🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Quan Công lừa mưu giết Xa Trụ
Đổng Thừa vội hỏi Mã Đằng:
- Ông muốn rủ ai?
Đằng nói:
- Hiện bây giờ có Dự Châu mục là
Lưu Huyền Đức ở đây, sao không tìm đến?
Thừa nói:
- Người ấy tuy là chú vua, nhưng
cũng nương dựa vào Tào Tháo, sao chịu làm việc này?
Đằng nói:
- Tôi xem trong cuộc đi săn hôm
trước, khi Tào Tháo đứng trước mặt vua nhận lời chúc mừng của các quan, Vân Trường
đứng sau Huyền Đức, vác dao toan giết Tháo, nhưng Huyền Đức đưa mắt, lại thôi.
Huyền Đức không phải là không muốn giết Tào Tháo vì sợ nanh vuốt của Tào Tháo
nhiều, sức mình không làm nổi đấy thôi. Ông thử đến xem, người ấy tất đồng tâm
với ta.
Ngô Thạc nói:
- Việc ấy không nên hấp tấp, xin
hãy để bàn bạc cho chín đã.
Năm người đều về nhà.
Đêm khuya hôm sau Đổng Thừa mang
tờ chiếu đến nhà Huyền Đức. Lính canh vào báo, Huyền Đức ra đón mời vào trong
gác ngồi chơi, Quan, Trương đứng hầu bên cạnh. Huyền Đức hỏi:
- Canh khuya, quốc cữu đến đây tất
có việc gì gấp?
Huyền Đức lấy rượu khoản đãi. Thừa
nói:
- Bữa nọ trong cuộc đi săn, Vân
Trường muốn giết Tào Tháo, tướng quân lại đưa mắt lắc đầu để ngăn đi, là ý làm
sao?
Huyền Đức thất kinh nói:
- Sao ông biết?
Thừa nói:
- Người ta không ai trông thấy,
chỉ có tôi biết mà thôi.
Huyền Đức không thể giấu được mới
nói thực rằng:
- Em tôi thấy Tháo lấn quyền vua
nên tức giận đó.
Thừa che mặt khóc nói rằng:
- Giả sử tôi con triều đình, ai
cũng được như Vân Trường, thì lo gì thiên hạ chẳng được thái bình?
Huyền Đức sợ là Tào Tháo sai đến
dò la, bèn nói giả cách rằng:
- Tào thừa tướng sửa sang việc nước
lo gì không thái bình?
Thừa tái mặt đứng dậy nói rằng:
- Ông là hoàng thúc nhà Hán, cho
nên ta vạch gan moi ruột để nói chuyện với ông, sao ông còn nói dối?
Huyền Đức nói:
- Tôi sợ quốc cữu không thực bụng,
nên phải thử.
Đổng Thừa đưa ngay tờ chiếu ra
cho Huyền Đức xem, Huyền Đức lấy làm xót xa căm tức. Thừa lại dưa ra xem tờ
nghĩa trạng, có sáu người ký tên là: Đổng Thừa, Vương Tử Phục, Chủng Tập, Ngô
Thạc, Ngô Tử Lan và Mã Đằng.
Huyền Đức nói:
- Quốc cữu đã phụng chiếu đánh giặc,
tôi dám đâu không cố sức khuyển mã.
Thừa lại tạ mời ký tên, Huyền Đức
ký “Tả tướng quân, Lưu Bị”, rồi đưa lại Thừa nhận lấy.
Thừa nói:
- Nên mời thêm ba người nữa, họp
đủ mười người trung nghĩa để trừ quốc tặc.
Huyền Đức nói:
- Nên thong thả, chớ hấp tấp
khinh thường để tiết lộ việc lớn.
Hai người cùng nhau luận bàn đến
canh năm mới chia tay.
Huyền Đức bấy giờ sợ Tháo nghi
mình mưu đồ gì, bèn làm một vườn rau ở sau nhà ngày ngày vun xới tưới tắm, để
làm cách che mắt Tháo khỏi ngờ.
Quan, Trương thấy vậy hỏi rằng:
- Anh không lưu tâm đến việc lớn
thiên hạ, học làm chi cái việc của kẻ tiểu nhân này?
Huyền Đức nói:
- Hai em biết đâu ý anh!
Hai người từ đó không dám nói gì
nữa.
Một hôm Quan Vũ, Trương Phi cùng
đi chơi vắng, Huyền Đức đang lom khom tưới rau, bỗng thấy Hứa Chử và Trương
Liêu dẫn vài chục người vào vườn, nói rằng:
- Thừa tướng sai chúng tôi mời sứ
quân đến ngay phủ.
Huyền Đức giật mình, hỏi:
- Việc gì khẩn cấp thế, hai ông?
Hứa Chử thưa:
- Hai chúng tôi thấy sai thì vâng
lệnh đi mời, chứ không biết việc chi.
Huyền Đức theo hai người vào phủ
yết kiến Tháo, Tháo cười nói rằng:
- Huyền Đức độ này ở nhà làm một
việc lớn lao đấy nhỉ?
Huyền Đức sợ tái mặt. Tháo cầm
tay Huyền Đức dắt vào vườn ở sau nhà, nói rằng:
- Huyền Đức học làm việc vườn, chắc
cũng không phải là việc dễ dàng?
Huyền Đức bây giờ mới vững dạ,
đáp rằng:
- Không có việc gì, làm để tiêu
khiển đó thôi.
Tháo nói:
- Vừa rồi thấy trên cành mai đã
có quả xanh, sực nhớ khi trước đi đánh Trương Tú, đi đường không có nước, tướng
sĩ khát cào cuống họng. Bấy giờ ta nghĩ được một kế, cầm roi trỏ hão nói rằng:
trước mặt có rừng mơ. Quân sĩ nghe nói đến mơ, ai cũng ứa nước dãi, đỡ được
khát nước. Nay có mơ thật, nên hái xuống mà thưởng. Vả lại rượu nấu vừa chín,
cho nên mời sứ quân đến tiểu đình uống rượu.
Huyền Đức bây giờ trấn tĩnh lại
được, theo đến tiểu đình, đã thấy bày mâm bát, giữa bàn bày một đĩa mơ xanh, một
bình rượu nóng.
Hai người ngồi đối diện, ăn uống
vui vẻ. Lúc rượu ngà ngà say, chợt thấy mây đen mù mịt, cơn mưa sắp kéo đến.
Quân hầu trỏ lên trời bẩm:
- Có vòi rồng lấy nước.
Tháo và Huyền Đức dựa vào bao lơn
ngắm xem. Tháo nói:
- Sứ quân có biết rồng nó biến
hoá thế nào không?
Huyền Đức nói:
- Tôi chưa được tường.
Tháo nói:
- Rồng lúc thì to, lúc thì nhỏ,
lúc thì bay, lúc thì nấp. Lúc to thì nổi mây phun mù; lúc nhỏ thì thu mình ẩn
bóng; khi bay ra thì liệng trong trời đất; khi ẩn thì lẩn núp ở dưới sóng. Nay
đang mùa xuân, rồng gặp thời biến hoá, cũng như là người ta lúc đắc chí, tung
hoành trong bốn bể. Rồng ví như anh hùng trong đời. Huyền Đức lâu nay đã đi khắp
bốn phương, bao nhiêu anh hùng đời nay, hẳn đã biết cả, xin thử nói cho nghe.
Huyền Đức thưa:
- Bị này người trần mắt thịt, biết
đâu được anh hùng.
Tháo nói:
- Huyền Đức không nên nhún mình
quá!
Huyền Đức nói:
- Bị nay được nhờ ơn thừa tướng
làm quan trong triều, anh hùng trong thiên hạ thực không được biết.
Tháo nói:
- Đã đành không biết mặt, nhưng
cũng có nghe tiếng chứ?
Huyền Đức nói:
- Viên Thuật ở Hoài Nam, binh
lương nhiều, có thể cho là anh hùng được chăng?
Tháo cười nói:
- Xương khô trong mả, chỉ nay mai
là ta bắt được!
Huyền Đức lại nói:
- Anh Viên Thuật là Viên Thiệu ở
Hà Bắc, bốn đời làm tam công, có nhiều đầy tớ cũ; hiện nay là con hổ dữ hùng cứ
ở Ký Châu; bộ hạ nhiều tay tài giỏi, có thể cho là anh hùng được chăng?
Tháo lại cười nói:
- Viên Thiệu ngoài mặt mạnh bạo,
trong bụng nhút nhát, thích mưu mẹo mà không quyết đoán, làm việc lớn lại lo đến
bản thân, thấy lợi nhỏ thì lại quên mình, không thể gọi là anh hùng được!
Huyền Đức lại nói:
- Có một người nổi tiếng trong
tám tuấn kiệt, uy danh khiếp cả chín châu, là Lưu Cảnh Thăng, có thể cho là anh
hùng được chăng?
Tháo lại cười:
- Lưu Biểu có hư danh nhưng không
có thực tài, không phải anh hùng.
Huyền Đức lại nói:
- Có một người, sức lực đương khoẻ,
đứng đầu xứ Giang Đông, là Tôn Bá Phù, hẳn là anh hùng?
Tháo nói:
- Tôn Sách nhờ danh tiếng của bố,
không phải anh hùng.
Huyền Đức lại nói:
- Lưu Quý Ngọc ở Ích Châu có phải
là anh hùng không?
Tháo nói:
- Lưu Chương, tuy là tôn thất,
nhưng chỉ là con chó giữ nhà, sao gọi là anh hùng được?
Huyền Đức lại nói:
- Như bọn Trương Tú, Trương Lỗ và
Hàn Toại thì thế nào?
Tháo vỗ tay cười to:
- Lũ tiểu nhân nhung nhúc ấy thì
nói làm gì!
Huyền Đức nói:
- Ngoài những người ấy ra, Bị thực
không còn biết ai nữa.
Tháo nói:
- Anh hùng là người trong bụng có
chí lớn, có mưu cao, có cái bao trùm được cả vũ trụ, có chí nuốt cả trời đất
kia.
Huyền Đức mới nói:
- Ai có thể xứng đáng được như thế?
Tào Tháo lấy tay trỏ vào Huyền Đức,
rồi lại trỏ vào mình nói rằng:
- Anh hùng thiên hạ bây giờ chỉ
có sứ quân và Tào Tháo mà thôi.
Huyền Đức nghe nói, giật nảy
mình, cái thìa đôi đũa đương cầm ở trong tay, rơi cả xuống đất. Giữa lúc bấy giờ,
con mưa u ám, có một tiếng sét thực dữ. Lưu Bị từ từ cúi xuống nhặt đũa và
thìa, nói tảng rằng:
- Gớm ghê! Tiếng sét dữ quá!
Tào Tháo cười hỏi rằng:
- Trượng phu cũng sợ sấm à!
Huyền Đức nói:
- Đức thánh ngày xưa gặp lúc sấm
dữ gió to cũng đổi sắc mặt, huống chi là tôi đây sao lại không sợ?
Huyền Đức đã che đậy được hết cả
việc giật mình đánh rơi cả thìa đũa khi nghe Tháo gọi mình là anh hùng.
Tháo thấy thế không ngờ gì Huyền
Đức nữa.
Đời sau có thơ rằng:
Nói rõ anh hùng sợ thất kinh
Mượn tiếng sấm vang ra vẻ sợ
Tuỳ cơ ứng biến thật tài tình!
Giời vừa mưa xong, có hai người
tay cầm bảo kiếm, xông vào tận vườn sau, đến thẳng tận trước đình, lính canh
ngăn lại không được. Tháo trông ra thì là Quan Vũ và Trương Phi.
Nguyên là hai người ra ngoài
thành săn bắn vừa về, nghe thấy Huyền Đức bị Trương Liêu, Hứa Chử mời đi, vội
vàng chạy ngay đến tướng phủ dò xem việc gì. Thấy nói ở sau vườn sợ có xảy ra
điều gì, nên hai người xông thẳng vào. Vào đến nơi thấy Huyền Đức đang ngồi uống
rượu với Tào Tháo, hai người bèn cầm gươm đứng hầu.
Tháo hỏi:
- Hai người đi đâu?
Vân Trường thưa:
- Chúng tôi nghe thừa tướng cùng
anh tôi uống rượu, nên chúng tôi lại đây múa gươm để mua vui!
Tháo cười, nói rằng:
- Đây có phải là “hội Hồng Môn”
đâu mà phải dùng đến Hạng Trang, Hạng Bá.
Huyền Đức cũng cười.
Tháo sai lấy rượu “để hai Phàn
Khoái uống cho tan cơn sợ”.
Quan, Trương lạy tạ. Một lát tiệc
tan, Huyền Đức cáo từ ra về.
Vân Trường nói:
- Anh làm chúng tôi sợ chết đi được!
Huyền Đức thuật lại chuyện đánh
rơi đũa. Quan, Trương hỏi:
- Thế là ý làm sao?
Huyền Đức nói:
- Độ này ta chịu khó làm vườn cuốc
đất, cốt là để cho Tào Tháo không nghi ta có chí lớn. Ai ngờ nó lại trỏ ngay
vào ta mà bảo ta là anh hùng đời nay. Ta nghe nói rụng rời, đánh rơi cả đũa, lại
sợ Tào Tháo ngờ, cho nên mượn cớ là sợ sét để che giấu đi.
Quan, Trương khen rằng:
- Anh thực là cao kiến!
Hôm sau Tào Tháo lại mời Lưu Bị đến
uống rượu. Trong khi đương tiệc có người vào báo rằng:
- Mãn Sủng đi dò tin tức của Viên
Thuật đã về.
Tháo gọi vào hỏi, Sủng trình rằng:
- Công Tôn Toản đã bị Viên Thuật
phá vỡ.
Huyền Đức vội vàng hỏi rằng:
- Xin cho biết đầu đuôi làm sao?
Sủng nói:
- Tôn Toản đánh nhau với Thiệu
không được, mới đắp thành chung quanh một vùng, trong dựng một cái lầu cao mười
trượng, gọi là “dịch kinh”, chứa ba mươi vạn hộc lúa để ăn giữ thành. Đôi khi,
quan trong thành ra vào bị quân Thiệu rình bắt, quân trong xin ra cứu, Toản
không cho ra, bảo rằng: “Nếu cứu một lần, lần sau có ai đánh nhau chỉ mong người
đến cứu thì không cố chết mà đánh nữa”. Bởi thế lúc quân Thiệu đánh vào, quân
Toản nhiều người ra hàng. Lúc Toản thế cô lắm có sai người đem thư đến Hứa Đô cầu
cứu, không ngờ đi nửa đường lại bị quân Thiệu bắt được. Toản lại đưa thư cho
Trương Yên, hẹn nhau đốt lửa làm hiệu, trong đánh ra ngoài đánh vào. Người đưa
thư lại bị Viên Thiệu bắt nốt. Thiệu được thư ấy cứ như lời Toản hẹn với Yên, đốt
lửa làm hiệu, Toản ở trong ngờ là hiệu lửa của Trương Yên, mới tự ra đánh,
không ngờ ra đến ngoài, bốn mặt quân phục nổi dậy. Quân mã của Toản mất quá nửa,
còn non một nửa lui về để giữ thành, lại bị Viên Thiệu đào ngầm dưới đất, đem
quân vào tận dưới lầu Toản ở, phóng hoả đốt lầu, Toản không có đường chạy, trước
giết vợ con, rồi tự thắt cổ chết, cả nhà cùng bị lửa cháy. Nay Viên Thiệu được
cả quân của Toản, thanh thế to lắm. Em Thiệu là Viên Thuật ở Hoài Nam, kiêu ngạo,
xa xỉ quá độ, không thương gì đến quân dân, cho nên họ đều nổi loạn, Thuật nhường
đế hiệu cho Viên Thiệu. Thiệu muốn lấy ngọc tỷ. Thuật hẹn xin tự đem đến. Hiện
giờ Thuật muốn bỏ Hoài Nam về Hà Bắc. Nếu để hai người hợp sức với nhau, thì rất
khó đánh được, xin thừa tướng liệu trừ trước đi.
Huyền Đức nghe tin Công Tôn Toản
đã chết, nghĩ đến ơn tiến mình ngày xưa, rất là thương xót, lại không biết Triệu
Tử Long ở đâu, không đành dạ chút nào, nhân nghĩ vụng rằng: “Ta không nhân dịp
này tìm kế thoát thân, còn đợi đến bao giờ?” liền đứng lên thưa với Tào Tháo rằng:
- Nếu Thuật sang với Thiệu, tất
phải đi qua Từ Châu, tôi xin lĩnh một cánh quân đón đường đánh, chắc bắt được.
Tháo cười nói:
- Để ngày mai tâu vua, rồi sẽ khởi
binh.
Hôm sau Huyền Đức vào tâu vua.
Tào Tháo lại sai Huyền Đức đốc suất năm vạn quân mã, lại sai Chu Linh, Lộ Chiêu
cùng đi. Lúc Huyền Đức vào từ biệt vua, vua khóc tiễn đi.
Huyền Đức về nhà trọ, suốt đêm
thu xếp khí giới và ngựa chiến, đeo ấn tướng quân, đốc thúc để cho chóng. Đổng
Thừa ra ngoài mười dặm tràng đình để tiễn. Huyền Đức nói:
- Xin quốc cữu hãy yên tâm. Chuyến
này tôi đi tất có thể đáp lại ý muốn của ngài.
Thừa nói:
- Ông nên lưu tâm, chớ phụ lòng
vua.
Hai người từ giã nhau.
Quan, Trương hai người ngồi trên
ngựa bấy giờ mới hỏi anh rằng:
- Sao phen này anh đi vội vàng vậy?
Lưu Bị nói:
- Ta ở Hứa Đô như chim lồng cá chậu,
chuyến này được đi như cá vào bể lớn, chim lên mây xanh, không bị giam hãm
trong lồng trong chậu nữa.
Nói xong, hai người thúc quân mã
Chu Linh, Lộ Chiêu đi mau.
Bấy giờ ở Hứa Đô, Quách Gia và
Trình Dục đi kiểm tra tiền lương vừa về, nghe thấy Tào Tháo sai Lưu Bị đem quân
sang Từ Châu, vội vàng vào bẩm rằng:
- Sao thừa tướng lại sai Lưu Bị
đi đốc binh?
Tháo nói:
- Cho ra để chẹn đường Viên Thuật.
Dục nói:
- Lúc Lưu Bị còn giữ chức mục ở Dự
Châu, chúng tôi xin thừa tướng giết đi, thừa tướng không nghe, nay lại cho đi cầm
quân, thế là thả rồng xuống bể, đuổi hổ về rừng, sau này muốn trừ đi còn làm
sao được nữa?
Quách Gia nói:
- Nếu thừa tướng không giết Lưu Bị
cũng chớ nên sai đi ra ngoài. Cổ nhân có nói rằng: “Một ngày thả giặc, để lo
muôn đời”. Xin thừa tướng xét lại.
Tháo nghe ra, liền sai Hứa Chử
đem năm trăm quân đuổi theo gọi Lưu Bị về.
Hứa Chử vâng lệnh đi liền.
Huyền Đức đang đi, ở mặt sau bỗng
thấy bụi mù, liền bảo với Quan, Trương rằng:
- Đây chắc quân Tào Tháo đuổi
theo.
Nói rồi lập trại, đóng quân lại,
sai Quan, Trương cầm binh khí đứng hai bên. Hứa Chử đến, thấy binh uy nghiêm chỉnh
tề, bèn xuống ngựa vào trại, ra mắt Huyền Đức. Huyền Đức hỏi:
- Ông đến có việc gì?
Chử nói:
- Phụng mệnh thừa tướng, mời tướng
quân trở lại bàn bạc việc khác.
Huyền Đức nói:
- Tướng đã ở ngoài, mệnh lệnh của
vua cũng có điều không phải vâng theo, huống chi tôi đã chầu vua, lại được vâng
lời thừa tướng mà đi. Nay không còn việc gì phải bàn nữa, xin ông trở về ngay bẩm
lại với thừa tướng cho tôi.
Hứa Chử nghĩ rằng:
- Thừa tướng vốn đối đãi tử tế với
Huyền Đức, nay không thấy dặn phải đánh nhau, vậy hãy đem lời Lưu Bị về bẩm lại,
tuỳ ý ngài định đoạt.
Chử liền từ giã Huyền Đức về, vào
hầu Tào Tháo thuật lại lời của Huyền Đức. Tháo ngần ngại chưa quyết, Trình Dục,
Quách Gia nói rằng:
- Lưu Bị không chịu đem quân trở
lại, tất là thay lòng đổi dạ rồi.
Tháo nói:
- Ta đã sai Chu Linh, Lộ Chiêu đi
kèm Lưu Bị, vị tất hắn đã dám sinh biến. Vả ta đã sai, không nên hối lại.
Bèn không đuổi theo Huyền Đức nữa.
Người sau có thơ rằng:
Nỗi lo canh cánh chiếu trong đai
Hổ tung cũi sắt về rừng rậm
Rồng phá then vàng, ra bể khơi…
Mã Đằng bấy giờ ở Hứa Đô, thấy
Huyền Đức đã đi, ở châu mình lại có quân đến báo nhiều việc kíp, cho nên cũng về
Lương Châu.
Huyền Đức đem quân tới Từ Châu,
thứ sử là Xa Trụ ra đón, yến tiệc xong, lũ Tôn Càn, My Chúc đều lại yết kiến.
Huyền Đức về nhà thăm vợ con, một mặt sai người dò xem tin tức Viên Thuật.
Thám tử về báo:
- Viên Thuật xa xỉ quá độ. Tướng
Thuật là Lôi Bạc, Trần Lan cũng bỏ Thuật về núi Tung Sơn, thế Thuật đã suy, Thuật
phải đưa thư nhường đế hiệu cho Viên Thiệu và đương thu binh nhặt mã và các đồ
cung cấm ngự dụng, sắp qua Từ Châu.
Lưu Bị nghe Viên Thuật sắp đến, dẫn
Quan, Trương và Chu Linh, Lộ Chiêu đem năm vạn quân ra đón đánh, thì gặp tiên
phong của Thuật là Kỷ Linh đến.
Trương Phi ra đánh nhau với Kỷ
Linh mới được mươi hợp, liền thét lớn một tiếng, đâm chết Kỷ Linh ngã xuống
chân ngựa. Quân lính thua chạy trốn cả. Thuật tự dẫn binh đến đánh, Huyền Đức
chia quân làm ba đường. Chu Linh, Lộ Chiêu ở tả; Quan, Trương ở hữu, tự mình đứng
trung quân, ra ngoài cửa cờ mắng Thuật rằng:
- Thằng phản nghịch vô đạo kia!
Ta nay phụng chiếu ra đánh, mày nên tự trói tay mà hàng, ta sẽ tha cho khỏi chết.
Viên Thuật mắng lại rằng:
- Thằng dệt chiếu đóng dép kia!
Sao mày dám khinh ta?
Nói xong đốc binh vào đánh. Huyền
Đức tạm lui, cho quân tả hữu hai bên ra đánh, quân Thuật thây nằm khắp đồng,
máu chảy thành vũng, sĩ tốt trốn đi không biết bao nhiêu, lại bị Lôi Bạc, Trần
Lan ở Tung Sơn ra cướp mất tiền nong lương thảo. Thuật muốn về Thọ Xuân, lại bị
trộm cướp đến đánh tập hậu, phải đóng lại ở Giang Đình. Bấy giờ Thuật chỉ còn
hơn một nghìn quân, toàn những người già yếu. Trời đang nóng nực, lương thực hết,
chỉ còn ba mươi hộc lúa, phát cho quân sĩ, người nhà phải nhịn, chết đói nhiều.
Thuật ăn cơm gạo xấu, không nuốt được, sai nhà bếp lấy mật ăn cho khỏi khát.
Nhà bếp nói:
- Mật không có, chỉ có nước máu!
Thuật đương ngồi trên giường, kêu
to một tiếng, đâm nhào xuống đất, thổ ra đến một chậu máu, rồi chết.
Bấy giờ là tháng sáu, năm thứ bốn,
niên hiệu Kiến An (199).
Người sau có thơ rằng:
Khéo đâu Viên Thuật cũng ngông cuồng!
Mấy đời không nghĩ nền công tướng
Chút phận hòng toan vị đế vương
Tỷ ngọc vào tay thêm ngạo ngược
Điềm trời trước mắt, uổng khoe khoang
Khát tìm mật uống tìm đâu thấy?
Thổ huyết nằm queo chẳng kẻ thương!
Viên Thuật chết rồi, cháu là Viên
Dận đem hài cốt cùng vợ con Thuật chạy về Lư Giang, bị tên Từ Cầu giết sạch, cướp
lấy ngọc tỷ đem đến Hứa Đô dâng lên Tào Tháo. Tháo mừng lắm phong cho Từ Cầu
làm thái thú ở Cao Lăng. Từ bấy giờ ngọc tỷ lại vào tay Tào Tháo.
Huyền Đức thấy Viên Thuật đã chết,
dâng biểu cho triều đình, và đưa thư trình Tào Tháo biết, sai Chu Linh, Lộ
Chiêu về Hứa Đô, còn bao nhiêu binh mà đều lưu lại để giữ Từ Châu, một mặt
chiêu dụ những nhân dân lưu tán trở về an cư lạc nghiệp.
Chu Linh, Lộ Chiêu về Hứa Đô vào
hầu Tào Tháo thuật lại việc Huyền Đức giữ binh mã. Tháo giận lắm muốn chém ngay
hai người. Tuân Úc can rằng:
- Quyền ở Lưu Bị, hai người làm
thế nào được.
Tháo mới tha tội cho hai người.
Úc lại bàn rằng:
- Thừa tướng nên viết thư cho Xa
Trụ, sai ở đó tìm cách trừ Lưu Bị.
Tháo nghe kế ấy, mật sai người đến
bảo Xa Trụ. Trụ mời Trần Đăng đến bàn.
Đăng nói:
- Việc ấy thực dễ, nay Lưu Bị ra
ngoài thành chiêu dụ nhân dân, không mấy ngày nữa sẽ về. Tướng quân nên phục
quân dưới cửa cuốn ở ngoài thành, giả cách ra đón, đợi khi Lưu Bị cưỡi ngựa đến,
chém cho một nhát, tôi thì ở trên thành bắn xuống để chặn hậu quân của Lưu Bị,
thế là xong việc.
Trụ nghe theo kế ấy.
Trần Đăng về nói lại với bố là Trần
Khê. Trần Khê sai Đăng ra báo trước cho Huyền Đức biết. Đăng vừa ra khỏi thành
gặp Quan Vũ, Trương Phi bèn nói chuyện cho hai người hay.
Nguyên là Quan, Trương về trước,
Huyền Đức về sau. Trương Phi nghe nói, muốn chạy vào đánh ngay. Vân Trường ngăn
lại nói rằng:
- Nó phục binh dưới cửa cuốn bên
thành, nếu vào thì mắc mẹo nó. Ta có một kế giết được Xa Trụ; nhân ban đêm, ta
giả làm quân Tào đến Từ Châu, Xa Trụ tất ra đón, ra đến nơi thì ta giết đi.
Phi chịu rằng phải.
Quân bộ hạ của Quan, Trương sẵn
có cờ hiệu của Tào, y giáp cũng giống nhau, đang nửa đêm, đến ngay cửa thành gọi
mở. Trên thành hỏi ai. Chúng thưa:
- Quân mã Trương Văn Viễn. Tào thừa
tướng sai đến.
Quân giữ thành vào báo với Trụ.
Trụ mời Trần Đăng lại bàn rằng:
- Không ra đón thì sợ có chuyện
nghi kị, ra đón lại sợ có chuyện lừa dối.
Trụ lên thành nói rằng:
- Đêm khuya khó phân biệt được thực
hư, xin để sáng mai hãy mở cửa.
Ở dưới thành đáp rằng:
- Chỉ sợ Lưu Bị biết. Xin mở cửa
mau.
Xa Trụ ngần ngừ chưa quyết, dưới
thành thì cứ giục mở cửa mãi. Trụ đành phải mặc áo giáp lên ngựa, dẫn một nghìn
quân mã ra ngoài thành. Đi khỏi cầu, Trụ gọi to rằng:
- Văn Viễn ở đâu?
Trong bóng lửa thấy ngay Vân Trường
cầm đao tế ngựa lại, xông thẳng vào Xa Trụ thét rằng:
- Thằng kia! Sao dám lừa dối muốn
hại anh tao?
Trụ giật mình, đánh chưa được vài
hiệp, chống đỡ không nổi, quay ngựa chạy về. Chạy đến đầu cầu, Trần Đăng ở trên
thành bắn tên xuống như mưa. Vân Trường sấn lại, phất long đao một nhát chém Trụ
ngã lăn xuống đất rồi chặt lấy đầu, quay mặt vào thành giơ đầu Trụ lên hô rằng:
- Phản tặc là Xa Trụ ta đã giết rồi.
Quân sĩ không có tội, hàng thì tha cả.
Quân sĩ đều cầm ngược khí giới,
xin hàng. Từ ấy quân dân đều được yên ổn cả.
Vân Trường mang đầu Xa Trụ lại
đón Huyền Đức nói rằng:
- Xa Trụ muốn mưu hại anh, nay đã
giết được rồi.
Huyền Đức thất kinh nói rằng:
- Tháo nó lại, thì làm thế nào?
Vân Trường nói:
- Hễ nó lại, thì hai em xin đánh
chứ sao!
Huyền Đức ân hận mãi, rồi vào Từ
Châu. Các cụ già và trăm họ đón rước đầy đường. Lưu Bị đến phủ, tìm Trương Phi,
thì Trương Phi đã bắt cả nhà Xa Trụ đem giết rồi. Huyền Đức giận nói:
- Giết mất người tâm phúc của
Tháo, sao nó chịu thôi?
Trần Đăng nói:
- Tôi có một kế, có thể lui được
Tào Tháo.
Thế thực là:
Diệu kế còn toan rập khói lang [1]
Chưa biết Trần Đăng bàn kế gì,
xem đến hồi sau sẽ rõ.
------------------------------------------------------------------
Viên, Tào đều cất ba quân mã bộ
Quan, Trương cùng bắt hai tướng Vương, Lưu
Trần Đăng hiến kế cho Lưu Bị rằng:
- Tào Tháo chỉ sợ Viên Thiệu. Thiệu
nay như hổ ngồi giữ ở các quận Ký, Thanh, U và Tinh. Quân mặc áo giáp có vài
trăm vạn; văn quan võ tướng rất nhiều, sao không viết thư sang đó mà cầu cứu?
Huyền Đức nói:
- Thiệu và tôi chưa có đi lại với
nhau bao giờ, vả lại vừa đánh em hắn, sao hắn chịu giúp.
Đăng nói:
- Ở đây có một người, ba đời
thông gia với họ Viên, nếu được người ấy đưa thư sang cho Thiệu, tất Thiệu đem
quân lại cứu.
Huyền Đức hỏi ai, Đăng nói:
- Người ấy là người ông xưa nay vốn
kính lễ, sao nay lại quên?
Huyền Đức chợt nghĩ ra, hỏi:
- Có phải Trịnh Khang Thành tiên
sinh không?
Đăng cười, nói:
- Chính phải!
Nguyên Trịnh Khang Thành tên là
Huyền, chăm học, nhiều tài, khi trước là học trò Mã Dung. Mỗi khi Dung dạy học,
bao giờ cũng treo một bức màn đỏ, ngoài thì học trò ngồi, trong thì đông những
nhà trò, con gái đứng hầu. Trịnh Huyền đến học trong ba năm, mắt không trông
ngang. Dung lấy làm lạ. Đến khi Trịnh Huyền học xong, trở về nhà. Dung than rằng:
- Học được bí truyền của ta, chỉ
có một Trịnh Huyền.
Trong nhà Trịnh Huyền, thị tì đều
thuộc Mao Thi[1].
Có một thị tì làm trái ý Huyền,
Huyền bắt quỳ mãi dưới thềm, một thị tì khác hỏi đùa:
- “Hồ vi hồ nê trung?”[2]
Người kia lập tức đáp ngay:
- “Bạc ngôn vãng tố,
phùng bỉ chi nộ”.[3]
Như thế thực là phong nhã.
Đời vua Hoàn đế, Trịnh Huyền làm
quan thượng thư. Đến sau gặp loạn mười tên hoạn quan, Huyền bỏ quan về ở Từ
Châu làm ruộng. Huyền Đức khi ở Trác Quận đã thờ làm thầy, đến khi làm mục ở Từ
Châu, thường thường vẫn đến hầu rất mực tôn kính.
Bấy giờ Huyền Đức nghĩ ra người ấy,
lấy làm may mắn, liền cùng Trần Đăng đi đến nhà Trịnh Huyền, xin Huyền viết thư
cho Viên Thiệu. Huyền nhận lời viết ngay một bức thư, giao cho Huyền Đức. Huyền
Đức sai Tôn Càn đi suốt ngày đêm đưa thư đến Viên Thiệu.
Thiệu xem xong nghĩ rằng:
- Huyền Đức vừa đánh em ta, đáng
nhẽ không giúp, nhưng vì có lời của Trịnh thượng thư, đành phải đi cứu.
Thiệu liền họp các văn võ bàn việc
cất quân.
Mưu sĩ là Điền Phong can rằng:
- Mấy năm khởi binh luôn, nhân
dân mỏi mệt, kho tàng trống rỗng, không nên lại khởi đại quân. Trước hết hãy
sai người dâng biểu tâu công thắng trận lên thiên tử, nếu biểu không dâng lên
được, bấy giờ sẽ kể tội cho Tào Tháo, rồi đem binh đóng ở Lê Dương, làm thêm
thuyền bè ở Hà Nội, sửa sang khí giới, phân phát tinh binh, đóng đồn ngoài biên
ải. Như thế trong ba năm, việc lớn có thể xong được.
Mưu sĩ khác là Thẩm Phối lại nói
rằng:
- Điền Phong nói thế không phải.
Lấy oai thần võ của minh công, sẵn có nền giàu mạnh ở đất Hà Sóc, đem binh đánh
Tào Tháo, dễ như trở bàn tay, hà tất phải kéo dài ngày tháng.
Mưu sĩ thứ ba là Thư Thụ nói:
- Cái mưu đánh được, không cứ gì ở
sự cường thịnh, Tào Tháo đã có quyền trong tay, thi hành được pháp lệnh, quân
lính lại tập luyện giỏi, không như bọn Công Tôn Toản ngồi bó tay một chỗ. Nay
không dùng mưu của Điền Phong, dấy một đội quân vô danh[4] tôi
trộm nghĩ là không phải.
Lại có một mưu sĩ nữa là Quách Đồ
nói:
- Thế cũng không phải, đem binh
đánh Tào Tháo sao gọi là vô danh? Ông nên kịp thời mưu tính sớm định nghiệp lớn.
Xin ông nghe nhời Trịnh thượng thư, cùng Lưu Bị đem nghĩa lớn đánh giặc Tào,
trên hợp ý trời, dưới hợp lòng dân, thực là may mắn.
Bốn người tranh luận mãi. Viện
Thiệu trù trừ chưa quyết. Chợt có Hứa Du, Tuân Thầm ở ngoài vào.
Thiệu nói:
- Hai người kiến thức rộng, thử
xem chủ trương thế nào?
Hai người thi lễ xong. Thiệu hỏi:
- Trịnh thượng thư gửi thư đến, bảo
ta khởi binh giúp Lưu Bị đánh Tào Tháo. Nên khởi binh hay không khởi binh?
Hai người đồng thanh nói:
- Minh công lấy nhiều đánh ít, lấy
khoẻ đánh yếu, giết giặc Tào để giúp nhà Hán, khởi binh là phải lắm.
Thiệu nói:
- Hai người nói chính hợp ý ta!
Lập tức truyền lệnh cất quân; cho
Tôn Càn về trước báo với Trịnh Huyền, và hẹn Huyền Đức chuẩn bị sẵn sàng để tiếp
ứng; một mặt sai Thẩm Phối, Phùng Kỷ làm thống quân, Điền Phong, Tuân Thầm, Hứa
Du làm mưu sĩ. Nhan Lương, Văn Sú làm tướng quân, khởi quân mã mười lăm vạn,
quân bộ mười lăm vạn, cả thảy ba mươi vạn tinh binh, tiến về Lê Dương.
Xếp đặt đâu đấy rồi, mưu sĩ là
Quách Đồ tiến lên nói:
- Minh công lấy nghĩa lớn đánh
Tào Tháo, phải nên làm một bài văn hịch, nêu hết sự tàn ác của Tào Tháo, truyền
tờ hịch đi các quận, kể rõ lẽ tại sao mình đem quân đến đánh, thế mới là danh
chính ngôn thuận.
Thiệu bèn sai thư ký là Trần Lâm
làm bài hịch. Lâm tự là Khổng Chương, vốn có danh tiếng. Đời vua Hoàn đế làm chủ
bạ, nhân can Hà Tiến không nghe, lại gặp loạn Đổng Trác, Trần Lâm lánh nạn ở Ký
Châu, Thiệu dùng làm thư ký. Bấy giờ vâng lệnh thảo hịch, cầm bút viết xong
ngay. Bài hịch như sau:
“Thường nghe rằng: minh quân
chúa nhân nguy để bày kế; trung thần lo nạn để lập công. Bởi thế, phải có người
phi thường, mới lập được việc phi thường; có việc phi thường, mới có công phi
thường. Cái công phi thường ấy, vốn không phải người thường có thể làm nổi.
“Trước kia nhà Tần vua yếu,
Triệu Cao lộng quyền, hống hách trong triều, một tay tác oai tác phúc. Người bấy
giờ bị ức hiếp, không ai dám nói cầu gì, đến nỗi có biến ở cung Vọng Di[5] tổ
tông nhà nó bị tiêu diệt, để tiếng nhơ nhuốc đến ngày nay, làm gương cho đời.
“Cuối đời Lã hậu, Sản, Lộc,
chuyên chính, trong giữ hai đạo quân, ngoài thống lĩnh nước Lương, nước Triệu;
chuyên quyền ỷ thế, xử việc ở trong cấm sảnh, kẻ dưới lăng loàn, người trên suy
yếu, bốn bể ai cũng lo sợ. Bởi thế Giáng hầu và Chu Hữu hầu tức giận nổi dậy giết
sạch kẻ bạo nghịch, lập vua Thái tông[6] nhờ thế đạo vương hưng
thịnh, sáng sủa và rõ rệt, ấy tức là cái nêu cao lập công của kẻ đại thần.
“Tư không là Tào Tháo ngày
nay: Ông nó là trung thường thị tên Đằng, cùng với bọn Tả Quan, Từ Hoàng hưng
yêu tác quái, tham lam rông rỡ, nát đạo hại dân. Bố nó là Tung, làm con nuôi của
Đằng, nhân có nhờ đút lót mà được chức vị, xe vàng khiêng ngọc, đem nộp cửa quyền,
trộm giữ ngôi cao, làm nghiêng đổ quyền lớn. Đến Tháo: nòi giống sót của hoạn
quan, vốn không có đức hạnh, gian giảo độc ác, thích gây ra sự biến loạn, vui mừng
thấy sự tai vạ.
“Mạc Phủ[7] đây
thống suất hùng binh, quét trừ kẻ hung nghịch, gặp khi Đổng Trác lấn quan hại
nước, bèn chống gươm khua trống, phát lịnh ra cõi Đông Hạ, thu dụng anh hùng, bỏ
nết xấu để dùng được việc, cho nên mới cùng Tháo hợp mưu, trao cho chức tì tướng,
tưởng là tài ưng khuyển có thể dùng được. Không ngờ nó ngu dại, kém mưu lược,
khinh thường sự tiến quân và lui quân, đến nỗi thất bại làm tổn thiệt quân sĩ.
“Mạc Phủ lại chia thêm cho
quân tinh nhuệ, sửa sang bù đắp cho nó, tâu xin cho nó sang Đông Quận lĩnh chức
thứ sử ở Duyện Châu; thân dê chó đội lốt hổ, để nó có chút quyền hành, mong rằng
nó sẽ có phen báo thù được trận thua trước như quân Tần báo thù được nước Tấn
khi xưa[8]. Nhưng Tháo lại thừa thế bạt hổ, bạo ác càn rỡ, tàn dân,
hại người lương thiện. Vì thế quan thái thú Cửu Giang là Biên Nhượng, tài cán
giỏi giang, thiên hạ biết tiếng, nói thẳng lòng ngay, không a siểm ai, cũng bị
nó hãm hại, đầu phải bêu, vợ con phải tàn sát. Từ đó, sĩ phu ai cũng tức tối,
nhân dân lại càng oán ghét; một người vung cánh tay cả châu cùng hưởng ứng; cho
nên thân nó bị thua ở Từ Châu, đất nó bị cướp về tay Lã Bố; bơ vơ cõi Đông,
không nơi nương tựa, Mạc Phủ nghĩ đến nghĩa gốc mạnh cành yếu[9] và
thương nó, không buộc nó vào đảng của kẻ phản nghịch, cho nên lại giương cờ, mặc
áo giáp, cất quân sang đánh. Chiêng trống vang lừng, Lã Bố tan vỡ, cứu cho nó
khỏi chết, và khôi phục lại chức phương bá cho nó, thế là Mạc Phủ ta tuy không
có công gì với dân Duyện Châu, nhưng thực là làm phúc cho Tào Tháo to lắm. Đến
khi loan giá trở về, giặc cướp quấy rối (loạn Thôi, Dĩ), bấy giờ Ký Châu đang
có việc đề phòng ở cõi bắc, ta chưa rờ ra ngoài được, cho nên sai tùng sự trung
lang là Từ Huân sang truyền cho Tháo phải sửa sang chốn giao miếu, giúp đỡ vua
nhỏ. Nhưng Tháo dám rông rỡ làm càn, hiếp vua thiên đô, khinh nhờn nhà vua, nát
phép loạn kỷ, ngồi giữ cả việc ba đài[10] chuyên chế triều
chính, muốn thưởng ai thì thưởng, muốn giết ai thì giết; yêu ai thì người ấy
sung sướng đến cả năm ngành; ghét ai thì người ấy phải chết cả ba họ; ai bàn
tán phải trái thì trị tội công khai, ai thầm vụng chê bai, thì bị giết ngầm ngấm.
Vì thế trăm quan buộc miệng, đường sá đưa mắt nhìn nhau. Còn các quan thượng
thư thì chỉ nhớ buổi vào triều đến hội cho có mặt; công khanh thì chỉ gọi là có
chức phẩm mà thôi!
“Cho nên quan thái uý là Dương
Bưu, từng giữ hai chức tư không và tư đồ, nhất phẩm trong nước, Tháo nhân thế
mang lòng ganh ghét, vu cho tội trạng, đánh đập tàn nhẫn, đủ cả năm thứ hình cụ;
tự ý làm càn, không nghĩ đến phép nước.
“Quan nghị lang là Triều Ngạn,
lời ngay nói thẳng, có thể nghe theo, vì thế vua nghe nói động lòng, thay đổi
nét mặt, tỏ ý khen thưởng, nhưng Tháo định che lấp lẽ phải, chặn lắp đường nói
năng của mọi người, tự tiện bắt Triệu Ngạn giết đi, không tâu vua biết.
“Lương Hiếu vương, là anh em
ruột với tiên đế, lăng mộ của người là nơi tôn quý, dẫu đến cây cối trên mả,
cũng phải kính cẩn gìn giữ, thế mà Tháo đem tướng sĩ, khai quật phá áo quan, bỏ
lộ thây, cướp lấy vàng báu, đến nỗi vua phải chảy nước mắt, dân sĩ phải đau
lòng.
“Nó lại đặt ra quan trung lang
tướng, đào mả quan hiệu uý bới vàng; đi đến đâu tàn hại đến đó, xương trong mả
phải bới ra cả ngoài. Nó ở ngôi Tam công, làm việc trộm cướp, nhơ cả nước, khổ
đến dân, làm hại cả người sống lẫn người chết. Vả lại chính sự tế toái thảm khốc,
luật lệ bày ra thật nhiều, khác gì dò bẫy đầy cả khe, hang hố lấp cả đường, giơ
tay mắc phải lưới, đụng chân vấp phải cạm. Cho nên ở Duyện, Dự có những người
đau buồn, kinh đô có những nhời than vãn. Xem hết cả sử sách xưa nay, những kẻ
làm tôi vô đạo, tham tàn ác nghiệt, đến Tháo là cùng.
“Mạc Phủ ta đang phòng ngoại
gian, chưa kịp dạy bảo nó, và cũng có ý khoan dung, mong cho nó tu tỉnh lại.
Nhưng nó bụng dạ sài lang, mang tâm gây vạ, muốn đạp đổ cột rường, làm cho nhà
Hán suy yếu, trừ giết kẻ trung chính chuyên làm kẻ kiêu hùng.
“Trước kia ta gióng trống sang
mặt bắc, đánh Công Tôn Toản, quân cường khấu nghịch tặc cự nhau với quân ta một
năm, Tháo nhân quân ta chưa đánh được, ngầm đưa thư cho Toản, ngoài mặt giả làm
giúp quân ta, kì thực nó định đánh úp quân ta, may được người mang thư tiết lộ
mưu gian, Toản phải thua chết. Cho nên nhuệ khí của nó phải nhụt và mưu đồ của
nó cũng không thành.
“Nay nó đóng giữ Ngao Xương,
chẹn sông giữ biển, muốn đem cánh tay con bọ ngựa chặn đường của xe thần sét.
“Mạc Phủ nay phụng oai linh
nhà Hán, dẹp yên bờ cõi, kích dài trăm vạn, ngựa khoẻ nghìn đàn, đem những tướng
mạnh như Trung Hoàng, Hạ Dục, Ô Hoạch[11]; dùng cái thế cung cứng nỏ
bền, từ Minh Châu vượt núi Thái Hàng; từ Thanh Châu qua sông Tế, sông Luỹ, đại
quân qua sông Hoàng Hà đánh mặt trước; quân Kinh Châu xuống đất Uyển, Diệp đánh
mặt sau. Sấm vang, hổ sợ, khác gì cầm bó lửa đốt mớ bòng bong, dốc nước bể tưới
đống tro tàn, còn cái gì không bị tiêu diệt?
“Vả lại quân sĩ của Tháo người
nào có thể đánh trận được toàn là người ở U, Ký, hoặc là quân sĩ của bộ hạ cũ,
đều oán giận muốn về quê hương, rỏ nước mắt trông về phía bắc. Còn như dân ở
Duyện, Dự và quân sót của Lã Bố, Trương Dương, đều là bị ức hiếp, tạm bợ đi
theo nó, vết thương chưa khỏi, quân nọ quân kia thù địch lẫn nhau. Nếu ta lên
núi cao đánh tiếng trống, phất cờ trắng chiêu hàng, thế tất đất lở ngói tan,
không đợi lưỡi gươm phải dây máu mới dẹp yên được.
“Hiện nay nhà Hán suy đồi, kỷ
cương trễ nải, triều đình không có một người phù tá nào giỏi, chân tay của vua
không có thể đánh dẹp được giặc; trong kinh đô, những người lão luyện, đều phải
cúi đầu khép cánh, không biết trông cậy vào đâu; tuy có kẻ trung nghĩa cũng bị
nó ức hiếp, không làm thế nào thổ lộ được khí tiết của mình?
“Vả lại Tháo sai bảy trăm binh
lính bộ hạ của nó, vây chốn cung khuyết, ngoài mặt giả làm giữ gìn cho vua, kì
thực là nó giam cấm vua. Chúng ta sợ rằng cái mầm thoán nghiệp, nảy ra từ đó. Ấy
thực là buổi óc gan lầm đất của trung thần và cái hội lập công của hào kiệt,
chúng ta chẳng nên gắng sức dư!
“Tháo nó lại mạo làm chiếu
vua, sai sứ cất quân. Ta sợ những châu quận ở xa, tưởng là chiếu của vua thực,
cấp quân cho nó, thế là trái với lòng dân và vào hùa với quân phản nghịch, phi
cả tiếng mình, lại để thiên hạ chê cười. Những bậc minh triết, tất không làm thế.
“Nay mai, quân U, Tinh, Thanh,
Ký, bốn châu cùng tiến lên. Thư ta đưa đến Kinh Châu, xin phải cất quân ngay,
cùng quan Kiến trung tướng quân (Trương Tú) họp lại làm cho thanh thế được mạnh.
“Các châu quận cũng nên họp sẵn
nghĩa binh, dàn khắp bờ cõi, thị võ dương oai, cùng giúp ấy nền xã tắc. Thế là
cái công phi thường sẽ được rõ rệt dựng nên.
“Ai mà lấy được đầu Tào Tháo sẽ
được phong tước hầu năm nghìn hộ, thưởng tiền năm nghìn vạn quan.
“Những bộ khúc tướng tá ai chịu
quy hàng, đều tha tội hết. Mở rộng ân tín, ban bố phong thưởng. Nay làm tờ hịch
này báo cáo thiên hạ, để ai nấy đều biết mà vua đang có lệnh nguy cấp.
“Cấp cấp như luật lệnh!”
Thiệu xem hịch xong mừng lắm, liền
sai sứ giả đưa đi khắp cả châu huyện và yết thị các nơi cửa ải, bến đò. Bài hịch
truyền tận Hứa Đô. Bấy giờ Tào Tháo đang bị chứng nhức đầu, nằm trên giường. Tả
hữu đem bài hịch vào trình. Tháo xem xong rợn tóc rùng mình, mồ hôi toát ra như
tắm, khỏi cả nhức đầu, từ giường vùng dậy, ngoảnh lại hỏi Tào Hồng:
- Ai làm bài hịch này?
Hồng nói:
- Bài ấy nghe đâu của Trần Lâm soạn.
Tháo cười nói:
- Có văn hay phải có võ lược đi
kèm, văn Trần Lâm, tuy hay nhưng võ lược của Viên Thiệu lại dở, thì làm thế
nào!
Bèn họp các mưu sĩ bàn việc
nghênh địch. Khổng Dung thấy thế, vào nói với Tào Tháo rằng:
- Viên Thiệu to thế, không nên
đánh nhau, hoà thì hơn.
Tuân Úc nói:
- Viên Thiệu là người vô dụng,
hoà với nó làm gì?
Dung lại nói:
- Viên Thiệu có đất rộng, dân mạnh,
bộ hạ như bọn Hứa Du, Quách Đồ, Thẩm Phối, Phùng Kỷ, đều là những người mưu
trí; Điền Phong, Thư Thụ đều là trung thần; Nhan Lương, Văn Sú sức khoẻ hơn ba
đội quân; còn như Cao Lãm, Trương Cáp, Thuần Vu Quỳnh toàn là những danh tướng
đời nay. Sao lại bảo Thiệu là vô dụng?
Úc cười, nói:
- Thiệu binh nhiều mà không
nghiêm chỉnh; Điền Phong tính cương trực hay phạm người trên; Hứa Du tham mà
không khôn, Thẩm Phối hay tự cho mình là phải mà không có mưu mẹo; Phùng Kỷ
tính cả quyết nhưng không làm được việc. Mấy người ấy không ưa nhau, tất rồi
cũng có nội biến; Nhan Lương, Văn Sú tuy khoẻ, nhưng đồ thất phu ấy chỉ đánh một
trận là bắt được; còn những đồ tầm thường nhung nhúc, dẫu có trăm vạn cũng chẳng
kể vào đâu.
Khổng Dung ngồi nín lặng.
Tháo cười to, nói:
- Đều không ra ngoài sự tính toán
của Tuân Văn Nhược.
Liền gọi tiền quân là Lưu Đại, hậu
quân là Vương Trung dẫn năm vạn quân mang cờ hiệu “Thừa tướng” sang Từ Châu
đánh Lưu Bị.
Lưu Đại vốn làm thứ sử Duyện
Châu, sau hàng Tào Tháo, Tháo cho làm thiên tướng. Cho nên Tháo sai hắn cùng
Vương Trung mang quân đi trước.
Tháo tự dẫn đại quân hai mươi vạn
ra Lê Dương để chống Viên Thiệu.
Trình Dục nói:
- Lưu Đại, Vương Trung hai người
mà thừa tướng sai đi cùng không xứng việc.
Tháo nói:
- Ta cũng đã biết hai người ấy
không phải tay địch nổi Lưu Bị, nhưng để hư trương thanh thế.
Tháo lại dặn hai người:
- Không được khinh tiến, đợi ta
phá được Thiệu, bấy giờ mới quay binh về đánh Lưu Bị.
Lưu Đại, Vương Trung lĩnh binh
đi.
Tháo đến Lê Dương, hai bên cách
nhau tám mươi dặm, cùng đào hào đắp luỹ, giữ nhau không đánh, từ tháng tám đến
tháng mười. Nguyên là Hứa Du không bằng lòng để Thẩm Phối cầm quân; Thư Thụ thì
giận Viên Thiệu không dùng mưu của mình, nội bộ lủng củng không hoà thuận với
nhau, chẳng ai nghĩ gì đến việc tiến binh cả.
Tháo thấy vậy mới gọi hàng tướng
là Tang Bá, thủ hạ của Lã Bố sai giữ miền Thanh, Từ; Vu Cấm, Lý Điển đóng đồn
trên sông Hà; Tào Nhân thì thống lĩnh đại quân, đóng ở Quan Độ. Còn Tháo thì tự
dẫn một đội quân về Hứa Đô.
Đây nói Lưu Đại, Vương Trung dẫn
năm vạn quân đến cách Từ Châu một trăm dặm đóng trại, trong quân giả vờ dựng một
lá cờ hiệu Tào thừa tướng, không dám tiến binh vội, chờ đợi tin tức Hà Bắc.
Trong thành Từ Châu, Lưu Bị cũng
không biết hư thực thế nào, chưa dám dấy quân, cũng nghe ngóng tin tức Hà Bắc.
Chợt Tào Tháo sai người giục Lưu
Đại, Vương Trung tiến binh. Hai người ở trong trại bàn nhau. Đại bảo Trung:
- Anh đi đánh trước.
Trung nói:
- Thừa tướng sai anh đi đánh trước
kia mà!
Đại nói:
- Ta là chủ tướng, sao lại ra
đánh trước được?
Trung nói:
- Thế thì anh với tôi cùng đi.
Đại nói:
- Chúng ta rút thăm, phải tên người
nào người ấy đi.
Vương Trung rút phải chữ “tiên”
phải lĩnh một nửa quân mã, đến đánh Từ Châu.
Huyền Đức biết tin, mời Trần Đăng
đến thương nghị, nói rằng:
- Viên Thiệu tuy có đóng quân ở
Lê Dương, nhưng các mưu sĩ, đại thần không hoà thuận với nhau, vẫn chưa tiến
binh. Còn Tào Tháo thì không biết ở đâu, nghe như trong quân Lê Dương không có
cờ hiệu Tháo, sao ở đây lại có cờ hiệu Tháo?
Đăng nói:
- Tào Tháo trăm nghìn quỷ kế, tất
nó lấy Hà Bắc làm trọng, phải tự mình đôn đốc ở đấy, cố ý giấu cờ hiệu đi, còn
cờ hiệu ở đây chỉ là hư trương thanh thế, tôi chắc chắn Tào Tháo không có ở
đây.
Huyền Đức ngoảnh lại hỏi Quan,
Trương:
- Hai em, ai đi dò xem hư thực?
Trương Phi xin đi.
Huyền Đức bảo:
- Em táo bạo quá, không nên đi.
Trương Phi nói:
- Cho có ngay Tào Tháo em cũng
xin bắt nó đem về!
Vân Trường nói:
- Để em xin đi.
Huyền Đức nói:
- Nếu Vân Trường đi, anh mới vững
dạ.
Vân Trường dẫn ba nghìn quân mã
ra khỏi Từ Châu.
Bấy giờ bắt đầu mùa đông, mây mờ
u ám, hoa tuyết bay tán loạn. Quân mã xông vào trong tuyết bày trận. Vân Trường
tế ngựa cắp đao, gọi to Vương Trung ra nói chuyện.
Trung nói:
- Thừa tướng đến đây sao không
hàng?
Vân Trường nói:
- Người về mời thừa tướng ra trước
trận, ta sẽ thưa chuyện.
Trung nói:
- Thừa tướng nào lại thèm ra nói
chuyện với mày!
Vân Trường giận lắm, quất ngựa
lên trước. Vương Trung vác giáo lại địch. Hai ngựa vừa gặp nhau, Vân Trường
quay ngựa chạy lại, quát to một tiếng, múa long đao vào đánh. Trung địch không
nổi, sắp sửa quay ngựa chạy trốn, Vân Trường tay trái cắp ngược bảo đao, tay phải
nắm lấy thắt lưng Vương Trung, lôi xuống cắp ngang trên mình ngựa quay về.
Quân Vương Trung chạy tán loạn cả.
Vân Trường áp giải Vương Trung về
Từ Châu vào nộp Huyền Đức. Huyền Đức hỏi:
- Mày là người nào, hiện làm chức
gì, dám trá xưng là Tào thừa tướng?
Trung nói:
- Tôi nào dám thế, thừa tướng sai
tôi lại đây hư trương thanh thế để làm nghi binh, thừa tướng thực không có ở
đây.
Huyền Đức sai lấy quần áo cho mặc,
và cho cơm rượu tử tế rồi cho tạm giam lại, đợi bắt được Lưu Đại sẽ bàn định
sau.
Vân Trường nói:
- Tôi biết anh có ý muốn hoà giải,
cho nên tôi mới bắt sống đem về.
Huyền Đức nói:
- Anh cũng sợ Dực Đức nóng nảy giết
mất Vương Trung, cho nên anh không dám sai đi. Những người này giết đi vô ích;
để lại còn có thể làm chỗ hoà giải.
Trương Phi ra nói:
- Anh hai bắt sống được Vương
Trung, còn Lưu Đại em xin ra bắt sống đem về.
Huyền Đức nói:
- Lưu Đại trước làm thứ sử Duyện
Châu, khi ở Hổ Lao đánh Đổng Trác, y là một vị chư hầu ở một trấn, nay làm tiền
quân, em không nên khinh thường.
Phi nói:
- Bọn ấy có xá gì, em sẽ như anh
hai, bắt sống đem về cho mà xem.
Huyền Đức nói:
- Chỉ sợ em làm hại mất tính mạng
nó, lại làm lỡ việc lớn.
Phí nói:
- Hễ em giết nó, em xin đền mạng.
Huyền Đức bèn trao cho ba nghìn
quân. Phi dẫn quân đi.
Lưu Đại thấy Vương Trung bị bắt,
cứ giữ không ra đánh. Trương Phi mỗi ngày đến trước trại chửi mắng, Đại biết rằng
Trương Phi không dám thò ra. Phi giữ vài ngày, không thấy Đại ra, nghĩ ngay được
một kế, bèn truyền lệnh cho quân rằng:
- Canh hai đêm nay đi cướp trại.
Cả ngày hôm ấy, Trương Phi chỉ ngồi
trong trướng uống rượu, giả vờ say, tìm bới một lỗi nhỏ của một tên lính canh,
đánh cho một trận, trói ở trong dinh, truyền rằng: “Đợi đến lúc nào ra quân sẽ
tế cờ”; rồi bảo thầm tả hữu cởi trói cho nó trốn đi. Tên lính ấy được thoát, lẻn
ra ngoài dinh, đi tắt ngay đến trại Lưu Đại, báo trước cho Lưu Đại biết việc
Phi cướp trại đêm hôm ấy. Lưu Đại thấy quân hàng mình mẩy bị trọng thương, chắc
là nó nói thực, tối đến để trại không, đem quân phục ở ngoài.
Đêm hôm ấy, Trương Phi chia quân
ra làm ba đường, giữa sai ba mươi người vào cướp trại phóng hoả, còn hai đường
lẻn ra đằng sau trại, trông lửa cháy làm hiệu thì đánh ập lại. Đến canh ba,
Trương Phi dẫn tinh binh chẹn hẳn đằng sau Lưu Đại. Đường giữa ba mươi người
kéo vào trại đốt lửa, phục quân Lưu Đại sắp kéo vào đánh, quân hai mặt của
Trương Phi đều xô ra.
Quân Đại rối loạn, không biết
quân Phi nhiều ít thế nào, vỡ tan chạy trốn cả. Lưu Đại dẫn một đội tàn quân cướp
đường mà chạy, chẳng may gặp ngay Trương Phi. Trong quãng đường cùng, khó lòng
lánh ẩn, đánh nhau mới được một hiệp, Đại đã bị Trương Phi bắt sống. Quân sĩ đều
xin hàng.
Phi sai người về Từ Châu báo tin
trước. Huyền Đức bảo Vân Trường rằng:
- Dực Đức xưa nay tính tình thô lỗ,
bây giờ cũng biết dùng mưu, ta không lo gì nữa.
Liền thân đi ra ngoài thành để
đón Lưu Đại.
Phi hỏi:
- Anh vẫn chê em táo tợn, bây giờ
thế nào?
Huyền Đức nói:
- Không nói khích, đời nào em chịu
dùng mưu mẹo.
Phi cười ầm lên.
Huyền Đức thấy Lưu Đại bị trói, vội
vàng xuống ngựa cởi trói, nói:
- Em nó nhỡ xâm phạm đến mình
ngài, xin ngài miễn chấp cho.
Nói rồi đón về Từ Châu, tha Vương
Trung ra, khoản đãi hai người tử tế. Huyền Đức nói rằng:
- Trước kia Xa Trụ muốn hại tôi,
cho nên tôi bất đắc dĩ phải giết đi, thừa tướng lại ngờ là tôi làm phản, sai
hai tướng quân đến hỏi tội. Tôi đội ơn thừa tướng, đang mong báo đáp, có đâu lại
dám làm phản. Vậy nhờ hai tướng quân về Hứa Đô phân trần giúp tôi, thì thật may
cho tôi lắm.
Lưu Đại, Vương Trung nói:
- Chúng tôi được đội ơn sâu sứ
quân không giết. Nay về hầu thừa tướng xin hết lòng tìm đường giảng giải, đem cả
lớn bé già trẻ hai nhà chúng tôi lĩnh cho sứ quân.
Huyền Đức cảm tạ.
Hôm sau Huyền Đức trả lại cả quân
mã cho hai người, lại tiễn ra ngoài thành. Lưu Đại, Vương Trung đi chưa được mười
dặm, bỗng một tiếng trống nổi, Trương Phi đứng giữa đường quát to lên rằng:
- Anh ta sao khờ thật vậy! Bắt được
tướng giặc sao lại tha ra!
Hai người ngồi trên ngựa run lẩy
bẩy. Trương Phi trừng mắt, cầm giáo xô lại. Bỗng đâu sau lưng một người tế ngựa
lại mắng:
- Không được vô lễ!
Trông ra thì là Vân Trường. Lưu Đại,
Vương Trung bây giờ mới vững dạ. Vân Trường nói:
- Huynh trưởng đã tha, sao em lại
không tuân lệnh?
Phi nói:
- Phen này tha, lần sau nó lại đến.
Vân Trường nói:
- Khi nào họ lại đến, sẽ giết
cũng chưa muộn.
Hai người đồng thanh nói:
- Dù thừa tướng giết cả ba họ
chúng tôi, chúng tôi cũng không dám đến nữa, xin tướng quân tha cho.
Trương Phi nói:
- Cho cả Tào Tháo đến nữa, ta
cũng đánh cho nó không còn manh giáp. Lần này ta hãy gửi hai cái đầu đấy.
Lưu Đại, Vương Trung ôm đầu thui
thủi đi. Quan, Trương cùng về, nói với Huyền Đức:
- Tào Tháo tất nhiên lại đến.
Tôn Càn bảo Huyền Đức rằng:
- Từ Châu là đất trống cả bốn mặt,
không ở lâu được, không bằng chia quân đóng ở Tiểu Bái, giữ gìn Hạ Phì làm thế ỷ
giốc để phòng Tào Tháo đến.
Huyền Đức nghe theo, sai Vân Trường
giữ Hạ Phì, hai vợ là Cam phu nhân và My phu nhân cũng để ở đó.
Cam phu nhân là người Tiểu Bái,
My phu nhân là em My Chúc. Còn Tôn Càn, Giản Ung, My Chúc, My Phương giữ Từ
Châu, Huyền Đức và Trương Phi đóng ở Tiểu Bái.
Lưu Đại, Vương Trung về Hứa Đô
vào hầu Tào Tháo, nói việc Lưu Bị không làm phản. Tháo giận mắng rằng:
- Những đồ làm nhục quốc thể, để
chúng bây sống làm gì!
Bèn gọi tả hữu lôi ra chém.
Thế thực là:
Cá tôm tranh được với rồng thiêng?
Chưa biết hai người chết sống thế
nào, xem đến hồi sau mới rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Mao Thi: kinh Thi do họ Mao chú thích. Tương
truyền: Mao Hanh người nước Lỗ, làm ra Mao Thi.
- ▲ Làm sao ở trong đống bùn? Câu này trích trong kinh
Thi.
- ▲ Vừa định phân trần lại gặp lúc người ta đang có cơn giận.
Câu này cũng trích ở kinh Thi).
- ▲ Không có bằng cớ gì buộc tội kẻ địch.
- ▲ Vua Nhị thế đời Tần, bị Triệu Cao bức bách, phải tự tử
ở cung Vọng Di.
- ▲ Thái tông tức là Hán Văn đế.
- ▲ Đại bản doanh của Viên Thiệu, ở đây chỉ Viên Thiệu.
- ▲ Đời Xuân thu, Mạnh Minh là tướng nước Tần đánh nhau với
quân nước Tấn, bị thua; vua nước Tần không hỏi tội, để cho Mạnh Minh lập
công chuộc tội, về sau Mạnh Minh đánh được quân nước Tấn.
- ▲ Gốc mạnh mà cành yếu, thì gốc cũng không vững; ý nói
nên gây dựng lấy vây cánh.
- ▲ Theo quan chế đời Hán, trung đài, hiêu đài, ngoại đài,
mỗi đài có chức vụ riêng biệt.
- ▲ Ba dũng sĩ nổi tiếng ở đời cổ.
Nễ Chính Bình khỏa thân mắng giặc
Cát thái y giấu độc bị hình
Tào Tháo muốn chém Lưu Đại và
Vương Trung. Khổng Dung can rằng:
- Hai người vốn không phải là địch
thủ của Lưu Bị, nếu thừa tướng chém đi, tôi e mất lòng tướng sĩ.
Tháo liền tha tội, nhưng cách tuột
cả chức tước và bổng lộc, và muốn tự khởi binh đến đánh Huyền Đức. Khổng Dung
can rằng:
- Nay đương mùa đông, trời rét,
chưa nên động binh, đợi sang xuân cũng chưa muộn. Thừa tướng nên sai người đến
chiêu an Trương Tú, Lưu Biểu trước đã, rồi sau hãy tính đến Từ Châu.
Tháo nghe Khổng Dung, sai Lưu Việp
đến dụ Trương Tú. Việp đến Trương Thành, trước tiên vào gặp Giả Hủ, khoe ngợi
thịnh đức của Tào công. Hủ lưu Việp ở lại nhà mình, rồi hôm sau vào gặp Trương
Tú, nói chuyện việc Tào công sai Lưu Việp đến chiêu an. Trong khi đang bàn chuyện,
chợt báo cáo sứ giả của Viên Thiệu đến. Tú cho gọi vào. Sứ giả trình thư, Tú
xem xong. Đó cũng là thư chiêu an. Giả Hủ hỏi:
- Mới rồi Viên tướng quân cất
quân đánh Tào Tháo, được thua thế nào?
Sứ giả đáp:
- Trời đông, tháng rét, còn tạm
bãi binh. Nay thấy tướng quân cùng Lưu Biểu ở Kinh Châu đều có phong độ của kẻ
quốc sĩ, cho nên sai tôi lại mời.
Hủ cười, nói:
- Người về nói với Bản Sơ, anh em
trong nhà còn chẳng dung được nhau, nữa là quốc sĩ thiên hạ!
Nói rồi xé vụn bức thư ngay trước
mặt sứ giả rồi đuổi sứ giả về. Trương Tú nói:
- Hiện giờ Viên khoẻ, Tào yếu;
nay xé thư mắng sứ, nếu Thiệu đến đánh, thì làm thế nào?
Hủ nói:
- Không bằng theo với Tào Tháo.
Tú nói:
- Trước ta đã có thù với Tào
Tháo, hắn dung sao được ta?
Hủ nói:
- Theo Tào có ba nhẽ phải: một là
Tháo phụng chiếu thiên tử, đánh dẹp thiên hạ; hai là bây giờ Thiệu đương cường
thịnh, ta lực bé mà đi theo, nó chẳng cho vào đâu, Tháo đang yếu ta theo tất mừng;
ba là Tào Tháo có chí lớn mưu nghiệp bá vương tất không nghĩ đến thù riêng, để
rõ đức tốt của bốn bể. Xin tướng quân đừng ngần ngại.
Tú nghe Hủ, mời Lưu Việp vào
tương kiến. Việp tâng bốc thịnh đức của Tào Tháo lên, và nói:
- Nếu thừa tướng còn nhớ oán cũ,
sao lại sai tôi đến đây kết hiếu với tướng quân?
Tú mừng lắm, lập tức cùng Giả Hủ
đến Hứa Đô đầu hàng. Tú vào bái kiến Tào Tháo, lạy ở dưới thềm. Tháo vội vàng
nâng dậy, nói:
- Những lầm lỗi nhỏ, xin đừng để
bụng.
Bèn phong Tú làm Dương vũ tướng
quân, phong Giả Hủ làm chấp kim ngô sứ; lại sai Tú viết thư sang chiêu an Lưu
Biểu. Giả Hủ đứng lên thưa:
- Lưu Biểu thích kết nạp những bậc
danh lưu[1], nay nên sai một danh sĩ đi, mới có thể chiêu hàng được.
Tháo hỏi Tuân Du:
- Ai đi được?
- Khổng Văn Cử có thể đi được.
Tháo lấy làm phải. Du ra gặp Khổng
Dung, nói:
- Thừa tướng muốn có một danh sĩ,
sung vào chức hành nhân[2], ông có nhận được chức này không?
Dung nói:
- Tôi có người bạn tên là Nễ
Hành, tự là Chính Bình, tài giỏi gấp mười tôi, người ấy nếu được hầu ở bên cạnh
vua, không những là sai đi sứ được và có thể sung chức hành nhân. Nên tiến lên
để thiên tử dùng.
Rồi viết ngay tờ biểu dâng thiên
tử. Bài biểu như sau:
“Tôi nghĩ: nước lớn ngập tràn,
vua mong người giúp, tìm khắp bốn phương, mời đón những bậc hiền tuấn[3].
Xưa nay Thế tông[4] kế vị, mở rộng cơ nghiệp; gặp buổi thịnh trị,
mọi kẻ sĩ hưởng ứng đến giúp. Bệ hạ là bậc minh quân, vâng nối nghiệp lớn, gặp
phải ách vận, lo bận suốt ngày; núi non thiêng liêng, sinh ra nhiều người lạ.
Tôi trộm thấy một ẩn sĩ ở Bình Nguyên tên là Nễ Hành, năm nay hai mươi bốn tuổi,
tên tự là Chính Bình, phẩm chất kiên trinh, tài năng siêu việt; theo nghề văn học,
hiểu biết rộng sâu. Mắt thấy cái gì, miệng nói ngay ra được; tai nghe cái gì, bụng
nhớ mãi không quên. Tính tình hợp với đạo lý, suy nghĩ như có thần minh.
“So với người khéo suy tính
như Hoằng Dương, người có tài nhớ lâu như An Thế[5], Nễ Hành chẳng
thua kém gì. Trung trinh chính trực, chí khí trong sạch như tuyết sương, nghe
thấy điều thiện thì giật mình tỉnh ngộ, ghét kẻ gian ác như thù địch; so với đức
hạnh của Nhâm Toạ, tiết tháo của Sử Ngư[6] cũng không hơn được
Nễ Hành. Hàng trăm chim ưng, không bằng một chim bằng. Nếu cho Hành được ở
trong triều, chắc có nhiều việc tốt đẹp. Biện luận hăng hái, khí thế mạnh mẽ,
có thể giải quyết được nhiều nghi vấn, và cho đi chống với địch cũng có thừa sức.
“Xưa Giả Nghị[7] muốn
đi thử tài ở cõi ngoài, toan dùng mưu mẹo bắt chúa Thiền Vu; Chung Quân[8] định
lấy dải mũ dài khiên chế nước Việt; chí khí khảng khái của những thanh niên, rất
được đời trước khen ngợi; gần đây Lộ Toái, Nghiêm Tượng cũng vì có tài lạ được
cân nhắc làm đài lang; Nễ Hành có thể ví được với những người ấy. Nếu cho Nễ
Hành được như rồng bay trên trời, chim vỗ cánh trên mây, nổi tiếng ở ngôi Tử Vi[9] nhả
ánh sáng hồng nghê[10], tất có thể làm vẻ vang cho sĩ phu trong triều,
và thêm sự oai nghiêm cho bốn cõi. Nơi tấu khúc quảng nhạc ở Quân Thiên[11] phải
có vẻ kì diệu; chốn cung điện nhà vua, nên có thứ báu phi thường, cũng như lũ Nễ
Hành, thật là hiếm có. Những điệu hay như khúc Khích Sở, khúc Dương Kha[12],
đều là nghề nhạc phải chuộng; những ngựa hay như ngựa phí thỉ, ngựa yêu niễu,
phi chạy rất nhanh đều là bọn Lương, Nhạc[13] rất cần. Dù ý kiến
nhỏ mọn, tôi cũng xin bạo dạn tâu lên vua nghe. Nhà vua dùng người rất cẩn thận,
xin hãy thử xem. Xin cho phép Hành là người áo vải được gọi vào bệ kiến. Nếu
Hành không có tài năng gì, tôi xin cam chịu dối vua.”
Vua xem xong bài biểu, đưa cho
Tào Tháo, Tháo sai người đi mời Hành đến. Hành đến, lễ xong, Tháo không mời ngồi.
Hành ngửng mặt lên trời than rằng:
- Giời đất rộng thế này, sao
không có một người nào?
Tháo nói:
- Thủ hạ ta vài mươi người đều là
anh hùng đời nay, sao bảo là không có người?
Hành nói:
- Xin cho biết.
Tháo nói:
- Tuân Úc, Tuân Du, Quách Gia,
Trình Dục, có nhiều mưu trí, dù Tiêu Hà, Trần Bình ngày xưa vị tất đã bằng.
Trương Liêu, Hứa Chử, Lý Điển, Nhạc Tiến khoẻ không ai địch nổi, dù Xầm Bành,
Mã Vũ ngày xưa chưa thấm vào đâu. Lã Kiền, Mãn Sủng làm tùng sự; Vu Cấm, Từ Hoảng
làm tiên phong; Hạ Hầu Đôn là bậc kì tài trong thiên hạ; Tào Hồng là vị phúc tướng
trên đời. Sao dám bảo là không có người.
Hành cười, đáp rằng:
- Ông nói lầm rồi! Những nhân vật
ấy, tôi biết cả. Tuân Úc nên sai đi viếng tang thăm bệnh, Tuân Du nên sai đi giữ
mả coi mồ; Trình Dục nên cho đứng gác cửa ngõ; Quách Gia nên để bình phú ngâm
thơ; Trương Liêu cho đi đánh trống khua chiêng; Hứa Chử cho đi chăn trâu dắt ngựa;
Nhạc Tiến cho đi nhận thư đọc chiếu; Lý Điển cho đi chạy giấy đưa thư; Lã Kiền
nên để mài đao đúc gươm; Mãn Sủng nên để uống rượu ăn dấm; Vu Cấm thì được việc
khiêng ván đắp tường; Từ Hoảng thì giỏi về mổ lợn giết chó; Hạ Hầu Đôn thì gọi
là tướng quân có đủ tay chân; Tào Hồng thì gọi là thái thú vòi tiền; còn những
đồ kia là đồ giá áo túi cơm, thùng rượu bị thịt cả.
Tháo giận hỏi:
- Mày có tài gì?
Hành đáp:
- Thiên văn, địa lý, không thứ gì
không biết; tam giáo, cửu lưu[14] không thứ gì không hiểu, trên
có thể giúp nhà vua làm được bậc Nghiêu, Thuấn, dưới có thể sánh đạo đức với bậc
Khổng, Nhan. Ta nào thèm bàn chuyện với hạng người tầm thường đâu!
Bấy giờ Trương Liêu đứng bên cạnh,
tuốt gươm toan chém Nễ Hành, Tào Tháo nói:
- Ta đương thiếu một cổ lại (người
đánh trống), nay mai trong triều có việc yến hạ nên sai Hành sung vào chức ấy.
Hành chẳng chối từ gì cả, nhận lời
rồi đi ra.
Liêu hỏi Tháo:
- Người ấy nói xấc, sao không giết
đi?
Tháo nói:
- Người ấy vốn có hư danh, gần xa
đều biết, nay giết nó đi, sợ thiên hạ chê ta không biết dùng người. Nó đã tự
khoe khoang thế, ta bắt làm cổ lại cho nó nhục.
Hôm sau Tháo mở yến tiệc trên sảnh
đường thết các tân khách, sai cổ lại ra đánh trống. Người cổ lại cũ nói rằng:
- Đánh trống phải mặc áo mới.
Hành cứ mặc áo cũ đi vào, đánh ba
hồi trống theo khúc Ngư Dương[15], âm điệu tiêu tao lắm, chìm bổng
nhịp nhàng như tiếng kim tiếng thạch. Những người ngồi ăn nghe đều cảm thương
chảy nước mắt. Tả hữu quát rằng:
- Sao không thay áo?
Hành cởi tuột quần áo, khoả thân
đứng dậy, khách ngồi ai cũng che mặt. Hành lại khoan thai mặc quần áo, sắc mặt
không thay đổi. Tháo mắng:
- Trên chỗ miếu đường, sao được
vô lễ?
Hành nói:
- Dối vua lừa trên mới gọi là vô
lễ, ta lộ cái hình của cha mẹ sinh ra là để tỏ cái thân thể thanh bạch của ta đấy!
Tháo hỏi:
- Mày là thanh bạch, thì ai là dơ
đục?
Hành đáp:
- Mày không biết người hiền, người
ngu là mắt đục; không học thi, thư, là mồm đục; không nghe lời trung là tai đục;
không hiểu chuyện xưa nay, là thân đục; không dung các chư hầu là bụng đục; thường
muốn cướp ngôi là ruột đục. Tao là danh sĩ thiên hạ, mày dùng làm cổ lại, khác
gì Dương Hoá khinh đức Khổng Tử, Tang Thương chê thầy Mạnh Tử. Mày muốn dựng
nghiệp vương bá mà lại khinh người ta thế à?
Bấy giờ Khổng Dung cũng ngồi ở
đó, sợ Tháo giết Nễ Hành, khoan thai tiến lên nói:
- Nễ Hành tội bằng kẻ tù đồ,
không xứng đáng với lòng mong đợi người hiền của tướng công.
Tháo trỏ Nễ Hành bảo:
- Nay cho người sang Kinh Châu, nếu
dụ được Lưu Biểu qua hàng ta sẽ dùng ngươi làm chức công khanh.
Hành không chịu đi. Tháo sai chuẩn
bị ba con ngựa, bắt hai người kèm thúc phải đi, lại sai văn võ thủ hạ đặt tiệc ở
ngoài cửa đông để tiễn.
Tuân Úc dặn mọi người rằng:
- Hễ thấy Nễ Hành đến, đừng ai đứng
dậy.
Khi Hành đến, xuống ngựa vào
chào, mọi người đều ngồi yên. Hành cất tiếng khóc hu hu, Tuân Úc hỏi:
- Cớ sao khóc?
Hành đáp:
- Đi trong đám áo quan người chết,
sao lại không khóc.
Mọi người đều nói:
- Chúng ta là thây chết, còn mày
thì là con ma điên không đầu.
Hành nói:
- Tao là bầy tôi nhà Hán, không
vào đảng với Tào man, sao chẳng có đầu?
Mọi người muốn giết Hành, Úc ngăn
lại nói:
- Nó như con chuột, con sẻ, giết
chẳng bõ bẩn gươm.
Hành nói:
- Tao là chuột, sẻ còn tính người.
Chúng bay chỉ giống sâu bọ[16]!
Mọi người tức giận đứng dậy về cả.
Hành đến Kinh Châu vào yết kiến
Lưu Biểu, miệng tuy khen ngợi đức tốt, nhưng vẫn có ý trào phúng. Biểu không bằng
lòng, sai đến Giang Hạ gặp Hoàng Tổ. Có người hỏi Biểu rằng:
- Nễ Hành dám xấc đùa với chúa
công, sao chúa công không giết đi?
Biểu nói:
- Nễ Hành nhiều lần làm nhục Tào
Tháo. Tháo không giết, sợ mất lòng thiên hạ, cho nên mới sai hắn đến đây, có ý
mượn tay ta giết hắn để cho ta mắc tiếng hại người hiền. Bởi vậy ta sai Hành đến
gặp Hoàng Tổ, để cho Tháo biết là ta không dại gì đâu.
Mọi người đều khen phải.
Bấy giờ Viên Thiệu cũng sai sứ đến.
Biểu hỏi các mưu sĩ:
- Bản Sơ sai sứ đến, Mạnh Đức
cũng sai Nễ Hành đến nên theo bên nào?
Tùng sự trung lang tướng là Hàn
Tung đứng dậy nói:
- Nay hai nhà ấy đang kình địch
nhau, tướng quân nếu muốn làm việc lớn, nên thừa cơ xem bên nào được thì đánh,
nếu không bên nào giỏi thì theo. Nay Tào Tháo khéo dùng binh, người hiền tuấn
theo nhiều, thế tất đánh Viên Thiệu trước, rồi đem binh quay sang Giang Đông,
tôi sợ tướng quân không chống nổi. Chi bằng đem Kinh Châu hàng Tào Tháo, Tháo tất
trọng đãi tướng quân.
Biểu nói:
- Người hãy đến Hứa Đô, xem động
tĩnh sao đã, rồi sẽ làm sau.
Tung nói:
- Vua tôi đều định phân rõ ràng.
Nay tôi nhờ tướng quân, dù tướng quân sai tôi nhảy vào nước sôi, lửa nóng, tôi
không dám từ. Nếu tướng quân thực lòng trên thờ thiên tử, dưới theo Tào công
thì hãy sai tôi đi. Nếu còn dùng dằng chưa quyết, một khi tôi đến kinh sư,
thiên tử cho tôi một chức quan nhỏ, thì bấy giờ tôi là tôi con của thiên tử,
không còn là người liều chết theo tướng quân nữa.
Biểu nói:
- Người cứ đi. Ta đã có chủ ý.
Tung đến Hứa Đô ra mắt Tào Tháo.
Tháo cho Tung làm thị trung, lĩnh chức thái thú ở Linh Lăng.
Tuân Úc nói:
- Thằng Tung đến đây để do thám,
chưa có công lao gì, sao đã trọng thưởng cho chức ấy? Nễ Hành chưa thấy tin tức
gì, sao thừa tướng lại lờ đi không hỏi.
Tháo nói:
- Nễ Hành làm nhục ta quá, cho
nên mượn tay Lưu Biểu giết nó đi, còn hỏi làm gì?
Tháo sai Hàn Tung về Kinh Châu dụ
Lưu Biểu. Tung về ra mắt Lưu Biểu, xưng tụng thịnh đức triều đình, và khuyên Biểu
cho con vào chầu. Biểu giận lắm, nói:
- Mày hai lòng chăng?
Toan sai đem chém. Tung kêu to:
- Tướng quân phụ tôi, tôi có phụ
tướng quân đâu.
Khoái Lương nói:
- Trước khi đi, Tung đã phân trần
rõ rồi.
Lưu Biểu bèn tha cho Tung. Lúc ấy
có người vào báo:
- Hoàng Tổ chém Nễ Hành rồi.
Biểu hỏi cớ làm sao, người báo
thưa:
- Hoàng Tổ, Nễ Hành cùng uống rượu,
hai người đều say. Tổ hỏi Hành: “Ngươi ở Hứa Đô có biết ai là người khá?” Hành
đáp: “Có thằng bé nhớn là Khổng Văn Cử, thằng bé con là Dương Đức Tổ, ngoài hai
đứa ấy, không có đứa nào nữa!” Tổ hỏi: “Như ta thì thế nào?” Hành đáp: “Người
như tượng thần trong miếu, tuy được người ta cúng tế nhưng chẳng thiêng liêng
gì!” Tổ giận nói: “Mày bảo tao là tượng gỗ à?” rồi sai đem chém. Nễ Hành chửi
Hoàng Tổ đến lúc chết không dứt mồm.
Lưu Biểu nghe tin Nễ Hành chết,
cũng thương hại giờ lâu, rồi sai táng bên bãi Anh Võ.
Người sau có thơ than rằng:
Nễ như ngọc quý bỗng chôn vùi
Đến nay qua viếng châu Anh Võ
Chỉ thấy vô tình nước chảy xuôi…
Tào Tháo nghe tin Nễ Hành bị hại,
cười nói:
- Gươm lưỡi của kẻ hủ nho, mình lại
giết mình!
Tháo không thấy Lưu Biểu đến
hàng, muốn đem ngay quân đến hỏi tội, Tuân Úc can:
- Viên Thiệu chưa dẹp được, Lưu
Biểu chưa giết được, mà muốn dùng binh ở Giang, Hán, khác nào bỏ chỗ gan ruột
mà chỉ nhìn chân tay. Nay nên diệt Viên Thiệu trước, rồi đánh Lưu Bị, còn
Giang, Hán thì chỉ quét một nhát là sạch.
Tháo nghe theo.
Đây nói Đổng Thừa từ Huyền Đức ra
đi, ngày đêm bàn soạn cùng lũ Vương Tử Phục, nhưng không nghĩ được kế gì.
Năm Kiến An thứ năm (200), nhân
ngày nguyên đán, các quan vào chầu mừng vua. Đổng Thừa thấy Tào Tháo ngang ngược
kiêu căng quá, tức giận thành bệnh. Vua biết tin có sai quan thái y đến chữa.
Quan thái y là người Lạc Dương, họ Cát tên Thái, tự là Xưng Bình, người ta vẫn
gọi là Cát Bình, là thầy thuốc giỏi lúc bấy giờ, bình đến phủ Đổng Thừa, dùng
thuốc điều trị, sớm tối không rời lúc nào. Bình thường thấy Đổng Thừa thở ngắn
thở dài nhưng không dám hỏi rõ.
Gặp hôm rằm tháng giêng, Cát Bình
cáo từ xin về nhà, Đổng Thừa mời ở lại, hai người cùng uống rượu. Uống đến canh
khuya, Thừa mỏi mệt, cứ mặc cả áo, ngả mình xuống ngủ. Chợt thấy người báo:
- Có bọn Vương Tử Phục bốn người
nữa đến.
Thừa ra đón vào.
Tử Phục nói:
- Việc lớn xong xuôi rồi!
Thừa hỏi:
- Xin cho biết đầu đuôi.
Tử Phục nói:
- Lưu Biểu kết liên với Viên Thiệu,
khởi năm mươi vạn quân chia làm mười đường kéo đến, Mã Đằng kết liên với Hàn Toại,
khởi quân Tây Lương bảy mươi hai vạn từ mặt bắc đánh lại. Tào Tháo đem hết cả
binh mã ở Hứa Xương, chia đường ra địch, trong thành bỏ không. Nếu chúng ta họp
cả gia nhân năm nhà cũng được hơn một nghìn người. Nhân đêm nay trong tướng phủ
ăn tiệc to, vui tiết nguyên tiêu, chúng ta vây tướng phủ, xông vào giết Tào.
Không nên để lỡ cơ hội này.
Thừa mừng lắm, lập tức gọi gia
nhân nhặt nhạnh các đồ khí giới, tự mình mặc áo giáp, cầm giáo lên ngựa, hội ở
cửa trong tướng phủ, cùng tiến quân vào. Canh hai đêm hôm ấy, các quan đều đến.
Đổng Thừa tay cầm bảo kiếm đi bộ thẳng vào, thấy Tào Tháo đang ăn tiệc ở nhà
sau, gọi to lên rằng: “Giặc Tháo không được chạy!” rồi phất gươm một nhát, Tháo
gục ngay xuống… Thừa mở choàng mắt dậy, thì là một giấc chiêm bao. Miệng Thừa
còn lảm nhảm chửi Tào tặc.
Cát Bình đến trước mắt, hỏi:
- Ông muốn hại Tào công à?
Thừa sợ cứng lưỡi không nói. Cát
Bình nói:
- Xin quốc cữu cứ yên tâm, tôi
tuy là một thầy thuốc, nhưng không bao giờ quên nhà Hán. Mấy hôm nay tôi thấy
quốc cữu thở than, chưa dám hỏi. Vừa rồi nghe lời nói trong mộng, biết rõ thực
tình, xin đừng giấu giếm; nếu quốc cữu có dùng được tôi vào việc gì, dù bị giết
cả chín họ, tôi cũng không hối hận gì.
Thừa bưng mặt khóc:
- Chỉ sợ ngươi không có bụng thực!
Bình bèn cắn đứt một ngón tay ra
để thề. Thừa đem tờ mật chiếu cho Bình xem, rồi nói:
- Nay mưu việc chưa xong, là vì
Huyền Đức, Mã Đằng đi cả. Không nghĩ được kế gì, nên ta thương cảm thành bệnh.
Cát Bình nói:
- Không cần các ông phải dụng
tâm, tính mệnh Tào Tháo chỉ trong tay tôi.
Thừa hỏi vì cớ gì. Bình nói:
- Tháo thường có bệnh nhức đầu,
đau thấu xương tuỷ. Mỗi khi bệnh phát là gọi tôi đến chữa. Phỏng thử nay mai có
gọi, chỉ cho một liều thuốc độc là nó đi đời.
Thừa hỏi:
- Nếu được như thế, cứu được xã tắc
nhà Hán, đều nhờ ông cả.
Cát Bình từ giã trở về. Thừa mừng
thầm, đi vào nhà trong, gặp ngay người đầy tớ là Trần Khánh Đồng đang cùng con
hầu là Vân Anh thì thầm nói chuyện với nhau trong xó tối.
Thừa cả giận gọi tả hữu sai đem
giết cả hai người. Phu nhân can xin tha chết, chỉ đánh mỗi người bốn mươi trượng,
rồi đem Khánh Đồng giam vào trong buồng lạnh.
Khánh Đồng tức lắm, nhân đêm bẻ
gãy khoá, nhảy qua tường ra ngoài, chạy tắt ngay đến phủ Tào Tháo cáo có việc
cơ mật. Tháo gọi vào trong nhà kín gạn hỏi. Khánh Đồng nói:
- Tôi thấy Vương Tử Phục, Ngô Tử
Lan, Chủng Tập, Ngô Thạc, Mã Đằng, năm người ở trong phủ chủ tôi, bàn việc bí mật,
chắc là bày mưu hại thừa tướng. Chủ tôi đem một đoạn lụa trắng, không biết viết
những gì. Mấy hôm nay Cát Bình cắn ngón tay ăn thề, tôi cũng trông thấy.
Tào Tháo giấu Khánh Đồng trong phủ.
Đổng Thừa tưởng là nó trốn đi phương khác, cũng chẳng tìm bắt.
Đến hôm sau, Tào Tháo giả tảng nhức
đầu, cho mời Cát Bình đến chữa thuốc.
Cát Bình nghĩ thầm:
- Số thằng này đến ngày chết!
Bèn ngầm đem một lọ thuốc độc vào
phủ. Tháo nằm trên giường, sai Bình bốc thuốc. Bình nói:
- Bệnh này, thừa tướng chỉ uống một
nước thuốc là khỏi.
Tháo sai đem siêu thuốc đến, sắc
ngay trước mặt. Thuốc sắp cạn, Bình ngầm đổ thuốc độc vào, rồi rót ra, dâng
lên. Tháo đã biết trước, cố ý chậm chạp không uống vội. Bình nói:
- Thuốc đương nóng, thừa tướng uống
ngay cho ra mồ hôi thì khỏi.
Tháo đứng lên nói:
- Ngươi đã đọc sách, tất biết lễ
nghĩa. Vua có bệnh uống thuốc, bầy tôi phải nếm trước; bố có bệnh uống thuốc,
con phải nếm trước. Ngươi là tâm phúc với ta, sao không nếm đi?
Cát Bình nói:
- Thuốc để trị bệnh, sao lại bảo
người nếm được?
Bấy giờ Cát Bình biết là việc đã
bị lộ, bước nhanh lên trước định nắm lấy tai Tháo đè xuống để đổ thuốc vào.
Tháo đẩy thuốc ra, đổ cả xuống đất, gạch đều nứt vỡ. Tháo chưa kịp nói, tả hữu
đã bắt ngay Cát Bình trói lại. Tháo nói:
- Tao có đau đâu, cốt thử mày đó
thôi! Mày thực có bụng hại tao!
Nói rồi gọi hai mươi người ngục tốt
lực lưỡng điệu Bình ra vườn sau khảo tra. Tháo ngồi trên đình, Bình bị trói nằm
dưới đất. Bình mặt mũi tươi tỉnh như thường, không hề sợ hãi. Tháo cười mà hỏi
rằng:
- Thứ mày là một thằng thầy thuốc,
sao dám mưu hại tao? Tất nhiên có người xúi giục, hễ xưng ra thì tao tha cho.
Bình mắng:
- Mày là thằng giặc dối vua lừa
trên, cả thiên hạ đều muốn giết mày, có gì một mình tao!
Tháo lại hai ba lần tra hỏi. Bình
giận nói:
- Tự tao muốn giết mày, sao lại bảo
có người sai tao? Nay việc không thành, chỉ có chết là cùng.
Tháo giận lắm sai ngục tốt đánh
thật đau. Đánh suốt hai giờ[17] nát da xé thịt, máu chảy đầy thềm.
Tháo sợ đánh chết không có ai làm dối chứng, bèn sai ngục tốt đem ra chỗ tĩnh,
tạm cho nghỉ ngơi.
Tháo truyền lệnh hôm sau mở tiệc
mời các quan đến uống rượu. Hôm sau các quan đến cả, duy có Đổng Thừa cáo ốm
không đến. Lũ Vương Tử Phục sợ Tháo sinh nghi, đành phải có mặt. Tháo mở tiệc
trong hậu đường. Rượu được vài tuần, Tháo nói:
- Trong bữa tiệc chẳng có gì làm
vui, nay tôi có một người có thể làm các quan tỉnh rượu.
Liền gọi hai người ngục tốt:
- Điệu ra đây cho ta!
Một lát thấy Cát Bình, cổ đeo một
cái gông dài, bị lính điệu đến. Tháo nói:
- Các quan không biết: người này
kết liên với ác đảng, muốn làm phản triều đình, mưu hại tôi. Nay trời làm cho
mưu gian của nó bại lộ, xin các quan nghe lời cung của nó.
Tháo sai đánh cho một chập, Bình
nằm lịm ở dưới đất. Lính lấy nước phun vào mặt, Bình tỉnh lại trợn mắt nghiến
răng mắng:
- Giặc Tháo! Không giết tao đi,
còn đợi đến bao giờ!
Tháo nói:
- Trước có sáu người đồng mưu, cộng
mày vào nữa là bảy, có phải không?
Bình chỉ mắng chửi ầm lên. Lũ
Vương Tử Phục bốn người đưa mắt nhìn nhau, khác nào ngồi trên bàn chông. Tháo
sai lính vừa đánh vừa lấy nước phun vào mặt, Bình tuyệt nhiên không hở miệng
van xin. Tháo thấy không xưng, sai hãy mang đi.
Các quan tan tiệc trở về. Tháo chỉ
lưu bọn Vương Tử Phục bốn người ở lại để ăn tiệc đêm. Bốn người không còn hồn
vía nào nữa phải ở lại. Tháo nói:
- Đáng lẽ tôi cũng không muốn lưu
bốn ông lại làm gì, nhưng có chút việc muốn hỏi. Bốn ông cùng Đổng Thừa bàn
nhau những việc gì?
Tử Phục nói:
- Không có bàn việc gì cả!
Tháo lại hỏi:
- Thế trên mảnh lụa trắng, viết
những gì?
Lũ Tử Phục đều chối. Tháo lại sai
gọi Khánh Đồng ra làm chứng. Tử Phục nói:
- Mày trông thấy ở chỗ nào!
Khánh Đồng nói:
- Các người sáu người bí mật họp
một chỗ viết chữ lên mảnh lụa, chối sao được!
Tử Phục nói:
- Thằng này là đầy tớ thông dâm với
nàng hầu của quốc cữu, vì phải đòn nên tức mà vu càn cho chủ, xin thừa tướng đừng
nghe.
Tháo nói:
- Cát Bình định đánh thuốc độc
cho ta, phi Đổng Thừa sai nó thì còn ai?
Lũ Tử Phục đều nói là không biết.
Tháo nói:
- Bây giờ thú ngay còn có thể tha
được. Nếu đợi đến việc vỡ ra thì không sao dung được nữa đâu!
Lũ Tử Phục đều nói là không có việc
ấy.
Tháo quát tả hữu đem bốn người bỏ
ngục.
Hôm sau, Tào Tháo đem mọi người
thẳng đến phủ Đổng Thừa nói là để thăm bệnh.
Thừa phải ra đón. Tháo hỏi:
- Sao đêm qua quốc cữu không lại
dự tiệc?
Thừa nói:
- Bệnh chưa được khỏi, nên không
dám đi.
Tháo nói:
- Đó là cái bệnh lo việc quốc gia
chứ gì?
Thừa giật mình. Tháo hỏi:
- Quốc cữu có biết việc Cát Bình
không?
Thừa nói không biết. Tháo cười
mát nói:
- Sao quốc cữu lại không biết?
Rồi bảo tả hữu:
- Điệu nó ra đây để chữa bệnh cho
quốc cữu.
Đổng Thừa rụng rời cả chân tay.
Được một lát, hai mươi tên ngục tốt
dắt Cát Bình đến dưới thềm. Bình mắng lớn:
- Nghịch tặc Tào Tháo!
Tháo bảo Thừa:
- Cát Bình đã xưng ra bọn Tử Phục
bốn người, ta đã bắt giam cả rồi, nay còn một người nữa, chưa bắt được.
Nhân hỏi Bình:
- Ai sai mày đến đánh thuốc độc
cho tao, phải xưng ngay lập tức?
Bình nói:
- Trời sai tao đến giết thằng nghịch
tặc!
Tháo giận thét đánh. Trên mình
Cát Bình không còn chỗ nào đánh được nữa.
Thừa ngồi trông, lòng như dao cắt.
Tháo lại hỏi Bình:
- Mày mười ngón tay, sao còn có
chín?
Bình nói:
- Còn ngón nữa tao cắn ra để thề
giết thằng quốc tặc rồi!
Tháo sai mang dao chặt nốt chín
ngón tay Bình và bảo:
- Cắt cả để cho mày ăn thề!
Bình nói:
- Mất tay, ta hãy còn mồm để nuốt
giặc, còn lưỡi để chửi giặc.
Tháo sai lính lấy dao cắt lưỡi.
Bình nói:
- Hãy thong thả! Chịu hình không
nổi, cởi trói ra để ta xưng.
Tháo nói:
- Thả chẳng ngại gì!
Bèn sai cởi trói ra. Bình đứng dậy
quay mặt về cửa khuyết, thụp xuống lạy, và nói:
- Tôi nay không giết được giặc để
cứu nước, cũng là số trời.
Lạy xong, đập đầu xuống thềm mà
chết. Tháo sai xé thây ra để hiệu lệnh. Bấy giờ là tháng giêng, năm thứ năm,
niên hiệu Kiến An.
Sử quan có thơ rằng:
Thầy thuốc có Xưng Bình
Xin thề trừ gian đảng
Liều thân báo thánh minh
Cực hình không chịu khuất,
Chết thảm vẫn như sinh.
Mười ngón đầm đìa máu
Muôn thuở còn lưu danh.
Tháo thấy Cát Bình đã chết, sai
lính dẫn Khánh Đồng vào. Tháo hỏi:
- Quốc cữu dễ cũng biết người này
chứ?
Thừa giận quát lên rằng:
- Quân đầy tớ đi trốn sao lại về
đây, nên đem giết đi!
Tháo nói:
- Người ấy tố cáo kẻ làm phản,
nay đến đối chứng, ai dám giết?
Thừa nói:
- Sao thừa tướng lại để tai nghe
lời một đứa đi trốn?
Tháo nói:
- Bọn Vương Tử Phục ta đã bắt cả,
chúng đã cung xưng rõ ràng, mày còn chối à?
Lập tức sai tả hữu lôi Đổng Thừa
xuống, cho lính vào khám xét chỗ buồng nằm, tìm được tờ mật chiếu khâu trong
đai và tờ nghĩa trạng. Tháo đọc xong, cười nói:
- Lũ chuột, sao dám làm như thế?
Rồi sai bắt cả nhà Đổng Thừa tống
giam, không để cho một người nào chạy thoát.
Tháo về phủ đem tờ chiếu và tờ trạng
cho các mưu sĩ xem, bàn muốn bỏ Hiến đế, lập vua khác.
Thế thực là:
Một mảnh thư thề xảy vạ to!
Chưa biết tính mệnh Hiến đế ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Người có danh vọng.
- ▲ Chức sứ giả.
- ▲ Bốn câu đầu đại ý nói lúc loạn phải cần người hiền.
- ▲ Chỉ Hán Vũ đế, đời có nhiều nhân tài.
- ▲ Tang Hoằng Dương, một nhà giỏi về kế toán tài chính;
Trương An Thế, một người có tài nhớ lâu, cái gì đã xem, không bao giờ
quên.
- ▲ Nhâm Toạ người đời Chiến quốc, làm quan nước Nguỵ,
tính rất trung trực, thường kể những lỗi lầm của vua nước Nguỵ không hề
kiêng nể. Sử Ngư đời Xuân thu, làm quan nước Vệ, liều chết can vua nước Vệ.
- ▲ Giả Nghị người đời Tây Hán, muốn sang sứ Nung Nô dụ
chúa Thiền Vu.
- ▲ Chung Quân đi sứ Nam Việt dụ được Triệu Uý Đà.
- ▲ Tên một toà sao trên trời; chỉ triều đình nhà vua.
- ▲ Cầu vồng và mống.
- ▲ Chỗ Ngọc hoàng thượng đế ở.
- ▲ Tên hai khúc nhạc hay.
- ▲ Tên hai người đời xưa sành xem tướng ngựa.
- ▲ Tam giáo: đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật; Cửu lưu;
Nho giáo, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Mặc gia, Pháp gia, Tung hoành
gia, Tạp gia, Nông gia.
- ▲ Tên một điệu nhạc bi đát.
- ▲ Nguyên văn là khoả trùng: con tò vò.
- ▲ Đời trước, theo 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão,… gọi cả
ngày đêm là 12 giờ.
Quốc tặc hành hung giết quý phi
Hoàng thúc thua chạy sang Viên Thiệu
Tào Tháo xem chiếu xong, bàn với
các mưu sĩ muốn bỏ Hiến đế đi, tìm người nào có đức lập nên. Trình Dục can rằng:
- Minh công sở dĩ oai khắp bốn
phương, hiệu lệnh được thiên hạ, cũng là bởi phụng danh hiệu nhà Hán. Nay minh
công chưa dẹp được các chư hầu, mà làm ngay việc phế lập, tất là gây cái cớ cho
thiên hạ khởi binh đó.
Tháo mới thôi, chỉ đem bọn Đổng
Thừa năm người và già trẻ mấy họ ấy, điệu ra các cửa thành chém hết. Cả thảy bảy
trăm người bị tàn sát. Quan dân trong thành ai trông thấy cũng ứa nước mắt.
Đời sau có thơ than Đổng Thừa rằng:
Lời vua cửa cấm truyền
Công to từng cứu giá
Nay lại đội ơn trên
Nạn nước lo thành bệnh
Trừ gian mộng chẳng quên
Chớ kể thành hay bại
Nghìn thu trung nghĩa bền!
Lại có thơ than bọn Vương Tử Phục bốn người rằng:
Ký tên mảnh lụa phận tôi conKhảng khái mong đền nghĩa bể non
Trăm miệng khá thương buồng mật đỏ
Nghìn năm còn mãi tấm lòng son
Tào Tháo giết bọn Đổng Thừa rồi,
cũng chưa nguôi hết cơn giận, đeo gươm vào cung để giết Đổng quý phi. Quý phi
là em gái Đổng Thừa đã có mang năm tháng.
Hôm ấy, vua ngồi trong hậu cung,
đang cùng với Phục hoàng hậu bàn việc Đổng Thừa, chưa biết tin tức làm sao. Bỗng
thấy Tào Tháo đeo gươm vào cung, mặt hầm hầm giận, vua sợ thất sắc, Tháo hỏi:
- Đổng Thừa mưu làm phản, bệ hạ
biết không?
Vua tảng nghe nhãng, nói:
- Đổng Trác đã bị giết rồi kia
mà!
Tháo quát to:
- Không phải Đổng Trác, mà là Đổng
Thừa!
Vua run cầm cập nói:
- Trẫm thực không biết.
Tháo lại hỏi:
- Cắn ngón tay lấy máu viết mật
chiếu, đã quên rồi à?
Vua không biết trả lời thế nào.
Tháo thét võ sĩ bắt Đổng phi đến. Vua vội vàng nói:
- Đổng phi có mang năm tháng, xin
thừa tướng thương cho.
Tháo nói:
- Nếu không phải lòng trời làm
cho mưu gian bại lộ, thì ta đã bị hại rồi. Há lại cho đứa con gái này sống để
gây vạ về sau cho ta.
Phục hậu nói:
- Xin hãy đem Đổng phi giam ra
ngoài lãnh cung, cho nó sinh nở xong giết cũng chưa muộn.
Tháo nói:
- Muốn lưu cái giống nghịch ấy lại
để về sau báo thù cho mẹ hay sao?
Đổng phi khóc nói:
- Xin cho vẹn toàn thân thể mà chết,
đừng lột áo xống.
Tháo sai đem tấm lụa trắng đến để
trước mặt Đổng phi. Vua khóc bảo phi:
- Ái khanh xuống suối vàng đừng
có oán trẫm!
Nói xong khóc như mưa, Phục hậu
cũng nức nở khóc.
Tháo giận nói:
- Lại còn giở cái thói đàn bà con
trẻ à?
Rồi quát võ sĩ đưa Đổng phi ra thắt
cổ ở cửa cung.
Người sau có thơ than rằng:
Trứng rồng tan vỡ đáng thương ôi
Đường đường đế chủ không sao cứu
Che mặt nhìn suông nước mắt trôi
Tào Tháo giết Đổng phi rồi truyền
lệnh cho quân giữ cung rằng:
- Từ nay về sau những người ngoại
thích và tôn tộc nhà vua không được phép ta mà tự tiện vào cung thì cứ chém. Những
người canh giữ không cẩn thận cũng bị tội như thế.
Tháo lại sai ba nghìn quân tâm
phúc sung làm quân ngự lâm, cho Tào Hồng thống lĩnh để đề phòng và tra xét.
Tháo lại bảo Trình Dục rằng:
- Nay bọn Đổng Thừa tuy đã bị giết,
nhưng còn Mã Đằng, Lưu Bị là những người còn sót ở trong bọn ấy, không trừ
không xong.
Dục nói:
- Mã Đằng hiện đóng quân ở Tây
Lương, chưa dễ trừ được. Nên đưa thư uý lạo, đừng cho họ sinh nghi, rồi dụ vào
kinh đô, sẽ tìm cách trị. Còn Lưu Bị, hiện ở Từ Châu, chia quân giữ thế ỷ giốc,
cũng không nên khinh địch. Vả lại Viên Thiệu đóng quân ở Quan Độ, thường có ý
dòm ngó Hứa Đô. Nếu ta đánh Lưu Bị, Bị tất nhiên sẽ cầu cứu Viên Thiệu, Thiệu sẽ
nhân dịp kinh đô bỏ trống, đem quân đến đánh úp thì làm thế nào?
Tháo nói:
- Lưu Bị là kẻ hào kiệt, nếu
không đánh ngay, đợi nó thành vây cánh rồi, thì khó lòng trị nổi. Viên Thiệu dẫu
bây giờ thế mạnh, nhưng làm việc hay hồ nghi rụt rè, không đáng sợ.
Trong khi đang bàn luận, Quách
Gia ở ngoài vào. Tháo hỏi:
- Ta muốn sang đánh Lưu Bị, lại sợ
Viên Thiệu thì làm thế nào?
Gia nói:
- Thiệu tính chậm chạp mà lại đa
nghi; bọn mưu sĩ ghen ghét lẫn nhau, có lo ngại gì. Lưu Bị mới sửa sang quân bị,
lòng người chưa phục, bây giờ thừa tướng cứ đem binh sang đánh, chỉ một trận là
xong.
Tháo mừng lắm:
- Chính hợp ý ta lắm!
Rồi khởi hai mươi vạn quân chia
làm năm đường đi đánh Từ Châu.
Quân do thám về Từ Châu báo tin.
Tôn Càn trước hết đến Hạ Phì. Huyền Đức bàn với Tôn Càn:
- Ta phải đến Viên Thiệu cầu cứu
mới giải thoát được nguy này.
Liền viết một phong thư sai Tôn
Càn đến Hà Bắc. Càn đến gặp Điền Phong trước, nói rõ tình đầu, nhờ tiến dẫn hộ.
Phong dẫn Càn vào yết kiến Viên Thiệu, dâng thư.
Phong thấy Viên Thiệu hình dong
tiều tuỵ, áo mũ xốc xếch bèn hỏi:
- Hôm nay chúa công làm sao thế?
Thiệu nói:
- Ta sắp chết đây!
Phong ngạc nhiên quá hỏi:
- Sao chúa công lại nói thế!
Thiệu nói:
- Ta sinh được năm con, duy có thằng
út là vừa ý ta! Nay bị ghẻ lở sắp chết, ta còn bụng nào nghĩ đến việc khác nữa?
Phong nói:
- Nay Tào Tháo sang đông đánh Lưu
Bị, Hứa Xương bỏ không, nếu ta cất ngay nghĩa binh, thừa cơ tiến vào, trên giúp
thiên tử, dưới giúp muôn dân, đó là cơ hội không mấy khi gặp. Xin minh công xét
cho.
Thiệu nói:
- Ta cũng biết thế là hay, nhưng
trong bụng đương bối rối thế này, sợ đi có điều bất lợi chăng?
Phong nói:
- Việc gì mà bối rối?
Thiệu nói:
- Trong năm thằng con, chỉ có thằng
này là kỳ khôi hơn cả, nếu có điều gì, ta cũng chết mất.
Thiệu nhất quyết không cất quân
và bảo Tôn Càn:
- Ngươi về gặp Huyền Đức nói rõ
duyên cớ như thế. Nhỡ ra có điều gì không được như ý, cứ lại đây, ta sẽ giúp
cho.
Điền Phong lấy gậy đập xuống đất
và nói:
- Gặp được dịp may mắn thế này, lại
lấy nê đứa trẻ ốm, bỏ mất cơ hội, khá tiếc lắm thay!
Rồi giẫm chân, thở dài, đi ra.
Tôn Càn thấy Viên Thiệu không chịu
cất quân, vội vàng về ngay Tiểu Bái trình với Huyền Đức. Huyền Đức sợ lắm, nói:
- Như thế thì làm thế nào?
Trương Phi nói:
- Huynh trưởng chớ lo. Quân Tào
đi đường xa, tất nhiên mỏi mệt. Ta nhân lúc mới đến, đi cướp trại ngay làm gì
không phá tan được.
Huyền Đức nói:
- Ta vẫn tưởng em chỉ là một dũng
phu, nhưng ngày nọ bắt Lưu Đại, đã biết dùng mẹo; nay bày kế này cũng hợp binh
pháp.
Bèn nghe lời Trương Phi, chia
quân đi cướp trại.
Tào Tháo vừa đem quân đến Tiểu
Bái. Lúc đang đi đường, bỗng có cơn dông nổi lên, chợt nghe đánh ầm một tiếng,
một lá nha kỳ bị gãy. Tháo truyền lệnh cho quân sĩ dừng lại, rồi họp các mưu sĩ
hỏi điềm lành dữ làm sao. Tuân Úc hỏi:
- Gió từ phương nào đến? Lá cờ
gãy sắc gì?
Tháo nói:
- Gió từ mé đông nam lại, thổi
gãy một lá nha kỳ, sắc cờ vừa xanh vừa đỏ.
Úc tính một lát rồi thưa:
- Đêm nay tất Lưu Bị đến cướp trại.
Tháo gật đầu, chợt có Mao Giới
vào trình:
- Vừa rồi gió đông nam thổi gãy
lá nha kỳ xanh đỏ, chúa công bảo là điềm lành hay dữ?
Tháo không nói, hỏi:
- Ông nghĩ thế nào?
Mao Giới thưa:
- Tôi thiết nghĩ đêm nay tất có
người đến cướp trại.
Có thơ rằng:
Cướp trại còn mong một chút công
Cờ gãy báo điềm cho biết trước
Trời già sao tựa đứa gian hùng
Tháo nói:
- Điềm trời đã báo trước, ta nên
đề phòng cẩn thận.
Bèn chia quân làm chín đội, chỉ để
một đội đi lên trước, lập trại bỏ trống, còn tám mặt thì chia quân mai phục.
Đêm hôm ấy, trăng sáng lờ mờ, Huyền
Đức bên tả, Trương Phi bên hữu, chia quân làm hai đội kéo đến, chỉ để một mình
Tôn Càn giữ Tiểu Bái.
Trương Phi tự lấy làm đắc kế,
lĩnh quân khinh kỵ đi trước, xông ngay vào trại Tào Tháo, chỉ thấy lơ thơ quân
mã, bốn mặt lửa cháy sáng rực, tiếng reo rầm rĩ. Phi biết là trúng kế, vội vàng
chạy ra thì đông Trương Liêu, tây Hứa Chử, nam Vu Cấm, bắc Lý Điển, đông nam Từ
Hoảng, tây nam Nhạc Tiến, đông bắc Hạ Hầu Đôn, tây bắc Hạ Hầu Uyên, quân mã tám
mặt đánh dồn lại. Trương Phi xông bên nọ xáo bên kia, che đằng trước đỡ đằng
sau. Quân Trương Phi vốn là thủ hạ cũ của Tào Tháo, thấy thế đã nguy, đầu hàng
Tháo hết. Khi đang xung đột gặp ngay Từ Hoảng. Phi đánh nhau với Hoảng, đằng
sau Nhạc Tiến lại kéo đến. Phi đánh riết mở một đường máu, chỉ còn có vài mươi
tên kỵ mã đi theo. Phi muốn về Tiểu Bái, nhưng đường đi nghẽn mất rồi. Muốn
sang Từ Châu hay Hạ Phì, lại sợ quân Tào chẹn đường. Nghĩ mãi không biết đi đằng
nào, phải chạy về phía núi Mang Đãng.
Còn Huyền Đức cũng dẫn quân đến
cướp trại Tào, khi gần đến cửa trại, nghe thấy tiếng reo, sau trại có một toán
quân xông ra, chẹn ngay mất một nửa quân mã. Hạ Hầu Đôn lại kéo quân đến. Huyền
Đức vội vàng chạy ra, Hạ Hầu Uyên từ đằng sau đuổi lại. Huyền Đức ngoảnh lại,
chỉ thấy có hơn ba mươi tên kỵ mã chạy theo. Muốn chạy về Tiểu Bái; muốn về Từ
Châu, Hạ Phì, lại thấy quân Tào khắp núi đầy đồng nghẽn cả đường đi. Huyền Đức
không còn đường nào về, bụng nghĩ:
- Viên Thiệu trước đó có dặn ngộ
sau này có điều gì bất như ý thì sang đó mà nương tựa. Hay là nay ta hãy chạy
sang đấy, tạm làm chỗ nương thân, rồi sẽ liệu kế khác về sau.
Nói rồi quay ngựa chạy về Thanh
Châu. Đương đi lại gặp Lý Điển chẹn đường, Huyền Đức một mình một ngựa lạc lõng
chạy về phía bắc, những tên kỵ mã đi theo, đều bị Lý Điển bắt mất cả.
Lưu Bị một mình một ngựa, đi ba
trăm dặm tới Thanh Châu, đến dưới thành gọi cửa. Quân canh hỏi tên họ, rồi vào
báo với thứ sử. Thứ sử là con cả Viên Thiệu, tên là Viên Đàm. Đàm vốn kính phục
Huyền Đức, nghe thấy Huyền Đức một mình cưỡi ngựa đến, vội vàng mở cửa ra đón,
mời vào công đường, hỏi rõ duyên cớ. Huyền Đức kể hết sự tình. Đàm mời Huyền Đức
nghỉ trong nhà khách, rồi viết thư báo cho bố biết, một mặt sai quân mã hộ tống
Huyền Đức đến Bình Nguyên. Viên Thiệu tự đem quân ra khỏi Nghiệp Quận ba mươi dặm
đón rước, Huyền Đức lạy tạ, Thiệu vội vàng đáp lễ, nói:
- Bữa nọ vì đứa trẻ sài ghẻ,
không đến cứu viện được, trong bụng rất là áy náy không yên. Nay may được gặp
nhau, thực là được thoả lòng ái mộ bấy nay.
Huyền Đức nói:
- Bị nay cô cùng, vẫn muốn nương
nhờ dưới cửa ngài, nhưng chưa gặp được cơ hội nào. Nay bị Tào Tháo đến đánh, vợ
con đều bị thất lạc, nghĩ rằng tướng quân rộng lượng dung nạp kẻ sĩ bốn phương,
cho nên cũng chẳng ngại thẹn thùng, xin đến nương nhờ, mong tướng quân thu dụng,
thế nào tôi cũng xin có ngày báo đáp lại.
Thiệu mừng lắm, khoản đãi rất hậu,
rồi mời về Ký Châu.
Tào Tháo đương đêm lấy được thành
Tiểu Bái, liền cho tiến quân ngay đi đánh Từ Châu. My Chúc và Giản Ung giữ
thành không nổi, đành bỏ thành chạy trốn. Trần Đăng dâng ngay Từ Châu. Tào kéo
quân vào thành phủ dụ dân chúng, rồi gọi các mưu sĩ bàn mưu lấy Hạ Phì.
Tuân Úc nói:
- Vân Trường trông nom vợ con Huyền
Đức, tất cố chết giữ thành. Ta không lấy ngay, e sẽ bị Viên Thiệu cướp mất.
Tháo nói:
- Ta vẫn mến tài võ nghệ của Vân
Trường, chỉ mong được hắn về với ta. Sao bằng hãy cho người dụ hắn quy hàng.
Quách Gia nói:
- Vân Trường là người nghĩa khí,
chắc không chịu hàng, sai người đến dụ không khéo bị hại.
Dưới trướng có một người bước ra
nói:
- Tôi cùng Quan Vũ có hơi quen
nhau, xin đi dụ.
Các tướng ngoảnh lại xem ai, thì
là Trương Liêu.
Trình Dục nói:
- Văn Viễn tuy quen Vân Trường,
nhưng tôi e người ấy không phải lấy lời mà dụ được. Tôi có một kế làm cho Vân
Trường tiến lui không còn đường nào, bấy giờ Văn Viễn hãy đến dụ, Vân Trường tất
phải về với thừa tướng.
Ấy là:
Mắc sẵn mồi thơm giật cá ngao
Chưa biết mẹo Trình Dục ra làm
sao, xem đến hồi sau phân giải.
Đóng Thổ Sơn, Quan Công giao ước ba việc
Cứu Bạch Mã, Tào Tháo thoát khỏi vòng vây
Trình Dục dâng kế rằng:
- Vân Trường sức địch muôn người,
phi dùng mưu trí không sao đánh nổi. Nay nên sai một số quân của Lưu Bị mới
hàng vào Hạ Phì ra mắt Quan Vũ, nói dối là trốn về được, cho phục ở trong thành
làm nội ứng; rồi dử Quan Vũ ra đánh nhau, ta giả cách thua chạy, dử hắn ra nơi
khác, đem tinh binh chẹn hẳn đường về, bấy giờ mới có thể dụ hắn quy hàng.
Tháo theo kế ấy, cho ngay vài chục
hàng binh đến Hạ Phì vào hàng Quan Công. Quan Công cho là quân cũ, không hồ
nghi gì cả.
Hôm sau Hạ Hầu Đôn lĩnh năm nghìn
quân đến thách đánh. Quan Công không ra. Đôn sai quân ở dưới thành sỉ nhục mắng
nhiếc. Quan Công mới nổi giận dẫn ba nghìn quân ra ngoài thành giao chiến. Đánh
được hơn mười hiệp, Hạ Hầu Đôn quay ngựa chạy. Quan Công đuổi miết, Đôn vừa
đánh vừa chạy.
Quan Công đuổi được độ hai mươi dặm,
sợ Hạ Phì không có ai giữ nổi, kéo quân trở về. Bỗng nghe một tiếng pháo nổ,
bên tả có Từ Hoảng, bên hữu có Hứa Chử, hai đạo quân chẹn ngang đường đi. Quan
Công cứ cắm đầu chạy về, quân phục hai bên lại đổ ra, nỏ cứng trăm chiếc bắn
tên như châu chấu. Quan Công không thể nào đi được, phải quay ngựa lại. Từ Hoảng,
Hứa Chử lại đón đánh. Quan Công cố hết sức đánh lui hai người, đang định dẫn
quân về Hạ Phì, Hạ Hầu Đôn lại đánh chặn lại. Quan Công đánh mãi đến chiều,
không có đường về, phải lên quả núi đất đóng quân tạm nghỉ. Quân Tào kéo đến, lần
lượt vây vòng quanh quả núi đất.
Quan Công đứng trên ngọn núi,
trông xa về Hạ Phì, thấy trong cửa thành lửa cháy ngùn ngụt. Đó là những quân
trá hàng mở trộm cửa thành, Tào Tháo dẫn quân vào, rồi lại đốt lửa lên để làm
cho Quan Công trông thấy rối ruột.
Quan Công thấy thành Hạ Phì lửa
cháy, trong lòng lo sợ, đang đêm mấy lần xông xuống núi đều bị tên bắn phải
quay lại.
Đến sáng, đang sắp sửa xông xuống
chân núi, chợt có một tướng tế ngựa trèo lên, nhìn ra là Trương Liêu.
Quan Công đón hỏi:
- Văn Viễn đến đây định đánh nhau
với ta chăng?
Liêu đáp:
- Đâu phải thế! Liêu này nghĩ
tình cố nhân ngày xưa, lên đây gặp nhau đó thôi.
Nói rồi bỏ đao xuống ngựa, thi lễ
xong, ngồi trên đỉnh núi nói chuyện.
Quan Công nói:
- Văn Viễn đến dụ mỗ chăng?
Liêu đáp:
- Không phải thế! Ngày trước nhờ
anh cứu em, ngày nay sao em lại không cứu anh?
Quan Công nói:
- Thế Văn Viễn đến đây định giúp
ta chăng?
Liêu nói:
- Cũng không phải.
Quan Công nói:
- Nếu không giúp ta, thì đến làm
gì?
Liêu nói:
- Huyền Đức không biết còn hay mất;
Dực Đức không biết sống hay chết. Đêm qua Tào công đã phá được Hạ Phì, quân dân
đều an toàn. Tào công lại sai người giữ gìn gia quyến Huyền Đức, cấm không cho
ai vào quấy nhiễu, đối đãi thực tử tế, em đến để báo tin cho anh biết.
Quan Công giận nói:
- Thế là đến dụ ta, nay tuy hết
đường đất, ta vẫn coi cái chết như không. Ngươi đi ngay, ta sẽ xuống chân núi
đánh nhau bây giờ.
Trương Liêu cười nói:
- Anh nói thế, không sợ thiên hạ
người ta cười cho à?
Quan Công nói:
- Ta vì trung nghĩa mà chết,
thiên hạ sao lại cười ta?
Liêu nói:
- Anh chết bây giờ thì mắc ba tội.
Quan Công hỏi:
- Ba tội là những tội gì?
Liêu nói:
- Khi trước Lưu sứ quân cùng anh
kết nghĩa, có thể với nhau cùng sống thác. Nay sứ quân vừa mới thua, mà anh đi
đánh liều cố lấy cái chết, nếu sứ quân hãy còn, muốn tìm anh mà không tìm thấy,
chẳng hoá ra phụ lời thề năm trước ru? Thế là một tội. Lưu sứ quân đem vợ con
phó thác cho anh, anh nay liều mình chịu chết, hai phu nhân nương tựa vào đâu,
há chẳng phụ lời phó thác của Lưu sứ quân ru? Thế là hai tội. Đại huynh võ nghệ
siêu quần, tinh thông kinh sử, không nghĩ cùng sứ quân giúp nhà Hán, lại tự nhảy
vào nước sôi lửa cháy, mua lấy cái tiếng mạnh bạo của một kẻ vũ phu, sao gọi là
nghĩa? Thế là ba tội. Anh mắc ba tội ấy nên em phải bảo.
Quan Công ngồi nghĩ một lúc, rồi
nói:
- Ngươi nói ta ba tội ấy, thế
ngươi muốn bảo ta phải làm thế nào?
Liêu nói:
- Nay bốn mặt đều là quân Tào
công vây kín cả. Nếu anh không hàng thì phải chết. Chết mà vô ích thì hãy hàng
đi, rồi sẽ nghe ngóng tin tức Lưu Huyền Đức. Khi biết được sứ quân ở đâu, bấy
giờ lại đi theo, một là bảo toàn được hai phu nhân, hai là không trái ước vườn
đào, ba là lưu lại được cái thân hữu dụng. Có ba điều tiện như thế, xin anh
nghĩ lại cho kỹ.
Quan Công nói:
- Anh nói ba điều tiện, tôi cũng
có ba điều giao ước. Nếu thừa tướng nghe cho, tôi xin lập tức cởi giáp lại
hàng; nhược bằng không nghe, tôi đành chịu ba tội mà chết.
Liêu nói:
- Thừa tướng đại lượng khoan hồng,
thế nào chắc ngài cũng nghe, xin cho biết ba điều ước.
Quan Công nói:
- Một là: ta đã cùng hoàng thúc
xin thề cùng nhau giúp nhà Hán, nay ta chỉ hàng vua nhà Hán, không hàng Tào
Tháo. Hai là: hai chị dâu ta phải được cấp dưỡng theo bổng lộc của hoàng thúc,
nhất thiết người ngoài không ai được đến cửa. Ba là: hễ ta nghe thấy hoàng thúc
ở đâu, không quản trăm dặm nghìn dặm, lập tức ta cáo từ, rồi đi theo. Ba điều ấy
nếu thiếu một điều ta nhất định không hàng, xin Văn Viễn mau mau về trình với
thừa tướng.
Trương Liêu thưa vâng, lên ngay
ngựa về gặp Tào Tháo, trước hết nói việc hàng Hán không hàng Tháo. Tháo nói:
- Ta là tướng nhà Hán, Hán tức là
ta. Việc ấy theo được.
Liêu lại xin cho hai phu nhân được
hưởng lộc của hoàng thúc và không ai được vào đến cửa.
Tháo nói:
- Ta sẽ cấp cho gấp hai lương bổng
của hoàng thúc. Còn như việc nghiêm cấm trong ngoài, vốn là gia pháp phải thế,
việc gì phải nói nữa.
Liêu mới nói đến khoản thứ ba: hễ
khi nào biết tin Huyền Đức ở đâu, dù xa thế nào cũng đi theo ngay.
Tháo lắc đầu nói:
- Thế thì ta nuôi Vân Trường để
làm gì? Việc này khó theo đấy.
Liêu nói:
- Thừa tướng không nhớ lời bàn
chúng nhân và quốc sĩ của Dự Nhượng[1] ngày xưa hay sao? Như
Huyền Đức đãi Quan Vũ chẳng qua chỉ lấy hậu ân mà thôi. Nay thừa tướng đối đãi
thật hậu hơn, lo gì Quan Vũ chẳng phục?
Tháo nói:
- Văn Viễn nói chí phải. Ta ưng cả
ba điều.
Liêu vội lên núi bảo cho Quan
Công biết, Quan Công nói:
- Đã đành như thế rồi, xin thừa
tướng hãy tạm lui binh, để tôi vào thành bẩm với hai chị, rồi sau mới xin hàng.
Liêu về bẩm lại, Tháo liền truyền
lệnh lui quân ba mươi dặm. Tuân Úc nói:
- Không nên, e nó nói dối.
Tháo nói:
- Vân Trường là người nghĩa sĩ,
chắc không thất tín.
Rồi cứ truyền lệnh rút quân.
Quan Công dẫn binh vào thành, thấy
nhân dân yên ổn cả, đến ngay vào phủ, vào yết kiến hai chị. Cam, My, hai phu
nhân nghe Quan Công đã về, vội ra đón vào. Quan Công lạy ở dưới thềm, nói:
- Để cho hai chị sợ hãi ấy là tội
em.
Hai phu nhân hỏi:
- Hoàng thúc bây giờ ở đâu?
Quan Công nói:
- Không biết ở đâu.
Hai phu nhân lại hỏi:
- Bây giờ chú định thế nào.
Quan Công nói:
- Em ra thành đánh nhau, bị vây ở
trên núi, Trương Liêu khuyên em ra hàng, em có ước ba điều, Tào Tháo nghe cả
ba, nên mới rút quân, để em vào thành. Em chưa được biết ý định của hai chị,
chưa dám tự tiện.
Hai phu nhân hỏi:
- Ba điều ước là những điều gì?
Quan Công thuật rõ lại ba điều ước.
Cam phu nhân nói:
- Hôm trước quân Tào vào thành,
chúng tôi tưởng là chết cả, ai ngờ cái tơ cái tóc không động đến; một đứa quân
cũng không dám vào cửa. Nay chú đã hứa với người, không cần phải hỏi lại chúng
tôi. Chỉ sợ Tào Tháo về sau không để cho chú đi tìm hoàng thúc thôi.
Quan Công nói:
- Xin hai chị yên tâm, em đã có
chủ ý.
Hai phu nhân nói:
- Chú cố lo liệu, bất tất phải hỏi
bọn đàn bà chúng tôi.
Quan Công từ tạ trở ra, dẫn vài
mươi tên kỵ mã đến ra mắt Tào Tháo; Tháo ra ngoài nha môn tiếp vào. Quan Công
xuống ngựa vào lạy, Tháo vội vàng đáp lễ, Quan Công nói:
- Tôi là bại tướng, không bị giết,
đội ơn ngài nhiều lắm.
Tháo nói:
- Tôi vốn mến Vân Trường là người
trung nghĩa, nay được trông thấy, thực là hả lòng mong mỏi bấy nay.
Quan Công nói:
- Văn Viễn bẩm cho ba việc, đã được
thừa tướng ưng thuận, chắc là thừa tướng không sai lời.
Tháo đáp:
- Ta đã nói quyết không thất tín.
Quan Công lại thưa:
- Nếu tôi biết được hoàng thúc ở
đâu, dù lên thác xuống ghềnh, lăn sông, qua lửa cũng phải đi theo. Bấy giờ sợ
không kịp bái từ, xin thừa tướng lượng thứ cho.
Tháo đáp:
- Huyền Đức nếu còn sống, ông cứ
đi theo. Nhưng chỉ sợ Huyền Đức mất trong loạn quân rồi. Ông cứ yên tâm, nghe
ngóng xem đã.
Quan Công lạy tạ.
Tháo mở tiệc yến khoản đãi. Hôm
sau rút quân về Hứa Xương. Quan Công thu xếp ra trượng, mời hai chị lên xe, tự
mình đi hộ vệ. Khi đi đường, nghỉ ở xá, Tháo muốn làm rối loạn lễ vua tôi, để
Quan Công và hai chị dâu cùng ở một nhà. Quan Công cầm đuốc đứng hầu ngoài cửa,
tự tối đến sáng, sắc mặt không lúc nào có dáng mỏi mệt. Tào Tháo thấy thế lại
càng kính phục. Về đến Hứa Xương, Tháo sai sửa sang ngay thừa phủ để Quan Công ở.
Quan Công chia một nhà làm hai viện, viện trong sai mười người lính già canh cửa.
Quan Công thì ở nhà ngoài. Tháo dẫn Quan Công vào chầu vua Hiến đế. Vua cho làm
thiên tướng quân; Quan Công tạ ơn rồi về.
Hôm sau, Tháo mở tiệc lớn, hội cả
mưu thần võ sĩ, lấy lễ khách đãi Quan Công, mời đến ngồi trên; lại tặng gấm vóc
và những đồ vàng bạc, Quan Công đem về nhờ hai chị thu giữ.
Từ khi Quan Công đến Hứa Xương,
Tháo đãi rất hậu. Ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn; lại đưa mười người
con gái đẹp để hầu. Quan Công đều đưa vào nhà trong để hầu hai chị. Cứ ba ngày
một lần đứng cửa ngoài chắp tay kính cẩn, hỏi thăm sức khoẻ hai chị.
My phu nhân hỏi thăm về tin tức
hoàng thúc, bao giờ hỏi xong cũng nói: “Chú cứ tuỳ tiện”. Bấy giờ Quan Công mới
dám lui về.
Tháo nghe thấy thế càng kính phục
lắm.
Một hôm thấy Quan Công mặc áo chiến
bào bằng gấm xanh, đã cũ bạc, Tháo truyền ngay lệnh đo người Quan Công, may một
chiếc khăn chiến bào bằng gấm thực quý để tặng. Quan Công lĩnh lấy, mặc vào
trong, rồi lại lấy áo cũ mặc phủ ra ngoài.
Tháo cười mà nói rằng:
- Vân Trường hà tiện quá!
Quan Công đáp:
- Bẩm không phải là hà tiện. Áo
cũ của Lưu hoàng thúc cho, tôi mặc ở ngoài như nhìn thấy mặt anh, dám đâu vì
cái mới của thừa tướng vừa ban cho mà đã quên cái cũ của anh tôi đã cho từ trước,
nên phải mặc áo cũ ra ngoài là thế.
Tháo khen:
- Thực là nghĩa sĩ!
Miệng tuy khen, nhưng Tháo không
bằng lòng.
Một bữa Quan Công đang ở trướng
phủ, chợt có người báo:
- Hai phu nhân ở nhà trong, tự
dưng khóc lăn cả xuống đất, mời tướng quân vào ngay.
Quan Công mặc áo tử tế, vào quỳ
ngoài cửa nhà trong, hỏi:
- Hai chị có việc chi mà than
khóc?
Cam phu nhân nói:
- Đêm hôm qua tôi mơ thấy hoàng
thúc bị hãm ở dưới hố đất, tỉnh dậy bàn với My phu nhân, e rằng hoàng thúc đã ở
dưới chín suối, cho nên thương khóc.
Quan Công nói:
- Việc mộng mị không nên tin. Vì
hai chị tưởng nhớ, nên mơ thấy thế, xin hai chị đừng lo nghĩ.
Đương chuyện trò, có sứ Tào Tháo
đến mời Quan Công vào phủ ăn yến.
Quan Công cáo từ hai chị, đến gặp
Tào Tháo. Tháo thấy Quan Công có ngấn nước mắt, hỏi cớ làm sao. Quan Công nói:
- Hai chị tôi nhớ anh tôi mà than
khóc, cho nên tôi cũng động lòng.
Tháo cười, lấy lời khuyên giải, mời
uống rượu luôn. Quan Công uống say, vuốt râu nói:
- Sống không báo được ân nhà nước,
lại phụ cả anh, cũng là người bỏ đi.
Tháo hỏi:
- Râu Vân Trường ước được bao
nhiêu sợi?
Quan Công thưa:
- Được độ vài trăm sợi, cứ mỗi
năm đến mùa thu lại rụng mất dăm ba cái; đến mùa đông phải lấy cái túi the thâm
bọc lấy, để cho nó đỡ rụng.
Tháo sai ngay lấy gấm may một cái
túi, biếu Quan Công để bọc râu.
Sáng sớm hôm sau Quan Vũ vào chầu
vua.
Vua thấy trước ngực đeo một cái
túi gấm, phán hỏi. Quan Công tâu rằng:
- Râu tôi hơi dài, thừa tướng cho
túi để bọc lại.
Vua sai đứng trước điện mở ra vuốt
xem, thì thấy râu dài quá bụng. Vua phán rằng:
- Thực là ông tốt râu!
Từ đấy ai cũng gọi Quan Công là
“Ông tốt râu”.
Một hôm Tháo mời Quan Công ăn yến.
Lúc tiệc tan, tiễn Quan Công ra đến cửa tướng phủ, thấy ngựa Quan Công gầy quá,
Tháo hỏi:
- Ngựa ông sao gầy thế?
Quan đáp:
- Người tôi hơi nặng, ngựa không
mang nổi, bởi thế nên nó gầy.
Tháo sai tả hữu ra chọn một con
ngựa. Một lát dắt đến. Con ngựa ấy sắc đỏ như lửa, trông dáng rất hùng dũng.
Tháo trỏ ngựa hỏi:
- Ông biết con ngựa này không?
Quan Công nói:
- Bẩm có phải là ngựa Xích thố của
Lã Bố vẫn cưỡi khi xưa không?
Tháo nói:
- Chính phải!
Rồi truyền thắng đủ yên cương,
đưa tặng Quan Công. Quan Công lạy hai lạy tạ ơn. Tháo không bằng lòng nói:
- Ta mấy lần đem con gái đẹp,
vàng, bạc tặng ông, ông không lạy tạ bao giờ. Nay ta cho con ngựa lại tạ ta hai
lạy. Sao lại khinh ngươi khinh của mà quý một con súc vật thế?
Quan Công đáp:
- Tôi biết ngựa này một ngày đi
được nghìn dặm, nay thừa tướng cho tôi, nếu biết được anh tôi ở đâu, có thế một
ngày được thấy mặt nhau.
Tháo nghe nói, ngạc nhiên, nghĩ lại
mà hối.
Quan Công cáo từ ra về.
Đời sau có thơ rằng:
Một viện chia đôi nghĩa khí cao.
Gian tướng uổng công chiều chuộng hão,
Biết đâu Quan Vũ chẳng hàng Tào?
Tháo hỏi Trương Liêu:
- Ta đãi Vân Trường rất hậu, sao
hắn vẫn có bụng muốn đi?
Liêu xin đến dò xem tình ý ra
sao. Hôm sau đến gặp Quan Công, Liêu hỏi:
- Từ khi tôi tiến cử anh lên thừa
tướng, không khi nào bị người bạc đãi…
Quan Công đáp:
- Tôi rất cảm ơn sâu của thừa tướng,
nhưng người ở đây mà bụng lúc nào cũng nhớ hoàng thúc, không bao giờ quên.
Liêu nói:
- Anh nói sai, ở đời không cân nhắc
bên trọng bên khinh, không phải là trượng phu. Huyền Đức đãi đại huynh chưa chắc
đã hậu hơn thừa tướng, sao anh cứ muốn đi?
Quan Công đáp:
- Tôi vẫn biết Tào công đãi tôi hậu
lắm, nhưng tôi đã chịu hậu ơn của hoàng thúc, thề cùng sống chết không thể nào
phụ lời được. Tôi quyết không ở mãi đây. Nhưng trước hết phải lập công để báo
ơn thừa tướng, rồi sau mới đi.
Liêu lại hỏi:
- Phỏng như Huyền Đức chết mất rồi,
thì đại huynh về với ai?
Quan Công đáp:
- Xin theo xuống dưới đất!
Liêu biết không thể nào giữ được
Quan Công, bèn về bẩm lại với Tào Tháo.
Tháo than:
- Thờ chúa không quên gốc, thật
là nghĩa sĩ trong thiên hạ!
Tuân Úc nói rằng:
- Hắn nói lập công rồi mới đi chi
bằng ta không sai đi lập công, vị tất hắn đã đi được.
Tháo cho là phải.
Nay nói chuyện Huyền Đức ở chỗ
Viên Thiệu, sớm tối buồn rầu. Viên Thiệu hỏi:
- Huyền Đức sao lo buồn thế?
Huyền Đức nói:
- Hai em không biết tin tức, vợ
con lại bị hãm trong quân Tào, trên không báo được nước, dưới không giữ được
nhà, làm thế nào không lo được?
Thiệu hỏi:
- Ta muốn tiến quân vào Hứa Đô đã
lâu. Nay đương mùa xuân ấm áp, nên cất quân đi.
Liền họp bàn mưu kế đánh Tào
Tháo. Điền Phong can rằng:
- Trước Tào Tháo đánh Từ Châu, Hứa
Đô bỏ trống chẳng nhân lúc ấy tiến quân; nay Từ Châu bị phá, thế Tào đang mạnh,
không nên khinh địch. Không bằng thong thả, đợi lúc nào có dịp tốt hãy hay.
Thiệu nói:
- Để ta nghĩ đã.
Nhân hỏi Huyền Đức:
- Điền Phong khuyên ta cố thủ,
ông nghĩ thế nào?
Huyền Đức nói:
- Tào Tháo là giặc dối vua, nếu
minh công không đánh, sợ mất nghĩa lớn với thiên hạ.
Thiệu nói:
- Huyền Đức nói phải lắm!
Rồi muốn khởi binh ngay, Điền
Phong lại can.
Thiệu giận nói:
- Các ngươi hợm văn khinh võ, để
làm tao mất nghĩa lớn hay sao?
Điền Phong dập đầu xuống đất nói:
- Nếu không nghe lời nói phải của
tôi, phen này xuất quân tất bất lợi.
Thiệu nổi giận toan chém Điền
Phong, Huyền Đức cố can mới thôi, nhưng bắt Điền Phong bỏ ngục.
Thư Thụ thấy Điền Phong phải giam
vào ngục, bèn họp cả họ hàng phân tán hết gia tài và nói:
- Tôi chuyến này theo đi đánh giặc,
được thì oai danh lừng lẫy, thua thì một chân cũng khó giữ được vẹn toàn.
Họ hàng ai cũng rỏ nước mắt đi tiễn.
Thiệu sai đại tướng là Nhan Lương
làm tiên phong, tiến quân lên đánh xứ Bạch Mã. Thư Thụ can rằng:
- Nhan Lương tuy là tướng khoẻ,
nhưng tính khí hẹp hòi, không nên cho đi một mình.
Thiệu nói:
- Thượng tướng của ta, các ngươi
biết gì!
Khi đại quân tiến đến Lê Dương,
thái thú ở Đông Quận là Lưu Diên cáo cấp về Hứa Đô.
Tào Tháo kịp bàn đem quân ra địch.
Quan Công nghe tin, vào ngay tướng phủ thưa với Tào Tháo:
- Nghe thừa tướng khởi binh, tôi
xin đi làm tiền bộ.
Tháo nói:
- Tôi chưa dám phiền đến tướng
quân, nay mai có việc, sẽ lại mời.
Quan Công lui về.
Tháo dẫn mười lăm vạn quân chia
ra làm ba đội xuất phát. Đi đường lại tiếp liền mấy lá thư cấp báo của Lưu
Diên. Tháo đem năm vạn quân đi trước, thẳng đến Bạch Mã dựa vào núi đất đóng
quân, trông xa thấy cả một cánh đồng rộng, mười vạn tiền bộ tinh binh của Nhan
Lương đều đã dàn thành trận thế.
Tháo khiếp sợ, ngoảnh lại bảo Tống
Hiến (nguyên là tướng của Lã Bố trước):
- Ta nghe ngươi là tướng giỏi của
Lã Bố, nay nên thử ra đấu với Nhan Lương.
Tống Hiến dạ một tiếng, vác giáo
lên ngựa, xông thẳng ra trận. Nhan Lương cầm ngang giáo, cưỡi ngựa ra thẳng cửa
trận. Thấy ngựa Tống Hiến đến, Lương quát to một tiếng, rồi tế ngựa ra đánh.
Chưa được ba hiệp, Lương đã đâm chết Tống Hiến ở trước trận.
Tào Tháo thất kinh nói:
- Thật là dũng tướng!
Nguỵ Tục nói:
- Lương giết người bạn của tôi,
xin ra đánh báo thù.
Tháo cho đi. Tục ra đến nơi chỉ
đánh nhau mới được một hiệp, cũng bị Lương chém chết.
Tháo hỏi:
- Ai dám ra địch lại?
Từ Hoảng nghe nói, ra ngay đánh
nhau với Nhan Lương. Được hai mươi hiệp thua chạy về. Các tướng đều ghê sợ cả.
Tào Tháo thu quân, Nhan Lương cũng lui quân về.
Tháo thấy mất liền hai tướng một
lúc, trong lòng lo buồn. Trình Dục nói:
- Tôi xin cử một người địch nổi
Nhan Lương.
Tháo hỏi ai. Dục nói:
- Phi Quan Vân Trường, không ai
đánh nổi.
Tháo nói:
- Ta chỉ sợ hắn lập được công rồi
đi mất.
Dục nói:
- Thừa tướng đừng lo. Lưu Bị nếu
còn sống thì tất ở bên Viên Thiệu. Nay sai Vân Trường phá quân Thiệu, Thiệu tất
nghi Lưu Bị mà giết đi. Lưu Bị chết rồi, Vân Trường còn đi đâu nữa?
Tháo mừng lắm, sai người mời Quan
Công.
Quan Công vào từ hai chị. Hai phu
nhân nói rằng:
- Chuyến này chú đi, nên thăm dò
tin hoàng thúc.
Quan Công vâng lời, đi ra, cắp
thanh long đao, cưỡi ngựa Xích thố, dẫn vài người tuỳ tùng đi thẳng đến Bạch
Mã, vào ra mắt Tào Tháo. Tháo nói:
- Nhan Lương vừa giết liền hai tướng,
không ai địch nổi, nên mời Quan Công đến bàn.
Quan Công nói:
- Vâng, để tôi xem.
Tháo đặt cuộc rượu khoản đãi. Chợt
có người báo Nhan Lương lại đến khiêu chiến. Tháo dẫn Quan Công lên núi đất đứng
xem.
Tháo cùng Quan Công ngồi, các tướng
đứng hầu chung quanh. Tào Tháo trỏ xuống thế trận của Nhan Lương ở dưới núi, cờ
xí đỏ ối, gươm giáo sáng quắc, trận bày cực kỳ nghiêm chỉnh, mà bảo Quan Công:
- Quân mã Hà Bắc hùng tráng lắm
nhỉ!
Quan Công nói:
- Tôi coi chẳng khác gì gà bằng đất,
chó bằng ngói!
Tháo lại trỏ bảo:
- Kìa! Ở dưới cái lọng, người mặc
bào vóc, giáp vàng, cầm dao cưỡi ngựa là Nhan Lương đó.
Quan Công liếc mắt trông xuống, rồi
nói với Tào Tháo:
- Tôi trông bộ nó, như là cái đầu
cắm trên cái sào để đem bán vậy!
Tháo nói:
- Không nên khinh thường!
Quan Công nói:
- Tôi tuy bất tài, xin lấy đầu hắn
trong đám vạn quân kia, đem về dâng thừa tướng.
Trương Liêu nói:
- Trong quân không nói đùa, Vân
Trường chớ nên khinh thị.
Quân Công nhảy phắt lên ngựa, cắp
ngược thanh long đao, tế xuống núi, mắt phượng trợn lên, mày tằm dựng ngược,
xông thẳng vào trận bên kia, đi đến đâu quân Hà Bắc tự rẽ như sóng dưới nước.
Quan Công đến thẳng chỗ Nhan Lương. Lương đang đứng dưới lọng, thấy Quan Công đến,
vừa muốn hỏi thì ngựa Xích thố chạy mau đã đến trước mặt. Nhan Lương trở tay
chưa kịp, Quan Công đưa một lưỡi đao, Lương chết ngay dưới chân ngựa. Quan Công
liền nhảy xuống đất, chặt lấy đầu, buộc vào cổ ngựa, rồi lên ngựa cầm đao từ
trong trận phi ra như đi chỗ không người. Binh tướng Hà Bắc kinh hoảng, chưa
đánh đã rối loạn. Quân Tào thừa thế đuổi đánh, giết hại không biết bao nhiêu;
ngựa, khí giới, quân Tào cướp được rất nhiều.
Quan Công tế ngựa lên núi, các tướng
đều khen ngợi. Quan Công đem đầu Nhan Lương đặt trước mặt Tào Tháo. Tháo nói:
- Tướng quân thực là một người thần!
Quan Công đáp:
- Tôi thấm vào đâu. Em tôi là
Trương Dực Đức còn có thể ở trong đám quân trăm vạn lấy đầu thượng tướng dễ như
lấy vật gì trong túi.
Tháo nghe cả sợ, ngoảnh lại dặn
các tướng:
- Từ nay về sau có gặp Trương Dực
Đức ở đâu, thì chớ có khinh địch.
Và sai các tướng viết vào vạt áo
để ghi nhớ.
Quân Nhan Lương thua, chạy về đến
nửa đường gặp Viên Thiệu, báo là có một tướng mặt đỏ râu dài, cầm đại đao, một
mình cưỡi ngựa vào trận, chém chết Nhan Lương rồi, cho nên thua to.
Thiệu giật mình hỏi:
- Người ấy là ai?
Thư Thụ thưa:
- Hẳn là Quan Vân Trường, em Huyền
Đức.
Thiệu nổi giận trỏ vào Huyền Đức
nói:
- Thế ra em ngươi chém chết tướng
yêu của ta, ngươi tất thông mưu, vậy để ngươi ở đây làm gì?
Liền thét đao phủ lôi Huyền Đức
ra chém.
Ấy mới là:
Thoắt đã thằng tù đứng dưới sân
Chưa biết tính mệnh Lưu Bị làm
sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Chú thích cuối trang
- ▲ Dự Nhượng người đời Chiến quốc, trước thờ họ Phạm, sau
bỏ đi theo Trí Bá. Trí Bá bị Triệu Tương tử giết; Dự Nhượng định giết
Tương tử để báo thù cho Trí Bá, nhưng bị Tương tử bắt được. Tương tử hỏi:
“Ngươi đã thờ cả hai người, sao chỉ báo thù cho một người?” Dự Nhượng nói:
“Họ Phạm đãi ta như người thường, cho nên ta lấy người thường đáp lại; còn
Trí Bá đãi ta như quốc sĩ, cho nên ta lấy quốc sĩ đáp lại”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét