Nhường ngôi báu Yên Khoái hại mình
Dâng đất dối Trương Nghi lừa Sở
Lại nói Tô Tần đã liên hợp được sáu nước, bèn sai viết một bản tung ước bỏ vào cửa quan nước Tần, viên quan lại đưa về trình Huệ Văn-vương. Huệ Văn-vương cả sợ, hỏi tướng quốc Công tôn Diễn rằng:
– Nếu sáu nước hợp một, thì quả
nhân không còn mong gì tiến thủ nữa! Tất phải nghĩ kế phá cái tung ước ấy, mới
có thể mưu đồ việc lớn được!
Công tôn Diễn nói:
– Đứng đầu tung ước là nước Triệu.
Đại vương nên đem quân đánh Triệu, xem nước nào cứu nước Triệu trước, ta lập tức
dời quân đi đánh nước ấy, như vậy thì chư hầu đều sợ mà tung ước phải vỡ ngay.
Bấy giờ Trương Nghi cũng ngồi đó,
ý muốn gạt việc đánh Triệu ra để báo ơn Tô Tần, bèn nói rằng:
– Sáu nước mới hợp, cái thế chưa
thể làm vỡ ngay được. Nếu Tần đánh Triệu thì năm nước kia sẽ đem tinh binh để
trợ chiến, quân Tần lo chống lại còn chưa nổi, lại còn hòng dời đi đánh nước
nào nữa? Ở ngay cạnh nước Tần là nước Ngụy, mà ở xa mãi phía bắc là nước Yên, nếu
đại vương sai sứ đem nhiều tiền của đút lót cầu thân với Ngụy, làm cho các nước
sinh lòng ngờ nhau, lại cùng thái tử nước Yên kết hôn, như thế thì rồi đây tung
ước tất phải tự giải vậy.
Huệ Văn-vương lấy làm phải, bèn hứa
trả lại nước Ngụy bảy thành, để cầu hoà. Ngụy cũng sai người đến đáp lễ Tần, lại
đem con gái gả cho thái tử nước Tần. Triệu vương nghe tin, đòi Tô Tần vào trách
rằng:
– Nhà ngươi xướng ra việc hợp
tung, sáu nước hoà thuận cùng nhau chống Tần, nay chưa được hơn một năm mà hai
nuớc Yên, Ngụy đều đã thông Tần, coi vậy đủ biết tung ước là không đủ cậy. Nếu
quân Tần bỗng đến đánh Triệu, thì còn mong gì hai nước ấy đến cứu nữa?
Tô Tần sợ hãi tạ rằng:
– Tôi xin vì đại vương sang sứ nước
Yên, rồi sau sẽ có cách bảo lại nước Ngụy.
Tần bèn bỏ Triệu sang Yên. Địch
vương nước Yên cho Tần làm tướng quốc. Bấy giờ Địch vương mới lên ngôi, Tề Tuyên-vương
nhân lúc có tang đem quân đến đánh, lấy mất mười thành của Yên, Địch vương bảo
Tô Tần rằng:
– Trước đây tiên quân đem cả nước
mà gửi cả vào lời nói của tiên sinh để sáu nước hoà thân với nhau. Nay tiên
quân chết chưa héo cỏ, mà quân Tề đã đến đánh lấy mười thành, thế thì còn coi lời
thề ở Hằng Thuỷ ra gì nữa!
Tô Tần nói:
– Tôi xin vì đại vương sang nước
Tề, khiến họ phải trả lại mười thành cho nước Yên.
Địch vương bằng lòng, Tô Tần liền
đi sang Tề, nói với Tuyên-vương rằng:
– Vua Yên là đồng minh của đại
vương, mà cũng là con rể yêu của vua Tần. Đại vương lấy được mười thành của Yên
thì lấy làm lợi, nhưng rút cục không những Yên oán Tề mà Tần cũng oán Tề nữa.
Được mười thành mà chuốc lấy hai cái oán, không phải là kế hay. Nay đại vương
nên theo kế của tôi, trả lại nước Yên mười thành, mà kết thân với hai nước Yên,
Tần, khi Tề đã có hai nước ấy làm vây cánh, thì đứng ra mà hiệu triệu thiên hạ,
tửơng chẳng khó gì.
Tuyên-vương nghe lời, đem mười
thành trả Yên. Bà mẹ Địch vương là Văn phu nhân vốn mến tài Tô Tần, sai tả hữu
đòi Tần vào cung, nhân đó tư thông với Tần. Địch vương biết mà không nói. Tần sợ,
bèn kết thân với tướng quốc Yên là Tử Chi và làm thông gia với nhau, lại khiến
hai em là Tô Đại, Tô Lệ cùng Tử Chi kết làm anh em, muốn để giữ mình, Văn phu
nhân năng triệu Tô Tần vào cung, Tần càng sợ không dám vào, bèn nói với Địch
vương rằng:
– Cái thế Yên Tề thế nào rồi cũng
đến nuốt nhau. Tôi xin vì đại vương sang phản gián ở Tề.
Địch vương hỏi phản gián thế nào,
Tô Tần nói:
– Tôi giả làm mắc tội ở Yên mà chạy
sang Tề, vua Tề tất trọng dụng tôi, tôi nhân đó mà làm cho nền chính trị nước Tề
phải hỏng, để làm lợi cho Yên.
Địch vương bằng lòng, bèn thu lại
tướng ấn của Tô Tần, Tần bèn chạy sang Tề, Tề Tuyên-vương liền cho làm khách
khanh. Tần nhân đó mà dẫn dụ Tuyên-vương vào những thú vui săn bắn múa hát; Tuyên-vương
hám của thì Tần xui đánh thuế nặng; Tuyên-vương mê đắm sắc đẹp, thì Tần bày vẽ
cách thức khéo léo để tuyển nhiều con gái vào cung, mục đích là làm cho Tề loạn,
để nước Yên thừa cơ đánh Tề. Thế mà Tuyên-vương không hề tỉnh ngộ. Tướng quốc
Điền Anh và khách khanh là Mạnh Kha hết sức can ngăn, Tuyên-vương đều không
nghe. Tuyên-vương mất, con là Mân-vương nối ngôi, lúc đầu cũng biết chăm nom quốc
chính, lấy con gái nước Tần là chính hậu, phong Điền Anh làm tiết công, Tô Tần
vẫn được làm khách khanh như cũ.
Lại nói Trương Nghi nghe tin Tô Tần
bỏ nước Triệu, biết là “tung ước” sắp tan, bèn không cho nước Ngụy bảy ấp Tương
Lăng nữa. Ngụy Tương-vương giận, sai người đến Tần đòi đất. Tần Huệ-vương cử
công tử Hoa làm đại tướng, Trương Nghi làm phó, đem quân đánh Ngụy, hạ được
thành Bồ Dương. Nghi xin với vua Tần đem Bồ Dương trả cho Ngụy, lại sai công tử
Do sang làm con tin ở Ngụy, cùng Ngụy kết thân. Trương Nghi đưa công tử Do sang
tận nơi, vua Ngụy cảm lòng tốt của vua Tần, Trương Nghi thừa cơ nói rằng:
– Vua Tần đãi nước Ngụy rất hậu,
được đất không lấy, lại gửi con tin. Nếu đại vương tạ ơn Tần bằng đất đai thì Tần
có hậu tình với đại vương. Tần, Ngụy hợp binh để mưu chư hầu, đại vương sẽ lấy
đều ở nước khác còn nhiều gấp mười cái phần đất phải dâng ngày nay.
Vua Ngụy tin lời, bèn dâng đất
Thiếu Lương để tạ Tần, lại không dám nhận con tin. Vua Tần bằng lòng lắm, bèn
bãi Công tôn Diễn, dùng Trương Nghi làm tướng. Bấy giờ Uy vương nước Sở đã mất,
con là Hùng Hòe nối ngôi, ấy là Hoài-vương. Trương Nghi bèn sai người đưa thư
cho Hoài-vương xin cho đón vợ con sang Tần và nói đến cái oan của Nghi bị ngờ
là lấy trộm ngọc bích ngày trước. Hoài-vương trách Chiêu Dương rằng:
– Trương Nghi là hiền sĩ, sao trước
kia nhà ngươi không tiến cử với tiên quân lại hiếp bách khiến hắn phải bỏ Sở
sang Tần?
Chiêu Dương không nói gì, nghĩ thẹn
quá, về nhà phát bệnh mà chết. Hoài-vương sợ Trương Nghi giúp Tần để thôn tính
các nước, thì lại muốn dùng cái ước “hợp tung” của Tô Tần để liên kết chư hầu,
nhưng Tô Tần đã bị tội ở Yên, bỏ Yên chạy sang Tề rồi. Trương Nghi bèn xin vua
Tần cho từ chức tướng quốc để đi sang Ngụy. Huệ Văng vương hỏi:
– Khanh bỏ Tần sang Ngụy là cớ gì?
Nghi nói:
– sáu nước mà còn say đắm cái
thuyết của Tô Tần, thì “tung ước” chưa có thể phá ngay được. Tôi nếu được cầm
quyền ở Ngụy thì sẽ khiến nước Ngụy phải thần phục nước Tần trước, để làm gương
cho chư hầu.
Huệ Văn-vương bằng lòng. Nghi liền
đi sang Ngụy, quả nhiên Ngụy Tương-vương dùng Nghi làm tướng quốc, Nghi nhân dịp
này tỏ các điều lợi hại, bảo Ngụy cần phải thần phục Tần mới được yên. Vua Ngụy
chưa định kế ra sao Nghi ngầm sai người xui Tần đánh Ngụy! quân Tần đại thắng,
lấy được Khúc Ốc. Tương-vương nổi giận, càng không chịu phục Tần, lại dùng kế
“hợp tung”, cử Sở Hoài-vương làm “tung ước trưởng”, vì thế Tô Tần lại càng được
trọng dụng ở Tề. Bấy giờ tướng quốc nước Tề là Điền Anh đã mất, con là Điền Văn
nối làm tiết công, gọi là Mạnh Thường quân. Điền Anh có hơn bốn mươi người con
trai, Điền Văn là con một người tiện thiếp, vì sinh vào ngày mùng năm tháng
năm, nên khi mới sinh, Điền Anh bảo người thiếp bỏ đi chớ nuôi, người thiếp
không nỡ bỏ, đem nuôi giấu một chỗ. Khi Văn lên năm tuổi, người thiếp mới dẫn đến
yết kiến Điền Anh.Anh giận là dám trái lệnh, Văn dập đầu nói rằng:
– Vì cớ gì mà cha lại nỡ lòng bỏ
con?
Anh nói:
– Người đời vẫn nói mùng năm
tháng năm là ngày hung, ai sinh con vào ngày ấy khi lớn lên nó cao bằng cái cổng,
sẽ bất lợi cho cha mẹ.
Văn thưa rằng:
– Người ta sinh ra là thụ mệnh ở
trời, nào phải thụ mệnh ở cái cổng? nếu quả là thụ mệnh ở cái cổng, thì sao
không xây thêm cho nó cao lên?
Điền Anh không biết nói thế nào nữa,
nhưng nghĩ thầm cho là một đứa trẻ khác thường. Đến khi Văn lên mười tuổi, đã
biết tiếp ứng tân khách. Tân khách đều thích chơi với Văn. Sứ giả các nước đến
Tề, nghe tiếng Văn đều đến yết kiến; Điền Anh biết cái tài của Văn, lập làm
đích tử, được nối tước tiết công, gọi là Mạnh Thường quân. Mạnh Thường quân đã
nối tước, xây quán xá lớn để chứa kẻ sĩ trong thiên hạ, phàm người nào đến,
không hỏi hiền ngu, đều thu dụng cả. Mạnh Thường quân dẫu là bậc đại quý, nhưng
ăn uống cũng như khách cả. Một hôm Mạnh Thường quân đãi khách ăn đêm, có người
che ánh lửa sáng, khách ngỡ là cơm có hai hạng, ném đũa xin đi. Điền Văn tự đứng
dậy đem cơm so sánh, quả nhiên thấy như nhau. Người khách than rằng:
– Mạnh Thường quân đãi khách như
thế mà ta quá đem lòng ngờ, thực là tiểu nhân, còn mặt nào mà ở nhà ông ấy nữa!
Nói xong tự đâm cổ mà chết, Mạnh
Thường quân thương khóc thảm thiết, các khách thấy đều cảm động, theo về càng
ngày càng nhiều, số khách ăn trong nhà có đến vài nghìn người. Chư hầu nghe Mạnh
Thường quân là người hiền và có nhiều tân khách, đều tôn trọng nước Tề, bảo
nhau không dám đến lấn đất.
Lại nói Trương Nghi làm tướng nước
Ngụy ba năm, Tương-vương mất, con là Ai vương nối ngôi, Sở Hoài-vương sai sứ đến
điếu tang và trưng binh đánh Tần, Ai vương bằng lòng cho. Vua Hàn, vua Triệu,
vua Yên cũng đều vui lòng họp quân đánh Tần. Sứ giả nước Sở đến Tề, Mân-vương họp
quần thần lại để hỏi kế. Nhiều người nói: “Tần với Tề có cái tình thân cậu
cháu, chưa có điều gì hiềm thù thì không nên đánh”. Nhưng Tô Tần chủ trương “hợp
tung” nói quyết là nên đánh, chỉ có Mạnh Thường quân cho là đánh và không đánh
đều không nên cả, vì đánh thì kết thù với Tần, mà không đánh thì mang oán với
năm nước, chi bằng cứ ra quân mà đi chậm, quân đã ra thì năm nước không nghi
mình, đi chậm thì có thể trông ngóng tình thế mà tiến hoặc lui.
Mân-vương cho là phải, bèn sai
ngay Mạnh Thường quân đem hai vạn quân đi. Quân đi đến giữa đường, lần chần
không đi. Bốn vua Hàn, Triệu, Ngụy, Yên cùng Sở Hoài-vương họp quân ở ngoài cửa
Hàm Cốc, định ngày tiến quân, vua Sở dẫu làm “tung ước trưởng”, nhưng bốn vua
kia đều tự chỉ huy lấy quân của mình, không thống nhất với nhau. Chủ tướng nước
Tần là Vu Lí mở toang cửa thành, bày trận khiêu chiến. Vua năm nước đều đùn
nhau, không ai dám ra trước. Cầm cự với nhau được vài ngày, Vu Lí Tật dùng kế
tuyệt đường lương quân Sở; quân Sở thiếu ăn đều nhốn nháo cả lên. Vu Lí Tật thừa
cơ đánh úp, quân Sở thua chạy, bốn nước kia cũng kéo quân về. Mạnh Thường quân
chưa đi đến cõi nước Tần mà quân năm nước đã rút hết rồi, đó là diệu kế của Mạnh
Thường quân. Mạnh Thường quân về Tề, Mân-vương phàn nàn suýt nghe lầm kế của Tô
Tần, bèn cho Mạnh Thường quân trăm cân hoàng kim, chi thêm về việc nuôi khách
ăn, lại đem lòng yêu trọng. Tô Tần tự thấy xấu hổ không bằng Mạnh Thường quân.
Từ đời Tề Tuyên-vương, Tô Tần được trọng dụng, nên bọn tả hữu qúy khách có nhiều
người ghen ghét; đến đời Mân-vương, vẫn tin yêu Tần. Nhưng từ lúc Mân-vương
không nghe kế của Tần mà nghe kế của Mạnh Thường quân đã có lòng ghét Tần, bèn
mộ tráng sĩ giắt đồ nhọn sắc lẻn vào đâm Tô Tần ở trong triều. Tô Tần bị đâm thủng
bụng, lấy tay bịt lại chạy kêu với Mân vuong. Mân-vương sai bắt hung thủ, nhưng
hung thủ đã chạy thoát. Tô Tần nói:
– Sau khi hạ thần đã chết, xin đại
vương chém đầu hạ thần, mà cho người rao lên ở ngoài chợ rằng Tô Tần vì nước
Yên đến làm phải gián ở Tề, nay may đã giết chết được Tô Tần rồi, có người nào
biết được việc kín của Tô Tần đến tố cáo, sẽ thưởng cho nghìn vàng, như vậy thì
có thể bắt được hung thủ.
Nói xong, rút mũi nhọn ở trong bụng
ra, máu chảy đầy đất mà chết. Mân-vương theo lời Tô Tần chém đầu Tô Tần đem hiệu
lệnh ở trong chợ, bỗng có người đi qua dưới cái đầu, thấy có treo thưởng, liền
khoe với mọi người rằng:
– Kẻ giết Tô Tần tức là tôi đây!
Thị lại liền bắt trói lại, dẫn
vào nộp Mân-vương, vua sai đem tra tấn, quả nhiên ra được người chủ mưu, trị tội
tru diệt mất vài nhà. Sau khi Tô Tần đã chết, tân khách dần dần biết cái mưu của
Tần, nói Tần vì Yên mà sang làm quan ở Tề, Mân-vương mới biết Tần là người lừa
dối, từ đó sinh lòng thù Yên, muốn sai Mạnh Thường quân đem quân đánh Yên. Tô Đại
bảo vua Yên nộp con tin để hoà với Tề, vua Yên nghe lời và sai Tô Lệ đem con
tin sang yết kiến Mân-vương, Mân-vương vẫn căm giận Tô Tần, muốn giam Tô Lệ, Lệ
kêu lên rằng:
– Vua Yên muốn theo Tần, anh em
tôi hết sức bày tỏ đức tốt của đại vương, nói theo Tần không bằng theo Tề, nên
mới sai tôi nộp con tin để cầu hoà, sao đại vương lại ngờ bụng người chết mà bắt
tội người sống?
Mân-vương bằng lòng, bèn hậu đãi
Tô Lệ. Lệ bèn ở lại nước Tề làm đại phu, còn Tô Đại thì vẫn còn làm quan ở nước
Yên.
Lại nói Trương Nghi thấy sáu nước
đánh Tần không thành công, trong lòng mừng thầm, đến khi nghe tin Tô Tần chết
thì cả mừng mà nói rằng:
– Ngày nay mới là lúc ta được thi
thố hết tài trí của ta!
Bèn nói với Ngụy Ai vương rằng:
– Mạnh như nước Tần thì chưa có
thừa sức mà chống được với sáu nước, như vậy càng rõ cái lẽ không thể chống
nhau với Tần được. Xướng ra cái nghị “hợp tung” là Tô Tần, mà Tần không giữ
toàn được thân mình, phương chi còn giữ được nước cho người ư? Anh em ruột mà
cũng còn có lúc vì tiền tài mà tranh giành nhau, phương chi là nước nọ với nước
kia? Đại vương còn tin cái thuyết của Tô Tần mà không chịu theo nước Tần, nếu
trong các nước có một nước nào theo Tần trước, hợp binh đánh Ngụy, thì Ngụy đến
nguy mất!
Ai vương nói:
– Quả nhân muốn nghe lời tướng quốc
mà theo Tần, chỉ sợ Tần cự không nhận, thì biết làm thế nào?
Nghi nói:
– Tôi xin vì đại vương tạ tội với
Tần để kết tình giao hảo của hai nước.
Ai vương liền sai Nghi sang Tần cầu
hoà. Từ đó Tần Ngụy đi lại với nhau, Trương Nghi lại lưu ở Tần làm tướng quốc.
Lại nói tướng quốc nước Yên là Tử
Chi, mình dài tám thước, lưng to mười ôm, thân thể béo nặng, mặt rộng mồm
vuông, tay với bắt được chim bay, chân ruổi theo kịp ngựa chạy, từ đời Địch
vương đã cầm quyền chính, đến khi vua mới là Khoái lên ngôi, say đắm tửu sắc,
chỉ ham vui chơi, không trông nom việc nươc, Tử Chi có ý muốn cướp ngôi nước
Yên. Tô Đại, Tô Lệ chơi thân với Tử Chi, mỗi khi đổi các sứ chư hầu, thường ngợi
khen Tử Chi là người hiền tài. Yên vương Khoái sai Tô Đại sang Tề hỏi thăm con
tin, việc xong trở về. Khoái hỏi:
– Nghe nói nước Tề có Mạnh Thường
quân là bậc đại hiền trong thiên hạ, vua Tề có người tôi hiền ấy, có thể làm bá
chủ thiên hạ được chăng?
Đại nói là không thể được. Khoái
hỏi vì cớ gì, Đại nói:
– Vua Tề biết Mạnh Thường quân là
người hiền mà dùng không chuyên, thì khi nào làm nên bá chủ được!
Khoái nói:
– Quả nhân không được Mạnh Thường
quân làm tôi đó thôi, nếu được thì khó gì mà chẳng chuyên dùng.
Tô Đại nói:
– Nay tướng quốc Tử Chi thông hiểu
chính sự, tức là Mạnh Thường quân ở Yên đó!
Khoái bèn cho Tử Chi được chuyên
quyết việc nước. Bỗng một hôm, Khoái hỏi đại phu là Lộc Mao Thọ rằng:
– Các vị nhân quân ngày xưa có
nhiều, tại sao người ta lại chỉ khen có một mình Nghiêu, Thuấn?
Lộc Mao Thọ cũng là cánh Tử Chi,
bèn thưa rằng:
– Nghiêu, Thuấn mà được người ta
khen là thánh, là vì Nghiêu biết nhường thiên hạ cho Thuấn, Thuấn biết nhường
thiên hạ cho Vũ đó!
Khoái nói:
– Sao Vũ lại truyền thiên hạ cho
con?
Lộc Mao Thọ nói:
– Vũ cũng đã nhường thiên hạ cho
Ích, nhưng chỉ mới khiến Ích thay mình trông nom việc chính, mà chưa kịp bỏ
thái tử, cho nên sau khi Vũ mất, thái tử Khải liền cướp thiên hạ của Ích, vì vậy
đến nay người ta bảo là Vũ đức kém, không bằng Nghiêu, Thuấn.
Khoái nói:
– Nay quả nhân muốn đem nước nhường
cho Tử Chi, việc ấy có làm được không?
Lộc Mao Thọ nói:
– Nhà vua làm được như thế, thì
cũng chẳng khác gì Nghiêu, Thuấn vậy.
Khoái bèn họp cả quần thần, bỏ
thái tử Bình mà truyền ngôi cho Tử Chi. Tử Chi giả cách từ chối hai ba lầnn rồi
sau mới nhận, rồi làm lễ tế trời đất, đội mũ miện, mặc áo cổn, cầm ngọc khuê,
ngoảnh mặt về phương Nam mà xưng vương, không hề có chút ngượng nghịu, Khoái
thì về phương bắc chịu đứng vào hàng bày tôi, dọn ra ở một cung riêng. Tô Đại,
Lộc Mao Thọ đều được làm chức thượng khanh. Tướng quân Thị Bị trong lòng tức giận
quá, bèn đem quân bản bộ đến đánh Tử Chi, dân chúng cũng nhiều người theo, hai
bên đánh nhau luôn mười ngày, giết hại vài vạn người, cuối cùng Thị Bị thua, bị
Tử Chi giết chết. Lộc Mao Thọ nói với Tử Chi rằng:
– Thị Bị sở dĩ làm loạn, là vì có
thái tử Bình ở đó.
Tử Chi muốn bắt thái tử Bình.
Thái phó Quách Ngỗi cùng Bình cải trang làm dân thường, cùng nhau trốn đến núi
Vô Chung lánh nạn. Em Bình là công tử Chức thì chạy sang Hàn. Người trong nước
ai nấy đều oán giận. Mân-vương nước Tề nghe nước Yên có loạn, sai Khuông Chương
mang mười vạn quân đến đánh, người nước Yên vì căm giận Tử Chi qúa, nên đều
mang giỏ cơm bầu nước đi đón quân Tề, không người nào cầm khí giới chống lại.
Khuông Chương kéo thẳng đến kinh đô nước Yên, trăm họ mở cửa thành đón vào, bọn
Tử Chi thấy quân Tề đông quá, đều sợ hãi tìm đường chạy trốn. Tử Chi tự cậy sức
mạnh cùng Lộc Mao Thọ đem quân chống đánh ở đường lớn, quân lính tan dàn, Mộc
Mao Thọ bị giết chết. Tử Chi mình bị trọng thương, còn đánh giết được hơn trăm
người, lúc sức kiệt mới bị bắt. Còn Khoái thì thắt cổ chết ở cung riêng, Tô Đại
bỏ chạy sang nhà Chu. Khuông Chương huỷ tôn miếu nước Yên, lấy hết các của qúy ở
trong kho, bắt Tử Chi bỏ vào xe tù, cho giải trước về Lâm Tri dâng công. Đất
Yên hơn ba nghìn dặm, quá nửa thuộc về Tề. Khuông Chương đóng quân lại ở kinh
đô Yên. Mân-vương nước Tề thân kể tội Tử Chi, đem lăng trì, lấy thịt ướp cho
các quần thần. Người nước Yên dẫu căm giận Tử Chi, nhưng lại thấy vua Tề chỉ muốn
diệt Yên nên không phục, bèn cùng nhau đi tìm thái tử Bình ở núi Vô Chung, rước
về làm vua gọi là Chiêu-vương.. Quách Ngỗi làm tướng quốc. Bấy giờ Vũ Linh
vương nước Triệu căm giận Tề kiêm tính nước Yên bèn phái đại tướng Lạc Trì đón
công tử Chức ở Hàn, muốn rước về làm vua nước Yên, nhưng nghe thái tử Bình đã
được lập, bèn thôi. Quách Ngỗi truyền tờ hịch khắp kinh đo nước Yên, bảo cho biết
nghĩa khôi phục, các ấp đã hàng Tề đều phản Tề, lại theo về với Yên. Khuông
Chương không thể làm gì được, bèn kéo quân về Tề. Chiêu-vương lại về kinh đô nước
Yên, sửa sang tôn miếu, dốc chí báo thù nước Tề, nhún mình đem nhiều tiền của để
cầu hiền sĩ, bảo tướng quốc Quách Ngỗ rằng:
– Cái sĩ nhục của tiên vương, ta
ngày đêm vẫn ghi nhớ trong lòng. Nếu được kẻ hiền sĩ có thể dùng mưu việc đánh
Tề thì ta xin hết lòng thờ, vậy tiên sinh nên vì ta mà chọn người hiền tài.
Quách Ngỗ nói:
– Đời xưa, có ông vua đem nghìn
nén vàng sai tên môn dịch đi cầu ngựa thiên lý, giữa đường gặp con ngựa chết,
người xung quanh đều xúm lại xem mà than tiếc, tên môn dịch hỏi cái gì, mọi người
đáp rằng con ngựa ấy khi còn sống, ngày đi nghìn dặm, nay nó chết, nên lấy làm
tiếc. Tên môn dịch liền bỏ ra năm trăm nén vàng mua lấy bộ xương gói đội đem về,
vua giận nói rằng đó là bộ xương con ngựa chết, còn dùng được việc gì mà bỏ ra
nhiều tiền như thế. Tên môn dịch thưa: “Phải bỏ năm trăm nén vàng ra mua vì nó
là ngựa thiên lý. Việc này đồn đi, ai nói tất sẽ nói đối với ngựa chết ta còn
trả món tiền to như thế nữa là ngựa sống, tự nhiên có ngựa sống đem đến bán”.
Quả nhiên không đầy một năm, ông vua ấy mua được ba con ngựa thiên lý. Nay đại
vương muốn cầu hiền sĩ thiên hạ, thì xin cứ gọi Ngỗi này là bộ xương ngựa chết,
những người giỏi hơn Ngỗi này, tất ai cũng cầu giá đắt mà thi nhau đến.
Chiêu-vương bèn xây nhà cho Quách
Ngỗi ở, giữ lễ đệ tử, ngoảnh mặt về phía Bắc để nghe lời dạy bảo, tự mình dâng
món ăn thức uống, rất mực cung kính. Lại xây một cái đài cao bên sông Dịch Thuỷ,
chứa hoàng kim ở trên đài để cung cấp hiền sĩ bốn phương, đặt tên là Chiêu hiền
đài, cũng gọi là hoàng kim đài. Bởi vậy tiếng vua Yên trọng hiền lìền đi khắp
nơi. Kịch Tân ở Triệu đến, Tô Đại ở Chu sang, Trâu Diễn ở Tề lại, Khuất Cảnh từ
Vệ tới, Chiêu-vương đều cho làm khách khanh, cùng bàn việc nước.
Lại nói Tề Mân-vương đã thắng
Yên, oai danh chấn động khắp nơi, Huệ Văn-vương nước Tần lấy làm lo. Hoài-vương
nước Sở lại làm “tung ước trưởng” cùng Tề giao kết, trao đổi binh phù để làm
tin. Vua Tần muốn chia rẽ Tề, Sở bèn triệu Trương Nghi hỏi kế, Nghi tâu rằng:
– Tôi xin đem ba tấc lưỡi, đi
sang Sở, thừa cơ tiến lờ, khiến cho vua Sở phải tuyệt Tề mà thân Tần.
Vua Tần liền cho Nghi đến. Nghi
biết vua SỞ có một người bầy tôi yêu là Ngận Thượng, hầu luôn bên mình, nói gì
vua Sở cũng nghe, bèn đem nhiều vàng bạc kết giao với Thượng rồi mới vào yết kiến
Hoài-vương. Hoài-vương vốn trọng tiếng Trương Nghi, thân ra đón vào, mời ngồi
mà hỏi rằng:
– Tiên sinh hạ cố đến nước tôi chẳng
hay có điều gì dạy bảo?
Nghi nói:
– Tôi lại đây, chỉ muốn nói giao
tình hai nước Tần, Sở mà thôi.
Hoài-vương nói:
– Quả nhân nào phải không muốn kết
giao với Tần, chỉ vì Tần cứ lấn đánh mãi không thôi, nên không dám cầu thân vậy.
Trương Nghi nói:
– Trong thiên hạ ngày nay tuy có
bảy nước, nhưng gọi là nước lớn chỉ có SỞ, Tề, và Tần mà thôi. Tần đông hợp với
Tề thì Tề mạnh, nam hợp với SỞ mà không phải ở Tề. Ấy là cớ làm sao? chỉ vì Tề
là nước hôn nhân mà lại phụ Tần quá lắm. Vua Tần muốn thờ đại vương, mà chính
Nghi này cũng muốn làm kẻ tôi đòi hèn hạ của đại vương, thế mà đại vương lại
giao hiếu với Tề, thực là trái ý muốn chúa công tôi. Nếu đại vương có thể đóng
cửa quan mà tuyệt giao với Tề, thì chúa công tôi đem sáu trăm dặm đất Thương Ô
mà Thương quân đã lấy của Sở trước kia, trả lại cho Sở, đem con gái làm tuỳ
thiép để hầu hạ đại vương. Tần, Sở đời đời làm thông gia, để cùng chống chọi với
chư hầu. Có mấy lời xin đại vương thu nạp cho.
Hoài-vương vui mừng lắm, nói rằng:
– Nếu Tần chịu đem đất cũ mà trả
lại cho Sở, thì quả nhân tiếc gì Tề?
Quần thần đều cho là nước Sở sẽ lấy
lại được đất cũ, đồng thanh chúc mừng, chỉ có một người đứng ra tâu rằng:
– Không nên! không nên! cứ như ý
tôi việc ấy đáng buồn chứ không đáng vui.
Sở Hoài-vương nhìn xem ai, thì ra
khách khanh Trần Chẩn. Hoài-vương nói:
– Quả nhân không phí một tên
quân, chỉ ngồi yên mà được sáu trăm dặm đất, làm sao nhà ngươi lại bảo là đáng
buồn?
Trần Chẩn nói:
– Đại vương cho là có thể tin được
Trương Nghi chăng?
Hoài-vương cười nói:
– Sao lại không tin?
Chẩn nói:
– Tần phải trọng Sở là vì có Tề,
nay nếu tuyệt giao với Tề, thì Sở chỉ còn đứng một mình; Tần còn trọng gì cái
nước đứng một mình ấy mà cắt sáu trăm dặm đất đem cho nữa. Đó là quỷ kế của
Trương Nghi. Đại vương tuyệt giao với Tề rồi Trương Nghi sẽ phụ đại vương mà
không cho đất, bấy giờ Tề lại oán đại vương mà quay theo Tần. Tề, Tần hợp lại
đánh Sở, thi Sở tất mất, vì thế nên tôi nói là đáng buồn. Chi bằng đại vương
trước hãy sai sứ sang Tần nhận lấy đất, được đất rồi bấy giờ sẽ tuyệt giao với
Tề cũng chưa muộn.
Đại vương là Khuất Bình nói rằng:
– Trần Chẩn nói phải đấy, Trương
Nghi là một đứa tiểu nhân phản phúc, quyết không nên tin.
Ngận Thượng nói:
– Không tuyệt giao với Tề đi thì
khi nào Tần lại chịu trả lại đất cho ta.
Hoài-vương lắc đầu nói:
– Chắc không khi nào Trương Nghi
lại phụ quả nhân, Trần tử đừng mở mồm nói nữa, chờ xem quả nhân nhận đất!
Bèn giao tướng ấn cho Trương
Nghi, ban cho trăm dật hoàng kim, mười con ngựa tốt, hạ lệnh cho tướng giữ Bắc
Quan không được thông với Tề, một mặt sai Bàng Hầu Sửu theo Trương Nghi vào Tần
nhận đất. Trương Nghi dọc đường cùng Hầu Sửu uống rượu nói chuyện, vui như anh
em. Khi gần đến Hàn Dương, Trương Nghi giả làm say rượu, lỡ chân ngã xuống dưới
xe. Tả hữu vội đỡ dậy. Nghi nói:
– Ta bị thương ống chân, phải kịp
chữa ngay!
Rồi sang cái xe khác đi vào thành
trước, tâu với vua Tần, lưu Hầu Sửu ở quán dịch, còn Nghi thì đóng cửa dưỡng bệnh
không vào triệu. Hầu Sửu xin vào yết kiến vua Tần không được, đến thăm Trương
Nghi thì Nghi từ chối nói là chưa khỏi bệnh, cứ như thế đến ba tháng, Sửu bèn
dâng thư lên vua Tần, thuật lời Trương Nghi hứa cho đất, vua Tần đáp thư nói rằng
nếu Nghi đã có ước, thì vua Tần tất phải làm theo như lời, nhưng nghe nói Sở và
Tề vẫn chưa tuyệt giao với nhau mà Tần sợ bị Sở lừa, tất phải đợi Trương Nghi khỏi
dậy nói rõ đầu đuôi, mới có thể tin được.
Hầu Sửu đi lại mãi nhà Trương
Nghi mà Nghi vẫn không ra mặt, bèn sai người đem lời nói của vua Tần về báo vua
Sở. Vua Sở nói:
– Tần còn bảo Sở chưa tuyệt hẳn với
Tề ư?
Bèn sai dũng sĩ Tống Di mượn đường
nước Tống, lại mượn binh phù của Tống thẳng đến bờ cõi nước Tề, mắng nhiếc Mân-vương.
Mân-vương cả giận, bèn sai sứ sang Tần xin cùng Tần họp binh đán Sở. Trương
Nghi nghe sứ Tề đến, cho là kế đã thành, bèn nói là đã khỏi bệnh vào triều, gặp
Hầu Sửu ở cửa triều, cố ý lấy làm lạ hỏi:
– Tướng quân sao chưa nhận đất mà
vẫn còn lẩn quẩn ở đây?
Sửu nói:
– Vua Tần chỉ đợi tướng quốc khỏi
bệnh mới quyết định, nay may tướng quốc đã khỏi, xin vào nói với đại vương, sớm
định địa giới, cho tôi được về phúc mệnh chúa công tôi.
Trương Nghi nói:
– Việc ấy cần gì phải nói với vua
Tần! Nghi này đã nói là có sáu dặm đất là đất ăn lộc riêng của Nghi này, xin
tình nguyện đem dâng vua Sở đó thôi!
Sửu nói:
– Tôi vâng mệnh chúa công tôi,
nói là sáu trăm dặm đất Thương Ô kia, chứ chưa nghe nói đến sáu dặm đất ấy.
Nghi nói:
– Có lẽ vua Sở nghe lầm chăng? Đất
của Tần là nhờ có trăm trận đánh mới được, một thước một tất chưa dễ đã đem cho
người, phương chi những sáu trăm dặm.
Sửu lập tức về báo vua Sở, vua Sở
cả giận nói rằng:
– Trương Nghi quả là đứa tiểu
nhân phản phúc, ta bắt được, tất phải giết chết, ăn thịt nó mới hả lòng!
Bèn truyền chỉ đem quân đánh Tần.
Khách khanh là Trần Chẩn nói:
– Ngày nay tôi có thể mở mồm mà
nói được không?
Hoài-vương nói:
– Quả nhân không nghe lời nói của
tiên sinh, nên bị tên giáo tặc đánh lừa, vậy ngày nay tiên sinh còn có diệu kế
gì?
Trần Chẩn nói:
– Nay đại vương đã không được nước
Tề giúp sức nữa, mà lại đánh Tần, thì e không lợi, chi bằng cắt hai thành để
đút cho Tần, hợp binh đánh Tề thì dù có mất đất với Tần, còn có thể lấy đền ở Tề
được.
Hoài-vương nói:
– Lừa dối Sở là Tần, chứ Tề có tội
gì! nếu ta hợp quân với Tần mà đánh Tề, thì người ta sẽ cười ta!
Rồi lập tức cử Khuất Cái làm đại
tướng, Bàng Hầu Sửu làm phó, đem mười vạn quân đi đánh Tần. Vua Tần sai Ngụy
Chương làm tướng, Cam Mậu làm phó, đem mười vạn quân chống đánh, lại sai người
sang Tề trưng binh, tướng Tề là Khuông Chương cũng đem quân trợ chiến. Khuất
Cái dẫu khỏe, nhưng không địch lại được quân hai nước, đanh luôn mấy trận đều
thua. Quân Tần, Tề đuổi theo đến Đan Dương, Khuất Cái họp toàn quân lại đánh, bị
Cam Mậu chém chết; quân lính bị giết hơn tám vạn người, bọn danh tướng như Bàng
Hầu Sửu đều chết. Nghe tin ấy, cả nước Sở đều chấn động. Hàn, Ngụy, nghe Sở
thua, cũng mưu đánh Sở, vua Sở cả sợ, bèn sai Khuất Bình sang Tề tạ tội, sai Trần
Chẩn sang Tần dâng hai thành để cầu hoà. Ngụy Chương sai người về thỉnh mệnh
vua Tần, vua Tần nói:
– Quả nhân muốn được đất Kiềm
Trung, vậy xin đem đất Thương Ô để đổi, nếu Sở bằng lòng thì có thể bãi binh được!
Ngụy Chương đem lời vua Tần nói
cho vua Sở biết, vua Sở nói:
– Quả nhân không muốn được đất,
chỉ muốn được Trương Nghi để ăn thịt mới hả lòng. Nếu thượng quốc đem Trương
Nghi giao cho Sở, thì quả nhân tình nguyện dâng đất Kiềm Trung để tạ ơn.
Cậy sức khỏe, vua Tần gãy chân
Mưu mưu lừa, vua Sở chạy trốn
Lại nói vua Sở căm giận Trương Nghi lừa dối, xin dâng đất Kiềm Trung để đổi lấy một mình Trương Nghi. Các cận thần vốn ghen ghét với Trương Nghi đều nói đem một người mà đổi được vài trăm dặm đất, còn gì lợi bằng. Vua Tần nói:
– Trương Nghi là người bề tôi
chân tay của ta, ta thà chẳng được đất, chứ không chịu bỏ Trương Nghi.
Nghi tự xin vua Tần cho mình đi,
vua Tần nói:
– Vua Tề đang căm giận đợi tiên
sinh đến, nếu tiên sinh sang đó thì tất bị giết, quả nhân không nỡ để tiên sinh
đi.
Nghi nói:
– Giết một tôi mà nước Tần được cả
đất Kiềm Trung, thì tôi dù chết cũng được vẻ vang rồi! mà cũng chưa hẳn tôi đã
chết đâu mà chúa công sợ.
Vua Tần nói:
– Tiên sinh có kế gì để thoát, thử
nói rõ cho quả nhân nghe nào?
Nghi nói:
– Vua Sở có vị phu nhân tên là Trịnh
Tụ, vừa đẹp vừa khôn ngoan, được vua yêu quý. Trước kia, khi tôi ở Sở, nghe nói
vua Sở lại mới yêu một mỹ nhân khác, Trịnh Tụ bảo mỹ nhân ấy rằng: “Đại vương rất
ghét người thở hơi vào mình, vậy khi hầu vua thì phải giữ ý bịt mũi lại”. Mỹ
nhân ấy làm theo lời Trịnh Tụ. Vua Sở hỏi Trịnh Tụ rằng: “Mỹ nhân hễ trông thấy
quả nhân là bịt mũi là cơ’ làm sao?” Trịnh Tụ nói: “Đó là nó hiềm đại vương
thân thể hôi hám, cho nên phải bịt mũi để không hít phải!”. Vua Sở giận quá,
sai xẻo mũi mỹ nhân đi, từ đó Trịnh Tụ lại càng được vua Sở yêu quý; vua Sở lại
có người bầy tôi đắc sủng tên là Ngận Thượng, biết chiều Trịnh Tụ, trong ngoài
thông đồng với nhau. Hạ thần lại quen thân với Ngận Thượng, chắc hẳn có thể che
chở cho, không đến nỗi chết. Đại vương chỉ hạ lệnh cho bọn Ngụy Chương đóng
quân ở Hán Trung, làm thế tiến thủ, vua Sở tất không dám giết hạ thần!
Vua Tần bèn cho Nghi đi. Nghi đã
đến nước Sở, Hoài-vương sai bắt giam lại, chọn ngày lễ cáo nhà thái miếu rồi
sau sẽ giết.
Trương Nghi ngầm sai người đem lễ
đến nói lót với Ngận Thượng. Ngận Thượng vào nói với Trịnh Tụ rằng:
– Hỏng rồi, phu nhân không còn một
mình giữ được tình yêu của đại vương nữa rồi. Làm thế nào bây giờ?
Trịnh Tụ hỏi cớ gì. Ngận Thượng
nói:
– Tần không biết là vua Sở căm
thù Trương Nghi, cho nên sai sang sứ Sở, nay nghe vua Sở muốn giết Nghi, Tần sẽ
trả đất lấn của Sở và gả con gái cho vua Sở, dùng những gái đẹp, hát hay làm kẻ
theo hầu, để chuộc tội cho Trương Nghi. Con gái Tần đến, thì vua Sở tất là yêu quý,
phu nhân dù muốn chuyên giữ lòng yêu, còn được nữa chăng?
Trịnh Tụ cả sợ hỏi rằng:
– Nhà ngươi có kế gì có thể ngăn
được việc ấy?
Ngận Thượng nói:
– Phu nhân cứ làm như không biết
chuyện ấy, đem các điều lợi hại nói với đại vương, tha cho Trương Nghi về Tần.
Trịnh Tụ theo lời, đến nửa đêm bỗng
khóc lóc nói với vua Sở rằng:
– Đại vương muốn đem đất đổi lấy
Trương Nghi, đất chưa vào Tần mà Nghi đã đến, đó là Tần có lễ với đại vương vậy.
Quân Tần chỉ đánh một trận mà lấy được cả đất Hán Trung, có cái thế nuốt nước Sở,
nếu giết Trương Nghi để chọc tức Tần, tất Tần sẽ đem quân đánh Sở, vợ chồng ta
sẽ không còn giữ được nhau nữa, nghĩ vậy nên thiếp lòng đau như cắt ăn uống
không biết ngon đã mấy hôm nay rồi. Vả kẻ làm tôi phải vì chủ mình, Trương Nghi
là bậc trí sĩ trong thiên hạ, làm tướng nước Tần đã lâu, thì phải mưu ích lợi
cho Tần, đó là lẽ tất nhiên, có lấy chi làm lạ! đại vương nếu hậu đãi Nghi, thì
Nghi sẽ thờ Sở cũng như thờ Tần vậy.
Hoài-vương nói:
– Phu nhân chớ lo, việc đó để quả
nhân liệu định.
Ngận Thượng lại nhân dịp nói rằng:
– Giết một Trương Nghi có hại cho
Tần mà lại mất vài trăm dặm đất Kiềm Trung, chi bằng tha Nghi để làm chỗ hoà hảo
với Tần sau này.
Ý Hoài-vương cũng tiếc Kiềm Trung
không muốn đem cho Tần, bèn tha Nghi ra và đãi đằng rất hậu. Trương Nghi lại
đem cái lợi theo Tần mà nói với Hoài-vương. Hoài-vương liền sai Trương Nghi về
Tần để nối tình giao hiếu của hai nước.
Khuất Bình đi sứ nước Tề về, nghe
nói Trương Nghi đã đi rồi, bèn can rằng:
– Trước kia đại vương bị Nghi lừa
dối, Nghi đến tôi chắc là đại vương sẽ ăn thịt nó, nay đại vương đã tha không
giết no, lại nghe nó nói bậy, tự mình thần phục nước Tề trước. Kẻ thất phu còn
không quên cựu thù nữa là vua! chưa mua chuộc được lòng Tần mà đã động lòng
công phẫn cả thiên hạ, tôi dám cho rằng như thế là thất kế.
Hoài-vương lấy làm hối hận, sai
người đuổi theo bắt lại, thì Trương Nghi đi gấp đường ra khỏi đất Sở đã hai
ngày rồi.
Trương Nghi về Tần, Ngụy Chương
cũng rút quân về. Trương Nghi bảo vua Tần rằng:
– Nghi này muôn chết một sống, lại
được thấy mặt đại vương, vua Sở thật là sợ Tần, nhưng xin chớ để hạ thần thất
tín với SỞ. Nếu đại vương chịu cắt một nửa đất Hán Trung để báo ơn Sở, lại kết
hôn nhân với Sở nữa thì hạ thần xin lấy Sở làm cớ, đi bảo sáu nước cùng nhau thần
phục nước Tần.
Vua Tần bằng lòng, bèn cắt năm
huyện Hán Trung sai người sang Sở thông hiếu, và xin cưới con gái Hoài-vương
làm vợ thái tử Đãng, lại đem con gái gả cho con trai bé Hoài-vương là Lan. Hoài-vương
cả mừng cho rằng quả Trương Nghi không lừa dối Sở. Vua Tần nghĩ đến công lao của
Nghi, phong cho năm ấp hiệu là Vũ Tín quân, lại cho vàng ngọc xe ngựa, sai đem
thuật liên hành đi du thuyết các nước. Trương Nghi lần lượt đi các nước Tề, Triệu,
Yên, đến nước nào cũng khéo đem các điều lợi hại thiết thân của nước ấy mà bày
tỏ rõ ràng, rồi nói theo Tần là có lợi. Vua các nước ấy đều vui lòng nghe theo,
hậu đãi Nghi và đều cắt đất dâng Tần để cầu hoà. Thuyết liên hành của Nghi đã
thành công. Nghi liền trở về báo mệnh, nhưng chưa đến Hàm Dương thì Huệ-vương
đã chết, con là thái tử Đãng lên ngôi, đó là Vũ-vương.
Tề Mân-vương lúc đầu nghe lời
Trương Nghi, cho rằng Hàn, Triệu, Ngụy đã cắt đất thờ Tần, cho nên không dám tự
mình làm khac, nhưng sau đó lại nghe nói Nghi đến thuyết Tề rồi mới đến thuyết
Triệu, cho Nghi là kẻ lừa dối, giận quá, lại nghe Huệ Văn-vương mất, bèn sai Mạnh
Thường quân gửi thư cho các nước, ước với các nước cùng quay lại chống Tần,
khôi phục cuộc hợp tung; lại ngờ Sở đã kết hôn với Tần, sợ Sở không theo, muốn
đem quân đánh, vua Sở phải sai thái tử Hoành sang làm con tin ở Tề, quân Tề mới
thôi.
Mân-vương từ khi làm “tung ước
trưởng”, liên kết chư hầu, ước nước nào bắt được Trương Nghi thì thưởng cho mười
thành. Vũ-vương nước Tần tính người thô trực, từ khi làm thái tử vốn đã ghét
Trương Nghi là hay dối trá, vì vậy trong bọn quần thần những kẻ trước kia ghen
ghét Nghi, thì bấy giờ ùa nhau mà dem pha. Nghi sợ bị hoạ, bèn vào nói với Vũ-vương
rằng:
– Tôi xin hiến một kế ngu này!
Vũ-vương hỏi kế gì, Nghi nói:
– Vua Tề rất ghét Nghi, Nghi ở
đâu tất đem quân đánh, vậy Nghi xin từ đại vươgn đi sang Đại Lương, Tề tất phải
đánh Lương, Lương, Tề đánh nhau mãi không thôi, đại vương sẽ nhân dịp ấy mà
đánh Hàn, thông qua Tam Xuyên để dòm dõi nhà Chu, đó là cái bước làm nên nghiệp
vương vậy.
Vũ-vương lấy làm phải, bèn cho
Nghi đi sang nước Lương, vua Lương dùng Nghi làm tướng quốc. Vua Tề nghe tin cả
giận, sắp quân đánh Lương, vua Lương sợ qua, bàn với Trương Nghi, Nghi bèn sai
xá nhân là Phùng Hi Giả làm người Sở, vào yết kiến vua Tề nói rằng:
– Nghe nói đại vương rất ghét
Trương Nghi phải không?
Vua Tề nói:
– Phải.
Phùng Hỉ nói:
– Nếu đại vương thật là ghét Nghi
thì chớ đánh Ngụy. Tôi vừa ở Hàm Dương đến, nghe nói khi Nghi ở Tần ra đi, có
nói vua Tề ghét Nghi, ở đâu tất đem quân đánh đó, cho nên vua Tần dùng ba mươi
cỗ xe đưa Nghi sang Lương, muôn khêu gợi cho Tề, Lương đánh nhau. Tề, Lương
đánh nhau mãi không thoi, Tần nhân dịp ấy mà chuyên tâm về mặt bắc. Vậy nếu vua
nay đánh Lương, tất là rơi vào cái kế của Nghi, chi bằng đại vương đừng đánh
Lương, để cho Tần không tin Nghi nữa, Nghi dẫu ở Ngụy cũng không làm gì đựợc.
Vua Tề bèn thôi không đánh Lương,
vua Lương càng hậu đãi Trương Nghi. Được hơn một năm, Nghi ốm chết ở nước
Lương.
Lại nói Tần Vũ-vương cao lớn có sức
khỏe, hay cùng võ sĩ đấu sức làm vui. Ô Hoạch và Nhâm Bỉ, từ đời trước đã làm
tướng Tề, Vũ-vương vẫn tin dùng, cấp them cho bổng lộc. Người nước Tề là Mạnh
Bôn, có tiếng là người có sức khỏe, đi dưới nước không sợ thuồng luồng, đi trên
cạn không sợ hổ báo, khi nổi giận thở hơi, thì tiếng vang động trời, có lần ra
ngoài đồng, thấy hai con trâu đánh nhau, Mạnh Bôn len vào giữa lấy ta rẽ ra, một
con phục xuống đất, một con còn xông vào húc mãi, Bôn giận, tay tả nắm đầu
trâu, tay hữu nhổ sừng, sừng tụt ra, con trâu chết liền, ai nấy đều khiếp sợ
cái sức khoẻ lạ thường ấy, không dám chống lại. Bôn nghe vua Tần chiêu mộ dũng
sĩ trong thiên hạ, bèn qua sông Hoàng Hà, lúc ấy người ở trên bờ đợi sang đò rất
đông, theo lệ phải lên thuyền lần lượt. Bôn đến sau cùng nhưng lại muốn lên trước,
người lái đò cho là hỗn láo, cầm mái chèo đanh vào đầu bảo Bôn rằng:
– Mày dám hung hăng như thế, có lẽ
là Mạnh Bôn chăng?
Bôn trợn mắt nhìn, tóc đứng ngược,
quầng mắt rách, hét lên một tiếng, sóng gió nổi lên ầm ầm, người trong thuyền sợ
hãi đều ngã lổng chổng xuống sông. Bôn chống chèo nhún chân, đẩy một cái thuyền
đi xa đến vài trượng, một lát đến bờ, rồi đi thẳng đến Hàm Dương, vào yết kiến Vũ-vương.
Vũ-vương thử biết là người khoẻ, cũng cho làm quan to, cùng Ô Hoạch, Nhâm Bỉ đều
được tin dùng. Vũ-vương nước Tần nghĩ rằng sáu nước đều đặt chức tướng quốc,
mình không thèm bắt chước, bèn riêng đặt ra chức thừa tướng, Vu Lí Tật làm hữu
thừa tướng. Vũ-vương nhớ lời Trương Nghi bèn bào hai thừa tướng rằng:
– Quả nhân sinh ở Tây Nhung, chưa
được thấy cảnh phồn thịnh ở Trung nguyên, nếu được vua Tam Xuyên, đến chơi miền
Củng, Lạc, thì dù chết cũng không tiếc, hai người có ai vì quả nhân đi đánh Hàn
không?
Vu Lí Tật nói:
– Nhà vua muốn đánh Hàn là muốn
đánh Nghi Dương, để thông đường Tam Xuyên, Nghi Dương đường hiểm mà xa, nhọc
quân hại của, hai nước Lương, Triệu sẽ đem quân cứu Hàn, hạ thần trộm lấy làm
không nên.
Vũ-vương lại hỏi Cam Mậu, Mậu
nói:
– Tôi xin vì vua sang nước Lương,
ước cùng đánh Hàn.
Vũ-vương cả mừng, cho Cam Mậu
sang Lương, vua Lương hứa giúp quân, Cam Mậu lúc đầu cùng Vu Lí Tật trái ý
nhau, sợ Tật ở trong ngăn trở, bèn sai phó sứ là Hướng Thọ về trước báo với vua
Tần, nói là Lương đã bằng lòng nhưng xin vua chớ đánh Hàn. Vua Tần nghe nói lấy
làm nghi hoặc, bèn thân đi đón Cam Mậu, hỏi rằng:
– Thừa tướng hứa vì quả nhân hẹn
Lương đánh Hàn, nay vua Lương đã bằng lòng, thừa tướng lại bảo không nên đánh
Hàn là cớ làm sao?
Cam Mậu nói:
– Vượt qua đường hiểm trở nghìn dặm,
để đánh Hàn, sự đó không thể tính năm tháng được. Xưa kia Tăng Sâm ở ấp Phí, một
người ở đó cùng họ tên với Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người!” Bà mẹ đang dệt
cửi, nói rằng: “Con ta không bao giờ giết người!” Rồi lại cứ việc dệt vải như
thường; lát sau lại có một người chạy đến bảo rằng: “Kẻ giết người quả là Tăng
Sâm!” Bấy giờ bà mẹ mới ném thoi, qua tường chạy trốn. Cái đức của Tăng Sâm, bà
mẹ đã tin lắm, nhưng ba người đều nói là Sâm giết người nên bà mẹ hiền ấy cũng
phải đem lòng ngờ con. Nay đức hiền của hạ thần không bằng Tăng Sâm, đại vương
tin hạ thần chưa hẳn được bà mẹ Tăng Sâm tin con, mà kẻ dèm pha giết người, chẳng
phải chỉ có ba người, hạ thần e đại vương rồi cũng đến phải nghe lời chúng vậy.
Vũ-vương nói:
– Quả nhân không nghe lời ai cả,
xin cùng nhà ngươi cùng thề!
Rồi vua tôi cùng quyệt máu ăn thề,
viết bản lời thề của Tức Nhưỡng, phát năm vạn quân, sai Cam Mậu làm đại tướng.
Hướng Thọ làm phó kéo đến thành Nghi Dương, vây suốt năm tháng trời. Tướng giữ
thành ấy cố giữ, Cam Mậu không sao phá được. Vu Lí Tật nói với Vũ-vương rằng:
– Quân Tần vây mãi sinh chán nản,
nếu không rút về thì e có biến.
Vũ-vương truyền Cam Mậu rút quân
vè, Cam Mậu bèn làm một phong thư để tạ Vũ-vương, Vũ-vương mở ra xem trong thư
chỉ thấy viết có hai chữ “Tức Nhưỡng”, Vũ-vương nghĩ ra nói rằng:
– Điều này Cam Mậu trước đã nói,
thực là cái lỗi của quả nhân!
Lại cấp thêm năm vạn quân, sai Ô
Hoạch đi giúp Cam Mậu. Vua Hàn cũng sai đại tướng công tôn Anh mang quân cứu
Nghi Dương. Hai bên đánh nhau ở dưới thành, Ô Hoạch mang một đội kích sắt nặng
một trăm tám mươi cân, một mình xông vào quân Hàn, quân lính đều tan chạy,
không ai dám chống đánh. Cam Mậu và Hướng Thọ đều dẫn một đạo quân, thừa thế tiến
đến đánh tan quân Hàn, chém được hơn bảy vạn thủ cấp. Ô Hoạch một mình trèo lên
thành, tay vịn bờ thành, bờ lở, Hoạch ngã rơi vào đống đá gãy xương sườn mà chết.
Quân Tần lấy được thành Nghi Dương, vua Hàn sợ sai tướng quân công tô Xí đem bảo
khí sang Tần cầu hoà. Vua Tần cả mừng, triệu Cam Mậu rút quân, lưu Hướng Thọ
đóng quân lại ở Nghi Dương. Vua Tần lại sai hữu thừa tướng là Vu Lí Tật đi trước
đến Tam Xuyên mở đường, theo sau có bọn dũng sĩ là Nhâm Bỉ, Mạnh Bôn, thẳng vào
Lạc Dương. Noãn vương nhà Chu sai sứ ra đón tại nơi ngoài thành, dùng lễ khách
chủ. Tần Vũ-vương từ tạ không dám tiếp kiến. Vũ-vương biết chín cái đỉnh quý
bày hàng chữ nhất chỉnh tề. Chín cái đỉnh ấy là khi xưa vua Vũ lấy các kim loại
của chín châu đem cống mà đúc nên, mỗi cái thân đỉnh có chép núi sông nhân vật
và số cống phú điền thổ của mỗi châu, tai vạc đều có chạm rồng, nên lại gọi là
Cửu Long thần đỉnh. Nhà Hạ truyền lại cho nhà Thương làm của quí trấn quốc, đến
khi vua Vũ-vương nhà Chu đánh được nhà Thương bèn đem về cả Lạc ấp, khi đem đi
dùng phu phen dắt kéo, xe thuyền khuân chở trông như chín toà núi sắt nhỏ,
không biết mỗi cái sức nặng bao nhiêu. Vũ-vương xem khắp một lượt, khen ngợi
mãi không thôi. Trên sườn những cái đỉnh đó có khắc tên chín châu: Kinh, Lương,
Ung, Đại, Từ, Dương, Thanh, Duyện, Ký để phân biệt đỉnh nào thuộc về châu nào. Vũ-vương
chỉ cái đỉnh chữ Ung nói rằng:
– Cái đỉnh là cái đỉnh nước Tần,
quả nhân sẽ mang nó về Hàm Dương.
Rồi hỏi viên giữ đỉnh rằng:
– Những cái đỉnh này, có người
nào mang nổi không?
Viên ấy dập đầu thưa rằng:
– Từ khi có đỉnh đến giờ chưa hề
có xê xích, nghe nói mỗi cái nặng đến nghìn cân, chẳng ai là người mang nổi được.
Vũ-vương liền hỏi Nhâm Bì, Mạnh
Bôn rằng:
– Hai người có sức khoẻ, có thể cất
nổi cái đỉnh này không?
Nhâm Bỉ biết Vũ-vương cậy khoẻ hiếu
thắng, từ rằng:
– Sức hạ thần chì có thể trăm
cân, cái đỉnh này nặng gấp mười, hạ thần chịu không mang được.
Mạnh Bôn vung tay chạy lên nói rằng:
– Hạ thần xin thử xem, nếu không
mang nổi, xin đừng bắt tội!
Nói rồi sai người lấy tơ xanh vặn
làm cái dây to, buộc hai đầu dây vào hai tai vạc. Mạnh Bôn thắt lưng chặt chẽ,
vén hai tay áo, rồi luồn hai ngón tay sắt vào giữa dây, hét lên một tiếng, nâng
cao thân đỉnh lên khỏi mặt đất đựợ nửa thước, rồi lại đặt xuống, nhưng vì dùng
sức quá mạnh hai con ngươi lồi lên, máu mắt chảy ra ròng ròng. Vũ-vương cười
nói rằng:
– Nhà ngươi dùng sức quá, nhưng
nhà ngươi đã mang nổi được cái đỉnh ấy, không lẽ quả nhân lại chịu kém!
Nhâm Bỉ can rằng:
– Thân vạn thặng đại vương không
nên xem nhẹ!
Vũ-vương không nghe, liền cổi
phăng cẩm bào, đại ngọc ra, nai nịt gọn gàng, lại dùng cái dải to buộc chặt tay
áo, Nhâm Bỉ níu lại cố can, Vũ-vương nói:
– Sức nhà ngươi không mang được,
lại ghen với quả nhân sao?
Nhâm Bỉ không dám nói nữa. Vũ-vương
hăng hai bước lên luồn hai tay vào dây, nghĩ Mạnh Bôn cất lên được, ta cất lên
mà lại đi được vài bước mới là giỏi hơn, bèn dùng hết sức bình sinh, hét một tiếng,
cất cái đỉnh lên cách mặt đất được nửa thước. Vũ-vương vừa chực bước đi, không
ngờ sức kiệt hay đuối, cái đỉnh rơi xuống đất, đè lên chân phải Vũ-vương, nghe
rắc rắc mấy tiếng, ống chân dậpt bét ra, Vũ-vương kêu to một tiếng “đau quá!” rồi
ngất đi. Các người tả hữu hoảng sợ vực Vũ-vương về công quá, máu chảy đầm đìa ướt
cả giường chiếu. Vũ-vương đau quá không chịu nổi, đến nửa đêm thì chết. Vũ-vương
có nói được đến chơi miền Củng, Lạc, dẫu chết cũng không hối hận, ngày nay quả
chết ở Lạc Dương, lời nói ấy há chẳng phải là lời sấm ư? Chu Noãn-vương nghe biết
cả sợ, vội sắp sửa áo quan tốt, thân đến coi liệm, khóc than hết lễ. Vu Lí Tật
rước tang Vũ-vương về Sở, Vũ-vương không con, đón người em khác mẹ là Tắc nối
ngôi, đó là Chiêu Tương-vương. Vu Lí Tật trị các tội nhấc đỉnh, giết Mạnh Bôn
và diệt cả họ, cho Nhâm Bỉ là người biết can vua, dùng làm thái thú Hán trung.
Tật lại nói ở triều rằng:
– Thông Tam Xuyên là cái mưu của
Cam Mậu bày ra.
Cam Mậu sợ bị Tật làm hại, bèn chạy
sang Ngụy, sau chết ở Ngụy.
Lại nói Chiêu Tương-vương nước Tần
nghe SỞ đem con tin sang Tề, ngờ là phản Tần theo Tề bèn sai Vũ Lí Tật làm đại
tướng đem quân đánh Sở, Sở sai đại tướng là Cảnh Xương đón đánh, quân thua bị
giết. Sở Hoài-vương sợ. Chiêu Tương-vương bèn sai sứ đưa thư cho Hoài-vương, đại
ý nói rằng:
“Trước đây quả nhân cùng nhà vua
kết làm anh em, lại có tình thông gia, thân nhau đã lâu. Nhà vua bỏ quả nhân mà
nộp con tin sang Tề, quả nhân thực căm giận quá, vì vậy phải lấn biên cảnh của
nhà vua, nhưng đó thực không phải là ý muốn của quả nhân. Nay nước lớn trong
thiên hạ chỉ có Sở cùng Tần, hai ta không hoà thì làm sao sai bảo được chư hầu.
Quả nhân xin cùng nhà vua họp ở Vũ Quan, cùng nhau đính ước, ăn thề rồi về, giả
đất lấn của nhà vua, nối lại tình giao hiếu trước. Điều đó xin nhà vua nhận
cho, nếu nhà vua không theo thì rõ rằng là tuyệt tình với quả nhân, quả nhân
không thể lui quân được vậy.”
Hoài-vương xem xong, liền họp quần
thần lại mà nói rằng:
– Nếu quả nhân không đi thì tức
là chọc tức Tần, mà nếu đi thì sợ bị Tần lừa, vậy có nên đi hay không nên đi?
Khuất Nguyên nói:
– Tần là nước hổ lang. Sở bị Tần
lừa không phải chỉ một hai lần. Nếu vua đi tất không về được.
Tướng quốc Chiêu Chuy cũng nói:
– Khuất Nguyên nói phải đấy , vua
chớ nên đi, xin lập tức động binh để phòng quân Tần đến.
Ngận Thuợng nói:
– Không phải thê! sở vì không địch
nổi Tần, nên quân thua tướng chết, đất cắt mất dần, nay hai nước đang kết hiếu
với nhau mà lại chống cự nhau nếu Tần giận, lại đem thêm quân đánh Sở, thì làm
thế nào?
Con Hoài-vương là Tử Lan, lấy con
gái nước Tần làm vợ, cũng hết sức khuyên vua đi, nói rằng:
– Con gái Tần, Sở gả bán lẫn cho
nhau, còn gì thân hơn thế nữa, nếu họ đem quân đến, còn nên xin hoà, phương chi
họ lại vui lòng mời đến hội diện? Ngận Thượng nói phải lắm nên nghe.
Hoài-vương vì quân Sở mới thua,
lòng vốn sợ Tần, lại bị Ngận Thượng và Tử Lan thúc giụac, bèn nhận lời của vua
Tần, chọn ngày khởi hành, chỉ có Ngận Thượng đi theo, Tần Chiêu-vương sai em là
Kinh Dương quân, đi xe vua, dùng áo mũ vua và lính thị vệ giả làm vua Tần ở Vũ
Quan, sai tướng quân Bạch Khởi dẫn một vạn quân phục ở trong cửa quan để bắt cướp
vua SỞ; lại sai tướng quân Mông Vụ dẫn một vạn quân phục ở ngoài cửa quan để
phòng bị việc bất kỳ; một mặt sai sứ giả đi đón Sở vương, kẻ đi người lại tấp nập.
Vua Sở cả tin, lòng không còn ngờ gì nữa, bèn đi thẳng đến dưới Vũ Quan, thấy cửa
quan mở rộng, sứ Tần lại ra đón nói rằng:
– Chúa công tôi đợi đại vương ở
trong cửa quan đã ba ngày nay, không dám để xa giá của đại vương dãi dầu nơi đường
xá, vậy xin rước đại vương vào quán xá, để thành lễ tân chủ.
Hoài-vương đã vào đất Tần, thế
không thể từ chối được nữa, bèn sai sứ giả vào cửa quan. Hoài-vương vừa vào khỏi,
thì một tiếng súng to nổi lên, cửa quan đã đóng chặt. Hoài-vương lấy làm ngờ, hỏi
sứ giả rằng:
– Làm sao lại đóng cửa gấp thế?
Sứ giả đáp:
– Đó là phép nước Tần, khi có chiến
tranh, cần phải như thế.
Hoài-vương hỏi vua Tần ở đâu? Sứ
giả nói:
– Hiện đã đến công quán trước để
chực đón.
Nói xong, liền giục xe đi nhanh,
được chừng hai mươi dặm, trông thấy đội thị vệ của vua Tần sắp hàng ở trước
công quán, sứ giả bèn truyền dừng xe lại, thấy một người chạy ra đón, Hoài-vương
nhìn xem thấy người ấy dẫu mặc áo gấm, thắt đai ngọc, nhưng cử động không giống
vua Tần. Hoài-vương trù trừ chưa chịu xuống xe, người ấy cúi mình nói rằng:
– Xin đại vương chớ ngờ, tôi thực
không phải vua Tần, chính là vương đệ Kinh Dương quân vậy, mời đại vương vào
trong quán xá nói chuyện.
Hoài-vương đành phải đi vào. Kinh
Dương quân cùng Hoài-vương làm lễ tương kiến, vừa mới ngồi xuống, bỗng thấy bên
ngoài có tiếng reo hò, hơn vạn quân Tần bổ vây công quán, Hoài-vương nói:
– Quả nhân đến hội với vua Tần,
làm sao lại đem binh uy để doạ nạt nhau?
Kinh Dương quân nói:
– Không hề chi, chúa công tôi vừa
hơi khó ở, không thể đi ra mở cửa được, lại sợ thất kính với đại vương, cho nên
sai tôi đi đón đại vương, xin hạ giá đến Hàm Dương cùng quốc quân hội kiến,
trong khi đi đường có kèm một ít quân lính làm thị vệ, xin đại vương chớ chối từ.
Bấy giờ Kinh Dương quân không để Hoài-vương
được tự chủ, cứ việc dồn giục lên xe, để Mông Vụ đóng quân ở lại giữ cửa quan,
còn Bạch Khởi đem quân đi hậu vệ, nhằm thẳng phía tây đi về Hàm Dương. Ngận Thượng
trốn về nước Sở. Hoài-vương hối hận không nghe lời nói của Chiêu Chuy và Khuất
Bình, lại để Ngận Thượng xui dại, bèn chảy nước mắt thương khóc mãi không thôi.
Hoài-vương đã đến Hàm Dương, Chiêu Tương-vương họp cả triều thần và sứ giả chư
hầu ở trên Chương Đài, rồi ngồi trên hướng về phía nam, sai Hoài-vương hướng về
phía Bắc làm lễ bái yết như lễ phiên thần, Hoài-vương cả giận, nói to lên rằng:
– Quả nhân tin ở cái tình hôn
nhân, coi nhẹ thân mình mà đến phó hội, nay đại vương nói dối có bệnh, dụ quả
nhân đến Hàm Dương này, lại không lấy lễ tiếp đãi nhau là ý làm sao?
Chiêu Tương-vương nói:
– Trước kia nhà vua hứa cho quả
nhân đất Kiềm Trung, rồi thì không cho, ngày nay mời nhà vua hạ cố đến đây muốn
theo như lời đã hứa đo, nếu nhà vua sớm cho cắt đất thì chiều sẽ cho đưa nhà
vua về Sở ngay.
Hoài-vương nói:
– Nếu Tần muốn được đất thì cũng
nên nói tử tế, hà tất phải lập kế lừa dối như thế này?
Chiêu Tương-vương nói:
– Nếu không làm thế, tất nhà vua
không theo.
Hoài-vương nói:
– Quả nhân xin cắt đất Kiềm
Trung, cùng đại vương ăn thề, xin cho một viên tướng quân theo quả nhân đến Sở
nhận đất, có nên chăng?
Chiêu Tương-vương nói:
– Lời thề không thể tin được, tất
nhà vua phải sai sứ về Sở trước, đem địa giới, giao cắt phân minh thì quả nhân
mới có thể tiễn nhà vua về được.
Quần thần trong nước cũng đều đến
khuyên Hoài-vương, Hoài-vương càng giận nói rằng:
– Các người lừa dối ta đến đây, lại
bắt ép ta phải cắt đất, ta chết thì chết, chứ không chịu để các người uy hiếp
như thế được!
Chiêu Tương-vương bèn giữ Hoài-vương
ở lại trong thành Hàm Dương, không cho về nước.
Lại nói Ngận Thượng trốn về Sở
báo cho Chiêu Chuy biết rõ sự tình, Chiêu Chuy nói:
– Vua ta ở Tần không được về, mà
thái tử lại làm con tin ở Tề, nếu người Tề lại cùng Tần họp mưu mà giữ thái tử
lại thì nước Sở không có vua.
Ngận Thượng nói:
– Công tử Lan hiện ở nước, sao
không lập?
Chiêu Chuy nói:
– Thái tử lập lên đã lâu, nay vua
còn ở Tần mà dám trái mệnh, bỏ con cả lập con thứ, mai sau vua trở về nước thì
biết nói làm sao? nay ta giả cách sang Tề cáo phó, để đón thái tử, Tề tất tin
theo.
Ngận Thượng nói:
– Tôi đã không thể vì vua chống nạn,
vậy việc ấy để tôi xin làm.
Chiêu Chuy liền sai Ngận Thượng
sang Tề, nói dối là vua Sở đã mất, đón thái tử về chịu tang và nối ngôi.
Tề Mân-vương bảo tướng quốc là Mạnh
Thường quân rằng:
– Nước Sở không có vua, ta muốn
giữ thái tử lại, để cầu đất Hoài Bắc có nên chăng?
Mạnh Thường quân nói:
– Không nên, vua Sở không phải chỉ
có một con. Ta giữ thái tử lại mà họ đem đất đến chuộc thì cũng nên đấy. Nhưng
nếu họ lập lại người khác lên làm vua, thì ta chẳng lợi được một tấc một thước
đất nào chỉ mang tiếng bất nghĩa, như vậy thì sao nên!
Mân-vương lấy làm phải, bèn đưa
thái tử Hoành về Sở nối ngôi, đó là Khoảnh Tương-vương. Tử Lan, Ngận Thượng vẫn
trông nom mọi việc như cũ. Rồi sai sứ sang nói với Tần rằng:
– Nhờ xã tắc thần linh, nước Sở
đã có vua rồi!
Vua Tần giữ Hoài-vương lại thành
ra vô ích, tức giận quá, sai Bạch Khởi làm tướng, Mông Vụ làm phó, đem mười vạn
quân đánh Sở, lấy được mười lăm thành rồi về. Sở Hoài-vương ở nước Tần hơn một
năm, vì đã lâu ngày nên người canh giữ có phần trễ biếng, Hoài-vương bèn cải
trang trốn ra khỏi Hàn Dương, muốn theo phía đông về Sở. Vua Tần sai quân đuổi
theo; Hoài-vương không dám đi về phía đông nữa, liềy quay lên phía bắc, theo đường
tắt chạy sang nước Triệu.
Triệu chủ phụ chết đói cung Sa Khâu
Mạnh Thường Quân ra thoát cửa Hàm Cốc
Lại nói Triệu Vũ-vương mình dài tám thước tám tấc, trán rộng, mồm dài, tóc rậm râu xồm, mặt đen, có ánh sáng, sức khoẻ vô địch, chí khí hùng vĩ, lên ngôi năm năm, lấy con gái nước Hàn làm phu nhân, sinh con trai là Chương, lập làm thái tử. Năm 56 tuổi, vì nằm mộng thấy một người con gái đẹp gảy đàn, đem lòng yêu mến, ngày hôm sau nói chuyện với quân thần, quan đại phu là Hồ Quảng Tự nói co con gái tên là Mạnh Điều gảy đàn rất hay. Vũ Linh vương liền cho triệu đến đài Đại Lăng, thì thấy dung mạo giống hệt như người trong mộng, vương bèn sai gảy đàn, nghe lấy làm bằng lòng lắm, đem về cung, gọi là Ngô Hài, sinh con là Hà. Khi Hàn hậu mất, liền lập Ngô Hài làm hậu, bỏ thái tử Chương, lập Hà lên làm thái tử. Vũ Linh vương tự nghĩ nước Triệu bắc giáp Yên, đông giáp Hồ, tây giáp Lâm Hồ, Lâu Phiền, lại cùng Triệu là láng giềng, mà Tần chỉ cách một con sông, ở vào nơi bốn mặt chịu đánh, chỉ e ngày một mòn yếu. Vũ Linh vương bèn tự mình mặc y phục rợ Hồ, mang đai và đi giày da thuộc; lại bắt dân đều bắt Chước tục Hồ, tay áo may chẽn, vạt áo khép vào bên tả, để tiện việc cỡi ngựa bắn cung. Trong nước không kể sang hèn ai nấy đều mặc quần áo Hồ, không đi xe chỉ cưỡi ngựa, ngày ngày săn bắn. Nhờ vậy quân nước Triệu ngày càng mạnh. Vũ Linh vương tự đem quân đi cướp đất, đến tận Thường Sơn, mở thêm được vài trăm dặm; rồi nảy ra cái chí muốn nuốt Tần, lại cho rằng các tướng không thể chuyên dùng được, chi bằng giao việc nước cho con đẻ mình được rộng chân đi kinh lý bốn phương, bèn họp quần thần đặt lễ đại triều ở Đông cung mà truyền ngôi cho thái tử, tức là Huệ-vương, còn mình thì làm chủ phụ, cũng như đời sau gọi là Thái thượng hoàng. Liền đó cử Phi Nghĩa làm tướng quân, Lý Đoái làm thái phó, công tử Thành làm tư mã, phong cho con trưởng là Chương ở đất An Dương, gọi là An Dương quân, và cử Điền Bất Lễ làm tướng cho An Dương quân. Chủ phụ muốn dò xem núi sông hình thế nước Tần và xem vua Tần là người thế nào, bèn trá xưng làm sứ giả nước Triệu là Triệu Chiêu, đem quốc thư sang nước Tần báo việc lập vua, lại mang vài người thợ đi dọc đường vẽ địa hình, vào thẳng Hàm Dương yết kiến vua Tần. Chiêu Tương-vương hỏi rằng:
– Vua nhà ngươi đã tuổi tác lắm
sao?
Thưa rằng:
– Còn tráng kiện lắm.
Lại hỏi:
– Còn tráng kiện sao lại truyền
ngôi cho con?
Thưa rằng:
– Quốc vương tôi nghĩ rằng những
vua nối ngôi, phần nhiều không hiểu việc, cho nên muốn đang lúc mình còn sống
cho con tập làm việc nước. Quốc vương tôi dẫu làm chủ phụ, nhưng vẫn định đoạt
việc lớn trong nước.
Chiêu Tương-vương nói:
– Vua nước ngươi cũng sợ Tần chứ?
Thưa rằng:
– Vua nước tôi không sợ Tần, vì sức
nước tôi ngày nay đủ đối địch được với Tần.
Chiêu Tương-vương thấy ứng đối
trôi chảy, trong lòng rất kính trọng. Sứ giả từ đi ra, đến ở công quán. Đêm ấy
Chiêu Tương-vương ngủ đến nửa đêm, bỗng nghĩ sứ giả nước Triệu, trạng mạo khôi
ngô kỳ vĩ, không giống tướng kẻ làm tôi, trong lòng sinh ngờ, dằn dọc không ngủ
được nữa. Sáng ra Tương-vương cho đòi Triệu Chiêu vào yết kiến. Người theo hầu
nói rằng:
– Sứ giả đang ốm, không thể vào
triều, xin hoãn cho đến hôm khác.
Quá ba ngày, sứ giả vẫn chưa vào,
Chiêu Tương-vương giận, sai người đến xét xem, vào thẳng trong nhà, chẳng thấy
sứ giả đâu, chỉ thấy người theo hầu, tự xưng chính mình mới thực là Triệu
Chiêu, bèn bắt giải đến trước mặt Chiêu Tương-vương. Vua hỏi:
– Người là Triệu Chiêu, vậy sứ giả
là người nào?
Thưa rằng:
– Đó thực là chủ phụ nước tôi vậy,
chủ phụ tôi muốn rõ uy dung đại vương, nên dối xưng là sứ giả đến đây. Nay chủ
phụ tôi đã ra khỏi Hàm Dương được ba ngày rồi, có sai hạ thần ở lại để chịu tội.
Chiêu Tương-vương cả sợ, dậm chân
nói rằng:
– Chủ phụ nhà ngươi lừa dối ta
quá lắm!
Liền sai Kinh Dương quân cùng Bạch
Khởi lĩnh ba nghìn tinh binh ngay ban đêm đuổi theo, đến cửa Hàm Cốc, tướng sĩ
giữ cửa nói là sứ giả nước Triệu đã ra khỏi cửa từ ba ngày trước rồi. Kính
Dương quân về tâu với vua Tần, vua Tần lo sợ luôn mấy hôm, rồi theo lễ tha cho
Triệu Chiêu về nước. Sang năm sau, chủ phụ lại ra tuần đất Vân Trung, từ châu Đại
sang phía tây, thu quân ở Lâu Phiền, đắp thành ở Linh Thọ, để trấn giữ Trung
Sơn, gọi là Triệu Vương thành, Ngô Hài cũng đắp thành ở Phi Lương gọi là Phu
Nhân thành. Bấy giờ trong Tam Tấn thì nước Triệu có phần mạnh hơn. Năm ấy Sở Hoài-vương
tự Tần chạy đến, vua Triệu sợ mang oán với Tần, và lại chủ phụ đi xa vắng,
không dám tự chuyên, liền đóng cửa không cho vào, Hoài-vương cùng kế bèn chạy
sang nước Lương, quân Tần đuổi kịp lại, bắt mang về Hàm Dương. Hoài-vương căm
giận quá, hộc ra hơn đấu máu, phát bệnh rồi chết. Tần đem di thể trả Sở, người
Sở thương Hoài-vương bị Tần lừa phải chết nơi đất khách, trăm họ đi đón đều
thương khóc như thương người thân thích. Chư hầu đều ghét Tần vô đạo, lại cùng
hợp tung để chống Tần. Quan đại phu là Khuất Nguyên thương Hoài-vương chết một
cách đau đớn, vì nỗi Tử Lan và Ngận Thượng xui bậy; lại thấy hai người ấy vẫn nắm
mọi quyền hành như trước, vua tôi chỉ tham sự tạm an, tuyệt không có chí báo Tần,
cho nên thường khuyên can Khoảnh Tương-vương gần người hiền xa người nịnh, kén
tướng luyện binh để báo thù cho Hoài-vương. Tử Lan hiểu ý, xui Ngận Thượng nói
với Khoảnh Tương-vương rằng:
– Khuất Nguyên nghĩ mình là người
đồng tộc mà không được trọng dụng, trong lòng oán vọng, thường nói với mọi người
rằng đại vương quên cái thù nước Tần là bất hiếu, bọn Tử Lan không chủ trương
việc đánh Tần là bất trung.
Khoảnh Tương-vương cả giận cách
chức Khuất Nguyên đuổi về nơi làng xóm. Khuất Nguyên có người chị gái tên là Tu
đã lấy chồng xa, nghe Nguyên đuổi liền trở về thăm, thấy Khuất Nguyên tóc thì bỏ
xoã, mặt thì nhem nhuốc, hình dung hốc hác, vừa đi vừa ngâm thơ ở bờ sông, bèn
bảo rằng:
– Vua Sở dẫu không nghe lời em,
mà em ở như thế là đã hết lòng rồi, còn lo nghĩ làm gì? may mà nhà còn có ruộng
nương, sao chẳng hết sức cày cấy để tự nuôi mình mà hưởng hết tuổi trời?
Khuất Nguyên không muốn trái ý chị,
bèn mang cày đi cày, người trong làng thương Nguyên có lòng trung, đua nhau
giúp sức. Hơn một tháng người chị đi, Nguyên than rằng:
– Vịêc nước Sở đã đến thế này, ta
không nỡ trông thấy tôn miếu diệt vong!
Một hôm Khuất Nguyên dậy sớm ôm
hòn đá tự dìm mình xuống sông Mịch La mà chết. Hôm ấy chính là ngày mồng năm
tháng năm. Người làng nghe Nguyên tự trầm, thi nhau chở thuyền nhỏ ra sông cứu
thì không kịp nữa rồi, bèn làm bánh nếp có góc ném xuống dòng sông để tế, mỗi
cái bánh đều có buộc sợi chỉ màu, là vì sợ bị thuồng luồng cướp ăn mất. Lại như
tục đua bơi thuyền rồng ở Ngô và Sở cũng vì việc cứu với Khuất Nguyên mà sinh
ra. Cái ruộng Khuất Nguyên cày, về sau gạo trắng như ngọc, nên gọi là “ruộng gạo
ngọc”, đặt tên làng gọi là làng “Ti qui”.
Lại nói Triệu chủ phụ ra tuần ở
Vân Trung, về đến Hàm Đan, luận công hành thưởng, cho nhân dân cả nước được uống
rượu say ba ngày. Hôm ấy quần thần đều họp cả để chúc mừng, chủ phụ sai Huệ-vương
ngồi nhận lễ thấy Hà tự mình đặt ghế riêng ngồi ở cạnh xem hành lễ thấy Hà còn
bé mặc áo cổn, đội mũ miện ngoảnh mặt về phía nam mà làm vua, còn con trưởng là
Chương thì to lớn, đáng bậc trượng phu, mà phải hướng về phía bắc lạy quì ở dưới,
anh phải chịu khuất em, nghĩ thế lấy làm thương lắm. Buổi chầu tan, chủ phụ thấy
công tử Thắng ở bên cạnh, bèn bảo nhỏ rằng:
– Ngươi có thấy An Dương quân
không? Dẫu An Dương quân vẫn theo ban chầu lạy, nhưng có ý không vui. Ta muốn
chia đất Triệu làm hai, cho Chương làm vua ở Đại, cũng ngang với Triệu, ý ngươi
nghĩ thế nào?
Thắng thưa rằng:
– Chúa công trước đã tính lầm,
nay phận vua tôi đã định rồi, mà lại còn sinh việc ra, e rồi anh em sau này sẽ
tranh giành nhau mất.
Chủ phụ nói:
– Quyền ở tay ta, còn phải lo gì.
Chủ phụ về cung, phu nhân là Ngô
Hài thấy sắc mặt đổi khác, liền hỏi:
– Ngày nay trong triều có việc gì?
Chủ phụ nói:
– Ta thấy thái tử cũ là Chương là
anh mà phải chầu em, thực là trái ngược, muốn lập Chương làm vua Đại; Thắng lại
nói là không nên, cho nên ta trù trừ chưa quyết.
Ngô Hài nói:
– Xưa kia Mục hầu nước Tấn sinh
hai con, trưởng là Cừu, thứ là Thành Sự. Mục Hầu mất, Cừu lên nối ngôi, đóng đô
ở Dực, phong em là Thành Sự ở Khúc Ốc, về sau Khúc Ốc mạnh, diệt hết con cháu của
Cừu và thôn tính cả đất Dực, việc đó chắc chủ phụ có biết. Thành Sự là em mà
còn giết được anh, phương chi Chương lại là anh đối với em, là lớn đối với bé ư?
Mẹ con tôi rồi đến bị người ta ăn thịt mất.
Chủ phụ quá nghe lời nói của Ngô
Hài, bèn thôi việc ấy. Có người nội thị trước kia hầu thái tử Chương ở Đông
cung, nghe chủ phụ bàn việc ấy bèn đi bảo riêng cho Chương biết, Chương bàn với
Điền Bất Lễ. Bất Lễ nói:
– Chủ phụ muốn chia đất phong
vương cho hai con là do ở công tâm, chỉ vì lời nói của người đàn bà làm ngăn trở
đó thôi! Vua còn bé không hiểu việc, nếu thừa cơ dùng kế mà làm, thì chủ phụ
cũng không làm thế nào được.
Chương nói:
– Việc ấy nhà ngươi nên lưu ý,
giàu sang ta sẽ có nhau.
Thái phó là Lý Đoái quen thân với
Phì Nghĩa, mật báo Phì Nghĩa rằng:
– An Dương quân cường tráng mà
kiêu, vây cánh rất nhiều và Dương có lòng oán vọng. Điền Bất Lễ là người cương
cường tự phụ, biết tiến mà không biết thoái, hai người đang cùng nhau mưu làm bậy,
đến khi việc hỏng thì ông là người có tránh nhiệm và quyền thế tất là phải chịu
tai họa trước mọi người. Sao ông chẳng xưng bệnh mà giao quyền cho công tử
Thành, may ra có thể thoát họa được?
Phì Nghĩa nói:
– Chủ phụ đem vua giao cho tôi,
tôi làm tướng quốc, là vì cho tôi là người có thể ủy thác được trong lúc an
nguy, nay chưa thấy họa mà đã tránh trước, há chẳng bị Tuân Tức ở dứơi suối
vàng chê cười cho ư?
Lý Đoái than rằng:
– Thế là ông được chữ trung mà mất
chữ trí đấy!
Nói xong, chảy nước mắt một hồi
lâu rồi từ biệt, Phì Nghĩa nghĩ đến lời Lý Đoài, đêm không ngủ được, bữa không
nuốt được, mãi không nghĩ được kế gì, bèn bảo tên hầu cận là Cao Tín rằng:
– Từ nay về sau nếu có chỉ của chủ
phụ đòi vua ta, thì phải bảo cho ta biết trước.
Cao Tín vâng lời. Bỗng một hôm chủ
phụ cùng vua đi chơi ở Sa Khâu, Chương cũng đi theo. Tại Sa Khâu có một cái
đài, xây từ đời vua Trụ, nhà Thương, có hai toà li cung, chủ phụ cùng vua đều ở
trong cung, cách xa nhau chừng năm sáu dặm, cái quán của Chương ở vào giữa. Điền
Bất Lễ bảo Chương rằng:
– Vua ra chơi ở ngoài, quân theo
đi không có mấy, nếu giả mệnh chủ phụ mà triệu vua, thì vua tất đến, ta phục
quân ở giữa đường mà giết đi, rồi đem chủ phụ ra mà vỗ yên dân chúng thì không
ai còn dám trái lệnh nữa.
Chương nói:
– Kế ấy rất diệu.
Liền sai tên nội thị tâm phúc, giả
làm sứ giả của chủ phụ đang đêm đến triệu Huệ-vương, nói rằng:
– Chủ phụ tự nhiên phát bệnh, muốn
được trông thấy mặt nhà vua, xin nhà vua đến ngay cho!
Cao Tín liền chạy đi bảo tướng quốc
Phì Nghĩa, Nghĩa nói:
– Chủ phụ vốn không bệnh, việc đó
đáng ngờ!
Bèn vào nói với vua rằng:
– Nghĩa này xin đi trước, đợi
không có việc gì, bấy giờ nhà vua sẽ đi.
Lại bảo Cao Tín rằng:
– Nhà ngươi đóng chặt cửa cung,
chớ nên khinh suất mở ra!
Phì Nghĩa cùng vài kỵ binh theo sứ
giả đi trước, đến giữa đường, quân phục ngỡ là vua, ồ ra giết chết cả. Điền Bất
Lễ châm lửa xem thì thấy là Phì Nghĩa, sợ quá nói rằng:
– Việc hỏng mất rồi. Âu là nhân
lúc việc còn chưa lộ, ta đem hết quân đánh úp vua, may còn có thể được!
Rồi đem Chương đến đánh vua. Cao
Tín vì Phì Nghĩa đã dặn trước, nên đã dự bị phòng giữ rất chắc chắn. Điền Bất Lễ
đánh phá cung vua, không sao phá được, đến lúc trời sáng, Cao Tín sai quân trèo
lên nóc nhà bắn xuống, nhiều người bị thương, về sau hết cả tên bắn, Cao Tín phải
sai rút ngói ném xuống; Điền Bất Lễ sai lấy đá to buộc vào đầu cây để đánh cửa
cung, tiếng vang như sấm. Huệ-vương đang ở trong lúc nguy cấp, bỗng nghe bên
ngoài có tiếng reo hò, hai đội quân nữa kéo đến đánh, quân Bất Lễ thua to, xô
nhau bỏ chạy. Số là công tử Thành, Lý Đoái ở trong thành bàn với nhau, sợ An
Dương quân thừa cơ làm loạn, mỗi người liền đem một đội quân kéo đến tiếp ứng,
gặp lúc quân địch đang vây cung vua, giải cứu được cái nạn ấy. Chương đánh
thua, hỏi Điền Bất Lễ rằng:
– Bây giờ biết làm thế nào?
Bất Lễ nói:
– Công tử hãy chạy ngay vào chỗ
chủ phụ mà khóc lóc kêu xin, chủ phụ tất sẽ che chở cho; còn tôi, tôi xin hết sức
chống với toán quân đuổi theo. Chương theo lời, một mình cưỡi ngựa chạy vào
cung chủ phụ. Chủ phụ quả nhiên mở cửa cho vào, dấu kín một nơi. Bất Lễ đem tàn
binh đánh nhau với quân của Thành, Đoái, quân ít không địch nổi, bị Lý Đoài
chém chết. Đoái chắc là An Dương quân không chỗ nương thân, tất phải chạy vào
nhờ chủ phụ, bèn dẫn quân đến vây cung chủ phụ, phá tan cửa cung, Đoái cầm gươm
đi trước mở đường, công tử Thành đi sau, vào yết kiến chủ phụ, dập đầu nói rằng:
– An Dương quân làm phản, phép nước
không thể tha được, xin chủ phụ cho bắt ra đây.
Chủ phụ nói:
– Nó chưa hề đi vào trong cung
ta, hai người nên đi tìm nơi khác.
Đoái, Thành hai ba lần bẩm xin,
chủ phụ không nói gì.
Đoái nói:
– Việc đã đến thế, xin cho sục
tìm một phen, nếu không có thật, sẽ xin tạ tội!
Thành nói;
– Nhà ngươi nói phải đấy!
Bèn gọi vài trăm thân binh, tìm
khắp trong cung, đến chỗ hai tường giáp nhau, bắt được An Dương quân, lôi tuột
ra. Lý Đoái vội rút gươm chém đứt đầu ngay.
Thành nói:
– Sao vội thế?
Đoái nói:
– Nếu để gặp chủ phụ, lỡ ra chủ
phụ giữ lại không cho bắt thì sao? Nếu ta chống thì trái lễ làm tôi, mà theo
thì để mất một tên giặc. Chi bằng giết ngay là hơn.
Thành cho là phải, Đoái cầm thủ cấp
An Dương quân giơ cao lên, tự trong cung đi ra, nghe tiếng chủ phụ khóc, lại bảo
Thành rằng:
– Chủ phụ mở cửa cho Chương chạy
vào, là trong lòng đã thương Chương rồi, chúng ta vì cố bắt Chương, vây cung chủ
phụ, lôi Chương ra mà giết, thực là làm đau lòng chủ phụ. Sau khi yên việc nếu
chủ phụ trị tội vây cung thì chúng ta đến bị giết cả họ mất. Vua còn bé không đủ
bàn việc, chúng ta nên tự quyết.
Bèn truyền lệnh quân sĩ không giải
vây, rồi sai người giả truyền lệnh của Huệ-vương rằng:
– Những người ở trong cung, ai ra
trước thì được tha tội, ai ra sau thì là vây cánh giặc, sẽ bị giết cả họ.
Các tùng quan và nội thị nghe lệnh
vua, tranh nhau ra trước, ở trong chỉ còn lại có một mình chủ phụ. Chủ phụ gọi
không một người nào thưa, muốn ra thì cửa đã khoá chặt rồi. Quân sĩ vây luôn
vài ngày, chủ phụ ở trong cung đói quá, không kiếm được cái gì ăn. Ở giữa sân
có cái cây trên có tổ chim sẻ, chủ phụ bèn lấy trứng ăn, được hơn một tháng bị
chết đói.
Chủ phụ đã chết, người ngoài chưa
ai biết, bọn Lý Đoái vẫn chưa dám vào, đợi mãi đến hơn ba tháng mới dám mở khoá
vào xem, thì thi thể chủ phụ đã khô đét ra rồi. Công tử Thành đưa Huệ-vương đến
cung Sa Khâu, coi liệm và phát tang chôn ở đất Đại. Huệ-vương trở về kinh đô, cử
công tử Thành làm tướng quốc, Lý Đoái làm tư khấu. Không bao lâu, công tử Thành
chết, Huệ-vương nghĩ đến công tử Thắng từng can ngăn chủ phụ về việc chia đất
phong vương bèn dùng làm tướng quốc, phong cho đất Bình Nguyên, gọi là Bình Nguyên
quân. Bình Nguyên quân cũng có lòng hiếu sĩ như Mạnh Thường quân, khi đã quý hiển
càng chiêu nạp tân khách, trong nhà số khách ăn thường có đến vài nghìn người.
Phủ đệ của Bình Nguyên quân có một cái hoạ lâu, để một mỹ nhân ở trên đó, lầu ấy
trông sang nhà một người dân; chủ nhân nhà ấy bị bệnh què chân, sáng dậy tập tễnh
đi ra xách nước, mỹ nhân ở trên lầu trông thấy cười ồ lên. Một lát, người què đến
cửa nhà Bình Nguyên quân, xin vào yết kiến. Công tử Thắng vái chào mời vào, người
què nói:
– Nghe ngài có lòng yêu kẻ sĩ,
cho nên kẻ sĩ không ngại xa xôi mà đua nhau đến, đó là vì ngài quý kẻ sĩ mà
khinh gái đẹp. Tôi không may bị què chân, đi lại không vững, người hậu cung của
ngài lại cứ trông tôi mà cừơi, tôi không thể chịu để cho một người đàn bà làm
nhục, vậy tôi xin ngài ban cho tôi cái đầu kẻ đã cười tôi.
Thắng cười đáp xin vâng. Người
què ra, Thắng cười nói:
– Thằng ấy ngu quá, vì một cái cười
mà muốn giết mỹ nhân của ta ư?
Nhà Bình Nguyên quân đã có lệ thường,
người giữ việc đãi khách mỗi tháng phải dâng trình sổ khách để xem số khách nhiều
ít, mà lượng tính số tiền thóc vào ra. Trước kia số khách chỉ tăng không giảm,
lúc ấy thấy mỗi ngày một ít đi, hơn một năm thấy kém đi một nửa. Công tử Thắng
lấy làm lạ, bèn đánh chuông họp các khách lại hỏi rằng:
– Thắng này đãi các ông chưa dám
có điều gì thất lễ, vậy mà các ông lại đua nhau bỏ đi là cớ làm sao?
Trong bọn khách có một người đứng
lên nói rằng:
– Ngài không giết bỏ vị mỹ nhân
cười người què kia, ai nấy đều không bằng lòng, cho rằng ngài yêu sắc đẹp mà
khinh kẻ sĩ, cho nên bỏ đi. Chúng tôi bất nhật cũng sẽ xin đi!
Bình Nguyên quân cả sợ, nhận tội
rằng:
– Đó thực là cái lỗi của Thắng
này!
Nói rồi, cởi ngay thanh gươm đeo,
sai tả hữu chém đầu mỹ nhân ở trên lầu, rồi tự đi đến cửa nhà người què, quì
xin chịu tội. Người què lấy làm mừng. Từ đó khách trong nhà đều ngợi khen đức
hiền của Bình Nguyên quân, những người đã bỏ đi lại kéo đến ở như cũ.
Bấy giờ Chiêu Tương-vương nước Tần
nghe việc Bình Nguyên quân chém mỹ nhân để tạ người què, một hôm thuật với Hướng
Thọ, khen là người giỏi. Hướng Thọ nói:
– Còn chưa giỏi bằng Mạnh Thường
quân.
Vua Tần nói:
– Mạnh Thường quân thế nào?
Hướng Thọ nói:
– Mạnh Thường quân từ ngày cha là
Điền Anh còn sống đã để cho chủ trương việc nhà, tiếp đãi tân khách, tân khách
theo về đông như chợ, chư hầu đều có lòng kính mến, xin với Điền Anh cho làm thế
tử; đến khi được nối làm Tiết công, tân khách lại càng đông, ăn uống cũng đều
như mình cả, cung cấp tốn kém quá rồi đến phá sản, những kẻ sĩ ở nước Tề đến,
ai nấy đều cho là Mạnh Thường quân yêu mình, không có điều tiếng gì khác. Nay
Bình Nguyên quân để cho mỹ nhân cười người què mà không giết, mãi đến lúc tân
khách bỏ đi, mới chém đầu để tạ, chẳng cũng muộn lắm ư?
Vua Tần nói:
– Quả nhân làm sao có được một
người như Mạnh Thường quân để cùng bàn việc?
Hướng Thọ nói:
– Nhà vua muốn Mạnh Thường quân,
sao không triệu đến?
Vua Tần nói:
– Hắn là tướng nước Tề, triệu khi
nào hắn chịu đến?
Hướng Thọ nói:
– Nếu nhà vua cho con em ruột
sang làm con tin ở Tề để mời Mạnh Thường quân, Tề tin Tần tất phải cho đi. Nhà
vua được Mạnh Thường quân rồi thì dùng ngay làm tướng. Tề tất cũng dùng con em
của nhà vua làm tướng. Tề, Tần đổi người làm tướng cho nhau, tình bang giao tất
hoà hợp, rồi cùng nhau mưu việc thôn tính chư hầu, tất chả còn khó khăn gì nữa!
Vua Tần lấy làm phải, bèn cử Kinh
Dương quân tên là Khôi làm con tin ở Tề, xin đổi Mạnh Thường quân sang Tần, cho
được trông thấy mặt để thoả lòng khát khao. Tân khách nghe Mạnh Thường quân được
nước Tần triệu đi đều khuyên nên đi. Bấy giờ Tô Đại vừa ở Yên sang sứ Tề, mới bảo
Mạnh Thường quân rằng:
– Tôi từ ngoài đến đây, thấy tượng
đất và tượng gỗ đang nói chuyện với nhau. Tượng gỗ bảo tượng đất rằng “Trời
đang mưa, nhà ngươi tất hỏng, biết làm thế nào?”. Tượng đất cười nói rằng: “Ta
là bởi đất mà sinh ra, nếu có hỏng thì lại hoàn là đất, còn nhà ngươi gặp mưa
mà trôi dạt đi thì không biết đến đâu!” Tần là nước hổ lang, Sở Hoài-vương sang
còn không về được, huống chi ngài, nếu họ giữ không cho ngài về, thì tôi không
biết rồi ngài sẽ ra sao?
Mạnh Thường quân bèn từ chối
không đi, Khuông Chương nói với Mân-vương rằng:
– Nước Tần đưa con tin sang mà cầu
được tiếp kiến Mạnh Thường quân, là có ý muốn thân Tề. Mạnh Thường quân không
đi thì mất lòng Tần. Tuy nhiên, giữ con tin của Tần, còn là không tin Tần, chi
bằng nhà vua cứ lấy lễ cho Kinh Dương quân về Tần, mà sai Mạnh Thường quân sang
sứ Tần để đáp lễ, như vậy thì vua Tần tất tin nghe Mạnh Thường quân mà ở hậu với
Tề.
Mân-vương cho là phải, bảo Kinh
Dương quân rằng:
– Quả nhân sắp sai tướng quốc
sang sứ bên thượng quốc để triều bái vua Tần, há dám phiền quí nhân làm tin!
Rồi sai dùng xe ngựa đưa Kinh
Dương quân về Tần, lại sai Mạnh Thường quân theo sang sứ. Mạnh Thường quân cùng
hơn nghìn tân khách, hơn trăm cỗ xe, theo phía tây đi đến Hàm Dương vào yết kiến
vua Tần. Vua Tần xuống thềm đón, cầm tay chào hỏi, giãi tỏ lòng yêu mến bấy
lâu. Mạnh Thường quân có cái áo cầu lông chồn màu trắng, lông dài hai thước, sắc
trắng như tuyết, giá đáng nghìn vàng, thực là của quý có một không hai, dùng
làm lễ riêng đem dâng vua Tần. Vua Tần mặc áo cừu ấy đi vào cung, khoe với nàng
Yên Cơ.
Yên Cơ nói:
– Áo cầu ấy người ta cũng thường
có, lấy gì làm quý!
Vua Tần nói:
– Giống chồn nếu không sống vài
nghìn năm thì sắc không trắng, cái áo cầu này lấy những miếng da nách giống chồn
ghép lại mà thành ra, là một thứ da thuần trắng, cho nên giá rất cao. Tề là một
nước lớn ở Sơn Đông cho nên mới có thứ áo quý này.
Bấy giờ khí trời còn ấm, vua Tần
cởi áo cầu giao cho kẻ lại giữ kho, dặn phải cất cẩn thận đều mùa rét dùng, rồi
chọn ngày lập Mạnh Thường quân làm thừa tướng. Vu Lí Tật sợ rằng nếu Mạnh Thường
quân được dùng thì sẽ cướp mất quyền mình, bèn sai gia khách là công tôn Thích
bảo vua Tần rằng:
– Điền Văn là người Tề, nay làm
tướng Tần, tất hắn phải nghĩ đến Tề trước rồi mới nghĩ đến Tần. Cứ lý mà suy, Mạnh
Thường quân đã có cái tài trù liệu mọi việc, không việc nào sai, lại thêm có
nhiều tân khách giúp dập, nếu mượn quyền Tần để mưu ngầm cho Tề, thì Tần nguy mất.
Vua Tần đem lời nói ấy hỏi Vu Lí
Tật, Tật nói:
– Thích nói phải đấy!
Vua Tần nói:
– Nếu vậy thì cho hắn về hay sao?
Tật nói:
– Mạnh Thường quân ở Tần đã hơn
tháng, khách theo hơn nghìn người, đều biết hết việc lớn nhỏ của Tần, nếu nay để
cho về thì tất có hại cho Tần, chi bằng giết đi.
Vua Tần nghe lời, cho Mạnh Thường
quân ra ngoài quán xá. Kinh Dương quân khi ở Tề được Mạnh Thường quân đối đãi rất
hậu, ngày cùng ăn uống, khi về lại nặng mấy thứ đồ quý, Kinh Dương quân vẫn lấy
làm cảm ơn; lúc ấy nghe được cái mưu của vua Tần liền đến yết kiến Mạnh Thường
quân, nói rõ cho biết. Mạnh Thường quân lo sợ, hỏi kế, Kinh Dương quân nói:
– Nhà vua cũng chưa biết đâu.
Trong cung có nàng Yên Cơ rất được vua yêu mến, nói gì vua cũng nghe. Ngài có
thư gì quý nhất, tôi sẽ vì ngài đem dâng Yên Cơ, cầu nàng ấy nói cho một lời,
thả ngài về nước, thì có thể thoát họa được.
Mạnh Thường quân liền đem hai đôi
bạch bích, nhờ Kinh Dương quân đem dâng Yên Cơ, xin nàng giải cứu cho.
Yên Cơ nói:
– Thiếp rất thích thứ áo lông chồn
trắng. Nghe nói ở nước Tề vẫn có thứ áo ấy, nếu cho thiếp một cái, thiếp sẽ nói
cho, chứ thứ ngọc bích này thiếp không dùng làm gì.
Kinh Dương quân về báo cho Mạnh
Thường quân biết, Mạnh Thường quân nói:
– Chỉ có một cái áo cầu tôi đã
đem dâng vua Tần, bây giờ biết lấy đâu được nữa?
Rồi hỏi khắp tân khách xem có ai
kiếm được thứ áo cầu trắng không, ai nấy đều im không đáp. Cuối cùng có một người
khách tự nói là có thể kiếm được.
Mạnh Thường quân nói:
– Nhà ngươi có kế gì kiếm được thứ
áo cầu ấy?
Khách nói:
– Tôi có thể giả làm chó đi ăn trộm
được!
Mạnh Thường quân cười rồi cho đi.
Đến đêm người khách ấy mặc quần áo như con cho, chui qua cổng nhỏ, lẻn vào
trong kho, làm tiếng chó sủa, kẻ lại giữ kho tưởng là chó giữ sủa, không nghi
ngờ gì. Người khách rình lúc kẻ lại kia ngủ say, lấy chìa khoá giắt sẵn trong
mình, mở tủ kho ra, quả nhiên thấy cái áo cầu trắng, bèn lấy trộm đem ra, dâng
Mạnh Thường quân, Mạnh Thường quân đưa cho Kinh Dương quân đem dâng Yên Cơ, Yên
Cơ vui mừng quá, lại gặp buổi đêm cùng vua uống ruợu đang vui, bèn nói rằng:
– Thiếp nghe Tề có Mạnh Thường
quân là bậc đại hiền trong thiên hạ, Mạnh Thường quân đang làm tướng Tề, không
muốn sang Tần, vì Tần mời mới đến, chẳng dùng thì thôi, sao lại chực giết? Mời
vị tướng quốc của người ta đến, không có cớ gì giết đi, đại vương sẽ mang tiến
hãm hại người người hiền tài, thiếp e rằng hiền sĩ thiên hạ không còn ai dám đến
nước Tần nữa!
Vua Tần lấy làm phải, ngày hôm
sau, sai sắp xe ngựa, cấp giấy trạm, thả Mạnh Thường quân về Tề. Mạnh Thường
quân nói:
– Ta may nhờ một lời nói của Yên
Cơ mà được thoát miệng hùm, nhưng vạn nhất mà vua Tề giữa chừng lại hối thì mệnh
ta còn gì!
Trong bọn khách có người khéo làm
giấy tờ giả mạo, bèn vì Mạnh Thường quân đổi họ tên ở trong giấy trạm đi; ngay
ban đêm gấp đường ra đi, đến cửa Hàm Cốc, mới vào nửa đêm, cửa quan đã khoá chặt
từ lâu rồi. Mạnh Thường quân sợ có quân đuổi theo đến, nóng muốn ra khỏi cửa
quan ngay, nhưng cửa quan đóng mở đã có giờ nhất định, đêm đến người yên rồi
thì đóng, gà gáy thì mở. Mạnh Thường quân cùng các tân khách đứng ùn lại cả
trong cửa, trong lòng lo sợ bồn chồn, bỗng có tiếng gà gáy từ trong bọn khách vẳng
ra. Mạnh Thường quân lấy làm lạ, nhìn xem thì hoá ra trong bọn hạ khách có người
khéo bắt chước tiếng gà gáy. Rồi bao nhiêu gà ở quanh đó đều gáy theo, kẻ lại
giữ cửa quan tưởng là trời đã sáng thật, liền dậy khám xét giấy trạm của mọi
người rồi sai mở cửa ra. Mạnh Thường quân cùng tân khách lại gấp đường ra đi, bảo
hai người khách kia rằng:
– Ta nay nhờ khỏi miệng hùm là nhờ
sức chó sủa, gà gáy đó!
Các tân khách tự thẹn là không có
công gì, từ đó không dám khinh nhờn bọn hạ khách nữa.
Vu Lí Tật nghe nói Mạnh Thường
quân được tha về nước vội vào triều nói với vua Tần rằng:
– Nếu nhà vua không giết Điền
Văn, thì cũng nên giữ lại làm tin, làm sao lại thả cho hắn về?
Vua Tần lấy làm hối, lập tức sai
người đuổi theo Mạnh Thường quân đến cửa Hàm Cốc, đòi xem sổ tên hành khách thì
không có họ tên sứ Tề là Điền Văn.
Sứ giả nói:
– Hay là hắn đi theo đường tắt
nào, chứ cớ sao bây giờ chưa đến?
Đợi đến nửa ngày, chẳng thấy gì,
mới nói hình trạng Mạnh Thường quân và số tân khách xe ngựa, kẻ lại giữ cửa ải
nói:
– Nếu vậy thì bọn ấy ra khỏi cửa
quan từ sớm kia rồi!
Sứ giả hỏi còn có thể đuổi kịp nữa
không?
Kẻ lại nói:
– Bọn ấy đi nhanh lắm, nay đã
cách xa đến trăm dặm, không thể đuổi kịp được nữa.
Sứ giả bèn trở về báo vua Tần.
Vua Tần than rằng:
– Mạnh Thường quân có cái cơ mưu
quỉ thần bất trắc, thực là bậc hiền sĩ trong thiên hạ!
Sau vua Tần sai kẻ lại giữ kho lấy
áo cầu lông chồn trắng ra để mặc, kẻ lại tâu là bị kẻ trộm lấy mất; đến khi thấy
nàng Yên Cơ mặc, hỏi kỹ ra mới biết là người khách của Mạnh Thường quân lấy trộm.
Vua Tần lại than rằng:
– Tân khách trong nhà Mạnh Thường
quân đông như chợ, hạng nào cũng có, nước Tần ta thực chưa có bằng!
Rồi lấy áo hồ cừu cho nàng Yên Cơ
mặc mà không bắt tội kẻ giữ kho nữa.
Thử Mạnh Thường, Phùng Hoan gõ gươm hát
Đánh Kiệt Tống, vua Tề hợp đại binh
Lại nói Mạnh Thường quân tự Tần trốn về, đừơng qua nước Triệu, Bình Nguyên quân Triệu, Thắng ra ngoài đón ở ngoài ba mươi dặm, rất là cung kính. Người nước Triệu vốn nghe tiếng Mạnh Thường quân mà chưa được biết mặt, lúc ấy thi nhau đi xem, thấy Mạnh Thường quân lùn thấp bé nhỏ, trong bọn người đi xem, có kẻ cười nói rằng:
– Trước kia ta hâm mộ Mạnh Thường
quân, cho rằng người trời tất là khôi vĩ khác thường, nay xem ra thì chỉ là một
anh chàng bé nhỏ mà thôi!
Cũng có nhiều người hùa theo cười
cợt. Đêm ấy những kẻ cười Mạnh Thường quân đều bị mất đầu. Bình Nguyên quân biết
đó là do môn khách của Mạnh Thường quân làm ra, nhưng không dám hỏi đến.
Lại nói Tề Mân-vương sau khi đã
sai Mạnh Thường quân sang Tần, thì như mất hai cánh tay, sợ nước Tần dùng mất,
rất lấy làm lo, cho khi thấy Mạnh Thường quân trốn về được, thì cả mừng, lại
dùng làm tướng quốc. Từ đó Mạnh Thường quân được tân khách theo về càng đông,
bèn chia làm ba đẳng; khách thượng đẳng gọi là “đại xá”, khách trung đẳng gọi
là “hạnh xá”, khách hạ đẳng gọi là “truyền xá”. Đại xá là gồm những khách nào
có thể thay thế mình, hạng này được ăn thịt đi xe; hạnh xá gồm những khách nào
có thể dùng được, hạng này chỉ được ăn thịt, không được đi xe; truyền xá gồm những
khách chỉ cho ăn cơm sạch trấu cho khỏi đói, ra vào mặc ý đó là hạng hạ khách.
Những người khách mà lúc trước đã có công làm gà gáy chó sủa hay giấy trạm giả,
đều được ở vào hạng đại xá. Hàng năm số bổng thu đựợ ở ấp Tiết, không đủ để
cung tân khách, Mạnh Thường quân bèn đem tiền cho ấp Tiết vay, lấy số lãi để
thêm vào sự chi tiêu. Một hôm có một người thân thể cao lớn, mặc áo rách, đi
dép cỏ, tự nói họ Phùng, tên Hoan, người nước Tề, xin vào yết kiến. Mạnh Thường
quân vái chào mời cùng ngồi, nói rằng:
– Tiên sinh hạ cố, có điều gì dạy
Văn này?
Hoan nói:
– Không có gì. Tôi trộm nghe ngài
có lòng yêu mến kẻ sĩ, không chọn sang hèn, cho nên chẳng ngại đem cái thân
nghèo đến nương náu cửa ngài.
Mạnh Thường quân cho ở hạng truyền
xá. Hơn mười ngày, Mạnh Thường quân hỏi người truyền xá trưởng rằng:
– Người khách mới đến làm việc gì?
Truyền xá trưởng nói:
– Phùng tiên sinh nghèo quá chẳng
có cái gì, chỉ có một thanh kiếm lại không có vỏ, lấy dây cỏ buộc đeo ở sau
lưng, ăn xong cứ gõ gươm mà hát rằng: “Gươm ơi! về đi thôi! ăn không có cá!”
Mạnh Thường quân cười nói:
– Đó là hắn hiềm ta cho ăn uống
chẳng có gì!
Nói xong, liền đổi cho vào ở hạng
hạnh xá, bữa ăn nào cũng có cá thịt. Lại sai người hạnh xá trưởng xét xem ý
Hoan thế nào. Năm ngày sau, người hạnh xá trưởng bảo rằng:
– Phùng tiên sinh vẫn gõ gươm mà
hát như cũ, nhưng câu hát có khác lần trước. Tiên sinh hát rằng: “gươm ơi! về
đi thôi! đi không có xe!”
Mạnh Thường quân lấy làm lạ, nói:
– Hắn muốn ta đãi vào hạng thượng
khách chăng? người ấy chắc là có tài lạ!
Rồi đổi cho lên hạng đại xá, và
sai người đại xá trưởng xét xem thế nào. Hoan ngày ngày cỡi xe ra đi đến đêm mới
về, lại hát rằng: “Gươm ơi! về đi thôi! chẳng có gì gửi về nhà giúp đỡ!”
Đại xá trưởng nói với Mạnh Thường
quân.
Mạnh Thường quân nhăn trán nói rằng:
– Người khách ấy sao tham lam đến
thế?
rồi lại sai dò xét xem, nhưng
Hoan không hát nữa. Được hơn một năm, người quản gia nói với Mạnh Thường quân rằng
tiền thóc chỉ còn đủ tiêu trong một tháng. Mạnh Thường quân tra sổ thấy dân
gian thiếu nợ rất nhiều, bèn hỏi các tân khách rằng:
– Ai có thể đến ấp Tiết đòi nợ
cho tôi được?
Người đại xá trưởng nói rằng:
– Phùng tiên sinh chẳng thấy có sở
trường gì, nhưng xem ra thì một con người trung thực có thể dùng được. Hôm trước
ông ta đã tự xưng làm thượng khách. Vậy ngài hãy dùng xem.
Mạnh Thường quân liền cho vời
Phùng Hoan đến nói về việc đi thu nợ, Phùng Hoan nhận lời ngay, không hề từ chối,
rồi cỡi xe đi ngay đến ấp Tiết, ngồi ở trong công phủ. Dân ấp Tiết có đến một vạn
nhà, phần nhiều đều có vay nợ, nghe Tiết công sai vị thượng khách đến thu, thì
đem nộp giả rất nhiều, tính số tiền được lãi hơn mười vạn. Phùng Hoan đem nhiều
tiên sai mua rượu và trâu bò, lại cho yết thị phàm nhà nào có nợ Mạnh Thường
quân, không kể trả được hay không trả được, ngày hôm sau phải mang giấy đến
công phủ để xét. Trăm họ nghe có rượu và trâu bò đều đúng kỳ mà đến. Phùng Hoan
đều cho ăn uống no say, rồi nhân đó xét rõ ai giàu ai nghèo. Ăn xong, mang sổ
ra xét lại, hiện người nào dư sức, dẫu nhất thời không trả được mà về sau có thể
trả được, thì bắt viết văn tự xin tra hạn. Thấy thế, những người nghèo quá
không thể trả được đều lạy xin nới rộng kỳ hạn. Phùng Hoan sai đem hết những giấy
nợ của bọn người nghèo châm lửa đốt, rồi bảo mọi người rằng:
– Mạnh Thường quân sở dĩ cho các
ngươi vay tiền là sợ các ngươi không có tiền để làm sinh kế, chứ không phải vì
mưu lợi đâu! nhưng Mạnh Thường quân có mấy ngàn thực khách, bổng lộc không đủ,
cho nên bất đắc dĩ phải đòi số nợ lãi để cung tân khách. Nay người có thể trả
được thì cho gia hạn, người không thể trả được đã đốt bỏ văn tự đi coi như
không có nợ. Mạnh Thường quân làm ơn với ấp Tiết các ngươi co thể gọi là hậu lắm
đó!
Trăm họ đều dập đầu nói:
– Mạnh Thường quân thật là cha mẹ
chúng tôi!
Trước kh đó có người đem việc đốt
giấy nợ báo cho Mạnh Thường quân biết, Mạnh Thường quân giận quá, sai người đi
ngay gọi Phùng Hoan về. Phùng Hoan tay không vào yết kiến Mạnh Thường quân, Mạnh
Thường quân giả ý hỏi rằng:
– Khách khó nhọc lắm nhỉ, thu nợ
xong rồi à?
Hoan nói:
– Không những tôi đã vì ngài thu
nợ, lại vì ngài thu được cả lòng dân nữa.
Mạnh Thường quân biến sắc mặt
trách rằng:
– Văn này vì khách ăn trong nhà
những ba nghìn người, bỗng lộc không đủ, cho nên phải cho dân Tiết vay để lấy
lãi ma chi dùng thêm. Nghe nói khách thu được tiền lãi đem mua nhiều trâu bò rượu
thịt cho họ ăn uống, lại đốt bỏ mất một nửa những giấy nợ, thế mà còn nói là để
thu lòng người, thì chẳng rõ cái cách thu lòng người gì mà lạ vậy?
Hoan thưa rằng:
– Xin ngài bớt giận để tôi giãi
bày. Ngừơi mắc nợ rất đông, không bày ra cho ăn uống thì chúng không chịu đến đủ
mặt, không xét rõ được ai thừa sức và ai nghèo khổ. Kẻ có sức trả thì tôi đã bắt
làm giấy khất. Còn kẻ nghèo khổ thì dầu đốc thúc, chúng cũng không trả được, nợ
lâu lãi nhiều rồi đến bỏ trốn ấp. Ấp Tiết là đất thế phong của ngài, nhân dân ở
đó là những người mà ngài phải cùng chung những lúc yên nguy; nay tôi đốt bỏ những
giấy nợ vô dụng đi để rõ tấm lòng ngài khinh của mà yêu dân, cái tiếng nhân
nghĩa sẽ lan rộng ra vô cùng, vì thế nên tôi mới nói là đã vì ngài thu lòng người
vậy.
Mạnh Thường quân vì phải lo tính
đến sự cung nuôi tân khách, trong lòng vẫn lấy làm giận. Nhưng văn tự nợ đã bị
đốt cả rồi, cũng không làm thế nào được. Mạnh Thường quân đành phải gượng làm
vui, vái tạ Phùng Hoan.
Lại nói Tần Chiêu-vương lấy làm hối
là đã để Mạnh Thường quân về mất, lại thấy Mạnh Thường quân là con người cơ mưu
đáng sợ, lo người ấy đắc dụng ở Tề tất sẽ làm hại cho Tần, bèn đặt điều cho nói
ở khắp nước Tề rằng Mạnh Thường quân được nêu cao danh giá trong thiên hạ, nguồi
người chỉ biết có Mạnh Thường quân mà không biết có vua Tề; bất nhật Mạnh Thường
quân sẽ thay làm vua nước Tề. Lại sai người nói với Khoảng Tương-vương nước Sở
rằng trước kia sáu nước đánh Tần, một mình quân Tề ở lại sau, vì Sở tự xưng là
“tung ước trưởng”, Mạnh Thường quân không phục, cho nên không chịu cùng đánh,
và khi Hoài-vương ở Tần, vua Tần muốn cho về, Mạnh Thường quân sai người đến bảo
vua Tần là không nên, vì bấy giờ thái tử nước Sở đang làm con tin ở Tề, cho nên
Mạnh Thường quân muốn xui Tần giết Hoài-vương đi, rồi về sẽ giữ thái tử lại để
cầu Sở phải cắt đất, vì vậy thái tử xuýt không được về, mà Hoài-vương phải chết
ở Tần, vua Tần có lỗi với Sở là do Mạnh Thường quân xui nên, cho nên muốn được
Mạnh Thường quân mà giết đi, để xin lỗi với Sở, không ngờ hắn lại trốn về mất.
Nay hăn lại chuyên quyền ở nước Tề, chẳng sớm thì muộn hắn sẽ cướp ngôi. Hai nước
Tần, Sở từ đây chẳng được yên nữa. Nay vua Tần xin hối điều lỗi trước mà kết hiếu
với Sở, gả con gái làm vợ vua Sở, để cùng phòng bị cái biến Mạnh Thường quân.
Vua Sở lầm nghe lời nói ấy, bèn
thông hoà với Tần, đón con gái vua Tần làm phu nhân, rồi cũng sai người đặt điều
nói như thế ở Tề. Quả nhiên vua Tề sinh nghi, bèn thu tướng ấn của Mạnh Thường
quân, cho về ở ấp Tiết. Các tân khách nghe Mạnh Thường quân bị bãi chức dần dần
bỏ đi, chỉ có Phùng Hoan vẫn theo bên cạnh cầm cương xe cho Mạnh Thường quân.
Chưa đến ấp Tiết, trăm họ già trẻ đã dắt díu nhau đi đón, tranh nhau dâng rượu
cơm và hỏi thăm sức khoẻ. Mạnh Thường quân nói:
– Bây giờ mới thấy rõ câu tiên
sinh nói vì Văn này mà thu lòng người vậy.
Phùng Hoan nói:
– Ý tôi không phải chỉ có thế mà
thôi! nếu cho tôi được một cỗ xe, thì tôi sẽ làm cho ngài được thêm trọng ở Tề,
ấp ăn lộc càng thêm rộng.
Mạnh Thường quân nói:
– Tiên sinh định thế nào tôi xin
vâng theo.
Mấy hôm sau Mạnh Thường quân sắm
xe ngựa và tiền bạc đưa cho Phùng Hoan và nói rằng:
– Xin để tiên sinh dùng đi đâu tuỳ
ý!
Phùng Hoan đi ngay sang Tần, xin
vào yết kiến Chiêu Tương-vương, nói rằng:
– Kẻ sĩ đến ở Tần đều muốn làm
cho Tần mạnh, và làm cho Tề yếu, Tần với Tề thế không cùng mạnh được, nước nào
mạnh thì được thiên hạ.
Vua Tần hỏi:
– Tiên sinh có kế gì cho nước Tần
trở nên mạnh được không?
Phùng Hoan nói:
– Đại vương đã biết nước Tề bỏ Mạnh
Thường quân chưa? Tề sở dĩ được thiên hạ xem trọng là vì có Mạnh Thường quân là
người hiền tài, vậy mà vua Tề nghe lời dèm pha, thu lại tướng ấn, lấy công làm
tội, Mạnh Thường quân tất oán Tề lắm. Nay nhân ngay lúc Mạnh Thường quân đang
oán Tề, mà Tần mời sang làm tướng, thì bao nhiêu việc kín của Tề, Tần sẽ biết hết,
nhân đó mà lấy cả nước Tề cũng được, há phải là chỉ mạnh hơn Tề mà thôi đâu? đại
vương nên kíp sai sứ đem lễ vật ngầm sang đón Mạnh Thường quân ở ấp Tiết, chớ
nên bỏ lỡ cơ hội. Vạn nhất vua Tề biết hối mà lại dùng Mạnh Thường quân, thì
trong hai nước Tề và Tần, nước nào mạnh yếu chưa thể định được!
Bấy giờ Vu Lí Tật mới mất, vua Tần
nóng muốn được một vị hiền tướng, nghe lời Hoan nói thì cả mừng, bèn lấy mười cỗ
xe tốt, trăm dật hoàng kim, sai sứ giả đem nghi trượng thừa tướng đi theo để
đón Mạnh Thường quân, bảo phải đi ngay chớ nên dùng dằng.
Phùng Hoan bèn đi gấp về Tề,
không vào chào Mạnh Thường quân vội, trước đến yết kiến vua Tề nói rằng:
– Tần và Tề tranh nhau mạnh yếu
hơn thua như thế nào, vua đã biết. Được người hiền tài thì mạnh, mất người hiền
tài thì yếu. Nay tôi nghe người ta nói vua Tần thấy Mạnh Thường quân bị bãi thì
lấy làm may lăm, sai sứ sang đón về làm tướng. Nếu Mạnh Thường quân làm tướng
quốc nước Tần thì sẽ đem những điều lợi cho Tề mà làm lợi cho Tần, như vậy thì
Tần trở nên mạnh, mà Lâm Tri, Tức Mặc thì nguy đến nơi rồi!
Vua Tề ra vẻ sợ hãi hỏi rằng:
– Như vậy thì biết làm thế nào?
Phùng Hoan nói:
– Sứ Tần sớm chiều sẽ đến ấp Tiết,
nhân lúc họ chưa đến, đại vương nên lại dùng Mạnh Thường quân làm tướng, ban rộng
thêm ấp phong, Mạnh Thường quân tất mừng mà nhận. Sứ Tần dẫu mạnh, lẽ nào chẳng
nói với vua mà dám tự tiện đón vị tướng quốc của người ta ư?
Mân-vương khen phải, nhưng thực
ra trong lòng vẫn chưa tin, bèn sai người đi đến nơi biên cảnh dò xét hư thực,
thì thấy xe ngựa ầm ầm kéo đến, hỏi ra thì quả là sứ Tần. Sứ giả luôn đêm về
nói với Mân-vương, Mân-vương liền sai Phùng Hoan cầm cờ tiết đi đón Mạnh Thường
quân, rồi cho phục chức tướng quốc, lại phong thêm cho một nghìn hộ. Sứ giả Tần
đến ấp Tiết, nghe Mạnh Thường quân đã lại làm tướng nước Tề, bèn quay xe trở về.
Khi Mạnh Thường quân đã trở lại làm tướng nước Tề, thì những tân khách trước bỏ
đi đều lại quay về cả. Mạnh Thường quân bảo Phùng Hoan rằng:
– Văn nay đối với tân khách không
dám có điều gì thất lễ, mà khi bị bãi chức, khách đều bỏ Văn này mà đi. Nay nhờ
tiên sinh mà Văn này lại được phục chức, tân khách còn mặt mũi nào mà thấy Văn
nữa?
Phùng Hoan đá rằng:
– Vinh nhục thịnh suy là lẽ thường
ở đời. Ngài không thấy cái chợ ở nơi đô hội lớn đó ru? sớm ra thì ai nấy chen
vai tranh cửa mà vào, đến chìều thì vắng ngắt như bãi tha ma; vì những cái người
ta cần đến không có nữa. Ở đời giàu sang lắm kẻ cầu thân, nghèo hèn chẳng ai buồn
hỏi, đó là việc thường ngài còn lại gì!
Mạnh Thường quân lạy hai lạy mà
nói rằng:
– Kính xin vâng mệnh!
rồi cứ đãi khách như xưa.
Bấy giờ Ngụy Chiêu-vương, cùng
Hàn Lý vương hợp binh đánh Tần, Tần sai Bạch Khởi đem quân đón đánh, đại chiến ở
Y Khuyết, chém đầu hai mươi bốn vạn, bắt được tướng Hàn là công tôn Hỉ, lấy được
ba trăm dặm đất Hà Đông. Chiêu Tương-vương cả mừng, cho rằng bảy nước đều xưng
vương cả thì tước vương không lấy gì làm lạ, muốn lập riêng đế hiệu để tôn mình
lên trên, nhưng lại sợ mang tiếng là đôc tôn, bèn sai người nói với Tề Mân-vương
rằng:
– Nay thiên hạ đều xưng vương, chẳng
biết theo ai, quả nhân ý muốn xưng Tây đế để chủ phương tây, tôn vua Tề làm
Đông đế để chủ phương đông, chia đôi thiên hạ, ý đại vương cho là thế nào?
Mân-vương ý chưa quyét, hỏi Mạnh
Thường quân, Mạnh Thường quân nói:
– Tần vì ngang ngược, nên chư hầu
ghét, nhà vua chớ nên bắt chước.
Được hơn một tháng, Tần lại sai sứ
sang Tề ước cùng đánh Triệu, gặp lúc Tô Đại ở Yên đến, Mân-vương hỏi ngay về việc
cùng Tần xưng đế. Đại thưa rằng:
– Tần không mời nước khác cùng
xưng đế, mà chỉ riêng mời nước Tề, là có ý tôn Tề vậy, nếu cự tuyệt thì phật ý
Tần, mà nhận thẳng thì bị chư hầu ghét. Vậy xin nhà vua cứ nhận lời mà chớ
xưng, để cho Tần xưng trước, chờ khi nào chư hầu phương tây đều đã tuân theo, bấy
giờ nhà vua sẽ xưng đế để chủ phương đông, cũng chưa muộn gì. Nếu Tần xưng đế
mà chư hầu không phục, thì nhà vua sẽ nhân đó mà bắt tội Tần.
Mân-vương theo lời lại hỏi về việc
Tần ước Tề cùng nhau đánh Triệu.
Tô Đại nói:
– Xuất quân mà không có cớ thì việc
tất không thành. Triệu không có tội gì mà ta đánh, nếu được đất chỉ lợi cho Tần,
chứ Tề không có ích gì. Nay vua Tống là người vô đạo, thiên hạ đã gọi là Kiệt Tống,
vậy đánh Triệu, không bằng đánh Tống, được đất có thể giữ, được dân có thể sai,
mà lại được tiếng là giết kẻ bạo ngược, đó là việc làm của Thang, Vũ ngày xưa vậy.
Mân-vương bằng lòng lắm, bèn nhận
đế hiệu mà không xưng, rồi hậu đãi Tần mà từ chối việc đánh Triệu. Vua Tần xưng
đế mới được hai tháng, thấy Tề vẫn xưng vương, bèn bỏ đế hiệu không xưng nữa.
Lại nói vua Tống bấy giờ tên là Yển,
sinh có tướng lạ, mình dài chín thước bốn tấc, mặt rộng một thước ba tấc, mắt
như sao lớn, mặt có ánh sáng, sức khoẻ có thể uốn cong nắn thẳng được một cái
móc sắt. Đời Chu Hiển vương năm thứ 41, Yển giết anh là Định Thành mà tự lập
lên làm vua. Được mười một năm, nhân trong nước có người tìm tổ chim sẻ, thấy
trong một cái trứng đã nở được một con cắt con, cho là điềm lạ, đem dâng Yển, Yển
sai quan thái sử bói xem hay dở thế nào. Thái sử xem xong tâu rằng:
– Chim nhỏ nhà sinh chim lớn, đó
là cái điềm đổi yếu làm mạnh, lập nên nghiệp bá vương.
Yển mừng nói rằng:
– Nước Tống yếu lắm, nếu quả nhân
không chấn hưng thì còn chờ đợi ai?
Rồi kén nhiều tráng đinh, tự huấn
luyện lấy, được mười vạn tinh binh, đông đánh Tề, lấy năm thành; nam đánh Sở mở
rộng được hơn ba trăm dặm đất; tây lại đánh được Ngụy, lấy hai thành; diệt nước
Đằng chiếm lấy cả nước, rồi sai sứ sang thông hiếu với Tần. Tần cũng sai sứ
sang đáp lại. Từ đó Tống trở nên một nước mạnh, cùng Tề, Sở, Tam Tấn ngang
hàng. Yển tự xưng là Tống vương, cho rằng anh hùng thiên hạ không ai bằng mình,
muốn chóng làm nên nghiệp bá vương; mỗi khi coi chầu, bắt quần thần đều hô vạn
tuế; trên thềm hô dưới thềm theo, lính vệ ngoài cửa cũng đều hô theo, tiếng
nghe xe đến vạn dặm. Yển lại lấy túi da đựng máu trâu treo lên một cái cần cao,
giương cung mà bắn, cung mạnh tên cứng bắn suốt qua cái túi da, máu từ trên
không chảy xuống dòng dòng, rồi sai người truyền ngôn ở chợ rằng vua ta bắn trời
đắc thắng, để dọa nạt người ở xa. Lại bày cuộc uống rượu suốt đêm, đem rượu ép
đổ cho quần thần, nhưng ngầm sai tả hữu lấy nước sôi giả làm rượu để mình uống,
quần thần người nào vốn uống được nhiều lúc ấy cũng đều say lả ra không giữ được
lễ nữa, chỉ có Yển vẫn tỉnh táo như thường. Những người tả hữu hót nịnh rằng:
– Quân vương lượng rượu như bể,
dù uống đến nghìn thạch cũng không say!
Yển lại bắt nhiều phụ nữ để hành
lạc, một đêm có thể ngự được mười con gái, sai người nói phao lên rằng tinh thần
vua Tống mạnh bằng mấy trăm người, không bao giờ thấy mỏi mệt. Một hôm đến chơi
ở gò Phong Phụ, thấy một người đàn bà hái dâu rất đẹp, bèn xây đài Thanh Lăng để
đứng trông, rồi hỏi dò thì biết là vợ Hàn Phùng, con gái họ Tức, bèn sai người
đến dỗ Phùng bảo đem vợ hiến mình. Phùng đem chuyện ấy nói với vợ và hỏi có bằng
lòng không. Người vợ làm bài thơ để tỏ ý rằng:
Núi Nam có
con chim
Núi Bắc
chăng lưới bắt
Chim mặc sức
bay cao
Lưới kia đành quăng vất.
Vua Tống vẫn cứ yêu mến họ Tức
không thôi, sai người đến tận nhà cướp lấy. Hàn Phùng thấy vợ bị bắt đưa lên xe
đi, trong lòng đau xót, liền tự sát. Vua Tống đòi họ Tức cùng lên đài Thanh
Lăng, bảo rằng:
– Ta đây là vua Tống, có quyền
cho người được phú quý, cũng có quyền cho người được sống hay bắt người phải chết,
chồng nàng đã chết, nàng còn về với ai? Nếu nàng bằng lòng quả nhân, thì sẽ được
lập làm vương hậu.
Họ Tức lại làm bài thơ để tỏ ý rằng:
Chim có sống
mái
Chẳng theo
phượng hoàng
Thiếp là thứ
dân
Chẳng thích Tống vương!
Vua Tống nói:
– Nàng nay đã đến đây, dẫu không
muốn thờ quả nhân cũng không thể được.
Họ Tức nói:
– Để cho thiếp tắm gội thay áo, lạy
linh hồn chồng cũ, rồi sẽ xin hầu đại vương!
Vua Tống bằng lòng. Họ Tức tắm gội
thay áo xong, ngửa trông lên không, chắp tay vái hai vái, rồi từ trên đài đâm đầu
xuống đất. Vua Tống vội sai người kéo áo lôi lại nhưng không kịp, trông xuống
thì đã thấy nàng tắt hơi rồi, khám trong mình thấy ở giải quần có một bức thư,
đại ý nói sau khi chết xin cho đem thi thể cùng chôn một mộ với Hàn Phùng, ở dưới
suối vàng sẽ được cám ơn sâu. Vua Tống cả giận, bắt chôn riêng một nơi, cố làm
cho hai một cách xa nhau, cho đông tây dẫu trông thấy nhau mà không gần nhau được.
Chôn được ba ngày, vua Tống trở về nước. Bỗng một đêm bên cạnh mỗi ngôi mộ có mọc
lên một cây văn tử, chỉ trong một tuần, cây ấy mọc cao hơn ba thước, cành lá quấn
quýt lấy nhau như một. Có một đôi chim uyên ương bay đậu ở trên cành, giao đầu
cùng kêu thương, người trong xóm thương xót bảo nhau rằng đó là oan hồn vợ chồng
Hàn Phùng hóa sinh ra vậy, bèn gọi thứ cây ấy là “cây tương tư”.
Vua Tống bạo ngược, quần thần có
nhiều người can ngăn. Vua Tống căm giận, bèn để cung tên ở bên chỗ ngồi, người
nào can ngăn liền giương cung bắn chết, trong có một ngày mà bắn chết ba người
là Cảnh Thành, Đái Oo, và công tử Cần. Từ đó cả triều không ai dám can ngăn nữa.
Chư hầu gọi vua Tống là Kiệt Tống. Bấy giờ vua Tề nghe lời Tô Đại, sai sứ sang
Sở, Ngụy ước cùng đánh Tống để chia ba.
Vua Tần nghe tin giận nói rằng:
– Tống mới cùng Tần kết giao mà Tề
đánh, quả nhân tất phải cứu Tống mới được.
Vua Tề sợ quân Tần cứu Tống, hỏi
kế Tô Đại.
Đại nói:
– Tôi xin ngăn quân Tần để đại
vương được thành công đánh Tống.
Tô Đại bèn đi yết kiến vua Tần
nói rằng:
– Nay nước Tề đánh Tống, tôi xin
có lời mừng quả nhân. Vua Tề cường bạo không khác gì vua Tống, nay ước cùng Sở,
Ngụy mà đánh Tống, cái thế tất đánh lừa Sở, Ngụy. Sở, Ngụy bị lừa tất phải quay
về phía tây mà theo Tần, như vậy Tần bỏ một Tống để nhử Tề mà thu được hai nước
Sở, Ngụy vậy. Vì nhà vua có cái lợi ấy nên tôi mừng.
Vua Tần nói:
– Quả nhân muốn cứu Tống, có nên
chăng?
Đại đáp rằng:
– Kiệt Tống bị thiên hạ đem lòng
căm giận đều muốn mất đi mà một mình Tần lại cứu, thiên hạ sẽ lại đem lòng căm
Tống mà đổi sang căm Tần.
Vua Tần nghe lời, không phái quân
đi cứu Tống nữa. Quân Tề kéo đến đất Tống trước; quân Sở, Ngụy cũng lục tục đến
họp, tướng Tề là Hàn Nhiếp, tướng Sở là Đường Muội, tướng Ngụy là Mang Mão, ba
người cùng họp bàn. Đường Muội nói:
– Vua Tống dâm ngược, lòng ngừời
lìa oán, ba nước ta đều có cái thù mất quân mất đất, nên truyền hịch văn, tuyên
bố tội ác, để chiêu dụ những dân đất cũ, khiến họ quay giáo lại mà đánh Tống.
Hàn Nhiếp nói:
– Hai ngài nói đều phải cả!
Bèn làm hịch văn kể mười tội lớn
của Kiệt Tống: 1. Đuổi anh cướp ngôi, được nước không chính; 2. Diệt Đằng kiêm
đất, cậy mạnh lấn yếu; 3. Tham công hiếu chiến, xâm phạm nước lớn; 4. Túi da bắn
trời có tội với thượng đế; 5. Say sưa suốt đêm, không hỏi đến việc chính; 6. Cướp
lấy vợ người, hoang dâm vô sỉ; 7. Bắn giết những bề tôi can ngăn, khiến những
người trung lương phải ngậm miệng; 8. Tiếm vương hiệu, ngạo mạn tự tôn; 9. Riêng
nịnh nước Tần, kết oán với các lân quốc; 10. Khinh thần thánh ngược nhân dân, không
còn giữ đạo làm vua. Hịch văn đến đâu, lòng người đều náo động, ở những nơi của
ba nước bị Tống chiếm được, nhân dân đều khong vui lòng theo Tống, nên đâu đấy
đều đuổi bỏ quan lại, lên mặt thành tự giữ để đợi quân Tề đến, bởi vậy quân ba
nước đến đâu được đấy, thẳng đến thành Chuy Dương. Vua Tống điểm duyệt xa mã, tự
lĩnh đạo trung quân, cách thành mừơi dặm đóng binh, để phòng giữ quân ba nước
đánh úp. Hàn Nhiếp sai tướng bộ hạ là Lư Khâu Kiệm sai mấy tên quân to tiếng, đứng
trên xe cao, kể mười tội của Kiệt Tống. Vua Tống cả giận, sai tướng quân là Lư
Man ra thành đánh qua vài hợp. Lư Khâu Kiệm thua chạy, Lư Man đuổi theo, Kiệm bỏ
hết xe ngựa khí giới lật đật chạy trốn. Vua Tống lên trên lũy, trông thấy quân
Tề đã thua, mừng nói rằng:
– Đánh lui được quân Tề, thì Sở,
Ngụy chẳng còn làm gì đươc.
Bèn đem hết quân ra đánh, thẳng bức
dinh Tề. Hàn Nhiếp lại nhường một trận, lui ra ngoài hai mươi dặm đóng trại,
sai hai quân Đường Muội và Mang Mão chia hai đường tả hữu lẻn đánh mặt sau đại
dinh vua Tống. Hôm sau, vua Tống tưởng là quân Tề không thể đánh được nữa bèn
đem hết quân tiến đánh. Lư Khâu Kiệm dùng hiệu cờ Hàn Nhiếp, bày ra trận thế để
chống giữ. Từ giờ thìn đến giờ ngọ, đánh nhau hơn ba mươi lần, vua Tống quả
nhiên là người anh dũng, một tay chém chết hai mươi viên tướng Tề, binh sĩ chết
mất hơn trăm, tướng Tống là Lư Man cũng chết trận. Lư Khâu Kiệm lại thua to bỏ
chạy, bỏ lại vô số xe ngựa và khí giới; quân Tống tranh nhau cướp lấy. Bỗng có
thám tử báo rằng quân địch đánh úp thành Chuy Dương rất gấp, hỏi dò ra là hai quân
Sở, Ngụy. Vua Tống cả giận, vội quay quân trở lại, đi chưa được năm dặm, bỗng
có một đạo quân xông ra, quát to lên rằng:
– Thượng tướng nước Tề là Hàn Nhiếp
ở đây, đứa hôn quân vô đạo kia sao không đầu hàng đi!
Hai tướng tả hữu vua Tống là Tái
Trực, Khuất Chí Cao đều đem quân ra, Hàn Nhiếp hăng hái ra oai, chém chết ngay
Chí Cao ở dứơi xe; Tái Trực không giao phong, bảo hộ vua Tống vừa đánh vừa chạy,
về đến dưới thành Chuy Dương. Tướng giữ thành là công tôn Bạt nhận được quân mã
của nhà, mở cửa cho vào. Ba nước họp quân đánh phá, ngày đêm không nghỉ. Bỗng lại
có một đạo quân kéo đến, tức là Tề Mân-vương, sợ Hàn Nhiếp không thành công,
thân suất đại tướng Vương Chúc, thái sử Hiểu dẫn ba vạn quân đến giúp sức. Quân
Tống biết vua Tề thân đốc quân, đều sợ hãi mà sinh nản lòng cả, lại vì vua Tống
không thương quân lính, ngày đêm chỉ đốc thúc canh giữ mà chẳng có ân hưởng gì,
nên đều oán giận. Tái Trực bảo vua Tống rằng:
– Thế quân địch rất mạnh mà lòng
người lại sinh biến, chi bằng đại vương hãy bỏ thành tạm tránh đến Hà Nam, rồi
sẽ lo khôi phục sau.
Vua Tống bấy giờ trong lòng buồn
bực, cái chí muốn đồ bá tranh vương đã nguội ngắt như tro tàn, bèn than thở một
hồi, rồi cùng Tái Trực nửa đêm bỏ thành mà trốn. Công tôn Bạt dựng cờ hàng, đón
vua Tề vào thành, vua Tề vỗ yên trăm họ, một mặt sai quân lính đuổi theo vua Tống.
Đến Ôn Ấp thì đuổi kịp, trước bắt Tái Trực chém chết, vua Tống nhảy xuống ngòi
Thần Nông, không chết, bị quân lính lôi ra chém đầu đưa về Chuy Dương. Tề, Sở,
Ngụy bèn cùng diệt Tống, chia đất làm ba. Khi quân Sở, Ngụy đã đi rồi, Mân-vương
nói:
– Việc đánh Tống này, công Tề nhiều
hơn, vậy Sở và Ngụy sao được nhận đất? bèn đem quân ngậm tăm theo sau Đường Muội,
đánh úp quân Sở ở Trùng Để, thừa thắng tiến mãi, thu lấy cả đất Hoài Bắc, lại lấn
đánh Tam Tấn được thắng lợi luôn. Sở, Ngụy căm giận vua Tề phụ ước, quả nhiên đều
sai sứ cầu phụ nước Tần. Tần lại cho đó là cái công của Tô Đại.
Tề Mân-vương đã lấy được Tống,
thì chí khí lại càng kiêu căng, sai sứ đi dụ vua ba nước Vệ, Lỗ, Trần, ép phải
xưng thần vào triều. Ba nước sợ oai phải theo. Mân-vương nói:
– Quả nhân chiếm Yên diệt Tống, mở
đất hơn nghìn dặm, đánh Lương cắt Sở oai lừng khắp chư hầu, Lỗ, Vệ đều đã xưng
thần. Mai kia sẽ đem một toán quân lấy đất của hai nhà Chu, dời chín đỉnh đến
Lâm Tri, xưng hiệu là thiên tử để ra lệnh cho thiên hạn, ai còn dám không theo.
Mạnh Thường quân can rằng:
– Vua Tống vì kiêu căng cho nên Tề
mới đánh được, xin đại vương nên lấy nước Tống làm răn. Nhà Chu dẫu hèn yếu,
nhưng vẫn là vua chung thiên hạ, bảy nước đánh nhau không dám động đến, là vì
còn sợ danh nghĩa. Đại vương trước kia đã bỏ đế hiệu không xưng, thiên hạ thấy
thế đều khen ngợi nước Tề là khiêm nhượng, nay bỗng nảy ra cái chí thay nhà
Chu, e không phải là cái phúc của nước Tề.
Mân-vương nói:
– Vua Thang đánh Kiệt, vua Vũ
đánh Trụ. Kiệt, Trụ, chẳng phải là thiên tử đó ru? Quả nhân sao không bằng
Thang, Vũ, chỉ tiếc ngươi không phải là Y Doãn, Thái Công đó thôi!
Rồi đó lại thu tướng ấn của Mạnh
Thường quân. Mạnh Thường quân sợ bị giết, bèn cùng tân khách chạy sang Đại
Lương ở nhờ công tử Vô Kỵ.
Vô Kỵ là con bé của Ngụy Chiêu-vương,
tính người rất là khiêm tốn, quý trọng kẻ sĩ, niềm nở tiếp đãi tân khách. Một
hôm, đang ăn cơm buổi sáng, bỗng có một cho chim cưu bị con chim dao đuổi, vội
chui xuống gậm bàn, Vô Kỵ che giấu cho con chim cưu, thấy con chim dao đi rồi,
mới thả cho ra. Không ngờ con dao ẩn ở trên nóc nhà, thấy con cưu bay ra thì đuổi
bắt mà ăn thịt. Vô Kỵ tự trách rằng:
– Con cưu ấy tránh nạn mà vào với
ta, thế mà vẫn bị con dao giết chết, thực là ta phụ con cưu ấy.
Nghĩ vậy rồi cả ngày không ăn,
sai các người tả hữu bắt chim dao, được hơn trăm con, mỗi con nhốt vào một cái
lồng, Vô Kỵ nói:
– Chỉ có một con dao giết con cưu
kia, nỡ nào lại bắt tội lây đến những con dao khác!
Bèn cầm gươm đập lên những cái lồng
mà khấn rằng:
– Con nào không giết con cưu kia
thì hướng vào ta mà kêu lên, ta sẽ tha cho!
Tất cả chim dao đều kêu, riêng đến
một cái lồng, con dao ở trong ấy gục đầu không dám ngửa trông, bèn bắt ra giết
chết. Rồi sai mở lồng thả các con khác ra. Người ta nghe việc ấy đều lấy làm
kính phục, nói rằng:
– Triệu công tử không nỡ phụ một
con chim cưu, thì khi nào lại nỡ phụ người!
Từ đó kẻ sĩ không kể hiền ngu đều
theo về đông như chợ, khách ăn trong nhà cũng đến ba nghìn người, cũng như Mạnh
Thường quân và Bình Nguyên quân. Nước Ngụy có một ẩn sĩ là Hầu Doanh, tuổi đã
hơn bảy mươi, nhà nghèo phải làm chức giữ cửa ở Di Môn. Vô Kỵ nghe tiếng là người
thanh khiết và hay có kỳ kế, người trong làng xom đều tôn kính, gọi là Hầu
Sinh, bèn đi xe đến tận nhà yết kiến, lấy hai mươi cân hoàng kim làm lễ chào. Hầu
Sinh từ chối nói rằng:
– Doanh này yên phận nghèo để giữ
mình, không nhận lấy của ai một đồng nào, nay đã già rồi, lẽ nào lại vì công tử
mà đổi tiết?
Vô Kỵ không thể ép được, muốn tỏ
ý tôn kính cho tân khách biết, bèn đặt một cuộc đại yến. Đến ngày, tôn thất và
các tướng văn tướng võ nước Ngụy cùng các quý khách đều đến dự yến. Khi mọi người
đã ngồi yên rồi, còn trống ghế thứ nhất ở bên tả, Vô Kỵ bèn sai sắp xê thân
hành đến Di Môn mời Hầu Sinh đến dự yến. Hầu Sinh lên xe, Vô Kỵ vái mời ngồi
trên, Hầu Sinh không thể nhún nhường. Vô Kỵ ngồi bên cạnh để cầm cương, ý rất
cung kính. Hầu Sinh lại bảo Vô Kỵ rằng:
– Tôi muốn đến thăm một người bạn
là Chu Hợi làm nghề mổ lợn ở trong chợ, công tử có thể cùng đi với tôi được
không?
Vô Kỵ nói:
– Xin cùng đi với tiên sinh!
Rồi đánh xe quặt đường đi vào chợ.
Đến cửa hàng thịt, Hầu Sinh nói:
– Công tử hãy tạm dừng xe lại, để
già này xuống thăm khách.
Hầu Sinh xuống xe, vào nhà Hợ,
cùng Hợi ngồi ở trước bàn thịt nói chuyện với nhau giờ lâu. Hầu Sinh thỉnh thoảng
lại nhìn Vô Kỵ, thấy Vô Kỵ vẫn ra ý vui vẻ không chán nản. Bấy giờ mấy chục tên
kỵ binh theo hầu, thấy Hầu Sinh nói chuyện mãi, lấy làm tức mình, có đứa chửi vụng,
Hầu Sinh cũng nghe tiếng nhưng nhìn Vô Kỵ thì thấy Vô Kỵ vẫn vui vè, bèn từ biệt
Chu Hợi, lại lên xe ngồi trên như trước. Vô Kỵ đi từ giờ ngọ mãi đến giờ thân mới
về đến phủ, các quý khách thấy Vô Kỵ thân đi đón khách, lại để trống chỗ để đợi,
không biết là vị du sĩ có tiếng ở nơi nào hay sứ thần nước lớn nào, đều một
lòng kính cẩn chờ đợi. Chờ mãi không thấy đến, ai nấy đều chán nản. Bỗng nghe
báo công tử đã đón khách về đến nơi, mọi người đều đứng dậy chờ xem khách là
người nào. Khi khách vào, chúng đều ngước mắt nhìn xem, thì thấy một ông già
râu bạc, áo mũ mộc mạc, mọi người đều kinh ngạc. Vô Kỵ dẫn Hầu Sinh giới thiệu
với khắp mọi người, ai nấy mới biết là người giữ cửa Di Môn, đều không bằng
lòng. Vô Kỵ mời Hầu Sinh ngồi ghế đầu, Hầu Sinh không hề nhún nhường. Khi uống
rượu đã nửa chừng, Vô Kỵ tay nâng chén rượu mời Hầu Sinh, Hầu Sinh đón lấy và
nói rằng:
– Tôi đây là một kẻ lại giữ cửa
quan, công tử đã hạ mình đến đón, chờ lâu ở trong chợ, lại cho ngồi trên các
tân khách, về phần tôi thực là quá phận. Sở dĩ tôi làm ra như thế, là muốn cho
công tử được tiếng là biết nhún mình quí kẻ sĩ vậy!
Các quý khách đều cười thầm rồi
tiệc tan. Từ đó Hầu Sinh là thượng khách của Vô Kỵ. Hầu Sinh nhân đó mà tiến cử
Chu Hợi, Vô Kỵ mấy lần đến yết kiến, nhưng Chu Hợi tuyệt không đến đáp lễ, mà
Vô Kỵ cũng không lấy làm quái, đủ biết là người phục lòng quý trọng kẻ sĩ nhường
nào!
Bấy giờ Mạnh Thường quân đến Ngụy,
ở nhờ Vô Kỵ, đồng thanh đồng khí nên tình ý rất hợp nhau. Mạnh Thường quân vốn
chơi thân với Bình Nguyên quân nước Triệu, khuyên Vô Kỵ kết giao với Bình
Nguyên quân, Vô Kỵ lại đem người chị gả cho Bình NGuyên quân làm phu nhân. Từ
đó Triệu, Ngụy thông hiếu với nhau, có Mạnh Thường quân đứng giữa làm môi giới.
Mân-vương nước Tề từ sau khi Mạnh
Thường quân bỏ đi, lại càng kiêu căng, muốn thay nhà Chu làm thiên tử. Bấy giờ ở
nước Tề sinh ra nhiều điềm quái dị, trời mưa ra máu trong khoảng vài trăm dặm,
ướt cả áo người đi đường, tanh hôi lạ thường; lại đất nẻ vài trượng, nước suối
chảy ra; lại có người đến cửa quan mà khóc, chỉ nghe thấy tiếng, mà không thấy
hình. Nhân dân lấy làm lo sợ, các quan đại phu là Hồ Cáng, Trần Cử đều lần lượt
vào can ngăn Mân-vương và xin gọi Mạnh Thừơng quân về. Mân-vương đều tức giận
đem giết chết cả, sai phơi thây ngoài đường đi, để bịt miệng những người muốn
can. Vì vậy bọn Vương Chúc, Thái Sử Hiểu đều xưng bệnh từ chức, về ẩn ở làng
xóm.
Nhạc Nghị diệt Tề thống đại quân
Điền Đan phá Yên thả trâu lửa
Lại nói Yên Chiêu-vương từ khi lên ngôi, ngày đêm chỉ lo tính việc đánh Tề để báo thù, viếng người chết, thăm kẻ bồ côi, tôn lễ hiền sĩ, đồng cam cộng khổ với quân lính, vì vậy hào kiệt bốn phương theo về đông như chợ. Có người nước Triệu là Nhạc Nghị, cháu nội của Nhạc Dương, từ bé hay đọc binh pháp. Xưa Nhạc Dương được phong ở Linh Thọ, con cháu bèn ở luôn đó. Gặp cuộc loạn ở Sa Khâu đời chủ phụ, Nhạc Nghị bỏ Linh Thọ mang gia quyến đến ở Đại Dương, làm tôi Ngụy Chiêu-vương mà không được tin dùng, nay nghe tiếng vua Yên chiêu đãi hiền sĩ, muốn đến làm tôi, bèn mưu sang sứ Yên, yết kiến Chiêu-vương, nói về binh pháp, Chiêu-vương biết là người giỏi, đãi như quý khách. Nhạc Nghị nhún nhường không dám dương, xin cho được làm tôi. Chiêu-vương cả mừng, liền bái Nhạc Nghị làm á khanh, ngôi cao hơn bọn Kịch Tân. Nhạc Nghị bèn gọi hết người trong họ dời sang ở nước Yên, làm dân Yên.
Bấy giờ nước Tề cường Thịnh, lấn
đánh chư hầu. Chiêu-vương giấu kín tăm hơi, nuôi quân thương dân, đợi thời hành
động. Đến khi Mân-vương đuổi Mạnh Thường quân mà buông tay cuồng bạo, trăm họ
không sao chịu nổi, thì nuớc Yên đã giàu của đông người, quân sĩ sẵn sàng đánh
giặc để đền ơn nước. Chiêu-vương bèn hỏi Nhạc Nghị rằng:
– Quả nhân ngậm cái thù của tiên
nhân đã hai mươi tám năm nay rồi, chỉ sợ một mai chết đi, không kịp tự tay cầm
dao găm mà đâm vào bụng vua Tề để rửa thù cho nước! nay vua Tề cuồng bạo, trong
ngoài đều oán, đó là ý trời muốn làm mất nước Tề, quả nhân muốn đem quân đi
cùng vua Tề quyết một trận sống mái, vậy tiên sinh có điều gì dạy bảo quả nhân?
Nhạc Nghị nói:
– Nước Tề đất rộng người nhiều,
quân lính quen đánh trận, ta chưa có thể một mình đánh được. Nếu đại vương muốn
đánh thì tất phải mưu toan với các nước. Nước Triệu là láng giềng gần nhất của
nước Yên, vậy bắt đầu nên họp với Triệu rồi thì Hàn cũng tất theo; còn Ngụy thì
có Mạnh Thường quân ở đó, Mạnh Thường quân lại đang căm giận Tề, tất Ngụy cũng
theo, như vậy mới có thể đánh được Tề!
Chiêu-vương lấy làm phải, liền
sai Nhạc Nghị đi nói với Triệu, vua Triệu nhận lời, lại gặp lúc có sứ Tần ở đó,
Nhạc Nghị liền đem cái lợi đánh Tề mà nói với sứ Tần. Sứ Tần về báo, vua Tần
đang ghét nước Tề cường thịnh, sợ chư hầu phản Tần mà theo Tề, bèn cũng xin dự
tiệc đánh Tề. Kịch Tân sang Ngụy nói với Tín Lăng quân, Tín Lăng quân cũng bằng
lòng, lại hẹn nước Hàn cũng dự vào, rồi cùng định kỳ xuất binh.
Vua Yên bèn đem hết quân tinh nhuệ
trong nước, sai Nhạc Nghị thống suất. Tướng Tần là Bạch Khởi, tướng Triệu là
Liêm Pha, tướng Hàn là Bạo Diêu, tướng Ngụy là Tấn Bỉ, mỗi người đốc suất một đạo
quân, đúng hẹn mà đến. Vua Yên sai Nhạc Nghị thống suất cả quân năm nước, gọi
là Nhạc thượng tướng quân, thẳng đường tiến sang nước Tề. Vua Tề tự đốc suất đạo
trung quân, cùng đại tướng là Hàn Nhiếp đón đánh ở phía tây Tế Thuỷ. Nhạc Nghị
thân đi trước quân lính, binh tướng bốn nước đều hăng hái xông đánh, chém giết
quân Tề thây lăn đầy đồng, máu chảy thành suối. Hàn Nhiếp bị em Nhạc Nghị là Nhạc
Thừa giết chết. Các đạo quân thừa thắng đuổi theo, vua Tề thua to, chạy về Lâm
Tri, luôn ban đêm sai người sang Sở cầu cứu, hứa xin dâng cho Sở cả đất Hoài Bắc;
một mặt kiềm điểm quân dân, lên thành phòng giữ. Tần, Ngụy, Hàn, Triệu thừa thắng,
chia đường đi đánh lấy những thành ở biên cảnh. Chỉ có Nhạc Nghị tự dẫn quân
Yên kéo thẳng mãi vào, đến đâu đều hiểu dụ, các thành nước Tề đều tan vỡ, thế
như chẻ tre. Đại quân áp thẳng đến thành Lâm Tri. Mân-vương sợ quá, bèn cùng
vài mươi viên quan văn võ, ngầm mở cửa bắc chạy trốn sang nước Vệ, Vệ hầu ra tận
ngoài thành đón rước và xưng thần, mời vào thành, nhường chính điện cho ở, cung
phụng rất cung kính. Mân-vương kiêu ngạo, không muốn lấy lễ đãi Vệ quân. Quần
thần nước Vệ đều không bằng lòng, ban đêm lẻn đến cướp các xe chở đồ. Mân-vương
giận, muốn nhờ vua Vệ đến chầu, bảo phải bắt kẻ trộm, nhưng vua Vệ luôn mấy
ngày không đến triều kiến, cũng không cung cấp thực phẩm cho nữa. Mân-vương xấu
hổ quá, đợi mãi đến mặt trời đã xế chiều, trong bụng thấy đói lắm, sợ vua Vệ
mưu hại mình, bèn cùng Di Duy và mấy người nữa luôn ban đêm trốn đi. Những người
đi theo thấy mất chủ đều tìm đường tan chạy cả. Khi Mân-vương chạy đến cửa quan
nước Lỗ, viên lại giữ cửa phi báo, vua Lỗ sai sứ giả ra đón. Di Duy hỏi:
– Nước Lỗ đãi vua ta thế nào?
Sứ giả nói:
– Sẽ đãi vua ngươi bằng mười cỗ
thái lao.
Di Duy nói:
– Vua ta là thiên tử, thiên tử đến
tuần thú, chư hầu phải lánh ra ở ngoài cung, sớm chiều phải tự mình coi nom thức
ăn ở dưới thềm, thiên tử ăn xong, mới được lui mà coi chầu, há chỉ đãi mười cỗ
thái lao mà thôi ư?
Sứ giả về báo vua Lỗ, vua Lỗ cả
giận, đóng cửa không cho vào nữa. Mân-vương lại phải chạy sang nước Trâu, gặp
lúc vua Trâu mới chết, Mân-vương muốn vào thăm.
Di Duy bảo người nước Trâu rằng:
– Thiên tử hạ mình đến điếu tang,
chủ nhân phải trở lưng về áo quan, đứng ở hè phía tây, ngoảnh mặt về phía bắc
mà khóc; thiên tử đứng ở hè trên, ngoảnh mặt về phía nam mà viếng người đã chết.
Người nước Trâu nói rằng:
– Nước tôi nhỏ, không dám phiền
thiên tử hạ mình đến viếng.
Rồi cũng cự không cho vào. Mân-vương
hết đường chạy, không biết tính thế nào.
Di Duy nói:
– Nghe đâu thành Cử Châu còn giữ
được, sao không chạy đến đó?
Mân-vương liền chạy đến Cử Châu,
đốc quân giữ thành để chống với quân Yên.
Nhạc Nghị đánh phá được thành Lâm
Tri, lấy hết tài vật và tế khí của nước Tề và những trọng khí của nước Yên bị Tề
cướp ngày trước, dùng xe lớn chở về nước Yên. Chiêu-vương mừng quá, thân đến
trên sông Tế, khao thưởng ba quân, phong cho Nhạc Nghị đất Xương Quốc, gọi là
Xương Quốc quân, Chiêu-vương trở về nước, lưu Nhạc Nghị ở lại Tề, để thu nốt những
thành còn chưa hàng phục.
Tôn thất nước Tề có một người là
Điền Đan có trí thuật và biết việc quân, Mân-vương không biết trọng dụng, hiện
lúc ấy chỉ làm một người coi chợ ở Lâm Tri. Quân Yên vào thành Lâm Tri, nhân
dân đều chạy loạn, Điền Đan cùng cả họ chạy trốn đến Yên Bình đem chặt bỏ đầu
cái trục xe của mình cho sát đến vàng bánh, rồi lấy lá sắt bịt chặt cho vững chắc,
ai nấy đều chê cười. Không bao lâu quân Yên đến đánh Yên Bình, thành vỡ, người
Yên Bình lại tranh nhau chạy trốn, các xe xô đẩy nhau, vì nhiều đầu trục va chạm
vào nhau không thể đi nhanh được. Chỉ có xe của người họ Điền vì đầu trục đều
đã bọc sắt, nên không vướng víu, đi được nhanh, chạy thoát được đến Tức Mặc. Nhạc
Nghị lại chia quân đi cướp đất, đến ấp Hoạch nghe quan thái phó cũ nước Tề là
Vương Chúc ở đó, bèn truyền lệnh cho quân vây ngoài ấp cách ba dặm, không cho
phạm đến, rồi sai người đem lễ đón Chúc, muốn tiến lên vua Yên. Chúc từ là bệnh
già không chịu đi, sứ giả nói:
– Thượng tướng quân có lệnh, thái
phó đến sẽ dùng ngay làm tướng và phong cho ấp muôn nhà, nếu không đi thì sẽ
đem quân làm cỏ cả ấp.
Chúc ngửa mặt lên trời than rằng:
– Trung thần không thờ hai vua,
liệt nữ không thờ hai chồng. Vua Tề xa bỏ những người trung thực, cho nên tôi
lui về nhà mà cày ruộng, nay nước mất vua chạy, tôi không thể cứu được; nay các
người lại chự lấy binh lực doạ tôi, tôi sống mà chịu tiếng bất nghĩa, chẳng thà
giữ trọn nghĩa mà chịu chết còn hơn!
Nói xong tự treo đầu lên trên
cây, vật mình một cái, cổ đứt mà chết. Nhạc Nghị nghe nói, than tiếc mãi không
thôi, rồi sai làm lễ táng rất hậu, dựng mộ chí đề rằng: “Mộ Vương Chúc, trung
thần nước Tề”. Nhạc Nghị ra quân vừa sáu tháng, đánh hạ được bảy mươi hai thành
nước Tề, đều đặt làm quận huyện của Yên, duy có Cử Châu và Tức Mặc, người Tề cố
giữ không sao hạ được, Nhạc Nghị bèn cho quân lính nghỉ, triệt bỏ chính lệnh
nghiêm khắc của nước Tề, lại lập đền cùng tế Tề Hoàn công, Quản Di Ngô, tìm
thăm những người ẩn sĩ, dân Tề đều vui mừng. Nhạc Nghị cho rằng Tề chỉ còn có
hai thành mà lại trong tay mình rồi, thì cũng chẳng làm gì được, cho nên không
cố đánh lấy nữa.
Lại nói vua Sở thấy sứ Tề sang
xin quân cứu và hứa dâng cả đất Hoài Bắc, bèn sai đại tướng là Trác Xỉ đem hai
mươi vạn quân, lấy cớ đi cứu Tề, sang Tề nhận đất. Vua Sở bảo Trác Xỉ rằng:
– Vua Tề cấp quá mà phải cầu ta,
tướng quân sang đó cứ liệu chừng mà làm, hễ có lợi cho Sở, thì cứ tuỳ ý mà làm
việc.
Trác Xỉ tạ ân đem quân đi, yết Tề
Mân-vương ở Cử Chau, Mân-vương cảm cái ơn Trác Xỉ đến cứu, bèn lập làm tướng quốc,
quyền lớn đều về tay Xỉ. Xỉ thấy quân Yên thế mạnh, muốn giết Mân-vương cùng
Yên chia nhau đất Tề, khiến người Yên lập mình làm vua. Nhạc Nghị đáp lại rằng:
– Tướng quân giết kẻ vô đạo, tự
mình lập nên công danh, sự nghiệp ấy đến Hoàn, Văn ngày xưa cũng không đáng kể.
Vậy xin vâng mệnh.
Trác Xỉ mừng quá, bèn dàn quân ở
Cổ Li, mời Mân-vương đến duyệt binh. Mân-vương đến nơi, Xỉ liền bắt mà kể tội rằng:
– Tề có ba cái điềm mất nước: Mưa
ra máu, đó là trời bảo; đất nẻ toang, đó là đất bảo; có người đến giữa cửa quan
mà khóc, đó là người bảo. Vậy mà vua không biết răn sợ, giết người trung, bỏ
người hiền, mong mỏi điều phi phận, nay đất đai đều mất hết phải trộm sống ở một
thành, còn muốn làm gì nữa?
Mân-vương cúi đầu không nói gì.
Di Duy ôm lấy vua mà khóc. Trác Xỉ sai giết Di Duy trước, rồi rút gân Mân-vương,
treo lên nóc nhà, sau ba ngày Mân-vương mới tắt hơi. Mân-vương bị giết như thế,
thực thảm quá! Trác Xỉ về Cử Châu, muốn tìm thế tử con vua Tề mà giết nốt,
nhưng không thấy, bèn làm biểu tâu vua Yên tự kể công mình, nhờ Nhạc Nghị chuyển
đạt cho.
Lại nói quan đại phu nước Tề là
Vương Tôn Giả mới mười ba tuổi, cha mất, chỉ còn mẹ già, Mân-vương thương cho
làm quan. Mân-vương bỏ chạy, Giả cũng theo đi. Đến nước Vệ lạc nhau, chẳng biết
Mân-vương ở đâu nữa, Vương Tôn Giả bèn lẻn về nhà, bà mẹ trông thấy hỏi vua Tề
đâu, Giả nói:
– Con theo vua đến nước Vệ, nửa
đêm vua tôi cùng bỏ trốn, không biết vua đi về ngả nào?
Bà mẹ giận nói rằng:
– Mày sớm đi chiều về thì ta đứng
tựa cửa mà mong, mày chiều đi mà không về thì ta đứng tựa cổng mà mong. Vua
mong bày tôi, có khác gì mẹ mong con. Mày làm tôi vua Tề, ban đêm vua chạy trốn,
mày không biết vua đi đâu, sao lại dám bỏ về?
Giả thẹn quá, lại từ biệt mẹ già,
đi tìm vua Tề; nghe vua ở Cử Châu thì đến ngay để tìm. Khi đến đó, mới biết vua
Tề đã bị Trác Xỉ giết. Giả bèn trần tay áo bên tả ra hô hào ở ngoài chợ rằng:
– Trác Xỉ làm tướng Tề mà giết
vua, thế là làm tôi bất trung, nếu ai bằng lòng cùng ta giết kẻ có tội, thì
theo ta cùng trần tay áo bên tả!
Người trong chợ cùng bảo nhau rằng:
– Người ấy ít tuổi mà còn có lòng
trung nghĩa, chúng ta ai là người thượng nghĩa, tưởng đều nên theo!
Một chốc có đến hơn bốn trăm người
trần tay áo bên tả. Bấy giờ quân Sở dẫu nhiều, nhưng đều chia đóng ở ngoài
thành. Trác Xỉ ở cung vua Tề đang uống rượu say, sai phụ nữ tấu nhạc làm vui,
vài trăm quân lính, dàn hầu ở ngoài cung. Vương Tôn Giả đem hơn bốn trăm người
xông vào cướp khí giới quân lính, sấn vào trong cung, bắt Trác Xỉ, xả thây ra,
băm nát nghiền thành nước thịt, rồi đóng cửa thàn cố giữ, quân Sở không có chủ
tướng, một nửa bỏ trốn, một nửa đầu hàng nước Yên.
Lại nói thế tử Tề là Pháp Chương,
nghe vua Tề bị hại; bèn cải trang làm ngừơi nghèo khổ, tự x7ng người ở Lâm Tri,
tên là Vương Lập chạy đi tránh nạn, nhưng không biết đi đâu, phải vào nhà thái
sử Hiểu làm mướn, giữ việc tưới vườn, làm lụng chăm chỉ, không ai biết là con
vua. Thái sử Hiểu có người con gái tuổi vừa cập kê, bỗng ra chơi vườn, thấy trạng
mạo Pháp Chương lấy làm lạ, nghĩ thầm người này không phải là người thường, cớ
sao lại phải khuất phục ở đây. Rồi sai thị nữ hỏi dò lai lịch, Pháp Chương sợ vạ,
nhất định không chịu nói ra. Người con gái nghĩ thầm đây là rồng đội lốt cá nên
sợ mà phải giấu, tất người này về sau phú qúy không biết thế nào mà nói vậy. Từ
đó, thời thường sai thị nữ cung cấp cho áo cơm, lâu dần thành ra thân cận. Pháp
Chương bèn ngỏ riêng thân thế cho người con gái biết, người con gái bèn cùng
Pháp Chương đính ước vợ chồng, rồi tư thông với nhau, cả nhà không ai biết.
Bấy giờ viên tướng giữ thành Tức
Mặc bị bệnh chết, trong quân không chủ, muốn chọn một người biết việc binh, cử
lên làm tướng, mà không có người. Có người biết việc Điền Đan chặt đầu trục xe
bọc sắt, chạy nạn được toàn, nói tài ấy có thể làm tứớng, bèn cùng nhau tôn lên
làm tướng quân. Điền Đan tay cầm ván, thuổng, cùng sĩ tốt cùng làm việc, họ
hàng thê thiếp đều ghép vào trong hàng ngũ cả. Người trong thành vừa sợ vừa
yêu.
Lại nói quần thần nước Tề bỏ chạy
tán loạn, nghe việc Vương Tôn Giả, cùng đi dò tìm thái tử, hơn một năm, Pháp
Chương biết là thực lòng, bèn ra mắt tự nói mình thực là Pháp Chương. Thái sử
Hiểu báo cho Vương Tôn Giả biết, Giả bèn mang xe đến đón về lên ngôi vua, đó là
Tương-vương, rồi báo việc ấy cho thành Tức Mặc biết, ước cùng giúp nhau, để chống
quân Yên. Nhạc Nghị vây suốt ba năm không được, bèn giải vây lui ra chín dặm đắp
lũy để giữ, hạ lệnh rằng dân trong thành có ai ra kiếm củi, thì cho ra không được
bắt, ai đói thì cho cơm ăn, ai rét thì cho áo mặc, có ý muốn cho nhân dân trong
thành phải cảm ơn mà vui lòng quy hàng.
Lại nói quan đại phu nước Yên là
Kỵ Kiếp, có sức khoẻ và cũng hay nói việc binh, quen thân với thái tử Nhạc Tư,
có ý muốn chiếm lấy binh quyền, bèn bảo tháii tử rằng:
– Vua Tề đã chết, chỉ còn thành Cử
Châu, Tức Mặc là ta chưa lấy được mà thôi. Trong có sáu tháng Nhạc Nghị hạ được
hơn bảy mươi thành của Tề, vậy còn hai thành ấy phỏng lấy nốt có khó khăn gì? Sở
dĩ Nhạc Nghị không lấy ngay, là vì thấy người Tề chưa qui phục nên muốn thong
thả đem ân uy để kết chặt lòng dân Tề. chẳng bao lâu nữa Nhạc Nghị sẽ tự lập
làm vua Tề đó!
Thái tử nói với Chiêu-vương, Chiêu-vương
giận nói rằng:
– Cái thù của tiên vương ta,
không phải Xương Quốc quân không thể báo được, cho dù Xương Quốc quân thực muốn
làm vua Tề nữa, kể công há chẳng đáng ru?
Bèn đánh thái tử hai mươi roi, rồi
sai sứ cầm cờ tiết đến Lâm Tri, bái Nhạc Nghị làm vua Tề. Nhạc Nghị cảm kích mà
ứa nước mắt, thề chết không chịu mệnh. Chiêu-vương nói:
– Ta vốn biết bản tâm của Nhạc
Nghị quyết không bao giờ lại phụ ta!
Chiêu-vương vì ham thụật thần
tiên, sai phương sĩ luyện kim thạch làm thuốc thần, uống vào lâu ngày phát nhiệt
thành bệnh mà chết. Thái tử Nhạc Tư nối ngôi, đó là Huệ-vương.
Điền Đan thường mật sai người
sang Yên dò thám sự tình, nghe việc Kỵ Kiếp âm mưu thay quyền Nhạc Nghị và việc
thái tử bị đánh, nói rằng:
– Nước Tề khôi phục được là ở đời
vua sau nước Yên chăng?
Đến khi Yên Huệ-vương lên ngôi,
Điền Đan sai người sang phao lên ở nước Yên rằng: Nhạc Nghị muốn làm vua Tề đã
lâu, vì chịu hậu ân của tiên vương Yên, không nỡ làm phản, cho nên hoãn đánh
hai thành để chờ cơ hội đó, nay vua mới lên ngôi, hắn sắp cho Tức Mặc giảng
hoà. Người Tề sợ nhất Yên phái tướng khác đến, thì thành Tức Mặc sẽ bị tàn phá
chẳng còn gì nữa. Yên Huệ-vương đã lâu vẫn nghi Nhạc Nghị, khi nghe lời phao đồn
ấy hợp với lời nói của Kỵ Kiếp, thì tin ngay, bèn sai Kỵ Kiếp đi thay Nhạc Nghị
mà triệu Nhạc Nghị về nước. Nghị sợ bị giết, nghĩ mình là người Triệu, bèn bỏ
chạy về Triệu. Vua Triệu bèn phong cho ở đất Quan Tân, gọi là Vọng Chư quân.
Kỵ Kiếp lên thay Nhạc Nghị làm tướng,
thì đổi hết quân lệnh của Nhạc Nghị, quân Yên đều căm giận không phục. Kỵ Kiếp
đến lũy ba ngày, thì đem quân đi đánh Tức Mặc, vây thành mấy vòng. Trong thành
giữ rất vững, Điền Đan sớm dậy bảo người trong thành rằng:
– Đem qua ta chiêm bao thấy Thượng
đế bảo ta rằng sẽ lại nổi, Yên tất phải thua, bất nhật sẽ có thần nhân làm quân
sư cho ta, đánh trận nào được trận ấy.
Có một tên tiểu tốt hiểu ý, chạy
đến trước mặt Đan, nói nhỏ rằng:
– Tôi có thể làm quân sư được
không?
Nói rồi ù té chạy.
Điền Đan nói:
– Vị thần nhân ta thấy trong
chiêm bao tức là người này!
Rồi cho tên tiểu tốt đội mũ mặc
áo, để ở trong quân trứớng, cho ngồi trên, ngoảnh mặt về phía bắc mà thờ làm thầy.
Tên tiểu tốt nói:
– Tôi thực không có tài cán gì cả.
Điền Đan nói:
– Nhà ngươi cứ im, chớ có nói gì!
Rồi gọi thần sư, mỗi lần hạ một lệnh
gì, tất bẩm mệnh thần sư đã rồi mới làm; lại bảo người trong thành rằng:
– Thần sư có lệnh, đến bữa ăn phải
tế trước tiên tổ ở sân, sẽ được tổ tôn phù hộ cho!
Người trong thành vâng theo lời dạy.
Chim chóc bay trên thấy ở giữa sân có đồ tế đều sà xuống ăn, như vậy sớm chiều
hai lần, quân Yên trông thấy lấy làm quái dị. Quân Yên lại nghe chuyện có thần
sư xuống giúp, cùng bảo nhau rằng nước Tề được trời giúp, không thể địch nổi, nếu
địch lại tất trái ý trời. Điền Đan lại sai người nói xấu Nhạc Nghị rằng:
– Xương Quốc quân lành quá, bắt
được người Tề không giết, cho nên người trong thành không sợ; nếu xẻo mũi đi, để
lên hàng trước thì người Tức Mặc tất phải khổ mà chết!
Kỵ Kiếp tin thực đem bao nhiêu
quân hàng xẻo mũi hết cả, người trong thành thấy vậy sợ quá, bảo nhau cố giữ, đừng
để quân Yên bắt được. Điền Đan lại cho nói rêu rao lên rằng mồ mả của mọi nhà
trong thành đều chôn ở ngoài thành cả, nếu bị quân Yên đào bỏ thì làm thế nào?
Kỵ Kiếp lại sai quân lính đào hết mồ mả ở ngoài thành, đốt thây người chết, quẳng
bỏ hài cốt, người Tức Mặc ở trên thành trông thấy đều khóc lóc, căm tức muốn được
ăn thịt người Yên, cùng nhau kéo đến quân môn xin ra đánh một trận để báo thù
cho tổ tôn. Điền Đan biết là quân lính có thể dùng được rồi, bèn kén chọn năm
nghìn người cừơng tráng cho ẩn ở các nhà dân, còn bao nhiêu người già yếu phụ nữ
thì sai lần lượt giữ thành, lại sai sứ đưa lễ sang quân Yên, nói trong thành
lương hết, đã định đến ngày mỗ thì ra hàng. Kỵ Kiếp bèn hỏi chư tướng rằng:
– Ta ví với Nhạc Nghị thế nào?
Các tướng đều nói Kiếp giỏi hơn
Nghị gấp mấy lần, trong quân đều nhảy nhót hô vạn tuế.
Điền Đan lại thu ở trong dân được
hơn nghìn vàng, sai các nhà giàu đưa biếu riêng các tướng Yên, yêu cầu trong
ngày hạ thành sẽ bảo toàn gia quyến cho. Các tướng Yên cả mừng, nhận vàng, lại
giao cho mỗi nhà một lá cờ nhỏ, bảo cắm ở trên cửa để làm dấu hiệu, rồi không
phòng bị gì cả, chỉ ngong ngóng chờ Điền Đan ra hàng. Điền Đan lại thu ở trong
thành được nghìn con trâu, may áo đỏ, vẽ năm sắc rồng, khoác vào mình trâu, lấy
những lưỡi dao nhọn buộc vào sừng trâu, lại lấy cỏ khô tẩm dầu buộc vào đuôi
trâu, kéo lê đằng sau như cái chổi lớn, trước kỳ hạn ra hàng một ngày, xếp đặt
đâu vào đấy. Ai nấy đều không hiểu ý thế nào. Điền Đan giết trâu làm tiệc, đợi
đến lúc hoàng hôn, triệu năm nghìn quân cường tráng cho ăn uống no say, vẽ năm
sắc vào mặt, cho cầm khí giới chạy theo trâu, sai trăm họ đào thành làm hang, tất
cả vài mươi chỗ, dồn trâu chui qua hang ra ngoài, châm lửa đốt bó cỏ buộc ở
đuôi, lửa cháy gần đến đuôi, trâu bị nóng quá, rống lên chạy thẳng sang dinh
quân Yên, năm nghìn tráng sĩ ngậm tăm chạy theo. Quân Yên cứ chắc là hôm sau
người Tề đầu hàng thì sẽ kéo vào thành, nên ban đêm đều ngủ yên cả. Bỗng nghe
tiếng chạy rình rịch, giật mình tỉnh dậy, thấy có hơn nghìn ngọn đuốc sáng rực
như ban ngày, trông ra thấy những con vật mình có vẽ rồng hồng hộc chạy đến, cặp
sừng húc vào đâu, người chết và bị thương đến đấy. Trong quân rối loạn. Năm
nghìn tráng sĩ, không nói không rằng, dao lớn búa to cứ gặp người là chém, dẫu
có năm nghìn người mà khí thế hăng hái bằng mấy vạn quân. Vả lại quân Yên mấy
hôm trước vẫn nghe quân Tề có thần sư xuống dạy, bấy giờ thấy những quân mặt
mũi loang lổ như ma quỷ, thì lại càng ghê sợ, không dám chống lại. Điền Đan lại
thân suất người trong làng reo hò chạy đến, những người già yếu và phụ nữ đều
gõ những đồ đồng, tiếng vang trời dội đất, quân Yên lại càng khiếp sợ, ai nấy đều
quẳng bỏ khí giới, xô đẩy nhau chạy trốn, giày xéo lên nhau mà chết không biết
bao nhiêu mà kể. Kỵ Kiếp cưỡi xe hốt hoảng chạy trốn, thì gặp ngay Điền Đan đâm
cho một giáo chết ngay. Quân Yên thua to. Điền Đan chỉnh đốn đội ngũ, thừa thế
đuổi theo, đánh đâu được đó, các thành ấp nghe quân Tề đắc thắng, tướng Yên đã
chết, đều phản Yên mà quy lại với Tề. Điền Đan binh thế ngày càng thịnh, cướp đất
Tề. Hơn bảy mươi thành đã bị nước Yên lấy, thì nước Tề đều lấy lại được cả.
Quân và tướng đều cho là Điền Đan có công lớn, muốn tôn lên làm vua, Điền Đan
nói:
– Thái tử Pháp Chương hiện ở Cử
Châu, ta là họ xa khi nào dám tự lập mình làm vua.
Rồi đến Cử Châu đón Pháp Chương.
Vương Tôn Giả cầm cương xe cho Pháp Chương đi đến Lâm Tri, thu táng thi hài Mân-vương,
chọn ngày cáo miếu lâm triều, tức là Tương-vương. Tương-vương bảo Điền Đan rằng:
– Tề nguy mà lại yên, mất mà lại
còn, đều là công thúc phụ trước kia thúc phụ đã có uy danh ở An Bình, nay phong
thúc phụ làm Anh Bình quân, ăn bổng lộc một vạn hộ.
Vương Tôn Giả được cử làm á
khanh. Lại đón con gái thái tử Hiểu về làm vương hậu. Bấy giờ thái tử Hiểu mới
biết con gái mình đã hiến thân cho Pháp Chương từ trước, giận mà mắng rằng:
– Mày không đợi lời mối lái mà tự
ý lấy chồng, không phải là con ta, ta thề suốt đời cha con không trông thấy
nhau nữa!
Tương-vương sai người cấp thêm
quan lộc cho thái tử Hiểu, Hiểu đều không nhận, nhưng vương hậu thời thường vẫn
sai người đến thăm hỏi, chưa bao giờ dám bỏ.
Bấy giờ Mạnh Thường quân ở Ngụy,
nhường tướng ấn cho công tử Vô Kỵ, Ngụy phong Vô Kỵ làm Tín Lăng quân, Mạnh Thường
quân lui về ở ấp Tiết cùng Bình Nguyên quân, Tín Lăng quân cùng đi lại rất
thân. Tề Tương-vương sợ, lại sai sứ đón Mạnh Thường quân về làm tướng quốc,
nhưng Mạnh Thường quân từ chối.
Lại nói Yên Huệ-vương từ khi Kỵ
Kiếp thua trận, mới biết Nhạc Nghị là người hiền tài, nhưng hối không kịp nữa,
bèn sai người đưa thư cho Nghị để xin lỗi, muốn đón Nghị về nước, Nghị đáp thư
không chịu về. Vua Yên sợ Triệu dùng Nhạc Nghị để mưu hại Yên, bèn lại cho con
Nghị là Nhạc Gian được tập phong làm Xương Quốc quân, em họ Nghị là Nhạc Thừa
làm tướng quân, đều tỏ lòng quý trọng. Nghị bèn kết hợp tình giao hiếu Yên, Triệu,
đi lại cả đôi bên, hai nước đều lấy Nghị làm khách khanh, về sau Nghị mất ở Triệu.
Bấy giờ Liêm Pha làm đại tướng ở Triệu, có sức khoẻ, biết dùng quân, chư hầu đều
sợ Triệu. Quân Tần thường đến lấn đất Triệu, Liêm Pha hết sức chống cự.
---------------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét