🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Lưu Hoàng thúc cứu Khổng Dung ở Bắc Hải
Lã Ôn hầu phá Tào Tháo thành Bộc Dương
Người hiến kế cho Ðào Khiêm vốn
là người ở Ðông Hải, tên là My Chúc, tự là Tử Trọng. Chúc nguyên là con nhà hào
phú, một bữa ra thành Lạc Dương mua bán, đi xe về đến nửa đường gặp một người
con gái xinh đẹp xin cho đi xe nhờ. Chúc xuống đi bộ, nhường xe cho người con
gái ấy ngồi. Người ấy cứ nhất định mời My Chúc lên ngồi. Chúc lên xe, ngồi thực
nghiêm trang, mắt không trông ngang. Ði được vài dặm, người con gái xin xuống
xe, từ giã My Chúc nói rằng:
– Ta là Hỏa Ðức tính quân ở
phương Nam, phụng mệnh Thượng Ðế xuống để đốt cháy nhà ngươi. Nay thấy ngươi
đãi ta có lễ phép, nên ta bảo cho ngươi biết trước. Ngươi nên về nhà mau, dọn dẹp
hết đồ đạc đi. Ðêm nay ta sẽ đến.
Nói rồi biến mất. Chúc thất kinh,
vội vàng chạy về, trong nhà có gì dọn đi hết. Tối hôm ấy quả nhiên trong bếp
phát hỏa, nhà cửa cháy hết. Chúc cũng vì thế mà đem gia tài phân tán, cứu giúp
người nghèo khó. Về sau Ðào Khiêm đón về cử làm biệt giá tùng sự. Bấy giờ My
Chúc hiến kế rằng:
– Tôi xin sang quận Bắc Hải cầu
Khổng Dung đến cứu. Lại xin sai một người nữa sang Thanh Châu cầu cứu Ðiền Khải.
Hai nơi ấy cho quân mã đến thì Tào Tháo tất phải lui. Khiêm nghe lời, viết hai
bức thư, rồi hỏi:
– Dưới trướng có ai dám sang
Thanh Châu không?
Một người xin đi, là Trần Ðằng, tự
là Nguyên Long, người Quảng Lăng. Nguyên Long đi rồi, My Chúc cũng đi sang Bắc
Hải, Ðào Khiêm tự mang quân giữ thành.
Khổng Dung, tự là Văn Cử, người
làng Khúc Phụ, nước Lỗ, là cháu đời thứ 20 Đức Khổng Tử; con quan đỗ úy thái
sơn là Khổng Trụ. Dung vốn thông minh từ thuở nhỏ. Năm lên mười tuổi, Dung có
vào yết kiến quan doãn ở Hà Nam tên là Lý Ung. Lúc đến cửa, quan canh hỏi đi
đâu, Dung nói:
– Ta là thông gia với Lý tướng.
Khi vào đến nơi, Lý Ung mới hỏi:
– Tổ ngươi có họ hàng gì với tổ nhà ta? Dung nói:
– Ngày xưa Khổng Tử từng hỏi Lão
Tử về việc lễ, nhà Dung với nhà ông chẳng phải đời đời thông gia với nhau là gì.
Ung lấy làm kỳ. Ðược một hồi, có Thái Trung Đại phu là Trần Vĩ đến chơi. Ung trỏ
vào Khổng Dung mà nói rằng:
– Ðứa bé này là kỳ đồng. Trần Vĩ bĩu môi nói rằng:
– Những đứa thuở nhỏ thông minh
như thế, ngày sau lớn vị tất đã ra gì.
Dung liền ứng đối ngay rằng:
– Thưa ông, hẳn thuở nhỏ ông
thông minh lắm. Cả bọn đi với Trần Vĩ cùng cười ồ lên, mà nói rằng:
– Người này lớn lên tất là người
giỏi trong đời.
Từ đấy Dung nổi tiếng, sau làm
Trung Lang tướng, dần dần được làm Thái Thú Bắc Hải. Khổng Dung tính ưa thết
khách, thường nói rằng:
– Trên chỗ ngồi lúc nào cũng đông
khách, trong hồ lúc nào cũng có rượu, thế là sướng nhất trần gian.
Dung ở Bắc Hải được sáu năm, dân
chúng rất là yêu mến. Hôm ấy Dung ngồi chơi với khách, có người vào báo rằng có
My Chúc ở Từ Châu muốn vào hầu. Dung cho mời vào, hỏi có việc gì, Chúc đưa thư
của Ðào Khiêm ra, rồi nói rằng:
– Tào Tháo vây gấp lắm, xin minh công sang cứu cho. Dung nói:
– Ta với Ðào Cung Tổ là chỗ chí thân, vả Tử Trọng lại thân hành đến tận đây, lẽ đâu ta lại không cứu; nhưng ta với Tào Mạnh Ðức không có thù oán gì. Vậy trước hết ta tưởng hãy nên sai người đưa thư giải hòa đã, nếu Tháo không nghe, bấy giờ ta sẽ khởi binh. Chúc nói:
– Tào Tháo cậy có nhiều quân, quyết
không chịu hòa.
Dung liền sai một mặt thì điểm
binh sẵn, một mặt cho người đưa thư cho Tào Tháo. Lúc đang bàn bạc, chợt có người
vào báo rằng:
– Có dư đảng của đám Khăn Vàng
ngày xưa, tên là Quản Hợi, đem mấy vạn quân đến định phá thành. Dung thất kinh,
vội vàng điểm quân ra thành để nghênh chiến. Quản Hợi tế ngựa ra nói rằng:
– Bắc Hải nhiều lương, cho ta vay
một vạn hộc, ta sẽ lui quân ngay. Hễ không ta đánh phá thành trì, già trẻ sẽ
không một người nào sống sót.
Dung mắng mà nói rằng:
– Ta là bầy tôi nhà đại Hán, giữ
đất của nhà đại Hán, có đâu lại đem lương cho giặc.
Quản Hợi giận lắm, múa đao tế ngựa
chạy thẳng vào đánh Khổng Dung. Tướng Dung là Tôn Bảo, vác giáo nhảy ra địch,
được vài hiệp bị Hợi chém chết, quân Dung rối loạn, chạy cả vào thành, Hợi chia
quân ra bốn mặt vây thành. Dung trong lòng bực tức, My Chúc cũng buồn chán lắm.
Hôm sau, Khổng Dung lên thành trông thấy thế giặc lạn mạnh, càng thêm lo phiền.
Chợt thấy một người cưỡi ngựa vác
giáo xông vào đám giặc, tả xung, hữu đột như vào chỗ không người, rồi chạy thẳng
đến dưới thành, gọi to mở cửa. Dung không biết là ai, chưa dám mở cửa. Quân giặc
xấn đế bờ hào, định vào giết người ấy, nhưng người ấy quay mình lại đâm một lúc
chết luôn vài chục đứa ngã ngựa. Chúng phải lui chạy cả, Dung bấy giờ mới sai mở
cửa mời vào. Người ấy xuống ngựa, bỏ giáo, lên thẳng trên mặt thành, chào Khổng
Dung, Dung hỏi tên họ, người ấy thưa rằng:
– Tôi là người ở Hoàng Huyện, đất
Ðông Lai, họ là Thái Sử tên là Từ, tự là Tử Nghĩa. Mẹ tôi được đội ơn ngài nhiều
lắm. Hôm nọ tôi ở Liêu Ðông về nhà thăm mẹ. Nghe tin giặc vây thành, mẹ tôi mới
bảo rằng: Ta đã nhiều lần đội ơn ngài, nay con phải đi cứu. Bởi vậy một mình
tôi cưỡi ngựa đến đây.
Khổng Dung mừng lắm. Nguyên khi
trước, Dung tuy không biết mặt Thái Sử Từ, nhưng vẫn biết tiếng là anh hùng.
Nhân thấy Từ đi vắng xa, có mẹ già ở nhà, nhà cách thành hai mươi dặm, Dung thường
sai người đem biếu gấm lụa. Bà mẹ cảm cái đức ấy nên sai con lại cứu. Dung kính
trọng Thái Sử Từ hết lòng, tặng một bộ áo giáp, ngựa và yên. Từ nói:
– Tôi xin mượn ngài một ngàn tinh binh nữa để ra ngoài thành phá giặc. Dung nói rằng:
– Ông tuy khỏe thực, nhưng thế giặc to lắm, không nên coi thường. Từ nói:
– Mẹ tôi cảm hậu đức của ngài, nên sai tôi đến, nếu không phá được giặc, tôi cũng không còn mặt nào dám về trông thấy mẹ. Vậy xin cứ để tôi ra, quyết một trận tử chiến. Dung nói:
– Ta nghe có Lưu Huyền Ðức là anh hùng đời bấy giờ. Giá mời được Huyền Ðức lại cứu, thì mới giải được vây. Chỉ hiềm chưa biết nhờ ai đi cho được. Từ nói:
– Xin ngài viết thư, tôi xin mang
đi.
Dung mừng, viết thư giao cho Từ.
Từ mặc áo giáp lên ngựa, lưng đeo cung tên, tay cầm giáo, ăn no, sắm sửa đủ, mở
cửa thành, phi ngựa ra đi Lúc gần đến bờ hào, quân giặc xúm vào đánh. Từ đâm
luôn chết mấy đứa, vượt qua vòng vây chạy ra. Quản Hợi thấy có người ở trong
thành ra, tất là đi cầu cứu, liền đem vài trăm quân kỵ đuổi theo, tam mặt vây lại.
Từ dừng ngọn giáo, giương cung đặt tên, bắn cả tám mặt, không phát nào là không
có người ngã ngựa, giặc sợ không dám đuổi nữa. Từ thoát được, ngay suốt ngày
đêm đến Bình Nguyên, vào ra mắt Lưu Bị. Thư lễ xong, Từ nói hết sự tình Khổng
Dung bị vây, rồi đưa thư ra. Lưu Bị xem thư xong, hỏi:
– Ông là ai? Từ nói:
– Tôi là Thái Sử Từ, người nhà
quê ở Ðông Hải. Tôi với Khổng Dung không phải anh em họ hàng, cũng không phải
láng giềng làng mạc; chỉ vì nghĩa khí đối với nhau nên có ý chia xẻ ưu hoạn với
nhau. Nay Quản Hợi bạo loạn, Bắc Hải bị vây, không biết cậy vào đâu, nguy ở sớm
tối. Khổng Dung nghe ngài là người nhân nghĩa, hay cứu người khốn, giúp kẻ
nguy, nên sai tôi xông pha giữa vòng giáo mác, phá vòng vây đến đây cầu cứu
ngài.
Lưu Bị tỏ vẻ tôn kính nói rằng:
– Khổng Bắc Hải cũng biết rằng
trong đời có Lưu Bị à?
Lập tức cùng Quan Vũ, Trương Phi
điểm ba ngàn tinh binh kéo sang Bắc Hải. Quản Hợi thấy quân đến cứu, dẫn quân
ra đối địch. Lại thấy quân Lưu Bị ít nên khinh thường không sợ. Lưu Bị cùng với
Quan, Trương và Thái Sử Từ cưỡi ngựa đứng ra trước trận. Quân Hợi hăm hở ra
đánh. Từ đang định xông ra. Quan Vũ đã nhảy ra trước. Hợi địch nổi sao được
Quan Vũ; mới được vài mươi hiệp, một nhát thanh long đao đã chém chết ngay Quản
Hợi ở dưới chân ngựa. Từ, Trương hai ngựa cùng ra, hai giáo đều múa, xông vào
đám quân giặc, Lưu Bị thúc quân đánh riết.
Khổng Dung ở trên thành trông thấy
Từ, Quan, Trương ba người vào trong đám giặc, không ai đương nổi, xông xáo tựa
hồ như hổ giữa đàn dê, liền kéo binh ra thành, hai đầu đánh dồn lại, quân giặc
thua chạy, đầu hàng vô số, còn bao nhiêu tan vỡ cả. Khổng Dung đón Lưu Bị vào
thành, chào lễ xong rồi, mở một tiệc yến thực to ăn mừng, lại dẫn My Chúc ra
chào Huyền Ðức. My Chúc nhân thể nói việc Trương Khải giết Tào Tung, nay Tào
Tháo thả binh đến cướp phá Từ Châu, bởi vậy Ðào Khiêm sai y đến cầu cứu Khổng
Dung. Lưu Bị nói:
– Ðào Cung Tổ là người quân tử, không ngờ mắc phải oan này. Dung nói:
– Ông là tôn thân nhà Hán, nay Tào Tháo tàn hại trăm họ, cậy khỏe, khinh yếu. Sao ông không cùng với tôi đi cứu Ðào Cung Tổ một thể? Lưu Bị nói:
– Tôi đâu dám từ việc ấy, nhưng tướng ít, binh yếu, lo rằng không làm nổi việc. Dung lại nói:
– Tôi nay đi cứu Cung Tổ tuy là tình bạn, nhưng cũng vì nghĩa lớn, ông há không có bụng trượng nghĩa hay sao? Lưu Bị đáp:
– Có phải thế xin Văn Cử hãy đi trước, khoan cho tôi còn sang Công Tôn Toản mượn thêm năm ba ngàn quân mã, rồi sẽ đến sau. Dung lại dặn:
– Xin ông chớ sai hẹn! Huyền Ðức nói:
– Ông cho tôi là người thế nào!
Thánh nhân đã dạy rằng: Xưa nay ai cũng chết, nhưng không có tín thì không ra
người. Nay dù mượn được quân hay không, thế nào tôi cũng phải đến cứu Từ Châu.
Dung bằng lòng, sai My Chúc về
báo trước cho Ðào Khiêm, rồi thu xếp khởi hành. Thái Sử Từ lạy tạ Khổng Dung,
nói rằng:
– Tôi vâng lời mẹ, sang đây giúp
ngài. Nay công việc xong xuôi cả rồi, thứ sử Dương Châu là Lưu Do, là người
cùng quận với tôi, có thư lại gọi, không đi không được. Xin để khi khác lại có
dịp gặp nhau.
Dung đem vàng lụa tạ ơn. Từ không
chịu lấy gì cả, ra về. Mẹ Từ thấy Từ về, mừng nói rằng:
– Mẹ mừng cho con báo được ơn Bắc
Hải.
Nói xong lại sai Từ sang Dương
Châu.
Nay không nói chuyện Khổng Dung
khởi binh sang cứu Từ Châu vội. Hãy nói chuyện Lưu Bị đến gặp Công Tôn Toản và
nói chuyện cả sự tình mình muốn sang cứu Từ Châu. Toản hỏi rằng:
– Tào Tháo không có thù gì với ông, tội gì ông lại đi giúp bên nọ đánh bên kia? Lưu Bị nói:
– Tôi đã hứa với người ta rồi, thế
nào cũng phải đi.
Toản cho mượn hai ngàn quân mã.
Lưu Bị xin cho Triệu Tử Long đi theo. Toản bằng lòng. Lưu, Quan, Trương dẫn ba
ngàn quân bản bộ của mình đi trước, Triệu Vân dẫn hai ngàn quân kéo đi sau,
cùng đến Từ Châu. Trong khi ấy thì My Chúc về báo với Ðào Khiêm rằng:
– Khổng Dung đến giúp, lại mời
thêm được cả Lưu Bị. Trần Nguyên Long cũng về báo rằng:
– Ðiền Khải vui lòng đem quân
sang cứu.
Bấy giờ Ðào Khiêm mới hơi vững dạ.
Hai cánh quân Khổng Dung, Ðiền Khải mới đến, sợ quân Tào mạnh thế nên ở đằng
xa, dựa vào sườn núi đóng trại chưa dám khinh tiến. Tào Tháo thấy hai đám quân
cứu viện đã đến, cũng chia quân ra giữ, chưa dám kéo cả vào phá thành. Lưu Bị đến
sau, vào ra mắt Khổng Dung, Dung nói:
– Quân Tháo thế lớn lắm, mà Tháo
lại khéo dùng mưu mẹo, ta không nên tiến vội, đợi xem tình hình thế nào đã. Lưu
Bị nói:
– Tôi chỉ lo trong thành không có
lương, khó giữ được lâu. Nay hãy xin sai Quan Vân Trường và Triệu Tử Long lĩnh
bốn ngàn quân ở đây với ông. Tôi cùng với Trương Phi kéo qua trại Tào Tháo, đi
tắt đến Từ Châu, để vào bàn với Ðào sứ quân.
Dung mừng lắm, hẹn nhau với Ðiền
Khải hai người lập thế ỷ giốc, còn Vân Trường với Tử Long thì lĩnh binh để tiếp
ứng hai bên. Lưu Bị, Trương Phi hai người dẫn một ngàn quân mã, kéo qua bên cạnh
trại Tào Tháo. Quân đang đi thấy trong trại nổi một tiếng trống, quân mã, bộ
kéo ra như nước vỡ, Vu Cấm đứng đầu, dừng cương ngựa lại gọi to lên rằng:
– Bọn cuồng đồ xứ nào kéo đi đâu
đấy?
Trương Phi chẳng nói chẳng rằng,
xông thẳng vào đánh Vu Cấm. Hai bên đánh nhau được vài hiệp, Lưu Bị múa đôi kiếm,
kéo quân tràn lên, Vu Cấm thua chạy, Trương Phi đi đầu chém giết, rồi vào thẳng
đến dưới thành Từ Châu. Trên thành trông xuống thấy lá cờ đỏ, viết năm chữ trắng
thực to: Bình Nguyên Lưu Huyền Ðức. Ðào Khiêm kíp sai người mở cửa. Huyền Ðức
vào thành, Khiêm tiếp đón, mời về phủ nha, thi lễ xong, mở tiệc yến khoản đãi.
Ðào Khiêm thấy Lưu Bị diện mạo hiên ngang, nói năng khoáng đạt, trong bụng lấy
làm mừng rỡ, sai ngay My Chúc đem cả bài, ấn Từ Châu ra, xin nhường chức cho
Lưu Bị. Lưu Bị ngạc nhiên hỏi:
– Thế này là ý ngài ra làm sao? Khiêm nói:
– Nay thiên hạ rối loạn, rường cột
nhà vua không cất lên được. Ngài là Tôn thân nhà Hán, nên ra sức giúp nước. Tôi
nay già rồi, không làm gì được nữa, ngài chớ có chối. Tôi xin tự viết một bài
biểu dân lên triều đình.
Lưu Bị đứng ra ngoài chiếu lạy
hai lạy nói rằng:
– Bị tuy là dòng dõi nhà Hán, nhưng công nhỏ, đức mỏng, làm một chức tướng ở Bình Nguyên còn sợ không nổi, nay vì đại nghĩa đến giúp ông, sao ông lại dạy thế? Hay là ông ngờ tôi có bụng tham lam gì chăng? Nếu tôi có bụng thế trời sẽ không thương tôi. Khiêm nói rằng:
– Xin ngài chớ nghĩ thế, ấy là thực
tình của tôi. Khiêm ba lần nhường, Lưu Bị nhất định không chịu. My Chúc thấy
hai người, kẻ nhường người chối, dùng dằng mãi, bèn tiến lên thưa rằng:
– Nay quân giặc ở dưới thành, xin hai ngài hãy bàn kế phá giặc đã. Khi nào đánh tan được giặc rồi, bấy giờ xin các ngài hãy nhường thành cho nhau. Lưu Bị nói:
– Tôi hãy đưa thư cho Tào Tháo,
khuyên y giải hòa. Nếu y không nghe lời, bấy giờ ta sẽ đánh cũng không muộn.
Bèn truyền hịch cho ba trại hãy
đóng binh không được động vội. Rồi sai người đưa thư cho Tào Tháo Tháo đương ở
trung quân, cùng các tướng bàn việc, bỗng có người vào báo Từ Châu có chiến thư
mang đến. Tháo mở ra xem.
Thư rằng: “Từ khi Bị được tiếp
tôn nhan ở ngoài cửa quan đến giờ, mỗi người một phương, không được gần gũi bên
ngoài. Vừa rồi tôn phụ Tào hầu bị hại, là vì tên Trương Khải bất nhân, chớ
không phải là tội Ðào Cung Tổ. Hiện giờ, ngoài thì dư đảng giặc Khăn Vàng quấy
nhiễu, trong thì bè cánh Ðổng Trác làm loạn. Xin minh công hãy lo việc triều
đình trước, rồi sau hãy nghĩ đến thù riêng, rút quân vây Từ Châu về, để cứu nạn
nước, thì Từ Châu may lắm, thiên hạ may lắm”.
Tào Tháo xem thư xong, nổi giận mắng
rằng:
– Lưu Bị là ai, dám đưa thư lại
ngăn ta, trong thư lại có ý mỉa mai. Nói rồi truyền đem chém sứ đưa thư, rồi ra
sức đánh thành.
Quách Gia can rằng:
– Lưu Bị từ xa lại cứu, trước
dùng lễ sau dùng binh, chúa công nên lấy lời tử tế đáp lại, làm cho Lưu Bị
khinh thường, phòng bị trễ nải, rồi ta sẽ tiến binh đánh thành, mới dễ phá được.
Tháo nghe lời, truyền thết đãi sứ
giã, rồi viết thư trả lời. Ðang khi bàn bạc, chợt có ngựa lưu tinh lại báo rằng:
– Lữ Bố đã đánh phá Duyện Châu,
hiện đang tiến binh chiếm cứ Bộc Dương.
Nguyên Lữ Bố từ khi gặp loạn Lý
Thôi, Quách Dĩ, trốn ra cửa Vũ Quan, định đi theo Viên Thuật. Thuật ghét Bố là
người phản phúc không dùng. Bố lại đến với Viên Thiệu, được Thiệu dung nạp. Thiệu
cùng Bố đánh tan Thường Sơn. Từ ấy Bố lấy làm đắc chí, khinh nhờn những tướng
sĩ của Thiệu. Thiệu giận muốn giết. Bố lại bỏ sang với Trương Dương. Dương dùng
Bố. Bấy giờ Bàng Thư ở Trường An, cứu được vợ con Lữ Bố, sai đưa lại trả. Lý,
Quách biết, bèn chém Bàng Thư, rồi đưa thư cho Trương Dương sai giết Lữ Bố. Bố
lại bỏ Dương, sang với Trương Mạc. Giữa lúc ấy thì em Trương Mạc là Trương Siêu
đưa Trần Cung lại ra mắt Mạc. Cung bảo Mạc rằng:
– Nay thiên hạ bị chia sẻ, anh
hùng đều nổi dậy, ông có đất ngàn dặm, sao lại chịu ở dưới quyền người khác, há
chẳng hèn lắm sao! Nay Tào Tháo đánh mặt đông, Duyện Châu bỏ trống, Lữ Bố là
dũng sĩ đời nay, giá ông cùng với Lữ Bố đánh lấy Duyện Châu, thì có thể làm nên
nghiệp lớn.
Trương Mạc cả mừng, liền sai Lữ Bố
ra phá Duyện Châu, rồi chiếm cả Bộc Dương, chỉ có ba xứ Nhân Thành, Ðông An, Phạm
Huyện là nhờ có Tuân Úc, Trình Dục lập kế cố giữ được, còn các xứ khác đều bị
phá vỡ cả. Tào Nhân đánh nhau mãi, nhưng đánh không nổi, vì thế phải cho đi cấp
báo với Tào Tháo. Tháo nghe tin báo giật mình, nói rằng:
– Nếu Duyện Châu mất, ta sẽ không còn chỗ về nữa. Phải kíp lo toan ngay. Quách Gia nói:
– Lúc này chúa công nên tỏ chút
ân tình với Lưu Bị, rút quân về lấy lại Duyện Châu.
Tào Tháo lấy làm phải, lập tức viết
thư đáp lại Lưu Bị, rồi nhổ trại lui binh. Sứ giả về Từ Châu, vào thành gặp Ðào
Khiêm, đưa trình thư của Tào Tháo, rồi nói quân Tào đã lui. Khiêm mừng lắm, sai
người mời Khổng Dung, Ðiền Khải, Quan Vũ, Triệu Vân vào thành hội họp. Yến tiệc
xong, Khiêm mời Lưu Bị lên ghế trên, chắp tay thưa rằng:
– Lão phu này tuổi già, hai con lại không có tài, không kham nổi được việc lớn nước nhà. Lưu công là dòng dõi nhà vua, đức rộng tài cao, nên nhận lấy Từ Châu. Lão phu tinh nguyện cáo về dưỡng bệnh. Lưu Bị nói:
– Khổng Văn Cử sai tôi đến cứu Từ Châu là việc nghĩa. Nay bỗng dưng tôi giữ lấy Từ Châu, thiên hạ tất bảo tôi là người bất nghĩa. My Chúc nói:
– Nay vận Hán đã suy, đất nước rối loạn, dựng công lập nghiệp chính ở lúc này. Từ Châu của giàu người nhiều, dân đinh kể có trăm vạn. Lưu sứ quân không nên từ chối. Lưu Bị nói:
– Việc ấy tôi quyết không thể vâng mệnh. Trần Ðăng nói:
– Ðào phủ quân nhiều bệnh lắm, không sao coi nổi được công việc, xing minh công đừng từ chối. Lưu Bị nói:
– Viên Công Lộ bốn đời làm tam công, trong nước ai cũng trong mong. Nay Công Lộ ở Thọ Xuân, sao không tìm mà nhường. Khổng Dung nói:
– Viên Thiệu là hạng người vô dụng,
chẳng khác một bộ xương khô trong mả, còn đáng để làm chi. Nay trời cho sứ quân
chẳng lấy, sau có hối lại cũng muộn.
Lưu Bị nhất định không chịu. Ðào
Khiêm khóc nói rằng:
– Nếu ông bỏ tôi mà đi, tôi chết cũng không nhắm mắt được. Vân Trường nói:
– Ðào Công đã nói hết điều, thực lòng nhường cho, xin anh hãy nhận lấy việc châu. Trương Phi cũng nói:
– Không phải là mình cố đòi lấy châu quận của người ta. Người ta có bụng tốt nhường cho mình, việc gì cứ phải khăng từ chối. Lưu Bị nói rằng:
– Các em muốn hãm ta vào việc bất
nghĩa hay sao?
Ðào Khiêm hai ba lần nhường, Lưu
Bị cứ một mực không nghe. Khiêm mới nói:
– Nếu ông nhất định không nghe
thì gần đây có một ấp gọi là Tiểu Bái, có thể đóng đồn. Xin ông tạm đóng quân
mà ở đó bảo vệ Từ Châu. Ông nghĩ thế nào?
Mọi người đều khuyên Lưu Bị nên ở
lại ấp Tiểu Bái, Lưu Bị nhận lời. Khiêm khao quân xong, Triệu Tử Long cáo từ ra
về. Lưu Bị cầm tay Triệu Tử Long rỏ nước mắt từ biệt. Khổng Dung, Ðiền Khải
cũng cáo biệt, dẫn quân về. Lưu, Quan, Trương cùng dẫn quân bản bộ đến Tiểu
Bái, sửa sang thành quách, phủ dụ dân cư ở đấy. Tào Tháo kéo quân về, Tào Nhân
ra đón, nói rằng:
– Lữ Bố thế to, lại có Trần Cung
giúp. Duyện Châu, Bộc Dương mất cả, duy còn có Nhân Thành, Ðông An, Phạm Huyện,
ba xứ ấy nhờ có Tuân Úc, Trình Dục bày mưu đặt mẹo nên còn giữ được vững. Tháo
nói:
– Ta chắc Lữ Bố có sức khỏe nhưng không có mưu mẹo, chẳng đáng lo lắm. Nay hãy lập trại đâu đấy, rồi sau sẽ bàn.
Lữ Bố biết Tào Tháo đem quân về, đã đến Ðằng Huyện bèn cho gọi phó tướng là Tiết
Lan và Lý Phong bảo rằng:
– Ta muốn dùng hai người đã lâu,
nay mới có dịp. Hai người dẫn một vạn quân, giữ lấy Duyện Châu cho vững, để ta
đem quân đi đánh Tào Tháo.
Hai người vâng lệnh. Trần Cung vội
vàng hỏi rằng:
– Tướng quân bỏ Duyện Châu, định đi đâu? Bố nói:
– Ta muốn đóng quân ở Bộc Dương, để thành thế chân đinh. Cung nói:
– Hỏng mất! Tiết Lan không giữ được
Duyện Châu. Phía nam đường này, cách đây một trăm tám mươi dặm, có núi Thái
Sơn. Chỗ ấy hiểm lắm, nên đem một vạn tinh binh phục ở đó. Quân Tào Tháo nghe
Duyện Châu mất, tất nhiên gấp đường tiến lên, thế nào cũng phải đi qua đó. Ta đợi
cho hắn kéo quân qua một nửa, đổ ra đánh một trận có thể bắt sống được Tào Tháo.
Lữ Bố bảo rằng:
– Ta đóng ở Bộc Dương, còn một mẹo
hay hơn, ngươi biết đâu.
Bèn không nghe lời Trần Cung, sai
Tiết Lan giữ Duyện Châu, còn mình thì đem quân đi. Khi Tào Tháo đem quân đến
quãng đường hẻm ở Thái Sơn, Quách Gia bảo rằng:
– Không nên đi vội. Chỗ này tất
có phục binh. Tháo cười nói rằng:
– Lữ Bố là đồ vô mưu cho nên mới
giao Duyện Châu cho Tiết Lan giữ, còn hắn thì kéo quân sang Bộc Dương. Chỗ này
chắc không có binh phục. Tào Nhân đâu, hãy lĩnh một cánh quân vây lấy Duyện
Châu, để ta kéo quân lên đánh Lữ Bố ở Bộc Dương.
Trần Cung ở Bộc Dương với Lữ Bố
nghe thấy quân Tào đã đến gần, bèn thưa với Lữ Bố rằng:
– Quân Tào nay từ xa lại, tất mỏi mệt cả, nên đánh ngay, đừng cho hắn nghỉ ngơi để dưỡng sức. Bố nói:
– Ta một mình một ngựa tung hoành
khắp thiên hạ, có sợ gì Tào Tháo. Cứ để cho hắn đóng trại, ta sẽ bắn hắn cho mà
xem.
Quân Tào Tháo gần đến Bộc Dương,
lập vững doanh trại. Hôm sau Tháo đem chư tướng ra dàn trận ở ngoài đồng. Tháo
cưỡi ngựa đứng dưới cửa sổ, xa trông thấy binh Lữ Bố kéo đến Hai bên bày trận
xong, Lữ Bố cưỡi ngựa ra trước, hai bên có tám kiện tướng đứng kèm.
1. Trương Liêu, tên chữ Văn Viễn,
người ở Mã Ấp, quận Nhạn Môn.
2. Tang Bá, tên chữ Tuyên Cao,
người ở Hoa Âm, quận Thái Sơn.
Hai tướng ấy lại dẫn sáu tướng là
Hách Manh, Tào Tinh, Thanh Liêm, Ngụy Tục, Tống Hiến, Hầu Thành và năm vạn
quân. Trống đánh vang lừng. Tháo trỏ Bố nói rằng:
– Ta với ngươi không thù hằn gì,
sao ngươi lại cướp châu quận của ta?
Bố nói:
– Thành trì nhà Hán, người nào
cũng có phần, có phải của riêng của nhà ngươi đâu.
Liền sai Tang Bá tế ngựa ra đánh.
Bên Tào, Nhạc Tiến ra nghênh địch. Hai ngựa giao nhau, đôi đao đều múa, đánh
nhau được hơn ba mươi hiệp, chưa phân được thua. Hạ Hầu Ðôn tế ngựa xông vào
đánh giúp. Trương Liêu cũng vội ra đánh chẹn lại. Lữ Bố nóng mắt vác kích phi
ngựa xông vào trận. Ðôn, Tiến đều thua chạy cả, quân Tào thua to, phải lui ba bốn
mươi dặm. Lữ Bố thu quân về. Tào Tháo thua một trận, về trại, cùng chư tướng luận
bàn. Vu Cấm nói:
– Sáng nay lên núi trông thấy
phía tây thành Bộc Dương, Bố có một trại, ước chừng chỉ có một ít quân đóng.
Ðêm nay tất hắn tưởng ta vừa thua, không phòng bị gì. Ta nên dẫn quân ra đánh.
Nếu lấy được trại ấy, quân Lữ Bố tất sợ.
Tào Tháo nghe lời, sai sáu tướng
là Tào Hồng, Lý Ðiển, Mao Giại, Lã Kiền, Vu Cấm, Ðiển Vi, dẫn hai vạn quân mã bộ
liền đêm hôm ấy theo đường nhỏ kéo vào phía tây Bộc Dương. Hôm ấy Lữ Bố về trại
khao quân. Trần Cung nói rằng:
– Trại mé Tây là nơi khẩn yếu, nếu Tào Tháo đến đánh úp thì làm thế nào? Bố nói:
– Hôm nay hắn mới thua một trận, làm sao còn dám đến. Cung nói:
– Tào Tháo là một tay dùng binh
thực giỏi. Nên đề phòng hắn đánh bất ngờ.
Bố bèn sai Cao Thuận, Ngụy Tục và
Hầu Thành dẫn binh đến giữ trại phía tây. Chập tối hôm ấy, Tào Tháo kéo quân đến
trại phía tây, bốn mặt ùa vào, quân giữ trại không chống nổi chạy toán loạn cả.
Tháo cướp được trại, gần đến canh tư, thì bọn Cao Thuận mới kéo quân đến. Tháo
dẫn quân ra đánh. Hai bên đánh nhau đến gần sáng. Chợt nghe tiếng trống rầm rĩ,
Lữ Bố đem quân đến cứu.
Tháo bỏ trại chạy. Ðằng sau Cao
Thuận, Ngụy Tục, Hầu Thành đánh thốc lên, mặt trước thì Lữ Bố kéo quân lại. Vu
Cấm, Nhạc Tiến, hai người địch Bố không nổi, Tháo cứ trông về phía Bắc mà chạy.
Sau núi có một toán quân kéo ra, tả thì Trương Liêu, hữu thì Tang Bá. Tháo sai
Lã Kiền, Tào Hồng ra đánh cũng không lại. Tháo lại quay chạy về phía tây. Ðang
chạy, chợt lại nghe thấy tiếng reo ầm ầm, rồi thấy một toán quân đến. Ði đầu có
bốn tướng là Hách Manh, Tào Tinh, Thành Liêm, Tống Hiến kéo ra chẹn đường Tào
Tháo. Các tướng Tào liều chết mà đánh, Tào mới xông lên được trước. Bỗng nghe
thấy tiếng mõ đánh, tên bắn ra như mưa. Tào Tháo không thể nào tiến lên được nữa,
không biết có cách gì thoát, vội kêu lớn rằng:
– Ai đến cứu ta? Giữa lúc ấy,
trong đội kỵ mã, có một tướng nhảy ra là Ðiển Vi, hai tay cầm hai ngọn kích,
kêu to lên rằng:
– Chúa công đừng lo. Nói rồi nhảy
tót xuống ngựa, cắp đôi kích dài, lấy vài mươi ngọn đoản kích, nắm trong tay,
ngoành mặt lại bảo người đi theo rằng:
– Lúc nào giặc đến cách độ mười
bước, hãy gọi ta. Rồi dang chân, bước nhanh, xông vào mũi tên mà đi. Quân kỵ
bên Lữ Bố vài mươi người xông đến, lính hô lên:
– Giặc còn cách mười bước rồi. Vi nói:
– Cách năm bước hãy gọi. Quân lại gọi rằng:
– Cách năm bước rồi.
Bây giờ Vi cầm kích ném ra, cứ mỗi
ngọn kích là quân Bố chết một người, không sai một ngọn nào, một lúc giết chết
vài mươi người. Quân Lữ Bố tan chạy, Vi lại cầm hai thanh kích lớn, nhảy lên ngựa,
xông vào đánh. Bốn tướng của Lữ Bố là Hách, Tào, Hẫu, Tống không địch nổi đều
chạy trốn cả. Ðiển Vi đánh tan quân Lữ Bố, cứu được Tào Tháo. Các tướng theo
sau cũng dần dần kéo đến cùng nhau tìm đường về trại. Trông trời đã tà tà về
chiều, đằng sau lại thấy tiếng reo, Lữ Bố phi ngựa cầm kích, đuổi theo xông đến
gọi to lên rằng:
– Thằng giặc Tào Tháo kia, đừng
chạy nữa. Bấy giờ bên Tào người ngựa mỏi mệt, mọi người nhạn nhác trông nhau,
ai cũng muốn chạy thoát thân cả. Thế là:
Còn sợ khôn đường giặc đuổi sau
Chưa biết phen này Tháo sống chết thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
-------------------------------------------------------
Đào Cung Tổ ba lần nhượng Từ Châu
Tào Mạnh Đức một phen đánh Lã Bố
Tào Tháo đang chạy luống cuống,
may đâu phía Nam có một toán quân kéo đến. Nguyên là Hạ Hầu Ðôn dẫn quân lại cứu,
chẹn ngang đường đánh nhau với Lữ Bố. Ðánh nhau đến xâm xẩm tối, một cơn mưa to
như trút nước xuống, hai bên đều dẫn quân về. Tháo về đến trại, trọng thưởng Ðiển
Vi, giao cho làm chức Lĩnh Quân Ðô Úy. Lữ Bố về trại, cùng Trần Cung bàn bạc,
Cung nói:
– Trong thành Bộc Dương, có một
nhà giàu, họ Ðiền, đầy tớ hàng trăm, ngàn người, có tiếng ở trong quận này. Ta
nên khiến nhà ấy mật sai người đưa thư cho Tào Tháo rằng: “Lã Ôn Hầu tàn bạo
bất nhân, lòng người rất oán ghét; nay muốn đem quân sang Lê Dương; chỉ còn có
Cao Thuận ở trong thành, nên lập tức tiến ngay, ta xin làm nội ứng… Nếu Tháo đến,
dụ cho vào trong thành, rồi bốn mặt phóng hỏa, ngoài đặt quân phục. Tháo tuy có
tài ngang trời dọc đất cũng không thoát được”.
Lữ Bố nghe theo, mật dụ họ Ðiền
đưa thư cho Tào Tháo. Tháo nhân lúc mới thua, còn đương lo lắng, chợt có người
vào báo họ Ðiền ở Bộc Dương sai người đưa mật thư đến. Thư rằng:
“Lữ Bố đi sang Lê Dương, trong
thành bỏ không. Xin ngài đến ngay, tôi nguyện làm nội ứng. Trên thành cắm lá cờ
trắng, viết to một chữ “nghĩa” làm mật hiệu”.
Tào Tháo cả mừng nói rằng:
– Trời cho ta Bộc Dương rồi. Bèn
trọng thưởng cho người đưa thư, rồi lập tức thu xếp khởi binh.
Lưu Hoa nói rằng:
– Lữ Bố tuy vô mưu, nhưng có Trần
Cung nhiều mẹo lắm. Tôi chỉ sợ trong việc này có phần lừa dối; ta phải phòng
trước. Minh Công muốn đi thì nên chia quân ra làm ba đội. Hai đội phục ở ngoài
thành để tiếp ứng, một đội vào thành, như thế mới được.
Tháo nghe lời chia quân ra làm ba
đội, đến thành Bộc Dương. Tháo đi trước nghe ngóng, trông thấy trên mặt thành cờ
cắm đặc cả, trên góc cửa Tây có một lá cờ trắng có chữ Nghĩa, trong bụng đã mừng
thầm.
Giờ Ngọ hôm ấy, hai tướng trong
thành kéo quân ra đánh, tiền quân là Hầu Thành, hậu quân là Cao Thuận. Tào Tháo
sai Ðiển Vi cưỡi ngựa ra, xông thẳng vào đánh Hầu Thành. Thành địch không nổi,
quay ngựa chạy vào. Vi đuổi xấn đến tận bên cầu hào. Cao Thuận chống không được
cũng lui binh vào trong thành. Trong khi ấy có người trong thành, thừa cơ chạy
ra ngoài, đến ra mắt Tào Tháo, nói là người họ Ðiền, đưa trình mật thư, trong
thư hẹn rằng:
“Ðêm nay, hồi canh một, trên
thành khua chiêng làm hiệu thì tướng quân tiến binh vào. Tôi làm nội ứng, dâng
thành”. Lý Ðiển can rằng:
– Chúa công nên đứng ở ngoài
thành, để chúng tôi vào.
Tháo nói to rằng:
– Ta không đi thì ai chịu xông
lên trước.
Nói rồi tự lĩnh binh xông thẳng
vào. Bấy giờ mới đầu canh một, trăng chưa lên, chỉ nghe thấy trên cửa Tây có tiếng
tù và, rồi lại có tiếng reo. Trên cửa lửa đốt sáng rực; cửa thành mở to; cầu
treo bỏ xuống Tào Tháo tế ngựa lên trước, đi thẳng đến tận nha thự, trên đường
chẳng thấy một người nào cả. Tháo biết là mắc mưu, vội vàng quay ngựa trở lại,
hô quân lui ra.
Lúc ấy trong châu nha có một tiếng
pháo nổ, bốn cửa thành lửa cháy rực trời; trống đánh vanh lừng, người reo rầm
rĩ, như sóng cồn bể réo. Mé Ðông - Trương Liêu trổ ra, mé Tây - Tang Bá chạy lại,
hai bên đánh dồn vào. Tháo chạy ra cửa Bắc, lại bị Hách Manh, Tào Tinh đánh cho
một trận. Tháo chạy ra cửa Nam, lại bị Cao Thuận, Hầu Thành chẹn đánh, may có
Ðiển Vi trợn mắt nghiến răng, xông vào đánh cứu. Cao Thuận, Hầu Thành phải chạy
ra ngoài thành. Ðiển Vi đuổi ra đến cầu treo, ngoảnh lại không thấy Tào Tháo.
Vi lại đánh vào trong thành, đến cửa gặp Lý Ðiển, Vi hỏi:
– Chúa công đâu? Ðiển nói:
– Ta cũng tìm không thấy. Vi bảo
Ðiển:
– Ngươi ra ngoài thúc quân ứng cứu,
ta vào tìm chúa công.
Lý Ðiển đi ra, Ðiển Vi vào thành,
tìm mãi không thấy, lại đánh trở ra, ra khỏi bờ hào gặp Nhạc Tiến. Tiến hỏi:
– Chúa công đâu? Vi nói:
– Tôi vào ra hai lần rồi, tìm
chúa công mãi không thấy. Tiến nói:
– Hai chúng ta phải cùng đánh vào
để cứu chúa công.
Hai người cùng trở vào, đến bên
thành, thì hỏa pháo trên thành rơi xuống ngựa, Nhạc Tiến không sao vào được. Ðiển
Vi xông pha khói lửa, lại vào thành đi tìm Tào Tháo. Tào Tháo nhìn thấy Ðiển Vi
đánh đến tìm mình nhưng Tháo bị bốn mặt quân mã chẹn chung quanh nên không tìm
được đường cửa Nam, đành phải chạy về cửa Bắc, thế nào gặp ngay Lữ Bố, nhưng
trong bóng lửa nhấp nhoáng, Bố không biết là ai. Lữ Bố cầm kích tế ngựa lại.
Tháo lấy tay che mặt ra roi tế ngựa đi thẳng. Lữ Bố ở đằng sau xấn ngựa lên, cầm
ngọn kích gõ vào mũ Tào Tháo hỏi rằng:
– Tào Tháo ở đâu? Tháo trỏ tay
nói rằng:
– Người cưỡi ngựa vàng ở đằng trước
kia.
Bố tế ngựa đuổi theo người đằng
trước. Tào Tháo quay ngựa lại chạy ra cửa Ðông, may gặp ngay Ðiển Vi. Vi hộ vệ
Tháo, mở một đường máu ra được đến cửa thành. Chung quanh thành lửa cháy ngùn
ngụt, cỏ rác chồng chất khắp cả, chỗ nào cũng có lửa. Ðiển Vi cầm kích gạt lửa
ra hai bên, tế ngựa xông vào khói lửa ra trước. Tháo cũng theo sau ra được. Vừa
đến cửa thành, có một cái xà cháy trên nhà rơi vào chân ngựa của Tào Tháo, ngựa
ngã gục xuống. Tháo lấy tay đẩy cái xà ra, lửa bén vào cả cánh tay và đầu tóc.
Ðiển Vi quay ngựa lại cứu. Vừa may Hạ Hầu Uyên cũng ở đâu đến. Hai người cứu được
Tháo dậy, xông qua lửa chạy ra. Tháo cưỡi ngựa của Uyên, Vi đánh mở đường để chạy.
Ðánh nhau mãi đến sáng, Tháo mới về được trại. Các tướng vào lạy hỏi thăm, Tháo
ngoảnh mặt nói rằng:
– Ta lầm mắc phải kế thất phu, thề
rằng thù này thế nào cũng báo được. Quách Gia nói:
– Có kế gì nên làm ngay. Tháo
nói:
– Nay nên nhân kế của hắn mà làm
kế của mình: ta nói phao lên rằng ta bị lửa cháy chết bỏng, Bố tất dẫn quân lại
đánh. Ta phục binh ở trong núi Mã Lăng, đợi hắn đến nửa chừng, đổ ra mà đánh
thì quyết bắt được Lữ Bố. Quách Gia nói:
– Thực là một kế hay. Liền sai
quân sĩ phát tang, để trở phao tin đi rằng Tào Tháo đã chết. Có người đến Bộc
Dương báo với Lữ Bố rằng:
– Tháo bị lửa cháy bỏng cả chân
tay, về đến trại thì chết.
Lữ Bố lập tức điểm quân mã, kéo đến
núi Mã Lăng. Quân đi gần đến trại Tào, một tiếng trống nổi lên, phục binh bốn mặt
ồ ra. Lữ Bố cố đánh, một sống một chết, mới thoát được, tổn hại mất người quân
mã, chạy về Bộc Dương giữ vững không dám ra nữa.
Năm nay có một thứ sâu, gọi là
sâu hoàng ăn hại lúa má. – vùng Quan Ðông (Trường An) mỗi hộc thóc giá năm mươi
quan. Dân chúng đói quá phải ăn thịt lẫn nhau. Tào Tháo nhân hết lương, dẫn
quân về đóng ở Nhân Thành. Lữ Bố cùng đem quân về đóng ở Sơn Dương. Vì vậy hai
bên cùng tạm bãi binh. Bấy giờ Ðào Khiêm ở Từ Châu đã sáu mươi ba tuổi, chợt bị
bệnh, bệnh mỗi ngày một nặng, bèn mời My Chúc, Trần Ðăng đến bàn việc. Chúc
nói:
– Quân Tào Tháo bỏ Từ Châu đi,
cũng chỉ vì Lữ Bố cướp Duyện Châu mà thôi. Năm nay hắn bãi binh cũng là vì mất
mùa. Chắc rằng sang xuân thế nào hắn cũng đến. Phủ quân đã hai lần nhường chức
cho Lưu Huyền Ðức, bấy giờ phủ quân còn khỏe cho nên Huyền Ðức nhất định không
chịu nhận. Nay bệnh phủ quân đã nặng, nên lại cho mời Huyền Ðức sang mà nhường
chức một lần nữa, lần này Huyền Ðức chắc không từ chối.
Khiêm mừng lắm, sai người đi mời
Lưu Bị lại bàn việc quân. Lưu Bị đem Quan Vũ, Trương Phi và vài mươi tên kỵ mã
đến Từ Châu. Ðào Khiêm cho mời vào chỗ nằm, Lưu Bị hỏi thăm xong. Khiêm nói:
– Tôi mời ông đến đây không phải
có việc gì đâu, chỉ có một việc: tôi bây giờ bệnh đã nguy rồi, không biết sớm tối
chết lúc nào. Vậy xin minh công thương lấy thành trì nhà Hán, nhận lấy bài ấn Từ
Châu này, thì tôi chết mới nhắm được mắt. Lưu Bị hỏi:
– Ông có hai con, sao không truyền
cho, lại gọi tôi? Khiêm nói:
– Tôi có hai thằng con, thằng lớn
tên Thương, thằng bé tên Ung, hai đứa cùng hèn kém lắm, không sao kham nổi được
việc nước. Tôi một mai nhắm mắt lại, cũng trăm nhờ minh công dạy bảo chúng nó,
không nên cho chúng nó coi đến việc châu. Lưu Bị nói:
– Một mình tôi đảm đương sao nổi
việc to lớn ấy? Khiêm thưa:
– Tôi xin cử một người để giúp
ông, người ở Bắc Hải, họ Tôn, tên Càn, tự là Công Hựu. Ông nên dùng người ấy
làm tùng sự. Khiêm lại gọi My Chúc bảo rằng:
– Lưu Công là hào kiệt đời nay,
ngươi nên thờ cho khéo nhé.
Huyền Ðức vẫn còn từ chối. Lúc ấy
Ðào Khiêm lấy tay trỏ vào bụng rồi tắt thở. Các quan làm lễ điếu viếng xong rồi,
liền đem bài ấn giao cho Lưu Bị, Lưu Bị nhất định không nhận. Hôm sau cả dân
châu kéo vào đầy phủ, van khóc nói rằng:
– Lưu sứ quân bằng không chịu nhận
việc quận này thì dân chúng tôi không sao sống yên được. Quan, Trương hai người
cùng khuyên hai ba lần, Lưu Bị mới chịu quyền lĩnh công việc Từ Châu; dùng Tôn
Càn, My Chúc làm phụ tá; Trần Ðang làm mạc quan; đem hết quân mã ở Tiểu Bái vào
thành, treo bảng khuyên dân yên nghiệp, rồi sắm sửa việc tang, Lưu Bị và quan
quân lớn nhỏ, đều để trở. Tế lễ linh đình xong, an táng Ðào Khiêm trên bãi cao ở
bên Hoàng Hà, rồi đem tờ di biểu của Ðào Khiêm dâng lên triều đình.
Tào Tháo ở Nhân Thành, được tin
Ðào Khiêm đã chết và Lưu Bị lĩnh chức mục Từ Châu, giận lắm nói rằng:
– Thù ta chưa báo xong! Lưu Bị nửa
mũi tên không tốn, ngồi yên mà được Từ Châu. Phen này ta quyết trước giết Lưu Bị,
sau vằm thây Ðào Khiêm để rửa oán cho thân phụ ta. Lập tức truyền lệnh cất quân
sang đánh Từ Châu.
Tuân Úc lên can rằng:
– Xưa nay Cao Tổ giữ ở Quan
Trung, vua Quang Vũ giữ ở Hà Nội, đều là được sâu rễ bền gốc; tiến lên thì đánh
được giặc, lui về thì giữ được thành, cho nên tuy có lúc nguy khốn, nhưng về
sau cũng vẫn làm nổi được nghiệp lớn. Minh Công lúc đầu vốn khởi sự ở Duyện
Châu, mà đất Hà, đất Tế lại là đất hiểm trong thiên hạ và cũng là Quan Trung,
Hà Nội ngày xưa, nay nhược bằng Minh Công sang lấy Từ Châu, để binh ở đây thì Lữ
Bố lại thừa cơ đến cướp, thế là bỏ mất Duyện Châu. Nếu Từ Châu lại không lấy được,
Minh Công sẽ đi đâu? Nay Ðào Khiêm tuy chết, nhưng đã có Lưu Bị giữ. Dân Từ
Châu đã quy phục Lưu Bị lắm, tất nhiên cố sức giúp Lưu Bị. Minh Công bỏ Duyện
Châu để sang lấy Từ Châu, thì khác nào bỏ cái lớn đi tìm cái nhỏ, bỏ chỗ gốc đi
tìm chỗ ngọn, đem sự yên mà đổi lấy sự nguy. Xin Minh Công phải nghĩ cho chín
đã.
Tháo nói:
– Năm nay mất mùa, thiếu lương ăn, quân sĩ cứ đóng ở đây cũng không xong. Tuân Úc nói:
– Không bằng ta kéo sang mặt Đông,
lấy đất Trần cho quân sang ăn ở đó. Vả lại dư đảng Khăn Vàng là Hà Nghi, Hoàng
Thiệu ở Nhữ Nam và Dĩnh Xuyên, cướp bóc châu quận, vàng lụa, lương thực có nhiều.
Những giặc cỏ ấy phá dễ như chơi. Phá chúng nó, lấy lương thực để nuôi quân sĩ,
như thế triều đình cũng mừng, dân gian cũng hả. Chính là một việc làm thuận
lòng trời đó.
Tháo mừng lắm, liền cho Hạ Hầu
Ðôn, Tào Nhân ở lại giữ Nhân Thành, mình thì đem quân sang lấy đất Trần, Nhữ
Nam, và Dĩnh Xuyên. Ðám dư đảng Khăn Vàng là Hà Nghi và Hoàng Thiệu thấy quân
Tào kéo đến, đem binh ra đánh. Hai bên giáp trận nhau ở núi Dương Sơn Quân giặc
tuy nhiều nhưng toàn là những đồ lăng nhăng, hỗn độn không thành đội ngũ. Tháo
sai lấy cung mạnh, nỏ cứng bắn sang. Ðiển Vi cưỡi ngựa ra. Hà Nghi sai phó
nguyên soái ra đánh, đánh nhau chưa được ba hiệp, bị Vi đâm chết lăn xuống ngựa.
Tào Tháo thừa thế dẫn quân xấn qua núi Dương Sơn đóng trại. Hôm sau Hoàng Thiệu
tự dẫn quân lại. Bày trận xong sai một tướng đi bộ ra, đầu đội khăn vàng, mình
mặc áo xanh, tay cầm côn sắt, thét to lên rằng:
– Ta là Tiệt Thiên Dạ Sao Hà Man,
ai dám ra đây đấu với ta nào?
Tào Hồng quát to một tiếng, phi
mình từ trên ngựa nhảy xuống đất, vác đao đi bộ ra. Hai người ở trước trận đánh
nhau ba bốn mươi hiệp, chưa phân thắng bại. Hồng giả cách thua chạy, Hà Man xấn
vào. Hồng dùng kế đà đao, quay mình lại chém trúng Hà Man; Hồng lại bồi thêm một
nhát nữa, Hà Man chết. Lý Ðiển thấy thế phi ngựa thẳng vào trận giặc. Tướng giặc
Hoàng Thiệu chưa kịp đề phòng, bị Ðiển bắt sống. Quân Tào đánh giết quân giặc,
cướp được vô số tiền bạc, lương thực. Còn Hà Nghi thế cô, dẫn vài trăm quân kỵ chạy
về thung lũng Cát Pha.
Lúc đang đi đường, chợt gặp một
toán quân ở trong núi kéo ra, một tráng sĩ đứng đầu, mình cao tám thước, lưng
to mười chét tay, cầm thanh đao lớn ra chẹn đường. Nghi vác đao đánh, chỉ mới
được một hiệp, đã bị tráng sĩ ấy bắt sống. Quân sĩ luống cuống đều xuống ngựa
chịu trói. Tráng sĩ xua cả vào thung lũng Cát Pha. Ðiển Vi truy kích Hà Nghi tới
Cát Pha, thì có một tráng sĩ dẫn quân ra chặn lại. Vi hỏi:
– Ngươi cũng là giặc Khăn Vàng à?
Tráng sĩ đáp:
– Lũ Khăn Vàng có vài trăm kỵ mã,
ta đã bắt nhốt cả trong thung lũng này. Vi hỏi:
– Sao không đem ra nộp? Tráng sĩ
nói:
– Hễ ngươi địch được vớ thanh đao
trong tay này thì ta đem chúng nó ra nộp.
Vi giận lắm, vác đôi kích lại
đánh. Hai người đánh nhau từ giờ thìn đến giờ ngọ, không ai thua ai được, hai
bên cùng tạm nghỉ. Ðược một lát, tráng sĩ lại ra thách đánh. Ðiển Vi cũng ra,
đánh nhau đến mãi chiều tối. Hai người cùng mỏi, hai người lại phải tạm nghỉ lần
nữa. Quân thủ hạ Ðiển Vi chạy về báo với Tào Tháo. Tháo thất kinh, vội vàng dẫn
các tướng lại xem. Hôm sau tráng sĩ lại ra thách đánh nhau. Tháo trông thấy người
ấy oai phong lẫm liệt, trong bụng mừng thầm, dặn Ðiển Vi rằng:
– Nay ngươi hãy giả cách thua đi.
Vi vâng lời ra đánh, được ba mươi
hiệp, Vi giả cách thua chạy về trận, tráng sĩ xấn đến, trong cửa trận cung nỏ bắn
ra tua tủa. Tráng sĩ phải quay trở về. Tháo kíp dẫn quân lùi lại năm dặm, mật
sai người đào sẵn một hầm hố, phục sẵn câu thủ. Hôm sau lại sai Ðiển Vi dẫn hơn
trăm quân kỵ ra. Tráng sĩ cười mà nói rằng:
– Tướng đã thua, sao lại còn dám
đến đánh?
Nói rồi liền phóng ngựa ra đánh.
Ðiển Vi đánh được vài hiệp lại quay ngựa chạy. Tráng sĩ cố sức đuổi theo, không
ngờ cả người lẫn ngựa cùng sa xuống hố cả, bị quân phục ra trói lại đem về nộp
Tào Tháo.
Tháo vội vàng xuống trướng, mắng
đuổi quân sĩ, tự cởi trói cho tráng sĩ, sai người lấy áo mặc cho, mời ngồi tử tế,
rồi hỏi tên họ làng mạc ở đâu, tráng sĩ nói:
– Tôi là người ở Tiêu Huyện, nước
Tiêu, họ Hứa tên Chử, tự là Trọng Khang. Nguyên trước gặp buổi loạn lạc, tụ cả
tôn tộc vài trăm người, đắp một cái lũy ở trong thung lũng này để chống cự. Một
bữa có giặc đến, tôi sai người nhà lấy đá vụn để sẵn, rồi tôi cầm đá ném ra, chẳng
sai hòn nào. Giặc thấy vậy phải chịu lui. Lại một hôm nữa giặc đến, trong thung
lũng tôi không có lương, phải hòa với giặc xin đem trâu cày đổi cho chúng, để lấy
gạo. Lúc gạo giặc đã đưa đến rồi, giặc dắt trâu ra ngoài cửa thung lũng thì
trâu đều chạy ngược trở lại, tôi lấy tay nắm lấy hai đuôi trâu kéo lại đi giật
lùi được hơn một trăm bước. Giặc thấy thế đều thất kinh, không dám lấy trâu nữa.
Bởi thế tôi mới giữ được ở đây yên ổn, không việc gì.
Tháo nói:
– Ta biết ngươi đã lâu. Nay ngươi có chịu hàng không? Chử nói:
– Bụng tôi muốn thế đã lâu rồi.
Chử về dẫn cả họ hàng vài trăm người ra hàng Tào Tháo. Tháo cho làm Đô Úy, thưởng
rất hậu rồi đem Hà Nghi, Hoàng Thiệu ra chém. Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên từ ấy đều
bình định cả.
Tháo rút quân về Tào Nhân, Hạ Hầu
Ðôn ra tiếp kiến, nói rằng:
– Mấy hôm nay quân đi dò thám về
báo rằng ở Duyện Châu, quân sĩ Tiết Lan, Lý Phong ra ngoài đi ăn cướp, thành bỏ
trống không, chúa công đem quân vừa thắng trận về mà đánh, chỉ một trận là hạ
được thành.
Tháo liền đem quân đi đường tắt đến Duyện Châu Tiết Lan, Lý Phong không ngờ có quân đến, chưa kịp phòng bị, nhưng cũng phải đem quân ra ngoài thành để đánh. Hứa Chử nói:
– Tôi xin bắt hai đứa này để làm
lễ ra mắt.
Tháo mừng sai Chử ra trận. Lý
Phong vác họa kích lại đánh. Hai ngựa giao nhau mới được hai hiệp, Chử chém
Phong chết lăn xuống dưới ngựa. Tiết Lan vội vàng chạy về. Lý Ðiển chẹn ngang
bên cầu. Lan không dám vào thành, dẫn quân kéo về Cự Giã, đang đi gặp ngay Lã
Kiền tế ngựa lại đuổi bắn một phát tên, Lan chết ngã quay xuống đất. Quân Tiết
Lan, Lý Phong vỡ tan cả. Tháo lấy được Duyện Châu. Trình Dục xin tiến binh lấy
lại nốt Bộc Dương. Tháo sai Hứa Chử, Ðiển Vi làm tiên phong; Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu
Uyên làm tả quân; Lý Ðiển, Nhạc Tiến làm hữu quân; Tào Tháo tự lĩnh trung quân;
Vu Cấm, Lã Kiền làm hậu quân.
Quân Tào đến Bộc Dương, Lữ Bố muốn
ra đánh, Trần Cung can rằng:
– Không nên đánh vội. Ðợi các tướng
đến đây đầy đủ đã, rồi hãy hay. Bố nói:
– Ta có sợ ai. Không nghe lời Trần Cung, Bố cứ đem quân ra trận, cầm ngang ngọn kích thét mắng. Hứa Chử ra địch, hai bên đánh nhau hai mươi hiệp chưa bên nào được thua. Tháo nói:
– Một người không thắng nổi Lữ Bố
được.
Nói rồi sai Ðiển Vi ra giúp Hứa
Chử đánh Lữ Bố. Hai tướng giáp lại đánh, bên tả thì Ðôn, Uyên, bên hữu thì Ðiển,
Tiến, cùng kéo ra, sáu tướng quây quần lại đánh một mình Lữ Bố. Bố chống đỡ
không xuể, phải quay ngựa chạy về thành. Họ Ðiền ở trên thành thấy Bố thua chạy
về, kíp sai người ra kéo cầu lên. Bố gọi to:
– Mở cửa. Ðiền nói:
– Ta đã hàng Tào tướng quân rồi.
Bố chửi to một hồi rồi đem quân sang Ðịnh Ðào. Trần Cung vội vàng bảo vệ vợ con
Lữ Bố mở cửa Đông chạy ra ngoài thành. Tháo lấy được Bộc Dương, tha cho họ Ðiền
các lỗi khi trước. Lưu Hoa bàn với Tào Tháo rằng:
– Lữ Bố là một con hổ dữ. Nay hắn
đang cùng khốn không nên khoan dung cho hắn một chút nào.
Tháo bèn sai Hoa giữ Bộc Dương, tự
mình dẫn quân đến Ðịnh Ðào. Bấy giờ Lữ Bố cùng Trương Mạc, Trương Siêu ở trong
thành, còn Cao Thuận, Trương Liêu, Tang Bá, Hầu Thành, đi tuần để kiếm lương
chưa về. Quân Tào Táo đến Ðịnh Ðào, đợi mấy ngày Lữ Bố không chịu ra đánh, bèn
rút quân lui bốn mươi dặm hạ trại. Nhân bấy giờ lúa mạch ở Tế Quận đã chín.
Tháo sai quân ra gặt về để ăn. Quân đi thám về báo với Lữ Bố. Bố đem quân lại,
đi đến gần trại Tào Tháo, trông về phía tả thấy rừng rậm um tùm, sợ có quân phục
lại phải trở về. Tháo biết quân Bố quay trở về, bảo với chư tướng rằng:
– Lữ Bố nghi trong rừng có quân
phục. Ta nên cắm rõ nhiều tinh kỳ để đánh lừa hắn. Mé Tây trại có một dải đường
đê không có nước, ta nên đem tinh binh ra phục ở đó. Ngày mai Lữ Bố tất đến đốt
rừng, quân phục trở ra đánh tập hậu chắc bắt được Lữ Bố.
Tháo nói xong làm ngay. Trong trại
Tháo chỉ để độ năm mươi người đánh trống và bắt bọn trai gái bắt được ở dân
thôn hò reo, còn bao nhiêu tinh binh phục cả ở sau đê. Quả nhiên Lữ Bố nghi
trong rừng có quân phục, hấp tấp về kể chuyện với Trần Cung. Cung nói:
– Tào Tháo có nhiều quỷ kế, không
nên khinh chiến đâu. Bố nói:
– Ta dùng mẹo hỏa công, chắc phá
được quân phục.
Liền sai Trần Cung, Cao Thuận giữ
thành rồi hôm sau kéo đại quân vào rừng đánh giặc. Ði xa xa đã trông thấy trong
rừng có cờ, kéo quân đi xấn lên, bốn mặt sai phóng hỏa. Rừng cháy ngùn ngụt
nhưng chẳng thấy người nào; muốn kéo quân về trại Tào Tháo, thì nghe thấy tiếng
trống đánh rầm rĩ cả lên. Trong bụng Lữ Bố còn đương nghi nghi hoặc hoặc, thì
chợt ở sau trại có toán quân kéo ra. Bố tế ngựa xấn lại. Bỗng nghe thấy một tiếng
pháo nổ, rồi quân phục ở sau đê trổ ra. Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Uyên, Hứa Chử, Ðiển
Vi, Lý Ðiển, Nhạc Tiến, tế ngựa kéo ồ cả ra. Lữ Bố liệu không địch nổi, vội
vàng chạy trốn. Tướng Bố là Thành Liêm bị Nhạc Tiến bắn một mũi tên chết. Quân
Bố ba phần chết mất hai. Quân thua có đứa chạy được về báo với Trần Cung. Cung
nói:
– Thành trống không, khó giữ, chi
bằng hãy bỏ chạy.
Liền cùng với Cao Thuận đưa vợ
con Lữ Bố bỏ Ðịnh Ðào mà đi. Quân Tào Tháo thừa thắng đánh bừa vào thành, đánh
đến đâu được đến đó, dễ như chẻ tre. Trương Siêu tự vẫn chết, Trương Mạc chạy
sang với Viên Thuật. Một sứ Sơn Ðông về tay Tào Tháo cả. Tháo phủ dụ dân chúng
sửa sang thành quách lại. Lữ Bố đang khi chạy trốn, gặp ngay các tướng đi kiếm
lương đã về. Trần Cung cũng vừa tìm đến nơi. Bố nói:
– Quân ta dù ít, còn đủ phá được
Tào Tháo. Liền lại kéo quân trở lại. Thế thực là:
Quay binh đánh lại ai lường được đâu
Chưa biết Lữ Bố phen này được
thua thế nào, xem hồi sau mới tỏ.
--------------------------------------------------------
Lý Thôi, Quách Dĩ một trận giao tranh
Dương Phụng, Đổng Thừa hai lần cứu giá
Tào Tháo đánh phá được Lữ Bố ở Ðịnh
Ðào. Bố thu nhặt tàn quân mã ở bờ bể, cùng các tướng định quay trở lại đánh
nhau với Tào Tháo. Trần Cung can rằng:
– Nay Tào Tháo binh thế lớn, mình
chưa tranh dành được với hắn. Hãy nên tìm xứ nào yên thân, về sau sẽ tính cũng
không muộn. Bố hỏi:
– Ta lại muốn sang với Viên Thiệu,
nên không? Cung nói:
– Hãy nên sai người sang Ký Châu,
dò xem tình ý ra sao, rồi hãy đi.
Bố nghe lời. Bấy giờ Viên Thiệu ở
Ký Châu nghe thấy Tào Tháo đánh nhau với Lữ Bố. Mưu sĩ của Thiệu là Thẩm Phối
nói rằng:
– Lữ Bố là một giống hổ sói. Nếu
hắn lấy được Duyện Châu, tất sang chiếm cả Ký Châu. Bất nhược ta giúp Tào Tháo
đánh Lữ Bố, về sau khỏi lo.
Thiệu sai Nhan Lương đem năm vạn
quân sang giúp Tào Tháo. Quân do thám nghe được tin, về báo với Lữ Bố. Bố sợ lắm,
bàn với Trần Cung. Cung nói:
– Tôi nghe Lưu Bị mới lĩnh đất Từ
Châu, ta nên sang nhờ ông ấy?
Bố nghe lời Cung, sang Từ Châu.
Có người báo với Lưu Bị, Bị nói:
– Lữ Bố là người anh dũng đời
nay, ta nên ra đón. My Chúc nói:
– Lữ Bố là giống hổ lang, không
nên chứa. Chứa hắn, tất có khi hắn hại người. Huyền Ðức nói:
– Trước kia nếu không có Lữ Bố
đánh ở Duyện Châu, thì Từ Châu sao thoát được nạn. Nay hắn thế cùng mà về với
ta, thì còn có bụng gì khác nữa. Trương Phi nói:
– Ðại huynh bụng rất tốt. Nhưng
phải đề phòng mới được.
Lưu Bị lĩnh quân ra khỏi thành ba
mươi dặm để đón Lữ Bố. Hai người cùng sóng đều ngựa đi vào thành, vào đến tận
châu nha. Chào mừng xong, mọi người an tọa. Bố nói:
– Từ khi Vương Tư Đồ giết Ðổng
Trác, về sau gặp cuộc biến loạn của bọn Thôi, Dĩ, tôi phải long đong ở xứ Quan
Ðông. Chư hầu nhiều người không dung, gần đây lại gặp Tào Tháo bất nhân, xâm
chiếm Từ Châu. May nhờ có sứ quân cố sức cứu Ðào Cung Tổ, tôi bấy giờ cũng đánh
úp được Duyện Châu, mới chia được thế của Tào Tháo; không ngờ tôi lại mắc phải
mưu gian, hao quân tổn tướng. Nay xin về với sứ quân, cùng toan việc lớn. Chưa
biết ý sứ quân nghĩ làm sao?
Huyền Ðức nói:
– Ðào sứ quân mới mất, không có
ai quản lĩnh Từ Châu, nên sai tôi tạm quyền cai quản. Nay may có tướng quân đến
đây, tôi xin nhường lại. Nói rồi liền đem bài ấn giao cho Lữ Bố.
Bố chực giơ tay đỡ lấy, lại thấy
sau lưng Lưu Bị có Quan Vũ, Trương Phi, hai người đều có vẻ mặt tức giận cả. Bố
giả cách cười nói rằng:
– Tôi là một đứa dũng phu, làm thế
nào được châu mục.
Lưu Bị lại xin nhường. Trần Cung
nói:
– Khách mạnh, không lấn được chủ.
Xin sứ quân đừng nghi.
Lưu Bị mới thôi, sai mở tiệc yến
khoản đãi, rồi sai dọn dẹp một nơi tươm tất để Lữ Bố nghỉ ngơi. Hôm sau Lữ Bố
làm tiệc mời lại Huyền Ðức. Lưu, Quan, Trương cùng đi. Uống rượu độ nửa chừng,
Lữ Bố mời Huyền Ðức vào nhà trong. Quan, Trương cùng theo vào. Lữ Bố sai vợ con
ra lạy. Huyền Ðức hai ba lần khiêm tốn không dám nhận. Lữ Bố nói:
– Hiền đệ tất phải khiêm nhường.
Trương Phi nghe thấy câu ấy, trợn mắt thét mắng:
– Anh ta là cành vàng lá ngọc.
Ngươi là đứa nào dám gọi anh ta là hiền đệ? Lại đây, ta đánh với ngươi ba trăm
hiệp. Lưu Bị vội vàng mắng át đi. Quan Công khuyên Trương Phi đi ra, rồi lấy lời
ôn tồn nói với Lữ Bố rằng:
– Em tôi uống rượu say nói càn,
xin anh đừng chấp.
Bố lặng yên không nói. Một hồi,
tiệc tan. Lữ Bố tiễn Lưu Bị ra tận cửa, Trương Phi cưỡi ngựa đi ngang ngoài cửa
thét to:
– Lữ Bố, ta đánh với ngươi ba
trăm hiệp. Lưu Bị vội vàng sai Quan Công ra bảo Trương Phi phải thôi đi. Ðến
hôm sau, Lữ Bố đến từ giã Lưu Bị nói rằng:
– Sứ quân không nỡ bỏ tôi, nhưng
chỉ sợ lệnh đệ không dung. Vậy tôi xin đi nơi khác. Lưu Bị nói:
– Nếu tướng quân đi thì tội tôi
chẳng hóa ra to lắm ru. Em tôi hắn hỗn với tướng quân, hôm khác tôi xin bắt hắn
đến xin lỗi. Gần đây có ấp Tiểu Bái, khi trước tôi cũng đóng đồn ở đó. Xin tướng
quân chớ nề hẹp hòi tạm đến nghỉ ngựa. Lương thực và quân nhu, tôi xin cung ứng
cả.
Lữ Bố tạ ơn Lưu Bị, rồi dẫn quân
ra đóng ở Tiểu Bái. Lưu Bị từ bữa ấy chê trách Trương Phi mãi. Tào Tháo từ khi
bình được Sơn Ðông, dâng biểu tâu về triều đình. Triều đình thăng chức cho Tháo
làm Kiến Ðức tướng quân, phong làm Phi đình hầu.
Lúc bấy giờ Lý Thôi tự làm Đại Tư
mã, Quách Dĩ tự làm Đại Tướng quân, hoành hành không còn vị nể ai cả. Triều
đình không ai dám mở miệng. Thái Úy là Dương Bưu, Đại Tự Nông là Chu Tuấn mật
tâu với vua Hiến Ðế rằng:
– Nay Tào Tháo cầm hơn 20 vạn
quân, mưu thần, dũng tướng trong tay có vài mươi người. Nếu được người ấy để
phù trì xã tắc, tiêu trừ đứa gian phi, thì thiên hạ may lắm. Hiến Ðế khóc nói rằng:
– Trẫm bị hai đứa giặc ấy khinh
nhờn đã lâu. Nếu giết được thì hay lắm. Bưu tâu rằng:
– Thần có một mẹo, trước làm cho
hai đứa tự tàn hại lẫn nhau, rồi sau mới mời Tào Tháo đem binh vào giết, quét sạch
lũ giặc để yên triều đình. Hiến Ðế hỏi:
– Kế ấy là kế gì? Bưu tâu:
– Thần nghe vợ Quách Dĩ rất hay
ghen, nay sai người đến xúi vợ hắn, dùng kế phản gián, hai đứa giặc tất giết lẫn
nhau. Vua liền viết tờ mật chiếu, đưa cho Dương Bưu, sai Bưu thi hành kế ấy. Bưu
lập tức sai vợ, lấy cớ có việc đến phủ Quách Dĩ, nhân dịp bảo vợ Dĩ rằng:
– Tôi nghe Quách tướng quân thường
cùng với phu nhân Lý Tư Mã có tư tình với nhau, tình thân mật lắm. Nếu quan Tư
Mã biết chuyện tất bị tai vạ. Phu nhân nên giữ gìn đừng cho đi lại nữa là hơn.
Vợ Dĩ đem lòng ngờ ngay chồng, nói:
– Thảo nào! Mấy đêm nay nhà tôi
không về. Chẳng hóa ra đi làm việc vô sỉ ấy. Giá phu nhân không nói thì tôi
không biết, để từ nay tôi xin giữ gìn. Vợ Bưu từ giã về. Vợ Dĩ ra tiễn, hai ba
lần tạ ơn rồi mới trở vào. Ðược vài ngày, Quách Dĩ lại sắp sang nhà Lý Thôi ăn
yến. Vợ ngại, không cho đi nói rằng:
– Lý Thôi là người bất trắc lắm.
Và thời nay hai người anh hùng không chắc đứng lâu được với nhau. Phu quân sang
bên ấy, ví dụ trong khi ăn uống, Lý Thôi đánh thuốc độc, thiếp làm thế nào?
Quách Dĩ nhất định không nghe. Vợ
hai ba lần ngăn can. Buổi chiều Lý Thôi sai người đem biếu một mâm rượu. Vợ Dĩ
bỏ thuốc độc vào đồ ăn rồi mới bưng vào cho chồng. Dĩ định ăn ngay, vợ nói:
– Ðồ ăn ở ngoài đưa lại, không
nên ăn ngay.
Nói rồi đem đổ mội ít cho chó ăn
thử. Chó ăn chết liền. Từ đấy Quách Dĩ có bụng ngờ Lý Thôi. Một hôm tan chầu,
Lý Thôi lại mời Quách Dĩ về nhà uống rượu. Dĩ cũng đến. Ðến đêm tan tiệc, Dĩ
say mới trở về. Ngẫu nhiên đêm hôm ấy đau bụng. Vợ thấy vậy mới nói:
– Thôi lại ăn phải thuốc độc rồi.
Nói rồi sai lấy nước phân cho uống. Dĩ uống xong thổ ra hết đồ ăn, thì khỏi đau
bụng. Dĩ giận lắm, nói rằng:
– Ta với Lý Thôi cùng toan việc lớn
với nhau, nay bỗng dưng muốn hại ta. Ta không liệu trước tất mắc tay hắn. Liền
sửa sang giáp binh bản bộ mình để đi đánh Lý Thôi. Có người báo với Thôi. Thôi
nổi giận nói rằng:
– Quách Dĩ sao dám thế?
Thôi cũng đem giáp binh bản bộ lại
đánh. Hai người họp binh vài vạn ở dưới thành Trường An đánh nhau chán rồi, thừa
thế cướp bóc của dân. Cháu Lý Thôi là Lý Tiêm, dẫn quân đến vây cung điện, rồi
lấy hai cỗ xe, một cỗ chở thiên tử, mộc cỗ chở Phục hoàng hậu, rồi sai Giả Hủ,
Tả Linh đi giám áp xa giá; còn bao nhiêu phu nhân nội thị đều phải đi bộ cả.
Trong khi mọi người kéo ra cửa Hậu Tể, gặp ngay binh Quách Dĩ đến, bắn nhau tua
tủa. Cung nhân bị chết vô số. Lý Thôi từ đằng sau đánh lại, Quách Dĩ phải rút
lui, xa giá mạo hiểm ra ngoài thành, không ai phân giải điều gì, bị đưa ngay đến
dinh Lý Thôi. Quách Dĩ lui binh vào cung bắt hết cung tần thái nữ đem về trại,
rồi phóng hỏa đốt cung điện. Hôm sau, Quách Dĩ biết Lý Thôi cướp mất thiên tử
bèn đem binh đến trước cửa trại đánh nhau. Vua và hoàng hậu đều sợ hãi lắm. Ðời
sau có bài thơ than rằng:
Truyền đời trên dưới, mới chừng mười hai
Hoàn, Linh vô đạo nối ngôi
Hoạn quan chuyên chính, ra đời đã suy
Tam công Hà Tiến ra gì
Muốn trừ chuột xã gọi chi gian thần
Ðuổi sài rước hổ vào trong
Tây Châu giặc Ðổng nổi lòng dâm hung
Tư Ðồ mưu cậy má hồng
Khiến cho Ðổng, Lữ lẫn cùng giết nhau
Giặc tan dân đã bớt sầu
Biết đâu Lý, Quách ra màu hung hăng
Kinh thành cỏ rậm gai chằng
Sáu cung đói khát khổ đằng can qua
Vận trời đến buổi sút sa
Anh hùng chia sẻ sơn hà lìa tan
Vua sau coi đấy nên răn
Lọ vàng chớ để cho tan mẻ hoài
Sinh linh gan nát óc lầy
Máu oan lai láng tràn đầy non sông
Ta xem sử xót thương lòng
Thử ly thơ trước hãi hùng xưa nay
Bào tang giữ lấy lời này
Giươm thần cầm vững vẹn bày kỷ cương
Khi quân Quách Dĩ đến, Lý Thôi ra
trại đánh nhau. Quách Dĩ thua rút về. Lý Thôi mới đem xa giá vua và hoàng hậu rời
sang My Ổ, sai cháu là Lý Tiêm coi giữ, cấm nội sứ, không cho ai vào. Vua tôi
ăn uống bữa có bữa không. Thị thần người nào người ấy đói vỡ cả mặt. Một bữa
vua cho người ra hỏi Lý Thôi lấy năm hộc gạo và năm bộ xương trâu để cho kẻ hầu
người hạ ăn. Thôi nổi giận mắng rằng:
– Sớm chiều đã dâng cơm rồi, còn
đói gì nữa? Rồi lấy những thịt thiu cơm vữa đem cho. Hôi quá không ai ăn được,
vua mới mắng rằng:
– Nghịch tặc dám khinh ta như thế
à? Quan Thị Trung là Dương Dỳ kíp tâu rằng:
– Quân hắn đã tàn bạo đến thế
này, xin bệ hạ hãy nên nhịn, không nên trêu tức hắn.
Vua cúi đầu không nói gì nữa, tay
áo cồn gạt hai hàng nước mắt chứa chan. Chợt thấy tả hữu vào báo rằng:
– Có một đám quân mã, gươm giáo
sáng choang, chiêng trống om sòm, lại đây cứu bệ hạ.
Vua sai ra xem ai, thì là Quách
Dĩ, lại càng lo thêm.
– Ngoài thung lũng tiếng người
reo rầm rĩ tức là Lý Thôi dẫn quân đến đánh Quách Dĩ. Thôi cầm roi trỏ vào Dĩ mắng
rằng:
– Ta đối đãi với ngươi không bạc
bẽo gì, sao ngươi lại rắp tâm hại ta, hở Dĩ? Dĩ trả lời:
– Mày là đứa phản tặc, chẳng giết
để làm chi? Thôi nói:
– Ta bảo vệ vua ở đây, sao lại là
phản tặc? Dĩ nói:
– Thế là bức hiếp vua, sao gọi là
bảo vệ vua? Thôi nói:
– Nói làm chi nhiều, ta với ngươi
không dùng quân sĩ, chỉ hai người đánh nhau, người nào thắng thì được đem vua
đi.
Hai người liền đánh nhau ngay ở
trước trận. Ðánh nhau được mười hiệp, chưa rõ ai được thua, thì thấy Dương Bưu
tế ngựa lại gọi to lên rằng:
– Xin hai tướng quân hãy ngừng
tay. Tôi đã mời các quan đến đây để giảng hòa.
Hai bên ai về trại nấy. Dương Bưu
và Chu Tuấn hội họp các quan triều thần hơn 60 người, kéo nhau đến trại Quách
Dĩ dàn hòa trước. Dĩ bắt các quan giam cả lại. Các quan kêu rằng:
– Chúng tôi đến đây để bàn điều
hay, sao lại đối xử như thế? Quách Dĩ nói:
– Lý Thôi bức hiếp thiên tử, thì
ta cũng bức hiếp công khanh, chứ kém gì? Dương Bưu nói:
– Một người hiếp thiên tử, một
người hiếp công khanh, là ra làm sao?
Dĩ nổi giận lên, cầm kiếm toan giết
Dương Bưu, có quan trung lang tướng là Dương Mật cố can mãi, Dĩ mới tha cho Bưu
và Chu Tuấn, còn các quan thì giam cả lại trong trại. Ra ngoài Bưu bảo với Tuấn
rằng:
– Anh em mình làm tôi xã tắc, nay không cứu được chúa, sống ở trên đời cũng là thừa. Nói xong hai người ôm lấy nhau khóc, ngất ngã lăn xuống đất. Tuấn về nhà lo nghĩ thành bệnh chết.
Từ bấy
giờ Thôi, Dĩ cứ mỗi ngày một lần đánh nhau ròng rã hơn 50 ngày trời, quân chết
không biết bao nhiêu mà kể. Lý Thôi tính hay ưa tà đạo và thuật yêu quái, thường
thường cho bà cốt lên đồng ở trong quân. Giả Hủ can mãi không nghe. Quan Thị
Trung là Dương Kỳ thấy vậy liền mật tâu với vua rằng:
– Thần xem Giả Hủ, tuy làm tâm
phúc Lý Thôi nhưng thực bụng vẫn chưa từng quên vua. Bệ hạ nên bàn với hắn.
Ðang nói thì Giả Hủ ở đâu đến. Vua đuổi tả hữu đứng ra xa, rồi khóc bảo Hủ rằng:
– Ngươi có thương nhà Hán mà cứu
lấy trẫm không? Hủ phục xuống đất, lạy thưa rằng:
– Xin bệ hạ chớ nói ra. Bụng thần
vốn vẫn muốn thế, thần xin sẽ liệu việc ấy.
Vua gạt nước mắt tạ Hủ. Ðược một
chốc, Lý Thôi lại đeo kiếm đi thẳng vào. Mặt vua xám ngắt. Thôi nói với vua rằng:
– Quách Dĩ là đứa bất nhân, hắn dám giam giữ các công khanh, lại muốn bức hiếp cả bệ hạ, không có tôi, xa giá bị xiêu dạt rồi. Vua chắp tay tạ, Thôi mới ra.
Rồi lại có Hoàng Phủ Lịch vào ra mắt,
vua biết Lịch là người nói khéo, lại là người làng Lý Thôi, bèn sai Lịch ra giải
hòa hai bên. Lịch vâng chiếu, đến trại Quách Dĩ nói. Dĩ bảo:
– Hễ Lý Thôi có đưa thiên tử ra
thì ta tha các công khanh. Lịch lại đến. Lý Thôi bảo rằng:
– Nay thiên tử biết tôi là người
Tây Lương, cùng làng với ông, nên sai tôi đến giải hòa cho hai ông. Dĩ phụng
chiếu rồi, còn ông thế nào? Thôi nói:
– Ta có công đánh được Lữ Bố, làm
phụng chính đã bốn năm nay, công trạng rất nhiều. Thiên hạ ai cũng biết. Quách
Dĩ bất quá là một đứa ăn trộm ngựa mà thôi, thế mà hắn dám ăn hiếp công khanh,
và chống lại ta. Ta thề phen này phải giết hắn. Ông thử trông xem quân sĩ và kế
hoạch của ta, có đánh nổi được tên Quách Dĩ không? Lịch nói:
– Không nên! Ngày xưa Hậu Nghệ ở xứ Hữu Cùng cậy mình bắn giỏi, không biết lo nghĩ, đến nỗi tuyệt diệt. Vừa mới rồi, Ðổng Thái sư cường thịnh bao nhiêu, rồi sau thế nào, mắt ông đã trông thấy rành rành, Lữ Bố đội ơn Ðổng Thái sư mà lại giết Ðổng Thái sư, chỉ trong giây phút, đầu Thái sư treo cửa chợ, xem thế thì cường thịnh có vững chắc gì. Tướng quân mình làm Thượng tướng cầm phủ việt, cắp cờ tiết, họ hàng con cháu đều ở ngôi cao; ơn nước không phải không hậu. Quách Dĩ hiếp công khanh, ông hiếp vua, thế thì bên nào nhẹ, bên nào nặng?
Lý Thôi giận lắm, rút kiếm ra mắng rằng:
– Thiên tử sai ngươi nổi dậy để
làm nhục ta hay sao? Trước hết ta hãy chém đầu ngươi.
Kỵ Đô Úy là Dương Phụng can rằng:
– Nay chưa trừ được Quách Dĩ, lại
đem giết sứ nhà vua, tôi e Quách Dĩ vịn cớ để khởi binh, chư hầu ai cũng sẽ
giúp hắn. Giả Hủ cũng cố can, Thôi mới nguôi cơn giận. Hủ đẩy Hoàng Phủ Lịch
ra. Lịch kêu to lên rằng:
– Lý Thôi không phụng chiếu, muốn
giết vua để lên ngôi báu. Thị trung là Hồ Mặc vội vàng ngăn nói rằng:
– Ðừng nói câu ấy, sợ sẽ không lợi
cho bản thân. Lịch mắng rằng:
– Hồ Mặc! Ngươi cũng là tôi triều đình, sao lại về bè với giặc? Vua nhục thì tôi phải chết. Dù ta bị Lý Thôi giết, là ta trọn đạo làm tôi chứ sao? Lịch vừa nói vừa mắng mãi không thôi.
Vua thấy
vậy vội vàng sai Lịch trở về Tây Lương. Quân Lý Thôi quá nửa là người ở Tây
Lương, lại được người ở nước Khương giúp đỡ. Hoàng Phủ Lịch đến Tây Lương, nói
toáng lên rằng:
– Lý Thôi mưu làm phản, hễ ai
theo hắn là giặc và tai họa về sau sẽ không lường được. Nhiều người Tây Lương
tin lời của Lịch, lòng quân sĩ của Lý Thôi cũng dần dần nao núng. Thôi nghe tin
ấy giận lắm, kíp sai hổ bôn là Vương Sương đuổi theo. Sương biết Lịch là người
trung nghĩa, không đi đuổi về báo rằng:
– Không biết Lịch đi đằng nào. Một
mặt thì Giả Hủ dỗ người nước Khương rằng:
– Thiên tử cũng biết các ngươi là
trung nghĩa, đánh mãi thì khổ nhọc. Bởi vậy bệ hạ có mật chiếu cho các ngươi về
quận, ngày sau sẽ có thưởng to. Người nước Khương đang oán sẵn Lý Thôi không
cho hưởng tước, liền nghe lời Giả Hủ, kéo cả về Hủ, lại mật tâu với vua rằng:
– Lý Thôi tham mà vô mưu, thấy
binh lính bỏ về, bụng đã lo sợ, bệ hạ nên lấy trọng tước mà giữ hắn. Vua liền hạ
chiếu phong Lý Thôi làm đại tư mã, Thôi mừng nói rằng:
– Phúc này thật là thần thánh ban
cho ta. Lạy thánh vạn lạy, có cúng có bái cũng có hơn. Thôi thưởng to cho các đồng
cốt, còn quân tướng thì không nói gì đến. Kỵ Đô Úy là Dương Phụng giận lắm bàn
với Tống Quả rằng:
– Chúng ta ra sống vào chết, xông
pha mũi tên hòn đạn, mà té ra công trạng không bằng mấy mụ đồng bóng. Tống Quả
nói:
– Thế thì sao không giết hắn đi
mà cứu thiên tử? Phụng nói:
– Ngươi ở trong quân đốt lửa làm hiệu, rồi ta ở ngoài kéo binh vào tiếp ứng.
Hai người hẹn nhau canh hai đêm hôm ấy khởi sự. Không ngờ việc không kín, tiết lộ ra có người nghe thấy, báo với Lý Thôi. Thôi giận sai người bắt Tống Quả giết đi. Dương Phụng dẫn binh ở ngoài chờ mãi không thấy hiệu lửa. Lý Thôi tự đem quân ra, vừa gặp Dương Phụng đến. Hai bên đánh nhau đến canh tư, Phụng không đánh nổi, chạy về Tây An.
Từ đấy, quân
thế Lý Thôi mỗi ngày một suy, lại thường thường bị Quách Dĩ đến đánh, quân sĩ bị
giết chết rất nhiều, chợt lại có người báo rằng:
– Trương Tế thống lĩnh một cánh đại quân từ Thiểm Tây đến, muốn giảng hòa cho hai bên, nói rao lên rằng: bên nào không nghe thì đánh.
Thôi nhân thể lấy lòng Trương Tế, sai người đến Quách Dĩ cầu
hòa. Dĩ cũng phải vâng theo Trương Tế dâng biểu mời thiên tử ra chơi ở Hoằng
Nông. Vua mừng nói rằng:
– Ta đã lâu nay nhớ Ðông Ðô lắm. Nay nhân thể được về, lấy làm may lắm.
Liền hạ chiếu phong Trương Tế làm Phiêu Kỵ
tướng quân. Tế dâng lương thực, rượu thịt để cung cấp cho các quan. Quách Dĩ
cũng tha cho các công khanh ra trại. Lý Thôi cũng thu xếp xa giá để về Ðông Ðô,
sai vài trăm quân ngự lâm, cầm kích đi hộ tống. Khi loan giá qua Tân Phong đến
Bá Lăng, trời về tiết thu, bỗng nổi cơn gió lạnh, nghe thấy có tiếng reo, rồi
thấy vài trăm quân đến đầu cầu chẹn đường, không cho xa giá đi, quát to hỏi rằng:
– Người nào qua đây? Thị Trung là
Dương Kỳ tế ngựa lên cầu nói rằng:
– Xe vua qua đây, đứa nào dám
ngăn trở? Có hai tướng ra nói:
– Chúng tôi vâng lệnh. Quách tướng
quân sai giữ cầu này, phòng kẻ gian phi. Có phải xa giá vua đi, xin được trong
thấy vua, chúng tôi mới tin. Dương Kỳ mở rèm châu ra, vua mới dụ bảo rằng:
– Trẫm ở đây, sao các ngươi không
lui quân? Các tướng trông thấy, đều reo: Vạn tuế! rồi đứng ra hai bên, để xa
giá đi qua. Xe đi rồi, hai tướng về báo với Quách Dĩ. Dĩ nói:
– Ta ý muốn đánh lừa Trương Tế, bắt xa giá quay về My Ổ, sao các ngươi lại tự tiện tha ngay?
Dĩ liền chém hai tướng
rồi khởi binh đi đuổi xe vua. Xe đi đến huyện Hoa Âm, bỗng nghe đằng sau có tiếng
reo vang dậy, gọi to rằng:
– Xa giá đừng đi vội. Vua khóc bảo
với đại thần rằng:
– Vừa thoát hang sói, lại gặp miệng
hùm. Bây giờ tính làm sao?
Các quan sợ mất vía. Quân giặc gần đến nơi, chợt nghe đằng sau có tiếng trống đánh, rồi có một tướng đi lên trước, sau có một lá cờ lớn đề bốn chữ Ðại Hán Dương Phụng, kéo hơn một ngàn quân ra.
Nguyên Dương Phụng từ khi bị Lý Thôi đánh, dẫn quân đến đóng ở núi Chung Nam,
nghe tin vua đi qua đấy nên đến để đi theo hộ giá. Giữa khi ấy quân Dĩ đến nơi.
Hai bên dàn thành thế trận. Tướng Quách Dĩ là Thôi Dũng phóng ngựa ra, mắng Phụng
là phản tặc. Phụng giận lắm, ngoảnh đầu lại gọi:
– Công Minh ở đâu? Một tướng, tay
cầm búa lớn, quất ngựa hoa lưu chạy ra, xông thẳng vào đánh Thôi Dũng. Hai ngựa
giao nhau, chỉ một hiệp, đầu Dũng đứt rơi dưới chân ngựa. Phụng thừa thế đánh
tràn vào, Quách Dĩ thua to, lui hai mươi dặm. Phụng thu quân bái kiến thiên tử.
Vua dụ bảo rằng:
– Ngươi cứu được trẫm, công thực
to. Phụng cúi đầu lạy tạ. Vua phán hỏi:
– Tướng vừa chém được giặc là ai?
Phụng dắt tướng ấy lại lạy tạ ở dưới xa giá, rồi thưa rằng:
– Người này vốn ở Dương Quận, xứ Hà Ðông, họ Từ tên Hoảng, tên chữ là Công Minh. Vua lấy lời phủ dụ. Dương Phụng hộ vệ xa giá đến đóng ở Hoa Âm. Tướng quân là Ðoàn Y dâng y phục và đồ ăn uống.
Ðên hôm ấy vua nghỉ trong trại Dương Phụng. Quách Dĩ thua một trận, hôm sau đem
quân kéo đến cửa trại thách đánh, Từ Hoảng cưỡi ngựa ra trước. Dĩ thả đại quân
vây bọc tám mặt. Vua và Dương Phụng cùng bị khốn ở trong vây.
Ðương lúc nguy cấp, chợt nghe mé
Đông Nam, có tiếng reo nổi ầm, rồi thấy một tướng kéo quân mã đến, phá quân giặc
tan vỡ. Từ Hoảng mới thừa thế đánh ra, quân Dĩ bị thua chạy tan vỡ. Tướng ấy đến
ra mắt vua, đó là quốc thích Ðổng Thừa. Vua khóc kể lại chuyện trước. Thừa tâu
rằng:
– Xin bệ hạ đừng lo, tôi xin cùng
với Dương tướng quân thề chém hai đứa giặc ấy để yên thiên hạ. Vua truyền lệnh
đi mau đến Ðông Ðô. Xa giá đi suốt đêm ấy đên Hoằng Nông. Quách Dĩ thua, kéo
quân về, vừa gặp ngay Lý Thôi, Dĩ nói:
– Dương Phụng, Ðổng Thừa cứu giá
đến Hoằng Nông rồi. Nếu để chúng đi được đến Sơn Ðông, có chỗ đứng chân vững
vàng, tất nhiên sẽ bố cáo thiên hạ, mời chư hầu đến đánh anh em ta, thì ba họ
nhà chúng ta cũng không giữ nổi. Thôi nói:
– Nay Trương Tế đóng quân ở Trường
An, chưa nên khinh động. Ngươi cùng ta nên tụ quân lại một nơi, rồi đến thẳng
Hoằng Nông, giết phăng Hiến Ðế đi, chia thiên hạ làm đôi mỗi người một nửa thì
có hay không?
Dĩ mừng lắm, xin vâng ngay. Hai
người họp quân làm một, đi đến đâu cướp bóc vét sạch của dân đến đấy Dương Phụng,
Ðổng Thừa nghe tin quân Thôi, Dĩ kéo đến, liền quay binh trở lại, đánh nhau to ở
Ðông Gián. Thôi, Dĩ bàn với nhau rằng:
– Quân ta nhiều, quân chúng ít.
Ta cứ đánh bừa đi là được.
Nói xong rồi, Lý Thôi ở tả, Quách
Dĩ ở hữu, kéo tràn quân lại, đầy cả núi, lấp cả đồng. Phụng, Thừa hai người cố
liều chết mà đánh, chỉ giữ riết lấy xa giá của vua và hoàng hậu còn các quan,
các cung nhân và sổ sách, đồ đạc, các thứ của vua dùng, phải vứt bỏ cả. Quách
Dĩ kéo quân vào Hoằng Nông cướp bóc, Ðổng Thừa, Dương Phụng hộ xa giá chạy sang
Thiểm Bắc. Thôi, Dĩ chia quân hai đường đi đuổi. Thừa, Phụng một mặt sai người
cùng với Quách Dĩ giảng hòa, một mặt mật đưa chiếu chỉ đến Hà Ðông, kíp với tướng
Bạch Ba là Hàn Tiêm, Lý Nhạc và Hồ Tài, đem quân mã ba xứ lại cứu.
Lý Nhạc nguyên là giặc cỏ tụ tập ở
núi rừng nay bất đắc dĩ cũng phải triệu đến. Quân ba xứ được tin vua tha tội, lại
cho làm quan, liền đem cả quân sĩ bản doanh của mình đến, phối hợp với Ðổng Thừa
cùng nhau hội họp làm một lấy lại Hoằng Nông.
Bấy giờ Lý Thôi, Quách Dĩ đi đến
đâu, cướp bóc đến đấy, người già yếu đem giết sạch, người khỏe mạnh bắt đi theo
làm quân, khi nào đánh nhau bắt dân binh đi trước, gọi là quân cảm tử. Thế giặc
Lý, Quách to lắm.
Quân Lý Nhạc đến gặp giặc ở Vị
Dương Quách Dĩ sai quân đem áo sống, đồ đạc bỏ cả dọc đường. Quân Nhạc thấy áo
sống ngổn ngang cả đất, tranh nhau nhặt lấy, nhốn nháo mất cả hàng ngũ. Thôi,
Dĩ hai cánh quân đánh dồn lại. Quân Nhạc thua to. Dương Phụng chống chế không nổi,
hộ giá chạy sang mặt Bắc. Quân giặc đuổi theo sau lưng. Lý Nhạc nói:
– Việc kíp rồi xin thiên tử lên
ngựa đi trước. Vua nói:
– Ta không nỡ bỏ trăm quan chạy lấy
một mình. Các quân cùng kêu khóc đi theo. Hồ Tài bị quân giặc giết mất. Phụng,
Thừa, thấy giặc đuổi gấp lắm, tâu xin vua xuống xe đi bộ. Ði đến bờ Hoàng Hà,
Lý Nhạc tìm được một chiếc thuyền nhỏ để sang sông. Bấy giờ trời đang giá rét.
Vua và hoàng hậu dắt nhau đến bờ sông, bờ cao quá không xuống được thuyền. Ðằng
sau giặc sắp đến nơi. Dương Phụng nói rằng:
– Nên cởi cương ngựa ra, chắp nối
lại, buộc vào lưng vua, để đưa xuống thuyền. Trong đám có Quốc Cữu là Phục Ðức
cắp vài chục tấm lụa trắng, chạy lại nói rằng:
– Trong lúc quân rối loạn, tôi có
nhặt được lụa này, xin đem để buộc.
Hành Quân Hiệu Úy là Thượng Hoằng
lấy lụa buộc vào lưng vua và hoàng hậu, sai quân sĩ ròng vua xuống thuyền trước.
Lý Nhạc cầm thanh kiếm đứng ở đầu thuyền. Quốc cữu Phục Ðức (vốn là anh hoàng hậu)
cõng hoàng hậu xuống. Trên bờ những người chưa được xuống, tranh nhau vịn vào
dây neo, Lý Nhạc lấy kiếm chặt dây rơi cả xuống nước. Khi chở được vua và hoàng
hậu sang sông, lại đẩy thuyền lại để chở các quan và quân sĩ. Những người tranh
nhau xuống trước bị chặt gẫy cả ngón tay kêu khóc rầm trời.
Lúc sang được bên kia sông, tả hữu
vua chỉ còn có hơn mười người. Dương Phụng tìm được một cái xe trâu, rước vua đến
Ðại Dương. Hôm ấy phải nhịn đói. Ðến tối mới kiếm được ngôi nhà ngói vào ngủ.
Các bô lão đem cơm dâng, để vua và hoàng hậu xơi, nhưng gạo xấu cơm hẩm, vua và
hoàng hậu không sao nuốt được. Hôm sau vua hạ chiếu phong cho Lý Nhạc làm Chinh
Bắc tướng quân, Hàn Tiêm làm Chinh Đông tướng quân, rồi lại lên xa giá đi. Lúc
đi có hai đại thần tìm đến khóc và lạy ở trước xa giá. Hai người ấy là thái úy
Dương Bưu và thái bộc Hàn Dung. Vua và hoàng hậu cũng khóc. Hàn Dung mới tâu rằng:
– Lý Thôi, Quách Dĩ rất tin lời
tôi, tôi nguyện liều thân sang dụ chúng bãi binh. Xin bệ hạ giữ lấy long thể.
Hàn Dung đi rồi, Lý Nhạc mời vua
vào trại Dương Phụng tạm nghỉ, Dương Bưu lại mời vua về huyện An Ấp. Vua đến An
Ấp không có nhà nào cao sạch, vua và hoàng hậu phải vào trọ trong nhà tranh, bốn
mặt của ngõ không có, chỉ có rào gai tre. Vua và các quan đại thần vào trong
nhà tranh ấy bàn việc. Các tướng đóng quân ở bên ngoài hàng rào để bảo vệ. Bọn
Lý Nhạc từ khi đến giúp vua, ra mặt chuyên quyền. Các quan hơi có ai nói chạm đến,
chúng mắng liền ngay trước mặt vua. Chúng lại đưa cho vua ăn uống những rượu đục
cơm thô. Vua cũng cứ phải cắn răng mà chịu.
Lý Nhạc và Hàn Tiêm lại có hơn
hai trăm đầy tạ bộ hạ, nào thầy cúng, nào thầy thuốc. Hai đứa tâu cho làm hiệu
úy, ngự sử cả. Khắc ấn không kịp, lấy dùi vạch gõ ra làm ấn, chẳng ra thể thống
gì nữa. Hàn Dung sang nói vớii Lý Thôi, Quách Dĩ. Hai tên giặc ấy cũng nghe,
tha cho các quan và những cung nhân được về. Năm ấy mất mùa to. Trăm họ phải ăn
những rau cỏ và ăn táo trừ bữa, chết đói khắp cả thôn dã. Thái thú Hà Nội là
Trương Dương dâng gạo thịt, thái thú Hà Ðông dâng lụa vải, vua cũng hơi được
ung dung một chút. Ðổng Thừa, Dương Phụng bàn nhau rằng:
– Ta nên sai người đi sửa lại các
cung điện ở Lạc Dương để rước xa giá về Ðông Ðô. Lý Nhạc không nghe, Ðổng Thừa
mới bảo Nhạc rằng:
– Lạc Dương vốn là nơi thiên tử
đóng đô. An Ấp là chỗ đất nhỏ, không sao để được xa giá ở đấy. Nay phụng giá về
Lạc Dương là phải hơn. Lý Nhạc nói:
– Có phải thế, các ông cứ việc phụng
giá đi, ta cứ đóng ở đây.
Dương Phụng, Ðổng Thừa cứ phụng
giá đem đi. Nhạc ở lại, sai người kết liên với Lý Thôi, Quách Dĩ, bàn nhau cùng
lại để cướp giá. Phụng, Thừa với Tiêm biết trước được mưu ấy, liền đêm hôm ấy
dàn bày quân sĩ, để gìn giữ giá vua, đi vụt ngay đến Cơ Quan. Lý Nhạc nghe tin ấy,
không đợi quân Thôi, Dĩ đến nữa, tự mình dẫn quân mã bản bộ mình đi đuổi xa
giá. Ðến canh tư đuổi kịp đến dưới núi Cơ Sơn, thét to lên rằng:
– Xa giá không được đi vội. Lý
Thôi, Quách Dĩ ở đây.
Vua Hiến Ðế sợ run không được. Thế
rõ thực là:
Nay thì ba giặc hợp quần với nhau
Chưa biết vua Hiến Ðế phen này
làm thế nào mà thoát nạn. Xem đến hồi sau sẽ rõ.
Tào Mạnh Đức rời giá đến Hứa Đô
Lã Phụng Tiên đang đêm cướp Từ quận
Lý Nhạc đem quân đuổi theo xa
giá, trá xưng là Lý Thôi, Quách Dĩ. Vua giật mình lo sợ, Dương Phụng nói:
– Ðây là Lý Nhạc đấy.
Phụng sai Từ Hoảng ra đánh, Lý Nhạc
tự mình ra địch. Hai ngựa giao nhau, mới được một hiệp, Hoảng chém một nhát
búa, Nhạc chết ngã dưới chân ngựa. Bọn giặc còn lại chạy tan tác cả. Phụng bảo
vệ xa giá đi qua Cơ Quan, Thái Thú là Trương Dương đem thóc lúa ra đón ở cạnh
đường, vua phong cho Dương làm Đại Tư Mã. Dương từ tạ vua ra đóng đồn ở Giã
Vương. Vua vào Lạc Dương trông thấy của nhà bị đốt cháy hết cả; đường sá rậm rạp;
cỏ mọc cao lấp mắt; trong cung điện chỉ có tường đổ, vách nát. Vua sai Dương Phụng
cất tạm một cái cung nhỏ để ở. Trăm quan vào triều mừng đều phải đứng trong đám
gai góc. Vua hạ chiếu đổi niên hiệu Hưng Bình làm Kiến An năm đầu.
Năm ấy mất mùa to. Dân Lạc Dương
còn được vài trăm nóc nhà, cũng không có gì ăn, phải ra ngoài thành, bóc vỏ
cây, đào rễ cỏ mà ăn. Còn các quan thì từ Thượng Thư trở xuống cũng phải ra
thành hái rau. Có nhiều người bị đè chết ở những chỗ tường đổ vách nát. Khí vận
đời nhà Hán lúc bấy giờ thực là suy đốn, không khi nào người ta từng thấy những
cảnh khổ não nhường ấy. Ðời sau có thơ than rằng:
Cờ đỏ tung hoành khắp bốn phương
Ðuổi sộc hươu Tần, gây xã tắc
Ðạp quay ngựa Sở, mở phong cương
Vua hèn nên để gian tà lắm
Nước loạn sinh ra giặc giã hoang
Trông thấy đôi kinh khi vận nạn
Dẫu rằng dạ sắt cũng sinh thương
Thái Úy là Dương Bưu tâu với vua
rằng:
– Trước bệ hạ đã giáng chiếu,
chưa kịp sai ai mang đi. Nay Tào Tháo ở Sơn Ðông, binh hùng tướng giỏi. Nên
truyền gọi y vào chầu để giúp nhà vua. Vua nói:
– Trước ta đã giáng chiếu rồi,
ngươi không cần phải tâu nữa. Cứ sai người mang đi lập tức là xong.
Bưu lĩnh chỉ, sai ngay người sang
Sơn Ðông với Tào Tháo.
Tào Tháo ở Sơn Ðông, nghe tin xa
giá vua đã về đến Lạc Dương, họp những mưu sĩ để bàn. Tuân Úc nói:
– Ngày xưa, Tấn Văn-công phụng
Tương Vương vào làm vua, chư hầu ai cũng phục. Hán Cao Tổ để tang Nghĩa Ðế, ai
cũng theo. Nay thiên tử mắc nạn, tướng quân nhân dịp này, cất nghĩa binh, phụng
thiên tử để theo nguyện vọng của dân chúng, sách lược rất hay. Nếu ta không làm
ngay, người khác sẽ làm trước ta.
Tháo mừng rỡ, đang thu xếp để cất
quân đi thì có sứ giả nhà vua đem chiếu đến. Tháo tiếp được tờ chiếu, cất quân
đi liền. Vua ở Lạc Dương, trăm việc còn thiếu thốn cả. Thành quách đổ nát cũng
chưa sửa sang được. Chợt lại có người báo rằng:
– Lý Thôi, Quách Dĩ lại sắp kéo
quân đến. Vua sợ hãi mới hỏi Dương Phụng:
– Sứ Sơn Ðông chưa về, nay quân
Lý, Quách lại đến, làm thế nào bây giờ? Dương Phụng, Hàn Tiêm đều nói:
– Hai chúng tôi xin hết sức đánh
để bảo vệ bệ hạ. Ðổng Thừa nói:
– Thành quách không bền, binh
lính lại ít, đánh ngộ thua thì làm thế nào? Sao bằng rước giá tránh sang Sơn
Ðông có hơn không?
Vua theo lời, ngay hôm ấy khởi
giá sang Sơn Ðông. Trăm quan không người nào có ngựa cưỡi, đều đi bộ theo giá.
Vừa ra khỏi Lạc Dương, chưa đi được một bước đường nào, đã thấy ở đằng xa xa, bụi
bốc mù trời, chiêng trống vang rầm, không biết cơ man nào là quân mã kéo đến.
Vua và Hoàng hậu run sợ quá không nói được, chợt thấy một tên kỵ mã đến, tức là
sứ giả đi Sơn Ðông trở về. Sứ giả đến trước giá lạy rồi tâu rằng:
– Tào tướng quân khởi hết cả quân
Sơn Ðông, vâng chiếu mệnh đến ngay và nghe thấy Lý Thôi, Quách Dĩ xâm phạm vào
Lạc Dương, cho nên trước hết sai Hạ Hầu Ðôn làm tiên phong, dẫn mười viên tướng
giỏi và năm vạn tinh binh lại đây trước để hộ giá.
Vua nghe thấy thế, trong bụng mới
hơi yên. Ðược một lát quả Hạ Hầu Ðôn dẫn Hứa Chử, Ðiển Vi lại lấy quân lễ yết
kiến vua. Vua úy dụ vừa xong, lại có người báo:
– Mặt Đông có một toán quân kéo đến.
Vua sai Hạ Hầu Ðôn ra xem ai. Ðôn trở về tâu rằng:
– Ðó là một bộ quân của Tào Tháo
đã đến.
Ðược một hồi Tào Hồng, Nhạc Tiến,
Lý Ðiển vào ra mắt. Ba người tâu xưng tên tuổi xong, Hồng tâu rằng:
– Anh tôi thấy giặc sắp đến, sợ Hạ
Hầu Ðôn không đánh nổi, nên sai chúng tôi đi gấp đường đến đây để giúp bệ hạ.
Vua mừng phán rằng:
– Tào tướng quân thế mới thực là
bầy tôi xã tắc.
Vua phán rồi sai hộ giá để đi. Giữa
lúc ấy lại có thám mã báo rằng:
– Lý Thôi, Quách Dĩ đem quân kéo
tràn đến.
Vua sai Hạ Hầu Ðôn chia quân làm
hai cánh ra đón đánh. Một bên Ðôn, một bên Hồng, chia ra hai đường, quân kỵ đi
trước, quân bộ đi sau, đánh nhau rất hăng với Lý Thôi, Quách Dĩ. Quân Thôi, Dĩ
thua to. Ðôn, Hồng chém được hơn một vạn đầu giặc; vững thế rồi xin rước vua đi
trở lại Lạc Dương. Vua trở về cung, Hạ Hầu Ðôn đóng quân ở ngoại thành.
Hôm sau, Tào Tháo tự lĩnh đại đội
binh mã kéo đến. Lập trại đâu vào đấy rồi vào ra mắt vua, lạy ở dưới thềm. Vua
cho Tháo đứng dậy, tuyên dụ ôn tồn. Tháo tâu rằng: “Tôi được nhờ ơn nhà nước,
lúc nào cũng lo việc báo đền. Nay Lý Thôi, Quách Dĩ hai đứa giặc đầy tội ác.
Tôi có hai mươi vạn tinh binh, lấy chính nghĩa đánh gian tà, thế nào cũng thắng,
đánh tất phải được. Xin bệ hạ giữ gìn long thể, lấy xã tắc làm trọng”.
Vua liền phong cho Tào Tháo lĩnh
chức Tư Lệ Hiệu úy, cho cờ tiết và lưỡi phủ việt, coi tòa thượng thư. Lý Thôi,
Quách Dĩ biết Tháo từ xa mới đến, bàn nhau muốn đánh ngay. Giả Hủ can rằng:
– Không nên, Tào Tháo binh hùng,
tướng dũng. Không bằng đầu hàng may ra thì khỏi phải tội.
Lý Thôi giận mắng rằng:
– Ngươi dám làm nhục nhuệ khí của
ta? Nói rồi rút kiếm toan chém Giả Hủ. Các tướng cố sức ngăn can, mới tha. Ðêm
hôm ấy Giả Hủ lên ngựa một mình về thẳng quê nhà.
Hôm sau, Lý Thôi đem quân mã đến
đánh quân Tào Tháo. Tháo sai Hứa Chử, Tào Nhân, Ðiển Vi lĩnh ba trăm quân thiết
kỵ đem ra riễu ở trước trận Lý Thôi ba vòng rồi mới bày trận.
– Bên giặc, cháu Lý Thôi là Lý
Thiêm, Lý Biệt cưỡi ngựa ra trước. Chưa kịp nói điều nào, Hứa Chử đã tế ngựa
xông vào, đưa một nhát đao, Lý Thiêm chết quay xuống đất. Lý Biệt trông thấy giật
mình cũng ngã ngựa, rồi bị Hứa Chử chém nốt. Chử xách hai đầu chạy về. Tào Tháo
mừng vỗ vào lưng Hứa Chử nói rằng:
– Anh thực là Phàn Khoái của ta.
Liền sai Hạ Hầu Ðôn đem quân ra mặt
tả, Tào Nhân lĩnh quân ra mặt hữu, Tháo tự lĩnh trung quân xông vào trận. Một
tiếng trống nổi lên, ba đội quân cùng tiến. Quân giặc chống cự không nổi, thua
chạy. Tháo cầm thanh bảo kiếm thúc quân vào, đuổi giết suốt đêm. Giặc chết nhiều
lắm, xin hàng không biết bao nhiêu mà kể. Thôi, Dĩ chạy trốn về phía Tây, hạt
ha hớt hoảng, như chó lạc chủ; tự biết thân không còn nương tựa vào đâu được nữa,
hai đứa cùng trốn vào nơi rừng rú làm giặc cỏ kiếm ăn. Tào Tháo đem binh về, đóng
đồn ở ngoài thành Lạc Dương. Dương Phụng, Hàn Tiêm hai người bàn với nhau rằng:
– Tào Tháo phen này có công to, tất
sẽ nắm trọng quyền, sao còn dung bọn chúng ta?
Bèn vào tâu với vua, rồi mượn tiếng
xin đi đuổi Lý Thôi, Quách Dĩ, kéo quân bản bộ của mình sang đóng ở Ðại Lương.
Một hôm vua sai sứ vào trại Tào Tháo, để gọi Tháo vào cung bàn việc. Tháo nghe
tin có sứ đến, mời vào dinh thì thấy người ấy mày cong mắt đẹp, tinh thần sảng
khoái. Tháo nghĩ thầm rằng:
– Nay ở Ðông Quận này trời làm
đói kém, từ quân lính cho chí dân, ai ai cũng có vẻ đói, sao người này béo tốt
được như thế này. Nhân mới hỏi ngay rằng:
– Tôi trông mặt ngài đầy đặn lắm,
xin dám hỏi điều dưỡng như thế nào mà được như vậy? Sứ thưa rằng:
– Thưa tôi cũng không có phép gì
lạ cho lắm, vốn chỉ ăn nhạt ba mươi năm nay. Tháo gật đầu hỏi rằng:
– Ngài hiện làm chức gì? Sứ nói:
– Tôi vốn đỗ khoa Hiếu Liêm,
nguyên làm chức Tùng Sự theo Viên Thiệu và Trương Dương. Nay nghe tin thiên tử
đã về đô, tôi đến chầu vua, được phong làm Chánh Nghị Lang. Tên tôi là Ðổng
Chiêu, biểu tự Côn Nhân, quê ở Tế Âm, xứ Ðịnh Ðào. Tháo đứng dậy nói rằng:
– Tôi nghe tiếng ngài đã lâu, nay
may được thừa tiếp ngài ở đây. Nói rồi Tháo đặt tiệc rượu ở trong trướng để khoản
đãi rồi lại gọi Tuân Úc ra cùng hội kiến. Chợt tin báo có một đội quân đi sang
phía Ðông, không biết quân nào. Tháo hỏi rằng:
– Họ có bụng nghi tôi chăng? Ðổng
Chiêu nói:
– Chúng là lũ vô mưu, Minh công
hà tất phải lo. Tháo lại hỏi:
– Thế còn Lý, Quách chuyến này
chúng kéo đi thì rồi ra thế nào? Chiêu thưa:
– Hổ không vuốt, chim gẫy cánh,
chẳng mấy lúc sẽ bị Minh công bắt được, cần gì phải để ý.
Tào Tháo thấy Ðổng Chiêu nói câu
nào cũng lọt tai, bèn hỏi đến những việc lớn trong triều. Chiêu nói rằng:
– Minh công cất quân nghĩa binh để
trừ bạo loạn, vào triều giúp thiên tử, ấy là nghiệp của ngũ bá. Nhưng các tướng
mỗi người một bụng, vị tất họ đã theo phục cả. Nay Minh công ở mãi đây, tôi e
có điều bất tiện. Chỉ có cách rước vua về Hứa Ðô là hơn. Nhưng triều đình xiêu giạt
mãi, mới về được kinh đô xa gần trông mong, ai cũng muốn được yên ổn một chút.
Nay lại rời xa giá đi nơi khác, chắc lòng người cũng không phục. Nhưng ở đời có
làm được việc phi thường mới có công phi thường. Xin Minh công quyết kế đi.
Tháo cầm lấy tay Chiêu cười nói rằng:
– Ấy vẫn là bản chí tôi đó! Nhưng
tôi còn e rằng Ðại Lương có Dương Phụng, ở trong triều có các đại thần, đã chắc
đâu không sinh biến được.
Chiêu nói:
– Lo chi việc đó! Minh công nên
đưa thư sang cho Dương Phụng để cho hắn yên tâm, rồi nói rõ cho các đại thần rằng
kinh đô bây giờ không có lương. Rước xa giá sang Hứa Ðô để được gần Lỗ Dương, vận
lương cho tiện, không đến nỗi xa xôi thiếu thốn như ở đây.
Các đại thần nghe rõ, đều vui
lòng nghe theo. Tháo nghe lời Chiêu nói, mừng rỡ quá chừng. Khi Chiêu từ biệt,
Tháo lại nắm tay nói rằng:
– Về sau tôi có làm việc gì xin
ngài dạy bảo cho. Chiêu tạ rồi cáo về. Từ đó, Tào Tháo ngày ngày bàn với mưu sĩ
về việc rời đô.
Bấy giờ Thái sử lệnh là Vương Lập,
một bữa nói riêng với Tôn Chính là Lưu Ngải rằng:
– Tôi có xem thiên văn từ mùa
xuân năm ngoái đến giờ, sao Thái Bạch (sao kim) phạm vào sao Trấn Tinh ở khoảng
sau Ngưu và sao Ðẩu, rồi lại qua dải Ngân Hà; và sao Thái Bạch gặp nhau ở Thiên
Quan. Kim với Hỏa hội với nhau, tất nhiên có vua mới ra. Tôi xem khí vận nhà
Hán đã hết, trong đất Tấn, Ngụy tất có người nổi lên. Vương Lập lại mật tâu với
vua rằng:
– Mệnh trời lúc đến, lúc đi, ngũ
hành thịnh suy bất thường. Thay Hỏa là Thổ, thay nhà Hán có lẽ là ở đất Ngụy.
Tào Tháo nghe tin ấy, sai người bảo Lập rằng:
– Tôi cũng biết ông trung với triều
đình, nhưng thiên cơ huyền bí lắm, xin ông chớ nói nhiều.
Tháo đem chuyện ấy thuật lại với
Tuân Úc. Úc nói:
– Nhà Hán vốn lấy đức Hỏa làm vua. Mà Minh công lại mình Thổ, Hứa Ðô cũng thuộc Thổ, đến đấy tất hay. Hỏa sinh Thổ, mà Thổ thì vượng Mộc. Chính hợp với lời Ðổng Chiêu, Vương Lập. Minh công tất sau này phát lớn.
Từ ấy Tào Tháo nhất quyết thiên đô. Hôm sau Tháo vào ra mắt
vua tâu rằng:
– Ðông Ðô bị tàn phá đã lâu, bấy
giờ không sửa sang lại được, vả lại chuyển vận lương thực, vất vả khó nhọc lắm.
Hứa Ðô gần Lỗ Dương; thành quách, cung thất, tiền lương, người, của cải gì cũng
có đủ. Tôi xin rước xa giá về Hứa Ðô. Ngửa trông lượng thánh ưng cho.
Vua phải nghe. Các quan ông nào
cũng sợ Tào Tháo mạnh thế không ai dám ngăn điều gì, liền chọn ngày để khởi
giá. Tháo tự dẫn quân đi trông nom. Các quan cũng đi theo cả. Ði chưa được vài
dặm đến một chỗ gò cao, bỗng thấy tiếng reo ầm ầm, rồi thấy Dương Phụng, Hàn
Tiêm kéo quân ra chẹn đường. Từ Hoảng đứng đầu kêu to lên rằng: “Tào Tháo cướp
thánh giá đem đi đâu?”. Tháo phóng ngựa ra xem, trông thấy Từ Hoảng uy phong lẫm
liệt, có lòng khen thầm, liền sai Hứa Chử ra trận. Hai người bên đao bên búa,
đánh nhau hơn năm mươi hiệp chưa thấy bên nào được bên nào thua. Tháo sai gõ
chiêng rút quân về, gọi các mưu sĩ lại bàn rằng:
– Dương Phụng, Hàn Tiêm không
đáng kể, chỉ có Từ Hoảng thực là tướng tài. Ta không nỡ lấy sức mạnh địch lại,
muốn dùng kế chiêu dụ thì hơn. Hành quân tùng sự là Mãn Sủng nói:
– Chúa công đừng lo. Tôi với Từ
Hoảng, có quen biết nhau. Tối hôm nay để tôi giả làm tên lính, lẩn vào trại anh
ta, tôi thuyết phục anh ta, anh ta sẽ sang hàng chúa công.
Tào ưng ý lắm, cho Sủng đi. Ðêm
hôm ấy Sủng ăn mặc giả làm tên lính, đi lộn vào đội quân bên kia, lẻn đến trước
màn Tử Hoảng, thấy Hoảng thắp nến mặc áo giáp đang ngồi. Sủng đánh bạo xông đến
tận trước mặt, vái rồi hỏi rằng:
– Cố nhân lâu nay vẫn mạnh khỏe?
Hoảng giật mình đứng dậy, nhìn kỹ Sủng rồi hỏi rằng:
– Anh có phải là Man Bá Minh ở
Sơn Dương đó không? Có việc gì đến đây? Sủng nói:
– Tôi hiện đang làm Tùng Sự ở
dinh Tào tướng quân, hôm nay ở trước trận, trông thấy cố nhân, muốn dâng một
câu nói, nên liều chết lại đây? Hoảng mời ngồi, hỏi ý làm sao. Sủng nói:
– Ông là người dũng lược, đời nay
hiếm có, sao lại phải khuất thân đi theo bọn Dương Phụng, Hàn Tiêm. Tào tướng
quân là đấng anh hùng thời nay, biết yêu người hiền, kính kẻ sĩ, thiên hạ đều
biết tiếng. Hôm nay ở trước trận, thấy ông khỏe mạnh, trong bụng mười phần kính
yêu, không nỡ sai tướng khỏe ra để giết nhau. Bởi vậy Tào công sai tôi đến đây
để mời ông. Xin ông bỏ chỗ tối, qua nơi sáng, để cùng Tào công làm nên nghiệp lớn.
Từ Hoảng nghĩ ngợi một hồi, chép
miệng than rằng:
– Ta cũng biết Dương Phụng, Hàn
Tiêm không phải là tay lập được nghiệp, nhưng theo đã lâu rồi, bây giờ không nỡ
bỏ.
Sủng lại nói:
– Ông há lại không biết rằng:
chim khôn tìm cây mà đậu, người hiền chọn chủ mà thờ. Nay ông đã gặp được chủ
đáng thờ, bỏ lỡ mất cơ hội tốt sao gọi là người trượng phu. Hoảng đứng dậy tạ
nói rằng:
– Xin nghe lời ngài dạy. Sủng
nói:
– Ðã vậy, sao ông không giết ngay
Dương Phụng, Hàn Tiêm để làm lễ yết kiến? Hoảng nói:
– Làm bầy tôi mà giết chủ, điều ấy
thực là bất nghĩa, tôi quyết không làm. Sủng nói:
– Ông thực là người nghĩa sĩ. Từ
Hoảng liền dẫn vài mươi tên kỵ mã, ngay đêm hôm ấy cùng với Mãn Sủng, chạy sang
trại Tào Tháo. Có người báo với Dương Phụng, Phụng giận lắm đem ngay một ngàn kỵ
mã đuổi theo, gọi to lên rằng:
– Phản tặc Từ Hoảng đừng chạy nữa.
Trong khi đang đuổi, chợt nghe thấy một tiếng pháo nổ, trên núi dưới đống lửa
đuốc sáng choang, quân phục bốn mặt kéo ra. Tào Tháo tự dẫn quân đi trước, quát
lên rằng:
– Ta đợi đây đã lâu. Chớ để cho bọn
chúng chạy thoát.
Dương Phụng khiếp đảm, chực thu
quân về nhưng đã bị quân Tào vây bọc. May đâu, giữa lúc ấy Hàn Tiêm kéo quân lại
cứu. Hai bên đánh nhau, Phụng chạy được thoát; Tháo thừa thế đánh. Quân sĩ Phụng,
Tiêm đầu hàng quá nửa. Hai người thế cô, nhặt nhạnh quân sót rồi sang với Viên
Thuật. Tháo thu quân về dinh, bấy giờ Mãn Sủng dẫn Từ Hoảng vào ra mắt. Tháo mừng
rỡ, đãi Từ Hoảng rất hậu, rồi rước loan giá về Hứa Ðô sửa sang nhà cửa, cung miếu,
lập tôn miếu, xã tắc, cùng các tòa, các dinh và các nha môn; lại xây thành
quách, lập kho tàng Lũ Ðổng Thừa cả thẩy ba mươi người, đều được phong làm liệt
hầu.
Thưởng người có công, phạt kẻ có
tội, các việc hết thảy đều do Tào Tháo coi xét. Tháo tự phong mình làm Đại Tướng
quân, Vũ Bình Hầu; Tuân Úc làm Thị Trung Thượng Thư Lịnh; Tuân Du làm Quân Sư;
Quách Gia làm Tư Mã Tế Tửu, Lưu Việp làm Tư Thông Duyện Tào; Mao Giới, Nhiệm Tuấn
làm Điểm Nông Trung Lang Tướng, coi về việc thúc đốc tiền lương; Trình Dục làm
tướng ở quận Ðông Bình; Phạm Thành, Ðổng Chiêu làm quan lịnh ở Lạc Dương; Mãn Sủng
làm quan lịnh ở Hứa Ðô; Hạ Hầu Ðôn, Tào Hồng, Tào Nhân đều làm tướng quân; Lã
Kiền, Lý Ðiển, Nhạc Tiến, Vu Cấm, Từ Hoảng đều làm Hiệu úy; Hứa Chử, Ðiển Vi
làm Đô úy. Còn bao nhiêu tướng sĩ đều phong quan cả.
Từ đấy quyền to trong nước đều
vào tay Tào Tháo. Nội các việc lớn triều đình, trước trình Tào Tháo, sau mới
tâu vua. Khi Tháo đã định xong việc lớn, mới mở một cuộc yến ở hậu đường, họp
các mưu sĩ lại bàn rằng:
– Lưu Bị đóng quân ở Từ Châu, tự
lĩnh chức, coi việc ở đó. Mới rồi Lữ Bố nhân ta đánh thua, cũng chạy về đấy, Bị
cho ở Tiểu Bái. Nếu hai người ấy đồng tâm kéo đến xâm phạm vào Hứa Ðô, cũng là
một điều nguy, ta vốn trong bụng vẫn lo việc ấy. Các ông có nghĩ được kế gì trừ
được hai người ấy không? Hứa Chử nói:
– Tôi xin lĩnh năm vạn tinh binh,
đi chém được đầu Lưu Bị, Lữ Bố đem vào dâng thừa tướng.
Tuân Úc lại can Hứa Chử rằng:
– Tướng quân khỏe thì khỏe thực,
nhưng tướng quân không biết dùng mẹo. Nay Hứa Ðô mới dựng, chưa được vững vàng,
chưa nên hấp tấp cất quân. Tôi xin hiến một kế, gọi là kế Hai Hổ Tranh Ăn. Lưu
Bị bây giờ lĩnh ở Từ Châu, nhưng chưa có chiếu mệnh. Vậy minh công nên tâu
Hoàng thượng giáng chiếu cho y được thực thụ làm chức mục Từ Châu; nhân thể đưa
cho Lưu Bị một bức mật thư sai y giết Lữ Bố. Nếu Lưu Bị tuân lệnh giết được Lữ
Bố thì y mất tay phù tá; bằng y không giết nổi thì Lữ Bố giết y. Thế gọi là cái
kế hai hổ tranh ăn.
Tào Tháo nghe kế ấy, liền tâu xin chiếu mệnh, rồi sai ngay sứ sang Từ Châu, phong cho Lưu Bị làm Chinh Đông tướng quân, Nghi Thành Đình Hầu, lĩnh Từ Châu mục, lại đưa thêm một phong mật thư.
Lưu
Bị ở Từ Châu, nghe tin vua dời đô sang Hứa Ðô, sắp sửa dâng biểu chúc mừng, chợt
có người báo: có sứ nhà vua đến. Bị ra đón rước vào thành, lạy tạ ân mạng xong
rồi, mở yến thiết đãi sứ giả. Sứ nói:
– Ngài được ân mạng này, đều là
nhờ có Tào Thừa Tướng hết sức tiến cử. Lưu Bị tạ ân. Sứ bấy giờ mới đưa mật thư
ra, Lưu Bị xem xong thư nói rằng:
– Việc này xin để thong thả cho
tôi bàn luận. Tiệc tan, Bị mời sứ giả ra nghỉ ngoài quán khách, đêm hôm đó bàn
với các tướng. Trương Phi nói:
– Lữ Bố là người vô nghĩa, giết hắn
đi có ngại gì? Lưu Bị nói:
– Người ta thề cùng về với ta. Nếu
ta giết đi, thế là bất nghĩa. Trương Phi nói:
– Làm người tốt khó lắm. Lưu Bị
nhất định không nghe. Hôm sau, Lữ Bố lại mừng. Lưu Bị cho ra mời vào. Bố nói:
– Nghe ngài mới được ân mệnh triều
đình, nên tôi đến mừng.
Lưu Bị cám ơn. Trong khi ấy
Trương Phi cầm kiếm đợi ở cổng đường, định Lữ Bố ra thì giết. Lưu Bị trông thấy
vội vàng ngăn lại. Lữ Bố kinh hãi, nói rằng:
– Dực Ðức chỉ lăm lăm giết ta, là
cớ làm sao? Trương Phi thét lên rằng:
– Tào Tháo bảo ngươi là đứa vô
nghĩa, bảo anh ta giết ngươi. Lưu Bị vội vàng quát Trương Phi ra, mời Lữ Bố vào
hậu đường, nói rõ đầu đuôi, rồi đưa mật thư của Tào Tháo cho Lữ Bố xem. Lữ Bố
xem xong thư, khóc nói rằng:
– Ấy là tên giặc Tào hắn muốn cho
hai chúng ta không được hòa với nhau đó. Lưu Bị nói:
– Xin anh đừng lo. Tôi quyết
không bao giờ làm điều bất nghĩa ấy. Lữ Bố hai ba lần bái tạ. Bị giữ Bố lại uống
rượu mãi đến chiều mới về. Lữ Bố về, Quan, Trương mới hỏi Lưu Bị rằng:
– Huynh trưởng làm sao không giết
Lữ Bố? Lưu Bị nói:
– Ðó là Tào Tháo hắn sợ ta cùng với
Lữ Bố đồng mưu đánh hắn, cho nên hắn dùng kế ấy, để cho hai bên giết lẫn nhau.
Sao mình lại có thể để cho hắn lợi dụng được?
Quan Công gật đầu bảo: Phải.
Trương Phi nói:
– Tôi chỉ muốn giết tên giặc ấy để khỏi phải
lo về sau. Lưu Bị nói:
– Làm thế sao gọi là trượng phu.
Hôm sau Lưu Bị tiễn sứ giả về
kinh; dâng biểu tạ ân và đưa thư trả lời Tào Tháo, nói xin để thong thả sẽ làm.
Sứ về kinh vào ra mắt Tào Tháo, thuật chuyện Huyền Ðức không giết Lữ Bố. Tào
Tháo mới hỏi Tuân Úc:
– Kế ấy không xong làm thế nào?
Úc nói:
– Tôi lại có một kế nữa, gọi là kế
xua hổ nuốt sói. Tháo nói:
– Kế ấy thế nào? Úc nói:
– Tướng quân nên sai người đi hỏi
thăm Viên Thuật, rồi mật bảo Thuật rằng: Lưu Bị dâng mật biểu muốn lấy Nam Quận,
Thuật tất giận đánh Lưu Bị. Minh công lại đưa chiếu rõ ràng sai Lưu Bị đánh
Viên Thuật. Hai bên đánh nhau, Lữ Bố tất sinh bụng khác, thế gọi là: xua hổ cho
nó nuốt sói.
Tháo ưng ý lắm, một mặt sai ngay
người đến Viên Thuật, một mặt lấy chiếu vua, sai đem đến Từ Châu. Lưu Bị ở Từ
Châu nghe có sứ đến, ra thành mời đón vào. Bị mở chiếu ra đọc, chiếu sai Lưu Bị
khởi binh đánh Viên Thuật. Lưu Bị vâng lệnh, tiễn sứ về trước. My Chúc nói:
– Ðây lại là kế Tào Tháo. Lưu Bị
nói:
– Ðành là kế của Tào Tháo, nhưng
lệnh vua thì phải vâng theo.
Nói rồi lập tức điểm quân mã,
ngay hôm ấy kéo đi. Tôn Càn nói:
– Trước hết hãy nên cử người giữ
lấy thành. Quan Công thưa:
– Em xin giữ! Lưu Bị nói:
– Ta sớm tối lúc nào cũng cần đến
em bàn các việc, rời nhau ra làm sao được? Trương Phi nói:
– Em xin giữ! Lưu Bị bảo Phi rằng:
– Em thì giữ làm sao được! Một là
em rượu vào hung hăng lên, đánh lính tráng, hai là em làm việc gì cũng coi thường,
không chịu nghe ai can gián. Ta không đành lòng. Phi nói:
– Từ giờ trở đi, em xin không uống
rượu. Không đánh lính tráng, ai can bảo gì em cũng xin nghe!
My Chúc nói:
– Tôi e rằng bụng nghĩ không được
như miệng nói! Phi giận mắng My Chúc rằng:
– Ta theo anh ta đã lâu năm, chưa
từng có thất tín câu nào, sao ngươi dám khinh ta như thế!
Lưu Bị nói rằng:
– Ðã đành như thế, nhưng ta vẫn
chưa yên tâm. Em nên mời Trần Nguyên Long lại đây để giúp; sớm chiều từ nay em
phải bớt uống rượu, đừng để hỏng sự mới được.
Trần Ðăng vâng lĩnh lời. Lưu Bị dặn
dò đâu đấy cả rồi, dẫn ba vạn quân mã bộ, rời Từ Châu sang Nam Dương. Viên Thuật
nghe thấy tin Lưu Bị dâng biểu muốn lấy châu huyện, giận lắm nói rằng:
– Hắn là đứa dệt chiếu, đóng dép,
nay chiếm giữ được quận to, đứng ngang với chư hầu. Ta định đánh hắn, hắn nay lại
định sửa ta à? Thực là tức quá. Thuật nói rồi, liền sai thượng tướng là Kỷ Linh
dẫn mười vạn quân kéo sang Từ Châu. Hai bên gặp nhau ở Vu Thai. Lưu Bị ít binh,
dựa vào cạnh núi, men sông đóng trại. Kỷ Linh là người ở Sơn Ðông, sử dụng một
thanh đao ba mũi, nặng năm mươi cân, hôm ấy kéo quân ra trận, quát mắng rằng:
– Lưu Bị là một đứa thôn phu. Sao
dám xâm phạm vào đất ta? Lưu Bị nói:
– Ta nay phụng chiếu của vua sang
đây đánh kẻ nghịch thần. Sao ngươi dám kháng cự. Tội ngươi đáng chết.
Kỷ Linh giận lắm, múa đao xông
vào đánh. Quan Vũ quát rằng:
– Thằng thất phu kia, chớ được cậy
khỏe. Nói rồi tế ngựa ra đánh nhau với Kỷ Linh. Ðánh được hơn ba mươi hiệp,
chưa phân bên nào được bên nào thua, Kỷ Linh kêu to lên: Hãy nghỉ!
Quan Công quay ngựa về đứng đợi ở
cửa trận. Kỷ Linh sai phó tướng là Tuân Chính ra. Quan Công không thèm đánh, bảo
rằng:
– Ngươi về gọi Kỷ Linh ra đây.
Chính nói:
– Ngươi là vô danh hạ tướng,
không xứng đánh nhau với Kỷ tướng quân.
Quan Công điên ruột, xông vào
chém Tuân Chính, chỉ một nhát chết ngay. Lưu Bị thúc quân đánh tràn vào trận. Kỷ
Linh thua to, lui về giữ ở cửa sông Hoài Âm không dám ra đánh nữa, chỉ sai quân
sĩ cướp dinh rình trại, nhưng hễ tên nào ra thì quân Từ Châu đánh giết phải
thua chạy.
Nay ta hãy để hai bên chống cự
nhau, mà nói chuyện Trương Phi ở nhà giữ việc Từ Châu. Từ khi Lưu Bị đi, bao
nhiêu việc tạp vụ, Trương Phi giao mặc Trần Ðăng coi sóc, còn việc quân cơ lớn
thì tự mình suy xét làm lấy. Một hôm Phi mở một tiệc yến, mời các quan đến ăn.
Các quan ngồi đâu đó rồi, Trương Phi mời nói rằng: “Khi anh tôi đi, có dặn nên
bớt uống rượu, sợ rằng say sưa rồi hỏng việc, vậy tôi xin mời các quan hôm nay
uống một bữa thực say, rồi từ mai trở đi, cấm hẳn, không ai được uống nữa, phải
giúp tôi để giữ thành trì. Hôm nay phải uống cho thực say mới được”. Trương Phi
nói xong, đứng dậy cầm chén mời các quan. Khi cầm chén đến trước mặt Tào Báo,
Báo từ chối rằng:
– Tôi theo thiên giới không uống
rượu. Phi nói:
– Những hảo hán đánh nhau giết
người, sao lại không uống rượu. Hôm nay, ta muốn ngươi uống một chén. Tào Báo sợ
quá cố uống một chén. Trương Phi cầm chén mời tất cả các quan, rồi rót một cốc
thực to cho mình, hớp một hớp hết nhẵn, lại rót cốc nữa, làm một chập đủ mười cốc
rượu đầy. Lúc bấy giờ ý chừng say quá, Trương Phi lại đứng dậy cầm chén đi vòng
mời các quan, khi đi đến trước Tào Báo, Báo nói:
– Tôi thực không sao uống được nữa.
Phi hỏi:
– Ngươi vừa uống được sao bây giờ
lại từ chối? Báo nhất định không uống. Trương Phi bấy giờ say rượu nóng tính, nổi
giận mắng rằng:
– Ngươi dám trái tướng lệnh ta,
đáng đánh một trăm roi. Trần Ðăng can rằng:
– Khi ông Huyền Ðức đi dặn ông
như thế nào? Phi nói:
– Ngươi là quan văn, chỉ coi việc
văn thôi, đừng có cai quản ta ở đây. Tào Báo không làm sao được, kêu rằng:
– Xin Dực Ðức nể mặt con rể tôi
mà tha lỗi cho tôi. Phi hỏi:
– Rể ngươi là ai? Báo thưa:
– Lữ Bố.
Phi giận lắm quát rằng:
– Ta vốn không muốn đánh ngươi,
nay ngươi lại đem Lữ Bố dọa ta, thì ta đánh, ta đánh ngươi cũng như đánh tên Lữ
Bố.
Các quan xô cả lại can cũng không
được. Quân lính lôi Tào Báo ra đánh đến năm mươi roi, các quan năn nỉ ngăn can
mãi mới thôi. Tiệc tan Tào Báo trở về, giận quá, ngay đêm hôm ấy sai người cầm
phong thư, đi tắt đến Tiểu Bái, vào ra mắt Bố, kể hết đầu đuôi chuyện Trương
Phi vô lễ. Trong thư lại nói rằng:
“Lưu Bị đã sang Hoài Nam, đêm
hôm nay nhân Trương Phi say rượu, kéo quân đến đánh úp lấy Từ Châu, là một dịp
ít có, không nên để lỡ”. Lữ Bố xem xong thư, cho mời Trần Cung đến bàn,
Cung nói:
– Tiểu Bái không phải là nơi ở
lâu được. Nay Từ Châu đã có cơ lấy được, không lấy ngay đi, sau hối không kịp.
Bố nghe lời, lập tức mặc áo giáp
lên ngựa, dẫn năm trăm kỵ mã đi trước, sai Trần Cung dẫn đại quân đi sau. Cao
Thuận cũng kéo quân đến theo.
Tiểu Bái cách Từ Châu có bốn mươi
dặm, đi một thôi ngựa thì đến. Lữ Bố đến dưới thành, lúc đầu canh tư trăng sáng
vằng vặc, trên thành không ai biết. Lữ Bố đến tận bên thành gọi rằng:
– Lưu sứ quân có việc cơ mật sai
người đến. Trên thành có quân báo với Tào Báo, Báo lên thành xem rồi sai quân
sĩ mở cửa ra. Bấy giờ Lữ Bố mới nổi một tiếng hiệu, quân sĩ đều kéo ùa vào
thành, tiếng reo kinh động. Trương Phi say rượu đang ngủ ở trong nhà. Tả hữu vội
vàng lay tỉnh dậy bảo rằng:
– Lữ Bố đã lừa mở được cửa thành,
quân hắn kéo cả vào rồi.
Trương Phi giận quá, vội vàng mặc
áo giáp, vác ngọn bát xà mâu, vừa ra được cửa phủ lên được mình ngựa, thì quân
Lữ Bố đến nơi. Bấy giờ Phi hãy còn say rượu, không đánh được khỏe. Lữ Bố cũng
biết sức mạnh của Trương Phi, không dám đánh ráo riết quá. Mười tám tướng kỵ mã
nước Yên bảo vệ Trương Phi, chạy ra cửa Ðông. Vợ con Lưu Bị ở trong phủ, Trương
Phi cũng không kịp nhìn đến.
Tào Báo thấy Trương Phi chỉ còn
vài mươi người đi theo, lại khinh y còn say, đem hơn một trăm người ra đuổi.
Phi trông thấy Báo, giận lắm, tế ngựa lại đánh, chỉ ba hiệp, Tào Báo thua chạy.
Trương Phi đuổi đến bờ sông, cầm ngọn mâu từ đằng xa phóng lại, trúng giữa lưng
Tào Báo, cả người lẫn ngựa chết lăn xuống sông.
Trương Phi đứng ngoài thành, hò gọi
quân sĩ. Người nào ra được đều theo y đi sang Hoài Nam. Lữ Bố vào được thành,
phủ dụ dân rồi sai một trăm quân giữ cửa nhà Lưu Bị, không cho ai được vào.
Trương Phi dẫn vài mươi tên kỵ mã đi thẳng đến Vu Thai vào hầu Lưu Bị, nói hết
cả chuyện Tào Báo cùng Lữ Bố, trong ứng ngoài hợp, đang đem đánh úp lấy Từ
Châu. Các quan nghe chuyện ai cũng mất máu mặt, duy Lưu Bị chỉ than có một câu:
– Ðược cũng chẳng nên mừng, mất
cũng chẳng nên lo. Quan Vũ hỏi:
– Thế còn chị đâu? Trương Phi
nói:
– Hãm cả ở trong thành. Lưu Bị
nín lặng chẳng nói câu gì. Quan Công dẫm chân mắng rằng:
– Khi trước ngươi đòi giữ thành, nói những câu gì? Ta đã dặn ngươi như thế nào? Bây giờ thành trì thì mất, chị lại bị hãm, thế ra làm sao? Phi nghe mắng, sợ hãi không biết đường nào, rút ngay kiếm ra định tự vẫn. Thế thực là:
Rút kiếm tự vẫn sự thôi đã rồi
Chưa biết tính mạng Trương Phi ra sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
Thái Sử Từ ham đả Tiểu Bá Vương
Tôn Bá Phù hăng đánh Nghiêm Bạch Hổ
Cuối hồi trước, đang nói chuyện
Trương Phi rút kiếm ra sắp tự vẫn, Lưu Bị trông thấy vội vàng bước lên giật lấy
kiếm, vứt xuống đất rồi nói rằng:
– Xưa có câu rằng: “Anh em như
chân tay, vợ con như áo mặc”. Áo rách còn dễ may, chân tay gãy, chắp sao được?
Ba anh em ta kết nghĩa với nhau ở vườn đào, đã thề cùng sống chết với nhau. Nay
dù mất thành trì, vợ con đi nữa, sao nỡ để anh em nửa đường chết đi cho đành.
Phương chi thành trì không phải của ta, vợ con ta bị hãm ở trong thành, nhưng
ta chắc Lữ Bố không nỡ giết, cũng còn nghĩ kế cứu được. Hiền đệ lầm một lúc, việc
gì đã đến nỗi quyên sinh.
Lưu Bị nói xong rỏ nước mắt khóc.
Quan, Trương cũng khóc cả.
Viên Thuật biết rằng Lữ Bố đã cướp
Từ Châu, sai người đến nói với Bố rằng: Hễ Bố cùng giúp đánh Lưu Bị sẽ đưa cho
năm vạn hộc lương, năm trăm ngựa, một vạn lạng vừa vàng vừa bạc, một ngàn tấm
vóc nhiễu.
Bố ưng ý lắm, sai ngay Cao Thuận
dẫn năm vạn quân đến đánh mé sau Lưu Bị. Lưu nghe tin ấy, nhân khi mưa dầm, rút
quân bỏ Vu Thai chạy, muốn về lấy Quảng Lăng. Khi Cao Thuận đến nơi, Lưu Bị đã
đi rồi. Thuận vào ra mắt Kỷ Linh, đòi những đồ Viên Thuật đã hứa cho. Linh nói:
– Ông cứ về. Ðể tôi vào nói với
chúa tôi. Thuận từ giã Kỷ Linh, về thuật lại với Lữ Bố. Bố còn đang hồ nghi, chợt
có thư Viên Thuật đưa đến, trong thư nói rằng:
“Cao Thuận tuy có đến giúp,
nhưng Lưu Bị chưa trừ được. Ðợi khi nào bắt được Lưu Bị, bấy giờ tôi sẽ đưa các
đồ đã hứa đến cho ngài”. Bố giận lắm, cho Viên Thuật là đồ thất tín,
muốn kéo quân sang đánh, Trần Cung can rằng:
– Không nên! Viên Thuật giữ Thọ
Xuân, binh nhiều lương rộng. Chớ nên khinh địch. Không bằng mời Lưu Bị lại đóng
ở Tiểu Bái để làm vây cánh cho ta. Về sau sai Lưu Bị làm tiên phong, trước đánh
Viên Thuật, sau đánh Viên Thiệu rồi có thể tung hoành thiên hạ được.
Bố nghe lời, sai người đem thư đi
mời Lưu Bị. Bấy giờ Lưu Bị đã kéo quân về Ðông lấy đất Quảng Lăng, bị Viên Thuật
vào cướp trại, quân lính hao hụt quá nửa, gặp sứ của Lữ Bố đến, đưa thư mời về
Tiểu Bái. Lưu Bị mừng lắm. Quan, Trương nói:
– Lữ Bố là đứa bội vong ơn nghĩa,
không nên tin. Lưu Bị nói:
– Hắn lấy bụng tử tế đãi ta, việc
gì phải nghi.
Ba anh em lại kéo quân về Từ
Châu. Lữ Bố sợ Lưu Bị còn nghi hoặc, trước hết sai người đưa trả lại gia quyến.
Cam phu nhân và My phu nhân về gặp Lưu Bị kể hết sự tình, nói rằng Lữ Bố sai
người giữ cửa nhà, không cho ai được vào, lại thường sai thị thiếp đưa đồ ăn,
thức dùng đến, không bao giờ phải thiếu thốn. Lưu Bị mới bảo Quan, Trương rằng:
– Ta đã biết Lữ Bố tất không hại
gia quyến ta.
Lưu Bị vào thành để tạ Lữ Bố.
Trương Phi không chịu theo vào, đem hai chị về Tiểu Bái trước. Lưu Bị vào ra mắt
lạy tạ Lữ Bố. Bố nói:
– Tôi không phải muốn cướp thành.
Bởi vì Trương Phi ở đây, hay say rượu giết người, tôi e xảy ra chuyện bất trắc,
nên tôi lại giữ hộ đấy thôi. Lưu Bị nói:
– Tôi vẫn muốn nhường anh đã lâu.
Bố giả dạng nhường lại cho Lưu Bị. Lưu nhất quyết không chịu, về đóng ở Tiểu
Bái Quan, Trương trong bụng không bằng lòng. Lưu Bị nói:
– Nhún mình yên phận, để đợi thời,
không thể cưỡng lại số mệnh được. Lữ Bố thường thường sai người đưa lương ăn và
vải lụa đến. Từ bấy giờ hai bên lại hòa thuận với nhau. Trong khi ấy thì Viên
Thuật ở Thọ Xuân mở tiệc yến to, hội tướng sĩ lại ăn uống. Chợt có người báo rằng:
– Tôn Sách đi đánh Thái Thú Lư
Giang là Lục Khang, thắng lợi trở về.
Thuật gọi Sách đến, Sách lạy ở dưới
thềm. Thuật hỏi han chuyện trò xong rồi cho Sách ngồi dự tiệc.
Nguyên Tôn Sách từ khi cha mất, về
ở Giang Nam kính người hiền, tôn kẻ sĩ, sau nhân Ðào Khiêm cùng với cậu Sách,
là Thái Thú Ðan Dương tên là Ngô Cảnh không hòa với nhau, Sách mới đem mẹ và
gia thuộc về Khúc A, mình thì sang ở với Viên Thuật. Thuật yêu Sách lắm, thường
vẫn than rằng:
– Giá ta có được đứa con như Tôn
Lang, chết cũng không ân hận gì nữa. Thuật cho Sách làm Hoài Nghĩa Hiệu Úy, sai
đem binh sang đánh Tổ Lang ở Kinh Huyện. Sách đánh được. Thuật thấy Sách giỏi,
lại sai sang đánh Lục Khang, cũng đánh được. Bấy giờ trở về Sách vào ăn tiệc.
Khi tiệc đã tan, Sách về trại, nghĩ trong tiệc Thuật đãi mình khí ngạo bỉ một
chút, trong bụng buồn bực, bèn lẩn đi bách bộ dưới bóng trăng ngoài sân. Nhớ đến
sự ngày xưa, cha là Tôn Kiên thì anh hùng như thế mà mình thì lưu lạc thế này,
bất giác hu hu cất tiếng khóc. Chợt có người ở ngoài đến cười to lên hỏi rằng:
– Bá Phù sao thế? Khi Tôn công
còn, việc gì cũng dùng đến ta, nay người có việc gì không quyết, sao chẳng hỏi
ta mà lại khóc thế? Sách trông xem ai, thì là Chu Trị, tên chữ là Quân Lý, người
ở Ðan Dương; nguyên là tùng sự của Tôn Kiên ngày xưa. Sách gạt nước mắt mời ngồi
nói rằng:
– Tôi khóc là vì tôi giận tôi
không nối được chí cha tôi ngày xưa. Trị nói:
– Sao không nói với Viên Công Lộ,
mượn binh kéo sang Giang Ðông, mượn tiếng là đi cứu Ngô Cảnh, nhưng sự thực là
để mưu đồ nghiệp lớn, sao lại cứ chịu mãi ở dưới người ta? Hai người đang bàn
nhau, chợt lại có một người nữa ở đâu chạy vào nói rằng:
– Các ông bàn nhau việc gì tôi đã
biết rồi, nay tôi có trăm quân tinh tráng, xin giúp Bá Phù một tay. Sách nhìn
xem ai thì là mưu sĩ của Viên Thuật tên là Lã Phạm, tên chữ là Tử Hoành, người ở
Nhữ Dương. Sách mừng lắm, mời cùng ngồi nói chuyện. Lã Phạm nói:
– Tôi chỉ lo Viên Thuật không cho
mượn quân. Sách nói:
– Tôi có một vật báu để làm tin.
Vật ấy là truyền quốc ngọc tỉ của cha tôi để lại cho. Phạm nói:
– Công Lộ thèm được ngọc đó đã
lâu. Hôm sau Sách vào ra mắt Viên Thuật, khóc nói rằng:
– Thù cha tôi chưa báo được, ngày
nay cậu tôi là Ngô Cảnh lại bị thứ sử Dương Châu là Lưu Do bức bách. Mẹ già và
vợ con ở cả Khúc A, e rằng sẽ bị hại. Vậy tôi xin mượn tướng quân vài ngàn hùng
binh để sang sông cứu nạn, và để thăm nhà. Sợ Minh công không tin, tôi xin đem
ngọc tỉ của cha tôi để lại, để làm tin. Thuật thấy ngọc tỉ vồ ngay lấy xem, mừng
lắm nói rằng:
– Ta không phải cầu chi ngọc tỉ của
ngươi, nhưng hãy tạm để đây, ta cho mượn ba ngàn binh, năm trăm ngựa, khi nào
bình định rồi phải về ngay. Vả ngươi nay chức nhỏ ngôi thấp, khó giữ được quyền
lớn, ta cất cho ngươi lên làm Triết Sung Hiệu Úy, Điển Khấu Tướng Quân. Ngay
ngày hôm đó cho lãnh quân đi.
Sách lạy tạ rồi dẫn quân mã, đem
cả Chu Trị, Lã Phạm và tướng cũ của cha là Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Ðương, chọn
ngày khởi binh. Ði đến Lịch Dương, gặp một toán quân, có một người đi trước,
dáng điệu phong lưu, nghi dung đẹp đẽ, trông thấy Tôn Sách, nhảy xuống ngựa vái
một vái. Sách nhìn xem ai, thì là Châu Du, tự là Công Cẩn, người ở Thư Thành,
quận Lư Giang. Vốn khi Tôn Kiên đánh Ðổng Trác, Du đem gia quyến về ở Thư
Thành. Du với Sách hai người cùng một tuổi, chơi với nhau rất thân, kết làm anh
em. Sách hơn Du có vài tháng. Du thờ làm anh. Chú Châu Du là Châu Thượng, làm
thái thú ở Ðan Dương. Bữa ấy Du sang thăm chú, đi đến đó gặp Tôn Sách. Sách mừng
lắm, đem sự tình kể với Du. Du nói:
– Tôi xin hết sức khuyển mã, để
cùng huynh mưu toan nghiệp lớn. Sách nói:
– Ta nay được Du, việc lớn tất phải
xong. Rồi bảo Chu Trị, Lã Phạm cùng đến gặp Châu Du.
Du bảo Sách rằng:
– Huynh nay muốn làm việc to, có
biết Giang Ðông có hai họ Trương không? Sách hỏi:
– Ai vậy? Du nói:
– Một người ở Bành Thành, tên là
Trương Chiêu, tự là Tử Bố. Một người ở Quảng Lăng, tên là Trương Hoành, tự là Tử
Cương. Hai người ấy đều có tài ngang trời dọc đất, nhân tránh loạn đến ở đấy,
sao huynh không đón mời hai người ấy?
Sách sai người đem đồ lễ đến mời Trương Chiêu, Trương Hoành. Hai người từ chối, không đến. Sách phải thân đến tận nơi, cùng hai người nói chuyện. Sách rất lấy làm bằng lòng, cố mời đi mời lại mãi, hai người mới chịu nhận lời. Sách cho Trương Chiêu làm Trưởng Sử, kiêm chức Phủ Quân Trung Lang Tướng; Trương Hoành làm tham mưu, Chánh Nghị Hiệu Úy Cùng nhau bàn mưu sang đánh Lưu Do.
Lưu Do, tự là Chính Lẽ, người ở Mâu Bình quận Ðộng
Lai, cũng là Tôn thân nhà Hán, cháu quan Thái Úy Lưu Sủng, em quan thứ sử Duyện
Châu Lưu Ðại. Trước làm Thứ Sử Dương Châu, đóng ở Thọ Xuân, sau bị Viên Thuật
đuổi sang Giang Ðông, cho nên đến Khúc An ở. Bấy giờ Lưu Do nghe thấy quân Tôn
Sách đến, vội vàng họp các tướng để bàn. Bộ tướng là Trương Anh nói:
– Tôi xin lĩnh một cánh quân,
đóng đồn Ngưu Chử, quân giặc dẫu có trăm vạn cũng không dám đến gần. Nói chưa dứt
lời, dưới trướng lại có một người kêu to lên rằng:
– Tôi xin làm bộ tiên phong.
Các tướng nhìn xem ai, thì là
Thái Sử Từ, người ở Ðông Lai Từ, tự khi giải được vây Bắc Hải cho Khổng Dung,
sang với Lưu Do. Do giữ lại ở dưới trướng. Do bảo:
– Ngươi còn ít tuổi, chưa nên làm
đại tướng, hãy nên ở tả hữu ta để nghe mệnh lệnh.
Từ không bằng lòng lùi ra. Trương
Anh lĩnh quân đến Ngưu Chử, chứa mười vạn hộc lương ở lầu các Tôn Sách dẫn quân
đến. Trương Anh ra địch. Hai bên hội quân ở trên bãi sông Ngưu Chử. Trương Anh
ra ngựa chửi mắng, Hoàng Cái ra đánh nhau với Trương Anh, chưa được vài hiệp, bỗng
thấy trong quân Trương Anh bối rối, rồi thấy nói: “Trong trại có người phóng hỏa!
Anh vội rút quân về. Tôn Sách thừa thế đánh dồn. Trương Anh thế cùng phải
bỏ Ngưu Chử chạy trốn vào trong núi sâu.
Người phóng hỏa ở trong trại
nguyên là hai viên kiện tướng. Một là Tưởng Khâm tự là Công Ðịch, người ở Thọ
Xuân xứ Cửu Giang, một là Chu Thái, tự là Âu Bình, người ở Hạ Sái xứ Cửu Giang.
Hai người gặp phải thời loạn, tụ quân trong sông Dương Tử, cướp bóc kiếm ăn; vốn
nghe tiếng Tôn Sách là người hào kiệt ở Giang Ðông, hay cầu người hiền, mời kẻ
sĩ, cho nên dẫn đồ đảng hơn ba trăm người đến theo. Sách mừng lắm, dùng làm trường
tiền hiệu úy, thu được hơn bốn ngàn quân hàng, liền tiến binh lên đóng ở Trần
Ðình.
Trương Anh thua trở về, vào ra mắt
Lưu Do. Do giận muốn đem chém, lại có các mưu sĩ là Trích Dung và Tiết Lễ can
mãi mới tha, sai Trương Anh đem quân đóng ở thành Linh Lăng để chống giặc. Do tự
lĩnh quân ra mé nam núi Thần Ðình cắm trại. Tôn Sách đóng ở phía Bắc núi ấy.
Hôm sau Sách gọi người ở đó hỏi rằng:
– Gần đây có miếu nào thờ vua Hán
Quang Vũ chăng? Người ấy thưa:
– Có miếu ở trên đỉnh núi. Sách
nói:
– Ðêm ta chiêm bao thấy vua Quang
Vũ gọi ta vào tương kiến. Ta định lên miếu ấy cầu. Trưởng sử là Trương Chiêu
can rằng:
– Không nên đi! Mé nam núi này có
trại Lưu Do. Ngộ hắn có phục binh thì làm thế nào? Sách nói:
– Ta đã có thần thánh phù hộ, việc
chi còn phải sợ.
Nói xong liền mặc áo giáp, cầm
giáo, lên ngựa, rồi đem bọn Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Ðương, Tưởng Khâm và Chu
Thái cả thảy 13 người cùng cưỡi ngựa lên núi. Ðến miếu, xuống ngựa, vào thắp
hương lễ bái, Sách quỳ xuống khấn rằng:
– Tôi là Tôn Sách. Xin nguyện rằng
nếu lập được nghiệp lớn ở đất Giang Ðông, khôi phục lại được cơ đồ của cha tôi
ngày xưa, tôi xin sửa sang đình miếu bốn mùa lễ bái. Sách khấn vái xong đi ra
miếu, lên ngựa ngoảnh lại bảo các tướng:
– Ta muốn qua bên kia núi, dòm
xem dinh trại Lưu Do đóng ra làm sao. Các tướng ai cũng ngăn:
– Không nên! Sách không nghe, cứ
việc đi. Các tướng cũng phải đi theo. Ðến phía Nam núi, đứng trên trông xuống rừng
rú và trại Lưu Do đóng. Có quân canh đường, chạy về báo với Lưu Do. Do nói:
– Ðây là mẹo Tôn Sách đến dử mình
đây, không nên ra đánh.
Thái Sử Từ nhảy lên nói rằng:
– Lúc này không bắt Tôn Sách thì
còn đợi đến lúc nào?
Nói xong không đợi lệnh Lưu Do, tự
mặc ngay áo giáp, lên ngựa cầm giáo ra ngoài trại, hô lên:
– Ai có gan thì theo ta. Các tướng
không ai nhúc nhích. Chỉ có một tiểu tướng bước ra nói:
– Thái Sử Từ, thế mới gọi là tướng
giỏi. Ta nên đi giúp một tay. Nói rồi lên ngựa đi theo Thái Sử Từ. Các tướng đều
tủm tỉm cười. Tôn Sách ngắm độ nửa giờ mới quay ngựa trở về. Vừa đi qua được đỉnh
núi nghe thấy đằng sau có người thét:
– Tôn Sách đừng chạy nữa. Sách
ngoảnh lại thấy hai tướng cưỡi ngựa đến, Sách gạt 12 tướng ra, một mình cầm
ngang ngọn giáo, cưỡi ngựa đứng đợi ở dưới núi. Thái Sử Từ hỏi to:
– Người nào là Tôn Sách? Sách hỏi:
– Ngươi là đứa nào? Từ đáp:
– Ta là Thái Sử Từ ở Ðông Lai, ta
lại đây chỉ cốt để bắt Tôn Sách. Sách cười nói:
– Ðây! Tôn Sách đây! Cho cả hai đứa
chúng bay lại đánh một mình ta, ta không sợ. Nếu ta sợ, sao gọi là Tôn Bá Phù.
Từ nói:
– Tất cả các ngươi đều đến, ta
cũng không sợ. Nói xong thúc ngựa múa kích vào đánh Tôn Sách. Sách vác giáo lại
địch. Hai ngựa giao nhau, đánh được hơn năm mươi hiệp, được thua chưa phân, lũ
Trình Phổ đứng ngoài khen thầm rằng giỏi. Từ thấy Sách đánh giáo không hở miếng
nào. Giả cách thua chạy để dử cho Tôn Sách đuổi ra xa. Từ không đi đường cũ lên
núi, lại rẽ về sau núi mà chạy. Sách vừa đuổi vừa thét to:
– Chạy không phải là hảo hán. Từ
trong bụng nghĩ thầm:
– Hắn có 12 người đi theo, ta chỉ
trọi một mình. Ví dù bắt được hắn, cũng bị chúng cướp mất. Phải dử cho hắn đi một
đường nữa, để cho chúng không biết đường nào mà tìm, bấy giờ ta sẽ ra tay.
Bởi thế vừa đánh vừa lùi. Sách
cũng cứ đuổi, đuổi nhau mãi đến chỗ bằng phẳng, bấy giờ Từ mới quay lại đánh.
Ðánh nhau được 50 hiệp nữa. Sách phóng ngọn giáo lại. Từ tránh ngay được, lại
trở tay bắt được giáo. Từ lại phóng giáo lại, Sách cũng tránh được và giơ tay bắt
lấy giáo, rồi nắm chặt lấy. Từ chạy lại giằng kích về, hai người kéo co nhau rồi
cùng nhảy cả xuống ngựa. Ðể ngựa chạy đi đâu không biết nữa. Lôi kéo nhau chán
rồi, hai người cùng buông cả giáo ra, túm lấy nhau mà đánh. Hai bên, bên nào áo
chiến cũng rách tan nát. Sách nhanh tay vạ được cái kích ngắn gài ở lưng Từ, Từ
giật ngay được mũ đầu mâu của Sách. Sách cầm kích đâm Từ, Từ lấy mũ che đỡ.
Giữa lúc ấy có tiếng reo ầm ầm
kéo đến, quân tiếp ứng của Lưu Do, ước hơn ngàn người. Sách đã lấy làm nguy,
may đâu bọn Trình Phổ, 12 tướng cưỡi ngựa cũng vừa tìm được đến. Hai người bấy
giờ mới buông nhau ra. Từ lên một con ngựa khác, lại cầm lấy giáo trở về. Ngựa
của Tôn Sách, Trình Phổ bắt được, Sách cũng nhặt lấy kích rồi lên ngựa. Một
ngàn quân Lưu Do cùng 12 tướng Tôn Sách hai bên đánh nhau. Ðánh lần quanh mãi đến
tận dưới núi Thần Ðinh. Bấy giờ lại thấy tiếng reo, Châu Du kéo quân đến, Lưu
Do lại dẫn đại quân xuống núi. Khi ấy trời đã vàng vàng tối, tự dưng nổi cơn
mưa gió, hai bên cùng thu quân về.
Hôm sau, Tôn Sách dẫn quân đến
trước trại Lưu Do, Do cũng đem quân ra đón. Khi hai bên bày trận, Tôn Sách lấy
cái kích nhỏ rút được của Từ hôm trước, đem buộc ở đầu giáo, cầm ra giễu ở trước
trận, rồi sai quân hô to lên rằng:
– Giá Thái Sử Từ không chạy mau
chân thì đã bị kích này đâm chết. Từ cũng đem mũ đầu mâu của Sách ra trước trận,
sai quân hô lên rằng:
– Ðầu Tôn Sách đã ở đây rồi. Hai
bên nhạo bán lẫn nhau, reo ầm cả lên. Bên cậy khỏe, bên khoe tài. Thái Sử Từ
phóng ngựa ra định cùng Tôn Sách quyết phân thắng bại. Sách sắp sửa ra, Trình
Phổ nói:
– Chúa công lo là phải khó nhọc.
Tôi xin ra bắt hắn. Trình Phổ ra trận. Từ nói:
– Ngươi không đánh địch với ta. Về
gọi Tôn Sách ra đây. Trình Phổ tức lắm, vác giáo xông vào đánh Từ. Hai ngựa
giao đấu được hơn 30 hiệp, bỗng thấy Lưu Do khua chiên thu quân. Từ hỏi Lưu Do:
– Tôi đã sắp bắt được tướng giặc,
sao lại thu quân về? Do nói:
– Có người báo rằng: Châu Du đã
đem quân đánh úp lấy Khúc A, vì có người ở Lư Giang, tên là Trần Vũ tiếp ứng
cho hắn vào thành. Cơ nghiệp nhà ta đã mất, không nên ở mãi đây; phải kíp sang
Mạt Lăng, hội cả quân mã của Tiết Lễ, Trích Dung lại để tiếp ứng. Thái Sử Từ
theo Lưu Do lui quân. Tôn Sách không đuổi cũng thu quân về. Trưởng sử Trương
Chiêu nói:
– Bên hắn bị Châu Du lừa lấy Khúc
A, không dám ham đánh, đêm nay ta nhân thế nên đến cướp trại Sách ưng ý, đang
đêm chia quân làm năm đường, kéo đến lấy trại Lưu Do. Quân Do thua to, chạy tán
loạn cả. Thái Sử Từ một mình không chống nổi, dẫn hơn mười quân kỵ mã ngay đêm
hôm ấy chạy sang Kinh Huyện.
Tôn Sách lại vừa được thêm một
tay phụ tá nữa là Trần Vũ tự là Tử Liệt. Vũ mình cao bảy thước, mắt vàng, con
ngươi đỏ, hình dung cổ quái. Sách yêu lắm cho làm hiệu úy, sai đi tiên phong
đánh Tiết Lễ. Vũ dẫn hơn mười kỵ mã, xông vào trong trận chém hơn năm mươi đầu
giặc. Tiết Lễ thấy vậy đóng chặt cửa thành không dám ra nữa. Sách đang đánh phá
thành, có người báo rằng:
– Lưu Do hội với Trích Dung sang
lấy Ngưu Chử. Sách giận lắm, tự để đại quân kéo về Ngưu Chử. Lưu Do, Trích Dung
hai người cùng cưỡi ngựa ra đón đánh. Tôn Sách nói:
– Ta nay đã đến đây, sao các
ngươi không hàng ngay đi?
– Sau Lưu Do bỗng có một người
vác giáo cưỡi ngựa ra, đó là bộ tướng tên là Vu Mi, cùng Sách đánh nhau, chưa
được ba hiệp, bị Sách bắt sống rồi quay ngựa trở về trận. Tướng Lưu Do là Phàn
Năng, thấy Vu Mi bị bắt liền vác giáo đuổi theo, ngọn giáo đâm gần chạm đến
lưng Tôn Sách, quân Sách thấy vậy mới kêu to lên rằng:
– Sau lưng có người đâm trộm.
Sách quay đầu lại, thấy Phàn Năng đã đến gần, quát to một tiếng, như tiếng sét.
Phàn Năng khiếp đảm, ngã quay xuống vỡ đầu ra chết. Sách về đến cửa cờ, đem Vu
Mi bỏ xuống đất, thì ra Vu Mi bị cắp ở nách đã chết kẹp từ bao giờ. Cùng một
lúc, cắp chết một tướng, quát chết một tướng, từ đấy ai cũng gọi Tôn Sách là Tiểu
Bá Vương. (Hạng Võ ngày xưa là Bá Vương). Lưu Do thua to. Quân sĩ hàng Sách quá
nửa. Sách lại chém được hơn một vạn thủ cấp. Do và Trích Dung chạy sang Dự
Chương, đi theo Lưu Biểu.
Tôn Sách đem quân về lại đánh Mạt
Lăng. Ðến cạnh bờ hào, Sách đứng chiêu dụ Tiết Lễ hàng, chợt có một mũi tên ở
trên thành bắn xuống trúng ngay vào đùi trái Tôn Sách. Tôn Sách ngã ngựa. Các
tướng vội vàng đến cứu, đỡ Sách dậy đem về trại nhổ tên ra, lấy thuốc dấu dịt
vào. Sách nhân thể cho quân đi nói phao lên rằng bị tên bắn chết. Cả cánh quân
làm lễ cử ai, nhổ trại kéo về Tiết Lễ tưởng Tôn Sách chết thật, đêm hôm ấy liền
khởi cả quân trong thành cùng với kiêu tướng là Trương Anh, Trần Hoành, kéo ra
thành đuổi đánh. Bỗng đâu quân phục bốn mặt trổ ra, Tôn Sách đứng đầu đi trước
gọi to lên rằng:
– Tôn Lang ở đây mà. Quân giặc
trông thấy mất vía vứt cả gươm giáo, phục xuống đất lạy, Sách truyền lệnh không
được giết một người nào. Trương Anh quay ngựa chạy về bị Trần Vũ đâm chết. Trần
Hoành bị Tưởng Khâm bắn chết; Tiết Lễ chết ở trong đám loạn quân. Sách vào Mạt
Lăng, phủ dụ cho dân yên nghiệp rồi đem quân sang Kinh Huyện để bắt Thái Sử Từ.
Thái Sử Từ chiêu được hai ngàn
quân tinh tráng và quân cũ của mình, toan đi báo thù cho Lưu Do. Tôn Sách với
Châu Du bàn nhau kế bắt sống Thái Sử Từ. Châu Du ra lệnh bao vây ba mặt, để chừa
một mặt cửa đông huyện cho Từ chạy. Cách huyện 25 dặm, phục binh ba nơi, Từ ra
khỏi thành chạy được đến đấy, người mệt, ngựa mỏi, tất nhiên bị bắt.
Nguyên những quân của Thái Sử Từ
dụ được quá nửa là người ở rừng núi, chưa biết kỷ luật nhà binh. Vả thành Kinh
Huyện lại không được cao. Ðêm hôm ấy Tôn Sách sai Trần Vũ, mặc áo ngắn cầm đao,
trèo lên mặt thành trước đốt lửa. Từ thấy trên thành lửa cháy, lên ngựa chạy ra
cửa Đông. Tôn Sách đem quân lại đuổi, đuổi đến ba mươi dặm thì thôi. Từ chạy được
năm mươi dặm, người ngựa đều đã mỏi mệt, giữa lúc ấy trong đám cỏ lau bên đường
có tiếng reo nổi lên. Từ vội chạy, hai bên đường chằng chịt những dây, ngựa vướng
cẳng ngã gục xuống. Thái Sử Từ bị bắt sống, giải về trại Tôn Sách. Lúc quân
lính sắp giải Từ đến nơi, Sách biết trước ra tận cửa dinh, quát đuổi quân lính,
tự ra cởi trói, rồi đem áo cẩm bào mặc cho Từ, mời vào trong trại nói rằng:
– Ta biết Tử Nghĩa là một đấng
trượng phu. Bởi Lưu Do ngu xuẩn, không biết dùng Tử Nghĩa làm đại tướng cho nên
đến nỗi có trận thua này. Từ thấy Sách đối đãi mình tử tế, xin xuống hàng, Sách
cầm lấy tay Từ cười nói rằng:
– Khi đánh nhau ở Thần Ðình, giá
thử ông bắt được tôi, thì có hại nhau không? Từ cũng cười đáp rằng:
– Cũng chưa biết chừng! Sách cười
ầm lên, mời vào trướng, mời lên ngồi trên, sai mở tiệc yến khoản đãi. Từ đứng dậy
nói rằng:
– Lưu quân mới thua, lòng quân
tan rã tôi xin về để thu nhặt tàn quân, để giúp minh công. Không biết minh công
có tin không? Sách đứng dậy tạ mà nói rằng:
– Bụng tôi vẫn ước như thế. Nay
xin hẹn với ông, trưa mai tôi xin đợi ông trở lại. Từ vâng lời rồi đi. Các tướng
ngạc nhiên nói rằng:
– Thái Sử Từ đi chuyến này tất
không trở lại đâu. Sách nói:
– Từ là người tín nghĩa không
trái ước với ta. Các tướng chẳng ai tin. Hôm sau cắm một cây nêu để đo bóng mặt
trời ở trước cửa trại, rồi các tướng cùng xúm cả chung quanh đễ đợi giờ ngọ.
Cây nêu vừa đứng bóng, thấy Thái Sử Từ dẫn hơn một ngàn quân đến. Các tướng đều
chịu Tôn Sách là biết người.
Tôn Sách tụ được vài vạn quân,
bình trị được Giang Ðông, vỗ yên dân chúng, người kéo về theo vô số. Dân Giang
Ðông ai cũng gọi Sách là Tôn Lang. Nghe tin quân Tôn Sách đến, dân chúng đều sợ
hãi bỏ chạy cả, nhưng khi Sách đến nơi, không cho phép người nào cướp bóc của
dân, cho đến gà chó cũng không kinh động. Nhân dân thấy thế ai cũng mừng, đem
trâu rượu đến trại để mừng. Sách lại đem vàng, đem lụa ra thưởng lại. Tiếng vui
mừng, hân hoan vang khắp đồng nội. Phàm những quân cũ của Lưu Do, ai muốn theo
thì cho theo, ai không muốn theo thì cấp thưởng cho về làm ruộng. Dân Giang Nam
ai cũng khen Tôn Sách là người nhân đức. Bởi vậy quân thế mỗi ngày một thịnh.
Bấy giờ Sách mới rước mẹ, cậu và
các em cùng về Khúc A; sai em là Tôn Quyền cùng với Chu Thái giữ Tuyên Thành,
Sách thì lĩnh binh sang Nam để lấy Ngô Quận. Bấy giờ Nghiêm Bạch Hổ tự xưng là
Ðông Ngô Ðức Vương, giữ ở Ngô Quận. Bạch Hổ sai bộ tướng giữ Ô Trình và Gia
Hưng. Bấy giờ nghe tin quân Tôn Sách đến, Bạch Hổ sai em là Nghiêm Dư đem quân
ra. Hai bên gặp nhau ở Phong Kiều. Dư vác đao cưỡi ngựa đứng trên cầu. Sách muốn
ra đánh, Trương Hoành can rằng:
– Chủ tướng là vận mệnh của ba
quân, ai cũng trông cậy cả vào, không nên khinh thường quân tiểu khấu. Xin tướng
quân tự cẩn thận. Sách tạ nói rằng:
– Lời tiên sinh nói như vàng đá.
Nhưng nếu tôi không chịu xông vào mũi tên hòn đạn thì tướng sĩ ai chịu dùng sức.
Bèn sai Hàn Ðương cưỡi ngựa ra
Khi Hàn Ðương đi lên đến cầu, đã thấy Tưởng Khâm, Trần Vũ bơi thuyền nhỏ theo bờ
sông, lượn sang được bên kia cầu, bắn tên tua tủa lên quân đứng trên bờ, hai
người nhảy lên đánh giết, quân Nghiêm Dư phải lui chạy. Hàn Ðương kéo quân thẳng
đến cửa thành. Giặc chạy cả vào trong thành. Sách chia quân, đường thủy đường lục
cùng tiến, vây bọc cả lấy Ngô Thành. Vây luôn ba ngày không ai dám ra đánh.
Sách dẫn quân đến dưới cửa thành để chiêu dụ. Trên thành một viên tỳ tướng, tay
trái cầm chắc thanh ván đỡ lên, tay phải trỏ xuống chửi mắng. Thái Sử Từ ngồi
trên ngựa giương cung đặt tên xong rồi ngoảnh lại bảo chư tướng rằng:
– Xem ta bắn trúng vào tay trái
tên kia nhé. Nói chưa dứt lời, dây cung tách một tiếng, quả nhiên trúng giữa
bàn tay trái tên tướng trên thành, lại xuyên qua tay cắm chắc vào tấm ván. Người
trên thành dưới thành ai cũng reo ồ lên. Họ vội vàng cứu tướng ấy đem xuống
thành.
Bạch Hổ trông thấy thất kinh nói
rằng:
– Quân hắn có người tài như thế,
ta địch sao được. Bàn nhau muốn cùng hòa. Hôm sau Bạch Hổ sai Nghiêm Dư ra
thành, vào ra mắt Tôn Sách. Sách mời Dư vào trướng uống rượu. Rượu đã say, Sách
hỏi Dư:
– Ý lệnh huynh muốn thế nào? Dư
nói:
– Muốn cùng với tướng quân chia
đôi Giang Ðông.
Sách nổi giận mắng rằng:
– Ðàn chuột nhắt lại đòi ngang
hàng với ta à? Mắng rồi thét đem Nghiêm Dư ra chém. Dư rút kiếm đứng dậy. Sách
phóng kiếm trúng người. Nghiêm Dư gục xuống, cắt ngay lấy đầu, sai người đưa
vào thành. Bạch Hổ biết chừng không địch nổi, bỏ thành chạy. Sách kéo quân đuổi
theo Hoàng Cái đánh lấy được Gia Hưng, Thái Sử Từ đánh lấy được Ô Trình, mấy
châu đều bình định cả. Bạch Hổ chạy về Dư Hàng, cướp bóc ở dọc đường, lại bị thổ
dân ở đấy tên là Lăng Tháo đem người làng ra đánh, Bạch Hổ phải thu quân về Cối
Kê. Hai cha con Lăng Tháo lại đi đón Tôn Sách. Sách cho làm Tòng Chinh Hiệu úy,
cũng dẫn quân sang qua sông. Bạch Hổ tụ quân, dàn khắp ở bến sông phía Tây.
Trình Phổ đánh một trận lại thắng đuổi mãi đến thành Cối Kê. Thái thú Cối Kê
tên là Vương Lãng, muốn đem quân ra cứu Bạch Hổ, có người can rằng:
– Không nên cứu, Tôn Sách dùng
quân nhân nghĩa; Bạch Hổ là một tướng bạo ngược. Nên bắt Bạch Hổ đem dâng Tôn
Sách. Lãng nhìn xem ai bàn kế ấy, thì là Ngu Phiên, tự là Trọng Tường, người ở
Cối Kê, hiện đương làm quận lại. Lãng giận mắng Phiên. Phiên thở dài trở ra.
Lãng đem binh hội với Bạch Hổ, dàn quân ở cánh đồng Sơn Âm; hai bên đối trận.
Tôn Sách cưỡi ngựa ra bảo Vương Lãng rằng:
– Ta cất quân nhân nghĩa đi dẹp
Triết Giang, sao ngươi dám vào hùa với giặc? Lãng mắng rằng:
– Bụng ngươi tham không có chừng,
đã được Ngô Quận rồi còn muốn chiếm nốt bờ cõi ta. Nay ta quyết báo thù cho họ
Nghiêm. Tôn Sách giận lắm, sắp ra đánh nhau thì Thái Sử Từ ra lúc nào rồi.
Vương Lãng múa đao tế ngựa, đánh nhau với Từ chưa được vài hiệp, tướng Lãng là
Chu Hán nhảy ra đánh đỡ. Bên này Hoàng Cái cũng tế ngựa ra tiếp ứng, đánh với
Chu Hân Hai bên đánh trống vang lừng, đánh nhau quyết liệt. Tự nhiên thấy đằng
sau trận Vương Lãng bối rối. Một toán quân đâu từ sau lưng đánh lại. Lãng thất
kinh kíp quay ngựa trở lại đón đánh.
Quân đánh tập hậu ấy là Châu Du
và Trình Phổ, trong khi hai bên đánh nhau, đi tắt lẻn mặt sau, đằng trước đằng
sau đánh dập lại. Quân Lãng ít không chống xuể, cùng với Bạch Hổ, Chu Hân, cố
đánh để mở lấy một đường máu chạy vào thành, cất cầu lên, đóng vững cửa thành lại.
Ðại quân Tôn Sách thừa thế, xấn đến mãi dưới thành, chia quân ra bốn cửa. Vương
Lãng ở trong thành thấy Sách đánh kíp lắm, lại muống kéo quân ra quyết đánh một
trận sống chết cũng đành. Bạch Hổ can rằng:
– Thế quân Tôn Sách to lắm, túc hạ
chỉ nên thành cao hào sâu giữ cho vững. Không đầy một tháng, quân kia hết lương
tất phải chạy. Bấy giờ ta thừa thế ra đuổi, có thể chẳng phải đánh cũng phá tan
được. Lãng nghe kế ấy, giữ vững thành không ra. Tôn Sách đánh luôn mấy hôm
không phá được thành, bèn cùng chư tướng bàn mưu kế. Tôn Tĩnh nói:
– Vương Lãng cậy hiểm giữ thành,
khó phá ngay được. Tiền lương đất Cối Kê quá nửa chứa ở Tra Ðộc. – đây cách đấy
chỉ vài mươi dặm, không bằng ta hãy đem binh giữ lấy Tra Ðộc trước. Trong binh
pháp có nói rằng: “Đánh chỗ không phòng bị, ra nơi không ngờ, là thế đó”.
Sách mừng nói:
– Mẹo hay của chú đủ phá được giặc.
Liền hạ lệnh sai các cửa thành đốt lửa giả, cắm cờ hiệu để làm nghi binh, rồi
đêm hôm ấy bỏ bao vây, kéo quân sang mặt Nam. Châu Du hiến một kế rằng:
– Chúa công kéo cả quân, Vương
Lãng tất ra thành đuổi theo. Nếu hắn ra ta nên dụng kỳ binh mà đánh. Sách nói:
– Ta đã sắp sẵn cả rồi. Lấy thành
chỉ nội đêm nay. Bèn hạ lệnh cho quân mã đi Vương Lãng nghe tin báo Tôn Sách
rút quân mã đi, liền dẫn quân lên chòi canh trông xem, thấy dưới thành khói lửa
vẫn ngùn ngụt, tinh kỳ đâu vẫn đấy, trong bụng còn nghi hoặc, Chu Hân nói:
– Tôn Sách chạy rồi, bày ra mẹo
này để đánh lừa ta đấy thôi, nên đem quân ra đuổi đánh Nghiêm. Bạch Hổ nói:
– Tôn Sách chuyến này đi, chắc là
đến Tra Ðộc. Tôi xin đem bộ binh cùng Chu tướng quân đuổi theo. Lãng nói:
– Tra Ðộc là chỗ ta chứa lương, cần
phải đề phòng cẩn thận. Ngươi đi trước, ta theo sau để tiếp ứng Bạch Hổ cùng
Chu Hân dẫn năm ngàn quân ra thành đuổi theo. Bây giờ mới canh một. Ði khỏi
thành được hơn hai mươi dặm, bỗng đâu trong rừng rậm, có một tiếng trống nổi, rồi
lửa đuốc sáng rực cả lên. Bạch Hổ thất kinh, liền quay ngựa trở lại, thì có một
tướng chắn ngang đường, chính là Tôn Sách. Chu Hân múa đao lại đánh, bị Sách
đâm một mũi giáo chết. Quân thấy thế xuống hàng cả. Bạch Hổ cố chết mở một đường,
rồi chạy về Dư Hàng.
Vương Lãng nghe tiền quân đã
thua, không dám vào thành, dẫn bộ binh chạy ra góc bể đi trốn. Tôn Sách thu
quân trở lại, thừa thế lấy ngay thành trì, vỗ yên nhân dân.
Ðược mấy hôm có người mang đầu Bạch
Hổ đến dâng. Tôn Sách nhìn người ấy, mình cao tám thước, mặt vuông, mồm rộng; hỏi
tên họ là gì, thì người ấy xưng tên là Ðổng Tập, tự là Nguyên Ðôi, người ở Cối
Kê. Sách mừng lắm, cho làm Biệt Bộ Tư Mã. Từ đó xứ Ðông bình định được cả. Sách
sai chú là Tôn Tĩnh giữ ở đấy; sai Chu Trị làm thái thú Ngô Quận, còn mình thì
thu quân về Giang Ðông. Em Sách là Tôn Quyền cùng với Chu Thái giữ ở Tuyên
Thành. Chợt có giặc núi bốn mặt kéo đến. Bấy giờ đem đã khuya, không kịp chống
cự. Thái ôm Quyền lên ngựa để chạy. Giặc vác đao xông vào chém. Thái cởi trần
ra, xuống ngựa đi bộ, cầm đao đánh nhau với giặc, một lúc giết luôn được hơn mười
đứa. Sau có một tên giặc, tế ngựa vác giáo nhảy xổ vào để giết Chu Thái. Thái nắm
ngay được giáo, đẩy giặc ngã xuống, cướp được ngựa giặc, đánh riết mở được đường
ra, cứu được Tôn Quyền. Giặc thấy vậy chạy cả. Thái bị cả thảy mười hai vết
thương nặng, sưng lên, gần chết. Sách nghe tin lo lắm. Ðổng Tập nói:
– Tôi đã nhiều phen đánh nhau với
giặc bể, bị thương may có một người quận lại ở Cối Kê, tên là Ngu Phiên, tiến cử
một thầy thuốc, chữa cho chỉ nửa tháng là khỏi. Sách hỏi:
– Ngu Phiên có phải là Ngu Trọng
Tường không? Tập thưa:
– Phải! Sách nói:
– Người ấy là hiền sĩ, ta nên
dùng! Liền sai Trương Chiêu, Ðổng Tập đến mời Ngu Phiên. Phiên đến. Sách thết
đãi cực hậu, cho làm Công Tào. Nhân nói chuyện thầy thuốc, Phiên nói rằng:
– Người ấy là người ở Tiêu Quận,
nước Bái, tên là Hoa Ðà, tự là Nguyên Hóa; thực là thần y bây giờ, tôi xin đưa
đến để yết kiến. Ðược mấy bữa Phiên đem Hoa Ðà đến. Sách thấy người mặt còn trẻ,
mà tóc bạc phơ phơ, tựa như một ông tiên, tiếp đãi làm một thượng khách, rồi mời
xem bệnh cho Chu Thái. Hoa Ðà xem rồi nói:
– Bệnh này chữa thực dễ. Cho thuốc
rịt một tháng. Chu Thái khỏi hẳn. Sách mừng lắm, hậu tạ Hoa Ðà rồi tiến binh tiểu
trừ giặc núi. Giang Nam bình định cả. Sách chia cho các tướng giữ các cửa ải, một
mặt viết biểu tâu về triều đình, một mặt kết giao với Tào Tháo, một mặt đưa thư
cho Viên Thuật để đòi lại ngọc tỉ. Viên Thuật từ khi nắm được tỉ phù, có ý muốn
giữ lấy để xưng hoàng đế, khi tiếp được thư Tôn Sách, liền đưa thư đáp lại tìm
cớ thoái thác không trả, rồi kíp Triệu Trưởng Sử là Dương Ðại Tướng; Ðô Ðốc là
Trương Huân, Kỷ Linh, Kiều Di; thượng tướng là Lôi Bạc, Trần Lan, cả thẩy hơn
ba mươi người, bàn với nhau rằng:
– Tôn Sách mượn quân mã của ta để
khởi sự, nay đã lấy hết được đất Giang Ðông, đã quên ơn ta, lại dám đòi lại ngọc
tỉ, thực là xấc láo, có phương kế gì trị hắn đi chăng? Dương Ðại tướng nói:
– Tôn Sách giữ chổ hiểm Trường
Giang, binh giỏi, lương nhiều, cũng chưa dễ trị được. Nay ta nên đánh Lưu Bị
trước để báo thù xưa vô cớ sang đánh ta. Rồi sau ta hãy sửa Tôn Sách, cũng
không muộn. Nay tôi xin dâng một kế làm cho Lưu Bị phải bị bắt lập tức ngay bây
giờ.
Thế là:
Lại sang Từ Quận bắt giao long
Chưa
biết kế của Dương Ðại tướng hiến ra làm sao, xem tới hồi sau sẽ rõ.
----------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét