kịp xa trượng, nói
chuyện lại với Tôn Càn. Hai người giong ngựa ngang nhau cùng đi.
Đi được vài ngày, bỗng gặp cơn
mưa to, hành trang ướt cả. Trông xa bên chân núi chỉ có một cái trại. Quan Công
dẫn xa trượng vào đó xin nghỉ trọ.
Trong nhà một ông già ra đón.
Quan Công kể rõ sự tình. Ông già nói:
- Tôi họ Quách tên Thường, đời đời
ở đây. Được nghe thấy tiếng ngài đã lâu, nay được bái kiến thật là may mắn.
Nói rồi sai giết dê làm rượu thết
đãi, mời hai phu nhân vào tạm nghỉ ở nhà trong. Quách Thường ngồi tiếp Quan
Công và Tôn Càn ở nhà ngoài uống rượu. Một bên hơ đồ hành lý; một bên cho ngựa
ăn uống.
Đến lúc trời sâm sẩm tối, thấy một
chàng trẻ tuổi đem vào người vào, đi thẳng lên nhà. Quách Tường gọi bảo:
- Con lại đây bái kiến tướng
quân.
Nhân nói với Quan Công:
- Đây là con trai tôi.
Quan Công hỏi:
- Đi đâu về?
Thường nói:
- Cháu đi săn bắn mới về.
Người con trai chào qua Quan
Công, rồi lại xuống thềm đi mất. Quách Thường khóc nói:
- Nhà lão phu xưa nay chuyên nghề
cày ruộng đọc sách, chỉ sinh được một đứa con trai này, nó chẳng chăm lo việc
nhà, chỉ mê chơi bời săn bắn, thực không may cho nhà lão phu!
Quan Công nói:
- Nay đương thời loạn, nếu tinh
thông nghề võ, cũng có thể lập được công danh, sao lại gọi là không may?
Thường nói:
- Nếu nó chuyên tập nghề võ, thì
là người có chí, nhưng nay nó chỉ dông dài, lêu lổng, bởi thế lão phu rất lấy
làm lo.
Quan Công nghe chuyện cũng ái ngại
cho ông cụ.
Đến canh khuya, Quách Thường cáo
từ đi ra. Quan Công cùng Tôn Càn sắp đi ngủ, chợt nghe đằng sau nhà có tiếng ngựa
hí người kêu.
Quan Công vội gọi người nhà, chẳng
thấy ai thưa, liền cùng Tôn Càn cầm gươm đi ra xem, thì thấy con Quách Thường
ngã quay dưới đất, kêu la rầm rĩ, người nhà thì đang đánh nhau với một bọn
trang khách. Quan Công hỏi cớ làm sao, người nhà thưa:
- Anh này toan lại ăn trộm ngựa
Xích thố, bị ngựa đá ngã, chúng tôi nghe thấy tiếng kêu, chạy lại xem, thì những
người này lại đến đánh chúng tôi.
Quan Công giận nói:
- Đồ chuột nhắt sao dám trộm ngựa
của ta?
Rồi toan lại đánh cho một trận.
Quách Thường chạy đến kêu van:
- Thằng con lão phu hư hỏng dám
làm việc càn bậy này, tội nó thực đáng chết. Nhưng vợ già tôi rất thương yêu
nó, xin tướng quân rủ lòng nhân từ tha tội cho nó.
Quan Công nói:
- Thằng bé này thực là hư hỏng,
như lời ông vừa nói: thực đúng với câu cổ ngữ: “Biết con không ai bằng cha”.
Thôi nể ông tôi hãy tha cho nó.
Bèn bảo người nhà trông ngựa cẩn
thận, đuổi bọn trang khách, rồi cùng Tôn Càn vào nhà khách nghỉ.
Hôm sau vợ chồng Quách Thường ra
lạy ở dưới thềm, xin lỗi:
- Đứa con dại chúng tôi xúc phạm
oai hùm, nhờ ơn tướng quân tha thứ, chúng tôi cảm tạ vô cùng.
Quan Công bảo:
- Gọi nó ra đây để ta lấy lẽ phải
dạy bảo nó.
Thường nói:
- Canh tư đêm hôm qua, nó cùng mấy
đứa vô lại dắt nhau đi đâu rồi.
Quan Công tạ biệt Quách Thường, mời
hai chị lên xe cùng Tôn Càn sánh ngựa bảo vệ xa trượng, đi theo đường núi.
Đi ước được ba mươi dặm, thấy đằng
sau núi có hơn một trăm người kéo ra, hai người đi đầu cưỡi ngựa, một người đầu
đội khăn vàng, mình mặc áo chiến; một người chính là con Quách Thường. Người
khăn vàng nói rằng:
- Ta là bộ tướng của Thiên công
tướng quân Trương Giác. Người kia để ngựa Xích thố lại, thì ta tha cho đi.
Quan Công nghe nói cười to nói:
- Bọn giặc điên kia! Đã đi theo
Trương Giác, hẳn có biết tiếng ba anh em Lưu, Quan, Trương?
Người khăn vàng nói rằng:
- Ta chỉ biết tiếng người mặt đỏ
râu dài là Quan Vân Trường, nhưng ta chưa thấy mặt bao giờ. Mi là người nào?
Quan Công cắp đao, dừng ngựa, cởi
túi râu ra, vuốt cho mà coi. Người ấy vội vàng nhảy xuống ngựa, nắm đầu con
Quách Thường, lôi lại nộp trước ngựa Quan Công. Quan Công hỏi họ tên, người ấy
thưa:
- Tôi họ Bùi tên là Nguyên Thiệu,
từ khi Trương Giác chết đến giờ, không có ai làm chủ, phải vào tụ tập trong núi
rừng. Sớm hôm nay, thằng này mách tôi rằng có một người khách cưỡi con ngựa đi
nghìn dặm, ngủ trọ nhà nó, nó rủ tôi đi ăn cướp ngựa. Không ngờ lại gặp được tướng
quân.
Con Quách Thường cũng phục xuống
lạy xin tha tội. Quan Công nói:
- Ta nể mặt bố mày mà tha cho
mày.
Con Quách Thường ôm đầu thui thủi
đi mất. Quan Công hỏi Nguyên Thiệu:
- Ngươi không biết mặt ta sao lại
biết tiếng?
Nguyên Thiệu thưa:
- Cách đây hai mươi dặm, có núi
Ngoạ Ngưu. Trong núi có một người ở Quan Tây, họ Châu tên Thương, hai cánh tay
nhắc nổi nghìn cân, bắp thịt cứng, râu xồm, hình dáng dữ tợn, nguyên là bộ hạ
Trương Bảo. Từ khi Trương Bảo chết, Châu Thương tụ tập trong rừng, thường nói đến
đại danh tướng quân, tiếc rằng không có cách nào được gặp.
Quan Công nói:
- Rừng xanh không phải là nơi hào
kiệt nương mình. Các ông từ rày nên bỏ tà theo chính, đừng có tự làm phí mất
thân mình.
Nguyên Thiệu lạy tạ.
Trong khi đang nói chuyện, thấy ở
đằng xa có một toán quân kéo đến. Nguyên Thiệu nói:
- Đó hẳn là Châu Thương.
Quan Công dừng lại, thấy một người
mặt đen, mình cao lớn, cưỡi ngựa vác giáo dẫn quân đến, trông thấy Quan Công vừa
mừng vừa sợ, nói ngay rằng:
- Đây là Quan tướng quân rồi!
Rồi vội vàng xuống ngựa, thụp lạy
bên đường, nói:
- Tôi là Châu Thương xin bái kiến
tướng quân!
Quan Công nói:
- Tráng sĩ đã biết ta ở nơi nào vậy?
Châu Thương thưa:
- Khi xưa tôi theo giặc Khăn Vàng
là Trương Bảo, đã được biết tôn nhan, tiếc rằng mình trót theo giặc, không được
theo hầu. Ngày nay may được bái kiến ở đây, tướng quân đừng ruồng bỏ, cho làm
lính bộ, sớm tối cầm roi theo sau ngựa, dẫu chết cũng cam tâm.
Quan Công thấy Châu Thương lòng rất
thành thực, hỏi:
- Ngươi theo ta, còn thủ hạ của
ngươi thì làm thế nào?
Châu Thương nói:
- Ai muốn theo thì theo, bằng
không thì tuỳ ý.
Mọi người đều xin đi theo cả.
Quan Công vội vàng xuống ngựa, đến trước xe bẩm hỏi hai chị. Cam phu nhân nói:
- Từ khi chú rời Hứa Đô, một mình
đi đến đây trải bao nhiêu gian nan, chưa từng cần có quân mã đi theo. Trước kia
Liêu Hoá muốn đi theo, chú cũng từ chối, nay sao lại cho quân Châu Thương đi
theo? Đó là thiển kiến của chị em đàn bà chúng tôi, xin tuỳ ý chú suy xét.
Quan Công nói:
- Chị nói rất phải.
Bèn bảo Châu Thương rằng:
- Không phải ta không có tình,
nhưng vì hai phu nhân không ưng, các ngươi hãy về núi, đợi khi nào ta tìm thấy
anh ta, bấy giờ sẽ sai người đi gọi.
Châu Thương dập đầu xuống đất
nói:
- Châu Thương là một kẻ thô mãng,
đã lỡ bước đi theo giặc; nay được gặp tướng quân, khác nào được trông thấy trời
và mặt trời, sao lại bỏ lỡ cơ hội này? Nếu đông người đi theo không tiện, xin
cho chúng ở lại với Nguyên Thiệu, còn tôi chỉ xin một mình đi bộ theo tướng
quân, dẫu đường xa muôn dặm cũng không quản ngại.
Quan Công lại đem lời ấy bẩm với
hai chị. Cam phu nhân nói:
- Một vài người theo thì được.
Quan Công sai Châu Thương giao cả
quân cho Bùi Nguyên Thiệu. Nguyên Thiệu nói:
- Ta cũng muốn theo Quan tướng
quân.
Châu Thương nói:
- Nếu anh cũng đi, thì quân tan hết,
chi bằng anh hãy tạm thống lĩnh lấy, để tôi đi theo Quan tướng quân, hễ có đóng
ở đâu, tôi sẽ về gọi anh.
Nguyên Thiệu bùi ngùi từ biệt.
Châu Thương theo Quan Công sang
Nhữ Nam. Đi được vài ngày, trông xa xa trên đỉnh núi, có một toà thành, Quan
Công hỏi thổ dân là thành nào? Thổ dân nói:
- Đây gọi là Cổ Thành. Mấy tháng
trước có một tướng, tên gọi Trương Phi, dẫn vài mươi quân kỵ đến, đuổi quan huyện
đi, chiếm lấy thành trì, mộ quân tậu ngựa, chứa cỏ tích lương, nay có đến năm
ba nghìn quân mã. Chung quanh đây không ai dám chống lại.
Quan Công nghe nói, mừng rỡ vô
cùng:
- Em ta từ khi ở Từ Châu thất
tán, lâu nay vẫn không biết ở đâu, ai ngờ lại hoá ra ở đây!
Liền sai ngay Tôn Càn vào thành
báo tin, bảo Trương Phi ra đón hai chị.
Trương Phi từ khi trốn vào núi
Mang Đãng, ở hơn một tháng. Một bữa ra ngoài nghe ngóng tin tức Huyền Đức, chợt
đi qua Cổ Thành, vào huyện vay lương thực. Quan huyện không cho vay, Phi nổi giận
đuổi ngay quan huyện đi, cướp lấy ấn thụ, chiếm lấy thành trì, tạm lấy chốn
nương thân.
Hôm ấy, Tôn Càn theo lệnh Quan
Công vào thành ra mắt Trương Phi, thi lễ xong, nói chuyện Huyền Đức đã bỏ Viên
Thiệu sang Nhữ Nam, Vân Trường thì ở Hứa Đô vừa đưa hai phu nhân đến đây. Rồi mời
Trương Phi ra đón.
Phi nghe xong, chẳng nói năng gì,
lập tức mặc áo giáp vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa bắc.
Tôn Càn thấy lạ nhưng không dám hỏi, cũng phải theo ra thành.
Quan Công trông thấy Trương Phi
ra, mừng rỡ vô cùng, giao long đao cho Châu Thương cầm, tế ngựa lại đón. Trương
Phi mắt tròn xoe râu vểnh ngược, hò thét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan
Công.
Quan Công giật mình, vội tránh
mũi mâu, hỏi:
- Hiền đệ cớ sao thế, há quên
nghĩa vườn đào ru?
Trương Phi hầm hầm quát:
- Mày đã bội nghĩa còn mặt nào đến
gặp tao nữa?
Quan Công nói:
- Ta làm sao mà bội nghĩa?
Trương Phi nói:
- Mày bỏ anh, hàng Tào Tháo được
phong hầu phong tước, nay lại đến đây đánh lừa tao! Phen này tao quyết liều sống
chết với mày.
Quan Công nói:
- Chuyện này em không biết, ta
cũng khó nói. May có hai chị ở đây, em đến mà hỏi.
Hai phu nhân nghe thấy thế, vội
vàng vén màn xe, gọi:
- Chú ba sao lại thế?
Phi nói:
- Xin hai chị hãy thong thả, để
tôi giết thằng phụ nghĩa này đã, rồi sẽ mời hai chị vào thành.
Cam phu nhân nói:
- Khoan đã chú ba, khoan đã! Chớ
hấp tấp mà làm càn bây giờ. Chú hai không biết tin tức mọi người ở đâu, nên phải
tạm nương mình bên Tào. Nay đã biết anh nhà ở Nhữ Nam, không ngại hiểm trở, đưa
lũ ta đến đây. Chú không được nghĩ lầm như thế.
My phu nhân nói:
- Chú hai trước ở Hứa Đô, thực là
bất đắc dĩ.
Phi nói:
- Hai chị bị nói lừa dối đấy.
Trung thần mà chịu chết không chịu nhục. Có lẽ đâu đại trượng phu lại thờ hai
chủ!
Quan Công nói:
- Hiền đệ đừng nói vậy, oan uổng
cho anh quá!
Tôn Càn nói:
- Vân Trường đến đây là cốt để
tìm tướng quân.
Trương Phi mắng:
- Mày cũng nói láo, nó đâu có bụng
tốt, nó lại đây là để bắt ta đó!
Quan Công nói:
- Nếu ta đến bắt em, tất phải đem
theo quân mã chứ!
Trương Phi trỏ tay đằng xa nói:
- Không phải quân mã là gì kia?
Quan Công ngoảnh đầu lại, quả
nhiên thấy bụi bay mù mịt, một toán quân mã kéo đến, cờ hiệu phấp phới chính là
cờ Tào. Trương Phi nổi giận nói:
- Bây giờ còn chối nữa thôi?
Rồi múa bát xà mâu hăm hở lại đâm
Quan Công. Quan Công vừa đỡ vừa can:
- Hiền đệ hãy khoan, xem ta chém
tên tướng ấy, để tỏ lòng thực của ta.
Trương Phi nói:
- Nếu mày có lòng thực, ta đánh
ba hồi trống mày phải chém được tên tướng ấy.
Quan Công nhận lời. Một lát quân
Tào kéo đến. Sái Dương đi đầu, vác đao tế ngựa chạy lại, quát to:
- Mày giết cháu tao là Tần Kỳ, lại
trốn đến đây, tao phụng mệnh thừa tướng đến bắt mày.
Quan Công chẳng nói một lời, múa
long đao xô lại. Trương Phi thẳng cánh đánh trống, chưa dứt một hồi, đầu Sái
Dương đã lăn xuống đất.
Quân Tào chạy tan tác. Quan Công
bắt một tên lính cầm cờ hiệu hỏi chuyện đầu đuôi. Tên lính thưa:
- Sái Dương nghe tin tướng quân
giết mất cháu ngoại là Tần Kỳ, nổi giận đùng đùng, muốn sang Hà Bắc đánh nhau với
tướng quân. Thừa tướng không cho đi, nên sai Sái Dương sang Nhữ Nam đánh Lưu
Tích, không ngờ đến đây lại gặp tướng quân.
Quan Công sai tên lính kể chuyện ấy
cho Trương Phi nghe. Phi hỏi kỹ việc ở Hứa Đô, tên lính kể hết nông nỗi từ đầu
đến cuối, bấy giờ Trương Phi mới tin anh là thực.
Giữa lúc ấy, có quân đến báo:
- Ngoài cửa nam có vài mươi quân
kỵ mã đi lại rất khẩn cấp, không biết là những người nào?
Phi lấy làm hồ nghi, chạy ra cửa
nam xem, quả thấy một toán mươi quân kỵ mã đeo cung nhẹ, cài tên ngắn, chạy lại.
Thấy Phi, chúng vội vàng xuống ngựa. Phi nhìn ra thì là My Chúc và My Phương.
Trương Phi xuống ngựa chào hỏi,
Chúc nói:
- Từ khi ở Từ Châu thất tán, hai
anh em tôi trốn nạn về làng ở, sai người đi dò thăm tin tức, biết Quan Vân Trường
đã hàng Tào Tháo, chúa công thì ở Hà Bắc; lại nghe nói Giản Ung cũng sang Hà Bắc
rồi. Nhưng lại không biết tướng quân ở đây. Bữa nọ, gặp một bọn khách đi đường,
nói chuyện có một tướng họ Trương, hình dáng như thế, chiếm cứ Cổ Thành. Anh em
tôi đoán tất là tướng quân, nên lại đây tìm hỏi. Thực là may quá!
Phi nói:
- Vân Trường cùng Tôn Càn vừa đưa
hai chị đến đây. Anh ta bây giờ ở đâu, ta cũng biết cả rồi.
Hai anh em họ My mừng rỡ vô cùng,
cùng đến chào Quan Công, và bái kiến hai phu nhân.
Phi mời hai chị vào thành.
Vào đến nhà, hai bà mới kể lại những
việc Quan Công đã trải qua. Trương Phi nghe hết chuyện, rỏ nước mắt khóc, thụp
xuống lạy Vân Trường. Hai anh em My Chúc, My Phương thấy vậy cũng động lòng
thương cảm.
Trương Phi cũng đem chuyện mình từ
khi xa nhau đến giờ ra kể, rồi sai mở tiệc yến lớn ăn mừng.
Hôm sau Trương Phi muốn đi với
Quan Công đến Nhữ Nam gặp Huyền Đức.
Quan Công nói:
- Hiền đệ nên trông coi hai chị,
tạm đóng quân ở thành này, đợi tôi cùng Tôn Càn đi trước, thăm dò tin tức huynh
trưởng đã.
Phi vâng lời. Quan Công cùng Tôn
Càn dẫn vài mươi quân kỵ mã đến Nhữ Nam.
Lưu Tích, Cung Đô ra đón. Quan
Công hỏi:
- Hoàng thúc ở đâu?
Lưu Tích nói:
- Hoàng thúc đến đây ở được vài
tháng, vì thấy quân ít lại sang Hà Bắc thương lượng với Viên Bản Sơ.
Quan Công bực dọc không vui.
Tôn Càn nói:
- Việc gì tướng quân phải lo buồn?
Tôi lại chịu khó đi một phen nữa sang Hà Bắc, nói với hoàng thúc cùng đến Cổ
Thành.
Quan Công nghe lời Tôn Càn, từ biệt
Lưu Tích, Cung Đô, về Cổ Thành, thuật chuyện lại với Trương Phi. Trương Phi lại
đòi cùng sang Hà Bắc. Quan Công nói:
- Duy có một thành này là nơi
chúng ta yên thân, chưa nên bỏ mà đi. Hiền đệ nên ở lại đây, để anh cùng Tôn
Càn sang bên Viên Thiệu tìm huynh trưởng về đây tụ họp. Hiền đệ nên giữ vững
thành này.
Trương Phi nói:
- Anh đã chém mất Nhan Lương, Văn
Sú của Viên Thiệu, nay lại sang đó sao được?
Quan Công nói:
- Không ngại, anh đến đó, sẽ tuỳ
cơ ứng biến.
Bèn gọi Châu Thương hỏi:
- Bùi Nguyên Thiệu ở núi Ngoạ
Ngưu, có bao nhiêu quân mã?
Thương thưa:
- Ước được bốn năm trăm.
Quan Công nói:
- Nay ta đi tắt đường gần, tìm
huynh trưởng. Ngươi nên về núi Ngoạ Ngưu, bảo đem hết cả quân mã ở đây đi đường
cái to đón ta.
Châu Thương lĩnh mệnh đi.
Quan Công cùng Tôn Càn đem hơn
hai mươi quân kỵ mã đi tắt sang Hà Bắc. Khi đến gần đầu địa giới, Tôn Càn nói:
- Tướng quân không nên vào vội,
hãy tạm nghỉ ở đây, chờ tôi ra mắt Hoàng thúc trước, rồi thế nào sẽ hay.
Quan Công y lời, để Tôn Càn đi
trước. Rồi trông ở làng xa có một cái trại, bèn cùng các người tuỳ tùng vào đó
xin nghỉ trọ.
Trong nhà có một ông già chống gậy
ra chào hỏi. Quan Công lấy chuyện thực ra nói, ông già nói:
- Tôi cũng họ Quan tên Định, nghe
thấy tiếng tăm của ngài đã lâu, nay mới được bái kiến.
Ông già sai hai con ra lạy, mời
Quan Công và các người tuỳ tùng vào trong nhà khoản đãi tử tế.
Tôn Càn một mình vào Ký Châu, tìm
được đến Huyền Đức nói rõ mọi việc.
Huyền Đức nói:
- Giản Ung cũng ở đây. Nên mật mời
đến cùng bàn.
Một lát Giản Ung đến. Chào hỏi
xong, cùng bàn kế thoát thân. Ung nói:
- Chúa công ngày mai gặp Viên Thiệu,
nói xin sang Kinh Châu, nhủ Lưu Biểu cùng đánh Tào Tháo, thế là có thể thừa cơ
đi thẳng.
Huyền Đức hỏi:
- Kế ấy thực diệu, nhưng ông có
đi theo được không?
Giản Ung thưa:
- Tôi sẽ có kế thoát thân.
Bàn định đâu đấy, hôm sau Huyền Đức
vào gặp Viên Thiệu nói:
- Lưu Cảnh Thăng trấn giữ chín quận
Kinh, binh mạnh lương nhiều. Ta nên hẹn với y để cùng đánh Tào Tháo.
Thiệu nói:
- Ta sai sứ đến rủ hắn, nhưng hắn
chưa chịu nghe.
Huyền Đức nói:
- Lưu Biểu vốn đồng tông với tôi,
tôi xin đi nói, tất theo ngay.
Thiệu nói:
- Được Lưu Biểu, hơn Lưu Tích nhiều.
Rồi sai Huyền Đức đi, Thiệu lại
nói:
- Mới đây ta nghe Quan Vân Trường
đã bỏ Tào Tháo, muốn đến Hà Bắc. Ta phải giết đi để báo thù cho Nhan Lương, Văn
Sú.
Huyền Đức nói:
- Minh công trước muốn dùng Quan
Vũ, nên tôi gọi đến, nay sao minh công lại muốn giết đi? Vả Nhan Lương, Văn Sú
chẳng qua chỉ bằng hai con hươu mà thôi. Quan Vũ bằng một con hổ. Mất hai hươu,
được một hổ, minh công còn hối hận gì?
Thiệu cười nói:
- Ta vốn vẫn yêu Vân Trường, ta
nói đùa đó thôi. Ông lại nên cho đi gọi một lần nữa, bảo đến cho nhanh.
Huyền Đức nói:
- Vâng, xin sai ngay Tôn Càn đi gọi
Thiệu mừng, theo lời ấy.
Khi Huyền Đức đi khỏi, Giản Ung
bước lên thưa:
- Huyền Đức phen này đi, chắc
không về nữa. Tôi xin cùng đi, trước là để dụ Lưu Biểu, sau là để kìm giữ Huyền
Đức.
Thiệu lấy làm phải, sai ngay Giản
Ung cùng đi với Huyền Đức.
Quách Đồ can rằng:
- Lưu Bị đi dụ Lưu Tích chưa được
việc gì, nay chúa công lại sai cùng Giản Ung đến Kinh Châu, chắc là không trở về
nữa.
Thiệu nói:
- Ngươi chớ đa nghi, Giản Ung là
người hiểu biết đấy.
Quách Đồ thở dài trở ra.
Huyền Đức sai Tôn Càn đi trước về
báo Quan Công rồi cùng Giản Ung từ biệt Viên Thiệu, lên ngựa ra thành.
Huyền Đức đi đến đầu địa giới,
Tôn Càn ra đón mời về nhà Quan Định.
Quan Công ra cửa đón vào, hai người
cầm tay nhau khóc lóc mãi.
Quan Định đem hai con ra lạy
chào. Huyền Đức hỏi họ tên nhà chủ. Quan Công thưa:
- Người này cùng họ với em, có
hai con trai: Con cả là Quan Ninh, học nghề văn; con thứ là Quan Bình, học nghề
võ.
Quan Định nói:
- Ý tôi muốn cho con thứ hai theo
hầu Quan tướng quân, chưa biết có được dung nạp không?
Huyền Đức hỏi:
- Quan Bình năm nay bao nhiêu tuổi?
Định thưa:
- Cháu năm nay mười tám tuổi.
Huyền Đức nói:
- Đa tạ nhã ý của bậc trưởng gia,
em tôi chưa có con, nay muốn xin cậu thứ hai làm con nuôi, trưởng gia nghĩ thế
nào?
Quan Định mừng lắm, đem ngay Quan
Bình ra lạy Quan Công nhận làm bố, gọi Huyền Đức làm bá phụ.
Huyền Đức sợ Viên Thiệu cho người
đuổi theo, vội vàng thu xếp để đi. Quan Bình theo Quan Công cùng đi một thể.
Quan Định đi tiễn một thôi đường rồi trở về. Quan Công dặn đi theo đường đến
núi Ngoạ Ngưu.
Đang đi chợt gặp Châu Thương dẫn
vài mươi người bị thương đến. Quan Công đem Châu Thương đến lạy Huyền Đức, rồi
mới hỏi duyên cớ, Châu Thương nói:
- Khi tôi chưa đến núi Ngoạ Ngưu
có một tướng cưỡi ngựa qua đó, đánh nhau với Bùi Nguyên Thiệu, chỉ một hiệp,
đâm chết Nguyên Thiệu, chiêu hàng quân sĩ chiếm giữ sơn trại. Khi tôi đến gọi
quân sĩ ra, chỉ có mấy người dám ra, còn thì đều sợ hãi, không dám rời bỏ sơn
trại. Tôi giận lắm, cùng với tướng ấy đánh nhau, tôi bị đâm ba vết thương, bởi
vậy tôi chạy lại đây báo chúa công biết.
Huyền Đức hỏi tướng ấy hình dạng
thế nào, họ tên là gì thì Châu Thương nói:
- Trông người rất hùng tráng,
không biết tên họ là gì.
Quan Công thúc ngựa đi trước, Huyền
Đức đi sau, đi tắt đến núi Ngoạ Ngưu. Châu Thương đến đứng dưới núi, mắng chửi,
tướng ấy mặc áo giáp, vác giáo tế ngựa đem quân xuống núi.
Huyền Đức trông thấy quất ngựa ra
ngay gọi to:
- Có phải Triệu Tử Long đó không?
Tướng ấy thấy Huyền Đức, nhảy từ
trên yên ngựa xuống đất, thụp lạy ở bên đường: quả nhiên là Triệu Tử Long.
Huyền Đức, Quan Công cùng xuống
ngựa, hỏi Tử Long căn do làm sao lại ở đó, Tử Long thưa:
- Tôi từ khi giã biệt sứ quân đi
theo Công Tôn Toản, không ngờ Toản không chịu nghe lời phải, đến nỗi quân thua,
phải tự đốt chết. Viên Thiệu mấy lần cho gọi tôi. Tôi cho Viên Thiệu cũng không
biết dùng người, nên cũng chưa đến. Sau định sang Từ Châu theo sứ quân thì lại
nghe Từ Châu đã thất thủ. Vân Trường thì theo Tào Tháo; sứ quân thì thấy nói ở
bên Viên Thiệu. Đã hai ba lần muốn đến để tìm sứ quân, nhưng lại sợ Viên Thiệu
ngờ vực, long đong bốn bề, không có chỗ nào nương mình. Mới đi qua chỗ này, chợt
gặp Bùi Nguyên Thiệu xuống núi toan cướp ngựa của tôi, nên tôi giết đi, nhân thế
mượn chỗ yên thân. Gần đây nghe tin Dực Đức ở Cổ Thành, tôi cũng định đến đó,
nhưng chưa biết thực hư thế nào. Nay gặp sứ quân ở đây thật là may quá.
Huyền Đức mừng lắm, kể lại chuyện
trước, Quan Công cũng thuật lại những chuyện đã qua.
Huyền Đức lại nói:
- Từ khi ta mới gặp được Tử Long,
đã có tình lưu luyến, không bỏ được. Ngày nay lại được gặp, thực là may.
Triệu Tử Long nói:
- Tôi đã đi khắp bốn phương, chọn
chủ để thờ, mà chưa từng thấy ai bằng tướng quân. Nay được theo hầu thực là mãn
nguyện bình sinh; dẫu rằng gan góc lầm đất, cũng không hối hận gì.
Ngay hôm ấy đốt trại xuống núi,
xuất lĩnh chúng quân theo cả Huyền Đức đến Cổ Thành.
Trương Phi, My Chúc, My Phương ra
đón vào thành, chào chào, hỏi hỏi, mừng mừng, rỡ rỡ khôn xiết kể. Hai bà kể lại
chuyện Quan Công, Huyền Đức than thở mãi.
Bấy giờ giết bò mổ ngựa, trước
bái tạ trời đất, sau khao thưởng quân sĩ, Huyền Đức thấy anh em lại được sum họp
một nơi, tướng tá chẳng thiếu người nào, lại thêm được Triệu Tử Long; Quan Công
lại mới được Quan Bình, Châu Thương, vui mừng khôn xiết, yến tiệc liền mấy
ngày. Đời sau có thơ rằng:
Biệt vô âm tín đã bao kỳ
Vua tôi nay lại mừng sum họp
Hổ gió rồng mây chính gặp thì
Bấy giờ Huyền Đức, Quan, Trương,
Triệu Vân, Tôn Càn, My Chúc, My Phương, Quan Bình, Châu Thương thống lĩnh quân
mã, cả thảy được bốn năm nghìn người.
Huyền Đức muốn bỏ Cổ Thành sang
Nhữ Nam. Vừa khi Lưu Tích, Cung Đô sai người đến mời, bèn đem cả quân sang đóng
ở Nhữ Nam, chiêu quân, tậu ngựa, lo tính việc đi đánh dẹp.
Trong khi ấy, Viên Thiệu thấy Huyền
Đức không về, giận lắm muốn khởi binh đi đánh. Quách Đồ can rằng:
- Lưu Bị không đáng lo, Tào Tháo
là kình địch phải trừ mới được. Lưu Biểu tuy giữ ở Kinh Châu; nhưng sức còn yếu.
Tôn Bá Phù ở Giang Đông, uy trấn Tam Giang, đất liền sáu quận, mưu thần võ sĩ rất
nhiều, nên sai người đến kết hiếu để cùng đánh Tào Tháo.
Thiệu nghe lời, lập tức viết thư,
sai Trần Chấn đem sang Giang Đông gặp Tôn Sách.
Thế là:
Xứ Giang Đông hào kiệt tìm ra
Chưa biết sự thể về sau ra làm
sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Tôn Sách từ khi nối nghiệp bá ở
Giang Đông, binh mạnh lương nhiều. Năm Kiến An thứ tư (199), đánh úp lấy Lư
Giang, làm Lưu Huân bị thua, Sách sai Ngu Phiên đưa tờ hịch đến Dự Chương, thái
thú Dự Chương là Hoa Hâm xin hàng. Từ đó thanh thế lừng lẫy, bèn sai Trương
Hoành sang Hứa Đô, dâng biểu báo công thắng trận. Tào Tháo biết thế Sách cường
thịnh, than rằng:
- Con sư tử non này, khó lòng địch
lại được!
Tháo hẹn gả con gái Tào Nhân cho
em Tôn Sách là Tôn Khuông, hai nhà thông gia với nhau, và lưu Trương Hoành ở lại
Hứa Đô.
Bấy giờ thái thú Ngô Quận là Hứa
Cống, mật sai sứ đến Hứa Đô, dâng thư cho Tào Tháo, nói rằng: “Tôn Sách kiêu
dũng, cũng như Hạng Vũ ngày xưa, triều đình nên bề ngoài cho hầu được vinh sủng,
gọi vào kinh đô không nên để cho hắn ở ngoài, làm mối lo về sau”.
Sứ giả mang thư qua sông, bị tướng
giữ sông bắt được, giải nộp Tôn Sách. Sách xem thư, sai chém sứ giả rồi cho người
giả tảng đi mời Hứa Cống đến bàn việc! Cống đến nơi Sách đưa thư cho xem, mắng:
- Mày muốn đưa ta đến chỗ chết à?
Rồi sai quân sĩ đem thắt cổ cho
chết.
Họ hàng Hứa Cống trốn đi cả. Có
ba người gia khách muốn báo thù cho Cống nhưng chưa gặp dịp nào thuận tiện.
Một hôm Tôn Sách đem quân đi săn ở
Tây Sơn đất Đan Đồ. Có một con hươu lớn chạy ra. Sách tế ngựa lên núi đuổi
theo. Trong khi đang đuổi hươu, thấy trong đám rừng rậm, có ba người cầm giáo
đeo cung đứng rình, Sách dừng ngựa lại hỏi:
- Các ngươi là ai?
Họ nói:
- Quân Hàn Đương săn hươu ở đây.
Sách vừa giựt cương ngựa sắp đi
thì một người cầm giáo chạy lại, đâm vào đùi Tôn Sách. Sách cả sợ vội vàng rút
gươm ra chém, chẳng may lưỡi gươm tụt rơi mất, chỉ còn cái vỏ trong tay. Một
người giương cung bắn tên vào má Sách. Sách nhổ cái tên ra, lấy cung bắn trả lại,
người theo tiếng dây cung ngã liền. Còn hai người kia vác giáo đến đâm Sách túi
bụi và kêu to:
- Chúng tao là gia khách Hứa Cống,
nay báo thù cho chủ đây
Sách tay không, chỉ lấy cung chống
đỡ, vừa đỡ vừa chạy. Hai người kia liều chết lăn vào đánh, không chịu lui. Mình
Sách đã bị nhiều nhát giáo, ngựa cũng bị thương.
Đương khi nguy cấp, Trình Phổ dẫn
quân đến, Sách kêu to:
- Giết giặc!
Trình Phổ dẫn quân kéo cả vào, bọn
gia khách Hứa Cống bị băm nát như bùn.
Phổ nhìn Tôn Sách, thấy máu chảy
đầy mặt, bị thương rất nặng, bèn lấy dao cắt áo bào buộc chỗ bị thương lại, đem
về Ngô Hội dưỡng bệnh.
Người sau có thơ khen ba gia
khách họ Hứa:
Săn bắn không may gặp nạn nguy
Gia khách báo thù cho họ Hứa
Ngày xưa Dự Nhượng chẳng hơn gì!
Tôn Sách về đến phủ, sai người đi
mời Hoa Đà đến chữa thuốc. Chẳng may Hoa Đà đi sang Trung Nguyên vắng, chỉ có học
trò ở nhà, thay thầy đi thăm bệnh. Người học trò nói:
- Đầu tên có thuốc độc, đã ngấm
vào xương, phải nghỉ ngơi trong một trăm ngày mới khỏi lo ngại. Nếu để cơn tức
giận nổi lên, thì vết thương sẽ khó chữa.
Tôn Sách vốn nóng nảy, chỉ muốn
khỏi bệnh ngay lập tức.
Mới nghỉ ngơi được vài mươi ngày,
chợt nghe có sứ giả của Trương Hoành ở Hứa Đô về, Sách gọi đến hỏi. Sứ giả nói:
- Tào Tháo rất sợ chúa công, các
mưu sĩ cũng đều kính phục, duy có Quách Gia là không phục.
Sách hỏi:
- Quách Gia nói những gì?
Sứ giả không dám nói. Sách tức lắm,
cố hỏi gặng cho được. Sứ giả phải thưa thực:
- Quách Gia thường nói với Tào
Tháo: “Chúa công không đáng sợ, vì hay khinh thường không biết phòng bị, nóng
tính mà ít mưu. Ấy là sức mạnh của kẻ thất phu, thế nào cũng chết về tay bọn tiểu
nhân mà thôi!”
Sách nghe nói giận lắm nói:
- Đứa thất phu sao dám chê ta! Ta
thề lấy được Hứa Xương.
Bèn không đợi khỏi bệnh, muốn bàn
khởi binh lập tức. Trương Chiêu can:
- Thầy thuốc đã dặn chúa công phải
tĩnh dưỡng trong một trăm ngày. Nay vì cơn giận một lúc, mà chúa công khinh thường
cái thân nghìn vàng, sao nên?
Đương lúc ấy, chợt báo Viên Thiệu
sai sứ giả là Trần Chấn đến. Sách gọi vào hỏi việc gì. Chấn nói:
- Chủ tôi là Viên Bản Sơ muốn kết
Đông Ngô làm ngoại ứng, cùng đánh Tào Tháo.
Sách mừng lắm, ngay hôm ấy họp
các tướng ở nhà lầu trên thành, mở tiệc khoản đãi Trần Chấn.
Đương uống rượu, thấy các tướng
thì thầm với nhau rồi rối rít xuống lầu. Sách ngạc nhiên, hỏi cớ làm sao, tả hữu
thưa:
- Có vị thần tiên họ Vu đi qua dưới
lầu, các tướng muốn xuống để lạy.
Sách đứng dậy, dựa bao lơn xem,
thấy một đạo nhân, mình mặc áo lông hạc, tay cầm gậy gỗ lê, đứng ở giữa đường,
dân gian đốt hương quỳ lạy dưới đất. Sách giận nói:
- Yêu nhân nào đó? Ra bắt vào đây
cho ta.
Tả hữu thưa:
- Người ấy họ Vu tên Cát, ở
phương đông, thường đi lại miền Ngô Hội, cho bùa và nước phép cứu bệnh cho người,
không ai là không khỏi. Người ấy là thần tiên, không nên khinh nhờn.
Sách càng giận, quát to:
- Bắt ngay cho nhanh, ai trái lệnh
sẽ bị chém!
Tả hữu bất đắc dĩ phải xuống dắt
Vu Cát lên lầu.
Sách quát mắng:
- Quân tà đạo kia, sao dám làm mê
hoặc lòng người?
Vu Cát thưa:
- Bần đạo vốn là đạo sĩ ở cung
Lương Gia[1]. Đời vua Thuận đế (126 – 144), bần đạo vào núi hái thuốc,
được bộ sách thần trên suối Dương Khúc tên là “Thái bình thanh lĩnh đạo” hơn
trăm quyển, toàn là những phương thuốc chữa các bệnh tật. Bần đạo được bộ sách ấy,
chỉ chuyên thay trời cứu người, làm phúc, chưa từng lấy của ai một mảy may gì,
sao gọi là làm mê hoặc người được?
Sách hỏi:
- Nếu mày không lấy tiền của ai,
thì cơm ăn áo mặc bởi đâu mà có? Mày tức là bọn Trương Giác, nay nếu không giết
đi, tất để lo về sau.
Sách quát tả hữu đem ra chém,
Trương Chiêu can rằng:
- Vu đạo nhân ở Giang Đông mấy
mươi năm nay, không hề làm điều gì tội lỗi, xin chúa công đừng giết.
Sách nói:
- Những hạng yêu nhân ấy, ta giết
đi, khác nào giết chó giết lợn.
Các quan ai cũng cố sức can, Trần
Chấn cũng kêu van hộ. Sách chưa nguôi giận, sai hãy đem giam vào ngục.
Các quan tan về, Trần Chấn cũng về
nhà khách.
Tôn Sách về phủ, con hầu đã đem
việc ấy nói với mẹ Sách là Ngô thái phu nhân. Thái phu nhân mới gọi Tôn Sách
vào hậu đường bảo:
- Mẹ nghe con đem Vu thần tiên bỏ
ngục. Người ấy từng chữa khỏi bệnh tật cho nhiều người, ai cũng kính trọng, con
không nên giết.
Tôn Sách nói:
- Nó là yêu nhân, chỉ lấy yêu thuật
dối người, không trừ không được.
Phu nhân hai ba lần khuyên bảo.
Sách nói:
- Xin mẹ đừng nghe người ta nói
càn, con đã có cách cư xử.
Nói rồi trở ra, gọi ngục lại đem
Vu Cát đến hỏi. Nguyên các ngục lại ai cũng kính trọng Vu Cát, không ai dám
gông xiềng gì cả, đến khi Sách gọi, bấy giờ mới vội để Cát mang gông xiềng đi.
Sách biết chuyện, quở mắng ngục lại rất tệ, rồi lại sai gông Vu Cát lại bỏ ngục.
Bọn Trương Chiêu vài mươi người,
cùng đứng tên làm giấy bảo lĩnh cho Vu thần tiên.
Sách nói:
- Các ông đều là những người đã đọc
sách cả, sao không đạt lý? Ngày trước Trương Tần làm thứ sử Giao Châu, tin theo
đồng cốt, gảy đàn thắp hương, thường lấy khăn đỏ trùm đầu, cho là có thể giúp
oai khi xuất quân, rồi sau cũng bị quân địch giết chết. Những việc pháp thuật
thật là vô ích, chỉ vì các ông chưa hiểu đó thôi. Ta muốn giết Vu Cát cốt để cấm
tà đạo và làm cho những người mê tín tỉnh ngộ lại.
Lã Phạm nói:
- Tôi vốn biết Vu đạo nhân có thể
cầu đảo được gió mưa, nay trời đang đại hạn, sao chúa công không cho Vu đạo
nhân ra đảo vũ để chuộc tội?
Sách nói:
- Ta hãy xem yêu nhân làm thế
nào?
Liền sai đem Vu Cát ở trong ngục
ra, tháo cả gông xiềng, cho lên đàn đảo vũ.
Vu Cát lĩnh mệnh, lập tức tắm gội
thay áo sạch, tự lấy thừng trói mình, đứng phơi giữa trời nắng. Nhân dân đứng
xem đầy đường lấp ngõ. Vu Cát bảo những người xem rằng:
- Nay tôi cầu ba thước mưa ngọt để
cứu muôn dân, nhưng tôi cũng không tránh khỏi chết.
Chúng dân đều nói:
- Nếu đảo vũ linh nghiệm, chúa
công tất nhiên phải tin phục.
Vu Cát nói:
- Số vận như thế, sợ không sao
tránh khỏi được.
Được một lát, Tôn Sách đến chỗ lập
đàn, hạ lệnh:
- Nếu đến giờ ngọ không mưa, ta đốt
chết Vu Cát.
Rồi sai người xếp củi khô chực sẵn.
Sắp đến giờ ngọ, cơn giông bỗng nổi lên, mây đen mù mịt lấp trời.
Sách nói:
- Giờ ngọ sắp đến; chỉ có mây
đen, không thấy mưa, thằng này thực là yêu nhân.
Sách sai trói Vu Cát để trên đống
củi, bốn mặt đốt lửa. Ngọn lửa theo gió bốc lên ngùn ngụt. Chợt thấy một đám
khói đen, bốc thẳng lên giữa trời, rồi một tiếng vang động, vừa sấm vừa chớp,
mưa xuống như trút nước. Trong chốc lát, đường chợ thành sông, các khe ngòi đều
đầy ứ, vừa được ba thước nước mưa ngọt.
Vu Cát nằm tênh hênh trên đống củi,
quát to một tiếng, tự dưng mây tan, mưa tạnh, mặt trời lại ló ra.
Các quan và trăm họ vực Vu Cát từ
trên đống củi xuống, cởi dây trói, lạy hai lạy tạ ơn.
Tôn Sách thấy quan dân lạy la liệt,
không quản chi bùn lầy nước vũng, liền đùng đùng nổi giận, quát lên: “Giời mưa
giời tạnh, đã có số định sẵn, yêu nhân ngẫu nhiên gặp dịp, các ngươi sao lại mê
hoặc như thế? Chúng bây đều là một lũ ngu cả”.
Sách rút ngay bảo kiếm, truyền tả
hữu chém ngay Vu Cát. Các quan cố sức ngăn, Sách mắng:
- Các ngươi muốn theo Vu Cát làm
phản chăng?
Các quan không ai dám nói gì nữa.
Sách quát võ sĩ đem chém Vu Cát,
chỉ một nhát đao, đầu rơi xuống đất, rồi thấy một luồng khói xanh bay vụt về mé
đông bắc. Sách sai đem thây Vu Cát bêu ở chợ để trị cái tội yêu tà.
Đêm hôm ấy mưa gió ầm ầm, đến
sáng không thấy xác Vu Cát, quân giữ thây vào báo Tôn Sách. Sách điên ruột,
toan chém quân giữ thây. Chợt thấy một người từ ngoài thong thả bước vào, trông
ra thì là Vu Cát. Tôn Sách giận lắm, toan rút gươm ra để chém, tự nhiên tối sầm
mặt lại, ngã ngay xuống đất. Tả hữu vội vàng vực Sách vào buồng trong, một lúc
sau mới tỉnh lại.
Ngô thái phu nhân lại thăm, bảo
Sách:
- Con giết oan thần tiên, cho nên
có vạ này.
Sách cười, đáp:
- Từ thuở nhỏ đến giờ, con theo
cha đi đánh giặc, giết người như cắt gai, con chưa thấy ai oán bao giờ, nay giết
yêu nhân, chính là để trừ vạ lớn, đâu nó lại làm hại được con?
Phu nhân nói:
- Bởi con không chịu tin nên mới
sinh ra thế. Nay nên cúng lễ thì khỏi.
Sách đáp:
- Mệnh con tại trời, yêu nhân quyết
không làm gì được, sao lại phải cúng lễ?
Phu nhân biết là khuyên mãi Sách
cũng không tin, cứ sai tả hữu lập đàn cúng lễ.
Canh hai đêm hôm ấy, Tôn Sách
đang nằm ở nhà trong, cơn gió lạnh bỗng nổi lên, ngọn đèn lập loè sáng rồi lại
tối. Dưới bóng đèn thấp thoáng, Sách thấy Vu Cát đứng ngay đầu giường, Sách
quát:
- Tao suốt đời đã thề giết quân
yêu ma để yên thiên hạ. Mày đã là ma, sao dám đến gần ta?
Sách cầm gươm ở đầu giường quăng
ra thì chẳng thấy gì nữa.
Ngô thái phu nhân biết chuyện, lại
thêm lo buồn. Tôn Sách tuy bệnh nặng, phải gượng đứng dậy đi lại để yên lòng mẹ.
Ngô thái phu nhân bảo Sách:
- Đức thánh ngày xưa nói: “Đức quỷ
thần thịnh lắm!” Lại có câu: “Cầu khẩn thần thánh trên trời dưới đất”. Việc quỷ
thần không thể không tin. Con đã giết oan Vu tiên sinh, nên mới báo ứng ra thế.
Nay mẹ đã sai người làm chay ở miếu Ngọc Thanh trên quận, con nên thân hành đến
lễ, tự nhiên sẽ khỏi bệnh.
Sách không dám trái lời mẹ, phải
miễn cưỡng lên kiệu ra miếu Ngọc Thanh.
Đạo sĩ đón vào, mời Sách thắp
hương, Sách đốt hương nhưng không lễ tạ.
Bỗng nhiên trong lư hương, khói bốc
lên không toả kết thành một cái tán, ở trên thấy Vu Cát ngồi chễm chệ.
Tôn Sách vừa giận vừa mắng rồi chạy
ra, thấy ngay Vu Cát đứng ở giữa cung điện, trừng mắt nhìn Tôn Sách. Sách ngoảnh
lại hỏi tả hữu:
- Các ngươi có trông thấy gì
không?
Tả hữu nói không thấy gì cả.
Sách càng giận, rút gươm phóng
vào chỗ Vu Cát đứng, một người bị trúng ngã quay ra. Mọi người nhìn kỹ thì là
tên lính đã chém Vu Cát hôm trước nay bị gươm đâm vào đầu, bảy khiếu chảy máu
mà chết.
Tôn Sách sai đem đi chôn. Đến khi
ra cửa miếu, lại thấy Vu Cát ở ngoài chạy vào.
Tôn Sách nói:
- Miếu này cũng là chỗ yêu tinh ẩn
nấp.
Rồi ngồi ngay trước cửa quán, sai
năm trăm võ sĩ phá đi. Võ sĩ vừa dỡ ngói trèo lên, thì thấy ngay Vu Cát ngồi
trên nóc nhà rút ngói ném xuống đất. Sách giận quá, truyền lệnh đuổi các đạo sĩ
ra ngoài, rồi đem lửa đốt miếu. Lại thấy Vu Cát đứng trong ngọn lửa.
Sách tức lắm, trở về phủ, lại thấy
Vu Cát đứng ngay trước cửa phủ.
Sách không vào phủ nữa, điểm ngay
ba quân, ra ngoài thành đóng trại, cho gọi các tướng đến bàn, muốn khởi binh đi
giúp Viên Thiệu để đánh Tào Tháo cả hai mặt.
Các tướng can:
- Chúa công ngọc thể còn yếu,
chưa nên khinh động. Xin đợi khi nào khoẻ hẳn, cất quân cũng chưa muộn.
Đêm hôm ấy, Tôn Sách ngủ trong trại,
bỗng thấy Vu Cát xoã tóc đi vào. Sách chửi mắng không dứt miệng. Hôm sau, Ngô
thái phu nhân cho gọi Tôn Sách về phủ. Sách phải về. Phu nhân thấy Sách hình
dong tiều tuỵ, khóc nói:
- Con ta đã thất sắc đi rồi!
Sách lấy gương soi, quả nhiên thấy
hình dong đã mười phần sút hẳn, bất giác kinh sợ hỏi tả hữu:
- Sao ta tiều tuỵ đến thế này?
Nói chưa dứt lời, chợt thấy Vu
Cát đứng ở trong gương. Sách đập ngay gương, thét to một tiếng. Vết đau ở chỗ bị
thương vỡ ra, Sách ngã bất tỉnh xuống đất.
Thái phu nhân sai vực Sách vào
giường nằm. Được một lát, Sách lại tỉnh dậy, than rằng:
- Ta không sống được nữa.
Rồi cho đòi bọn Trương Chiêu và
em là Tôn Quyền đến trước giường nằm dặn dò:
- Thiên hạ đương loạn, dùng dân
chúng Ngô Việt ta ở, giữ vững nơi hiểm yếu của ba con sông, có thể làm việc lớn
được. Lũ Tử Bố cố hết lòng giúp em ta.
Sách lấy ấn thụ trao cho Tôn Quyền
và dặn:
- Cất quân Giang Đông, quyết được
thua giữa trận ta và trận địch, tranh hùng cùng thiên hạ, thì em không bằng
anh, nhưng cất người hiền, dùng người tài, khiến ai cũng hết sức giữ đất Giang
Đông, thì anh không bằng được em. Em nên nghĩ đến cơ nghiệp của cha anh đã khó
nhọc mới gầy dựng nên, tự lo liệu cho khéo.
Tôn Quyền khóc thương, lạy nhận ấn
thụ.
Sách lại nói với mẹ:
- Số con đã hết, không thể thờ phụng
mẹ nữa. Con đã giao ấn thụ cho em Quyền, xin nhờ mẹ sớm chiều dạy bảo, những
người cũ của cha, không nên khinh đãi.
Phu nhân khóc nói:
- Sợ em con còn bé, không đương nổi
việc lớn thì làm thế nào?
Sách nói:
- Tài em con gấp mười con, có thể
gánh vác việc lớn. Về sau nếu có việc trong không quyết thì hỏi Trương Chiêu,
việc ngoài không quyết thì hỏi Chu Du. Tiếc thay Chu Du không có ở đây để con dặn
dò trước mặt.
Sách lại gọi các em đến dặn:
- Sau khi anh chết, các em phải hết
sức giúp Trọng Mưu. Trong tôn tộc, người nào dám có ý khác, các ngươi cứ giết
đi. Trong anh em cốt nhục, người nào dám làm điều loạn nghịch, khi chết không
được táng vào đất mộ tổ.
Các em đều khóc, vâng lời dạy.
Sách lại gọi vợ là Kiều phu nhân
và bảo:
- Ta cùng nàng chẳng may giữa đường
phân ly, nàng nên hết lòng phụng dưỡng mẹ ta. Nay mai em nàng có vào thăm, nên
nhờ nói với Chu lang hết lòng giúp em ta, chớ phụ cái tình tương tri từ trước.
Nói xong nhắm mắt chết.
Đời sau có thơ khen:
Ai cũng khen là Tiểu Bá Vương
Thủ hiểm vững như hình hổ cứ
Quyết cơ nhanh tựa thế ưng dương
Ba sông phẳng lặng oai hùng dũng
Bốn bể vang lừng tiếng vẻ vang
Việc lớn dặn dò khi nhắm mắt
Một lòng gắn bó cậy Chu lang
Tôn Sách chết rồi, Tôn Quyền khóc
phục xuống trước giường. Trương Chiêu đến khuyên giải nói:
- Bây giờ không phải là lúc tướng
quân khóc, một mặt nên sửa sang việc tống táng, một mặt nên trông coi việc quân
việc nước.
Quyền cố cầm nước mắt lại.
Trương Chiêu sai Tôn Tĩnh lo việc
tang, mời Tôn Quyền ra công đường để các quan văn võ vào lạy mừng.
Tôn Quyền người cằm vuông, miệng
lớn, mắt biếc, râu tía. Khi trước sứ nhà Hán, là Lưu Yển vào nước Ngô, trông thấy
mấy anh em nhà họ Tôn, có nói chuyện với người khác:
- Ta xem tướng cả mấy anh em họ
Tôn, tuy rằng người nào tài khí cũng giỏi giang khác thường, nhưng đều hưởng lộc
không được bền. Duy chỉ có Tôn Quyền, hình dong kỳ vĩ, cốt cách dị thường, thực
là tướng đại quý, vả lại hưởng được cao thọ, các anh em không người nào bằng.
Bấy giờ Tôn Quyền chịu mệnh anh,
coi giữ Giang Đông, mọi việc sửa sang chưa xong, có người báo:
- Chu Du từ Ba Khâu đã đem quân về.
Tôn Quyền mừng nói:
- Công Cẩn đã về, ta không lo chi
nữa.
Nguyên Chu Du đóng giữ Ba Khâu,
nghe tin Tôn Sách mắc bệnh, vội vàng trở về hỏi thăm. Đi đến gần Ngô Quận, Du
nghe tin Sách đã chết, cho nên đi suốt ngày đêm về chịu tang.
Về đến nơi, Chu Du khóc lạy trước
linh cữu. Ngô thái phu nhân ra gặp, đem lời di chúc của Tôn Sách bảo lại Chu
Du. Du lạy xuống đất nói:
- Tôi xin đem hết sức khuyển mã để
đền đáp cho đến khi tôi chết mới thôi!
Một lát, Tôn Quyền vào, Chu Du
bái kiến xong, Tôn Quyền nói:
- Xin ông chớ quên những lời anh
tôi dặn lại.
Du dập đầu xuống đất thưa:
- Tôi nguyện đem gan óc lầy đất để
báo lại ơn tri kỷ.
Quyền hỏi:
- Nay tôi nối nghiệp cha, nên có
mưu kế gì để giữ vững?
Du thưa:
- Xưa nay, được người hiền giúp
thì nước thịnh, mất người hiền thì nước mất. Chúa công nên cầu người cao minh
viễn kiến để làm phụ tá, thì Giang Đông sao chẳng vững bền?
Quyền nói:
- Anh tôi có dặn phàm việc trong
thì nhờ Tử Bố, còn việc ngoài nhờ Công Cẩn.
Du nói:
- Tử Bố là người hiền đạt, có thể
đương nổi việc lớn. Còn tôi bất tài, sợ phụ mất lòng tin cậy, nay xin tiến một
người để giúp chúa công.
Quyền hỏi:
- Người nào?
Du nói:
- Người ấy họ Lỗ tên Túc, tự là Tử
Kính, người ở Đông Xuyên, quận Lâm Hoài. Người ấy có nhiều thao lược cơ mưu, mất
bố từ thuở nhỏ, thờ mẹ rất hiếu, nhà rất giàu, thường đem của cải giúp kẻ khốn
khó. Khi tôi ở Cự Sào, đem mấy trăm người đi qua Lâm Hoài, nhân thiếu lương ăn,
nghe nhà Túc có hai vựa thóc, mỗi vựa ba nghìn hộc. Tôi đến cầu giúp, Túc đem
ngay một vựa ra cho. Người ấy tính thực khảng khái. Ngày thường, Túc ham thích
múa gươm, cưỡi ngựa, bắn cung, nay ở Khúc A, vì bà mất, Túc về làm tang lễ ở
Đông Thành. Đến đó, có một người bạn là Lưu Tử Dương, muốn rủ Túc sang Sào Hồ
theo Trịnh Bảo, Túc còn ngần ngừ chưa đi. Chúa công nên sai người mời ngay đi.
Tôn Quyền mừng lắm, sai ngay Chu
Du đi đón Lỗ Túc.
Chu Du đến nơi, chào hỏi xong,
nói rõ lòng quý mến của Tôn Quyền.
Túc nói:
- Tử Dương rủ sang Sào Hồ, tôi
đang định đi.
Du nói:
- Ngày xưa Mã Viện nói với Quan
Vũ rằng: “Đời này, không những là vua chọn bầy tôi, bầy tôi cũng phải chọn
vua”. Ngay Tôn tướng quân thân người hiền, kính kẻ sĩ, dùng người kỳ lạ, ông
không nên tìm nơi khác chỉ nên cùng tôi sang giúp Đông Ngô là phải.
Túc theo lời, cùng Chu Du đến yết
kiến Tôn Quyền. Tôn Quyền rất kính trọng, cùng Túc đàm luận suốt ngày không
chán.
Một hôm, các quan về, Quyền mời
Túc ở lại uống rượu, đến tối, nằm cùng giường, gác chân lên nhau. Nửa đêm, Quyền
hỏi Túc:
- Nay nhà Hán suy yếu, bốn phương
rối loạn, ta nối nghiệp cha anh, muốn làm việc Hoàn, Văn[2], ông có
mưu kế gì để dạy bảo ta không?
Túc nói:
- Xưa Cao tổ nhà Hán muốn tôn
Nghĩa đế mà không làm được, là vì Hạng Vũ làm trở ngại. Nay Tào Tháo cũng ví
như Hạng Vũ, tướng quân làm thế nào được việc Hoàn, Văn? Tôi nghĩ nhà Hán không
thể phục hưng, Tào Tháo không thể trừ được. Tướng quân chỉ nên giữ vững Giang
Đông, đợi xem những sự biến cố trong thiên hạ. Nay nhân phương Bắc lắm việc,
hãy trừ Hoàng Tổ, đánh Lưu Biểu, lấy hết các miền quanh Trường Giang, dựng hiệu
đế vương để tính việc lớn. Đó là sự nghiệp Hán Cao tổ.
Tôn Quyền mừng lắm, mặc áo, đứng
dậy tạ ơn. Hôm sau, Quyền hậu tặng Lỗ Túc và đưa những thứ áo chăn màn biếu mẹ
Túc.
Túc lại đem một người nữa vào yết
kiến Tôn Quyền; người ấy họ là Gia Cát, tên là Cẩn, tự là Tử Du, học rộng tài
cao, thờ mẹ rất hiếu. Gia Cát Cẩn vốn người ở Nam Dương, quận Lương Gia. Tôn
Quyền đãi làm khách quý.
Cẩn khuyên Tôn Quyền đừng kết hiếu
với Viên Thiệu và hãy theo Tào Tháo, rồi đợi lúc nào có cơ hội tốt sẽ tính toán
sau.
Tôn Quyền nghe lời, cho Trần Chấn
về, gửi thư khước từ Viên Thiệu.
Bấy giờ Tào Tháo nghe tin Tôn
Sách đã chết, muốn đem binh đi lấy Giang Nam, thì ngự sử là Trương Hoành can:
- Nhân người ta có tang mà đánh,
không phải là việc nghĩa. Nếu đánh không được, tức là bỏ hoà hiếu mà gây oán
thù, không bằng nhân dịp này mà đối đãi tử tế với người ta.
Tháo nghe lời, tâu xin phong cho
Tôn Quyền làm tướng quân, lĩnh chức thái thú ở Cối Kê, cho Trương Hoành ra làm
đô uý ở Cối Kê, đem ấn về Giang Đông, giao cho Tôn Quyền.
Tôn Quyền mừng lắm, lại được
Trương Hoành trở về Ngô, bèn sai cùng Trương Chiêu trông coi chính sự.
Trương Hoành lại tiến một người,
họ Cố tên Ung, tự là Nguyên Thản, nguyên là học trò Sái Ung ngày xưa. Cố Ung
người ít nói năng, không uống rượu, nghiêm nghị chính trực. Quyền cho Ung làm
quan thừa, coi việc thái thú.
Từ đó Tôn Quyền oai khắp cả đất
Giang Đông, rất được lòng dân.
Trong khi ấy thì Trần Chấn trở về
ra mắt Viên Thiệu, kể lại Tôn Sách đã mất, Tôn Quyền nối nghiệp, Tháo phong Quyền
là tướng quân, kết Ngô làm ngoại ứng.
Viên Thiệu nổi giận, lập tức khởi
cả quân mã Ký, Thanh, U, Tinh, cả thảy hơn bảy mươi vạn đi đánh Hứa Xương.
Thế là:
Can qua Ký Bắc lại vùng lên
Chưa biết Viên Thiệu phen này được
thua thế nào, xem đến hồi sau sẽ phân giải.
Chú thích cuối trang
- ▲ Tên một cung điện ở trên một quả núi ở Sơn Đông dựng
lên từ đời Tần Thuỷ Hoàng.
- ▲ Đời Xuân thu, Hoàn công nước Tề, Văn công nước Tấn đều
làm bá chủ các chư hầu.
Viên Thiệu cất quân, đi đến bến
Quan Độ, Hạ Hầu Đôn đưa thư về cáo cấp. Tào Tháo khởi bảy vạn quân ra nghênh địch,
để Tuân Úc ở lại giữ Hứa Đô.
Khi quân Viên Thiệu sắp cất quân
đi, Điền Phong ở trong ngục dâng thư can:
- Nay nên giữ vững để đợi thời.
Không nên khinh thường cất đại binh đi, e có việc bất lợi.
Phùng Kỷ nói gièm:
- Chúa công dấy quân nhân nghĩa,
sao Điền Phong lại nói lời chẳng lành?
Thiệu giận lắm muốn chém Điền
Phong. Các quan cố can.
Thiệu nói:
- Để ta phá xong Tào Tháo đã, rồi
sẽ trị tội nó!
Nói rồi giục quân kéo đi, tinh kỳ
rợp đất, giáo mác như rừng. Đến Dương Võ, Thiệu hạ trại đóng quân. Thư Thụ nói:
- Quân ta tuy nhiều, nhưng dũng
mãnh kém bên kia; quân kia tuy tinh nhuệ, nhưng lương thảo kém ta. Bên kia
không có lương, lợi ở sự đánh nhanh; bên ta có lương, nên giữ lâu, nếu kéo dài
được ngày tháng, quân địch chẳng phải đánh cũng tất thua.
Thiệu giận mắng:
- Điền Phong đã làm nản lòng
quân, ta còn để tội cho đến khi về, nay sao mày cũng nói gở nốt?
Rồi thét tả hữu đem Thư Thụ giam ở
trong quân, đợi lúc về trị tội cùng Điền Phong một thể. Rồi hạ lệnh đem bảy
mươi vạn quân dàn ra bốn phía cắm trại, trại đóng liền nhau hơn chín mươi dặm.
Quân đi do thám Quan Độ về báo.
Quân Tào mới đến, nghe tin đều sợ hãi.
Tào Tháo cùng các mưu sĩ bàn bạc.
Tuân Du nói:
- Quân Thiệu tuy nhiều, nhưng
không đáng sợ. Quân ta tinh nhuệ, một người có thể đánh nổi mười người, nhưng cần
đánh ngay, nếu kéo dài ngày tháng, lương thảo không đủ thì thật là đáng lo.
Tháo nghe nói truyền lệnh cho
quân tướng đánh trống reo hò tiến lên. Quân Thiệu đón đánh. Hai bên dàn thành
thế trận. Thẩm Phối đem một vạn tay nỏ, phục ở hai bên; năm nghìn tay cung phục
ở trong cửa, hẹn nghe tiếng pháo thì bắn ra. Đánh dứt ba hồi trống, Viên Thiệu
đội mũ chỏm vàng, mặc áo giáp vàng, bào gấm đai ngọc, cưỡi ngựa đứng trước trận.
Đứng xếp hàng hai bên là bọn Trương Cáp, Cao Lãm, Hàn Mãnh, Thuần Vu Quỳnh.
Tinh kỳ, tiết việt rất nghiêm chỉnh
Bên kia, Tào Tháo cưỡi ngựa ra
trước trận. Lũ Hứa Chử, Trương Liêu, Từ Hoảng, Lý Điển đều cầm binh khí, hộ vệ
trước sau.
Tào Tháo cầm roi trỏ vào Viên Thiệu
bảo:
- Tao đã tâu thiên tử cho ngươi
làm đại tướng quân, sao ngươi lại mưu phản?
Thiệu đáp:
- Ngươi giả danh là tướng nhà
Hán, thực là giặc phản nhà Hán, tội ác đầy trời, hơn cả Mãng, Trác, lại còn vu
cho ai làm phản?
Tháo nói:
- Ta phụng chiếu thiên tử ra đây
đánh mi!
Thiệu đáp:
- Tao cũng phụng chiếu áo đai
đánh giặc.
Tháo giận, sai ngay Trương Liêu
cưỡi ngựa ra. Trương Cáp ra nghênh địch. Hai tướng đánh nhau đến hơn năm mươi
hiệp, không phân được thua.
Tào Tháo thấy vậy khen thầm là lạ,
Hứa Chử múa giáo tế ngựa ra đánh giúp Trương Liêu. Cao Lãm cầm giáo ngăn lại.
Bốn tướng đương quần nhau, Tào
Tháo lại sai Hạ Hầu Đôn, Tào Hồng mỗi người dẫn ba nghìn quân, cùng xông sang
trận Viên Thiệu.
Thẩm Phối thấy quân Tào xông
sang, liền sai đốt một tiếng pháo hiệu, hai bên hàng vạn cái nỏ đều bắn ra,
quân bắn cung cùng bắn ra một lượt như mưa. Viên Thiệu thúc quân vào đánh giết.
Quân Tào thua to phải lui về Quan Độ.
Viên Thiệu cũng đem quân đến gần
Quan Độ hạ trại.
Thẩm Phối nói:
- Nay nên sai mười vạn quân giữ ở
Quan Độ, đến tận trước trại Tào Tháo, đắp ụ đất, sai quân dòm xuống trại Tào mà
bắn. Hễ ta chiếm được Quan Độ thì Hứa Xương có thể phá được.
Viên Thiệu nghe theo, sai quân
mang ngay mai cuốc quang thúng đắp ụ gần bên trại Tào.
Tào Tháo thấy vậy, muốn ra để
đánh không cho quân Viên Thiệu đắp ụ, nhưng quân cung nỏ chặn giữ những đường
xung yếu, quân Tào không tiến được.
Trong vòng mười ngày, quân Thiệu
đắp được hơn năm mươi cái đồi đất, trên dựng chòi cao, rồi quân cung nỏ đứng
trên bắn xuống.
Quân Tào sợ hãi, người nào người ấy
đội mộc đỡ tên. Trên đồi cứ mỗi tiếng mõ, tên bắn xuống như mưa. Quân Tào đều
nép vào mộc nằm rạp xuống đất. Quân Thiệu reo lên cười.
Tào Tháo thấy quân rối loạn, họp
các mưu sĩ hỏi kế. Lưu Hoa nói:
- Nên làm xe bắn đá chống lại.
Tháo bảo Hoa vẽ kiểu xe, suốt đêm
chế được vài trăm cỗ xe, đặt bên trong tường, chiếu thẳng vào những chòi trên đồi.
Đợi lúc quân cung nỏ sắp bắn, đá bay lên đánh phá lung tung, người không chỗ nấp,
quân cung nỏ chết vô số.
Quân Viên thiệu gọi xe ấy là xe sấm
sét. Từ đấy quân Thiệu không dám trèo lên cao bắn vào nữa.
Thẩm Phối lại hiến kế khác:
- Ta nên sai quân dùng thuổng cuốc
lén đào đường ngầm, thẳng vào trong trại Tào Tháo. Quân ấy gọi là quân đào hầm.
Quân Tào thấy quân Viên Thiệu đào
cả sau những ụ đất, vào báo với Tháo. Tháo hỏi Lưu Hoa. Lưu Hoa nói:
- Quân Viên đánh đường hoàng
không được, định đánh lén, họ đào đường ngầm dưới đất để theo đó mà tiến vào
dinh ta.
Tháo hỏi:
- Vậy ta phải làm thế nào?
Hoa nói:
- Đào một cái hào chung quanh trại
thì đường hầm của nó cũng thành vô dụng.
Đêm hôm ấy Tào Tháo sai đào một
cái hào rõ sâu.
Quân Viên đào đến cạnh hào, không
đánh vào được, mất công khó nhọc vô ích.
Tào Tháo giữ Quan Độ từ tháng Tám
đến tháng Chín, quân lực kém dần, lương thảo gần hết, ý muốn bỏ Quan Độ về Hứa
Xương, nhưng ngần ngừ chưa định, bèn viết thư sai người đem về hỏi Tuân Úc. Úc
viết thư đáp lại.
Thư đại lược nói:
“Trộm nghĩ Viên Thiệu đem đại
quân họp cả ở Quan Độ cùng minh công quyết một trận được thua, minh công lấy yếu
địch khoẻ, nếu không chống nổi, tất bị nó đè tấn ngay: lúc này chính là một cơ
hội lớn phải dùng mưu trí. Quân Thiệu tuy nhiều, nhưng không biết sử dụng, minh
công là bậc thần vũ minh triết, xoay xở thế nào mà chẳng được. Nay quân lương
dù ít, cũng chưa đến nỗi nguy khốn như lúc Sở Hán đánh nhau ở Huỳnh Dương hay
Thành Cao. Minh công vạch đất cố giữ, chẹn cuống họng kẻ địch, không cho nó tiến,
tình thế sẽ thay đổi, thể nào cũng có biến, chính là lúc dùng mưu trí, xin minh
công xét kỹ”.
Tào Tháo được thư, sai tướng sĩ cố
sức giữ. Sau quân Thiệu phải lui hơn ba mươi cặm. Tháo sai tướng đi tuần tiễu,
trong khi đi tuần, có bộ tướng của Từ Hoảng, tên là Sử Hoán, bắt được một tên
do thám của Viên Thiệu, giải về nộp, Từ Hoảng hỏi về việc quân bên Viên, tên ấy
thưa:
- Nay mai đại tướng là Hàn Mãnh,
đem lương đến tiếp tế, sai tôi đi dò đường trước.
Từ Hoảng đi báo ngay cho Tháo biết,
Tuân Du nói:
- Hàn Mãnh là một thằng vũ phu.
Chỉ sai một người dẫn vài nghìn khinh kỵ đón đường chẹn đánh, cướp được lương
thảo, quân Viên Thiệu phải vỡ.
Tháo hỏi:
- Nên sai ai?
Du nói:
- Nên sai ngay Từ Hoảng.
Tháo bèn sai Từ Hoảng đem Sử Hoán
và bản bộ của mình đi trước; lại cho Hứa Chử, Trương Liêu đi sau tiếp ứng.
Đang đêm, Hàn Mãnh đem vài nghìn
xe lương đến trại Viên Thiệu. Đi đến chỗ đầu núi, Từ Hoảng, Sử Hoán đem quân ra
chẹn đường. Mãnh tế ngựa lại đánh. Từ Hoảng đón đánh Hàn Mãnh, Sử Hoán đuổi tan
những quân đi tải, rồi sai phóng lửa đốt xe lương thảo. Hàn Mãnh thế địch không
nổi, quay ngựa chạy về. Từ Hoảng thúc quân vào đốt sạch cả mấy nghìn cỗ xe.
Quân Viên Thiệu trông mé tây bắc
có ngọn lửa, còn đương hoảng hốt, thì có quân chạy về báo việc Từ Hoảng cướp
lương.
Thiệu sai Trương Cáp, Cao Lãm đi
cứu. Vừa ra đến đường cái, thì gặp ngay Từ Hoảng, Sử Hoán đã đốt hết xe lương,
kéo quân trở về. Hai bên định đánh nhau, thì Hứa Chử, Trương Liêu vừa đến. Hai
mặt giáp công, đánh tan quân Thiệu, họp binh kéo về Quan Độ. Tào Tháo mừng lắm,
trọng thưởng cho các tướng sĩ, rồi chia quân ra lập dinh ở trước trại mình để
làm thế ỷ giốc.
Hàn Mãnh thua trận trở về. Viên
Thiệu giận muốn đem chém, các quan kêu mãi cho được thoát tội. Thẩm Phối nói:
- Đem quân đi, cốt có việc lương
là trọng, việc phòng giữ lương thảo không nên bất cẩn. Lương ta nay chứa cả ở Ô
Sào, thế nào cũng phải cho nhiều quân sĩ giữ gìn nơi ấy mới được.
Viên Thiệu nói:
- Việc ấy ta cũng đã tính đâu vào
đấy rồi, nhưng ngươi cũng phải về Nghiệp Quận đôn đốc, chớ để lương thảo thiếu
thốn.
Thẩm Phối vâng mệnh đi. Viên Thiệu
lại sai đại tướng là Thuần Vu Quỳnh, bộ lĩnh đốc tướng là Mục Nguyên Tiến, Hàn
Cử Tử, Lã Uy Hoàng và Triệu Hiếu, dẫn hai vạn quân mã đến giữ Ô Sào.
Thuần Vu Quỳnh vốn là người nóng
tính, hay rượu, quân sĩ ai cũng sợ. Lúc đến Ô Sào, Quỳnh cả ngày chỉ cùng các
tướng họp nhau uống rượu.
Bên quân Tào, lương thảo cũng cạn.
Tháo sai về Hứa Xương, bảo Tuân Úc phải trù liệu cho mau. Sứ đi chưa được ba
mươi dặm, bị quân Viên Thiệu bắt được, trói đem giải vào nộp mưu sĩ Thiệu là Hứa
Du.
Hứa Du, tự là Tử Viễn, khi nhỏ vốn
là bạn của Tào Tháo, bấy giờ hiện đương làm mưu sĩ cho Viên Thiệu.
Khi bắt được sứ Tào Tháo mang thư
đi giục lương, Hứa Du vào nói với Viên Thiệu:
- Tào Tháo đóng quân ở Quan Độ,
chống với quân ta đã lâu. Hứa Xương tất nhiên bỏ trống. Ta nay nhiều binh, giả
thử chia một nửa quân về đánh úp Hứa Xương thì dễ như chơi. Lấy được Hứa Xương,
tất rồi bắt được Tào Tháo. Nay lương thảo quân Tào vừa cạn, ta nên thừa cơ đánh
cả hai mặt.
Viên Thiệu nói:
- Tào Tháo rất nhiều quỷ kế, thư
này là kế dụ địch đây.
Du đáp:
- Nay nếu không đánh ngay đi, về
sau tất bị nó hại.
Đang nói chuyện, chợt thấy sứ ở
Nghiệp Quân đến đem trình thư của Thẩm Phối trước nói việc vận tải lương thảo,
sau nói khi Hứa Du ở Ký Châu, thường hà lạm của dân nhiều, lại dung túng con
cháu quấy nhiễu dân. Trong thư lại nói: con cháu Hứa Du, hiện đã bị bắt giam cả
rồi.
Thiệu đọc thư xong, nổi giận đùng
đùng, lại nhân không muốn nghe kế Hứa Du vừa bàn, bèn mắng:
- Tên thất phu hà lạm kia! Còn mặt
mũi nào bày mưu ở trước mặt ta! Mày vốn quen Tào Tháo, chắc mày ăn đút của giặc
Tào, làm do thám cho nó rồi dử tao vào cạm phải không? Tội mày đáng chém, tao
hãy gửi cái đầu ở trên cổ đó. Bước đi cho mau, từ nay không được giáp mặt tao nữa!
Hứa Du trở ra, ngẩng mặt lên trời
than:
- Lời nói phải dễ trái tai, bọn
trẻ con không thể cùng bàn việc lớn! Con cháu ta nay lại bị Thẩm Phối nó hại,
ta còn mặt mũi nào trông thấy người đất Ký Châu nữa!
Bèn rút gươm định tự vẫn. Người
nhà giằng lấy gươm, can:
- Việc gì ông phải hoài phí cuộc
đời như thế? Viên Thiệu không nghe lời nói phải, rồi nó sẽ bị Tào Tháo bắt. Ông
với Tào công là chỗ bạn cũ, sao ông không bỏ chỗ tối mà đến chỗ sáng?
Mấy lời ấy làm cho Hứa Du tỉnh
ngay. Du liền đi tắt đến trại Tào Tháo.
Người sau có thơ rằng:
Quan Độ bất hoà uổng xót xa
Phỏng thử biết dùng mưu Tử Viễn
Nhà Tào đâu chiếm được sơn hà?
Hứa Du đến gần trại Tào Tháo,
quân canh đường bắt được. Du nói:
- Ta là bạn cũ của thừa tướng,
vào bẩm ngay có Hứa Du ở Nam Dương lại hầu.
Quân sĩ vội vàng vào bẩm. Tào
Tháo bấy giờ đã sắp đi ngủ, nghe thấy Hứa Du đến, mừng quá không kịp đi giày, cứ
chân không chạy ra đón vào. Trông thấy Hứa Du, Tháo vỗ tay vui cười rồi hai người
dắt tay đi vào. Tháo thụp xuống đất lạy trước, Du sợ hãi vội vàng đỡ lên nói:
- Ông là tướng nhà Hán, tôi là một
người áo vải, sao lại khiêm nhường quá thế?
Tháo nói:
- Ông là bạn của Tháo, há dám lấy
tước vị phân biệt người trên kẻ dưới!
Du nói:
- Tôi nay không biết chọn chủ, hạ
mình đi thờ Viên Thiệu, nói nó không nghe, bày kế nó không dùng, nay tôi bỏ nó
đến gặp cố nhân, rất mong được thừa tướng thu dụng.
Tháo mừng nói:
- Tử Viễn chịu đến với ta, việc
gì của ta mà chẳng xong. Xin bảo ngay cho kế phá Viên Thiệu.
Du đáp:
- Tôi đã từng khuyên Viên Thiệu
nhân thừa tướng đóng cả quân ở đây nên đem quân khinh kỵ đánh úp lấy Hứa Đô.
Tháo cả sợ, nói:
- Nếu Thiệu dùng mưu ấy, việc ta
hỏng mất.
Hứa Du nói:
- Nay lương thảo của ông còn bao
nhiêu?
Tháo nói:
- Có thể chi dùng một năm.
Du cười:
- Sợ rằng không thể được thế.
Tháo nói:
- Độ sáu tháng thôi!
Hứa Du rũ vạt áo, đứng phắt dậy,
bước ra khỏi trướng nói:
- Tôi đã lấy bụng thực lại đây để
giúp ông mà ông còn nói dối, khá phải là điều mong thế hay sao!
Tháo nắm áo Du kéo lại nói:
- Xin Tử Viễn đừng giận, để tôi
nói thực: Lương thảo quả thực chỉ còn độ ba tháng nữa thì hết.
Du cười nói:
- Thiên hạ thường vẫn đồn Mạnh Đức
là gian hùng, quả đúng thế!
Tháo cũng cười nói:
- Ông còn lạ gì, người ta đã có
câu nói: “Binh bất yếm trá” (Nghĩa là trong phép dùng binh tha hồ nói dối).
Rồi lại ghé vào tai Hứa Du nói thầm:
- Lương ăn chỉ còn đủ tháng này
thôi!
Du nói to:
- Thôi đừng nói dối nữa, lương
ông hết sạch rồi!
Tháo ngạc nhiên hỏi:
- Sao biết?
Hứa Du lấy ngay lá thư bắt được,
đem cho Tháo xem và hỏi:
- Ai viết thư này?
Tháo sợ hỏi:
- Bắt được ở đâu?
Du kể lại việc bắt được người đưa
thư, Tháo cầm tay Du nói:
- Tử Viễn đã có lòng nhờ đến bạn
cũ mà lại đây, có mưu kế gì xin bảo cho biết ngay.
Du nói:
- Minh công đem quân ít chống với
kẻ địch đông mà không tìm cách đánh mau cho được, ấy là con đường bại vong. Du
nay có một kế, chỉ trong ba ngày, chẳng đánh, quân trăm vạn của Viên Thiệu cũng
vỡ, minh công có chịu dùng không?
Tháo nói:
- Xin cho biết mưu hay đó!
Du nói:
- Lương thảo của Viên Thiệu chứa
cả ở Ô Sào, nay sai Thuần Vu Quỳnh coi giữ, Quỳnh chỉ ham uống rượu, không biết
phòng bị gì cả. Ông nên cho đem quân tinh binh đến Ô Sào, nói dối là Tưởng Kỳ
tướng của Viên Thiệu, lĩnh binh đến đó hộ vệ lương thảo, lừa dịp nào thuận tiện
thì đốt hết, quân Viên Thiệu chỉ trong ba ngày tất loạn ngay.
Tào Tháo mừng lắm trọng đãi Hứa
Du, rồi mới lưu lại trong trại.
Hôm sau, Tháo kén năm nghìn quân
mã bộ, chuẩn bị cho đi cướp lương ở Ô Sào, Trương Liêu nói:
- Chỗ Viên Thiệu chứa lương, sao
họ lại không phòng bị, thừa tướng không nên khinh thường, lỡ mắc mưu Hứa Du.
Tháo nói:
- Không phải thế! Hứa Du về với
ta, tức là trời khiến Thiệu thua. Ta thiếu lương, không thể giữ lâu được, nếu
không dùng mưu của Du là ngồi bó tay mà chịu khốn. Nếu Du định lừa ta, sao chịu
ở lại với ta? Vả ta muốn cướp trại đã lâu rồi, nay cái mưu cướp lương nhất định
phải thi hành, các người đừng nghi ngờ gì nữa.
Liêu nói:
- Đành thế, nhưng cũng nên phòng
Viên Thiệu thừa cơ đến đánh úp trại ta.
Tháo nói:
- Ta đã tính kỹ rồi.
Liền sai Tuân Du, Giả Hủ, Tào Hồng
cùng Hứa Du giữ trại lớn; Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên lĩnh quân phục bên tả; Tào
Nhân, Lý Điển, lĩnh quân phục bên hữu để phòng việc bất trắc. Lại sai Trương
Liêu, Hứa Chử đi trước, Từ Hoảng, Vu Cấm đi sau, Tháo tự dẫn các tướng đi giữa,
cả thảy năm nghìn quân mã, cầm cờ hiệu Viên Thiệu, quân sĩ mỗi người mang một
bó cỏ, đội một đội cũi; người thì ngậm tăm, ngựa thì buộc mồm, sâm sẩm tối kéo
sang Ô Sào.
Đêm hôm ấy sao sáng đầy trời.
Thư Thụ, bị Viên Thiệu giam ở
trong quân, đêm thấy sao sáng bảo cai ngục đưa mình ra sân, ngắm xem thiên văn.
Chợt thấy sao Thái Bạch đi ngược, xâm phạm vào phận sao Đẩu, sao Ngưu, Thụ giật
nảy mình mà rằng:
- Vạ sắp đến nơi rồi!
Ngay đêm ấy, Thư Thụ xin vào ra mắtViên
Thiệu.
Bấy giờ Thiệu uống rượu say, nghe
thấy báo Thư Thụ có việc mật vào nói, bèn cho gọi vào hỏi:
Thụ thưa:
- Tôi vừa xem thiên văn thấy sao
Thái Bạch đi ngược đến vùng sao Liễu, sao Quy, khi ánh sáng sang cả vùng sao
Ngưu, sao Đẩu, e có việc quân địch cướp trại. Ô Sào là chỗ chứa lương, cần phải
đề phòng, xin sai mãnh tướng, tinh binh đi tuần tiễu ở những chỗ đường tắt và
chân núi để khỏi mắc mẹo Tào Tháo.
Thiệu giận mắng:
- Mày là thằng có tội, sao được
nói càn làm rối loạn lòng quân!
Thiệu lại mắng người coi:
- Mày giữ nó sao lại dám thả nó
ra?
Bèn sai chém người coi, gọi người
khác ra coi giữ Thư Thụ, Thụ trở ra, gạt nước mắt than:
- Quân ta sớm tối không biết mất
lúc nào, nắm xương ta rồi không biết chôn vào đâu!
Đời sau có thơ than rằng:
Trách vì Viên Thiệu ít cơ mưu
Ô Sào lương cạn, cây long gốc
Còn muốn khư khư giữ Ký Châu.
Tào Tháo đêm hôm ấy đem quân đi,
qua trại quân Viên Thiệu, lính trại ra hỏi quân nào.
Tào Tháo sai người ra nói là quân
Tưởng Kỳ, phụng mệnh ra Ô Sào giữ lương. Quân Viên thấy cờ hiệu nhà mình, chẳng
nghi ngờ gì, đi qua mấy chỗ đều nói dối là quân Tưởng Kỳ, trót lọt tất cả. Khi
đến Ô Sào đã hết canh tư, Tháo sai quân đem cỏ cất chung quanh đồn đốt lửa lên,
rồi các tướng nổi trống reo ầm kéo vào.
Bấy giờ Thuần Vu Quỳnh cùng các
tướng vừa uống rượu say đã vào nằm trong trướng, bỗng nghe thấy xôn xao, vội
vàng trở dậy, hỏi việc gì. Quỳnh chưa nói dứt câu đã bị ngay một lưỡi câu liêm
lôi ngã xuống.
Mục Nguyên Tiến, Triệu Tuấn bấy
giờ vừa tải lương về, trông thấy trên đồn có lửa cháy, vội vàng lại cứu chữa.
Quân Tào vào báo với Tào Tháo có
quân địch ở đằng sau, xin chia binh để dánh, Tháo quát lên:
- Các tướng cứ đằng trước mà
đánh, lúc nào quân địch đến đằng sau, bấy giờ sẽ hay.
Được một hồi, lửa cháy ngùn ngụt,
khói toả khắp trời. Mục, Triệu hai tướng đem quân đến cứu, Tháo quay lại đánh,
hai tướng không địch nổi cùng bị giết cả lương thảo cháy hết sạch. Quỳnh bị bắt,
Tháo sai cắt cả tai mũi và mười ngón tay, trói vào mình ngựa rồi tha cho về trại
Viên Thiệu để làm nhục Viên Thiệu.
Viên Thiệu đang ở trong trướng,
thấy báo mé chính bắc lửa sáng rực trời, biết rằng Ô Sào có biến, vội vàng ra gọi
các quan văn võ vào bàn bạc, sai quân đi cứu. Trương Cáp nói:
- Tôi cùng Cao Lãm xin đi.
Quách Đồ nói:
- Không nên. Quân Tào đi cướp
lương ta. Tháo tất thân hành đi, trại hắn bỏ trống. Nên thả binh vào cướp trại.
Tào Tháo tất phải bỏ Ô Sào về Quan Độ. Ấy là mẹo Tôn Tẫn vây Nguỵ cứu Hán ngày
xưa đó[1].
Trương Cáp nói:
- Tào Tháo lắm mưu, đi ra ngoài tất
có phòng bị ở trong. Nay nếu sang phá trại nó không được, lũ Quỳnh bị thua,
chúng ta cũng sẽ bị bắt nốt.
Quách Đồ nói:
- Tháo chỉ chú ý đi cướp lương,
còn nghĩ gì đến việc để quân giữ trại.
Hai ba lần Quách Đồ xin đi cướp
trại Tào. Thiệu bèn sai Trương Cáp, Cao Lãm lĩnh năm nghìn quân sang Quan Độ
phá trại Tào, rồi lại sai Tưởng Kỳ dẫn một vạn quân đi cứu Ô Sào.
Tào Tháo đánh tan quân Thuần Vu
Quỳnh, cướp hết được cả áo giáp, cờ xí, lại giả làm quân Thuần Vu Quỳnh thua chạy
về trại Viên Thiệu. Đi đến một con đường nhỏ trong khe núi, vừa gặp cánh quân của
Tưởng Kỳ. Quân Kỳ hỏi xong cho là quân mình vừa thua ở Ô Sào chạy về, không
nghi gì, cứ giục ngựa tiến lên. Chợt thấy Trương Liêu, Hứa Chử thét lớn: “Tưởng
Kỳ, đừng chạy!” Kỳ không kịp trở tay, bị Trương Liêu chém chết.
Liêu giết sạch quân Tưởng Kỳ, rồi
lại cho người về báo Viên Thiệu: Tưởng Kỳ đã đánh tan quân Tào ở Ô Sào rồi.
Viên Thiệu được tin ấy, không sai
quân cứu Ô Sào nữa chỉ sai đem thêm quân sang Quan Độ.
Đây nói Trương Cáp, Cao Lãm đánh
trại Tào Tháo. Bên tả Hạ Hầu Đôn, bên hữu Tào Nhân, ở giữa Tào Hồng kéo ùa cả
ra, ba mặt đánh ập lại. Quân Viên Thiệu thua to. Khi quân tiếp ứng đến thì Tào
Tháo ở Ô Sào về, bốn mặt vây kín chặn đánh.
Trương Cáp, Cao Lãm cướp đường chạy
thoát. Viên Thiệu thu nhặt tàn quân ở Ô Sào về trại, thấy Thuần Vu Quỳnh mất cả
tai, mũi, ngón tay. Thiệu hỏi:
- Làm sao để mất Ô Sào?
Quân thưa:
- Quỳnh say rượu nên không chống
được quân địch.
Thiệu lập tức sai đem chém Thuần
Vu Quỳnh. Quách Đồ sợ Trương Cáp, Cao Lãm thua về, đổ lỗi tại mình bèn nói gièm
trước:
- Trương Cáp, Cao Lãm thấy chúa
công thua trận này trong lòng rất mừng.
Thiệu hỏi:
- Sao lại nói thế?
Quách Đồ thưa:
- Hai người vẫn có ý hàng Tào đã
lâu, nay sai đi phá trại, không có sức đánh đến nỗi làm thiệt mất nhiều quân.
Thiệu giận lắm, cho đòi hai người
vào hỏi tội. Quách Đồ lại cho người ra bảo trước với hai người:
- Chúa công định giết các ông đấy.
Lúc sứ giả đến, Cao Lãm hỏi:
- Chúa công gọi chúng tôi có việc
gì?
Sứ giả nói:
- Không biết việc gì.
Lãm rút ngay gươm giết sứ giả,
Cáp cả sợ, Lãm bảo Trương Cáp:
- Viên Thiệu hay nghe lời sàm nịnh,
tất rồi cũng bị Tào Tháo bắt được. Chúng ta há cứ chịu ngồi mà đợi chết? Chi bằng
ta sang hàng Tào Tháo có hơn không?
Cáp nói:
- Tôi có bụng ấy đã lâu.
Hai người bèn đem quân mã bản bộ
sang trại Tào đầu hàng.
Hạ Hầu Đôn nói:
- Cao, Trương đến hàng, chưa biết
thực hư thế nào?
Tháo nói:
- Ta đối đãi với người thực hậu,
dù họ có bụng khác, sau cũng phải thay đổi.
Nói rồi sai mở cửa dinh cho hai
người vào. Trương Cao cởi áo giáp, cầm ngược giáo, lạy phục xuống đất. Tháo
nói:
- Nếu Viên Thiệu chịu nghe lời
hai ông thì đâu đến nỗi thua. Nay hai ông lại đây, khác nào Vi Tử bỏ nhà Ân,
Hàn Tín về với nhà Hán khi xưa.
Tháo phong Trương Cáp làm thiên
tướng quân, Đô đình hầu; Cao Lãm làm thiên tướng quân, Đông lai hầu.
Hai người mừng lắm.
Viên Thiệu đã mất Hứa Du, lại mất
Trương Cáp, Cao Lãm; lương thảo tích ở Ô Sào cũng bị Tào Tháo đốt cướp mất cả,
lòng quân rối loạn.
Hứa Du lại khuyên Tào Tháo tiến
binh đánh mau. Trương Cáp, Cao Lãm xin đi tiên phong.
Tháo sai Trương Cáp, Cao Lãm đem
quân đi cướp trại Thiệu. Đêm hôm ấy, quân Tào ba đường đến phá trại Viên Thiệu.
Hai bên đánh nhau đến sáng, quân Thiệu chết mất quá nửa.
Tuân Du lại hiến kế:
- Nay nên nói phao lên rằng; ta
đang điều quân, một mặt đi lấy Toan Táo, đánh Nghiệp Quận; một mặt đi lấy Lê
Dương để chặn đường về của Viên Thiệu. Viên Thiệu nghe tin, tất nhiên sợ hãi,
chia quân đi chống hai nơi, ta nhân dịp đánh ngay, có thể phá được.
Tháo nghe theo, sai các quân sĩ
phao tin như thế.
Quân Thiệu được tin, về trại báo:
Tào Tháo chia quân hai đường, một đường đánh Nghiệp Quận, một đường đánh Lê
Dương. Viên Thiệu cả sợ, sai ngay Viên Thượng đem năm vạn quân đi cứu Nghiệp Quận,
Tân Minh đem năm vạn quân đi cứu Lê Dương, đương đêm đi ngay.
Tào Tháo biết Viên Thiệu đang động
binh liền chia quân tám mặt vào phá trại Viên Thiệu, quân Viên nản lòng, bốn mặt
tan vỡ.
Viên Thiệu không kịp mặc áo giáp,
chỉ khoác được cái áo đơn, quấn khăn lên ngựa, con út là Viên Thượng đi theo.
Trương Liêu, Hứa Chử, Từ Hoảng,
Vu Cấm, bốn tướng dẫn quân đuổi. Thiệu vội sang sông, bỏ hết cả sổ sách, xa trượng,
vàng bạc. Sang qua sông Thiệu chỉ còn có tám trăm quân kỵ mã đi theo.
Quân Tháo đuổi không kịp, nhưng bắt
được cả những đồ vật bỏ lại. Hơn tám vạn người bị giết, máu chảy đầy sông. Quân
sa xuống sông chết đuối, không biết bao nhiêu mà kể.
Tháo được to, đem vàng bạc vóc
nhiễu bắt được thưởng cho quân sĩ.
Trong tập sổ sách Tháo bắt được một
bó toàn là thư của những ngưòi ở Hứa Đô và tướng sĩ thông với Viên Thiệu.
Tả hữu nói:
- Nên đối chiếu từng tên một, bắt
mà giết đi.
Tháo nói:
- Đang lúc Thiệu mạnh, chính ta
cũng chưa chắc đã giữ nổi thân mình, huống hồ người khác.
Bèn sai đốt hết, không nhắc lại
việc ấy nữa.
Quân Viên Thiệu bấy giờ thua chạy
tán loạn cả, duy có Thư Thụ bị giam, không chạy được, bị quân Tào bắt được đem
nộp Tào Tháo.
Tháo vốn trước có quen Thư Thụ.
Thụ trông thấy Tháo, giơ tay xua
đi và kêu to:
- Thụ không hàng đâu!
Tào Tháo nói:
- Bản Sơ vô mưu, không dùng lời
ngươi, sao ngươi còn chấp nê thế? Nếu ta được ngươi sớm, việc thiên hạ còn gì
đáng lo.
Tháo đãi tử tế, lưu ở trong quân.
Một đêm, Thụ ăn trộm ngựa, định
trốn về với Viên Thiệu. Tháo giận, sai đem chém đi. Thụ đến chết, thần sắc
không đổi. Tháo than rằng:
- Ta trót giết lầm người trung
nghĩa!
Rồi sai làm lễ hậu, chôn ở cửa
sông Hoàng Hà, đề vào mộ sáu chữ: “Trung liệt Thư quân chi mộ”.
Đời sau có thơ than Thư Thụ rằng:
Trung trinh có Thư quân
Mắt trông hiểu trận pháp
Mặt ngẩng biết thiên văn
Đến chết lòng son sắt
Lâm nguy chí tựa vân
Tào công trọng vì nghĩa
Bia cao dựng trước phần.
Tào Tháo giết Thư Thụ rồi, hạ lệnh
sang đánh Ký Châu. Thế rõ thực:
Binh cường nhưng bởi ít mưu thua.
Chưa biết quân Tào phen này sang
Ký Châu thế nào, xem hồi sau mới rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Tôn Tẫn là danh tướng nước Tề (thời Chiến quốc). Nước
Nguỵ đánh nước Triệu, vua nước Tề sai Tôn Tẫn đem quân cứu nước Triệu. Tôn
Tẫn đem quân đánh ngay nước Nguỵ, quân Nguỵ phải quay về, bèn giải vây cho
nước Triệu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét