🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Cửa nha môn, Phụng Tiên bắn kích
Sông Vị Thủy, Mạnh Đức thua quân
Dương đại tướng xin dâng một kế để bắt Lưu Bị. Viên Thuật hỏi kế ra làm sao. Ðại tướng nói:
- Lưu Bị đóng quân ở Tiểu Bái.
Tuy rằng dễ lấy nhưng còn Lã Bố giữ ở Từ Châu. Lần trước ta đã hứa đem vàng, lụa,
lương và ngựa cho Lã Bố, nay vẫn chưa đưa thì có lẽ nó giúp Lưu Bị. Chúa công
nên sai người đưa lương cho nó, trước nữa mua chuộc lấy lòng nó, để ta có sang
đánh Lưu Bị nó đừng động binh, hoạ chăng ta mới bắt được Lưu Bị, rồi sau ta
đánh Lã Bố, đánh Lã Bố rồi sau lấy Từ Châu.
Thuật nghe lời, liền sai Hàn Dận
đem hai mươi vạn hộc thóc và một bức mật thư đưa cho Lã Bố.
Bố mừng lắm, trọng đãi Hàn Dận, Dận
về cáo với Viên Thuật. Thuật sai Kỷ Linh làm đại tướng, Lôi Bạc, Trần Lan làm
phó tướng, đem vài vạn quân sang đánh Tiểu Bái.
Lưu Bị nghe tin bàn với chư tướng.
Trương Phi xin ra đánh.
Tôn Càn nói:
- Nay Tiểu Bái binh ít, lương hiếm,
nên đưa thư về Từ Châu, cầu cứu Lã Bố.
Trương Phi nói:
- Lã Bố nào nó chịu cứu mình!
Lưu Bị nói:
- Càn nói phải đấy.
Liền đưa thư sang Từ Châu, thư rằng:
“Từ khi được nhờ tướng quân
nghĩ đến cho tôi nương thân ở đất Tiểu Bái, tôi thực bái phục đức cao của ngài.
Nay Viên Thuật muốn báo thù riêng, sai Kỷ Linh đem binh đến huyện. Nguy ở sớm tối.
Phi tướng quân không ai cứu được.
Xin tướng quân đem quân đến, cứu
cho nạn gấp này, thì chúng tôi được hân hạnh lắm”.
Lã Bố xem xong thư, bàn với Trần
Cung rằng:
- Mới rồi Viên Thuật đưa lương và
gửi thư cho ta để cầu ta đừng cứu Lưu Bị. Nay Lưu Bị lại cầu cứu. Ta nghĩ Lưu Bị
đóng ở Tiểu Bái vị tất có bao giờ hại được ta. Chứ Viên Thuật nếu đánh được Lưu
Bị, chắc nó lại kết liên với các tướng ở Thái Sơn để đánh ta, ta sẽ không yên
được với nó. Không bằng đi cứu Lưu Bị.
Nói rồi liền điểm quân đi.
Kỷ Linh cất quân kéo bừa đi, đi đến
mé đông nam huyện Bái, lập doanh trại đóng quân, ban ngày cắm cờ đỏ ối cả trên
núi dưới sông; ban đêm đốt lửa sáng choang cả trên trời dưới đất.
Trong huyện Lưu Bị chỉ có hơn năm
nghìn người, miễn cưỡng ra ngoài huyện bố trí lập doanh trại. Chợt có người đến
báo:
- Lã Bố dẫn quân đến mé tây nam,
cách huyện có một dặm, lập trại đóng quân.
Kỷ Linh thấy Lã Bố đến cứu Lưu Bị,
sai ngay người đưa thư trách rằng thất tín.
Lã Bố xem xong thư cười nói rằng:
- Ta có một kế làm cho Viên, Lưu
không bên nào trách được ta.
Nói rồi sai sứ sang mời cả Kỷ
Linh và Lưu Bị đến ăn yến.
Lưu Bị thấy Bố mời, muốn đi ngay,
Quan, Trương can rằng:
- Anh không nên đi. Lã Bố có bụng
bất lương gì chăng?
Lưu Bị nói:
- Ta đối đãi nó tử tế, tất nó
không hại ta.
Lưu lên ngựa đi, Quan, Trương
cũng đi theo đến trại Lã Bố. Khi vào chào Bố, Bố nói:
- Nay tôi đến đây để gỡ nạn cho
ông. Ngày khác ông đắc chí, đừng quên tôi nhé!
Lưu Bị tạ ơn, Lã Bố mời ngồi.
Quan, Trương cầm kiếm đứng đằng sau, chợt có người báo:
- Kỷ Linh đã đến.
Lưu Bị nghe thấy, giật nảy mình,
muốn lánh mặt đi. Lã Bố nói:
- Nay ta mời hai ông đến để cùng
bàn, không được nghi hoặc gì cả.
Lưu Bị chưa rõ tình ý làm sao,
trong bụng nghi nghi hoặc hoặc.
Kỷ Linh xuống ngựa vào trại,
trông thấy Lưu Bị ngồi trong trướng cũng mất vía, quay mình trở ra. Lã Bố bước
lên kéo lại, như kéo đứa trẻ con. Kỷ Linh sợ nói rằng:
- Thế ra tướng quân định giết tôi
à!
Bố nói:
- Ðâu lại thế!
Linh lại hỏi:
- Hay là tướng quân định giết thằng
tai to kia?
Bố lại nói:
- Cũng không phải.
Linh lại hỏi:
- Thế thì ra làm sao?
Bố nói:
- Lưu Bị cùng ta như anh em một
nhà vậy. Nay bị tướng quân sang đây đe doạ, nên ta đến cứu.
Linh lại sợ, nói rằng:
- Nếu thế thì tướng quân giết tôi
rồi!
Bố nói:
- Có lẽ đâu thế. Tính tôi không
hay đánh nhau, chỉ muốn làm cho thôi đánh nhau. Tôi nay định giải hoà cho hai
ông.
Linh nói:
- Xin dám hỏi cách giải hoà thế
nào?
Bố nói:
- Tôi có một phép, nhưng còn tuỳ
lòng trời!
Nói rồi kéo Linh vào trong trướng,
để hai người gặp nhau, Lưu Bị, Kỷ Linh đều có lòng nghi kị lẫn nhau.
Lã Bố ngồi giữa, mời Kỷ Linh ngồi
bên tả, Lưu Bị ngồi bên hữu, rồi sai mở tiệc yến, uống rượu.
Rượu được vài tuần, Bố nói:
- Hai bên cùng nể mặt ta thì cùng
bãi binh cả.
Lưu Bị không nói gì. Kỷ Linh nói:
- Tôi phụng mệnh chúa công tôi,
đem sang đây mười vạn quân chỉ cốt bắt Lưu Bị, bãi binh thế nào được?
Trương Phi đứng sau lưng Lưu Bị
nghe nói nổi giận, tuốt ngay kiếm ra quát to lên rằng:
- Binh ta tuy ít, nhưng ta coi
các ngươi như đàn trẻ mà thôi, ngươi có bằng lũ giặc khăn vàng hàng trăm vạn
không, mà dám toan hại anh ta?
Quan Công vội vàng ngăn nói rằng:
- Hãy xem chủ ý của Lã tướng quân
định thế nào, bấy giờ về trại đánh nhau cũng không chậm.
Lã Bố nói:
- Ta mời hai bên đến để giải hoà,
chứ không có mời đến đây để đánh nhau.
Bên này Kỷ Linh tức giận lắm, mà
bên kia Trương Phi chỉ lăm lăm muốn đánh. Lã Bố cũng nổi giận lên mà truyền rằng:
- Quân đâu! Ðem kích ra đây!
Quân đem kích ra đưa cho Lã Bố. Kỷ
Linh, Lưu Bị không biết thế nào, cùng sợ mất vía.
Bố nói:
- Ta can hai bên mãi không nghe.
Vậy để tuỳ lòng trời định quyết việc này!
Không ai hiểu Lã Bố định làm gì.
Lã Bố sai quân mang hoạ kích ra ngoài cửa nha môn, cắm tận đằng xa cùng kiệt, rồi
ngoảnh lại bảo hai người rằng:
- Từ đây ra đó, cách một trăm năm
mươi bước. Ta xin bắn một phát tên, nếu tin vào ngạnh kích thì hai bên phải bãi
binh; nhược bằng bắn không trúng thì mặc ý hai bên đi mà đánh nhau. Ta định như
thế, ai không nghe thì ta gồm sức với bên kia để đánh.
Kỷ Linh thấy kích cắm xa thế mười
phần chắc cả mười rằng: Lã Bố tài đến đâu cũng không sao bắn tin được, liền ưng
theo ý Lã Bố.
Lưu Bị thì vẫn đành muốn thế rồi.
Lã Bố mời hai bên ngồi xuống, mỗi
người uống một chén rượu, rượu cạn chén rồi, Bố sai đem cung lại.
Huyền Ðức khấn thầm, chỉ muốn cho
bắn tin là hay.
Lã Bố vén tay áo bào, đặt mũi
tên, giương hết sức cung. Dây cung bật đánh tạch một tiếng, tên ra vùn vụt, mười
mắt nhìn theo; chớp mắt một cái trúng ngay ngạnh kích. Các tướng trên trướng dưới
thềm đều reo ầm vỗ tay.
Ðời sau có thơ khen rằng:
Từng ở nha môn gỡ được nguy
Trời rụng quả nhiên hơn Hậu Nghệ
Vượn kêu hơn hẳn sức Do Cơ
Dây gân hổ kéo cung căng thẳng
Tên cánh diều bay vụt vụt đi
Ðuôi báo lung lay xuyên ngạnh kích
Hùng binh mười vạn có làm chi?
Lã Bố bắn trúng hoạ kích rồi miệng
cười ha hả, vứt cung xuống đất, cầm tay Lưu Bị và tay Kỷ Linh nói rằng:
- Ấy là trời bắt hai bên phải bãi
binh đó!
Nói rồi, truyền quân sĩ rót rượu,
mời mỗi người uống một cốc to làm bằng sừng trâu rừng.
Lưu Bị trong lòng mừng rỡ. Kỷ
Linh thì ngồi ngẩn nửa giờ, rồi nói với Lã Bố rằng:
- Lời tướng quân dạy thì tôi phải
nghe, nhưng bây giờ về nói với chúa công tôi, sao chúa công tôi tin?
Bố nói:
- Ðể ta viết thư cho Viên Công Lộ
thì xong chứ gì?
Rượu uống được vài tuần nữa, Kỷ
Linh xin lĩnh thư về trước. Linh về rồi, Bố bảo Lưu Bị rằng:
- Không có tôi thì ông nguy nhé!
Lưu Bị lạy tạ rồi cùng với Quan,
Trương trở về. Hôm sau quân mã ba nơi cùng kéo về cả.
Lưu Bị về Tiểu Bái, Lã Bố về Từ
Châu, còn Kỷ Linh về Hoài Nam vào ra mắt Viên Thuật, kể hết Lã Bố bắn kích ở
nha môn để giải hoà, rồi dânh trình thư của Lã Bố.
Thuật xem thư giận lắm nói rằng:
- Lã Bố lấy bao nhiêu lương thóc
của ta, nay lại lấy trò trẻ con này để mà bênh Lưu Bị. Phen này ta quyết đem đại
quân đi đánh Lưu Bị, xong rồi đánh Lã Bố nhân thể.
Kỷ Linh nói:
- Chúa công không nên vội vàng:
Lã Bố dũng lực hơn người; vả lại có tất cả đất Từ Châu. Ví bằng Lã Bố, Lưu Bị cả
hai người, đầu đuôi cùng cứu giúp lẫn nhau, chưa dễ đánh được hắn đâu. Tôi nghe
vợ Lã Bố là họ Nghiêm có đứa con gái, đã đến tuổi cập kê rồi. Chúa công thì có
con trai. Nên sai người sang Từ Châu cầu thân với hắn. Nếu Lã Bố thuận gả con
cho con chúa công, tất y phải giết Lưu Bị, kế ấy gọi là kế: “sơ bất gián thân”[1].
Viên Thuật nghe kế ấy, lập tức
sai Hàn Dận đem lễ vật sang Từ Châu cầu hôn.
Dận đến Từ Châu, vào ra mắt Lã Bố,
thưa rằng:
- Chúa công tôi mộ tiếng tướng
quân, muốn cầu lệnh ái làm dâu để kết duyên Tần Tấn.
Bố vào bàn với vợ.
Nguyên Lã Bố có hai vợ, một thiếp.
Vốn chỉ có họ Nghiêm làm vợ cả, Ðiêu Thuyền làm thiếp. Sau đến Tiểu Bái lới lấy
con gái Tào Báo làm vợ hai. Họ Tào chết trước không có con; Ðiêu Thuyền cũng
không có con nào. Duy chỉ có họ Nghiêm sinh được một con gái. Lã Bố yêu con gái
ấy lắm.
Khi Bố vào bàn với vợ thì họ
Nghiêm nói rằng:
- Tôi nghe Viên Công Lộ trấn Hoài
Nam đã lâu, binh nhiều, lương lắm, có thể làm nên thiên tử nay mai. Nếu y thành
được nghiệp lớn thì con ta mới có phận làm được hậu phi. Nhưng chẳng biết hắn
ta có mấy con?
Bố nói:
- Chỉ có một mống mà thôi!
Vợ nói:
- Như thế thì nên gả đứt đi. Mai
sau con ta dầu chẳng hậu phi, Từ Châu ta cũng chắc được vững bền không phải lo
gì.
Bố nghe lời vợ, đãi Hàn Dận tử tế,
nhận lời gả con.
Hàn Dận về trình với Viên Thuật.
Thuật lập tức sắm đủ đồ sính lễ,
lại sai Hàn Dận đưa sang Từ Châu.
Lã Bố nhận lễ, mở tiệc thiết đãi,
lưu ở nhà khách nghỉ ngơi.
Hôm sau Trần Cung đến tận nhà
khách, vào chào Hàn Dận, ngồi rồi đuổi tả hữu ra, mà bảo với Dận rằng:
- Ai hiến kế ấy, để Viên Công
cùng Phụng Tiên kết dâu gia? Có phải định lấy đầu Lưu Bị chăng?
Dận giật mình, đứng dậy tạ mà nói
rằng:
- Xin Công Ðài đừng hở chuyện ấy.
Cung nói:
- Ta thì không nói ra, nhưng chỉ
sợ việc châm tất có người khác biết thì hỏng mất mà thôi.
Dận nói:
- Thế thì làm thế nào, xin ông dạy
cho.
Cung nói:
- Ðể ta vào hầu Phụng Tiên, nói để
đưa ngay con gái y sang. Như thế được không?
Dận mừng lắm, tạ ơn mà nói rằng:
- Nếu được thế thì Viên công đội
ơn ngài nhiều lắm.
Cung từ Dận, vào hầu Lã Bố mà nói
rằng:
- Tôi nghe ông gả con gái cho con
Viên Công Lộ, thực là hay lắm. Nhưng bao giờ mới cho cưới?
Bố nói:
- Hãy để thong thả sẽ bàn.
Cung nói:
- Ngày xưa, từ hôm dạm đến hôm cưới
bao lâu có định lệ cả; thiên tử thì một năm; chư hầu thì nửa năm; đại phu thì một
mùa; thứ dân thì một tháng…
Bố nói:
- Viên Công Lộ, trời cho được quốc
bảo, nay mai sắp làm vua, thì theo lệ thiên tử có được không?
Cung nói:
- Không nên.
Bố hỏi:
- Thế thì theo lệ chư hầu?
- Cũng không nên.
- Thế thì theo lệ đại phu?
- Cũng không nên.
Bố tức hỏi rằng:
- Thế anh muốn bảo tôi theo lệ thứ
dân hay sao?
- Không phải thế!
- Thế thì ý anh ra làm sao?
Cung thưa:
- Nay chư hầu trong thiên hạ
tranh hùng với nhau. Ông cùng Viên Công Lộ kết thân, đã chắc không ai ghen ghét
chưa? Nếu mà để lâu còn kén ngày lành tháng tốt, ngộ có người rình lúc giờ tốt ấy,
phục binh ở nửa đường, toan chuyện bất lương, thì làm sao? Vậy bây giờ chúa
công đã không cho thì thôi, mà đã ưng cho thì nhân lúc chư hầu chưa biết, đưa
ngay con gái đến Thọ Xuân, cho ở riêng một biệt quán, rồi sẽ chọn ngày thành
thân, thế có phải muôn phần vững cả, không ngại gì nữa?
Bố mừng nói rằng:
- Công Ðài nói chí phải.
Bố vào bảo với họ Nghiêm ngay đêm
hôm ấy sắm sửa đồ cưới, thu xếp ngựa quý xe thơm; sai Tống Hiến, Ngụy Tục, cùng
Hàn Dận, đưa con gái đi, tiếng trống tiếng nhạc rầm rĩ, đưa ra khỏi thành.
Bấy giờ bố Trần Ðăng là Trần
Khuê, dưỡng lão ở nhà, nghe thấy tiếng nhạc, hỏi đầy tớ việc gì, đầy tớ kể chuyện
cưới xin là thế. Khuê nói:
- Mẹo đó là mẹo “Sơ bất gián
thân” đó. Lưu Bị nguy đến nơi!
Nói thế rồi tuy bệnh chưa khỏi
cũng gắng gượng lại gặp Lã Bố và nói rằng:
- Tôi nghe tướng quân sắp chết,
nên tôi đến viếng.
Lã Bố giật nảy mình hỏi:
- Vì sao lại thế?
Khuê nói:
- Bữa trước Viên Thuật cho đem
vàng lụa đến biếu ông, là có ý để giết Lưu Huyền Ðức, ông mới lấy chuyện bắn
kích giải hoà. Nay tự dưng đến cầu kết dâu gia, ấy là muốn lấy con gái ông để
làm tin đó. Khi nào con ông đã về nhà y, y lại sang đánh Lưu Bị để lấy Tiểu
Bái. Tiểu Bái mất thì Từ Châu cũng nguy. Vả lại khi đã kết thân với y rồi, hoặc
có khi đến vay lương, có khi y đến mượn binh. Ông mà cho y mượn ra, thì ông đã
vất vả về y, lại còn kết oán với người khác; nếu ông không giúp, thì thân thích
lìa nhau và lại gây ra sự đánh nhau. Huống chi ông đã biết rằng Viên Thuật có ý
muốn xưng đế. Muốn xưng đế là làm phản, thế ra ông còn kết thân với phản tặc,
thiên hạ ai còn dung ông nữa?
Bố nghe nói thất kinh mà rằng:
- Trần Cung nó làm lỡ ta!
Vội vàng sai Trương Liêu đem binh
đuổi theo, đến ngoài ba mươi dặm, lôi con gái trở về, và bắt Hàn Dận đem giam lại,
rồi sai người sang nói với Viên Thuật rằng: Ðồ nữ trang sắm chưa đủ. Khi nào sắm
sửa xong sẽ đưa con gái sang.
Trần Khuê lại xui Lã Bố cho giải
Hàn Dận sang Hứa Ðô nộp cho triều đình. Lã Bố còn đang tần ngần chưa định bề
nào, thì có người đến báo rằng:
- Lưu Bị ở Tiểu Bái chiêu quân tậu
ngựa, không biết có tình ý gì.
Bố nói:
- Ðó là việc thường của người làm
tướng thôi, có lạ gì?
Ðang nói chuyện thì Tống Hiến, Ngụy
Tục chạy vào báo rằng:
- Hai chúng tôi vâng mệnh minh
công sai sang Sơn Ðông mua ngựa, có tậu được hơn ba trăm ngựa tốt, đi về đến đầu
địa giới huyện Bái, bị kẻ cướp ra cướp mất một nửa. Hỏi dò ra thì đám cướp ấy
là Trương Phi, là em Lưu Bị giả làm giặc núi đến ăn cướp.
Lã Bố giận lắm, lập tức điểm binh
đến Tiểu Bái đánh Trương Phi.
Lưu Bị nghe thất kinh, vội vàng dẫn
quân ra đón. Khi hai bên bày trận rồi, Huyền Ðức cưỡi ngựa ra mà hỏỉ rằng:
- Huynh trưởng có việc gì đem
quân đến đây?
Bố trỏ mắng rằng:
- Ở nha môn tao vừa bắn kích để cứu
mày khỏi được nạn lớn, nay cớ sao mày lại cướp ngựa của tao?
Lưu Bị nói:
- Tôi nay thiếu ngựa có sai người
ra bốn mặt tìm mua, chứ có đâu dám cướp của huynh trưởng?
Lã Bố giận mắng rằng:
- Mày sai em là Trương Phi ra cướp
của tao một trăm rưỡi con ngựa tốt, bây giờ lại chối à?
Trương Phi vác mâu cưỡi ngựa ra
nói rằng:
- Chính tao cướp ngựa đấy! Mày
làm gì nổi tao?
Bố nói:
- Thằng giặc mắt tròn kia, mày đã
bao nhiêu lần khinh tao?
Phi nói:
- Sao tao cướp ngựa của mày thì
mày biết tức, mày cướp Từ Châu của anh tao, sao không nói?
Bố vác kích lại đánh Trương Phi.
Phi cũng vác mâu lại địch. Hai người đánh nhau hơn một trăm hiệp, chưa phân được
thua. Lưu Bị sợ lỡ việc ra, vội vàng khua chiêng thu quân về thành.
Lã Bố chia quân vây bốn mặt.
Lưu Bị về gọi Trương Phi trách rằng:
- Chỉ tại mày cướp ngựa của nó
nên sinh sự thế này. Thế thì ngựa ở đâu?
Phi nói:
- Gửi cả vào các chùa.
Huyền Ðức sai ngay người đến trại
Lã Bố, xin đem nộp trả ngựa rồi hai bên cùng bãi binh.
Lã Bố muốn cho, Trần Cung nói:
- Nay không giết Lưu Bị đi, ngày
sau tất nó hại mình.
Bố lại nghe, không cho nữa lại
càng ra riết đánh thành. Lưu Bị về bàn với Tôn Càn, My Chúc, Càn nói:
- Tào Tháo giận Lã Bố. Không bằng
ta bỏ thành chạy sang Hứa Ðô, về với Tào Tháo, rồi mượn quân đánh Lã Bố, kế ấy
là hơn cả.
Lưu Bị hỏi:
- Ai dám ra trước, phá vòng vây
bây giờ?
Trương Phi xin đi.
Lưu Bị sai Trương Phi đi trước,
Quan Công đi sau. Còn mình thì ở giữa, giữ gìn vợ con già trẻ, đương đêm canh
ba, nhân bóng trăng sáng, ra cửa bắc chạy, gặp ngay Tống Hiến, Ngụy Tục. Hai tướng
ấy bị Trương Phi đánh một trận phải lui.
Lưu Bị ra khỏi vòng vây.
Mặt sau Trương Liêu chạy đuổi.
Quan Công đánh cho phải đứng lại.
Lã Bố thấy Lưu Bị đi rồi không đuổi
theo nữa, vào thành yên dân, rồi sai Cao Thuận giữ Tiểu Bái; mình lại về Từ
Châu.
Lưu Bị chạy sang Hứa Ðô, đóng trại
ở ngoại thành, trước hết sai Tôn Càn vào ra mắt Tào Tháo, nói rằng:
- Vì bị Lã Bố đánh, xin đến nương
nhờ.
Tháo nói:
- Huyền Ðức với ta như anh em.
Liền mời vào tương kiến.
Hôm sau Lưu Bị để Quan, Trương
ngoài thành, dắt Tôn Càn, My Chúc vào yết kiến Tào Tháo, Tháo đãi làm bậc khách
quý. Khi Lưu kể hết chuyện Lã Bố, Tháo nói rằng:
- Bố là đồ vô ơn, ta với hiền đệ
phải hợp sức lại để trừ nó mới được.
Lưu Bị tạ ơn. Tháo mở yến thiết
đãi, đến chiều tiễn ra về. Tuân Úc vào nói rằng:
- Lưu Bị là người anh hùng. Nay
không trừ sớm đi, tất để lo về sau.
Tháo chẳng bảo làm sao, Úc ra,
Quách Gia vào. Tháo hỏi:
- Úc xui ta giết Lưu Bị. Nên
không?
Gia nói:
- Không nên, chúa công cất quân
nghĩa binh, vì trăm họ trừ kẻ hung bạo, giữ điều tín nghĩa, để mời hào kiệt còn
lo người ta chẳng đến, nay Huyền Ðức có tiếng anh hùng, vì cùng khốn, mới về với
ta, nếu lại giết đi, chẳng hoá ra mình hại người hiền. Những người chí sĩ trong
thiên hạ nghe thấy sinh ngờ còn ai bước chân vào cửa chúa công nữa, chúa công
cùng với ai mà định việc thiên hạ? Trừ được cái lo một người, mà làm cản trở
lòng trông ngóng của bốn bể. Cái cơ yên nguy, xin chúa công phải xét mới được.
Tháo mừng nói rằng:
- Người nói chính hợp bụng ta.
Hôm sau Tháo dâng biểu tiến Lưu Bị,
xin cho lĩnh chức mục Dự Châu.
Trình Dục can rằng:
- Lưu Bị về sau tất không chịu ở
dưới người khác đâu, không bằng giết trước đi.
Tháo nói:
- Nay đương lúc dụng anh hùng,
không nên giết một người để mất lòng thiên hạ. Ta với Quách Gia cùng một ý kiến.
Tháo không nghe lời Trình Dục, lại
lấy ba nghìn quân và một vạn hộc lương, giao cho Lưu Bị, sai ra Dự Châu nhận chức,
tiến quân đóng ở Tiểu Bái, chiêu tập những binh cũ của mình để rồi đánh Lã Bố.
Huyền Ðức đến Dự Châu, sai người
về hẹn với Tào Tháo định ngày cất quân cùng đi đánh Lã Bố. Khi Tháo sắp đi, có
ngựa lưu tinh đến báo rằng:
- Trương Tế từ Quan Trung dẫn
quân đến đánh Nam Dương, lỡ phải tên bay bắn chết. Nay cháu Tế là Trương Tú cầm
quân, dùng Giả Hủ là mưu sĩ, kết liên với Lưu Biểu đóng quân ở Uyển Thành, muốn
đem quân lại phạm cửa khuyết để cướp giá.
Tháo tức lắm, muốn đem binh ra
đánh, lại sợ Lã Bố đến cướp Hứa Ðô, mới hỏi Tuân Úc xem có kế gì.
Tuân Úc nói:
- Việc ấy thực dễ, Lã Bố là đứa
vô mưu, thấy lợi thì hoa mắt lên, minh công nên sai sứ sang Từ Châu, thăng quan
thưởng hậu cho hắn, bắt hắn phải hoà với Lưu Bị. Lã Bố được thưởng tất không
nghĩ xa xôi gì nữa.
Tháo ưng ý, liền sai phụng quân
đô uý là Vương Tắc đem bằng sắc cùng tờ giải hoà sang Từ Châu. Một đường thì cắt
ngay mười lăm vạn quân đi đánh Trương Tú, chia quân ra làm ba đường; cho Hạ Hầu
Ðôn làm tiên phong, quân mã đến Vị Thuỷ đóng trại.
Giả Hủ thấy vậy khuyên bảo Trương
Tú rằng:
- Quân Tào thế lớn lắm, ta không
địch nổi. Chi bằng đem quân đầu hàng.
Tú nghe, sai Giả Hủ đến trại Tháo
nói trước, Tháo thấy Giả Hủ ứng đối nhanh nhảu, có bụng yêu mến, muốn dùng làm
mưu sĩ. Hủ nói:
- Tôi trước theo Lý Thôi, mắc tội
với thiên hạ; nay theo Trương Tú, tôi nói gì, bày kế gì Trương Tú cũng theo,
nên không nỡ bỏ.
Hủ nói rồi ra về; hôm sau đưa Tú
vào yết kiến Tào Tháo. Tháo tiếp đãi thực hậu. Tú dẫn binh vào đóng trong Uyển
Thành, lập doanh trại liên tiếp nhau, dài hơn mười dặm. Ở được vài ngày, Tú mỗi
hôm mở yến một lần mời Tháo.
Một bữa Tháo uống rượu say, vào
giường ngủ, hỏi nhỏ tả hữu rằng:
- Trong thành có kĩ nữ không?
Ðứa cháu, con của anh Tháo, tên
là Tào An Dân, biết ý Tháo, vào thưa thầm rằng:
- Thưa chú, chiều hôm qua, cháu
trông thấy ở cạnh quán xá có một người đàn bà, mười phần xinh đẹp. Cháu hỏi ra
thì là vợ Trương Tế, thím Trương Tú.
Tháo nghe nói, liền sai An Dân
đem năm mươi giáp binh ra đòi vào.
Ðược một lát, binh dẫn vào. Tháo
trông ra quả nhiên là xinh đẹp, hỏi họ chi, thì người đàn bà thưa rằng:
- Thiếp họ Châu, vốn là vợ Trương
Tế.
Tháo hỏi:
- Phu nhân có biết ta không?
- Thiếp được nghe uy danh thừa tướng
đã lâu. Nay mới được bái kiến.
- Ta cho Trương Tú hàng cũng vì
phu nhân đó, nếu không ta đã giết cả họ hắn rồi.
Châu thị lạy tạ nói rằng:
- Thực đội ơn tái sinh của ngài.
Tháo nói:
- Hôm nay trời xui được gặp phu
nhân, thực là may quá. Ðêm hôm nay xin cùng chăn chiếu, rồi sẽ theo ta về kinh
đô, yên hưởng giàu sang. Phu nhân có thuận không?
Châu thị lạy tạ. Ðêm hôm ấy cùng
ngủ trong trướng. Hôm sau Châu thị nói:
- Thiếp ở lâu trong thành, Trương
Tú tất sinh nghi, vả sợ miệng tiếng người ngoài.
Tháo nói:
- Ðến mai tôi xin cùng phu nhân
ra ở trại ngoài thành.
Hôm sau Tháo ra nghỉ ở ngoài
thành, sai Ðiển Vi canh giữ bên ngoài, ai vào phải báo trước, cho vào mới được
vào.
Vì thế, tin tức trong ngoài không
thông. Tào Tháo mỗi ngày cùng họ Châu vui thú, không tưởng gì đến về nữa.
Người nhà Trương Tú, có người mật
báo với Trương Tú. Tú giận lắm nói rằng:
- Thằng giặc Tháo hắn làm nhục ta
quá!
Bèn mời Giả Hủ đến bàn. Hủ nói:
- Việc ấy đừng tiết lộ ra vội.
Ngày mai đợi lúc Tào Tháo ra trướng bàn việc, thời nên làm thế này… thế này…
Hôm sau Tào Tháo ngồi ở trong trướng.
Trương Tú vào bẩm rằng:
- Những binh lính mới hàng, nhiều
đứa đi trốn, xin thừa tướng cho đem đồn vào trung quân.
Tháo ưng thuận. Tú liền dời đồn
vào, chia làm bốn trại rồi định ngày khởi sự.
Nhưng Tú còn lo Ðiển Vi khoẻ mạnh,
khó lòng gần được, bàn với thiên tướng là Hồ Xa Nhi.
Hồ Xa Nhi sức đội được năm trăm
cân, một ngày đi được bảy trăm dặm, cũng là một người tài.
Khi ấy Tú hỏi, Hồ Xa Nhi nói:
- Ðiển Vi chỉ giỏi về đôi thiết
kích. Ngày mai chúa công cho mời hắn đến uống rượu, cho uống thực say hãy để về.
Bấy giờ tôi sẽ lộn vào đám quân sĩ đi theo hắn, lẻn vào trong phòng, ăn trộm được
đôi kích thì không sợ gì hắn nữa.
Tú mừng lắm, sai chuẩn bị cung
tên, giáp binh, bảo trước các trại, đến hẹn sai Giả Hủ mời Ðiển Vi đến chơi, khẩn
khoản mời rượu. Vi đến, tối say về. Hồ Xa Nhi đi lẫn trong đội quân, lẻn vào
trong trại.
Ðêm hôm ấy, Tào Tháo cùng họ Châu
đang uống rượu ở trong trướng, chợt nghe ở ngoài có tiếng xôn xao và tiếng ngựa
kêu. Tháo sai người ra coi xem có việc gì, quân vào báo rằng: quân Trương Tú đi
tuần đêm.
Tháo không nghi gì nữa.
Ðến canh hai ở sau trại lại có tiếng
reo, rồi quân lại vào báo rằng:
- Trên những xe cỏ có lửa cháy.
Tháo truyền rằng:
- Ấy là chúng nó lỡ đánh rơi lửa,
không ai được xôn xao.
Ðược một hồi thì bốn mặt lửa cùng
cháy cả.
Bấy giờ Tháo mới hoảng sợ, vội
vàng sai gọi Ðiển Vi.
Ðiển Vi say rượu đang ngủ, trong
mơ màng chợt nghe tiếng chiêng trống và tiếng người reo hò, giật nảy mình vùng
dậy, sờ đến đôi thiết kích thì không thấy đâu cả.
Ở ngoài giặc đã đến cửa. Vi vội
vàng giật lấy đao lưng của lính canh, chạy ra, ở ngoài đã thấy vô số quân mã, cầm
rặt giáo dài đánh bừa vào trại.
Vi phải nhất sống nhì chết mà lăn
xả vào đám quân ấy, chém giết một lúc chết hơn hai mươi người, quân mã ấy mới
lui, lại có quân bộ kéo đến. Hai bên giáo mác tua tủa như ngọn lau, mình Vi
không một mảnh giáp, trên dưới bị vài mươi nhát đâm. Vi vẫn cứ lăn xả vào đánh;
dao mẻ không dùng được, Vi bỏ dao, hai tay vớ ngay lấy hai người làm khí giới,
quăng đập một lúc chết tám chín người. Giặc thấy thế không dám đến gần, chỉ đứng
đằng xa bắn tên lại. Tên bắn như mưa, Ðiển Vi vẫn liều chết giữ cửa trại, nhưng
quân giặc đã kéo được vào cửa sau, Ðiển Vi lại bị một mũi giáo đâm trúng giữa
lưng. Vi kêu to một tiếng, máu chảy đầy đất rồi chết. Hắn chết được nửa giờ rồi
mà vẫn không ai dám đi qua cửa trước.
Tào Tháo nhờ có Ðiển Vi chẹn giữ
của trước mới lẻn ra sau trại lên ngựa trốn thoát, chỉ có Tào An Dân đi bộ chạy
theo.
Lúc chạy, ngựa Tháo bị một mũi
tên, nhưng may được con ngựa tốt, ngựa Ðại Uyên, càng đau càng chạy khoẻ.
Chạy gần đến bờ sông Dục Thuỷ thì
giặc đuổi kịp. An Dân bị băm nhỏ ra như bùn, Tháo vội quất ngựa lội qua sông mà
chạy. Vừa sang đến bờ bên kia, thì giặc bắn một tên, trúng vào mắt ngựa. Ngựa
ngã gục xuống đất. May đâu, giữa lúc ấy thì con trưởng Tháo là Tào Ngang đem
ngay con ngựa đang cưỡi nhường cho cha.
Tháo lên ngựa chạy. Tào Ngang bị
tên lạc bắn chết, Tháo đi đường gặp các tướng mới thu thập tàn quân lại.
Bấy giờ, quân Thanh Châu do Hạ Hầu
Ðôn quản lĩnh, thừa thế về các thôn quê cướp bóc nhân dân. Quan binh lỗ hiệu uý
là Vu Cấm đem ngay quân bản bộ dẹp bắt, vỗ yên nhân dân.
Quân Thanh Châu chạy về đón Tào
Tháo, khóc lóc lạy xuống đất kêu rằng:
- Vu Cấm làm phản đuổi giết quân
mã Thanh Châu.
Tháo thất kinh. Ðược một hồi thì
Hạ Hầu Ðôn, Hứa Chử, Lý Ðiển, Nhạc Tiến đều đến. Tháo truyền:
- Vu Cấm làm phản, chư tướng nên
đem quân ra đánh.
Vu Cấm thấy cả bọn Tào Tháo đến,
đem quân ra dàn thành góc trận, đào hào cắm trại.
Có kẻ thấy vậy bảo Cấm rằng:
- Quân Thanh Châu vu cho ông làm
phản, nay thừa tướng đã đến, ông chưa ra nói cho minh bạch, sao lại lập trại
trước?
Vu Cấm nói:
- Nay giặc đuổi ở sau lưng, đã sắp
đến nơi. Nếu không phòng bị trước thì lấy gì mà đối địch với giặc. Minh biện là
việc nhỏ, đánh giặc là việc quan hệ hơn.
Lập trại vừa xong thì quân Trương
Tú hai đường kéo đến. Vu Cấm thân ra trước nghênh địch. Tú vội lui quân. Các tướng
thấy Vu Cấm xông lên trước, bèn dẫn quân đánh ào lên, đuổi giết hơn một trăm dặm.
Quân Tú thua to.
Tú thế cùng, nhặt nhạnh tàn quân
về theo Lưu Biểu.
Tào Tháo thu quân điểm tướng. Vu
Cấm vào hầu, kể hết cả chuyện quân Thanh Châu đi ăn cướp, làm mất lòng dân, nên
y mới phải dẹp đi. Tháo hỏi:
- Sao ngươi không nói gì với ta,
mà lập trại trước là ý thế nào?
Cấm lại đem lời đã nói trước mà
giải thích minh bạch để Tào Tháo nghe. Tháo khen rằng:
- Tướng quân trong lúc bối rối,
thế mà nghiêm được binh, bền được luỹ, mặc người gièm chê, chịu khó nhọc làm
cho đang thua hoá ra được, dù danh tướng đời xưa, vị tất đã có ai hơn.
Tháo thưởng cho Vu Cấm một bộ đồ
vàng, phong cho làm Ích Thọ đình hầu; lại trách Hạ Hầu Ðôn trị quân không
nghiêm, rồi làm lễ tế Ðiển Vi.
Tháo thân ra cúng tế khóc than, rồi
ngoảnh lại bảo các tướng rằng:
- Ta mất một con trưởng và một
cháu yêu, cũng không thương là mấy, chỉ thương khóc Ðiển Vi mà thôi.
Các tướng ai cũng cảm thương.
Hôm sau Tháo hạ lệnh rút quân về
Hứa Ðô.
Nay hãy nói chuyện Vương Tắc đem
chiếu đến Từ Châu.
Lã Bố mời Tắc vào phủ, mở đọc chiếu
thư, thì chiếu phong cho Bố làm Bình Đông tướng quân, cho ấn thụ, lại đưa thư
riêng của Tháo.
Vương Tắc nói đi nói lại mãi với
Lã Bố rằng Tào công kính trọng. Bố mừng lắm. Chợt có người báo Viên Thuật sai
người sang. Bố gọi vào hỏi, người ấy nói rằng:
- Viên công nay mai sắp lên ngôi
hoàng đế, lập ngôi đông cung, sai tôi sang thúc hoàng phi về Hoài Nam.
Bố nổi giận quát rằng:
- Phản tặc sao dám thế?
Liền giết kẻ sứ của Viên Thuật và
đóng gông Hàn Dận, sai Trần Ðăng mang tờ tạ biểu và giải Hàn Dận cùng Vương Tắc
đến Hứa Ðô để tạ ân vua và đáp thư Tào Tháo, và xin thực thụ chức mục ở Từ
Châu.
Tháo biết việc kết hôn Viên Thuật
với Lã Bố đã nhỡ nhàng rồi, mừng lắm, đem Hàn Dận ra chém ngoài chợ.
Trần Ðăng nói nhỏ với Tháo rằng:
- Lã Bố là giống sài lang, khoẻ
mà vô mưu, khinh đường việc lui và tới, nên sớm liệu trừ đi.
Tháo nói:
- Ta vẫn biết Lã Bố là một loài
sói lòng tham, không nên nuôi lâu. Nhưng phi cha con nhà ông thì không ai dò hết
được tình hình hắn. Ông nên cùng với ta mưu toan việc ấy.
Ðăng nói:
- Thừa tướng định làm gì, tôi xin
nội ứng.
Tháo mừng lắm, biểu tâu cho Trần
Khuê là cha Trần Ðăng ăn lộc trung nhị thiên thạch và cho Ðăng làm thái thú ở
Quảng Lăng.
Ðăng từ tạ rồi về, Tháo cầm tay
Ðăng dặn rằng:
- Việc ở phương đông tôi giao phó
cho ông đó.
Ðăng gật đầu xin vâng, về Từ Châu
vào gặp Lã Bố. Bố hỏi chuyện. Ðăng cũng kể việc Tào Tháo cho cha ăn lộc và mình
làm thái thú. Bố giận lắm nói rằng:
- Tao sai mày sang để cầu chức mục
Từ Châu cho tao, tao chẳng được gì, mà bố con mày đều được hiển quý, thế là tao
bị bố con mày đem bán để làm lợi cho mình.
Lã Bố nói xong rút kiếm toan chém
Trần Ðăng. Ðăng cười ha hả mà nói rằng:
- Sao tướng quân lại tối hiểu như
thế!
Bố hỏi:
- Như thế nào là tối hiểu?
Ðăng thưa:
- Tôi vào gặp Tào công, nói rằng:
“Nuôi tướng quân như nuôi hổ, nên cho ăn no thịt, nếu không ăn no thì tất cắn
người”. Tào công cười nói rằng: “Ta đãi Ôn Hầu như nuôi chim cắt, cáo thỏ chưa
trừ được chưa dám cho ăn no vội, bởi vì đói thì còn dùng được, chớ no thì bay mất”.
Tôi hỏi: “Cáo thỏ là gì?” Tào công nói: “Viên Thuật ở Hoài Nam, Tôn Sách ở
Giang Ðông, Viên Thiệu ở Ký Châu, Lưu Biểu ở Kinh Châu, Lưu Chương ở Ích Châu,
Trương Lỗ ở Hán Trung, tuyền là cáo thỏ cả”.
Bố nghe nói, ném gươm xuống đất,
cười rằng:
- Tào công thực biết ta đó!
Giữa lúc ấy thì có người lại báo
rằng:
- Viên Thuật đem quân đến lấy Từ
Châu!
Lã Bố thất kinh.
Thế thực là:
Tưởng là Tần - Tấn, hoá là Việt - Ngô
Chưa biết rồi ra thế nào, xem đến
hồi sau sẽ rõ.
-----------------------------------------------
Viên Công Lộ cất bảy cánh quân
Viên Thuật ở Hoài Nam đất rộng
lương nhiều, lại có ngọc tỷ của Tôn Sách gửi làm tin, có ý muốn tiếm xưng đế hiệu,
hội cả các bầy tôi bàn rằng:
- Xưa Hán Cao Tổ chẳng qua là một
người đình trưởng ở Tứ Thượng, thế mà lấy được thiên hạ. Từ bấy giờ đến nay đã
bốn trăm năm, khí số đã hết. Trong bốn bể loạn tứ tung như vạc sôi. Mà nhà ta
thì bốn đời làm đến tam công, trăm họ ai cũng trông ngóng. Ta muốn ứng vận trời,
thuận lòng người, lên ngôi cửu ngũ, các người nghĩ thế nào?
Chủ bạ là Diêm Tượng can rằng:
- Xưa Hậu Tắc nhà Chu, chứa đức
chất công; đến đời Văn Vương, thiên hạ chia ba có hai phần, còn phải thờ nhà
Ân. Nay minh công gia thế tuy rằng quý, nhưng chưa được thịnh bằng nhà Chu. Nhà
Hán tuy rằng suy, nhưng chưa đến nỗi tàn bạo như vua Trụ nhà Ân. Việc ấy quyết
không nên làm.
Thuật giận nói rằng:
- Ta họ Viên do từ họ Trần mà ra,
mà họ Trần vốn là cháu vua Ðại Thuấn ngày xưa; thuộc về hành Thổ, lấy Thổ kế
vào Hoả chính ứng vận trời. Vả lại có câu sấm rằng: Thay nhà Hán ấy là chỗ cao ở
giữa đường. Tên tự ta là Công Lộ, thế thì chính ứng câu sấm ấy. Lại có ngọc tỷ
truyền quốc, nếu ta không làm vua, thì hoá ra trái đạo trời mất. Ý ta đã quyết,
ai còn can nữa ta chém.
Lập tức đặt hiệu gọi là Trọng Thị,
lập ra các quan, đài, sảnh[1]; cưỡi kiệu long phượng, tế thần Nam
Giao, Bắc Giao, lập con gái Phùng Phương làm hoàng hậu, lập con trai làm Ðông
cung, rồi sai sứ sang Từ Châu để xin cưới con gái Lã Bố về làm Ðông cung phi.
Nhưng nghe nói Lã Bố đem giải Hàn
Dận vào Hứa Ðô và đã bị Tào Tháo chém rồi, Thuận giận lắm, liền cử Trương Huân
làm đại tướng quân thống lĩnh đại quân hơn hai mươi vạn, rồi chia làm bảy đạo
sang đánh Từ Châu: 1. Trương Huân đi giữa; 2. Thượng tướng Kiều Dị đi bên tả;
3. Trần Kỷ đi bên hữu; 4. Phó tướng Lôi Bạc đi bên tả; 5. Trần Lan đi bên hữu;
6. Hàng tướng Hàn Tiêm đi bên tả; 7. Dương Phụng đi bên hữu. Ðạo nào cũng thống
lĩnh tướng đội, chọn ngày cất quân; lại sai thứ sử Duyện Châu Kim Thượng làm
thái uý coi vận tiền lương cho bảy đạo quân. Thượng không nghe, Thuận giết Thượng,
lấy Kỷ Linh làm đô cứu ứng sứ để tiếp ứng cho bảy đạo quân.
Thuận tự lĩnh ba vạn quân, sai Lý
Phong, Lương Cương, Nhạc Tựu làm thôi tiến sứ, để đi lại cứu ứng quân bảy đạo.
Lã Bố sai người đi do thám, biết
tin đạo quân Trương Huân đi theo đường cái lớn đến lấy Từ Châu; đạo Kiều Dị thì
lấy Tiểu Bái; đạo Trần Kỷ lấy Nghi Ðô; đạo Lôi Bạc thì lấy Lương Gia; đạo Trần
Lan thì lấy Kệ Thạch; đạo Hàn Tiêm thì lấy Hạ Phì; đạo Dương Phụng thì lấy Tuấn
Sơn. Cả bảy đạo quân mã, mỗi ngày đi được 50 dặm, đi đến đâu cướp phá đến đó.
Bố nghe thám về báo thế, cho đi mời
các mưu sĩ lại để bàn. Trần Cung và cha con Trần Khuê cũng đến cả. Trần Cung
nói:
- Cái vạ Từ Châu này chỉ là do
cha con Trần Khuê gây ra, nịnh triều đình để cầu tước lộc, mà để vạ lây đến tướng
quân. Nay nên đem hai người ấy chém đi, mang đầu sang nộp Viên Thuật, thì lập tức
Thuật rút quân về ngay.
Lã Bố lập tức sai người lôi cha
con Trần Khuê, Trần Ðăng ra chém, Trần Ðăng cười to lên nói rằng:
- Sao lại hèn thế? Bảy đạo quân
Viên Thuật ta coi như cỏ rác mà thôi. Việc gì phải lo cuồng lên như vậy?
Bố truyền khoan chém rồi bảo Trần
Ðăng rằng:
- Hễ mày có kế gì phá được giặc
thì ta tha cho.
Ðăng nói:
- Nếu tướng quân nghe lời tôi,
thì Từ Châu quyết không lo ngại gì cả.
Bố nói:
- Thử nói đi!
Ðăng nói:
- Quân Thuật tuy nhiều nhưng là
quân ô hợp, không thân tín nhau. Nếu ta lấy chính binh mà giữ, lấy kì binh mà
đánh, tất nhiên thành công. Tôi lại có một kế nữa: không những là giữ vững được
Từ Châu lại còn bắt sống được Viên Thuật.
Lã Bố hỏi kế ra làm sao, Ðăng
nói:
- Hàn Tiêm, Dương Phụng nguyên là
cựu thần nhà Hán; nhân sợ Tào Tháo mà chạy; không có nơi nương tựa cho nên phải
theo Viên Thuật. Thuật tất cũng khinh thường họ, mà họ hẳn cũng không vui lòng
để cho Thuật sai khiến. Nếu bây giờ ta đưa thư cho hai người ấy, nhử họ làm nội
ứng, rồi ta lại nhờ Lưu Bị làm ngoại hợp, chắc là bắt sống được Thuật.
Bố nói:
- Mày phải đem thư cho Dương Phụng,
Hàn Tiêm nhé?
Ðăng xin vâng.
Bố liền dâng biểu đến Hứa Ðô, và
đưa thư sang Dự Châu cho Lưu Bị, rồi mới sai Trần Ðăng dẫn vài quân kị, sang
trước đường Hạ Phì để đón Hàn Tiêm.
Khi Hàn Tiêm dẫn quân đến, lập trại
rồi, Ðăng vào yết kiến. Tiêm hỏi:
- Mày là người của Lã Bố lại đây
làm gì?
Ðăng nói:
- Ta là công khanh nhà Hán, sao lại
gọi là người của Lã Bố? Như tướng quân trước làm tôi nhà Hán, bây giờ lại làm
tôi thằng phản tặc, thế là công cứu giá Quan Trung ngày xưa hoá thành công cốc.
Tôi trộm nghĩ lấy làm tiếc cho tướng quân. Vả lại tính Viên Thuật là đứa đa
nghi, tướng quân theo hắn rồi sau hại tới thân. Nay không sớm liệu đi, sau hối
không kịp nữa.
Tiêm than rằng:
- Tôi cũng muốn về với nhà Hán,
ngặt vì không có đường về.
Bấy giờ Ðăng mới đưa thư của Lã Bố
ra. Tiêm xem xong nói rằng:
- Tôi xin lĩnh lời Lã Ôn Hầu. Xin
ông cứ về trước, để tôi cùng Dương tướng quân sẽ trở giáo đánh lại Viên Thuật.
Ông về nói với Lã Ôn Hầu hễ thấy lửa cháy làm hiệu thì đem binh đến tiếp ứng, tất
là được.
Ðăng từ giã Tiêm về trình với Lã
Bố.
Bố chia quân ra làm năm đạo: Cao
Thuận dẫn một đạo tiến lên đến Tiểu Bái để chống với Kiều Dị; Trần Cung dẫn một
đạo đến Nghi Ðô để địch với Trần Kỷ; Trương Liêu và Tang Bá dẫn một đạo đến
Lương Gia để địch với Lôi Bạc; Tống Hiến, Ngụy Tục dẫn một đạo đến Kế Thạch để
địch với Trần Lan; Lã Bố thì tự dẫn một đạo đi ra đường cái lớn để đón Trương
Huân. Mỗi đạo đem đi một vạn quân, còn thừa để lại giữ thành.
Lã Bố ra khỏi thành được ba mươi
dặm đóng trại. Quân Trương Huân kéo đến, liệu chừng địch với Lã Bố không nổi,
lùi lại hai mươi dặm đóng đồn để đợi quân bốn đạo tiếp ứng.
Canh hai đêm hôm ấy Hàn Tiêm,
Dương Phụng đem quân kéo lại đốt lửa làm hiệu, quân Lã Bố ùa vào trại Trương
Huân. Quân Huân cuống cuồng. Lã Bố thừa thế đánh dấn vào. Huân thua chạy. Lã Bố
đuổi vừa đến sáng, gặp quân Kỷ Linh tiếp ứng cho Trương Huân vừa đến. Hai bên vừa
sắp sửa đánh nhau, thì Hàn Tiêm, Dương Phụng hai đạo cùng đánh xổ đến. Kỷ Linh
cũng thua chạy nốt. Lã Bố đuổi theo đánh. Bỗng thấy ở mé sau núi có một toán
quân kéo ra.
Ở ngoài có một hàng cờ bay phấp
phới, trong một đội quân mã, vác những cờ vẽ rồng vẽ phượng, cùng là kiếm vàng
búa bạc, mao trắng, việt vàng; ở dưới thì tán tía lọng vàng. Viên Thuật mình mặc
áo giáp vàng, nách đeo đôi đao, cưỡi ngựa đứng trước cửa trận, gọi mắng Lã Bố
là đứa phản chủ.
Bố giận vác kích xông vào.
Tướng Thuật là Lý Phong, vác giáo
ra địch. Đánh nhau chưa được ba hiệp, bị Lã Bố đâm vào cánh tay. Phong bỏ giáo
chạy. Bố thúc quân vào đánh giết. Quân Viên Thuật cuống cuồng chạy trốn. Lã Bố
dẫn quân đuổi theo, cướp giật được ngựa và áo giáp vô số.
Viên Thuật dẫn bại quân chạy, mới
được vài dặm, sau núi có một toán quân kéo ra, chẹn ngang đường đi. Một tướng đứng
đầu toán quân ấy là Quan Vân Trường, gọi to lên rằng:
- Phản tặc, không chịu chết đi,
còn chạy đâu?
Viên Thuật cắm đầu cắm cổ chạy,
quân sĩ tán loạn bị Quan Công đánh một trận thật dữ dội. Viên Thuật thu nhặt được
ít tàn quân chạy về Hoài Nam.
Lã Bố thắng trận, mời Quan Công,
Hàn Tiêm, Dương Phụng về cả Từ Châu, mở một tiệc yến to ăn mừng. Quân sĩ cùng
được khao thưởng cả.
Hôm sau Quan Công từ tạ xin về.
Lã Bố tâu xin cho Hàn Tiêm làm mục
ở Nghi Ðô; Dương Phụng làm mục ở Lương Gia. Lúc Bố muốn lưu hai người lại ở Từ
Châu, Trần Khuê nói:
- Hai người ấy không nên để ở Từ
Châu. Cứ cho họ sang giữ ở Sơn Ðông thì tôi chắc chỉ trong một năm, bao nhiêu
thành quách đất Sơn Ðông đều về tay tướng quân cả.
Bố nghe Khuê, tạm cho hai người
ra đóng ở Nghi Ðô, Lương Gia để đợi ân mệnh.
Trần Ðăng thấy vậy mới hỏi cha rằng:
- Sao cha không để hai người ấy ở
Từ Châu, làm tay trong cho mình để giết Lã Bố.
Khuê nói:
- Thế ngộ hai người cùng hiệp sức
giúp Lã Bố thì có phải hoá ra thêm nanh vuốt cho hổ không?
Ðăng phục cao kiến của cha.
Viên Thuật thua về Hoài Nam, sai
người sang Giang Ðông, hỏi Tôn Sách cho mượn quân để báo thù. Sách giận mà nói
rằng:
- Ngươi lấy không ngọc tỷ của ta,
tiếm xưng đế hiệu, làm phản nhà Hán, xấc láo không biết đạo, ta đang muốn đem
quân sang hỏi tội ngươi, đời nào lại đi giúp đứa phản tặc?
Bèn viết thư cự tuyệt Viên Thuật.
Thuật xem thư giận nói rằng:
- Thằng trẻ con miệng còn hơi sữa
mà dám xấc à, ta phải đánh trước nó đi mới được.
Trưởng sử là Dương đại tướng ngăn
can mãi Thuật mới thôi.
Tôn Sách từ khi đưa thư, sợ Viên
Thuật đem quân đến, điểm binh giữ cửa sông. Chợt có sứ Tào Tháo đến, đem chiếu
chỉ cho Sách làm thái thú ở Cối Kê, và sai khởi binh sang đánh Viên Thuật.
Sách bàn bạc với các tướng, muốn
khởi binh, Trưởng sử là Trương Chiêu can rằng:
- Thuật tuy rằng mới thua, nhưng
binh nhiều lương đủ, chưa dễ đánh được, không bằng đưa thư cho Tào Tháo, bảo hắn
cứ sang đánh trước, rồi ta làm hậu ứng. Hai bên cùng hiệp lại đánh, quân Thuật
phải thua, vậy ta chắc được vạn phần, vạn nhất có thua, có Tào Tháo cứu đỡ.
Sách nghe lời, sai sứ giả cứ như
thế sang trình với Tào công.
Tào Tháo về đến Hứa Ðô thương nhớ
Ðiển Vi lập miếu để thờ, rồi phong cho con Ðiển Vi là Ðiển Mãn làm Trung Lang,
đem về phủ nuôi.
Bấy giờ có quân báo Tôn Sách sai
sứ giả đem thư đến.
Tháo xem xong thư, lại có người
báo rằng:
- Viên Thuật thiếu lương ra cướp ở
Trần Lưu.
Tháo muốn thừa cơ sang đánh, sai
Tào Nhân giữ lấy Hứa Ðô, còn bao nhiêu tướng sĩ bắt phải đi cả. Quân mã bộ cả
thảy mười bảy vạn người, xe lương hơn một nghìn chiếc, một mặt sai người ra hẹn
với Tôn Sách, Lưu Bị, Lã Bố.
Khi quân đi đến địa giớ Dự Châu,
Lưu Bị dẫn quân ra đón. Tháo sai mời vào trại, Lưu Bị vào dâng hai cái đầu.
Tháo giật mình hỏi:
- Ðầu nào?
Lưu Bị nói:
- Ðây là đầu Dương Phụng, Hàn
Tiêm.
Tháo hỏi:
- Sao lại giết hai người ấy?
Lưu Bị thưa:
- Lã Bố sai hai người quyền coi
Nghi Ðô, Lương Gia và tâu xin cho được thực thụ chức mục hai nơi ấy. Không ngờ
hai người thả quân cho ăn cướp của dân, ai cũng ta thán. Bởi thế tôi có làm một
tiệc rượu, mời hai người đến bàn việc. Trong khi uống rượu, tôi ném chén làm hiệu
sai Quan, Trương là hai em tôi đem hai người giết đi, bắt hết quân hàng phục.
Vì thế nên nay lại thú tội với thừa tướng.
Tháo nói:
- Ông trừ hại cho nhà nước, ấy là
công to, sao lại gọi là tội?
Tháo thưởng cho Lưu Bị, rồi hai
bên cùng hợp binh lại, đến địa giới Từ Châu.
Lã Bố ra đón.
Tháo lấy lời ngọt ngào dỗ dành Lã
Bố, phong cho làm tả tướng quân, hứa rằng: khi nào về Hứa Ðô sẽ đổi ấn khác.
Bố mừng lắm.
Tháo chia quân Lã Bố ở tả, quân
Lưu Bị ở hữu, còn mình tự lĩnh đại quân ở giữa; sai Hạ Hầu Ðôn, Vu Cấm làm tiên
phong.
Viên Thuật biết quân Tào đã đến
nơi, sai Kiều Dị đem năm vạn quân làm tiên phong.
Hai bên gặp nhau ở giáp giới Thọ
Xuân. Kiền Dị tế ngựa ra trước, đánh nhau với Hạ Hầu Ðôn, chưa được ba hiệp, bị
Ðôn đâm chết.
Quân Thuật thua chạy về thành. Giữa
lúc ấy lại có người báo rằng:
- Tôn Sách đem thuyền đánh mặt
tây; Lã Bố đem binh đánh mặt đông; ba anh em Lưu, Quan, Trương dẫn binh đánh mặt
nam; Tào Tháo thì dẫn mười bảy vạn quân đánh mặt bắc.
Thuật nghe báo vội vàng họp cả
văn võ lại để bàn. Dương đại tướng nói:
- Ðất Thọ Xuân luôn mấy năm nay
nước lụt rồi nắng to, dân gian đói khát cực khổ. Nếu bây giờ lại cất quân thì
nhiễu dân quá, tất dân oán mình, giặc đến khó lòng mà cự được, không bằng đóng
quân ở Thọ Xuân, không đánh nhau với quân địch, đợi quân địch cạn lương tất
nhiên sinh biến. Bây giờ bệ hạ hãy nên đem quân ngự lâm qua sông Hoài, trước là
sang chỗ lúa chín, sau nữa là hãy tạm lánh thế mạnh của quân địch.
Thuật nghe lời, cho Lý Phong, Nhạc
Tựu, Lương Cương và Trần Kỷ, cả thảy bốn tướng với mười vạn quân để giữ Thọ
Xuân, còn bao nhiêu tướng giỏi, cùng là vàng bạc châu báu trong kho, thu xếp nhặt
nhạnh hết đem qua sông Hoài Nam.
Quân Tào Tháo mười bảy vạn mỗi
ngày ăn lương tốn lắm. Các quận lại mất mùa, chuyển vận không kịp. Tháo thúc
quân đánh mau.
Lũ Lý Phong cứ đóng chặt cửa
thành không ra. Quân Tháo đánh thành hơn một tháng, lương ăn gần hết.
Tháo đưa thư sang vay Tôn Sách được
mười vạn hộc lương. Quan coi lương là Vương Hậu thấy ít quá không đủ phát cho
quân, vào bẩm với Tháo, hỏi xem nên làm thế nào?
Tháo nói:
- Ðem hộc nhỏ mà phát cho chúng
nó, tạm cấp cứu lấy một lúc.
Hậu lại hỏi:
- Thế ngộ quân sĩ kêu ca thì nói
thế nào?
Tháo nói:
- Ta đã có cách.
Hậu vâng lệnh, lấy hộc nhỏ đong
lương phát cho quân. Tháo cho người đi dò các trại, chỗ nào cũng thấy quân ta
thán rằng: “thừa tướng đánh lừa quân”. Tháo thấy vậy mật cho người ra đòi Vương
Hậu vào bảo rằng:
- Nay ta muốn mượn ngươi một cái,
để dẹp yên lòng quân, ngươi đừng nên tiếc.
Hậu hỏi:
- Thừa tướng muốn dùng cái gì?
Tháo nói:
- Ta muốn mượn cái đầu ngươi để dẹp
yên lòng quân.
Hậu thất kinh, kêu oan, Tháo lại
nói:
- Ta cũng biết ngươi không có tội,
nhưng không giết ngươi thì lòng quân sinh biến, sau khi ngươi chết, vợ con
ngươi ta nuôi cho, ngươi đừng lo.
Vương Hậu muốn nói nữa, nhưng
Tháo đã gọi ngay đao phủ vào lôi Hậu ra ngoài cửa chém rồi bêu đầu lên một cái
sào dài, yết thị rằng: “Vương Hậu cố tình làm đấu nhỏ, để ăn cắp lương vua, nay
chiếu quân pháp trị tội”. Bởi thế quân sĩ không oán gì nữa.
Hôm sau Tào Tháo hạ lệnh cho các
tướng rằng:
- Hạn cho ba ngày, hễ không cố sức
phá được thành, các tướng phải chém cả.
Tháo thân đến tận dưới thành, đốc
thúc quân sĩ vận chuyển đất đá để lấp hào. Trên thành tên đá bắn xuống như mưa.
Có hai tì tướng sợ hãi lui ra, Tháo rút ngay kiếm chém liền ngay ở dưới thành,
rồi xuống ngựa để đỡ lấy đất lấp hố. Bởi thế tướng sĩ lớn nhỏ, ai cũng phải cố
lăn vào. Trên thành chống cự không nổi, quân Tào tranh nhau lên thành, chặt gãy
khoá cửa thành, ào ào kéo vào.
Lý Phong, Trần Kỷ, Nhạc Tựu,
Lương Cương đều bị bắt sống. Tháo sai đem cả bốn tướng ra chợ chém, đốt sạch cả
đền đài cung miếu, và bao nhiêu những đồ phạm cấm trong thành Thọ Xuân, cho
quân cướp lấy sạch.
Tháo bàn muốn tiến binh sang sông
Hoài đuổi theo Viên Thuật. Tuân Úc can rằng:
- Mấy năm nay đói kém, lương thực
khan thiếu, nếu lại tiến binh thì nhọc quân và hại dân, vị tất đã có lợi, không
bằng tạm về Hứa Ðô, đợi sang xuân lúa chín, quân lương đủ dùng, bấy giờ ta sẽ
liệu.
Tháo ngầy ngừ chưa quyết, chợt có
kị mã đến báo rằng:
- Trương Tú nương nhờ Lưu Biểu,
nay lại tung hoành lắm. Các huyện Nam Dương, huyện Giang Lăng lại làm phản, Tào
Hồng chống với giặc không nổi, thua luôn mấy trận, nên sai đến cáo cấp.
Tháo đưa ngay thư cho Tôn Sách,
sai vượt qua sông bày trận làm nghi binh để Lưu Biểu không dám tiến quân; Tháo
thì ngay hôm ấy rút quân về, để bàn việc sang đánh Trương Tú.
Lúc đi, sai Lưu Bị lại về đóng đồn
ở Tiểu Bái, cùng Lã Bố kết làm anh em, phải cứu giúp lẫn nhau, không được xâm
phạm nhau nữa.
Lã Bố đem quân về Từ Châu, Tháo
nói thầm với Lưu Bị rằng:
- Tôi sai ông đóng ở Tiểu Bái
cũng là mẹo đào hố sẵn để bắt hổ đó. Ông nên cùng với cha con Trần Khuê bàn bạc,
đừng để lầm lỡ điều gì, tôi sẽ làm ngoại viện.
Dặn dò xong rồi từ biệt nhau.
Tào Tháo dẫn quân về Hứa Ðô, có
người báo rằng:
- Ðoàn Ổi đã giết được Lý Thôi,
Ngũ Tập giết được Quách Dĩ, mang đầu lại dâng. Ổi lại bắt được họ hàng Lý Thôi,
già trẻ hơn hai trăm người, giải vào Hứa Ðô đem nộp.
Tháo sai đem chia ra các cửa
thành chém bêu đầu; nhân dân ai cũng hả dạ.
Vua lên điện hội tập các triều thần
văn võ, mở tiệc yến thái bình ăn mừng, phong cho Ðoàn Ổi là đảng khấu tướng
quân; Ngũ Tập làm đảng lỗ tướng quân, đều đem quân ra trấn thủ Trường An.
Hai người tạ ơn rồi trở ra.
Tháo tâu rằng:
- Trương Tú làm loạn, Tháo xin cất
quân ra đánh.
Vua thân ngự loan giá tiễn Tháo.
Bấy giờ về tháng tư năm thứ ba
niên hiệu Kiến An. Tháo lưu Tuân Úc ở lại Hứa Ðô, sai binh khiển tướng tự thống
lĩnh đại quân kéo đi.
Khi quân đi qua một nơi lúa đã
chín, dân thấy quân đến chạy trốn không dám ra gặt lúa. Tháo sai người đi hiểu
dụ hết cả phụ lão thôn quê cùng các quan sở tại rằng:
- Ta phụng chiếu vua, đem quân
đánh giặc, trừ hại cho dân. Nay đang mùa lúa chín, bắt đắc dĩ phải khởi binh.
Quân tướng lớn nhỏ đi qua những ruộng, ai dẫm lên lúa đều bị chém. Quân pháp thực
nghiêm, nhân dân không việc gì phải lo sợ cả.
Trăm họ nghe lời hiểu dụ, chỗ nào
cũng vui mừng ca tụng, kéo cả ra đường bái vọng.
Quan quân đi qua các ruộng lúa đều
phải xuống ngựa, lấy tay đỡ từng bông lúa mạch, lần lượt truyền tay nhau mà đi,
không ai dám dẫm bừa.
Tháo cưỡi con ngựa đang đi, bỗng
có một con chim gáy ở trong bụi lúa bay vụt ra. Ngựa Tháo giật mình lồng lên,
nhảy ngay vào trong đám lúa, xéo nát cả một vùng lúa mạch.
Tháo lập tức gọi hành quân chủ bạ
truyền phải luận tội mình xéo lúa.
Chủ bạ nói:
- Sao lại có thể kết tội thừa tướng?
Tháo nói:
- Ta đặt ra phép, ta lại tự phạm,
thì sao chúng phục?
Liền rút gươm toan tự vẫn. Các tướng
vội vàng ngăn lại.
Quách Gia nói:
- Cứ như nghĩa sách Xuân Thu ngày
xưa, thì pháp luật không áp dụng với người tôn quý. Thừa tướng thống lĩnh đại
quân, sao lại tự sát?
Tháo dùng dằng một hồi rồi nói rằng:
- Có phải sách Xuân Thu có nghĩa
thế, thì ta hãy tạm tha tội cho ta khỏi chết.
Rồi lấy kiếm cắt tóc mình vất xuống
đất mà nói rằng:
- Cắt tóc để thay đầu!
Rồi sai người cầm nắm tóc ra,
truyền bảo ba quân rằng:
- Thừa tướng xéo phải lúa, đáng lẽ
chém đầu làm hiệu lệnh. Nay hãy cắt tóc để thay!
Quân tướng nghe thấy đều rợn tóc
gáy, không ai dám sai phép quân.
Ðời sau có thơ rằng:
Một người ra lệnh cấm thế nào?
Thay đầu, cắt tóc, nghiêm quân pháp,
Trí trá Tào Man ấy mới cao!
Trương Tú nghe thấy Tháo dẫn binh
đến, đưa ngay thư sang Lưu Biểu, nhờ làm hậu ứng, một mặt cùng với Lôi Tự,
Trương Tiên hai tướng, đem quân ra ngoài thành nghênh địch.
Hai trận quây tròn lấy nhau.
Trương Tú cưỡi ngựa ra, trỏ vào Tháo mắng rằng:
- Ngươi là đứa giả nhân giả
nghĩa, không biết liêm sỉ, sánh với cầm thú không khác gì!
Tháo giận lắm sai Hứa Chử ra. Tú
sai Trương Tiên ra tiếp chiến. Ðánh nhau được ba hiệp, Chử chém Trương Tiên chết.
Quân Tú thua to, Tháo đem quân đuổi
đánh đến dưới thành Nam Dương. Tú vào thành đóng cửa không dám ra.
Tháo vây đánh thành, thấy hào rộng
nước sâu, khó đến được gần thành, sai quân sĩ đổ đất lấp hào; lại dùng những đẫy
vải dựng đất và những củi gỗ cỏ rác, chồng chất lẫn lộn cả ở bên thành, để làm
bậc trèo vào; lại làm thang cao để dòm vào trong thành.
Tháo cưỡi ngựa đi diễu chung
quanh thành ba hôm để nhìn xem địa thế, rồi truyền quân sĩ chất củi gỗ cỏ rác ở
góc cửa tây, hội họp chư tướng, theo góc ấy trèo vào thành.
Giả Hủ ở trong thành, trông thấy
quang cảnh như thế bảo với Trương Tú rằng:
- Ta biết ý Tào Tháo rồi, nay nên
biến kế hắn thành kế của ta.
Thế thực là:
Hay dối trêu ngay kẻ dối hơn
Chưa biết kế Giả Hủ ra làm sao,
xem đến hồi sau mới rõ.
-------------------------------------------------------
Giả Văn Hòa liệu mưu quyết thắng giặc
Hạ Hầu Đôn rút tên nuốt con ngươi
Giả Hủ biết ý Tào Tháo, muốn biến
kế Tháo thành kế của mình, bèn bảo Trương Tú rằng:
- Tôi ở trên thành, thấy Tào Tháo
đi chung quanh thành xem xét ba hôm nay, hắn thấy góc đông nam màu gạch, đất mới
cũ không được đều, hàng rào chông chà đã nát quá nửa, ý nó muốn đánh vào mặt ấy,
nhưng mà giả vờ chứa cỏ rác ở góc tây bắc để đánh lừa ta rút quân về giữ tây bắc,
rồi nó nhân đêm tối, trèo lên góc đông nam tiến quân vào thành.
Trương Tú vội hỏi:
- Thế thì làm thế nào?
Hủ thưa:
- Khó chi việc ấy. Ngày mai nên
sai quân tinh tráng ăn cơm no, mặc quần áo chẽn, phục cả trong buồng các trại ở
mé đông nam, còn dân trong thành thì ăn mặc giả làm lính giữ mặt tây bắc. Ðến
đêm mặc kệ cho chúng nó trèo vào góc đông nam, đợi khi chúng nó vào trong thành
rồi, thì bắn một phát pháo hiệu, bao nhiêu quân phục đổ ra, Tháo chạy đi đằng
trời.
Tú nghe, dùng kế ấy. Quả thực có
quân thám, báo với Tào Tháo rằng: Trương Tú rút cả quân về mặt tây bắc, hò reo
giữ thành, còn mặt đông nam bỏ trống.
Tháo mừng mà reo lên rằng:
- Nó mắc kế ta rồi!
Liền sai quân sĩ sắp sẵn thuổng
cuốc để đào thành vào; ban ngày chỉ đem quân đánh mặt tây bắc, đến tối vào độ
canh hai mới đem cả tinh binh ra góc đông nam, lội qua hào, dọn sạch hàng rào
chông.
Trong thành vẫn im phăng phắc.
Quân Tháo kéo ùa cả vào, bỗng
nghe một tiếng súng nổ, quân phục bốn mặt đổ ra. Quân Tào vội vàng rút lui.
Trương Tú thúc quân dũng tráng đánh vào. Quân Tháo thua to.
Tháo ra thành chạy hơn hai mươi dặm.
Tú đánh mãi đến tang tảng sáng mới
rút quân về.
Tháo điểm quân mất hơn năm vạn
người; xe lương cùng các đồ khí giới mang đi theo mất nhiều lắm; Lã Kiền, Vu Cấm
đều bị thương.
Giả Hủ thấy Tháo thua chạy, bảo
ngay Trương Tú đưa thư cho Lưu Biểu, sai đem quân ra chẹn đường sau.
Biểu được thư muốn kéo quân đi
ngay, chợt có thám mã đến báo rằng:
- Tôn Sách đóng quân ở Hồ Khẩu.
Khoái Lương nói:
- Sách đóng binh ở Hồ Khẩu là mẹo
của Tào Tháo đấy. Nay Tào Tháo mới thua, nếu mình không thừa thế đánh ngay, về
sau tất rồi sinh lo.
Biểu mới sai Hoàng Tổ giữ vững cửa
ải, mình tự đem quân đến huyện An Chúng, chẹn đường Tào Tháo, một mặt giao ước
với Trương Tú.
Tú thấy Biểu đã khởi binh, cùng
Giả Hủ đem quân đuổi Tào Tháo.
Tào Tháo dẫn quân đi dần dần đến
Tương Thành, gần sông Dục Thuỷ. Tháo tự dưng ngồi trên ngựa, khóc hu hu lên.
Các tướng ngạc nhiên hỏi vì cớ
gì, Tháo nói rằng:
- Ta khóc là vì nhớ năm ngoái đại
tướng của ta là Ðiển Vi chết ở chỗ này. Nghĩ đến, ta lại thương mà khóc.
Tháo lau nước mắt rồi truyền lệnh
hãy đóng quân mã lại đó, bày một lễ lớn, tế vong hồn Ðiển Vi.
Tháo tự mình thắp hương khóc rồi
lễ. Ba quân ai thấy cũng động lòng. Tế Ðiển Vi xong rồi, Tháo tế cháu là Tào
Dân và con cả là Tào Ngang, rồi lại tế cả những quân lính chết ở đấy năm trước,
tế cả đến con ngựa Ðại Uyển cùng chết một trận.
Hôm sau Tuân Úc sai người đến báo
rằng:
- Lưu Biểu giúp Trương Tú đóng
quân ở An Chúng, định chẹn đường ta.
Tháo trả lời Úc rằng:
- Mỗi ngày ta đi có vài dặm.
Không phải là ta không biết có quân giặc đuổi theo sau đâu. Ta đã định đâu vào
đấy cả rồi. Nếu đến An Chúng, ta chắc phá được quân Tú. Các ngươi chớ lo.
Nói rồi, giục quân đi cho mau đến
đầu huyện An Chúng. Quân Lưu Biểu đã giữ cả những chốn hiểm yếu, đằng sau thì
Trương Tú kéo quân đuổi theo.
Tháo sai quân đêm hôm ấy đào những
nơi hiểm mở đường mai phục kì binh. Ðến sớm hôm sau, Lưu Biểu, Trương Tú, hai
bên hội quân với nhau, thấy quân Tháo có ít, tưởng Tháo đã đi trốn rồi, kéo
quân vào đường hẻm để đánh. Bấy giờ Tháo mới thả quân phục ra, đánh vỡ tan cả
quân hai nhà, rồi ra khỏi cửa huyện An Chúng, hạ trại ở mé ngoài cửa ải đóng
quân.
Lưu Biểu, Trương Tú thua, nhặt nhạnh
tàn quân rồi cùng bàn với nhau. Biểu nói:
- Không ngờ lại mắc phải kế Tào
Tháo!
Tú nói:
- Ðể thong thả ta sẽ liệu.
Hai bên cùng đóng quân ở An
Chúng.
Tuân Úc do thám được rằng Viên
Thiệu muốn đem quân tiến vào Hứa Ðô, lập tức sai người đem thư cho Tào Tháo.
Tháo thất kinh, ngay hôm ấy rút
quân về.
Quân Trương Tú có đứa do thám thấy
thế, về báo với Tú. Tú muốn đuổi theo. Giả Hủ can rằng:
- Không nên đuổi, đuổi tất thua!
Lưu Biểu không nghe, nói rằng:
- Nay không thừa thế đuổi dấn đi,
bỏ phí mất cơ hội hay.
Biểu cố khuyên Tú, cùng dẫn một vạn
quân đuổi theo.
Ði được mười dặm, đuổi kịp hậu
quân Tào Tháo. Quân Tào cố sức đánh lại. Bỉểu, Tú thua to chạy về. Tú than với
Hủ rằng:
- Tại tôi không nghe lời ông, quả
nhiên thua thật.
Giả Hủ cười bảo rằng:
- Bây giờ hai ông nên thu quân lại
mà đuổi.
Biểu và Tú nói:
- Vừa thua xong, lại còn đuổi làm
gì nữa?
Hủ nói:
- Hai ông cứ đuổi đi. Phen này chắc
hẳn là được. Hễ thua cứ chặt đầu tôi đi.
Tú tin lời Hủ, Biểu còn nghi hoặc,
không chịu đi. Tú dẫn quân một mình đi đuổi.
Quân Tháo quả nhiên thua to. Xe
ngựa lương thảo bỏ đầy cả ra đường mà chạy. Tú đương đuổi, sau núi bỗng có một
cánh quân kéo ra, không dám đuổi nữa, thu quân về An Chúng.
Lưu Biểu thấy Tú được trận về, mới
hỏi Giả Hủ:
- Trước đem quân thắng đuổi quân
thua ông bảo rằng tất thua; sau đem quân thua đuổi đánh quân thắng, ông lại bảo
tất được. Trước sau đều như lời ông cả. Sao cùng hai việc ông nói hai cách đều
nghiệm cả, xin ông giảng cho tôi nghe.
Hủ thưa:
- Việc ấy dễ hiểu! Tướng quân dẫu
biết dùng binh, nhưng không phải là tay địch nổi với Tào Tháo. Tào Tháo thua chạy
tất nhiên phải để những tướng giỏi đi sau để phòng quân đuổi, quân ta dù giỏi
cũng không địch nổi, bởi vậy tôi biết tất là thua. Tháo sở dĩ vội lui quân, chắc
vì Hứa Ðô có việc, khi đã đánh được quân ta, tất nhiên xe nhẹ đi nhanh không
phòng bị gì nữa, ta nhân lúc Tháo không phòng bị mà đuổi, chắc là được.
Lưu Biểu, Trương Tú đều phục là
cao kiến.
Hủ lại khuyên Biểu về Kinh Châu
và Tú giữ lấy Tương Thành để giúp đỡ lẫn nhau. Hai bên đều thu quân về.
Ðây nói lúc Tào Tháo đang đi nghe
thấy báo:
- Hậu quân bị Trương Tú đuổi
đánh.
Tháo liền đem các tướng lại cứu,
đã thấy quân Trương Tú rút về rồi, bấy giờ đám hậu quân thua lại bẩm với Tháo rằng:
- Cũng may ở sau núi có toán quân
ra chẹn đường, nếu không thì bị bắt hết cả.
Tháo vội hỏi:
- Người nào thế?
Một tướng vác giáo, xuống ngựa
vào bái kiến Tào Tháo, thì là Trấn Oai trung lang tướng, người ở Giang Hạ, họ
Lý tên Thông, tự là Văn Ðạt.
Tháo hỏi:
- Anh ở đâu đến?
Thông nói:
- Gần đây tôi giữ Nhữ Nam. Nghe
tin thừa tướng đánh nhau với Trương Tú, Lưu Biểu, nên tôi đến để tiếp ứng.
Tháo mừng, phong cho Thông làm Kiến
Công hầu, sai giữ mé tây đất Nhữ Nam để phòng Biểu, Tú. Thông lạy tạ rồi đi.
Tháo về Hứa Ðô, dâng biểu tâu Tôn
Sách có công, xin phong làm Thảo Nghịch tướng quân, tước Ngô hầu, sai sứ cầm
chiếu đến Giang Ðông, sai phải phòng đánh Lưu Biểu.
Tháo về phủ. Các quan đều đến
chào mừng xong cả rồi, Tuân Úc mới hỏi rằng:
- Thừa tướng đi thong thả đến An
Chúng. Sao biết rằng tất phá được giặc?
Tháo nói:
- Quân đi không có đường về, tất
sống chết cũng phải cố đánh. Ta đi thong thả là để dử đằng kia hắn đến, vả ta
đã có quân phục chỉ chực để đánh. Thế thì làm gì mà không chắc được!
Tuân Úc bái phục. Bấy giờ Quách
Gia mới vào. Tháo hỏi:
- Sao ông lại chậm thế?
Gia sờ vào trong tay áo lấy ra một
phong thư, đưa cho Tào Tháo thưa rằng:
- Viên Thiệu sai người đưa thư
cho thừa tướng, nói rằng muốn đem quân đánh Công Tôn Toản, đến mượn binh lương.
Tháo nói:
- Ta nghe Thiệu muốn dòm Hứa Ðô,
nay thấy ta về, nên mới xoay ra cách khác.
Nói rồi mở thư ra xem. Thấy lời lẽ
kiêu ngạo, Tháo hỏi Gia rằng:
- Viên Thiệu láo. Ta muốn sang
đánh, ngặt vì sức ta không nổi, nên làm thế nào?
Quách Gia thưa:
- Họ Lưu không địch được họ Hạng,
ông cũng đã biết, thế mà Hạng Vũ sau bị bắt là vì Cao Tổ có nhiều mưu trí. Nay
Viên Thiệu có mười điều thua, còn ông có mười điều được, do đấy quân Thiệu tuy
mạnh, nhưng không đáng sợ.
Tính Thiệu hay vẽ vời nghi lễ.
Ông thì dễ dãi tự nhiên, thế là được về đạo.
Thiệu hành động trái lẽ. Ông thuận
lẽ phải, thế là được về nghĩa.
Từ đời Hoàn, Linh đến giờ, triều
chính đổ nát vì quá khoan rộng. Nay Thiệu khoan quá, mà ông thì nghiêm để đưa
vào quy củ, thế là được về chính trị.
Viên Thiệu ngoài khoan hoà, mà
trong nghi kị, lại dùng toàn những người thân thích. Ông thì ngoài giản dị,
trong sáng suốt, dùng người toàn là nhân tài, thế là được về độ lượng.
Thiệu nhiều mưu mà ít quyết đoán.
Ông được mưu hay là làm ngay, thế là được về mưu lược.
Thiệu hiếu danh. Ông thì lấy bụng
thực đãi người, thế là được về đức.
Thiệu nghĩ chỗ gần, quên chỗ xa.
Ông thì nghĩ đâu cũng khắp, thế là được về nhân.
Thiệu hay nghe gièm pha, ngờ vực
người. Ông thì không tin những đứa sàm nịnh, thế là được về sự sáng suốt.
Thiệu phải trái hồ đồ. Ông thì
phép tắc phân minh, thế là được về văn.
Thiệu thích hư trương thanh thế,
nhưng không biết cách dùng binh. Ông thì lấy ít đánh được nhiều, dùng binh như
thần, thế là được về võ.
Ông có mười điều được ấy, đánh thắng
Thiệu có khó gì.
Tháo cười nói rằng:
- Ông nói thế! Tôi sao có đủ được
mười điều ấy.
Tuân Úc nói:
- Quách Phụng Hiếu kể mười điều
được của ông và mười điều thua của Viên Thiệu, quả là hợp ý tôi lắm. Quân Thiệu
dù nhiều cũng không đáng sợ.
Gia lại nói:
- Nay tôi xin lại hiến một kế: Lã
Bố ở Từ Châu là một mối lo trong lòng. Nay Thiệu lên mặt bắc để đánh Công Tôn
Toản. Ta nhân hắn đi xa hãy đánh Lã Bố trước, quét sạch cõi đông nam đã, rồi sẽ
đánh Viên Thiệu sau. Thế là hơn cả. Nếu ta đang đánh Viên Thiệu. Lã Bố thừa cơ
xâm phạm Hứa Ðô, thì lại hại to.
Tào Tháo cho là phải, bèn bàn việc
kéo quân sang đông đánh Lã Bố.
Tuân Úc nói:
- Hãy sai người sang hẹn với Lưu
Bị, đợi xem về báo thế nào, bấy giờ ta sẽ khởi binh.
Tháo nghe lời, một mặt đưa thư
cho Lưu Bị, một mặt hậu đãi sứ Viên Thiệu, tâu cho Thiệu làm đại tướng quân
thái uý, và đô đốc cả bốn châu: Ký, Thanh, U, Tịnh, lại đưa mật thư nói rằng:
“Ông cứ sang đánh Công Tôn Toản, tôi sẽ giúp ông”.
Thiệu được thư mừng lắm, liền sai
tiến quân đánh Công Tôn Toản.
Ở Từ Châu, mỗi lần yến hội tân
khách, bố con Trần Khuê cực lực ca tụng Lã Bố. Trần Cung không bằng lòng, nhân
lúc vắng nói với Lã Bố rằng:
- Cha con Trần Khuê ngoài mặt nịnh
tướng quân, nhưng thâm hiểm khó lường được. Tướng quân phải giữ gìn cho khéo.
Bố giận mắng rằng:
- Ngươi vô cớ gièm pha, muốn hại
người tốt hay sao?
Cung trở lui ra than rằng:
- Lời trung chẳng nghe. Lũ ta sẽ
mắc nạn cả.
Cung muốn bỏ Lã Bố đi nơi khác,
nhưng không nỡ, lại sợ người ta chê cười, cả ngày buồn rầu, không vui.
Một hôm Cung đem vài mươi quân kị
đi săn ở Tiểu Bái để giải trí, chợt gặp trên đường cái quan một người cưỡi ngựa
trạm phóng ngựa lên trước.
Cung có bụng nghi, bỏ ngay vây
săn, đem quân chạy đường tắt đuổi kịp, hỏi rằng:
- Ngươi là sứ giả của ai?
Người cưỡi ngựa biết Cung là bộ hạ
Lã Bố, sợ lúng túng không nói được. Cung sai khám trong mình, bắt được một
phong mật thư của Lưu Bị trả lời Tào Tháo.
Cung lập tức lôi cả người lẫn thư
lại trình Lã Bố, Bố hỏi người mang thư, người mang thư thưa: Tào thừa tướng sai
tôi mang thư đưa đến Lưu Dự Châu, nay được thư trả lời, tôi không biết trong
thư nói gì. Bố mở thư ra xem, thư nói rằng:
- “Tôi vâng lời minh công, muốn
trừ Lã Bố, ngày đêm vẫn phải lưu tâm. Ngặt tôi binh mọn tướng ít chưa dám khinh
động. Nếu thừa tướng cất quân sang đánh tôi xin làm tiền khu. Nay xin sắp binh
sửa giáp để đợi mệnh ngài”.
Lã Bố xem xong giận lắm, liền sai
đem chém sứ giả, rồi sai Trần Cung, Tang Bá kết liên với giặc Thái Sơn là Tôn
Quan, Ngô Ðôn, Doãn Lễ và Xương Hi, sang phía Đông đánh các quận Sơn Ðông, Duyện
Châu; sai Cao Thuận, Trương Liêu đánh Bái Thành, bắt Lưu Bị; sai Tống Hiến, Ngụy
Tục sang phía tây đánh Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên; Bố thì thống lĩnh trung quân để cứu
ứng ba mặt.
Cao Thuận dẫn quân từ Từ Châu sắp
đến Tiểu Bái, có người vào báo với Lưu Bị. Lưu Bị họp ngay các quan lại bàn.
Tôn Càn nói:
- Trước hết nên cáo cấp ngay với
Tào Tháo đã.
Lưu Bị hỏi:
- Ai sang Hứa Ðô bây giờ?
Dưới thềm có một người bước ra
xin đi, hỏi ra thì là người cùng làng với Lưu Bị, tên là Giản Ung, tự là Hiến
Hoà, hiện đương làm mạc tân. Huyền Ðức lập tức viết thư giao cho Ung, sai phải
cấp tốc đi cho mau đến Hứa Ðô cấp cứu; một mặt chuẩn bị khí cụ giữ thành. Lưu Bị
giữ cửa nam, Tôn Càn giữ cửa tây, Quan Công giữ cửa bắc, Trương Phi giữ cửa
đông; lại sai My Chúc và em là My Phương giữ trung quân.
Nguyên My Chúc có em gái gả cho
Lưu Bị làm vợ thứ, bởi thế Lưu Bị mới sai giữ ở trung quân để trông nom vợ con.
Khi quân Cao Thuận đến, Huyền Ðức
đứng trên địch lâu hỏi rằng:
- Ta cùng Phụng Tiên không hiềm
khích gì, cớ sao dẫn quân đến đây?
Thuận nói:
- Mày kết liên với Tào Tháo, quyết
hại chủ tao, nay việc đã tiết lộ, sao không chịu trói ngay!
Thuận nói xong vẫy quân vào
thành, Huyền Ðức đóng cửa không ra.
Hôm sau Trương Liêu dẫn quân đánh
cửa Bắc.
Quan Công đứng ở trên thành bảo
Trương Liêu rằng:
- Tôi trông ông nghi biểu cũng
không phải người thường, sao lại khuất thân theo giặc?
Trương Liêu nghe nói, cúi đầu xuống,
chẳng nói gì cả. Vân Trường biết rằng người ấy có khí trung nghĩa, không nỡ nói
quá, và cũng không ra đánh.
Liêu dẫn quân lui đến cửa đông.
Trương Phi ra đánh. Có người báo với Quan Công, Quan Công vội vàng ra cửa đông
xem thì thấy Trương Phi vừa ra thành thì Trương Liêu đã lui quân. Phi muốn đuổi
theo, Quan Công gọi lại bảo vào thành. Phi nói:
- Hắn sợ mà chạy làm sao không đuổi?
Quan Công nói:
- Võ nghệ người ấy chẳng kém gì
hai anh em ta đâu. Vì anh đã lấy lời phải bảo y, nên y có bụng hối không đánh
nhau với ta đó.
Phi từ ấy không ra đánh nữa, chỉ
sai quân sĩ cố giữ lấy thành.
Giản Ung đến Hứa Ðô, vào ra mắt
Tào Tháo, kể hết đầu đuôi. Tháo họp mưu sĩ lại để bàn, nói rằng:
- Nay ta muốn sang đánh Lã Bố, chẳng
lo gì Viên Thiệu chẹn nách, nhưng chỉ sợ Lưu Biểu với Trương Tú chúng chực ở đằng
sau đánh tập hậu.
Tuân Du nói:
- Hai người ấy mới thua, chưa dám
khinh động. Lã Bố kiêu dũng lắm, nếu để cho hắn kết liên được với Viên Thuật,
tung hoành bên vùng Hoài, Từ thì khó lòng trừ được.
Quách Gia nói:
- Nay nhân hắn mới làm phản, bụng
quân chưa ai phục, ta nên đánh ngay đi.
Tháo lập tức sai Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu
Uyên, Lã Kiền lĩnh năm vạn quân đi trước, tự mình thống đại quân lần lượt kéo
đi sau.
Giản Ung cũng theo về.
Có thám mã báo với Cao Thuận. Thuận
báo với Lã Bố. Hầu Thành, Hách Manh, Tào Tính dẫn hơn ba trăm quân kị tiếp ứng
Cao Thuận, ra đón Tháo ngoài Bái Thành ba mươi dặm. Lã Bố tự dẫn đại quân đến
tiếp ứng sau.
Lưu Bị ở trong thành Tiểu Bái thấy
Cao Thuận lui quân, biết rằng quân Tào đã đến, chỉ để Tôn Càn giữ thành; My
Chúc, My Phương giữ nhà, mình thì đem Quan, Trương ra ngoài thành, chia đường
đóng trại, tiếp ứng Tào Tháo.
Hạ Hầu Ðôn dẫn quân đi lên, vừa gặp
ngay Cao Thuận kéo quân đến, lập tức vác giáo cưỡi ngựa ra thách đánh. Cao Thuận
lại địch.
Hai bên đánh nhau bốn năm mươi hiệp.
Cao Thuận chống đỡ không nổi, thua chạy về trận. Ðôn tế ngựa đuổi theo. Thuận
chạy vòng quanh trận. Ðôn không tha cũng chạy vòng quanh đuổi.
Tào Tính đứng trong trận trông thấy
hai người đuổi nhau, ngầm giương cung đặt tên, nhìn thực đích xác, bắn một phát
trúng ngay mắt bên tả Hạ Hầu Ðôn.
Ðôn kêu to một tiếng, lấy tay rút
mũi tên ra, không ngờ cả con ngươi cũng bật ra. Ðôn nói rằng: “Tinh cha huyết mẹ
không nên bỏ”, rồi đút con ngươi vào mồm nuốt chửng, lại cầm giáo tế ngựa xông
vào đánh Tào Tính.
Tính chưa kịp đề phòng bị Ðôn đến
đâm một nhát vào giữa mặt, chết ngã quay xuống.
Quân sĩ hai bên trông thấy, ai
cũng khiếp đảm.
Ðôn giết được Tính rồi quay ngựa
về. Cao Thuận tự đằng sau đuổi lại vẫy quân kéo ùa cả lên.
Quân bên Tào thua. Hạ Hầu Uyên hộ
vệ anh chạy thoát.
Lã Kiền, Lý Ðiển rút bại quân về
Tế Bắc đóng trại.
Cao Thuận được trận ấy rồi quay về
đánh Lưu Bị. Giữa lúc ấy đại quân Lã Bố cũng đến.
Bố cùng Trương Liêu, Cao Thuận
chia quân làm ba đường tiến đánh…
Thế mới biết rằng:
Tiên phong trúng đạn khó lâu bền
Chưa biết Huyền Ðức chuyến này ra
làm sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
-------------------------------------------------
Thành Hạ Phì, Tào Tháo dùng binh
Lầu Bạch Môn, Lã Bố tuyệt mệnh
Cao Thuận, Trương Liêu đánh trại
Quan Công; Lã Bố đánh trại Trương Phi. Quan, Trương hai ông cùng ra đối địch.
Lưu Bị đem binh tiếp ứng hai trại, Lã Bố chia quân từ đằng sau đánh dồn lại.
Hai cánh quân Quan, Trương cùng vỡ.
Huyền Đức dẫn vài chục kỵ mã chạy
về Bái Thành. Lã Bố đuổi theo. Bị vội gọi quân trên thành buông cầu xuống để
cho quân vào.
Lã Bố đã đến nơi rồi mà trên
thành không dám bắn xuống, sợ bắn phải Huyền Đức. Lã Bố thừa thế xông vào
thành. Tướng sĩ giữ cửa thành không chống cự nổi, vùng té chạy cả. Lã Bố hô
quân vào thành, Huyền Đức thấy việc đã kíp, không kịp chạy về nhà nữa, đành bỏ
vợ con, một mình cưỡi ngựa, lẻn ra cửa tây chạy trốn.
Lã Bố đến tận nhà Lưu Bị. My Chúc
ra đón, nói với Lã Bố rằng:
- Tôi nghe: phàm đã gọi là đại
trượng phu là không hại vợ con người ta. Nay cùng tướng quân tranh thiên hạ ấy
là Tào Tháo, chứ như Huyền Đức vẫn nhớ ơn ông bắn kích ở nha môn, có khi nào
dám quên đâu! Nay bất đắc dĩ phải theo Tào Tháo. Xin tướng quân thể tất cho.
Bố nói:
- Phải, ta cùng Huyền Đức vốn là
bạn cũ với nhau, có đâu lại nỡ hại vợ con ông ấy!
Rồi sai My Chúc dẫn vợ con Lưu Bị
ra Từ Châu ở yên đó. Bố thì dẫn quân sang Sơn Đông, Duyện Châu, để Cao Thuận,
Trương Liêu ở lại giữ Tiểu Bái.
Bấy giờ Tôn Càn cũng đã trốn ra
ngoài thành. Quan, Trương mỗi người thu nhặt ít quân mã vào đóng ở nơi rừng rú.
Lưu Bị một mình cưỡi ngựa đi trốn,
đương đi thấy một người tế ngựa theo sau. Ngoảnh đầu lại xem ai thì là Tôn Càn.
Lưu Bị mới hỏi rằng:
- Nay hai em ta không biết sống
chết thế nào, vợ con ta thất lạc cả. Làm sao bây giờ?
Tôn Càn nói:
- Không bằng hãy về với Tào Tháo
rồi sau sẽ liệu.
Huyền Đức nghe lời đi tắt đường
nhỏ sang Hứa Đô.
Lúc đi đường nhỡ thiếu lương, phải
vào trong làng xin ăn. Đi đến đâu ai nghe thấy tiếng Lưu Dự Châu cũng tranh
nhau dâng đồ ăn uống.
Một hôm vào nghỉ trọ một nhà,
trong nhà có một chàng tuổi trẻ ra lạy. Bị hỏi tên họ là gì, người ấy nói là
con nhà săn bắn tên là Lưu An. Lưu An nghe thấy quan mục Dự Châu đi qua, muốn
kiếm đồ dã vị thết đãi, ngặt vì không tìm được thứ gì bèn giết vợ lấy thịt thết
Lưu Bị.
Huyền Đức hỏi:
- Thịt gì?
An thưa:
- Thịt chó sói!
Huyền Đức tưởng thực, ăn một bữa
no, rồi tối đi ngủ. Đến sáng sắp đi, ra đằng sau lấy ngựa, thấy ở dưới bếp có một
người đàn bà chết, thịt cánh tay đã cắt hết. Lưu Bị giật mình, hỏi ra mới biết
thịt ăn tối hôm trước là thịt vợ Lưu An. Huyền Đức thương xót không biết ngần
nào, gạt nước mắt, lên ngựa. Lưu An thưa với Huyền Đức rằng:
- Đáng lẽ tôi cũng xin theo sứ
quân, nhưng lại còn mẹ già nên chưa dám đi.
Huyền Đức từ tạ rồi đi, tìm đường
đến Lương Thành, bỗng thấy trước mặt có bụi bay mù mịt, một toán quân kéo đến.
Huyền Đức biết là quân Tào Tháo, liền cùng với Tôn Càn đi tắt đến trung quân,
vào yết kiến Tào công, nói hết cả sự tình mất Bái Thành, lạc hai em và vợ con bị
hãm. Tháo nghe nói chuyện cũng thương cảm rỏ nước mắt. Bị thuật lại cho Tháo biết
chuyện Lưu An giết vợ. Tháo sai Tôn Càn đem một trăm lạng vàng đến cho Lưu An.
Quân đi đến Tế Bắc, Hạ Hầu Uyên
ra đón ra trại, thuật lại chuyện anh là Hạ Hầu Đôn mất một con mắt, hiện còn ốm
chưa khỏi. Tháo vào tận giường nằm hỏi thăm, rồi sai người đưa về Hứa Đô để phục
thuốc. Một mặt sai người thám thính xem Lã Bố ở đâu. Quân do thám về báo rằng:
- Lã Bố cùng Trần Cung, Tang Bá
liên kết với giặc núi ăn cướp các huyện ở Duyện Châu.
Tháo sai ngay Tào Nhân đem ba
nghìn quân sang đánh Bái Thành. Tháo tự đem đại quân cùng Huyền Đức đi đánh Lã
Bố.
Đi đến Sơn Đông, gần cửa ải Tiêu
Quan gặp bọn giặc núi là Tôn Quan, Ngô Đôn, Doãn Lễ và Xương Hi, lĩnh hơn ba vạn
quân chắn ngang đường đi.
Tháo sai Hứa Chử ra đánh. Bốn tướng
giặc cùng cưỡi ngựa ra. Hứa Chử cố chết lăn xả vào đánh. Bốn tướng chống cự
không nổi đều thua chạy. Tháo thừa thế đánh dấn, đuổi đến cửa Tiêu Quan.
Có thám mã phi đến báo với Lã Bố.
Bấy giờ Lã Bố đã về Từ Châu rồi, muốn đi với Trần Đăng ra cứu Tiểu Bái, mới sai
Trần Khuê giữ lấy Từ Châu. Khi Trần Đăng đi, bố là Trần Khuê bảo con rằng:
- Xưa Tào công có dặn phàm việc
phương đông, giao cho con cả. Nay Lã Bố đã sắp đến lúc thua, con nên liệu đấy
mà làm.
Đăng nói:
- Mọi việc bên ngoài con xin tự
lo liệu cả. Hễ Lã Bố có thua trở về, xin cha cùng My Chúc giữ lấy thành, đừng
cho nó vào. Con đã có kế thoát thân.
- Vợ con Lã Bố ở đây, những tướng
tâm phúc nó ở đây cũng nhiều thì làm thế nào?
Đăng nói:
- Con cũng có cách.
Đăng nói rồi vào ra mắt Lã Bố
thưa rằng:
- Từ Châu bốn mặt trống trải.
Tháo tất cố sức đánh. Ta nên nghĩ đường tháo trước. Nên vận tiền lương sang chứa
ở Hạ Phì, nếu Từ Châu bị vây, Hạ Phì có tiền lương thì còn cứu được. Chúa công
sao không liệu đi?
Bố nói:
- Anh nói rất phải, để ta đem
ngay cả vợ con sang đó.
Liền sai ngay Tống Hiến, Nguỵ Tục
hộ vệ vợ con cùng là tiền lương, đem cả sang Hạ Phì, rồi một mặt dẫn quân cùng
Trần Đăng ra cứu Tiêu Quan.
Đi đến nửa đường, Đăng nói:
- Hãy để tôi đến ải xem Tào binh
hư thực thế nào, rồi chúa công hãy nên đến.
Bố ưng như thế. Đăng đến cửa ải.
Lũ Trần Cung ra đón. Đăng nói:
- Ôn hầu thấy các ông không chịu
đánh, lấy làm kỳ quái, muốn đến để trách mắng các ông đấy.
Cung nói:
- Nay quân Tào thế lớn, không nên
khinh địch. Chúng tôi ở đây giữ vững cửa ải. Ông nên về nói với chúa công giữ lấy
Bái Thành cho cẩn thận là phải hơn.
Trần Đăng thưa:
- Dạ! Dạ! Xin nhận lời.
Đến chiều tối Đăng lên cửa ải
nhìn xem, thấy quân Tào đóng sát ở dưới cửa. Đến đêm Đăng viết luôn ba cái thư,
buộc trên đầu tên bắn xuống dưới ải.
Hôm sau, Đăng từ giã Trần Cung tế
ngựa trở về, vào nói với Lã Bố rằng:
- Lũ Tôn Quan trên ải muốn dâng cửa
quan cho Tào Tháo. Tôi đã dặn Trần Cung giữ gìn ở đó, tướng quân chiều hôm nay
nên ra cứu ứng.
Bố nói:
- May quá! Không có ông thì cửa ải
thật hỏng mất rồi.
Rồi sai Trần Đăng tế ngựa đến cửa
ải, hẹn với Trần Cung làm nội ứng, đốt lửa làm hiệu. Đăng đến bảo Trần Cung rằng:
- Quân Tào đi lẻn đường nhỏ đã
vào lọt trong cửa ải. Từ Châu nguy mất. Các ông phải về ngay mới được!
Cung liền dẫn quân bỏ cửa ải chạy
về. Đăng đốt hiệu lửa ở trên cửa ải. Quân Lã Bố đang đêm kéo đến, quân Trần
Cung cùng quân Lã Bố đánh lộn nhau trong đêm tối. Quân Tào ở ngoài thấy hiệu lửa,
thừa thế đánh ùa vào. Lũ Tôn Quan chạy tan hoang cả.
Lã Bố đánh mãi đến sáng mới biết
rằng mình lại đánh quân mình, hấp tấp cùng Trần Cung kéo về Từ Châu. Khi đến
bên thành gọi cửa. Cửa chẳng thấy ai mở, chỉ thấy trên thành tên bắn xuống như
mưa. Được một lát thấy My Chúc ở trên địch lâu quát to lên rằng:
- Mày cướp thành trì của chúa
tao, nay phải trả. Không được vào đây nữa!
Lã Bố giận nói rằng:
- Trần Khuê ở đâu?
Chúc nói:
- Tao đã giết nó rồi!
Bố ngoảnh lại hỏi Trần Cung:
- Trần Đăng ở đâu?
Cung nói:
- Tướng quân mê ư, lại còn hỏi thằng
giặc nịnh tặc ấy?
Bố sai tìm khắp cả trong quân, chẳng
thấy Trần Đăng đâu cả.
Cung khuyên Lã Bố về Tiểu Bái. Bố
nghe lời. Đi đến nửa đường lại thấy một toán quân kéo đến.
Trông ra là Cao Thuận, Trương
Liêu. Bố hỏi:
- Đi đâu?
Cao Thuận, Trương Liêu nói:
- Trần Đăng nói rằng chúa công bị
vây, sai chúng tôi lại cứu.
Cung nói:
- Đây là kế của thằng nghịch tặc
rồi!
Bố giận lắm nói rằng:
- Thế nào ta cũng giết được thằng
phản tặc mới nghe!
Kíp tế ngựa đến Tiểu Bái, trên
thành đã thấy cắm nhan nhản những cờ Tào.
Nguyên Tào Tháo đã sai Tào Nhân lừa
lấy thành trì và đem quân đến giữ rồi.
Lã Bố ở dưới thành chửi mắng Trần
Đăng. Đăng ở trên thành trỏ vào Bố mắng lại rằng:
- Tao làm tôi nhà Hán, lại chịu
thờ mày là thằng phản tặc hay sao?
Lã Bố giận lắm, vừa sắp đánh
thành, chợt nghe sau lưng có tiếng reo, rồi thấy một đội quân mã kéo đến.
Trương Phi đi đầu.
Cao Thuận ra địch không nổi, phải
vào. Lã Bố xông vào. Bấy giờ ở ngoài trận lại nghe thấy tiếng reo, Tào Tháo kéo
cả đại quân đến đánh. Lã Bố trông chừng đương không nổi, dẫn quân chạy về mặt
đông. Tào binh từ đằng xa đuổi lại. Lã Bố chạy, người đã nhọc ngựa đã mỏi, chợt
lại có một toán quân nữa ở đâu kéo đến, chẹn ngang đường đi, rồi thấy một tướng
vác long đao, dừng ngựa lại thét to lên rằng:
- Lã Bố đừng chạy! Ta là Quan Vân
Trường đây!
Lã Bố vội ra tiếp chiến. Sau lưng
Trương Phi mới đổ dồn lại. Bố không dám ham đánh, cùng lũ Trần Cung đánh mở lấy
một đường, chạy tắt đến Hạ Phì. Hầu Thành dẫn quân ra tiếp vào thành.
Quan, Trương từ khi thua chạy trốn,
bấy giờ mới gặp được nhau. Hai người cùng gạt nước mắt, thuật lại cùng nhau
chuyện ly tán. Vân Trường nói:
- Tôi đóng ở trên đường Hải Châu,
nghe được tin nên tôi đến đây.
Trương Phi nói:
- Em ở trong núi Mang Đãng, ở được
ít lâu. Hôm nay được gặp nhau, thực là may quá!
Hai người nói chuyện xong, dắt
nhau đến trước Lưu Bị, cùng lạy xuống đất mà khóc.
Huyền Đức nửa thương nửa mừng, dẫn
hai người vào ra mắt Tào Tháo rồi theo Tháo vào Từ Châu. My Chúc ra tiếp, nói rằng:
“Gia quyến đều bình an cả”. Huyền Đức mừng lắm.
Hai bố con Trần Khuê bấy giờ cũng
lại yết kiến Tào Tháo.
Tháo sai mở một tiệc yến lớn để
khao các tướng. Tháo ngồi giữa, sai Trần Khuê ngồi bên tả, Lưu Bị ngồi bên hữu,
còn các tướng sĩ cứ thứ tự mà ngồi.
Ăn yến xong, Tháo khen công bố
con Trần Khuê, phong thêm cho ăn lộc mười huyện, lại cho Đăng làm Phục ba tướng
quân.
Tào Tháo lấy được Từ Châu, trong
bụng mừng lắm, bàn với các tướng, muốn khởi binh sang đánh Hạ Phì.
Trình Dục nói:
- Lã Bố nay chỉ có một thành Hạ
Phì, nếu ta đánh nó cấp quá, tất nó liều chết mà đánh để chạy sang với Viên Thuật.
Bố mà hiệp sức với Viên Thuật thì khó lòng mà trị được lắm. Nay nên sai người
tài giỏi, giữ chẹn các ngả đường hiểm Hoài Nam, trong phòng Lã Bố ra, ngoài chống
Viên Thuật. Vả lại ở Sơn Đông, còn có lũ Tang Bá, Tôn Quan chưa quy phục về ta,
mặt ấy càng nên phòng giữ cẩn thận.
Tháo nói:
- Thôi, ta tự giữ mặt Sơn Đông,
còn Huyền Đức thì giữ mặt Hoài Nam.
Lưu Bị nói:
- Thừa tướng sai, tôi xin vâng.
Hôm sau, Lưu Bị để My Chúc, Giản
Ung ở Từ Châu, rồi đem Tôn Càn, Quan Vũ và Trương Phi dẫn quân ra giữ các ngả
đường Hoài Nam. Tào Tháo thì tự dẫn binh đi đánh Hạ Phì.
Lã Bố ở Hạ Phì cậy rằng lương ăn
đủ dùng, vả lại có sông Tứ Thuỷ hiểm trở, vững dạ giữ ở đó, không lo ngại gì nữa.
Một bữa Trần Cung nói rằng:
- Nay binh Tào Tháo mới đến, nên
nhân lúc nó chưa lập trại xong, ta thong thả nghỉ ngơi đánh kẻ địch khó nhọc vất
vả quyết nhiên là được.
Bố nói:
- Ta vừa mới thua mãi, không nên
khinh địch. Đợi khi nào nó đến đánh, ta sẽ ra đánh, tất quân nó lăn cả xuống Tứ
Thuỷ.
Bố không nghe lời Trần Cung.
Được vài hôm, Tào Tháo lập trại
xong, đem các tướng đến dưới thành, gọi Lã Bố ra nói chuyện. Bố đứng trên mặt
thành. Tháo gọi bảo rằng:
- Ta nghe Phụng Tiên muốn kết
thân với Viên Thuật, cho nên đem binh đến đây. Thuật có tội phản nghịch lớn, mà
ông thì có công đánh Đổng Trác, sao ông lại bỏ công trước của mình mà đi theo đứa
phản tặc. Nếu bây giờ tôi phá được thành trì của ông, thì ông còn hối sao kịp
làm sao? Bằng nay ông hàng ngay đi, cùng giúp nhà vua, ông sẽ được phong tước hầu.
Bố nói:
- Thừa tướng hãy về đi, để tôi
bàn đã.
Trần Cung đứng bên cạnh Bố, thấy
Tháo, quát to lên mắng Tháo là nghịch tặc, rồi bắn một mũi tên xuống, trúng vào
lọng Tào Tháo.
Tháo trỏ vào Cung, nghiến răng lại
mà rằng:
- Tao thề thế nào cũng giết mày.
Nói rồi dẫn ngay quân vào đánh
thành.
Cung bảo với Bố rằng:
- Tào Tháo tự xa đến đây, thế
cũng không ở lâu được. Tướng quân nên đem cả quân bộ quân kỵ ra đóng đồn ở
ngoài, tôi thì giữ ở trong thành. Hễ Tháo đánh tướng quân thì tôi xin đem quân
đánh tập hậu, hễ nó đánh thành thì tướng quân về cứu. Độ mười ngày, quân Tháo hết
lương bấy giờ chỉ đánh một trận là phá được. Thế ấy gọi là thế “ỷ giốc”.
Bố nói:
- Ông nói phải lắm.
Rồi về ngay phủ, thu xếp khí giới,
áo giáp.
Bấy giờ đang mùa đông rét mướt, Bố
sai quân hầu đem nhiều áo bông đi.
Vợ Lã Bố là họ Nghiêm nghe thấy
thế, ra hỏi chồng rằng:
- Ông sắm sửa đi đâu thế?
Bố kể lại với vợ mưu của Trần
Cung.
Họ Nghiêm nói:
- Nay ông bỏ thành không trông gì
đến vợ con, đem quân ra tận xa. Vì dù một mai, có biến thì thiếp sao được trông
thấy ông nữa.
Bố nghe nói ngần ngừ, trong bụng
không biết định bề nào, ba hôm không ra đến ngoài.
Cung vào nói rằng:
- Quân Tào Tháo bốn mặt vây
thành, nếu không ra ngoài thì khốn đến nơi.
Bố nói:
- Ta nghĩ chạy ra ngoài xa, sao bằng
giữ vững ở đây?
Cung nói:
- Mới rồi tôi vừa nghe thấy tin
Tháo hết lương, có sai quân về Hứa Đô để vận tải đến. Nay mai sắp đến nơi. Tướng
quân nên đem tinh binh ra chẹn đường mang lương. Kế ấy thực là hay.
Bố chịu kế ấy là phải, lại vào hỏi
vợ. Họ Nghiêm khóc nói rằng:
- Nếu tướng quân đi thì Trần
Cung, Cao Thuận giữ làm sao nổi được thành này? Ngộ có điều lầm lỡ gì thì hối
làm sao? Khi xưa thiếp ở Trường An đã bị tướng quân bỏ, may nhờ Bàng Thư giấu
giếm mới lại được đoàn tụ với tướng quân. Không ngờ bây giờ tướng quân lại bỏ
thiếp mà đi? Đường công danh của tướng quân còn nhiều, xin chớ nghĩ đến thiếp nữa!
Nghiêm thị nói xong khóc lóc thảm
thiết.
Bố nghe nói, trong bụng buồn bã,
không biết nghĩ thế nào. Lại vào nói chuyện với Điêu Thuyền. Thuyền nói:
- Tiện thiếp đã đem thân vào gửi
tướng quân là trăm điều trông cậy ở tướng quân cả. Xin tướng quân nghe thiếp đừng
khinh suất ra ngoài.
Bố nói:
- Chớ lo ngại gì. Ta có ngọn hoạ
kích này, ngựa Xích Thố kia thì ai dám đến gần ta.
Bèn ra bảo Trần Cung rằng:
- Quân Tào vận lương đến, là chước
dối đấy. Tháo nhiều quỷ kế lắm, ta chưa nên cất quân vội.
Cung trở ra mà than rằng:
- Chúng ta phen này chết không có
đất chôn!
Lã Bố từ đó cả ngày không ra đến
ngoài, chỉ cùng với họ Nghiêm và Điêu Thuyền uống rượu giải buồn.
Một bữa có mưu sĩ Hứa Dĩ và Vương
Khải vào hầu hiến kế như sau:
- Viên Thuật ở Hoài Nam thanh thế
to lắm, tướng quân trước đã ước hôn với Thuật, nay sao không sang mà cầu? Giả
thử quân Thuật sang cứu ta, trong đánh ra, ngoài đánh vào, khó gì mà chẳng phá
được Tháo.
Bố nghe kế ấy lập tức viết thư,
sai ngay hai người ấy đem đi.
Hứa Dĩ nói:
- Phải có quân đưa đường cho
chúng tôi mới đi được.
Bố sai Trương Liêu, Hách Manh hai
tướng dẫn một nghìn quân đưa ra khỏi cửa ải.
Canh hai đêm hôm ấy, Trương Liêu
đi trước, Hách Manh đi sau giữ gìn cho Hứa Dĩ, Vương Khải kéo ra cửa thành, chạy
qua trại Huyền Đức, các tướng ra đuổi không kịp, thoát được khỏi cửa ải, Hách
Manh đem năm trăm quân đi theo Dĩ, Khải. Trương Liêu thì dẫn một nửa quân trở về.
Khi về đến cửa ải thì gặp Quan Công ra chẹn đường, nhưng Quan Công chưa kịp
đánh, Cao Thuận đã dẫn quân ra cứu, đón được Trương Liêu vào thành. Hứa Dĩ,
Vương Khải đến Thọ Xuân vào bái kiến Viên Thuật dâng trình thư Lã Bố.
Thuật nói:
- Trước kia giết sứ của ta, lừa
ta việc hôn nhân, nay sao lại đến đây?
Dĩ nói:
- Việc ấy trước vốn là tại mưu
Tào Tháo nó làm nhỡ ra. Xin ngài xét lại cho rõ.
Thuật nói:
- Chủ mày nếu không bị Tào Tháo bức
bách sao chịu đem con gái gả cho con ta.
Vương Khải nói:
- Chủ tôi sai tôi sang đây, chẳng
qua cũng là lợi cả hai bên. Phỏng như bây giờ mà ngài nhất định không cứu, e rằng
môi hở răng lạnh cũng không phải là phúc gì cho ngài đâu.
Viên Thuật nói:
- Phụng Tiên vốn có tính giáo giở,
đưa con gái sang đây đã, rồi ta sẽ cất quân.
Hứa Dĩ, Vương Khải nói mãi không
được phải trở về cùng với Hách Manh, lúc đi sắp đến trại Huyền Đức thì Dĩ nói:
- Ban ngày, không đi được, phải
chờ đến nửa đêm hai chúng ta đi trước. Hách tướng quân đi chặn hậu.
Bàn nhau rồi, đêm hôm ấy đi qua
trại Lưu Bị. Hứa Dĩ, Vương Khải đi trước được thoát còn Hách Manh đương đi thì
gặp Trương Phi ra chặn đường, Hách Manh vào giao chiến, chỉ được một hiệp, bị
Trương Phi bắt sống đem đi. Năm trăm quân đi theo cũng bị Phi đánh giết tan nát
cả.
Trương Phi giải Hách Manh vào gặp
Lưu Bị, Lưu Bị giải sang trình Tào Tháo. Hách Manh nói hết cả chuyện hứa hôn cầu
cứu. Tháo giận lắm sai đem Manh ra cửa quân chém, lại truyền lệnh cho các trại
“Phải phòng giữ cẩn thận, trại nào để cho Lã Bố và quân sĩ Lã Bố chạy lọt qua
được, sẽ lấy quân pháp xử trị”. Các trại đều lo sợ, ai nấy canh giữ thực riết.
Lưu Bị về trại, dặn bảo Quan,
Trương rằng:
- Trại ta chính ở giữa đường hiểm
Hoài Nam, hai em nên giữ cẩn thận, chớ phạm vào quân lệnh Tào công.
Phi nói:
- Ta bắt được một tướng giặc, Tào
Tháo không thấy khen thưởng gì, lại còn dậm doạ, là làm sao?
Lưu Bị nói:
- Không phải là doạ. Tào công thống
lĩnh nhiều quân, không có quân lệnh, làm sao bắt chúng phục tùng được? Em đừng
nên phạm.
Quan, Trương vâng lời rồi ra.
Hứa Dĩ, Vương Khải về được vào hầu
Lã Bố nói rằng:
- Viên Thuật muốn được nàng dâu
trước rồi mới cất quân đến cứu.
Bố hỏi:
- Đưa dâu đi thế nào được?
Dĩ nói:
- Nay Tào Tháo đã bắt được Hách
Manh tất nhiên nó biết cả mưu của ta rồi, mà đường sá thì tất nó giữ gìn thật
nghiêm. Phi tướng quân thân hành hộ tống, thì không ai lọt ra được.
Bố hỏi:
- Đi ngay hôm nay có được không?
Dĩ nói:
- Hôm nay xấu ngày lắm không nên
đi. Ngày mai tốt lắm, nên đi vào giờ tuất hoặc giờ hợi.
Bố sai Trương Liêu, Cao Thuận dẫn
ba nghìn quân mã dặn rằng:
- Phải sắm sẵn một cỗ xe nhỏ, ta
đưa con gái ta ra khỏi hai trăm dặm, rồi hai người đưa sang tận Hoài Nam.
Canh hai đêm hôm sau, Lã Bố lấy
bông quấn vào mình con gái, ngoài mặc áo giáp, rồi cõng ở trên lưng, vác kích
nhảy lên ngựa, mở cửa thành ra. Lã Bố đi trước, Trương Liêu, Cao Thuận đi theo
sau.
Lúc sắp đến trại Lưu Bị thì có một
tiếng trống nổi lên rồi thấy Quan, Trương ra chắn ngang đường đi, quát to lên:
- Đừng chạy! Đừng chạy nữa!
Bố bấy giờ không còn dám nghĩ đến
chuyện đánh nhau nữa, chỉ cố chạy cho thoát. Lưu Bị dẫn một toán quân kéo lại
hai bên đánh nhau giáp lá cà.
Lã Bố tuy khoẻ, nhưng trên lưng
còn cõng con, sợ con bị thương, không dám xông pha cho lắm, chỉ chống đỡ làm
sao cho chạy thoát mà thôi.
Đằng sau Từ Hoảng, Hứa Chử lại
kéo quân đến. Quân sĩ cùng reo lên rằng:
- Không được để cho Lã Bố chạy
thoát!
Bố thấy quân xô lại kíp lắm, lại
phải quay vào trong thành.
Lưu Bị thu quân về. Lũ Từ Hoảng
ai cũng về trại nấy. Quân Lã Bố không chạy lọt được một người.
Lã Bố về thành, trong bụng lo buồn,
ngày nào cũng chỉ uống rượu.
Tào Tháo đánh ròng rã hai tháng
trời mà chưa hạ được. Chợt lại có người báo rằng:
- Thái thú Hà Nội là Trương
Dương, đem quân ra Đông Thị, định đến cứu Lã Bố, lại bị bộ tướng là Dương Sú giết
chết. Sú toan đem đầu Trương Dương đến dâng thừa tướng, chẳng may lại phải tướng
tâm phúc nhà Trương Dương là Khuê Cố giết mất; Khuê Cố nay đã đi sang Khuyển
Thành mất rồi.
Tháo lập tức sai Sử Hoán đuổi
theo chém Khuê Cố. Nhân việc ấy Tháo bàn với các tướng rằng:
- Trương Dương nó bị nội phản mà
chết, thế là may cho ta lắm, nhưng tuy rằng thế, mặt bắc lại còn có Viên Thuật,
mặt đông còn có Lưu Biểu, Trương Tú; cũng là phải lo cả; mà Hạ Phì đây thì vây
mãi chưa đánh được. Ta muốn tha cho Lã Bố, về Hứa Đô, tạm nghỉ ít bữa, các
ngươi nghĩ thế nào?
Tuân Du vội vàng ngăn rằng:
- Không nên! Không nên! Lã Bố
thua luôn, nhuệ khí đã nhụt. Quân cốt có tướng, tướng đã suy, lòng quân cũng nản.
Trần Cung tuy có mưu nhưng ứng biến chậm. Nay khí thế của Bố chưa hồi, mưu Trần
Cung chưa định, đánh cho gấp, chắc là bắt được Lã Bố.
Quách Gia lại hiến một kế:
- Tôi có một kế phá được Hạ Phì,
kế ấy dùng hai mươi vạn quân cũng không bằng.
Tuân Úc hỏi:
- Kế ấy có phải là khai sông
Nghi, sông Tứ ra không?
Gia cười nói rằng:
- Chính phải!
Tháo mừng lắm, sai ngay quân sĩ
khơi đào ngay hai con sông ấy.
Quân Tào đóng trên gò cao, ngồi
trông nước chảy vào Hạ Phì.
Thành Hạ Phì chỉ có cửa đông
không có nước, còn các cửa đều bị ngập cả.
Quân sĩ vào báo Lã Bố. Bố nói:
- Ta có ngựa Xích thố, bơi dưới
nước như đi trên cạn, có việc gì mà lo?
Bèn cùng vợ và nàng hầu say sưa
suốt ngày, nhân vì tửu sắc quá độ, hình dáng gầy võ. Một hôm, cầm gương soi,
than rằng:
- Ta bị tửu sắc làm hại rồi, từ
nay phải chừa mới được.
Bèn truyền lệnh:
- Hễ ai uống rượu thì chém!
Một bữa Hầu Thành có mười lăm con
ngựa, bị người giữ ngựa ăn trộm, muốn đem dâng Lưu Bị. Hầu Thành biết, đuổi giết
được người giữ ngựa, cướp ngựa được đem về. Các tướng đến mừng Hầu Thành.
Thành nhân có nấu được năm sáu hũ
rượu, muốn đem ra mời các tướng cùng uống, nhưng sợ Lã Bố bắt tội, mới đem năm
bình đến biếu Lã Bố và bẩm rằng:
- Nay tôi nhờ oai tướng quân cho
nên lại bắt được ngựa mất. Các tướng đều đến mừng. Tôi có nấu được ít rượu,
chưa dám tự tiện, trước xin đem dâng tướng quân.
Bố nổi giận nói rằng:
- Tao đang cấm rượu, sao mày dám
nấu rượu, tụ tập với nhau để uống? Chúng bay đồng mưu định hại tao hay sao đấy?
Bố sai lôi Hầu Thành ra chém. Lũ
Tống Hiến, Nguỵ Tục và các tướng cùng vào van xin cho Hầu Thành.
Bố nói:
- Cố ý trái lệnh, lẽ ra phải
chém, nay nể các tướng hãy đánh nó một trăm roi.
Các tướng lại xúm vào kêu van, Hầu
Thành bị đánh năm mươi roi, lưng bị lằn cả lên mới được tha.
Các tướng thấy thế ai cũng ngán
lòng.
Tống Hiến, Nguỵ Tục đến nhà Hầu
Thành hỏi thăm. Hầu Thành khóc nói rằng:
- Không có các ông thì tôi chết rồi.
Hiến nói:
- Bố chỉ quý vợ con, coi chúng ta
như củi rác cả.
Tục nói:
- Quân vây dưới thành, nước quanh
bên hào, chúng ta chưa biết chết ngày nào.
Hiến bàn rằng:
- Lã Bố không có nhân nghĩa gì,
chúng ta bỏ nó mà đi. Các ông nghĩ sao?
Tục nói:
- Bỏ đi không phải là trượng phu,
sao bằng bắt nó đem nộp Tào công.
Hầu Thành nói:
- Tôi vì cướp lại được ngựa mà bị
nó đánh, nó cậy có con ngựa Xích Thố, nếu hai ông định bắt nó và dâng thành,
tôi sẽ lấy trộm ngựa của nó đem nộp Tào công trước.
Ba người bàn định xong rồi, đêm
hôm ấy Hầu Thành lẻn ngay vào chuồng ngựa, ăn trộm ngựa Xích Thố, chạy ra cửa
đông. Nguỵ Tục mở cửa cho ra rồi lại tảng lờ đuổi theo không kịp.
Hầu Thành đến trại Tào Tháo, đem
ngựa dâng lên, nói rằng:
- Tống Hiến, Nguỵ Tục cắm ngọn cờ
trắng để làm hiệu, hai người ấy sắp sẵn để dâng cửa thành.
Tháo nghe nói, liền viết ngay vài
chục tờ bố cáo bắn vào trong thành. Văn rằng:
“Đại tướng quân Tào: phụng chiếu
vua, đến đánh Lã Bố, ai dám kháng cự với quân ta, hễ khi phá thành, cả nhà sẽ bị
giết, trên từ tướng hiệu, dưới đến thứ dân, ai bắt sống được Lã Bố, hoặc lấy đầu
đem dâng, sẽ được trọng thưởng, nay hiểu dụ, để mọi người đều biết”.
Sáng hôm sau, ngoài thành có tiếng
reo dậy đất. Lã Bố thất kinh, vác kích lên thành đi dạo các cửa xem xét, trách
mắng Nguỵ Tục để Hầu Thành chạy thoát, làm mất ngựa quý, định đem Nguỵ Tục ra
làm tội. Quân Tào ở dưới thành, trông thấy trên thành có lá cờ trắng, cố sức
đánh thành. Bố phải thân ra chống giữ, từ sáng đến trưa quân Tào mới lui.
Lã Bố lên lầu tạm nghỉ ở trên
tràng kỷ không ngờ ngủ quên mất. Tống Hiến đuổi tả hữu ra, trước hết ăn trộm
cây hoạ kích, rồi gọi Nguỵ Tục vào cùng ra tay lấy thừng chão trói Lã Bố thật
chặt.
Lã Bố đang bàng hoàng giấc ngủ,
thấy động, mở choàng mắt ra, vội vàng gọi tả hữu, đều bị Hiến và Tục đánh tan hết
cả. Tống Hiến cầm lá cờ trắng vẫy một cái, quân Tào đến cả dưới thành. Nguỵ Tục
nói to lên rằng:
- Đã bắt sống được Lã Bố rồi!
Hạ Hầu Uyên chưa tin, Tống Hiến ở
trên thành ném cây kích xuống, mở to cửa thành ra. Quân Tào kéo ùa cả vào.
Cao Thuận, Trương Liêu bấy giờ ở
cửa tây, nước vòng quanh cả không sao ra được, cũng bị quân Tào bắt sống. Trần
Cung chạy đến cửa nam, bị Từ Hoảng bắt.
Tào Tháo vào thành, lập tức truyền
lệnh cho tháo nước ra, rồi treo bảng yên dân.
Tháo cùng với Lưu Bị lên ngồi
trên lầu Bạch Môn. Quan Vũ, Trương Phi đứng hầu bên cạnh. Quân lính giải những
tù binh đến.
Lã Bố tuy lực lưỡng, nhưng thừng
trói chặt quá. Bố nói:
- Trói chặt quá, nới cho một tí.
Tào Tháo nói:
- Trói hổ phải trói cho chặt!
Lã Bố thấy Hầu Thành, Tống Hiến,
Nguỵ Tục đứng ở hai bên, trách rằng:
- Ta đãi các ngươi không bạc, sao
nỡ phản ta?
Hiến nói:
- Chỉ nghe lời vợ, không theo mưu
tướng, sao gọi là không bạc?
Bố nín lặng.
Được một lát, quân lại giải Cao
Thuận đến, Tào Tháo hỏi:
- Ngươi có muốn nói gì không?
Cao Thuận không trả lời, Tào Tháo
giận sai đem chém ngay.
Từ Hoảng giải Trần Cung đến.
Tháo hỏi:
- Công Đài vẫn mạnh khoẻ chứ?
Cung nói:
- Bụng dạ ngươi bất chính, cho
nên ta bỏ ngươi.
Tháo nói:
- Ông trách tôi là người bất
chính, sao ông lại đi theo Lã Bố?
Cung trả lời:
- Lã Bố là người vô mưu mà thôi,
chớ không có quỷ trá gian hiểm như ngươi.
Tháo hỏi:
- Ông tự cho là nhiều mưu trí,
sao nay đến nỗi này?
Cung nhìn Lã Bố nói rằng:
- Chỉ giận rằng người này không
nghe lời ta. Nếu nghe lời ta thì chưa chắc.
Tháo hỏi:
- Bây giờ ông nghĩ sao?
Cung nói to lên rằng:
- Bây giờ chỉ có chết mà thôi!
Tháo hỏi:
- Ông đã vậy, còn mẹ già ông và vợ
con ông thì làm sao?
Cung nói:
- Tôi nghĩ người nào lấy đạo hiếu
trị thiên hạ thì không hại bố mẹ người ta; người nào thi hành nhân chính ở
thiên hạ thì không làm đứt tuyệt hương hoả người ta. Vậy mẹ tôi và vợ con tôi,
sống chết cũng ở trong tay ông. Tôi đã bị bắt xin chịu chết ngay, trong lòng
không còn vướng víu điều gì.
Tháo còn có ý lưu luyến.
Cung bước thẳng xuống lầu, tả hữu
lôi lại không được. Tháo đứng dậy khóc tiễn Trần Cung.
Cung không ngoảnh cổ lại.
Tháo truyền cho lính hầu rằng:
- Lập tức phải đem mẹ già và vợ
con Công Đài về Hứa Đô để phụng dưỡng. Hễ ai chậm trễ ta sẽ chém ngay.
Cung nghe lời Tháo nói cũng làm
thinh vươn cổ ra cho quân chém.
Ai trông thấy cũng rỏ nước mắt
khóc. Tháo sai lấy quan quách khâm liệm đem về táng ở Hứa Đô.
Đời sau có thơ khen rằng:
Khảng khái thay đáng bực anh hùng
Nhời vàng đá nọ sao không dụng
Tài sến lim kia huống bỏ không
Một bụng giúp người, trung với chúa
Chút tình giã mẹ, xót cho ông
Bạch Môn khi ấy còn ghi tiếng
Thiên hạ ai là kẻ sánh cùng!
Đương khi Tào Tháo tiễn Trần Cung
xuống lầu, Lã Bố ngoảnh mặt lại Lưu Bị trách rằng:
- Ông là khách trên ghế, tôi là
tù dưới thềm, sao không nói giúp cho một nhời?
Lưu Bị gật đầu.
Đến khi Tào Tháo trở lên, Bố kêu
rằng:
- Ông không lo ngại ai bằng lo ngại
tôi. Nay tôi đã chịu ông. Ông làm đại tướng, tôi làm phó tướng, việc thiên hạ
khó gì không định nổi?
Tháo ngoảnh mặt lại hỏi Huyền Đức:
- Thế nào?
Huyền Đức nói:
- Ông còn nhớ chuyện Đinh Kiến
Dương và Đổng Trác không?
Bố nhìn vào Lưu Bị nói:
- Thằng này thực là vô tín.
Tháo sai đem xuống lầu thắt cổ. Bố
lại ngoảnh lại bảo Lưu Bị rằng:
- Thằng tai to kia, quên mất công
tao bắn kích ở nha môn rồi à?
Chợt có một người quát to lên rằng:
- Đồ hèn Lã Bố kia! Chết thì chết,
sợ gì!
Chúng nhìn xem ai, thì là Trương
Liêu, đang bị quân đao phủ dẫn đến.
Tháo sai đem Lã Bố xuống thắt cổ
rồi mới chặt đầu đem bêu.
Đời sau có thơ rằng:
Nhớ khi Lã Bố bắt mang đi
Ngựa khoe Xích Thố, làm gì được
Kích cậy phương thiên, có ích chi
Trói hổ còn mong chi trói lỏng
Nuôi ưng, mới biết cũng nuôi thì
Nghe lời vợ, chẳng nghe lời tướng
Mắng kẻ tai to khéo chẳng suy
Lại có thơ luận
về Huyền Đức rằng:
Kìa! Kìa! Đinh, Đống máu còn nhơ
Đã hay hổ đói hay ăn thịt
Để thịt Tào Man chẳng được dư?
Bấy giờ võ sĩ giải Trương Liêu đến.
Tháo trỏ vào Liêu mà bảo rằng:
- Thằng này trông quen quen!
Liêu nói:
- Phải, gặp nhau trong thành Bộc
Dương, đã quên rồi ư?
Tháo cười mà hỏi rằng:
- Thế ra mày còn nhớ à?
Liêu nói:
- Nhưng rất đáng tiếc!
Tháo hỏi:
- Tiếc cái gì?
Liêu nói:
- Tiếc hôm ấy lửa không cháy to đốt
chết thằng quốc tặc là mày!
Tháo giận lắm, mắng rằng:
- Tướng đã thua sao dám làm nhục
ta?
Rút gươm ra định giết Trương
Liêu. Liêu chẳng sợ hãi vì vươn cổ chờ chết. Sau lưng Tào Tháo có người giữ tay
lại, một người nữa quỳ trước mặt can rằng:
- Xin thừa tướng hãy dừng tay.
Thế thực là:
Trương Liêu khảng khái mới nên tha
Chưa biết hai người đến cứu
Trương Liêu là ai, hồi sau mới phân giải.
HỒI THỨ HAI MƯƠI
Tào A Man ra săn ruộng Hứa Điền
Đổng quốc cữu vâng chiếu trong nội các
Người vít cánh tay Tào Tháo là
Lưu Bị; người quỳ trước mặt Tào Tháo là Quan Vũ.
Lưu Bị nói:
- Người có lòng son như thế nên
giữ lại.
Quan Vũ nói:
- Tôi vốn biết Văn Viễn (Trương
Liêu) là người trung nghĩa, tôi xin lấy tính mệnh đảm bảo.
Tháo vứt gươm xuống, cười và nói
rằng:
- Ta cũng biết Văn Viễn là người
trung nghĩa, cho nên đùa đấy thôi.
Tháo bèn tự tay cởi trói cho
Trương Liêu, cởi áo ra mặc cho Trương Liêu rồi mời ngồi lên ghế.
Liêu cảm phục, bèn xin hàng.
Tháo cất Liêu lên làm trung lang
tướng, cho tước Quan nội hầu, sai đi chiêu dụ Tang Bá. Bá thấy Lã Bố đã chết,
Trương Liêu đã hàng, cũng đem quân bản bộ về hàng. Tào Tháo thưởng cho rất hậu.
Tang Bá lại chiêu an được Tôn
Quan, Ngô Đôn và Doãn Lễ, chỉ còn có Xương Hi là chưa phục.
Tháo phong cho Tang Bá làm tướng
huyện Lương Gia. Lũ Tôn Quan cũng được làm quan cả, Tháo sai lũ ấy giữ mạn bể
hai châu Thanh và Từ, rồi sai đem vợ con Lã Bố về Hứa Đô. Tháo mở tiệc khao
quân, nhổ trại mang quân về.
Khi Tháo qua Từ Châu, nhân dân đốt
hương bái vọng, đông chật cả đường, xin để Lưu Bị ở lại làm thân mục.
Tháo nói:
- Lưu sứ quân công to, hãy vào chầu
vua phong tước, rồi sẽ ra nhậm Từ Châu cũng chưa muộn.
Trăm họ lạy tạ. Tháo sai xa kỵ tướng
quân là Xa Trụ, quyền lĩnh chức mục Từ Châu.
Tháo đem quân về Hứa Đô, phong
thưởng cho các tướng sĩ. Còn Lưu Huyền Đức thì để nghỉ ngơi ở nhà bên cạnh tướng
phủ.
Hôm sau vua Hiến đế khai trào.
Tháo dâng biểu tâu quân công của
Huyền Đức và đem Huyền Đức vào chầu vua.
Huyền Đức mặc đồ trào phục, lạy
dưới thềm son. Vua truyền cho lên điện, rồi hỏi rằng:
- Tổ người là ai?
Huyền Đức tâu rằng:
- Tôi là dòng dõi Trung Sơn Tĩnh
vương, cháu xa đức Hiếu Cảnh hoàng đế, cháu Lưu Hùng và con Lưu Hoằng.
Vua sai lấy sổ tôn tộc ra kiểm
xem, rồi sai quan tông chính khanh tuyên đọc:
Hiếu Cảnh hoàng đế sinh mười bốn
con, con thứ bảy là Trung Sơn Tĩnh vương tên là Lưu Thắng; Thắng sinh ra Lục
Thành đình hầu là Lưu Chính; Chính sinh ra Bái hầu là Lưu Ngang; Ngang sinh ra
Chương hầu là Lưu Lộc; Lộc sinh ra Nghi Thuỷ hầu là Lưu Luyến; Luyến sinh ra
Khâm Dương hầu là Lưu Anh; Anh sinh ra An Quốc hầu là Lưu Kiến; Kiến sinh ra Quảng
Lăng hầu là Lưu Ai; Ai sinh ra Giao Thuỷ hầu là Lưu Hiến; Hiến sinh Tổ Ấp hầu
là Lưu Thư; Thư sinh Kỳ Dương hầu là Lưu Nghị; Nghị sinh Nguyên Trạch hầu là
Lưu Tất; Tất sinh Dĩnh Xuyên hầu là Lưu Đạt; Đạt sinh Phong Linh hầu là Lưu Bất
Nghi; Bất Nghi sinh Tế Xuyên hầu là Lưu Huệ; Huệ sinh ra quan lịnh ở Đông Quận
là Lưu Hùng; Hùng sinh Lưu Hoằng; Hoằng không làm quan, sinh ra Lưu Bị.
Vua so trong thế phả thì Huyền Đức
vào hàng chú. Vua mừng lắm, mời vào thiên điện, làm lễ nhận họ. Vua bấy giờ
nghĩ bụng rằng:
- Tào Tháo lộng quyền, việc nước
không tự ta làm chủ. Nay được người chú anh hùng, may ra ta có người giúp.
Vua cho ngay Lưu Bị làm tả tướng
quân Nghi Thành đình hầu, mở yến khoản đãi. Tiệc tan, Lưu Bị tạ ơn trở ra. Tự bấy
giờ ai cũng gọi là Lưu hoàng thúc.
Tào Tháo về phủ, Tuân Úc và bọn
mưu sĩ vào nói rằng:
- Thiên tử nhận Lưu Bị là chú,
chúng tôi sợ có điều bất lợi cho minh công.
Tháo nói:
- Người ấy đã được nhận làm hoàng
thúc, ta lấy chiếu vua sai khiến, lại càng phải phục tùng ta lắm. Vả ta lại để
cho ở Hứa Đô, tiếng rằng gần vua, nhưng thực ra là ở trong tay ta, ta còn ngại
gì. Chỉ lo thái uý Dương Bưu, vốn là thân thích với Viên Thuật. Nếu Bưu làm nội
ứng cho hai anh em họ Viên, thì có lẽ hại to, nên phải trừ trước đi.
Bàn thế rồi, Tháo sai ngay người
vu cáo cho Dương Bưu thông với Viên Thuật, rồi bắt bỏ ngục, sai Mãn Sủng xét
án.
Bấy giờ thái thú Bắc Hải là Khổng
Dung ở Hứa Đô, nhân thấy việc ấy, vào can Tháo rằng:
- Dương công vốn bốn đời nay vẫn
có đức thanh liêm, há vì nhân việc họ Viên mà bắt tội?
Tháo nói:
- Việc ấy là tự triều đình chớ có
tại tôi đâu!
Dung hỏi:
- Ngày xưa, giả thử Thành vương
giết Thiệu công, thì Chu công có chối được rằng không biết chăng?
Bất đắc dĩ Tháo phải cách chức
Bưu, đuổi về quê.
Bấy giờ có quan Nghi lang là Triệu
Phạm thấy Tháo chuyên quyền, làm sớ tâu vua hạch Tháo rằng:
- Tháo tự tiện không tâu vua dám
làm tội đại thần, thế là mạn phép quá!
Tháo giận lắm, lập tức bắt Triệu
Phạm đem giết. Vì thế các quan ai cũng sợ hãi. Mưu sĩ là Trình Dục nói:
- Nay minh công uy danh mỗi ngày
mỗi thịnh, sao không nhân lúc này mà làm việc vương bá?
Tháo nói:
- Thủ tục triều đình còn nhiều,
chưa nên kinh động. Ta nên mời vua đi săn, để xem ý tứ các quan ra sao đã.
Tháo liền sai chọn ngựa tốt và
chim ưng giỏi, chó săn hay, cung tên đủ cả, trước họp binh ở ngoài thành, rồi mời
thiên tử đi săn.
Vua nói:
- Săn bắn không phải là chính đạo!
Tháo thưa:
- Đế vương ngày xưa mùa xuân đi
săn gọi là sưu, mùa hạ đi săn gọi là miêu, mùa thu đi săn gọi là kiển, mùa đông
đi săn gọi là thú; bốn mùa cùng ra ngoài cõi để biểu thị võ lực với thiên hạ.
Nay bốn bể đương lúc nhiễu loạn, bệ hạ chính nên đi săn để giảng việc võ.
Vua chẳng nghe chẳng được, liền
lên ngựa Tiêu Diêu, đeo cung khảm ngọc và tên bịt vàng, bày đồ loan giá ra
thành. Huyền Đức cùng Quan, Trương ba người đeo cung, dắt ngựa, trong mặc áo
giáp che bụng, tay cầm đồ binh khí, dẫn vài chục quân kỵ mã theo vua ra Hứa
Xương.
Tào Tháo cưỡi ngựa Phi Diện sắc
vàng, dẫn mười vạn quân, cùng vua đi săn ở Hứa Điền. Quân sĩ vây vòng quanh, rộng
hơn hai trăm dặm. Tháo sóng ngựa cho đi chỉ kém ngựa vua có một đầu, sau lưng
toàn là tướng tâm phúc của Tháo đi theo. Trăm quan văn võ đi tận đằng xa không
ai dám đến gần.
Khi vua đi đến Hứa Điền, Lưu Bị
nhảy ngựa xuống đứng cạnh đường hỏi thăm sức khoẻ của vua. Vua nói:
- Trẫm muốn xem tài săn bắn của
hoàng thúc.
Lưu Bị lĩnh mệnh lên ngựa. Bỗng
trông đám cỏ có một con thỏ chạy ra. Bị bắn một mũi tên trúng ngay.
Vua reo lên một tiếng.
Đi qua một cái gò, chợt thấy
trong bụi gai một con hươu lớn chạy ra vua bắn luôn ba phát không tin, bèn ngoảnh
lại bảo Tháo rằng:
- Ngươi bắn đi!
Tháo xin mượn cung ngọc tên vàng
của vua, giương lên bắn một phát, tin ngay giữa lưng, hươu ngã trong đám cỏ.
Các đại thần và các tướng trông thấy lưng hươu có tên bịt vàng, tưởng vua bắn
tin, cùng chạy lên trước mặt vua reo: Vạn tuế!
Tào Tháo tế ngựa ra đứng trước mặt
vua để nhận lấy những lời chúc mừng.
Trăm quan thấy vậy ai nấy đều tái
mặt. Sau lưng Huyền Đức, Quan Vân Trường giận lắm, mày tằm dựng ngược, mắt phượng
giương to, cầm đao, thúc ngựa định ra chém Tào Tháo. Huyền Đức biết ý, vội vàng
vẫy tay đưa mắt. Quan Công thấy anh ra hiệu, phải chịu đứng im.
Huyền Đức ngoảnh lại mừng Tào
Tháo rằng:
- Thừa tướng bắn tài trong đời hiếm
có!
Tháo cười nói nhún rằng:
- Ấy cũng nhờ phúc lớn của thiên
tử.
Rồi Tháo quay ngựa ngoảnh vào vua
chúc mừng, nhưng từ đấy giữ lấy cung khảm ngọc, không trả vua nữa.
Săn bắn xong, Tháo mở một tiệc yến
ở Hứa Điền, rồi rước vua về Hứa Đô.
Khi các quan tướng đâu đã về đấy
rồi, Quan Vũ mới hỏi Lưu Bị rằng:
- Thằng giặc Tào nó dối vua khinh
trên, tôi toan giết nó để trừ hại cho nước, sao anh lại ngăn tôi?
Lưu Bị nói:
- Ném chuột còn phải lo vỡ đồ
quý, Tháo đứng cách vua chỉ có một đầu ngựa, mà những người tâm phúc nó đi xúm
xít cả chung quanh, nếu em nhân cơn giận làm liều không nghĩ, nhỡ việc không
xong, hại đến thiên tử thì có phải tội tại chúng ta không?
Quan Vũ nói:
- Nay không giết thằng giặc ấy tất
sinh vạ về sau.
Lưu Bị nói:
- Hãy giữ kín, không được nói một
cách vội vàng.
Vua về cung, nghĩ đến việc đi săn
hôm ấy, tủi mà khóc, bảo với vợ là Phục hoàng hậu rằng:
- Ta từ khi lên ngôi đến giờ, gặp
nhiều gian hùng. Trước thì Đổng Trác, sau thì Thôi, Dĩ. Những điều khổ ải mà
người ta chưa từng thấy bao giờ, ta và hoàng hậu đều nếm trải cả. Đến nay gặp
Tào Tháo, tưởng nó là bầy tôi xã tắc, không ngờ nó lộng quyền, tác oai tác
phúc. Ta trông thấy nó bao giờ là như chông gai cắm vào lưng bấy giờ. Hôm nay
đi săn, nó ra nhận lấy lời chúc mừng của các quan, thật là vô lễ. Nay mai tất
có vạ, vợ chồng ta chưa biết chết chỗ nào.
Phục hoàng hậu nói:
- Công khanh đầy triều đều ăn lộc
nhà Hán, chẳng nhẽ lại không có ai cứu được quốc nạn hay sao?
Phục hoàng hậu chưa nói dứt lời
thì có một người ở ngoài bước vào tâu rằng:
- Xin vua và hoàng hậu đừng lo.
Tôi xin cử một người có thể cứu được nạn nước.
Vua trông ra thì là bố đẻ Phục
hoàng hậu là Phục Hoàn. Vua gạt nước mắt hỏi rằng:
- Quốc trượng cũng biết giặc Tào
nó chuyên quyền à?
Hoàn nói:
- Xem như việc bắn hươu ở Hứa Điền
thì ai chẳng biết, chỉ vì cả triều văn võ, phi là họ hàng Tháo thì là đầy tớ
nó. Nếu không phải quốc thích thì ai chịu hết lòng đánh giặc. Lão thần không có
quyền thế gì, khó mà làm nổi việc ấy, nhưng có xa kỵ tướng quân là Đổng Thừa,
có thể tin cậy.
Vua nói:
- Đổng quốc cữu nhiều lần liều
mình với nạn nước ta vốn đã biết, nên vời vào trong cung để bàn việc lớn.
Hoàn nói:
- Tả hữu ở đây đều là tâm phúc của
giặc Tháo, nếu việc tiết lộ sẽ xảy ra vạ to.
Vua hỏi:
- Thế thì nên làm thế nào?
Hoàn nói:
- Tôi có một kế: Bệ hạ nên cho
may một cái áo bào và làm một cái đai ngọc, mật ban cho Đổng thừa; ở trong đai
để tờ mật chiếu, khi về nhà thấy tờ chiếu, Thừa sẽ ngày đêm nghĩ kế tiến hành,
thế thì dù quỷ thần cũng không biết được.
Vua lấy làm phải. Phục Hoàn lui
ra.
Vua tự làm tờ chiếu, cắn đầu ngón
tay lấy máu viết, mật sai Hoàng hậu may vào trong lần lót gấm tía ở trong đai
ngọc; rồi sai nội sứ triệu Đổng Thừa vào.
Thừa vào ra mắt, lễ xong, vua
nói:
- Tối hôm qua, trẫm và hoàng hậu
nói chuyện lại những sự khổ ải ở Bá Hà khi trước, nhân nhớ đến công to của quốc
cữu, nên cho vời vào có mấy lời uý lạo.
Thừa rập đầu lạy tạ. Vua dắt Thừa
ra điện đến Thái miếu rồi lên gác công thần. Vua đốt hương lễ xong, dẫn Thừa đến
xem tranh truyền thần, bức tranh giữa vẽ tượng Hán Cao tổ.
Vua nói:
- Cao Tổ hoàng đế ta xuất thân ở
đâu? Sáng nghiệp thế nào?
Thừa giật mình tâu rằng:
- Bệ hạ hỏi bỡn tôi, việc thánh tổ
sao ngài lại chẳng biết. Cao hoàng đế xuất thân làm đình trưởng ở Tứ Thuỷ, cầm
thanh gươm ba thước chém rắn khởi nghĩa, tung hoành bốn bể, ba năm phá được nhà
Tần, năm năm diệt được nước Sở, bởi vậy mới có thiên hạ, lập cơ nghiệp muôn đời.
Vua bèn nói:
- Quốc cữu thử ngẫm xem: tổ tôn
anh hùng như thế mà con cháu thì hèn mạt thế này, chẳng xót lắm ru!
Vua nói thế, rồi trỏ vào hai bức
tranh hai bên mà hỏi Thừa rằng:
- Đây có phải Lưu hầu Trương
Lương không? Đây có phải Tản hầu Tiêu Hà không?
Thừa tâu rằng:
- Phải, đức Cao tổ khi xưa cũng
nhờ sức hai người ấy mà dựng nên cơ đồ.
Vua ngoảnh lại, thấy tả hữu đứng
xa cả, mới sẽ bảo Thừa rằng:
- Ngươi cũng nên đứng bên cạnh trẫm
như hai người ấy.
Thừa nói:
- Tôi chẳng có tấc công nào, đâu
dám sánh với các ông ấy?
Vua nói:
- Trẫm nghĩ công ngươi cứu giá ở
Tây Đô, không bao giờ quên, chưa lấy gì trả lại được.
Rồi trỏ vào áo bào và đai bảo Thừa:
- Ngươi mặc áo này, thắt đai này
cũng như thường đứng bên cạnh mình trẫm.
Thừa rập đầu lạy tạ. Vua cởi áo cởi
đai đưa cho Thừa vào bảo thầm rằng:
- Người về nên nhìn cho kỹ, đừng
phụ lòng trẫm!
Thừa biết ý, mặc áo đeo đai, rồi
bái từ xuống gác trở ra.
Có người báo với Tào Tháo rằng:
- Thấy vua cùng Đổng Thừa lên gác
công thần nói chuyện.
Tháo lập tức vào triều xem.
Đổng Thừa đi ra, vừa qua cửa
cung, gặp ngay Tào Tháo đến, không thể ẩn núp vào đâu được, phải đứng ở cạnh đường,
vái chào. Tháo hỏi:
- Quốc cữu đi đâu vậy?
Thừa nói:
- Thiên tử vừa cho vời vào ban
cho áo gấm và đai ngọc này.
Tháo nói:
- Nhân việc gì mà vua ban cho thế?
Thừa nói:
- Nhân thiên tử nhớ đến công cứu
giá ở Tây Đô ngày xưa nên ban cho những đồ quý ấy.
Tháo nói:
- Cởi đai cho ta xem!
Thừa cũng đoán trong đai có mật
chiếu, sợ Tháo khám thấy, ngần ngừ không cởi. Tháo sai tả hữu lột ra, xem ước
chừng nửa giờ, rồi cười mà nói rằng:
- Quả nhiên là đai ngọc đẹp lắm.
Cởi nốt áo ta xem!
Thừa trong lòng sợ hãi, không dám
cưỡng, phải cởi áo đưa ra. Tháo cầm lấy, soi lên bóng mặt giời nhìn xem từng
tý. Xem xong Tháo mặc vào mình, đeo cả đai rồi hỏi tả hữu:
- Dài hay vắn?
Tả hữu khen áo đai vừa vặn lắm.
Tháo bảo Thừa:
- Quốc cữu cho lại ta áo này, đai
này có được không?
Thừa nói:
- Của vua ban cho, tôi không dám
biếu. Xin về may bộ khác để dâng thừa tướng.
Tháo hỏi:
- Quốc cữu nhận áo đai ấy, ở
trong có ý gì không?
Thừa thất kinh nói rằng:
- Tôi đâu dám thế! Có phải thừa
tướng muốn dùng tôi xin dâng.
Tháo nói:
- Quốc cữu chịu ơn vua, ta sao nỡ
cướp! Ta nói bỡn đấy thôi.
Rồi cởi áo và đai trả Đổng Thừa.
Thừa từ biệt Tháo về nhà, đến đêm
ngồi một mình trong thư phòng, đem áo bào ngắm đi ngắm lại, chẳng thấy gì. Thừa
nghĩ: “Vua cho áo và đai, dặn xem kỹ, tất là có thâm ý nay không thấy dấu vết
gì là cớ làm sao”. Lại đem đai ngọc ra xem, chỉ thấy ngọc trắng lóng lánh, thêu
con rồng nhỏ vờn trong đám hoa, đằng sau lót gấm đỏ, đường chỉ thực vuông vắn
phẳng phiu, tịnh không có một dấu vết nào. Thừa lấy làm ngờ, đặt ở trên án thư,
giở đi giở lại tìm tòi. Lúc lâu, mỏi lắm, Thừa toan nằm xuống nghỉ, bỗng nhiên
hoa đèn rơi vào đai, cháy đến lần lót. Thừa vội vàng gạt đi, nhưng đã cháy hết
một chỗ, lộ ra lần lụa trắng, trông hình như có vết máu. Thừa lấy ngay dao tách
ra xem, thì thấy tờ mật chiếu của vua, viết bằng máu. Trong chiếu nói rằng:
“Trẫm nghe: Trong đạo nhân
luân, cha con là trọng; trong phận tôn ty, vua tôi là trọng. Lâu nay giặc Tháo
hống hách lộng quyền, khinh rẻ quân phụ, kết hợp bè đảng, làm nát chính thế của
triều đình; thưởng, phạt, sắc, phong, lấn cả chủ quyền của trẫm. Trẫm đêm ngày
lo nghĩ, sợ thiên hạ nguy cấp đến nơi. Ngươi là đại thần nhà nước, lại là chí
thân với trẫm, nên nhờ đến Cao Đế ngày xưa, dựng nghiệp khó nhọc, tập hợp lấy
người trung nghĩa, trừ giết kẻ gian thần, để yên xã tắc, thì may cho tổ tông
nhà Hán lắm.
Trẫm cắn ngón tay lấy máu, viết
thư cho ngươi, ngươi nên nghĩ ba bốn lần cho kỹ, chớ phụ ý trẫm.
Niên hiệu Kiến An, năm thứ bốn,
tháng ba, viết tờ chiếu này”.
Đổng Thừa xem xong, nước mắt chảy
ròng ròng, suốt đêm không ngủ được. Sớm ngày đứng dậy, Thừa lại đến thư phòng
xem lại tờ chiếu hai ba lần, chưa nghĩ được mưu kế gì. Thừa bèn đặt tờ chiếu
trên ghế, lo tìm kế trừ Tào, nhưng chưa nghĩ được kế gì thì nhọc quá gục xuống
kỷ ngủ thiếp đi.
Chợt có quan thị lang là Vương Tử
Phục đến chơi. Người nhà biết Tử Phục với Đổng Thừa là chỗ bạn thân, không dám
ngăn trở. Tử Phục vào thẳng tư phòng, thấy Thừa ngủ say, ở dưới tay áo lại để một
mảnh lụa trắng hơi lộ ra chữ “Trẫm”. Tử Phục lấy làm nghi, sẽ nâng tay áo, cầm
lấy mảnh lụa, xem xong, giấu vào ống tay áo mình, rồi đánh thức Thừa dậy:
- Quốc cữu thật là rỗi quá! Sao
mà ngủ được kỹ thế?
Thừa giật mình, nhìn không thấy tờ
chiếu, sợ hãi mất vía, chân tay luống cuống.
Tử Phục nói:
- Ngươi định giết Tào công, ta phải
ra thú!
Thừa khóc nói rằng:
- Nếu anh làm thế, nhà Hán hỏng mất!
Tử Phục nói:
- Ta nói đùa đó, tổ tôn ta mấy đời
ăn lộc nhà Hán, há lại không có lòng trung? Ta xin giúp anh một tay để giết thằng
quốc tặc.
Thừa nói:
- Anh có bụng ấy, thực là may lớn
cho nhà nước!
Tử Phục cầm tay Đổng Thừa, dắt
vào nhà trong mà nói rằng:
- Nên vào mật thất, để cùng lập
nghĩa trạng, liều bỏ ba họ để báo ơn vua.
Thừa mừng lắm, lấy ngay một bức lụa
trắng, trước ký tên mình vào, rồi Tử Phục cũng ký tên. Ký xong, Tử Phục nói:
- Tôi có người bạn thân là tướng
quân Ngô Tử Lan, nên để cho ông ấy cùng bàn mưu với ta.
Thừa nói:
- Trong cả đám đại thần chỉ có
tràng thuỷ hiệu uý Chủng Tập và nghị lang Ngô Thạc là tâm phúc với tôi. Hai người
ấy tất cũng cùng bàn mưu với ta được.
Đang bàn chuyện, người nhà vào
báo có Chủng Tập và Ngô Thạc đến chơi.
Thừa nói:
- Thực là trời giúp ta đó!
Thừa bảo Tử Phục hãy núp vào sau
bình phong, mời hai người vào thư viện, ngồi chơi uống nước. Uống nước rồi, Chủng
Tập hỏi Đổng Thừa rằng:
- Việc đi săn ở Hứa Điền, ông có
tức không?
Thừa nói:
- Tức thì tức, nhưng làm gì được?
Thạc nói:
- Ta muốn giết nó đi, nhưng giận
rằng chẳng có ai giúp đỡ.
Tập lại nói:
- Trừ hại cho nước, dù có chết
cũng không tiếc gì thân.
Bấy giờ Vương Tử Phục núp ở sau
bình phong mới chạy ra nói rằng:
- Các ngươi muốn giết Tào công,
ta phải ra thú, hiện có Đổng quốc cữu làm chứng.
Chủng Tập nổi giận nói rằng:
- Chúng ta là trung thần có sợ gì
chết! Chúng ta chết làm ma nhà Hán, còn hơn nhà ngươi sống mà a dua với đứa phản
tặc.
Đổng Thừa cười nói rằng:
- Chúng tôi cũng vì việc ấy mà muốn
tiếp hai ông ở đây để bàn, Vương thị lang nói đùa đó.
Nói rồi móc ống tay áo, lấy tờ mật
chiếu ra đưa cho hai người xem. Hai người đọc chiếu, nước mắt tuôn ra hai hàng.
Thừa mời hai người ký tên. Tử Phục
nói:
- Xin ba ông hãy ở đây, để tôi đi
mời Ngô Tử Lan nữa.
Tử Phục đi được một hồi, rồi cùng
với Tử Lan đến. Mọi người chào nhau, cùng ký tên cả. Thừa mời vào nhà trong uống
rượu. Chợt có quân vào báo rằng:
- Có thái thú Tây Lương là Mã Đằng
đến thăm.
Thừa bảo đầy tớ ra nói dối rằng
Thừa mệt không ra tiếp kiến được.
Lính canh cửa ra bảo thế, Mã Đằng
giận nói rằng:
- Tối hôm qua ở ngoài cửa Đông
Hoa, trông thấy mặc áo gấm đeo đai đi ra, nay cớ sao lại nói dối rằng ốm? Ta
không phải vô cớ đến đây, sao lại từ chối ta?
Lính canh vào lại kể rõ Mã Đằng
giận và nói những gì, Thừa mới đứng dậy nói rằng:
- Xin các ông ngồi chờ tôi đây, để
tôi ra một lát thôi.
Rồi Thừa ra mời Mã Đằng vào công
đường. Chào lễ xong, ngồi yên rồi. Đằng mới trách rằng:
- Tôi vào chầu sắp trở về, cho
nên lại đây để từ biệt, sao lại cáo bệnh không muốn tiếp?
Thừa nói:
- Vì mới bị đau cho nên không ra
nghênh tiếp được, xin chịu tội với sứ quân.
Đằng nói:
- Mặt phớn phở xuân sắc thế kia,
bệnh ở đâu thế?
Thừa không biết trả lời thế nào.
Đằng vung tay áo đứng dậy, than thở bước xuống thềm nói rằng:
- Lũ này không phải là những kẻ cứu
nước!
Thừa thấy nói thế, cố giữ lại hỏi
rằng:
- Ông bảo ai không phải là người
cứu nước?
Đằng nói:
- Việc đi săn ở Hứa Điền ta còn tức
đầy ruột, ông là chí thích của nhà nước, cứ mê mải về tửu sắc, chẳng lo gì đến
việc giết giặc, sao được gọi là người phù tai cứu nạn của nhà vua?
Thừa còn sợ Đằng đánh lừa, giả
cách giật mình nói rằng:
- Tào thừa tướng là đại thần nhà
nước, triều đình trông cậy vào cả, sao ông dám nói thế?
Đằng hầm hầm mặt lại mắng rằng:
- Ngươi còn cho thằng giặc Tào là
người tốt à!
Thừa xua tay nói:
- Ở đây tai vách mạch rừng, xin
ông nói khẽ chứ!
Đằng lại mắng rằng:
- Đối với đồ ham sống sợ chết
không thể cùng bàn việc lớn!
Nói xong đứng dậy toan về. Thừa
biết Mã Đằng là người trung nghĩa, mới nói rằng:
- Ông hãy nguôi cơn giận, xin xem
cái này!
Liền mời Mã Đằng vào thư phòng, lấy
tờ chiếu cho xem. Đằng đọc xong, tóc lông dựng ngược cả lên, nghiến răng rít lưỡi,
máu chảy đầy mồm, bảo Thừa rằng:
- Hễ ông khởi sự, tôi xin đem cả
quân Tây Lương đến làm ngoại ứng.
Đoạn Mã Đằng trỏ vào năm người ngồi
trên nói rằng:
- Giá ta được mười người cùng như
thế này cả thì việc tất phải xong.
Thừa nói:
- Người trung nghĩa không thể có
nhiều, nếu cộng sự với những người không ra gì thì lại làm hỏng việc.
Mã Đằng mượn sổ tên các quan
trong triều xem một lượt, từng tên một, để tính xem đồng mưu ước được bao nhiêu
người. Xem đến chỗ tôn tộc họ Lưu, Đằng vỗ tay lên hỏi rằng:
- Sao không bàn với người này?
Mọi người hỏi:
- Người nào vậy?
Mã Đằng thong thả nói tên người ấy
ra.
Thế thực là:
Lại gặp tôn thần giúp việc vua
Chưa biết Mã Đằng nói ai, xem đến
hồi sau sẽ rõ.
-----------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét