🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Đặng Sĩ Tái mẹo phá Khương Bá Ước
Gia Cát Đản khởi nghĩa đánh Tư Mã Chiêu
Khương Duy rút quân về đóng ở
Chung Đê. Quân Ngụy đóng ở ngoài thành Địch Đạo, Vương Kinh ra tiếp Trần Thái,
Đặng Ngải vào, tạ ơn đánh giải vây, mở yến tiệc khoản đãi, khao thưởng ba quân.
Trần Thái đem công Đặng Ngải,
dâng sớ về tấu với Ngụy chủ Tào Mao. Mao phong cho Ngải làm An tây tướng quân,
ban cờ tiết, lĩnh chức hộ Đông Khương hiệu úy, cùng với Trần Thái đóng binh ở
các xứ Ung Châu và Lương Châu.
Đặng Ngải dâng biểu tạ ơn. Trần
Thái mở tiệc mừng Đặng Ngải rồi nói:
- Khương Duy phải trốn về đêm, sức
lực đã kiệt, hẳn không dám ra nữa.
Ngải cười, nói:
- Ta đoán quân Thục có năm lẽ lại
ra.
Thái hỏi năm lẽ gì, Ngải nói:
- Quân Thục dẫu rút lui nhưng vẫn
đứng trên thế thừa thắng, quân ta kỳ thực vẫn là thua, lẽ ấy nên ra là một.
Quân Thục toàn là quân của Khổng Minh luyện tập đã tinh thông rồi, dễ dàng sai
khiến, còn tướng của ta thì đổi luôn, quân lại rèn dạy chưa kỹ, lẽ ấy nên ra là
hai. Quân Thục đi thuyền, quân ta đi bộ, nhàn hạ vất vả khác nhau, lẽ ấy nên ra
là ba. Địch Đạo, Lũng Tây, Nam An, Kỳ Sơn, bốn xứ ấy, cùng là đất chiến thủ.
Quân Thục hoặc dương đông kích tây, hoặc trỏ nam đánh bắc; quân ta phải chia ra
giữ các mặt, quân Thục thì hợp lại một đường kéo đến, lấy sức hợp nhất mà đương
với sức chia tư của ta; lẽ ấy nên ra là bốn. Quân Thục ra mặt Nam An, Lũng Tây,
thì có sẵn thóc gạo người Khương mà ăn, ra mặt Kỳ Sơn, lại sẵn có lúa chiêm vừa
chín; lẽ ấy nên ra là năm.
Trần Thái chịu là phải nói:
- Ông liệu giặc như thần, lo gì
quân Thục nữa?
Bởi thế Đặng Ngải cùng với Trần
Thái, kết làm anh em không kể tuổi.
Đặng Ngải ngày ngày thao luyện
quân các xứ Ung Lương, lại lập dinh trại ở các cửa ải, đề phòng sự bất trắc.
Khương Duy ở Chung Đê mở tiệc to,
hội cả các tướng, bàn việc sang đánh Ngụy.
Lệnh sử là Phàn Kiến can rằng:
- Tướng quân mấy phen ra quân
chưa được thành công; mới rồi đánh được trận Thao Tây, Người Ngụy đã phục uy
danh của tướng quân rồi, việc gì còn lại ra nữa? Vạn nhất xảy điều bất lợi, thì
công trước mất phí cả.
Duy nói:
- Các ngươi chỉ biết nước Ngụy đất
rộng nhiều người, khó lòng lấy được. Nhưng không biết ta đánh Ngụy có năm lẽ thắng.
Các tướng hỏi tại sao, Duy đáp rằng:
- Ta đánh một trận Thao Tây, đè bẹp
hết nhuệ khí của quân Ngụy. Quân ta rút về không tổn hại chút nào, nay bằng tiến
binh sang có cơ đánh được, là một lẽ. Quân ta đi thuyền, không vất vả gì, quân
kia đi bộ mệt nhọc; đó là hai lẽ. Quân ta rèn tập đã lâu, quân kia chẳng qua là
ô hợp, không có phép tắc gì, đó là ba lẽ. Quân ta ra Kỳ Sơn có sẵn thóc chiêm của
giặc, đó là bốn lẽ. Quân kia chia ra giữ các mặt, sức lực cản mất; quân ta hợp
nhất kéo đến, quân kia cứu sao cho kịp; đó là năm lẽ. Không nhân dịp này đánh
Ngụy, còn đợi đến bao giờ?
Hạ Hầu Bá nói:
- Đặng Ngải tuy còn ít tuổi,
nhưng cơ mưu sâu sắc. Nay y được phong chức An tây tướng quân, tất đã phòng bị
các xứ cả rồi, không như ngày trước nữa đâu.
Duy lớn tiếng mắng rằng:
- Ta sợ gì hắn! Các ông đừng tâng
bốc nhuệ khí của người ta mà làm nhục oai phong của mình! Ý ta đã quyết rồi, ta
hãy đánh lấy Lũng Tây trước.
Chúng không ai dám can nữa. Duy tự
dẫn quân đi trước, sai các tướng kéo theo sau. Quân Thục bỏ Chung Đê tiến ra Kỳ
Sơn.
Tiễu mã về báo rằng:
- Quân Ngụy đã lập chín ngọn trại
ở núi Kỳ Sơn rồi.
Duy không tin, dẫn vài tên quân
lên núi cao xem. Quả nhiên thấy ở trên núi có chín ngọn trại, mỗi dãy dài như
hình con rắn, trước sau nhìn ngó lẫn nhau.
Duy ngoảnh lại bảo tả hữu rằng:
- Hạ Hầu Bá nói quả như thế thực!
Trại này hình thế hay lắm, chỉ thấy ta và Gia Cát thừa tướng mới lập được. Nay
Đặng Ngải cũng lập nổi, thật không kém thầy ta mấy nổi!
Bèn trở về trại bảo với các tướng
rằng:
- Người Ngụy đã có phòng bị, biết
rằng ta kéo đến. Ta chắc Đặng Ngải tất cũng ở đấy. Các ngươi nên mang cờ hiệu của
ta, cắm trại ở ngay giữa hang này. Mỗi ngày cho hơn trăm kỵ ra tiễu, mỗi lần ra
phải đổi một sắc cờ áo, xanh, đỏ, vàng, trắng, và cờ ngũ phương, cứ lần lượt mà
thay. Ta cầm đại binh lẻn ra đường Đổng Đình đến tắt lấy Nam An.
Liền sai Bào Tố đóng ở của hang
núi Kỳ Sơn. Duy mang đại quân kéo sang quận Nam An.
Đặng Ngải biết quân Thục tất ra Kỳ
Sơn, đã cùng với Trần Thái hạ trại giữ gìn. Nay thấy quân Thục mấy không đến
khiêu chiến, mà trong một ngày năm phen tiễu mã ra trại, hoặc mười dặm, hoặc mười
lăm dặm trở về.
Ngải đứng trên cao ngắm nghía một
hồi, rồi về trước nói với Trần Thái rằng:
- Khương Duy chắc không ở trong
đám này, tất lẻn ra Đổng Đình chụp lấy Nam An. Quân tiễu mã ra trại, chỉ có mấy
đứa thay đổi cờ áo ra vào đấy thôi; ngựa đi ra dáng mỏi mệt cả, chủ tướng tất
không phải là tay giỏi. Trần tướng quân nên dẫn quân đến mà đánh, tất phá được
trại ấy. Phá xong trại, tướng quân dẫn quân ra đường Đổng Đình, để chặn đường về
của Khương Duy. Tôi dẫn quân đi trước đến cứu Nam An, chiếm lấy núi Võ Thành. Nếu
được ngọn núi ấy, Khương Duy tất lại xoay ra lấy thành Thượng Nhai. Ở Thượng
Nhai có một cái hang gọi là Đoạn Cốc, đất hẹp núi hiểm, vừa hay được chỗ mai phục
rất tốt. Tôi phục sẵn hai toán quân ở đấy, đợi Khương Duy đến núi Võ Thành, đổ
ra đánh chắc phá được.
Thái nói:
- Tôi giữ Lũng Tây hai ba mươi
năm nay, cũng không biết tường địa lý như thế. Ông thật là người tính kế như thần!
Ông nên đi ngay cho, để tôi đánh trại này.
Đặng Ngải dẫn quân sớm khuya gấp
đường kéo đi, đến tắt núi Võ Thành hạ trại. Bấy giờ quân Thục vẫn chưa đến nơi.
Ngải sai con là Đặng Trung và tướng tiền hiệu úy là Sư Toản, mỗi người dẫn năm
ngàn quân phục sẵn trong hang Đoạn Cốc, dặn dò mẹo mặt cho đi.
Hai người lĩnh kế đi luôn. Ngải
sai ngả cờ im trống để đợi quân Thục đến.
Khương Duy noi theo con đường Đổng
Đình, kéo đến Nam An. Đến trước núi Võ Thành, Duy bảo với Hạ Hầu Bá rằng:
- Gần quân Nam An có núi Võ
Thành, nếu chiếm trước được núi ấy, thì có thể đoạn được Nam An. Nhưng chỉ ngại
Đặng Ngải đa mưu, tất có phòng bị trước.
Còn đang ngần ngại, bỗng nhiên
trên núi nổ pháo hiệu, rồi tiếng hò reo ầm ầm, còi trống vang động, tinh kỳ bay
ra phấp phới, Ngụy quân đứng đặc như kiến. Giữa đám đông có một lá cờ vàng to,
đề tên Đặng Ngải. Quân Thục thấy vậy kinh hãi quá chừng. Quân Ngụy ở trên núi
chia làm mấy ngả đổ xuống, thế mạnh không sao đương nổi. Cánh tiên quân của Thục
thua to. Khương Duy thúc trung quân đến cứu, quân Ngụy lại rút lên cả trên núi.
Duy đến thẳng dưới chân núi, thách Đặng Ngải xuống đánh, quân Ngụy nhất định
không ai xuống. Duy sai quân sĩ chửi mắng sỉ nhục, mãi đến chiều tối. Duy vừa sắp
thu quân về, thì trên núi lại đánh trống thổi còi, mà vẫn không thấy quân Ngụy
xuống. Duy muốn đánh thốc lên, nhưng đá đạn từ trên ném xuống, không sao lên được.
Duy chầu trực mãi đến canh ba, toan trở về thì trên núi còi trống lại vang động.
Duy rút quân xuống mé dưới, sai quân khiêng vận đá gỗ, muốn cắm trại giữ nhau.
Bấy giờ quân Ngụy mới ầm ầm kéo đến. Quân Thục xôn xao, dày xéo lẫn nhau chạy về
cho đến trại cũ.
Hôm sau Khương Duy lại sai quân
sĩ đem những xe lương dàn bày dưới núi Võ Thành, muốn lập trại đóng quân. Canh
hai đêm hôm ấy, Đặng Ngải dẫn năm trăm quân, mỗi người cầm một bó đuốc, chia
làm hai đường xuống núi, phóng hỏa đốt xe. Quân hai bên đánh nhau xô xát một
đêm, Duy không sao lập được doanh trại.
Duy dẫn quân lui về, bàn với Hạ Hầu
Bá rằng:
- Nam An chưa sao lấy được, không
bằng hãy lấy Thượng Nhai trước. Thượng Nhai là chỗ chứa lương của quân Nam An,
lấy được chỗ ấy, thì Nam An tự nhiên phải nguy.
Bèn để Hạ Hầu Bá đóng ở dưới núi
Võ Thành. Duy dẫn tinh binh mãnh tướng đến tắt lấy Thượng Nhai. Đi suốt đêm gần
đến sáng, toàn thị núi non hẹp hòi, đường xá gặp ghềnh lắm. Duy hỏi quan hướng
đạo rằng:
- Đây là xứ gì?
Hướng đạo nói:
- Đây gọi là hang Đoạn Cốc.
Duy thất kinh, nói:
- Tên ấy gở lắm! Đoạn Cốc nghĩa
là chặn hang. Nếu có người chặn mất cửa hang này thì làm thế nào?
Đương khi Duy do dự chưa biết
nghĩ sao, chợt có tiếng quân chạy về báo rằng:
- Mé sau núi, bụi bay mù mịt, tất
có quân mai phục.
Duy vội vàng sai thu quân về, thì
đã thấy hai toán quân của Sư Toản, Đặng Trung đổ ra. Duy vừa đánh vừa chạy. Bỗng
tiếng reo hò lại nỗi, té ra Đặng Ngải kéo quân đến. Ba mặt đánh dồn vào, quân
Thục thua to. May có Hạ Hầu Bá dẫn quân đến cứu, Ngụy mới lui.
Khương Duy được thoát, muốn lại
ra Kỳ Sơn.
Hạ Hầu Bá can rằng:
- Trại Kỳ Sơn đã bị Trần Thái
đánh vỡ. Bào Tố chết trận quân mã rút hết về Hán Trung cả rồi.
Duy thấy vậy, không dám đi theo
đường Đổng Đình phải lẻn về qua đường tắt. Ngải dẫn quân đuổi theo. Duy cho
quân đi trước, mình đón chặn mặt sau. Đang đi, bỗng có một toán quân ở trong
núi đổ ra, là tướng Ngụy Trần Thái. Quân Ngụy reo ầm một tiếng, vây bọc ngay
Khương Duy vào ngay giữa trận.
Duy bấy giờ người ngựa mệt mỏi cả,
xông xáo mãi cũng không ra được. Trương Ngực nghe tin Khương Duy bị vây, dẫn
vài trăm kỵ đánh thốc vào cứu. Duy thừa thế phá được trùng vây. Trương Ngực bị
quân Ngụy loạn xạ bắn chết. Duy thoát nạn về đến Hán Trung, cảm lòng trung dũng
của Trương Ngực bỏ mình vì việc nước, mới dâng biểu xin phong tặng cho con cháu
ông ta.
Tướng sĩ trong Thục lắm người chết
trận đều đổ tội cho Khương Duy. Duy chiếu lệ cũ ở Nhai Đình của Võ hầu, xin tự
giáng chức làm hậu tướng quân mà coi việc đại tướng.
Đặng Ngải thấy quân Thục lui hết
cả rồi mới cùng Trần Thái mở tiệc ăn mừng, khao thưởng ba quân. Thái dâng biểu
tâu công Đặng Ngải. Tư Mã Chiêu sai sứ cầm cờ tiết ra phong thêm quan tước cho
Đặng Ngải, ban đầu cho ấn thụ và phong cho con Đặng Ngải là Đặng Trung làm Đính
hầu.
Ngụy chủ Tào Mao cải niên hiệu
Chính Nguyên thứ ba làm năm Cam Lộ thứ nhất. Tư Mã Chiêu tự phong mình làm
thiên hạ binh mã đại đô đốc; khi ra vào thường có ba nghìn quân thiết giáp và
kiêu tướng đi hộ vệ trước sau. Nhất thiết công việc, không tâu gì đến triều
đình, tự tiện xử đoán ngay ở tướng phủ. Từ đó Chiêu thường có ý muốn cướp ngôi
nhà Ngụy.
Chiêu có một người tâm phúc, họ
Giả tên Sung, tự là Công Lư, con quan Kiến oai tướng quân Giả Quỳ thuở trước,
hiện đang làm trưởng sử trong phủ.
Sung nói với Chiêu rằng:
- Nay chúa công cầm quyền to,
lòng người bốn phương vị tất đã tuân theo; nên cho dò hỏi mà trừ dần đi, mới
toan được việc lớn.
Chiêu nói:
- Ta cũng muốn thế, ngươi nên
giúp ta đi sang mặt đông, giả tiếng làm an ủy quân sĩ đi đánh giặc về, liệu mà
dò xét tình ý họ xem sao.
Giả Sung lĩnh mệnh, đến tắt Hoài
Nam, vào ra mắt quan chấn đông đại tướng quân là Gia Cát Đản.
Đản tên tự là Công Hưu, người ở
Nam Dương, quận Lang Nha, tức em họ Gia Cát Võ Hầu. Trước vẫn làm quan ở Ngụy,
nhân Võ hầu làm tướng trong Thục, cho nên không được trọng dụng. Về sau, Võ hầu
mất, Đản mới được nhắc lên làm quan to, phong là Cao Bình hầu, tổng nhiếp quân
mã hai xứ Hoài Đông và Hoài Nam. Khi ấy Giả Sung đến ủy đạo quân sĩ. Đản mở tiệc
khoãn đãi. Rượu uống ngà ngà say, Sung nói khơi lên rằng:
- Gần nay các bậc hiền lương ở Lạc
Dương, ai cũng cho chúa thượng hèn yếu, làm vua không nổi. Có đại tướng quân họ
là Tư Mã, ba đời giúp nước, công đức tầy trời, nên thay vào ngôi nhà Ngụy, chưa
biết ý ngài nghĩ thế nào?
Đản nổi giận nói:
- Mày là con Giả Dụ Châu, đời đời
ăn lộc nhà Ngụy, sao dám nói càn thế?
Sung nói tảng ra rằng:
- Tôi đem lời người ta nói với
ông đấy thôi!
Đản nói:
- Triều đình nếu có nạn gì, ta sẽ
liều chết để báo ơn!
Sung nín lặng, từ trở ra, về thuật
hết đầu đuôi với Tư Mã Chiêu.
Chiêu giận, nói:
- Đàn chuột sao dám hỗn thế?
Sung nói:
- Đản ở Hoài Nam được lòng người
đã nhiều, để lâu rất sinh vạ, nên trừ ngay đi.
Chiêu một mặt đưa mật thư cho thứ
sử Dương Châu là Nhạc Lâm, một mặt sai sứ mang chiếu ra vời Đản về triều, phong
làm chức tư không. Đản được chiếu, biết là Giả Sung cáo biến, mới bắt sứ giả
vào tra hỏi.
Sứ giả nói:
- Việc này hỏi Nhạc Lâm thì biết.
Đản nói:
- Tư Mã tướng quân đã sai người đến
Dương Châu đưa mật thư cho Nhạc Lâm.
Đản nổi giận, sai tả hữu chém sứ
giả, rồi cất nghìn quân bộ hạ kéo đến Dương Châu. Khi đến cửa Nam thì thành đã
đóng, mà cầu treo đã cất về bên kia rồi, Đản đứng dưới thành gọi cửa, nhưng
không có người nào đáp lại.
Đản nỗi giận mà rằng:
- Nhạc Lâm sất phu, sao dám láo
thế?
Liền sai tướng sĩ đánh thành. Thủ
hạ của Đản có hơn mười người kiện tướng, xuống ngựa lội qua hào, nhảy vót lên cả
mặt thành, đánh tan quân canh, mở toang cửa thành cho quân vào.
Gia Cát Đản dẫn quân vào thành,
theo chiều gió phóng hỏa, đánh mãi đến nhà Nhạc Lâm. Nhạc Lâm túng thế, vội
vàng trốn chạy lên nhà lầu. Đản cầm gươm trèo thẳng lên quát rằng:
- Cha mày là Nhạc Tiến khi xưa chịu
ân to nước Ngụy, không biết nghĩ mà đền báo, lại muốn giúp quân phản nghịch Tư
Mã Chiêu à?
Lâm chưa kịp đáp lại đã bị Đản giết
mất. Một mặt Đản viết biểu kể tội Tư Mã Chiêu sai người dâng về Lạc Dương. Một
mặt Đản tụ hợp quân mã hai xứ Hoài Đông, Hoài Nam cả thảy hơn mười vạn, và bốn
vạn quân Dương Châu mới hàng, chứa cỏ tụ lương, dự bị việc tiến quân. Lại sai
trưởng sử Ngô Cương đưa con là Gia Cát Thịnh sang làm con tin bên Ngô, xin Ngô
cất quân sang cùng đánh Tư Mã Chiêu.
Bấy giờ thừa tướng Đông Ngô là
Tôn Tuấn đã mất, em là Tôn Lâm phụ chính. Lâm tự là Tử Không, tính khí hung bạo,
giết bọn đại tư mã Đằng Dận, và tướng quân Lã Cứ, Vương Đôn, vì thế bao nhiêu
quyền chính về cả trong tay mình. Ngô chủ Tôn Lượng tuy thông minh, nhưng cũng
không làm sao được.
Ngô Cương đem Gia Cát Thịnh đến
thành Thạch Đầu, vào lạy Tôn Lâm. Lâm hỏi tại sao, Cương thưa rằng:
- Gia Cát Đản là em họ Gia Cát Võ
hầu bên Thục, trước thờ nước Ngụy, nay thấy Tư Mã Chiêu khinh vua lừa trên, bỏ
chúa, lộng quyền, muốn cất quân vào đánh, nhưng sợ địch không nổi, nên đến xin
hàng, sợ không có gì làm tin, nên cho con là Gia Cát Thịnh sang hầu. Vậy xin
ngài đem quân sang giúp cho.
Lâm ứng lời, sai đại tướng là
Toàn Dịch, Toàn Đoan làm chủ tướng, Vu Thuyên làm hợp hậu, Chu Dị, Đường Tư làm
tiên phong, Văn Khâm làm hướng đạo, cất bảy vạn quân, chia làm ba đội kéo sang
Ngụy.
Ngô Cương về Thọ Xuân báo với Gia
Cát Đản. Đản mừng lắm, mới dàn binh dự sẵn cả đâu vào đấy.
Lại nói, văn biểu của Gia Cát Đản
đưa đến Lạc Dương. Tư Mã Chiêu trông thấy nổi giận, muốn tự cất quân đi đánh.
Giả Sung can rằng:
- Chúa công thừa cơ nghiệp của
cha anh, ân đức chưa ra đến bốn bể. Nay để thiên tử ở nhà mà đi, nếu một mai
sinh biến, thì hối sao cho kịp? Chi bằng tâu với Thái Hậu, thiên tử cùng đi một
thể, thì mới không lo gì.
Chiêu mừng, nói:
- Lời ấy hợp ý ta lắm!
Bèn vào tâu với Thái Hậu rằng:
- Gia Cát Đản mưu phản, tôi đã
bàn với các quan văn võ, xin mời Thái Hậu, thiên tử cùng ngự giá thân chinh, để
nối chí của tiên đế khi xưa.
Thái Hậu sợ, phải nghe.
Hôm sau, Chiêu mời Ngụy chủ Tào
Mao khởi trình.
Mao nói:
- Đại tướng quân đô đốc quân mã cả
thiên hạ, mặc ý tướng quân sai khiến thế nào cho được việc thì thôi, can gì trẫm
phải thân hành nữa?
Chiêu nói:
- Ngày xưa Võ tổ tung hoành bốn bể,
Văn Đế có chí bao trùm cả bờ cõi, có bụng thôn tính cả tám phương. Phàm gặp đám
giặc to nào, tất thân chinh ra đánh. Bệ hạ cũng nên theo đòi tiên quân, quét sạch
quân phản tặc, can gì mà sợ?
Mao sợ uy quyền Tư Mã Chiêu, đành
phải theo lời. Chiêu cất hai mươi sáu vạn quân ở kinh đô, sai chinh nam tướng
quân Vương Cơ làm chánh tiên phong, giám quân Thạch Bào làm tả quân, bả hộ xa
giá, kéo sang Hoài Nam.
Tiên phong Đông Ngô là Chu Dị dẫn
quân ra địch với quân Ngụy. Vương Cơ đánh nhau với Chu Dị, chưa được ba hiệp
cũng chạy. Đường Tư ra đánh được vài hiệp cũng chạy nốt. Vương Cơ thúc quân
tràn sang, quân Ngô thua to, lui năm mươi dặm hạ trại. Tin báo vào thành Thọ
Xuân.
Gia Cát Đản ở trong thành, dẫn
quân ra hội với Văn Khâm và hai con là Văn Ương, Văn Hổ, đem vài vạn hùng binh,
lại chống Tư Mã Chiêu.
Ấy là:
Sẽ xem tướng Ngụy lại tung hoành
Chưa biết được thua thế nào, xem
đến hồi sau phân giải.
----------------------------------------------
Cứu Thọ Xuân, Vu Thuyên tử tiết
Lấy Trường Thành, Bá Ước dùng binh
Tư Mã Chiêu thấy Gia Cát Đản hội
với quân Ngô kéo lại, liền vời quan tản kỵ trưởng sử là Bùi Tú và hoàng môn thị
lang là Chung Hội đến bàn bạc đánh giặc.
Chung Hội nói:
- Quân Ngô giúp Gia Cát Đản, chỉ
vì lợi thôi. Nếu ta lấy lợi mà dử, thì tất đánh được.
Chiêu nghe lời sai Thạch Bào, Chu
Thái dẫn hai toán quân phục ở trước thành Thạch Đầu, Vương Cơ, Trần Khiên lĩnh
tinh binh ở mặt sau, cho tì tướng là Thành Tốt dẫn vài vạn quân ra trước dụ địch.
Lại sai Trần Tuấn dẫn xe trượng, trâu, ngựa, lừa, la chở đồ tụ sẵn trong trận,
đợi giặc đến thì bỏ chạy.
Hôm ấy, Gia Cát Đản sai Ngô tướng
Chu Dị ở mặt tả, Văn Khâm ở mặt hữu, còn mình đi giữa. Đản thấy quân mã bên Ngụy
lộn xộn không được tề chỉnh, mới thúc quân kéo tràn sang. Thành Tốt chạy lui về.
Đản kéo quân đuổi đánh. Bỗng thấy trâu, ngựa, lừa, la thả ra, nhan nhản khắp
cánh đồng. Quân Ngô tham lợi, tranh nhau đuổi bắt, không còn bụng nào đánh nhau
nữa. Chợt có tiếng pháo nổ, quân hai mặt kéo đến, tả thì Thạch Bào, hữu thì Chu
Thái. Đản giật mình, kíp rút quân về. Vương Cơ, Trần Khiên dẫn tinh binh đổ lại,
Tư Mã Chiêu tiếp ứng thêm vào. Đản thua to, chạy vào thành Thọ Xuân, đóng cửa
giữ vững không dám ra. Chiêu sai quân bốn mặt vây đánh thành.
Bấy giờ quân Ngô lui về đóng ở An
Phong. Ngụy chủ xa giá đóng ở Hạng Thành.
Chung Hội nói:
- Nay Gia Cát Đản tuy thua, nhưng
trong thành Thọ Xuân lương thảo còn nhiều, lại có quân Ngô đóng ở An Phong, làm
thế ỷ giốc. Quân ta bốn mặt vây đánh, nếu đánh thong thả thì giặc giữ vững,
đánh kíp quá thì họ cố chết chống cự với ta. Quân Ngô lại thừa cơ đến đánh. Như
thế quân ta đánh thành có ích gì? Không bằng ta chỉ đánh ba mặt, chừa ra một lối
to cửa nam cho giặc chạy, rồi sẽ đuổi theo mà đánh, thì mới toàn thắng được.
Quân Ngô từ xa đến đây, lương thảo tiếp ứng không đều. Ta dẫn quân khinh kỵ lẻn
ra mé sau mà chặn đường, thì không phải đánh cũng vỡ.
Chiêu vỗ vào lưng Chung Hội mà rằng:
- Ngươi thật là Tử Phòng của ta!
Liền sai Vương Cơ triệt quân mặt
cửa nam không vây nữa.
Quân Ngô đóng ở An phong. Tôn Lâm
gọi Chu Dị đến trách mắng rằng:
- Có một thành Thọ Xuân, còn
không cứu nổi, thì thôn tính làm sao được Trung Nguyên. Nếu không đánh được lần
nữa thì ta chém đó.
Chu Dị về trại, bàn với Vu
Thuyên. Thuyên nói:
- Nay cửa thành Thọ Xuân không
vây, tôi xin giữ một toán quân lại giúp Gia Cát Đản chống giữ. Tướng quân ở
ngoài này, khiêu chiến với quân Ngụy. Tôi từ trong thành đánh ra, hai mặt giáp
lại, thì có thể phá được.
Dị cho làm phải. Bởi vậy cả bọn
Toàn Dịch, Toàn Đoan, Văn Khâm, đều xin vào thành, bèn cùng với Vu Thuyên dẫn một
vạn quân tự cửa nam kéo vào. Quân Ngụy được lệnh không đánh cứ để cho mặt quân
Ngô vào, rồi mới báo tin với Tư Mã Chiêu.
Chiêu nói:
- Đây tất là họ vào thành, rồi hợp
trong ngoài để phá quân ta.
Bèn gọi Vương Cơ, Trần Khiên đến
dặn rằng:
- Các ngươi dẫn năm nghìn quân chặn
ngang đường Chu Dị đến, rồi theo sau mà đánh.
Hai người lĩnh mệnh.
Chu Dị dẫn quân đang đi, bỗng ở
mé sau nổi tiếng reo, Vương Cơ, Trần Khiên hai mặt kéo đến. Quân Ngô thua to.
Chu Dị trở về ra mắt Tôn Lâm.
Lâm nổi giận, mắng rằng:
- Tướng thua liểng xiểng kia, còn
cần ngươi làm chi nữa?
Bèn quát võ sĩ lôi ra chém. Lại
trách con Toàn Đoan và Toàn Vĩ rằng:
- Nếu không đánh đuổi được quân
Ngụy đi, cha con mày đừng nhìn đến mặt tao nữa.
Tôn Lâm trở về Kiến Nghiệp.
Chung Hội nói với Tư Mã Chiêu rằng:
- Nay Tôn Lâm đã lui về, ngoài
không có quân cứu, lại nên vây thành mà đánh.
Chiêu nghe lời, sai quân vây
thành. Toàn Vĩ muốn dẫn quân vào Thọ Xuân, thấy quân Ngụy to thế lắm, nghĩ mình
tiến thoái hai đường cũng khó, mới ra hàng Tư Mã Chiêu.
Chiêu gia phong cho Toàn Vĩ làm
thiên tướng quân. Vĩ cảm ơn đức ấy, viết thư đưa cho cha là Toàn Đoan và chú là
Toàn Dịch, nói Tôn Lâm bất nhân, không bằng hàng Ngụy cho xong, rồi buộc thư bắn
vào trong thành. Toàn Dịch được thư, cùng với Đoan dẫn vài nghìn người mở của
ra hàng.
Gia Cát Đản ở trong thành lo buồn
lắm, mưu sĩ là Tưởng Ban, Tiêu Di hiến kế rằng:
- Trong thành lương còn ít mà
quân thì nhiều, không thể giữ lâu được; nên cho quân Ngô Sở ra thành, quyết một
trận tử chiến với quân Ngụy.
Đản nổi giận, nói:
- Tao muốn giữ, mày lại muốn
đánh, chẳng là có bụng khác sao? Hễ còn nói đánh nữa thì tao chém đầu!
Hai người ngẩng mặt lên trời than
rằng:
- Đản sắp chết đến nơi, chúng ta
nên hàng Ngụy cho sớm, kẻo chết uổng!
Canh hai đêm hôm ấy, Tưởng, Tiêu
hai người trèo qua thành ra hàng Ngụy. Tư Mã Chiêu đều trọng dụng cả.
Trong thành Thọ Xuân, từ bấy giờ
dù có người muốn đánh nhau cũng không dám nói đến đánh. Đản ở trong thành thấy
quân Ngụy đắp thành chung quanh bốn mặt, đề phòng nước sông Hoài tràn vào. Đản
mong đợi nước sông tràn lên, cho đổ thành đất, rồi mới kéo quân ra đánh, không
ngờ tự thụ sang đông, tịnh không có trận mưa nào, nước sông không tràn được.
Lương ở trong thành đã gần cạn. Văn Khâm ở riêng góc thành nhỏ, cùng với hai
con giữ vững không ra. Thấy quân sĩ dần dần nhiều người đói lả. Khâm mới vào
nói với Gia Cát Đản rằng:
- Lương đã khan, quân sĩ lắm kẻ
chết đói, nên đuổi quân phương bắc ra ngoài thành để bớt ăn đi.
Đản giận, nói:
- Người xui ta bỏ bắc quân đi, muốn
mưu hại ta sao?
Liền quát tả hữu lôi ra chém.
Văn Ương, Văn Hổ thấy cha bị chết,
lập tức dẫn quân ra giết phăng vài mươi người rồi lội qua hào đến trại Ngụy xin
hàng.
Tư Mã Chiêu nhớ đến khi xưa Văn
Ương một ngựa đánh lùi được quân Ngụy, căm giận muốn giết để báo thù.
Chung Hội can rằng:
- Việc xưa là tội tự Văn Khâm,
nay hắn đã mất rồi, hai con cùng thế phải ra hàng. Nếu ta giết đi, thì càng làm
vững bụng người trong thành lắm.
Chiêu nghe lời, gọi Văn Ương, Văn
Hổ vào trướng lấy lời ngọt ngào phủ dụ, ban cho ngựa tốt áo gấm, gia chức làm
thiên tướng quân, phong làm quan nội hầu.
Hai người lạy tạ, cưỡi ngựa đi
chung quanh thành, gọi to lên rằng:
- Hai chúng ta đội ơn đại tướng
quân tha tội, lại phong tước cho, chúng mày sao không hàng đi cho sớm?
Người trong thành nghe vậy, bàn với
nhau rằng:
- Văn Ương là người có thù với Tư
Mã Chiêu, nay cũng được trong dụng, huống chi chúng ta?
Bởi thế nhiều người trốn ra thành
hàng Ngụy.
Gia Cát Đản thấy vậy giận lắm, đến
đêm tự mình đi tuần quanh mặt thành, động ai có lỗi thì giết.
Chung Hội thấy trong thành nhân
tâm đã biến, vào trướng bẩm với Tư Mã Chiêu rằng:
- Nên nhân dịp này mà đánh dấn
ngay đi.
Chiêu mừng lắm, truyền lệnh ba
quân vây kín bốn mặt thành mà đánh cho riết. Tướng giữ cửa thành là Tăng Tuyên
dâng cửa bắc, mở toang cửa cho quân Ngụy kéo vào.
Đản thấy quân Ngụy vào thành, vội
vàng dẫn vài trăm thủ hạ, từ con đường nhỏ trong thành chạy ra. Vừa đến bên cầu,
thì gặp Hồ Phấn, Đản bị Phấn chém chết ngả xuống ngựa. Vài trăm hạ thủ Đản cũng
bị trói cả.
Vương Cơ kéo quân đến cửa tây, gặp
Ngô tướng là Vu Thuyên. Cơ quát lên rằng:
- Sao không hàng đi cho mau?
Thuyên nổi giận, nói:
- Chịu mệnh ra cứu bạn cho người,
đã không cứu được thì chớ, lại đi theo hàng người khác. Thế là nghĩa lý gì?
Nói đoạn, quẳng mũ xuống đất kêu
to lên rằng:
- Người ta sinh ở đời, được chết
tại nơi chiến trường là may!
Liền khoa đao vào đánh, được hơn
ba mươi hiệp người ngựa mỏi mệt, bị loạn quân giết mất.
Người sau có thơ khen rằng:
Hàng binh chen chúc vái xe trần
Đông Ngô tuy lắm anh hùng giỏi
Ai sánh Vu Thuyên dám liều thân
Tư Mã Chiêu vào thành Thọ Xuân, bắt
hết già trẻ ba họ nhà Gia Cát Đản giết sạch. Võ sĩ điệu bộ tốt của Gia Cát Đản
vài trăm người đến.
Chiêu hỏi:
- Chúng mày có chịu hàng không?
Chúng kêu rằng:
- Chúng ta tình nguyện chết theo
Gia Cát công, nhất định không hàng mày!
Chiêu nổi giận quát võ sĩ trói điệu
cả ra ngoài thành, rồi bảo từng người rằng:
- Hễ ai chịu hàng thì tha cho!
Trong vài trăm người, cứ chém người này thì lại hỏi người khác, chém kỳ đến hết,
không một người nào chịu hàng cả.
Chiêu than thở, trọng cái nghĩa
khí của bọn ấy cũng không biết ngần nào, sai mai táng tươm tất.
Có thơ than rằng:
Một niềm trung nghĩa tiếng nghìn xưa
Câu ca Cửu Lộ còn văng vẳng
Vết cũ Điền Hoành để đến giờ
Quân Ngô về hàng Ngụy rất nhiều.
Bùi Tú nói với Tư Mã Chiêu rằng:
- Quân Ngô vợ con ở cả Giang
Hoài, nếu cho ở đây, lâu ngày tất sinh biến. Không bằng chôn sống ráo cả chúng
nó đi.
Chung Hội can rằng:
- Thế không xong! Phép ngày xưa
dùng binh, chỉ giết một người đầu sỏ là đủ. Nếu chôn cả đi, thì độc ác bất nhân
lắm. Chi bằng đuổi cả chúng nó về Giang Nam, để tỏ cái lượng rộng rãi của Trung
Nguyên.
Chiêu khen lời lấy phải, liền tha
cả quân Ngô cho về bản quốc.
Đường Tư sợ Tôn Lâm bắt tội,
không dám về Ngô, phải đến hàng Ngụy. Chiêu cũng trọng dụng, sai chia nhau ra
giữ các nơi Tam Hà.
Hoài Nam bình định xong đâu đấy,
quân Ngụy sắp sửa rút quân về. Chợt có báo tin Khương Duy ở Tây Thục dẫn quân đến
lấy Trường Thành, chặn đường vận lương của quân Ngụy.
Chiêu giật mình cùng với các quan
bàn kế đánh Thục.
Bấy giờ là năm Hiên Di thứ hai
mươi nhà Thục Hán, đổi là năm Cảnh Diệu thứ nhất. Khương Duy ở Hán Trung kén được
hai tướng trong Xuyên, một người là Tưởng Thư, một người là Phó Thiêm, hai người
sức lực khỏe mạnh mà có can đảm. Duy yêu lắm, dùng làm tướng, ngày ngày rèn tập
quân mã, chờ dịp sang đánh Ngụy.
Chợt có tin báo về rằng:
- Gia Cát Đản cất binh đánh Tư Mã
Chiêu. Tôn Lâm ở Đông Ngô mang quân sang giúp. Chiêu cất hết quân ở hai miền
Hoài, đem cả Ngụy chủ và Ngụy Thái Hậu đi đánh giặc.
Duy mừng rỡ, nói:
- Phen này việc ta chắc xong!
Liền dâng biểu tâu với hậu chủ,
xin cất quân sang đánh Ngụy.
Đại Phu và Tiêu Chu nghe chuyện
làm vậy, than rằng:
- Lâu nay chúa thượng ham mê tửu
sắc, tin dùng hoạn quan là Hoàng Hạo, không nhìn gì đến việc nước, chỉ chuộng lấy
sự vui chơi. Bá Ước thì mai đánh nay dẹp, không thương gì đến quân sĩ, thế là
cái cơ nước sắp đổ mất rồi.
Bèn làm ra một bài luận gọi là
"Thủ quốc luận" kể những sự không nên đánh nữa, đưa cho Khương Duy để
can ngăn việc cất quân.
Luận rằng:
"Có người nói: Xưa nay thuật
lấy yếu thắng mạnh là thế nào? Trả lời:
Trị nước lớn mà không cần lo là
phải có bao nhiêu điều rộng lượng, cái hay của nước nhỏ là luôn nghĩ điều lành.
Làm nhiều điều khinh suất thì sinh loạn, nghĩ nhiều điều lành thì sẽ yên, đó là
lẽ thường. Cho nên Chu Văn nuôi dân bỏ ít lấy nhiều, Câu Tiễn thương dân lấy yếu
diệt mạnh. Đó là thuật vậy.
Có người nói:
Xưa Sở mạnh Hán yếu thề ước phân
chia hồng câu. Trương Lương cho rằng dân chí đã định thì khó đổi thay, đem quân
đánh Vũ; há phải việc của Văn Vương Câu. Tiễn ru? Trả lời: Giữa thời Thương
Chu, vương hầu thế tôn quân thần đã ổn. Bây giờ tuy có Hán tổ sao có thể vung
kiếm giành thiên hạ. Đến lúc Tần diệt các chư hầu và chiếm thiên hạ, nhân dân bị
Tần làm khổ, trời đất ngửa nghiêng, hào kiệt nổi lên tranh nhau. Nay ta với họ
đều thay nhau trị nước đã không phải là lúc nước sôi lửa bỏng cuối Tần, cũng
không phải thời sáu nước tranh nhau xưng hùng bá. Cho nên đã làm văn Vương, khó
làm Hán tổ. Lúc thế loạn rồi lại yên hòa rồi lại đánh. Cho nên quân Thang Võ
không đánh mà lại thắng, thành thật coi trọng dân cày mà giúp cho thời thế. Nếu
dùng lối binh độc võ chẳng may gặp nạn tuy là người có trí lực cũng không sao
mưu được."
Duy xem bài luận nổi giận mà rằng:
- Lời lẽ này rõ ra giọng hủ nho!
Nói đoạn quẳng tờ giấy xuống đất
rồi cất quân sang lấy Trung Nguyên.
Khương Duy hỏi Phó Thiêm rằng:
- Ý ngươi nghĩ nên ra xứ nào phải
hơn?
Thiêm thưa rằng:
- Lương thảo của quân Ngụy, chứa
cả trong thành. Nay nên đi tắt tới Lạc Cốc, vượt qua núi Trầm Lĩnh đến thẳng
Trường Thành, trước hết đốt sạch lương thảo, rồi kéo thẳng đến lấy Tần Xuyên,
thì Trung Nguyên có thể hẹn ngày lấy được.
Duy nói:
- Ngươi nói hợp ý ta lắm!
Tức thì để binh đi tắt hang Lạc Cốc,
qua núi Trầm Lĩnh kéo đến Trường Thành.
Tướng giữ Trường thành là Tư Mã Vọng,
anh họ Tư Mã Chiêu. Trong thành lương thảo rất nhiều mà quân mã thì ít. Bây giờ,
Tư Mã Vọng nghe tin quân Thục đến, liền cùng với hai tướng là Vương Chân, Lý Bằng
dẫn quân ra khỏi thành hai mươi dặm hạ trại.
Hôm sau, quân Thục đến. Vọng dẫn
hai tướng ra trận. Khương Duy trỏ tay sang, nói:
- Tư Mã Chiêu đem chúa đi đánh giặc,
tất có ý như Lý Thôi, Quách Dĩ. Ta nay phụng chiếu triều đình, đến đây hỏi tội.
Mày nên hàng ngay đi, nếu còn u mê, tao sẽ giết chết cả ổ nhà mày!
Vọng quát mắng lại rằng:
- Chúng mày vô lễ, dám đến xâm phạm
thượng quốc. Nếu không về ngay đi, tao sẽ đánh cho mảnh giáp cũng không còn!
Nói vừa dứt lời, Vương Chân vác
giáo quất ngựa ra. Bên trận Thục thì Phó Thiêm đón đánh. Được mười hiệp, Thiêm
đánh miếng lừa cho Vương Chân đâm sang, liền quay mình tránh khỏi ngọn giáo, rồi
đưa tay lôi thốc Vương Chân sang ngựa mình, cắp đem về trận. Lý Bằng nổi giận,
thúc ngựa múa đao lại cứu. Thiêm cứ đi thông thả, đợi cho Lý Bằng đến nơi, quẳng
ngay Vương Chân xuống đất, rút một cây quất sắt bốn ngạnh cầm sẵn trong tay. Lý
Bằng sấn vào giơ đao chực chém, Thiêm quay mình lại, vút một quất vào giữa mặt
Lý Bằng, Bằng bậc nổ con ngươi ra ngoài, chết ngả xuống ngựa. Vương Chân bị
quân Thục xúm vào đâm chết, Khương Duy thúc quân đánh tràn sang, Tư Mã Vọng phải
bỏ chạy vào trong thành đóng chặt cửa phòng giữ.
Duy truyền lệnh rằng:
- Quân sĩ hôm nay, hãy cho nghĩ một
đêm, để dưỡng sức khỏe, ngày mai phải cố gắng đánh thành.
Sáng sớm hôm sau, quân Thục kéo cả
đến dưới thành, dùng tên thuốc dẫn lửa bắn vào. Những nhà lá trong thành cháy
bùng cả lên. Quân Ngụy đã thấy xốn xáo, Duy lại sai chất rơm củi dưới thành mà
đốt, lủa cháy đùng đùng, thành đã sắp đổ. Quân Ngụy gào khóc ầm ĩ, tiếng vang bốn
phía. Khi đang đánh bỗng đâu mé sau tiếng reo nổi lên như sấm. Duy quay ngựa lại
xem sao, thì thấy quân Ngụy đánh trống hò reo, cờ bay phấp phới kéo đến đông
như kiến. Duy đổi hậu đội làm tiền đội, kìm ngựa đứng dưới cửa cờ, chờ quân Ngụy
đến. Một lát, trong trận Ngụy có một tướng trẻ tuổi, nai nịt gọn ghẽ, cầm đao
thúc ngựa xông đến. Tướng ấy ước chừng ngoài hai mươi tuổi, mặt trắng như phấn,
môi đỏ như son, quát lên rằng:
- Có biết Đặng tướng quân là ai
không?
Duy đoán chắc là Đặng Ngải, liền
cũng thúc ngựa múa thương lại địch. Hai người tinh thần mạnh mẽ, đánh nhau ba bốn
mươi hiệp chưa phân thắng phụ. Thương pháp của tướng trẻ tuổi ấy, không hở kẽ một
chút nào. Duy nghĩ thầm muốn dùng mẹo lừa, mới quay ngựa chạy rẽ vào trong đường
núi. Tướng ấy thúc ngựa đuổi sấn tới. Duy cắp chắc ngọn thương, rút bộ cung tên
ra bắn. Tiểu tướng nhanh mắt, vừa nghe cung tách một tiếng, đã lộn mình bổ ra
mé trước, tránh được mũi tên. Duy trông xuống thì tướng ấy cầm giáo đâm đến cạnh
mình rồi. Duy vội vàng né mình sang một bên, ngọn giáo đâm sượt qua nách. Duy
nhanh tay vớ ngay được ngọn giáo. Tướng ấy buông ngọn giáo, chạy tuột ngay về bản
trận.
Duy tắc lưỡi phàn nàn rằng:
- Tiếc quá! Tiếc quá!
Liền lại quay ngựa đuổi theo, vừa
ra đến cửa trận, thì thấy một tướng cầm đao xông tới thét rằng:
- Khương Duy sất phu! Chớ đuổi
con ta nữa, Đặng Ngải ở đây!
Duy giật mình, mới nghĩ ra tướng
trước là Đặng Trung con Đặng Ngải. Duy trong bụng lấy làm kỳ, muốn đánh nhau với
Đặng Ngải, nhưng sợ sức ngựa đã mỏi, mới trỏ sang mà rằng:
- Hôm nay ta mới biết mặt bố con
nhà mày. Giờ hãy thu quân, mai sẽ sống mái với mày một trận!
Ngải thấy thế đánh chưa được lợi,
cũng kìm ngựa lại mà rằng:
- Có phải thế thì hãy thu quân về.
Hễ ai lừa nhau thì không phải là kẻ trượng phu.
Bởi vậy đôi bên cùng rút quân: Đặng
Ngải hạ trại cạnh sông Vị. Duy thì cắm trại giữ hai mặt núi.
Đặng Ngải xem địa thế bên trại Thục,
rồi đưa thư cho Tư Mã Vọng, nói:
- Chúng ta không nên đánh vội,
hãy cứ giữ cho vững đợi khi nào quân ở Quan Trung đến, mà lương thảo của Thục cạn
rồi, bấy giờ sẽ họp ba mặt mà đánh, thì mới phá được. Nay tôi hãy cho con tôi
là Đặng Trung giữ thành với ông, để cho người về cầu cứu Tư Mã đại tướng quân mới
xong.
Khương Duy sai người đưa chiến
thư đến trại Đặng Ngải, hẹn ngay mai đánh nhau. Ngải giả cách hứa lời. Canh năm
đêm hôm ấy, Duy sai ba quân thổi cơm ăn cho sớm. Sáng rõ, dàn trận đợi quân Đặng
Ngải đến. Trong trại Đặng Ngải ngả cờ im trống, làm như dáng không có người
canh giữ mà cũng không thấy ai ra. Duy chờ mãi cho đến chiều mới về.
Hôm sau, Duy đã sai người đưa chiến
thư, trách rằng sai hẹn. Ngải sai dọn cơm rượu, thết đãi sứ giả, rồi bảo rằng:
- Tôi hơi khó ở, lỡ sai mất hẹn,
xin để ngày mai hội chiến.
Hôm sau, Duy dẫn binh đến. Ngải vẫn
như trước, nhất định không ra. Năm sáu phen hẹn cũng thế cả.
Phó Thiêm bảo với Khương Duy rằng:
- Đây tất có mẹo mực gì đây, phải
phòng mới được.
Duy nói:
- Đây chỉ đợi quân Quan Trung đến,
hợp ba mặt lại đánh ta, ta nên cho người cầm thư sang Đông Ngô nói với Tôn Lâm
dồn sức lại mà đánh.
Sực có thám mã về báo rằng:
- Tư Mã Chiêu đánh vỡ Thọ Xuân,
đã giết mất Gia Cát Đản, quân Ngô hàng hết cả Ngụy rồi. Chiêu rút quân về Lạc
Dương, nay sắp dẫn quân đến cứu Trường Thành.
Duy thất kinh, nói:
- Phen này đánh Ngụy, lại ra
thành xôi hỏng bỏng không rồi! Chẳng thà về cho rảnh.
Ấy là:
Năm thứ nay đà lại uổng công
Chưa biết Khương Duy rút quân về
rồi ra làm sao, xem hồi sau phân giải.
Đinh Phụng Lập mẹo đánh Tôn Lâm
Khương Duy đấu trận phá Đặng Ngải
Khương Duy sợ có quân cứu đến,
cho quân bộ vận tải quân nhu xa trượng về trước, rồi đem quân mã đi đoạn hậu.
Quân tế tác báo tin với Đặng Ngải.
Ngải cười, nói:
- Khương Duy biết cơ binh của đại
tướng quân sắp đến, cho nên lui về trước, không nên đuổi theo làm gì. Nếu đuổi
thì phải mắc phải mẹo của hắn ngay.
Bèn cho người đi thám, quả nhiên
trong đường hẻm hang Lạc Cốc, chứa chất củi cỏ, dự bị để đốt quân đuổi theo.
Chúng khen Đặng Ngải rằng:
- Tướng quân thật là thần toán!
Ngải sai dâng biểu tâu về, Tư Mã Chiêu mừng lắm, lại thưởng thêm cho Đặng Ngải.
Ngô chủ Tôn Lượng, bấy giờ mới mười
bảy tuổi, thấy Lâm giết người thái quá, có ý không bằng lòng.
Ngô chủ vốn thông minh lắm. Một bữa,
ra chơi vừơn tây uyển, nhân muốn ăn một quả mơ xanh bèn sai hoàng môn vào lấy mật.
Một lát, hoàng môn đem mật đến. Ngô chủ thấy trong chén mật có vài viên cứt chuột,
bèn đòi quan giữ kho đến hỏi.
Quan giữ kho lạy kêu rằng:
- Chúng tôi đậy kín đáo lắm, làm
gì có cứt chuột rơi vào được?
Lượng hỏi:
- Hoàng môn có đến đòi mật ăn bao
giờ không?
Quan giữ kho tâu rằng:
- Mấy hôm trước có đến đòi mật
ăn, nhưng chúng tôi quả thực không dám cho.
Lượng trỏ tên hoàng môn, nói
- Đây chắc là mày thù nó không
cho mật, cho nên bỏ cứt chuột vào để hại nó chứ gì?
Tên hoàng môn không chịu.
Lượng nói:
- Việc này cũng dễ biết, nếu phân
mật lâu ngày, thì trong ngoài thấm ướt; bằng mới bỏ vào, thì trong ráo ngoài ướt.
Liền sai cắt ra xem, thì quả
nhiên ở trong khô ráo. Hoàng môn lúc bấy giờ mới chịu tội.
Đại khái Lượng thông minh như thế,
nhưng bị Tôn Lâm kìm hãm nên không được tự chủ điều gì.
Bấy giờ Tôn Lâm quyền thế hách dịch
lắm. Em là Tôn Cứ làm oai viễn tướng quân, vào túc vệ trong nơi cung cấm, em nữa
là Tôn Ân làm võ vệ tướng quân, Tôn Cán làm thiên tướng quân; Tôn Ngữ làm tràng
thủy hiệu úy, chia đóng các doanh trại.
Ngô chủ một bữa ngồi buồn, có
hoàng môn thị lang là Toàn Kỷ đứng hầu bên cạnh. Kỷ là quốc cữu. Lượng khóc bảo
với Kỷ rằng:
- Tôn Lâm chuyên quyền giết bậy,
khinh trẫm tệ lắm, nếu không liệu đi, tất để sinh vạ.
Kỷ tâu rằng:
- Bệ hạ có việc gì dùng đến, tôi
dù có chết cũng không dám từ.
Lượng nói:
- Ngươi nên điểm quân cấm binh,
cùng với tướng quân Lưu Vĩnh, giữ các cửa thành, để trẫm tự dẫn quân ra giết
Tôn Lâm. Nhưng việc ấy chớ để cho mẹ ngươi được biết, vì mẹ ngươi là chị Tôn
Lâm. Nếu lộ chuyện ra ngoài, thì làm lỡ mất việc trẫm đấy.
Kỷ nói:
- Xin bệ hạ ban cho tôi một đạo
chiếu, để khi làm việc, đem ra bảo chứng, cho thủ hạ Tôn Lâm không ai dám động.
Lượng nghe lời, thảo mật chiếu
giao cho Toàn Kỷ, Kỷ lĩnh chiếu mang về nhà, nói chuyện với cha Toàn Thượng.
Thượng biết chuyện, bảo với vợ rằng:
- Chỉ trong ba ngày nữa, thì giết
Tôn Lâm.
Người vợ nói:
- Giết đi cũng phải.
Miệng tuy nói thế, nhưng mật sai
người báo tin cho Tôn Lâm biết.
Lâm nổi giận, đang đêm, gọi bốn
anh em đến, điểm tinh binh vào vây nội cung. Một mặt bắt Toàn Thượng, Lưu Vĩnh
và cả nhà hai người giam lại. Đến sáng Ngô chủ Tôn Lượng nghe ở ngoài cửa cung
có tiếng chiêng trống ầm ĩ. Rồi nội thị lật đật chạy vào tâu rằng:
- Tôn Lâm dẫn quân đến vây bọc cả
vườn nội uyển.
Lượng nổi giận, trỏ vào Toàn hậu
quát rằng:
- Cha và anh mày làm hỏng mất việc
tao rồi!
Liền rút gươm ra toan chém Toàn hậu
và thị trung; cận thần lôi cả lấy vạt áo khóc ngăn lại, không để cho Tôn Lượng
ra ngoài.
Tôn Lâm trước hết giết bọn Toàn
Thượng, Lưu Vĩnh rồi hội văn võ cả ở trong triều, truyền lệnh rằng:
- Chúa thượng hoang dâm lắm bệnh,
tối tăm không biết đạo nghĩa là gì, không thể phụng được tôn miếu, nên bỏ đi.
Văn võ ai không tuân lời ta, thì ghép ngay cho tội mưu phản.
Ai nấy đều sợ run lập cập, thưa rằng:
- Xin tuân theo lệnh tướng quân.
Chỉ có thượng thư là Hoàn Ý giận
tái mặt lại, từ trong bọn nhảy ra, trỏ vào mặt Tôn Lâm mắng rằng:
- Chúa thượng là chúa thông minh,
mày sao dám nói càn thế. Tao thà chết, quyết không nghe lời mày!
Lâm nổi giận rút gươm chém phăng
Hoàn Ý, rồi vào cung trỏ vào Tôn Lượng mắng rằng:
- Hôn quân vô đạo kia. Đáng lẽ
nên giết đi để tạ thiên hạ mới phải, nhưng nể mặt tiên đế, nay phế ngươi xuống
làm Cối Kê vương. Ta sẽ kén người có đức lên làm vua.
Nói đoạn quát trung thư lang Lý
Sùng cướp lấy ấn thụ, sai Đặng Trình thu lấy.
Tôn Lượng khóc vang lên rồi đi
ra.
Người sau có thơ than rằng:
Gian thần giả Hoắc Quang
Thương thay Tôn minh chúa
Không giữ được ngai vàng
Tôn Lâm sai quan tôn chính Tôn Khải
rước trung thư lang nha vương là Tôn Hưu về làm vua. Hưu tự là Tử Liệt, con thứ
sáu Tôn Quyền, khi ở Hổ Lâm nằm mơ thấy cưỡi rồng bay lên trời ngoảnh lại trông
thấy đuôi rồng, mới giật mình tỉnh dậy.
Hôm sau, Tôn Khải, Đổng Triều đến
mời Hưu về triều. Khi đi đến khúc A có một cụ già, tự xưng tên là Cam Hưu, lạy
phục xuống đất tâu rằng:
- Xin bệ hạ nhanh cho, nếu chậm
chạp thì việc sinh biến mất. Hưu tạ lời ấy. Khi đi đến dinh Bố Cơ, Tôn Ân đem
xa giá lại đón. Hưu không dám trèo lên kiệu, ngồi một chiếc xe nhỏ đi vào, trăm
quan lại yết bên cạnh đường. Hưu vội vàng xuống xe đáp lễ. Tôn Lâm sai đỡ dậy,
mời vào đại điện, rước lên ngôi trên sập rồng.
Hưu khiêm tốn, từ chối hai ba lần,
rồi mới chịu nhận ngọc tỉ.
Văn võ các quan lễ chầu mừng đâu
đấy, đại xá cho thiên hạ; cải niên hiệu gọi là Vĩnh An năm đầu; Phong cho Tôn
Lâm làm thừa tướng, lĩnh chức Kinh Châu mục. Các quan cùng được phong thưởng. Lại
phong con anh là Tôn Hạo làm Ô trình hầu.
Tôn Lâm một nhà năm anh em, đều
phong tước hầu, coi giữ quân cấm binh, quyền hơn cả vua. Ngô chủ Tôn Hưu sợ
sinh biến ngoài mặt tuy ân huệ, kỳ thực trong bụng vẫn đề phòng.
Tôn Lâm ngày càng sinh kêu hoạnh
lắm. Tháng chạp năm ấy, Lâm đem trâu rượu vào cung lễ thọ, Ngô chủ Tôn Hưu
không chịu lấy. Lâm giận mang trâu rượu về phủ, mời tả tướng quân là Trương Bố
đến phủ uống rượu. Trong tiệc, Lâm nói:
- Khi trước ta bỏ Cối Kê vương,
nhiều người khuyên ta lên làm vua. Ta tưởng là chúa thượng hiền hậu, cho nên mới
lập. Nay ta dâng lễ thọ lại từ chối không nhận, thế là không coi ta vào đâu rồi
đó. Nay mai ngươi thử coi xem ra làm sao.
Bố nghe nói dạ dạ mấy tiếng,
không dám nói câu gì.
Hôm sau, Bố vào cung mật tâu với
Tôn Hưu việc ấy. Hưu lấy làm lo sợ, ngày đêm không yên. Được vài hôm, Lâm sai
Trung thư lang là Mạnh Tôn dẫn một vạn năm nghìn tinh binh ra đóng ở Võ Xương,
vận hết đồ khí giới trong kho cấp cho bọn ấy.
Tướng quân là Ngụy Mạc, võ vệ sĩ
là Thi Sóc, hai người vào mật tâu với Ngô chủ rằng:
- Tôn Lâm điều binh ra ngoài, lại
đem đồ khí giới cấp cho quân, nay mai tất sinh biến.
Tôn Hưu giật mình, kíp vời Trương
Bố vào bàn bạc. Bố tâu rằng:
- Có lão tướng là Đinh Phụng mưu
mẹo hơn người, biết đoán việc lớn, nên cho vời vào bàn việc.
Hưu liền vời Đinh Phụng vào trong
nhà kín, kể lại chuyện ấy.
Phụng tâu rằng:
- Bệ hạ chớ lo, tôi có một kế này
trừ được hại cho nước.
Hưu hỏi mẹo làm sao, Phụng tâu rằng:
- Mai là ngày chạp, hội cả quần
thần mời cả Tôn Lâm đến ăn tiệc, tôi sẽ khu xử xong xuôi.
Hưu mừng lắm. Phụng sai Ngụy Mạc,
Thi Sóc coi việc ngoài Trương Bố coi việc trong.
Đêm hôm ấy, trời nổi cơn dông:
Cát, sỏi, đá bay vù vù có một cây cổ thụ bật cả một tảng rễ xuống. Đến sáng đứng
gió, sứ giả phụng chiếu mời Tôn Lâm vào cung ăn yến. Tôn Lâm đương ở trên giường,
bổng dưng như có người đẩy sấp xuống đất. Lâm thấy vậy không vui lòng. Một lát
lại thấy hơn mười người sứ giả đến mời. Người nhà ngăn lại nói rằng:
- Một đêm nổi dông gió, sáng hôm
nay lại bỗng dưng ngã sấp, đó không phải là điềm hay, không nên đến dự tiệc.
Lâm nói:
- Anh em ta cùng giữ quân cấm
binh, ai dám đến gần ta mà sợ? Ví dù có việc gì, thì đốt lửa ở trong phủ lên
làm hiệu.
Dặn xong lên xe vào cung.
Ngô chủ Tôn Hưu xuống dưới sập rồng
đứng đón mời Lâm lên ngồi. Rượu được vài tuần, bỗng thấy ngoài cung có ngọn lửa
cháy. Lâm muốn đứng dậy về, Hưu ngăn lại nói rằng:
- Thừa tướng cứ ngồi yên, quân
ngoài có nhiều, can gì phải lo?
Hưu vừa nói dứt lời thì tả tướng
quân Trương Bố rút gươm cầm tay, dẫn hơn ba chục võ sĩ, bước sấn lên trên điện,
quát lên rằng:
- Có chiếu bắt phản tặc là Tôn
Lâm!
Lâm vừa toan chạy, thì đã bị võ
sĩ bắt lại. Lâm cúi đầu kêu rằng:
- Xin đày ra Giao Châu, cho được
về làm ruộng.
Hưu mắng rằng:
- Sao trước mày không đem đày Đằng
Dận, Lã Cứ, Vương Đôn có được không?
Bèn sai lôi ra chém, Trương Bố
lôi Tôn Lâm ra mé đông điện chém đầu; đầy tớ không tên nào dám nhúc nhích.
Bố đọc tờ chiếu lên nói rằng:
- Tội chỉ do một mình Tôn Lâm gây
nên thôi, còn người khác không ai việc gì cả.
Bố mời Tôn Hưu lên lầu Ngũ Phượng.
Đinh Phụng, Ngụy Mạc, Thi Sóc bắt cả bọn anh em Tôn Lâm điệu đến. Hưu sai đem
ra chợ chém sạch, giết cả ba họ, hơn vài trăm tôn đảng đều bị chết lây. Lại sai
đào mả Tôn Tuấn, vằm thây xé xác ra, rồi xây phần mộ lại cho bọn Gia Cát Khác,
Đằng Dận, Vương Đôn, Lã Cứ để tỏ cái bụng trung của họ. Ai bị đem đầy phương xa
liền tha cho về làng mạc. Lại phong thưởng cho bọn Đinh Phụng, rồi đưa thư báo
tin mừng vào thành Đô.
Hậu chủ bên Thục sai sứ vào mừng
Ngô, Ngô lại sai Tiết Hủ vào Thục để đáp lễ. Hủ từ trong Thục về, Ngô chủ hỏi
quang cảnh trong Thục, Hủ tâu rằng:
- Lâu nay trung thường thị là
Hoàng Hạo coi việc, công khanh a dua cả vào hắn. Trong triều không nghe thấy lời
thẳng, ngoài đồng dân lắm người mặt bủng da chì. Thế mà vua thì chỉ một niềm mải
vui chơi. Đó gọi là chim én chim sẻ ở trên thềm, không biết rằng nhà to sắp
cháy là thế.
Hưu thở dài than rằng:
- Nếu còn Gia Cát Võ hầu, thì đâu
đến nỗi thế này!
Bởi thế lại viết thư đưa sang Thục
nói rằng Tư Mã Chiêu không mấy bữa nữa tất sẽ thoán Ngụy. Thế nào hắn cũng sang
đánh Ngô, Thục để thị uy. Hai nước ta cùng phải giữ gìn trước đi.
Khương Duy nghe được tin ấy, mừng
rỡ lắm, dâng biểu lại xin cất quân sang đánh Ngụy.
Năm Cảnh Diệu thứ nhất nhà Thục
Hán, mùa đông đại tướng quân Khương Duy cất Liêu Hóa, Trương Dực làm tiên
phong, Vương Xá, Tưởng Mân làm tả quân, Tưởng Thư, Phó Thiêm làm hữu quân, Hồ Tế
làm hợp hậu; Duy cùng với Hạ Hầu Bá tổng lĩnh trung quân, khởi hai mươi vạn
quân Thục, lạy từ Hậu chủ, đến thẳng Hán Trung, bàn bạc với Hạ Hầu Bá xem ra lối
nào cho tiện.
Bá nói:
- Kỳ Sơn là đất dụng võ, nên tiến
quân ra mặt ấy; ta nên sai ba quân kéo cả ra Kỳ Sơn, đến cửa hang hạ trại.
Bấy giờ Đặng Ngải đang ở trong trại
Kỳ Sơn, điểm quân Lũng Hữu, chợt có tin báo quân Thục hạ ba ngọn trại ở cửa
hang. Ngải nghe báo, lên cao ngắm xem, mừng rỡ về trại, lên trướng nói rằng:
- Không ra khỏi được ý định của
ta!
Nguyên Đặng Ngải xem xét địa thế,
để dành đất cho quân Thục lập trại. Từ chỗ ấy đến trại Kỳ Sơn, đã đào sẵn một
đường hầm, đợi quân Thục đến sẽ khởi sự. Bấy giờ Khương Duy lập ba ngọn trại,
trại tả đóng chính vào giữa đường hầm, là trại của Vương Xá, Tưởng Mân.
Đặng Ngải sai con là Đặng Trung
cùng với Sư Toản, mỗi người dẫn một vạn quân chia làm hai cánh tả hữu. Sai phó
tướng Trịnh Luân dẫn năm trăm quân quật tử một canh hai đêm hôm ấy, đi xuyên đường
hầm đến thẳng trại tả kéo lên.
Vương Xá, Tưởng Mân khi ấy nhân
chưa lập xong trại, sợ quân Ngụy đến cướp trại, không dám cởi giáp đi ngủ. Chợt
thấy trung quân tự nhiên bối rối, vội vàng cầm khí giới nhảy lên ngựa, thì đã
thấy Đặng Trung ở ngoài dẫn quân kéo vào. Trong ngoài dồn lại đánh, hai tướng cố
chết cự lại không nổi, phải bỏ trại chạy.
Khương Duy ở trong trướng nghe tiếng
bên trại tả hò reo, biết có quân trong ứng ngoài hợp. Duy kíp ngựa đứng trước
trướng trung quân, truyền lệnh rằng:
- Hễ ai nhộn nhạo thì chém. Nếu
có quân giặc kéo đến cạnh trại, không phải hỏi lôi thôi gì, chỉ việc dùng cung
nỏ bắn ra.
Một mặt truyền cho trại hữu cũng
thế, không được nhộn nhạo. Quân Ngụy hơn mười lần xông vào, quả nhiên điều bị
tên bắn lui về, xáo xác mãi đến sáng, rồi không dám vào.
Đặng Ngải thu quân về trại, than
rằng:
- Khương Duy thực là học được
phép của Khổng Minh. Ra quân ban đêm mà không sợ, tướng gặp biến mà không rối,
thế mới thực là tướng tài!
Hôm sau, Vương Xá, Tưởng Mân thu
nhặt quân tàn, đến đại trại xin chịu tội.
Duy nói:
- Đó không phải là tội tại các
ngươi. Bởi vì ta không tường mạch đất, mới đến nỗi thế.
Lại cấp thêm cho quân mã, sai hai
tướng hạ trại. Rồi đem những thây người chết, bỏ cả vào trong đường hầm, lấy đất
lấp đi.
Duy sai người đưa chiến thư,
thách Đặng Ngải ngày mai ra giao phong.
Ngải mừng rỡ ưng lời. Hôm sau,
hai bên dàn trận ở trước núi Kỳ Sơn. Duy án phép bát trận của Võ Hầu, chia dàn
ra tám cửa: Thiên, địa, phong, vân, điểu, xà, long, hổ. Đặng Ngải thấy Khương
Duy bàn trận bát quái, cũng bày trận ấy, cửa ngõ tả hữu trước sau tả hữu giống
y như hệt.
Duy cầm thương thúc ngựa ra ngoài
trận gọi to lên rằng:
- Mày bắt chước ta bày trận bát
quái, nhưng mày có biến trận được không?
Ngải cười rằng:
- Mày tưởng một mình mày bày được
hay sao? Ta đã bày được, làm gì mà chẳng biến được?
Nói đoạn, quay vào trận, sai quân
cầm hiệu, phất một lá cờ, mỗi cửa biến thành tám cửa, tám tám thành sáu mươi tư
cửa.
Ngải ra trận hỏi rằng:
- Phép biến trận của ta thế nào?
Duy nói:
- Mày biến cũng phải, nhưng có
dám vào trận vây nhau không?
Ngải nói:
- Sao lại không dám?
Bởi vậy, quân đôi bên cứ y đội
ngũ tiến vào. Ngải vào trung quân đứng sai khiến, cho quân lượn vào vây trận,
trận đôi bên vẫn đâu ra đấy, không xôn xao một tí nào. Khương Duy đứng trung
quân, cầm lá cờ phất một cái, bỗng biến thành trận trường xà quyển địa, vây bộc
ngay Đặng Ngải vào giữa. Bốn mặt tiếng reo nổi lên. Ngải không biết là trận gì,
trong bụng đã sợ. Tiếng reo dần dần đến gần. Ngải dẫn vào các tướng xông xáo
cũng không sao ra được. Quân Thục cùng gọi to lên rằng:
- Đặng Ngải hàng đi cho mau!
Ngải ngẩng mặt lên than rằng:
- Ta lỡ ra muốn khoe tài một lúc,
mắc phải mẹo Khương Duy mất rồi!
Bỗng thấy trên góc tây bắc, có một
toán quân đánh vào. Ngải trông ra thì quân Ngụy, mới thừa thế đánh ra được
ngoài. Nguyên Tư Mã Vọng đánh cứu Đặng Ngải đem ra, khi trở về thì chín trại Kỳ
Sơn đã bị quân Thục cướp mất cả.
Ngải dẫn bại quân lui về mé nam
sông Vị hạ trại.
Ngải nói:
- Sao ông biết được phép trận
này, mà cứu được tôi ra?
Vọng nói:
- Tôi thuở nhỏ học ở Nam Kinh, có
kết bạn với Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Nguyên thường có giảng đến phép trận
này. Khi nãy, Khương Duy biến trận ấy, gọi là trận trường xà quyển địa, nếu
đánh chỗ khác, thì không sao phá được. Tôi thấy đầu trận ở góc tây bắc, cho nên
từ mặt ấy đánh vào, liền phá được ngay.
Ngải tạ ơn nói:
- Tôi tuy học được phép trận,
nhưng chưa tường phép biến hóa. Ông đã biết phép ấy, ngày mai nên đấu trận với
Khương Duy, để tôi dẫn quân đến đánh úp sau trại Kỳ Sơn, hai mặt dồn lại đánh,
thì có thể cướp lại trại cũ.
Bèn sai Trịnh Luân làm tiên
phong. Ngải tự dẫn quân đến úp trại Kỳ Sơn, một mặt cho người đưa chiến thư
thách Khương Duy ngày mai đấu trận.
Duy phê vào chiến thư và cho sứ
giả mang về, rồi bảo với các tướng rằng:
- Ta được mật thư của Võ hầu tryền
cho trận này cả thảy ba trăm sáu mươi lăm phép biến, theo độ số chung quanh trời.
Nay quân giặc thách ta đấu trận pháp, thì chẳng khác nào múa rìu qua mắt thợ,
đây tất có mưu mẹo, các ông có biết không?
Liêu Hóa nói:
- Đây hẳn là dử ta đấu trận, kỳ
thực là họ dẫn quân đến chụp mặt sau ta đây.
Duy cười rằng:
- Chính thế.
Liền sai Trương Dực, Liêu Hóa dẫn
một vạn quân phục ở mé sau núi.
Hôm sau, Khương Duy dẫn hết quân
trong chín trại, dàn cả ra trước núi Kỳ Sơn, Tư Mã Vọng cũng dẫn quân ra khỏi vị
Nam, đến trước Kỳ Sơn, cùng với Khương Duy đối trận.
Duy nói:
- Ngươi mời ta ra đấu trận pháp,
thử bày trước cho coi.
Vọng bày ra một trận bát quái.
Duy cười rằng:
- Trận ấy tức là trận của ta bày,
ngươi ăn cắp, lấy gì làm lạ?
Vọng nói:
- Ngươi cũng học mót của người
khác chứ gì?
Duy nói:
- Vậy thì trận này có bao nhiêu
phép biến?
Vọng cười, rằng:
- Ta biết bày trận, dễ thường
không biết biến trận hay sao? Trận này cả thảy có chín lần chín tám mươi mốt
phép biến.
Duy nói:
- Ngươi thử biến đi ta coi.
Vọng vào trong trận, biến một vài
lần, rồi bước ra hỏi rằng:
- Ngươi có biết ta biến ra trận
gì không?
Duy cười nói rằng:
- Trận pháp của ta, theo độ số trời,
có ba trăm sáu mươi lăm phép biến. Ngươi chẳng qua như ếch ngồi đáy giếng, biết
đâu được phép huyền diệu này!
Vọng nói:
- Ta vẫn biết có các phép biến ấy.
Ngươi thử biến cho ta coi.
Duy nói:
- Ngươi bảo Đặng Ngải ra đây, ta
bày cho mà xem.
Vọng nói:
- Đặng tướng quân có mẹo hay hơn,
tính không ưa đấu trận pháp.
Duy cười ầm lên rằng:
- Có mẹo gì hay đâu! Chẳng qua
sai mày đấu với ta ở đây, còn hắn thì dẫn quân đến úp sau quân ta có phải
không?
Vọng thấy nói như đi guốc vào ruột
mình, lấy làm kinh hãi, muốn thúc quân đánh bừa một trận. Duy cầm roi vẫy một
cái, quân hai bên đổ ra, đánh tan tành quân Ngụy, phải bỏ giáp vất gươm giáo chạy
tháo thân.
Đặng Ngải thúc tiên phong Trịnh
Luân đến mé sau núi; vừa đi qua mỏm núi, bỗng nổi một tiếng pháo, rồi trống
đánh vang trời, quân Thục đổ ra, đại tướng đi đầu là Liêu Hóa. Trịnh Luân sấn lại
đánh nhau với Liêu Hóa, bị Liêu Hóa chém ngay một đao lăn quay xuống ngựa.
Đặng Ngải giật mình, kíp thu quân
về, thì lại gặp Trương Dực dẫn quân đến. Đôi bên ập vào đánh giết, quân Ngụy
tan nát. Ngải bị bốn mũi tên, cố sống cố chết chạy về đến trại Vị Nam. Tư Mã Vọng
cũng chạy về trại.
Hai người bàn bạc, Vọng nói rằng:
- Gần nay Thục chủ Lưu Thiền yêu
dùng tên hoạn quan Hoàng Hạo, ngày đêm ham mê tửu sắc. Ta nên dùng mẹo phản
gián, để cho Thục chủ đòi Khương Duy về, thì mới giải được nguy này.
Ngải hỏi các mưu sĩ rằng:
- Có ai vào được Thục, kết hiếu với
Hoàng Hạo không?
Đảng Quân xin đi. Ngải mừng lắm,
sai Đảng Quân mang vàng ngọc, châu báu vào Thành Đô, kết liên với Hoàng Hạo,
nói phao lên rằng Khương Duy có bụng oán thiên tử, không bao lâu tất về hàng Ngụy.
Bởi thế người ở Thành Đô đồn khắp cả đi, ai ai cũng biết, Hoàng Hạo vào tâu với
Hậu chủ, Hậu chủ lập tức sai người đi gấp đòi Khương Duy về triều.
Khi ấy Khương Duy luôn mấy hôm
khiêu chiến, Đặng Ngải giữ vững không ra. Duy trong bụng nghi hoặc, chưa biết
nghĩ thế nào. Chợt có sứ giả đến triệu về. Duy không biết tại sao đành phải rút
quân về triều. Đặng Ngải, Tư Mã Vọng biết rằng Duy đã trúng phải mẹo, liền cất
quân Vị Nam, đuổi đánh.
Ấy mới là:
Nhạc Phi phá giặc mắc lời gièm
Chưa biết sau này ra làm sau, xem
hồi sau phân giải.
Tào Mao ruổi xe chết cửa nam
Khương Duy bỏ lương phá quân Ngụy
Khương Duy nhân có chiếu đòi về,
bèn truyền lệnh rút quân.
Liêu Hóa nói:
- Tướng ở ngoài, tuy có mệnh vua,
không nghe cũng được. Nay dẫu có chiếu, nhưng chớ nên lui vội.
Trương Dực nói:
- Tướng quân luôn động binh mấy
năm, nên người Thục đều có lòng oán cả, không bằng chấp nhận dịp này vừa được
trận, thu quân mã về cả, để yên bụng dân. Sau sẽ liệu kế khác.
Duy nghe lời, sai quân sĩ y phép
lui về, để Liêu Hóa, Trương Dực đi chặn hậu, phòng quân Ngụy đuổi theo.
Nói về Đặng Ngải dẫn quân đuổi
theo, trông thấy quân Thục đi trước, tinh kỳ nghiêm chỉnh, từ từ lui về.
Ngải than rằng:
- Khương Duy thực là học được
phép Võ hầu sâu lắm!
Bởi thế cũng không dám đuổi nữa,
quay binh trở lại trại Kỳ Sơn.
Khương Duy về đến Thành Đô, vào
ra mắt Hậu chủ, hỏi tại sao mà đòi về.
Hậu chủ nói:
- Ngươi ở mãi ngoài biên đình, trẫm
sợ quân sĩ vất vả, cho nên đòi ngươi về triều, chớ không có việc gì cả.
Duy tâu rằng:
- Tôi đã lấy được trại Kỳ Sơn, sắp
sửa thành công, không ngờ nửa đường lại bỏ dở, biết là trúng phải mẹo phản gián
của Đặng Ngải.
Hậu chủ nín lặng.
Khương Duy lại tâu rằng:
- Tôi thề hết sức đánh giặc, để
báo ơn nước. Bệ hạ chớ nghe lời tiểu nhân mà sinh bụng ngờ vực.
Hậu chủ ngồi lâu lâu, mới nói rằng:
- Trẫm không nghi ngờ gì ngươi.
Ngươi hãy về Hán Trung, đợi khi nào nước Ngụy có biến sẽ sang đánh.
Khương Duy thở dài, ra về Hán
Trung.
Đảng Quân về trại Kỳ Sơn, báo việc
ấy với Đặng Ngải, Ngải bàn với Tư Mã Vọng:
- Trong Thục vua tôi không hòa, tất
sinh nội loạn.
Liền sai Đảng Quân về Lạc Dương
báo tin ấy với Tư Mã Chiêu.
Chiêu mừng lắm có bụng muốn đánh
Thục, hỏi trung hộ quân là Giả Sung rằng:
- Ta muốn đánh Thục có nên không?
Sung nói:
- Chưa nên, thiên tử còn có bụng
ngờ chúa công. Nếu chúa công một mai đi vắng, ở nhà tất sinh chuyện ngay. Năm
ngoái rồng vàng hai lần hiện trong giếng Ninh Lăng, quần thần dâng biểu là điềm
lành. Thiên tử nói rằng: "Đó không phải điềm lành. Rồng là tượng vua, nay
rồng trên không ở trời, dưới không ở ruộng, mà đi ở trong giếng, ấy là điều rồng
phải giam hãm". Rồi có làm một bài thơ rồng lặn, ý trong thơ chỉ rõ về
chúa công. Thơ rằng:
Không vượt khỏi vực sâu
Trên trời đã không ở
Giữa ruộng nào thấy đâu?
Cuốn khúc nằm đáy giếng
Lươn chạch lượn trước sau
Vây cánh xếp một xó
Thân ta cùng một màu!
Tư Mã Chiêu nghe xong, nổi giận,
bảo Giả Sung rằng:
- Người này lại muốn bắt chước
Tào Phương đây! Nếu không liệu sớm đi, tất có khi hại ta.
Sung nói:
- Tôi xin sớm tối lo giúp chúa
công việc ấy.
Bấy giờ là năm Cam Lộ thứ năm nhà
Ngụy, mùa hạ, tháng tư, Tư Mã Chiêu đeo gươm lên điện. Mao đứng dậy đón vào.
Quần thần tâu rằng:
- Công đức của đại tướng quân cao
vòi vọi nên phong làm Tấn công, gia lễ cửu tích.
Mao cúi đầu không nói câu gì.
Chiêu hét lên rằng:
- Cha con, anh em nhà tôi ba đời,
biết bao nhiêu công lao với Ngụy. Nay làm Tấn công không đáng hay sao?
Mao đáp rằng:
- Dám đâu chẳng vâng lời.
Chiêu nói:
- Bài thơ rồng lặn, coi chúng tôi
như con lươn, con chạch là ý làm sao?
Mao không trả lời được. Chiêu tủm
tỉm cười trở ra.
Mao vào hậu cung cùng với thị
trung Vương Thẩm, thượng thư Vương Kinh, tán kỵ thường thị Vương Nghiệp bàn bạc.
Vương Kinh khóc nói rằng:
- Không nên. Ngày xưa vua Chiêu
Công nước Lỗ, không chịu nhịn nhục với họ Quí, đến nỗi phải bỏ nước mà chạy.
Nay quyền to vào tay họ Tư Mã cả rồi, công khanh trong ngoài, không nghĩ gì đến
lẽ thuận nghịch, a dua theo về với giặc, không cứ một ai. Vả lại quân túc vệ của
bệ hạ đưa đón, không có người chịu dùng sức. Nếu không nín náu nhịn nhục, thì vạ
đến nơi ngay. Xin hãy thong thả lo toan, chớ nên hấp tấp.
Mao nói rằng:
- Điều ấy mà chịu nhịn, thì còn
điều gì không nhịn nữa? Ý trẫm đã quyết rồi, dù chết cũng không ngại!
Nói đoạn, vào tâu với Thái Hậu.
Vương Thẩm, Vương Nghiệp, bảo
Vương Kinh rằng:
- Việc đã kíp rồi, chúng ta không
nên dây vào mà chết cả họ, nên đến thú trước với Tư Mã Công, kẻo mà chết oan.
Kinh giận, nói rằng:
- Chúa lo, tôi phải nhục; chúa nhục
tôi phải chết, các ngươi dám mang hai lòng à?
Hai người thấy Vương Kinh không
nghe, liền đến báo với Tư Mã Chiêu trước.
Lại nói, Ngụy chủ Tào Mao vào nội
cung, sai quan hộ vệ là Tiêu Bá tụ tập quân túc vệ trong điện, cùng đầy tớ hầu
hạ được hơn ba trăm người, đánh trống hò reo tiếng ra. Mao cầm gươm ngồi trên
xe quát tả hữu kéo ra cửa nam.
Vương Kinh lạy phục xuống khóc mà
can rằng:
- Bệ hạ dắt vài trăm người đánh
Tư Mã Chiêu, khác nào xua đàn dê vào trong miệng hổ, chết uổng vô ích. Tôi
không dám tiếc mình đâu, nhưng thực là việc không nên làm.
Mao nói:
- Quân ta đã đi, ngươi không nên
ngăn trở.
Liền giục quân kéo ra cửa Long
Môn, đến nơi thấy Giả Sung mặc đồ nhung phục cưỡi ngựa, có Thành Tốt, Thành Tế
đi kèm hai bên, dẫn vài nghìn quân cấm binh thiết giáp hò reo kéo đến.
Mao trỏ gươm quát mắng rằng:
- Tao là thiên tử đây, chúng bây
xông vào nơi cung đình, muốn giết vua hay sao?
Cấm binh trông thấy Tào Mao cũng
không dám động. Giả Sung bảo Thành Tế rằng:
- Tư Mã Công nuôi mày làm trò gì?
Chính vì việc hôm nay đấy.
Tế cầm ngọn kích, ngoảnh lại hỏi
Giả Sung rằng:
- Giết đi hay là trói lại?
Sung nói:
- Tư Mã Công truyền cho giết
quách đi.
Thành Tế xông thẳng đến trước xe.
Mao quát lên rằng:
- Thất phu dám xấc à?
Mao nói vừa dứt lời, bị Thành Tế
đâm một kích vào giữa ngực, ngã sấp xuống dưới xe; lại bồi thêm một kích từ sau
lưng suốt ra ngoài bụng, Mao chết ở cạnh đường.
Tiên Bá cầm giá lại đánh, cũng bị
Thành Tế đâm chết; chúng tan vỡ trốn sạch.
Vương Kinh tự mé sau chạy đến,
quát mắng Giả Sung rằng:
- Quân nghịch tặc kia, sao dám giết
vua làm vậy?
Sung nổi giận, quát tả hữu trói lại,
rồi về báo với Tư Mã Chiêu. Chiêu vào cung, thấy Mao đã chết, giả vờ thất kinh,
đập đầu xuống xe mà khóc, rồi sai người báo tin với các đại thần. Thái phó Tư
Mã Phu vào, thấy thây Tào Mao nằm đấy, bèn gối đầu vào đùi khóc rằng:
- Giết bệ hạ là lỗi tại tôi đây!
Bèn dùng quan quách khâm liệm,
đình tại mé tây thiên điện.
Chiêu mời quần thần vào bàn bạc.
Quần thần đến cả, chỉ thiếu có thượng thư bộc xạ Trần Thái. Chiêu sai cậu Trần
Thái là Tuân Khải gọi Thái đến.
Thái khóc nói rằng:
- Người ta vẫn cho tôi bằng với cậu.
Nay cậu thực không bằng tôi.
Bèn mặc áo gai, đội khăn trở đi
vào, khóc lạy trước linh cửu.
Chiêu cũng giả tảng khóc hỏi rằng:
- Việc hôm nay nên nghĩ thế nào
bây giờ?
Thái nói:
- Chỉ chém Giả Sung đi, thì còn tạ
được thiên hạ một chút mà thôi.
Chiêu ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói
rằng:
- Nên kéo sụt xuống một bậc.
Thái nói:
- Tôi chỉ biết thế thôi, chớ
không biết bậc nào nữa.
Chiêu nói:
- Thành Tế đại nghịch vô đạo, nên
đem mổ bụng và giết cả ba họ nó đi.
Người sau có thơ than rằng:
Giết vua Nam Ải máu tuông hồng
Lại đem Thành Tế giết ba họ
Tiếng tăm đồn đại kẻ gian hùng
Chiêu lại sai bắt cả nhà Vương Kinh bỏ ngục. Vương Kinh đang ở trong tòa đình úy, nghe thấy mẹ bị trói điệu đến. Kinh đập đầu khóc vang lên nói rằng:
- Con bất hiếu này, làm lụy đến cả
mẹ đây!
Bà mẹ cười nói rằng:
- Người ta ai chẳng chết; chỉ sợ
chết vì chuyện không đáng chết mà thôi; nay chết vì việc này, thì còn giận gì nữa!
Hôm sau Chiêu sai giải cả nhà
Vương Kinh ra chợ cửa đông hành tội. Hai mẹ con Vương Kinh cười nụ chịu hình.
Nhân dân trong thành ai thấy cũng ứa nước mắt.
Người sau có thơ khen rằng:
Cuối Ngụy mẹ Vương kinh
Khảng khái bụng trung liệt
Gan góc chí kiên trinh
Trọng tiết cao vun vút
Coi mình nhẹ thênh thênh
Mẹ ấy có con ấy
Tiếng thơm ghi sử xanh
Thái phó Tư Mã Phu xin dùng vương
lễ táng cho Tào Mao. Chiêu nghe lời. Bọn Giả Sung khuyên Chiêu thay nhà Ngụy mà
lên ngôi Hoàng Đế.
Chiêu nói rằng:
- Ngày xưa vua Văn Vương thiên hạ
chia ba đã có hai phần rồi mà còn đem dân mình chịu việc nhà Ân, cho nên thánh
nhân khen là chí đức. Ngụy Võ Đế không chịu thay ngôi nhà Hán, nay ta không chịu
thay ngôi nhà Ngụy, cũng thế.
Bọn Giả Sung biết ý Tư Mã Chiêu để
dành lại cho Tư Mã Viêm, mới không khuyên nữa.
Tháng sáu năm ấy, Tư Mã Chiêu lập
Thường đạo hương công là Tào Hoàng lên làm vua, cải niên hiệu là Cảnh nguyên
năm thứ nhất. Tào Hoàng đổi tên là Tào Hoán, tự là Cảnh Danh, nguyên là con Yên
Vương Tào Vũ, tức là cháu Tào Tháo.
Hoán phong Tư Mã Chiêu làm thừa
tướng, tước Tấn công thưởng cho mười vạn quan tiền, một vạn tấm lụa. Văn võ các
quan đều được phong thưởng cả.
Có quân tế tác báo tin ấy về Thục.
Khương Duy nghe tin Tư Mã Chiêu
giết Tào Mao lập Tào Hoán mừng nói rằng:
- Ta phen này cất quân đi, lại có
cớ đây rồi!
Liền viết thư đưa sang Ngô, hẹn
nhau cùng cất quân hỏi tội Tư Mã Chiêu giết chúa. Một mặt tâu với Hậu chủ cất
mười lăm vạn quân, đem vài nghìn cỗ xe, trên xe đóng hòm ván; sai Liêu Hóa,
Trương Dực làm tiên phong, Hóa đi lối ra hang Tí Ngọ, Dực đi lối ra hang Lạc Cốc;
Duy ra hang Tà Cốc. Ba mặt cùng kéo đến Kỳ Sơn.
Đặng Ngải ở trong trại Kỳ Sơn,
rèn tập quân mã, nghe tin quân Thục ba mặt kéo đến, bèn hội các tướng lại bàn bạc.
Tham quân Vương Quán ghé tai Đặng
Ngải nói rằng:
- Cứ làm như thế...như thế...chắc
là bắt được Khương Duy.
Ngải nói:
- Mẹo này hay đây, chỉ ngại không
lừa nổi Khương Duy.
Quán nói:
- Tôi xin đi chuyến này.
Ngải nói:
- Nếu ngươi kiên gan được, thì tất
cũng thành công.
Bèn cấp cho Vương quán năm nghìn
quân cho đi. Quán liền đem đi thẳng hang Tà Cốc, vừa gặp quân tiễu mã tiền bộ của
Khương Duy kéo đến.
Quán kêu rằng:
- Ta là tướng Ngụy đến hàng đây,
nên báo với chủ tướng cho ta.
Quân tiễu mã về báo với Khương
Duy, Duy sai ngăn cả quân mã ở ngoài, chỉ cho một người tướng đầu đi vào.
Quán lạy phục xuống đất nói rằng:
- Tôi là cháu Vương Kinh tên là
Vương Quán. Tư Mã Chiêu giết vua, lại giết cả nhà chú tôi, đau đớn biết ngần
nào. Nay mai tướng quân cất binh đến hỏi tội, vậy tôi xin đem năm nghìn quân bản
bộ của tôi lại hàng, để báo thù cho chú tôi.
Duy mừng lắm bảo rằng:
- Ngươi đã có bụng thực lại hàng,
ta cũng lấy bụng thực xử với ngươi. Quân ta chỉ cốt lo về việc lương, nên có
vài nghìn xe lương, hiện ở cửa Xuyên, ngươi nên về đó vận tải đến Kỳ Sơn cho
ta. Còn ta thì đến lấy trại Kỳ Sơn đây.
Quán mừng rỡ, chắc là Khương Duy
mắc mẹo, vâng lời đi ngay.
Duy nói:
- Vận lương không phải dùng đến
năm nghìn người, chỉ dẫn ba nghìn quân đi cũng đủ, còn để hai nghìn quân đưa đường
cho ta đến đánh Kỳ Sơn.
Quán sợ Duy sinh nghi, vậy để hai
nghìn quân lại, dẫn ba nghìn quân đi.
Duy sai Phó Thiêm dẫn hai nghìn
quân hàng đợi khi dùng tới, chợt có Hạ Hầu Bá đến. Bá nói với Duy rằng:
- Đô đốc cớ sao lại nghe lời
Vương Quán thế? Tôi ở nước Ngụy, chưa thấy ai nói Vương Quán là cháu Vương Kinh
bao giờ. Đây tất là có mẹo lừa dối. Xin đô đốc xét cho.
Duy cười nói rằng:
- Ta đã biết Vương Quán trá rồi,
cho nên chia bớt binh thế, nhân kế nó mà dùng kế mình.
Bá hỏi:
- Đô đốc lấy cớ gì mà biết trá?
Duy nói:
- Tư Mã Chiêu gian hùng, chẳng
kém gì Tào Tháo. Nay đã giết ba họ Vương Kinh, có lẽ đâu còn để một người cháu
nối giữ binh quyền ngoài cửa ải? Bởi thế ta biết là dối. Kiến thức Trọng Quyền
chính hợp với ý ta lắm.
Bởi vậy Khương Duy không ra Tà Cốc
vội, sai người phục sẵn ở giữa đường, đề phòng quân gian tế của Vương Quán.
Chưa được mươi ngày, quả nhiên bắt được một tên mang thư của Vương Quán về báo
cho Đặng Ngải. Duy tra hỏi tình đầu, khám bắt được phong thư. Trong thư hẹn đến
ngày hai mươi tháng tám, thì vận lương từ con đường nhỏ đem về trại lớn, xin Đặng
Ngải dẫn binh đến hang Đàm Sơn tiếp ứng. Duy giết phắt người mang thư, rồi một
mặt đem thư đổi ngày hai mươi thành ngày rằm sai người ăn mặc giả làm quân Ngụy,
đem đến đưa cho Đặng Ngải. Một mặt sai người đem vài trăm xe lương, tháo bỏ
lương gạo ra, chứa củi khô cỏ ráo và đồ dẫn lửa vào trong, trùm kính vải xanh ở
ngoài; sai phó thêm dẫn hai nghìn quân hàng, cầm toàn cờ hiệu tải lương. Duy
cùng với Hạ Hầu Bá, mỗi người dẫn một toán quân phục sẵn trong hang núi. Lại
sai Tưởng thư ra hang Tà Cốc, Liêu Hóa, Trương Dực tiến quân đến lấy Kỳ Sơn.
Đặng Ngải bắt được thư của Vương
Quán, mừng lắm viết thư giao cho người ấy đem về trả lời. Đến ngày rằm tháng
tám, Ngải dẫn năm vạn tinh binh đến hang Đàm Sơn. Còn cách một quãng xa, Ngải
cho người trèo lên cao dòm xem làm sao, thì thấy xe lương liên tiếp nhau, không
biết bao nhiêu mà kể, đang đi khuất trong đường núi, Ngải kìm ngựa lại ngắm
nghía kỹ xem một hồi, quả nhiên toàn quân Ngụy.
Tả hữu bẩm rằng:
- Trời đã chiều tối, nên vào mau
mà tiếp ứng cho Vương Quán ra khỏi cửa hang.
Ngải nói:
- Mé trước núi non khuất khúc,
phòng có quân phục, thì lui làm sao cho kịp? Chỉ nên đứng đây mà đợi.
Đang nói chuyện, có hai tên kỵ mã
chạy đến, báo rằng:
- Vương tướng quân mang lương thảo
chạy về, có quân mã mặt sau đuổi theo, xin lại tiếp ứng ngay cho.
Ngải thất kinh, giục quân tiến đến.
Bấy giờ vào đầu canh, trăng sáng như ban ngày. Nghe ở mé sau núi có tiếng hò
reo, Ngải đồ là Vương Quán đánh nhau với quân Thục, thúc quân tiến thẳng đến. Bỗng
đâu một toán quân ở trong rừng rậm đổ ra. Tướng Thục là Phó Thiêm quất ngựa
quát to lên rằng:
- Đặng Ngải mày mắc phải mẹo của
chủ tướng tao rồi. Sao không xuống ngựa chịu chết đi cho mau.
Ngải giật mình kíp quay ngựa về.
Bấy giờ lửa trên xe cháy tung lên cả: Quân Thục trông thấy hiệu lửa, cùng đổ cả
ra, đánh giết quân Ngụy tan tành. Bốn phía núi reo ầm lên rằng:
- Hễ ai bắt được Đặng Ngải, thưởng
cho nghìn vàng, phong làm hầu vạn hộ.
Đặng Ngải hồn bay phách lạc, cởi
giáp quẳng chỏm mũ, nhảy xuống ngựa đi lẫn vào bọn quân bộ, trèo non vượt suối
trốn về. Khương Duy, Hạ Hầu Bá cứ trông người cưỡi ngựa đi đầu mà đuổi theo,
không ngờ Đặng Ngải đã chạy bộ trốn thoát, Duy bấy giờ mới đem quân thắng trận,
đến tiếp xe lương của Vương Quán.
Vương Quán vốn đã mật ước với Đặng
Ngải, nên đã chuẩn bị sẵn lương thực, xe trượng, chỉ đợi đến là khởi sự. Chợt
có người tâm phúc đến báo công việc đã bị tiết lộ, Đặng tướng quân chưa biết sống
chết ra sao. Quán giật mình, sai người đi thám xem sao thì người ấy báo về có
ba mặt quân sắp kéo đến. Sau lưng lại thấy bụi bay mù mịt, bốn phía lại không
biết đường nào chạy. Quán quát sai quân sĩ phóng hỏa đốt sạch lương thảo, xe
trượng. Một lát, lửa cháy đùng đùng, sáng rực đất trời.
Quán kêu to lên rằng:
- Việc kíp đến nơi rồi, chúng mày
cố chết mà đánh đi thôi!
Nói đoạn, Quán dẫn quân đánh ra
mé tây. Khương Duy thúc ba mặt quân đuổi rát, tưởng rằng Vương Quán thế nào cố
chết cũng phải chạy về Ngụy, không ngờ lại kéo vào Hán Trung. Quán quân ít, sợ
quân Thục đuổi kịp, mới sai người đốt phá các quan ải và đường sàn. Khương Duy
sợ Hán Trung sơ suất, bèn không đuổi Đặng Ngải nữa, vội vàng cất quân lẻn đi đường
tắt theo giết Vương Quán. Quán bị quân Thục vây đánh cả bốn mặt, không sao
thoát được, liền đâm đầu xuống sông Hắc Long tự tử. Còn quân sĩ Khương Duy bắt
được đem chôn sạch.
Duy tuy đánh được Đặng Ngải trận
này, nhưng bị thiệt rất nhiều lương thảo, và bị phá hủy mất đường sàn, bởi thế
cũng rút quân về Hán Trung.
Đặng Ngải dẫn bại binh về trại Kỳ
Sơn, dâng biểu xin chịu tội, tự giáng chức xuống. Tư Mã Chiêu thấy Ngải nhiều
khi lập được công to, không nỡ giáng chức, mà lại thưởng thêm cho tiền của rất
nhiều. Ngải đem tiền của ấy cấp cho các gia đình tướng sĩ bị hại.
Chiêu sợ quân Thục lại ra, cấp
thêm cho Đặng Ngải năm vạn quân để phòng giữ.
Khương Duy ngày đêm sửa san đường
sàn, lại bàn cất quân sang đánh Ngụy.
Ấy là:
Chưa được Trung Nguyên, chết chẳng thôi
Chưa biết được thua thế nào, xem
hồi sau sẽ hiểu.
Mượn nghề làm ruộng, Khương Duy lánh vạ
Cảnh Diệu thứ năm nhà Thục Hán,
tháng mười mùa đông, đại tướng quân Khương Duy sai người ngày đêm sửa soạn đường
sàn; dự bị lương thực, khí giới, sắp xếp thuyền bè ở đường thủy Hán Trung. Công
việc đâu đấy cả rồi, Khương Duy dâng biểu tâu với Hậu chủ rằng:
"Tôi mấy phen ra quân, tuy
chưa nên được công to, nhưng cũng khiến cho quân Ngụy mất vía. Nay nuôi binh đã
lâu, nếu không đánh giặc tất sinh lười nhác, mà lười nhác tất sinh bệnh tật. Vả
lại đang lúc này quân mong dùng sức, tướng biết hết lòng. Vậy xin cất quân ra
đánh, nếu không đánh thắng, xin chịu tội chết".
Hậu chủ xem biểu, có ý ngần ngại
chưa quyết.
Tiêu Chu tâu rằng:
- Tôi đêm coi thiên văn, thấy tướng
tinh ở địa phận Thục lờ mờ không được sáng. Đại tướng quân đi chuyến này, chắc
không được lợi, bệ hạ nên giáng chiếu ngăn lại.
Hậu chủ nói:
- Thôi, hãy để cho đi chuyến này
xem sao, nếu quả lại thua thì từ rày không cho đi nữa.
Tiêu Chu can ngăn hai ba lần, Hậu
chủ không nghe. Chu trở về than thở buồn rầu, rồi thác bệnh không ra đến ngoài.
Khương Duy sắp cất quân đi, hỏi
Liêu Hóa rằng:
- Ta nay cất quân, thề lấy lại được
Trung Nguyên mới nghe. Vậy nên ra lối nào trước?
Hóa nói:
- Ta cất quân luôn mấy năm nay,
quân dân không được yên. Vả lại, Ngụy có Đặng Ngải, nhiều mưu lắm trí, không phải
tay tầm thường. Tướng quân cứ muốn miễn cưỡng làm công việc ấy thì Hóa này chẳng
biết đâu mà dám nói.
Duy bừng bừng nổi giận, nói rằng:
- Ngày xưa, thừa tướng sáu lần ra
Kỳ Sơn, cũng là vì việc nước; ta nay tám lần sang đánh Ngụy, có phải vì riêng
mình ta đâu? Nay ta đến lấy Diêu Dương trước, nếu ai trái lệnh thì chém đầu!
Bèn để Liêu Hóa ở lại giữ Hán
Trung, Duy cùng với các tướng dẫn ba chục vạn quân kéo đến Diêu Dương.
Tư Mã Vọng nói:
- Khương Duy tai quái lắm, hoặc
là giả tiếng đến Diêu Dương, mà Kỳ thực ra Kỳ Sơn chăng?
Ngải nói:
- Khương Duy phen này ra Diêu
Dương thực đấy. Trước kia Khương Duy thường ra chỗ có lương. Nay Diêu Dương
không có lương, Khương Duy tất đồ rằng ta giữ Kỳ Sơn, cho nên đến lấy thành ấy,
định chứa lương thảo ở đó, rồi kết liên với người rợ Khương để đồ kế lâu dài đấy
thôi.
Vọng nói:
- Nếu thế thì ta làm thế nào?
Ngải nói:
- Nên rút hết quân ở đây, chia
làm hai đường, đến cứu Diệu Dương. Cách đó hai mươi nhăm dặm, có một thành nhỏ
Hầu Hà, là chỗ cổ họng xứ ấy. Ông nên dẫn quân phục trong thành Diêu Dương, ngả
cờ im trống, mở tung bốn cửa, y mẹo như thế... Mà làm, tôi dẫn quân phục sẵn
trong thành Hầu Hà, chắc là phá được quân Thục.
Tính toán đâu đấy, cùng y mẹo cất
quân đi, sai Sư Toản ở lại giữ trại Kỳ Sơn.
Khương Duy sai Hạ Hầu Bá làm tiền
bộ, dẫn binh đến Diêu Dương trước. Bá đến nơi, trông thấy trên mặt thành không
có một lá cờ nào, bốn cửa mở tung cả. Bá nghi hoặc, không dám vào, bảo với các
tướng rằng:
- Có mưu mô gì đây chăng?
Các tướng nói:
- Chúng tôi thấy quả thực là một
tòa thành không, chỉ có chút ít bách tính, nghe tin đại tướng quân dẫn binh đến
đây đã bỏ thành chạy trốn cả rồi.
Bá chưa tin, tế ngựa đến gần cửa
nam ngắm xem, thì thấy vô số già trẻ dắt díu nhau chạy dồn về mé tây bắc.
Bá mừng nói:
- Quả thật thành bỏ không rồi.
Lập tức đi trước, quân mã kéo
sau. Bá vừa đến kinh thành, bỗng nghe một tiếng pháo nổ, rồi trên mặt thành còi
trống vang động, tinh kỳ dựng lên tua tủa, cầu treo rút lên.
Bá giật mình, nói:
- Ta lỡ mắc mẹo mất rồi!
Bá vội vã rút lui thì tên đạn
trên thành bắn xuống như mưa. Thương hại thay cho Hạ Hầu Bá và năm trăm quân
cùng bị bắn chết hết.
Người sau có thơ than rằng:
Biết đâu Đặng Ngải kế chông gai
Thương thay Hầu Bá cùng trăm tốt
Lũ lượt phơi thây dưới tên bay
Tư Mã Vọng ở trong thành kéo ra,
quân Thục xô nhau chạy trốn. May có Khương Duy dẫn quân tiếp ứng, đánh rát một
trận, Tư Mã Vọng phải lui vào thành. Duy đến dưới thành hạ trại, nghe tin Hạ Hầu
Bá bị bắn chết, thương cảm không biết ngần nào.
Canh hai đêm hôm ấy, Đặng Ngải ở
trong thành Hầu Hà dẫn một toán quân đi ngầm đến cướp trại Thục. Quân Thục bối
rối, Duy ngăn giữ lại cũng không được. Bỗng lại thấy còi trống trên thành vang
động, té ra Tư Mã Vọng trên thành dẫn quân kéo đến. Đôi mặt giáp lại đánh, quân
Thục thua to. Duy hết sức xông pha mới thoát được ra ngoài, lui về hai chục dặm
hạ trại. Quân Thục thua luôn hai trận, bụng quân xôn xao. Duy bảo với các tướng
rằng:
- Được thua là việc thường, ta
tuy hao binh tổn tướng, cũng chưa đáng lo. Việc thành hay bại, chỉ cốt ở chuyến
này. Các ngươi cứ thủy chung một niềm mới được, nếu ai nói đến rút về thì ta
chém!
Trương Dực nói:
- Quân Ngụy ở hết cả đây. Kỳ Sơn
tất nhiên bỏ trống, tướng quân nên chỉnh đốn quân mã chống nhau với Đặng Ngải,
đánh mặt Diêu Dương, Hầu Hà, tôi xin dẫn quân đến lấy Kỳ Sơn. Nếu lấy xong chín
trại Kỳ Sơn, thì kéo tràn vào lấy Trường An, đó là kế hay hơn cả.
Duy nghe theo, lập tức sai Trương
Dực dẫn hậu quân đến lấy trại Kỳ Sơn. Duy tự dẫn quân đến Hầu Hà, thách Đặng Ngải
giao chiến. Ngải đem quân ra đánh hai tướng giao phong, hơn vài mươi hiệp không
phân thắng bại, cùng thu quân về trại.
Hôm sau, Khương Duy lại dẫn quân
ra khiêu chiến, Ngải đóng quân không ra, Duy sai quân sĩ chửi mắng, sỉ nhục. Ngải
nghĩ rằng:
- Quân Thục bị ta đánh một trận đại
bại là thế, mà vẫn không rút về, lại còn đến khiêu chiến với ta, tất là chia
quân đến cướp trại Kỳ Sơn của ta rồi. Tướng giữ trại ấy là Sư Toản, quân đơn tướng
ít, tất nhiên phải thua, ta phải thân đến cứu mới xong.
Ngải nghĩ thế rồi gọi con là Đặng
Trung vào dặn rằng:
- Con phải hết lòng coi giữ xứ
này, mặc sức cho quân kia khiêu chiến, chớ được coi thường ra địch; đêm nay ta
dẫn quân ra cứu Kỳ Sơn đây.
Canh hai đêm hôm ấy, Khương Duy
đang ở trong trại nghĩ mẹo, chợt nghe ngoài trại có tiếng hò reo, còi trống
vang động, Quân vào báo Đặng Ngải dẫn ba nghìn tinh binh đến thách đánh nhau
đêm. Các tướng muốn ra đánh, Duy ngăn lại không cho. Nguyên là Đặng Ngải dẫn
quân đi qua trại Thục, diễu quanh một được, rồi thừa thế đến cứu Kỳ Sơn. Đặng
Trung đưa cha đi khỏi, dẫn quân trở vào thành.
Khương Duy bảo với các tướng rằng:
- Đặng Ngải giả tiếng đánh đêm, tất
là đi cứu Kỳ Sơn.
Liền gọi Phó Thiêm dặn ở nhà giữ
trại, còn Duy thì dẫn ba nghìn quân lại giúp Trương Dực.
Khi ấy Trương Dực đang đánh trại
Kỳ Sơn, Sư Toản ít quân, chống không nổi, dần dần núng thế sắp vở. Chợt có Đặng
Ngải dẫn quân đến, đánh bừa vào một trận, quân Thục lại hóa thua to. Ngải vây
Trương Dực ở mé sau núi, chợt nghe có tiếng reo nổi lên dậy đất, còi trống vang
trời, rồi thấy quân Ngụy chạy nhớn nhác, té ra Khương Duy kéo quân đến. Dực thừa
thế đánh ùa ra. Đặng Ngải bị thua, rút quân vào trại Kỳ Sơn không ra nữa.
Khương Duy sai quân vây đánh bốn mặt.
Nói về Hậu chủ ở Thành Đô, tin
nghe lời hoạn quan là Hoàng Hạo, say mê tửu sắc, không coi gì đến sự triều
đình. Bấy giờ, đại thần Lưu Diệm, có người vợ là Hồ thị, nhan sắc rất đẹp, nhân
vào cung chầu bà Hoàng hậu, ở lại một tháng mới ra. Diệm nghi vợ tư thông với Hậu
chủ, sai năm trăm quân sĩ dàn ra trước mặt, bắt vợ trói vào cột, cho quân mỗi
người cầm giầy đập vào mặt vợ vài cái. Người vợ ngất đi tỉnh lại không biết bao
nhiêu lần.
Hậu chủ nghe chuyện nổi giận, đưa
Diệm xuống hữu tư định tội, Hữu tư luận rằng: Vợ con không nên sai lính đánh, mặt
mũi không phải chỗ chịu đòn. Từ đó cấm các mệnh phụ không được vào chầu. Tuy vậy,
các quan thấy Hậu chủ hoang dâm, nhiều người có bụng nghi oán. Bởi thế người hiền
ngày càng lui dần, mà tiểu nhân ngày càng nhiều lên.
Bấy giờ có hữu tướng quân là Diêm
Vũ, không có một chút công nào, chỉ vì a dua với Hoàng Hạo, làm nên chức to. Vũ
nghe Khương Duy thống quân ở Kỳ Sơn, bèn bảo Hoàng Hạo tâu với Hậu chủ rằng:
- Khương Duy đánh mãi không nên
công việc gì, nên cho Diêm Vũ thay chân.
Hậu chủ nghe lời, sai sứ mang chiếu
ra đòi Khương Duy về. Duy đang đánh trại Kỳ Sơn, một ngày tiếp ba đạo chiếu đến
đòi về. Duy phải tuân mệnh, cho quân ở Diêu Dương lui về trước, rồi cùng với
Trương Dực từ từ về kéo về sau.
Đặng Ngải ở trong trại, cả đêm thấy
còi trống vang tai, không biết ý tứ làm sao. Đến sáng, có người báo quân Thục
rút cả rồi, chỉ còn cái xác trại bỏ lại. Ngải nghi có mưu mẹo gì, không dám đuổi
theo.
Khương Duy về đến Hán Trung, cho
quân sĩ đóng lại nghỉ ngơi, còn mình đi với sứ giả vào Thành Đô ra mắt với Hậu
chủ.
Hậu chủ luôn một chặp mười ngày
không ra chầu. Duy trong lòng nghi hoặc, chưa biết vì cớ gì. Hôm ấy, Duy tự
trong triều ra đến cửa Đông Hoa, gặp quan bí thư lang là Khước Chính, Duy hỏi:
- Thiên tử đòi tôi đem quân về,
ông có biết vì cớ làm sao không.
Chính cười nói:
- Việc ấy, đại tướng vẫn chưa biết
à? Hoàng Hạo muốn cho Diêm Vũ lập công, tâu với triều đình, đòi tướng quân về,
định cử Diêm Vũ ra thay chân. Nhân nghe tiếng Đặng Ngải giỏi việc dùng binh,
cho nên lại dìm việc ấy đi, không nói đến nữa.
Duy nổi giận, nói:
- Ta phải giết chết đứa hoạn thụ
này mới nghe!
Khước Chính can rằng:
- Đại tướng quân kế việc của Võ hầu,
trách nhiệm to lớn, chớ nên vội vàng. Ví dù thiên tử không nghe, lại hóa ra lở
việc.
Duy tạ ơn nói:
- Lời của tiên sinh rất phải.
Hôm sau, Hậu chủ cùng với Hoàng Hạo
ăn yến ở hậu viên. Duy dẫn vài người đến thẳng ngay ở đấy. Có người nói với
Hoàng Hạo, Hạo vội vàng tránh ra ngoài cạnh núi giả trong hồ. Duy đến dưới
dinh, lạy Hậu chủ, khóc tâu rằng:
- Tôi vây Đặng Ngải ở trại Kỳ
Sơn, bệ hạ giáng ba đạo chiếu đòi tôi về, không biết bệ hạ dạy việc gì thế?
Hậu chủ ngồi im.
Duy lại tâu rằng:
- Hoàng Hạo gian giảo chuyên quyền;
chẳng khác gì lũ mười quan thường thị đời vua Linh Đế. Xin bệ hạ gần thì soi đến
việc Trương Nhượng, xa thì soi đến việc Triệu Cao, sớm giết tên ấy đi, thì triều
đình tự nhiên thanh bình, mà Trung Nguyên mới có thể khôi phục được.
Hậu chủ cười rằng:
- Hoàng Hạo chẳng qua là một đứa
tiểu thần sai khiến, dù có chuyên quyền, cũng không làm gì. Trước kia Đổng Doãn
cứ nghiến răng căm tức với Hoàng Hạo, trẫm lấy làm lạ lắm. Ngươi can chi phải bận
lòng?
Duy cúi đầu tâu rằng:
- Bệ hạ không giết Hoàng Hạo ngay
đi, thì vạ đến nơi đấy.
Hậu chủ nói:
- Yêu thì muốn cho sống, ghét thì
muốn cho chết, ngươi sao lại không dung một đứa hoạn quan thế?
Liền sai tên cận thị ra cạnh núi
gọi Hoàng Hạo vào trong dinh, bắt phải lạy Khương Duy mà chịu lỗi.
Hạo vừa lạy vừa khóc rằng:
- Chúng tôi sớm tối hậu hạ thánh
thượng mà thôi, tịnh không dám can dự gì đến chính sự, tướng quân không nên
nghe người ta nói xằng, mà giết oan tôi.
Nói xong, rập mãi đầu xuống đất,
sụt sùi khóc lóc.
Duy căm tức trở ra, đến chơi Khước
Chính, thuật lại chuyện ấy.
Chính nói:
- Vạ tướng quân gần về đến nơi rồi!
Tướng quân mà nguy, thì nhà nước cũng đổ.
Duy nói:
- Xin tiên sinh dạy cho tôi mẹo
nào vừa giữ vững được nước lại vừa yên được thân.
Chính nói:
- Ở xứ Lũng Tây có một khu đất gọi
là xứ Đạp Trung, đất cát màu mỡ lắm. Tướng quân nên bắt chước việc đồn điền của
Võ Hầu, tâu với thiên tử, ra đấy mà đóng đồn làm ruộng. Một là được lúa để cấp
cho quân ăn, hai là mon men lấn được các quận ở Lũng Hữu, ba là người Ngụy thấy
tướng quân ở đấy, không dám nhìn đến Hán Trung, bốn là tướng quân cầm binh quyền
ở ngoài, không ai mưu hại, có thể lánh được vạ. Đó là mẹo giữ nước yên thân đấy,
tướng quân nên sớm liệu đi.
Duy mừng rỡ, tạ rằng:
- Lời tiên sinh thật là vàng ngọc!
Hôm sau, Khương Duy dâng biểu tâu
với Hậu chủ, xin ra làm đồn điền ở Đạp Trung bắt chước Võ Hầu khi xưa. Hậu chủ
nghe lời cho đi.
Duy về Hán Trung, hội các tướng lại
bảo rằng:
- Ta luôn mấy năm ra quân, vì
không đủ lương cho nên chưa thành công. Nay ta đem tám vạn quân ra Đạp Trung
đóng đồn làm ruộng, thong thả sẽ tiến binh. Các tướng binh mãi mỏi mệt, nay hãy
thu quân chứa thóc, lui giữ Hán Trung. Nếu có quân Ngụy vào cướp, họ vận lương
từ nghìn dặm đến đây, trèo non vượt núi, tất phải mệt nhọc. Mệt nhọc tất phải
rút về, bấy giờ ta sẽ thừa cơ mà đánh thì chắc phá được.
Bèn sai Hồ Tế đóng ở thành Hán Thọ;
Vương Hàm giữ Lạc Thành; Tưởng Mân giữ Hán Thành, Tưởng Thư, Phó Thiêm giữ cửa ải.
Phân phát đâu đấy, duy dẫn tám vạn quân đến Đạp Trung cấy lúa, để nghĩ kế lâu
dài về sau.
Đây nói Đặng Ngải nghe Khương Duy
đóng đồn làm ruộng ở Đạp Trung, lập hơn bốn chục đồn, liên tiếp với nhau, như
hình con rắn dài. Ngải cho mật thám vào tận nơi xem xét địa thế, vẽ ra một bức
địa đồ, rồi dâng biểu tâu về.
Tấn công là Tư Mã Chiêu xem biểu,
nổi giận mà rằng:
- Khương Duy năng đến xâm phạm
Trung Nguyên, nếu không trừ xong, đó là một sự lo trong ruột gan đấy!
Giả Sung nói:
- Khương Duy học được phép của Võ
Hầu, khó lòng đánh được. Nên tìm một người trí dũng, cho sang tận đó mà đâm chết
đi, thì mới khỏi được việc binh đao khó nhọc.
Tòng sự trung lang là Tuân Húc
thưa rằng:
- Kế ấy không ra gì! Hiện nay Thục
chủ ham mê tửu sắc, tin dùng Hoàng Hạo, đại thần đều mang lòng trốn tránh,
chính là mẹo để lánh vạ đấy. Nếu sai đại tướng sang đánh thì chắc là được, can
gì phải dùng đến thích khách làm chi?
Chiêu cười nói:
- Ngươi nói phải lắm, nhưng ta muốn
đánh Thục, nên dùng ai làm tướng cho được?
Tuân Húc thưa:
- Đặng Ngải là người tài giỏi
trong đời, nên sai hắn làm đại tướng, Chung Hội làm phó tướng, thì việc lớn chắc
xong.
Chiêu mừng, nói:
- Ngươi nói hợp ý ta lắm!
Liền gọi Chung Hội vào hỏi rằng:
- Ta muốn sai người làm đại tướng,
sang đánh Đông Ngô, có đi được không?
Hội thưa:
- Chúa công chắc không phải muốn
đánh Ngô, tất là muốn đánh Thục.
Chiêu cười ầm lên rằng:
- Ngươi thật là biết đến ruột ta.
Nhưng muốn đánh Thục, nên dùng chước gì?
Hội thưa:
- Tôi đồ rằng chúa công muốn đánh
Thục nên đã vẽ sẵn địa đồ nước Thục đem đến đây.
Chiêu mở ra xem, nội bao nhiêu chỗ
lập đồn cắm trại chứa lương thảo, đường nào nên tiến, đường nào nên lui, vẽ
rành rọt từng tí.
Chiêu mừng nói:
- Ngươi thế mới thực sự là tướng
giỏi! Ngươi nên hợp binh với Đặng Ngải sang đánh Thục thế nào?
Hội thưa:
- Đường vào Thục Xuyên lắm lối,
không chỉ có một đường, nên cho tôi cùng Đặng Ngải chia binh, mỗi người tiến
quân một mặt trận thì hơn.
Chiêu liền phong Chung Hội làm trấn
tây tướng quân, ban cho tiết việt, đôn đốc hết quân mã Quan Trung, có quyền sai
khiến được các xứ Thanh, Từ, Duyên, Dự, Kinh, Dương mặt sai người cầm cờ tiết
ra phong Đặng Ngải làm chinh tây tướng quân, đô đốc quân mã Lũng Thượng ở quan
ngoại hẹn ngày cất quân sang đánh Thục. Hôm sau Tư Mã Chiêu bàn việc ấy trong
triều, Tiền tướng quân là Đặng Đôn thưa rằng:
- Khương Duy hay phạm vào Trung
Nguyên, quân ta tổn thiệt rất nhiều. Nay giữ mình còn chưa xong, sao lại sa vào
nơi núi non hiểm trở, để rước lấy vạ ư?
Chiêu giận nói:
- Ta muốn cất quân nhân nghĩa,
đánh chủ vô đạo, sao ngươi dám trái ý ta?
Liền quát võ sĩ lôi Đặng Đôn ra
chém, một lát nộp đầu dưới thềm, ai nấy đều sợ mất vía.
Chiêu nói:
- Ta từ khi đánh phương đông trở
về, nghỉ ngơi sáu năm, luyện binh sửa giáp, đâu đấy đủ cả. Ta muốn đánh Ngô, Thục
đã lâu, nay nên trước đánh tây Thục, rồi thừa thế thuận dòng hai mặt thủy lục
cùng tiến sang đánh đông Ngô, đó là lối diệt Quắc lấy Ngu đấy. Ta đồ rằng tướng
sĩ tây Thục, giữ ở Thành Đô độ tám chín vạn, giữ ngoài biên cảnh độ bốn năm vạn.
Nay ta đã sai Đặng Ngải dẫn hơn bốn mươi vạn quân ở Quan Ngoại, Lũng Thượng chặn
Khương Duy ở Đạp Trung, khiến hắn không về được mặt đông. Ta lại sai Chung Hội
dẫn hai ba vạn tinh binh ở Quan Trung, đến thẳng ba con đường Lạc Cốc, để giúp
Hán Trung. Thục chủ là Lưu Thiện ngu tối, biên thành vỡ mé ngoài, nhân dân nhộn
mặt trong, nước chắc mất chứ còn gì?
Chúng đều chịu là cao kiến.
Lại nói Chung Hội lĩnh ấn chinh
tây tướng quân, cất quân sang đánh Thục. Hội sợ mưu cơ của mình lộ ra ngoài, mới
giả tiếng đánh Ngô, sai các sứ Thanh, Duyên, Dự, Kinh, Dương thu nhặt thuyền bè
ở ven biển các châu Văn, Lai.
Tư Mã Chiêu không hiểu ý làm sao,
đòi Chung Hội vào hỏi rằng:
- Ngươi đi đường bộ vào lấy
Xuyên, can chi phải đóng thuyền?
Hội thưa:
- Nếu Thục nghe ta đến đánh, tất
tất phải cầu cứu Ngô, cho nên tôi làm ra như thế đánh Ngô, để cho Ngô không dám
động đậy. Trong một năm Thục đã phá xong, mà thuyền cũng đóng đủ, nhân thể sang
đánh Ngô, chẳng tiện lắm ư?
Chiêu mừng lắm, kén ngày cất
quân. Năm Cảnh Nguyên thứ tư nhà Ngụy, ngày ba tháng bảy, mùa thu, Chung Hội cất
quân lên đường. Tư Mã Chiêu đưa ra khỏi thành mười dặm mới trở về.
Tây tào duyện là Thiệu Đễ nói nhỏ
với Tư Mã Chiêu rằng:
- Chúa công sai Chung Hội lĩnh mười
vạn quân sang đánh Thục. Tôi thiết tưởng Hội chí lớn, bụng cao, không nên cho cầm
quyền to một mình.
Chiêu cười, nói:
- Ta há chẳng biết hay sao?
Đễ nói:
- Chúa công đã biết như thế, sao
không sai người nữa cùng lĩnh chức ấy?
Lúc đó Chiêu mới nói rõ mọi lẽ để
cho Thiệu Đễ khỏi nghi ngại.
Ấy là:
Hay dở đà soi ruột tướng quan
Chưa biết nói năng ra sao, xem hồi
sau phân giải.
--------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét