🔙 Hồi tiếp theo 🔜
Vì quả đào, cùng nhau sống chết
Tham gái đẹp, quên tình cha con
Tề Cảnh-công đến dự hội ở Bình
Khâu, dẫu sợ binh uy nước Tấn mà phải thề, nhưng trong lòng biết là nước Tấn
không có chí lớn, thì muốn khôi phục lại sự nghiệp bá chủ của Tề Hoàn-công thuở
xưa. Khi về nước, Cảnh-công bảo quan tướng quốc là Án Anh rằng:
– Nước Tấn làm bá chủ ở phía Tây
bắc, ta làm bá chủ ở phía Đông nam, cũng được chứ sao!
Án Anh nói:
– Nước Tấn xây đắp lâu đài để làm
khổ dân, bởi vậy mà chư hầu ly tán. Nay chúa công muốn làm bá chủ, không gì bằng
thương dân!
Tề Cảnh-công nói:
– Thương dân thì làm thế nào?
Án Anh nói:
– Giảm bớt hình phạt thì dân khỏi
oán, nhẹ bớt thuế má thì dân biết ơn. Tiên vương ngày xưa, hễ thấy dân nghèo khổ,
tất lấy thóc kho mà chu cấp, nay chúa công cũng nên bắt chước.
Tề Cảnh-công nghe lời Án Anh, lấy
thóc kho ra để chu cấp cho những người nghèo khổ. Người trong nước ai cũng bằng
lòng. Nước Tề lại đòi các nước ở phía đông triều cống. Nước Từ không chịu theo.
Tề Cảnh-công sai Điền Khai Cương làm tướng, đem quân đi đánh. Hai bên đánh nhau
ở đất Bồ Toại (đất Từ). Điền Khai Cương chém được tướng nước Từ là Doanh Sáng
và bắt giáp sĩ năm trăm người. Vua Từ sợ lắm, sai sứ đến cầu hoà.
Tề Cảnh-công liền ước với vua
Đàm, vua Cừ và vua Từ cùng ăn thề ở đất Bồ Toại. Vua Từ đem cái đỉnh của nước
Thân Phủ đến lễ đút Tề Cảnh-công. Vua tôi nước Tấn dẫu biết như vậy, mà không
dám hỏi đến. Từ bấy giờ nước Tề mỗi ngày một cường thịnh cùng với nước Tấn cùng
làm bá chủ. Tề Cảnh-công thường cùng Điền Khai Cương dẹp được nước Từ, và cùng
Cổ Gia Tử chém được con giải, đều cho vào hàng “ngũ thặng tân”. Điền Khai Cương
lại tiến dẫn cùng tên Tiệp là người vũ dũng. Nguyên-công tôn Tiệp mặt như chàm
đổ, hai mắc ốc nhồi, mình cao hơn trượng, sức khoẻ mang nổi mấy nghìn cân. Tề Cảnh-công
trông thấy lấy làm lạ, mới cùng công tôn Tiệp đi săn ở Đông Sơn.
Đang săn, bỗng trông thấy một con
hổ, trán có đốm trắng, ở khe núi gầm thét chạy ra, toan vồ con ngựa của Tề Cảnh-công.
Tề Cảnh-công kinh hãi. Công tôn Tiệp ở trên xe nhảy xuống, chẳng có gươm giáo
gì cả, hai tay không xông vào bắt con hổ ấy, tay trái nắm lấy gáy con hổ, tay
phải đấm mạnh một cái, con hổ chết ngay lập tức, Tề Cảnh-công khen là vũ dũng,
cũng cho dự vào hàng “ngũ thặng tân”. Công tôn Tiệp liền cùng với Điền Khai
Cương và Cổ Gia Tử kết làm anh em, tự xưng là “tam kiệt” ở nước Tề. Bọn “tam kiệt”
cậy mình có công to và sức khoẻ, vẫn thường khinh bỉ các quan triều thần, nhiều
khi ở trước mặt Tề Cảnh-công mà ăn nói hỗn láo, chẳng có lễ phép chút nào cả. Tề
Cảnh-công tiếc cái tài ba của ba người ấy cũng có ý khoan dung cho.
Bấy giờ trong triều có một kẻ nịnh
thần là Lương Khâu Cứ, Tề Cảnh-công cũng yêu lắm. Lương Khâu Cứ trong thì siểm
nịnh Tề Cảnh-công để được tin dùng, ngoài thì giao kết với “tam kiệt” để thêm
vây cánh. Bấy giờ có Trần Vô Vũ đang phóng tiền của thu lòng người, có ý muốn
chiếm nước Tề, mà Điền Khai Cương lại là thân thuộc với Trần Vô Vũ, Án Anh lấy
làm lo lắm, vẫn muốn lập kế trừ đi, nhưng sợ Tề Cảnh-công không nghe, lại sinh
kết oán với bọn “tam kiệt” vì thế cũng không dám nói.
Một hôm, Lỗ Chiêu-công cũng vì cớ
không phục nước Tấn, muốn kết giao với Tề, thân hành sang triều kiến Tề Cảnh-công.
Tề Cảnh-công bày tiệc để thết đãi. Nước Lỗ thì Thúc Tôn Nhược (con Thúc Báo)
làm tướng lễ. Nước Tề thì Án Anh làm tướng lễ. Bọn “tam kiệt” chống gươm đứng ở
dưới thềm; kiêu căng ngạo mạn, không coi ai ra gì! Lỗ Chiêu-công và Tề Cảnh-công
rượu đã ngà ngà say. Án Anh tâu rằng:
– Trong vườn quả kim đào đã chín,
xin sai người ra trẩy để chúc thọ hai vua.
Tề Cảnh-công nghe lời, truyền cho
người giữ vườn đem kim đào vào dâng. Án Anh tâu rằng:
– Kim đào là một của báu, tôi xin
thân hành đi coi xét việc trẩy quả.
Án Anh bèn lĩnh chìa khoá cửa vườn
rồi đi ngay. Tề Cảnh-công nói với Lỗ Chiêu-công rằng:
– Đời Tiên công tôi ngày xưa, có
người Đông Hải, đem cái hột đào đến để dâng, nói là giống “Vạn thọ kim đào”,
nguyên giống ở Độ Sách sơn ngoại bể, cũng gọi tên là “Bàn đào” nữa. Nước tôi trồng
đã hơn ba mươi năm, cành lá rất tốt, nhưng chỉ khai hoa mà không kết quả; mãi đến
năm nay, mới bói được mấy quả, tôi lấy làm quý lắm, nên phải khoá cửa vườn lại,
nay nhân có nhà vua tới đây, tôi xin đem ra để dâng nhà vua.
Lỗ Chiêu-công chấp tay cảm ơn,
lát sau thì Án Anh đưa người giữ vườn bưng mâm đào vào dâng. Trong mâm có sáu
quả đào, quả nào cũng to bằng cái bát, sắc đỏ như viên than hồng, mùi hương bay
ngào ngạt, thật là một thứ của quý. Tề Cảnh-công hỏi rằng:
– Chỉ có bấy nhiêu quả đào thôi à?
Án Anh nói:
– Còn ba, bốn quả nữa chưa chín,
bởi vậy chỉ trẩy có sáu quả.
Tề Cảnh-công sai Án Anh mời rượu,
Án Anh tay bưng chén ngọc, đến dâng trước mặt Lỗ Chiêu-công. Thị vệ bưng mâm
đào đến. Án Anh chúc một câu rằng:
Thiên hạ ít có
Hai vua cùng ngự
Nghìn năm hưởng thọ!”
Lỗ Chiêu-công uống xong chén rượu,
cầm ăn một quả đào, thấy ngon ngọt lạ thường, nên ngợi khen mãi không ngớt mồm.
Đến lượt Tề Cảnh-công, cũng uống một chén rượu, cầm ăn một quả đào, ăn xong, lại
bảo quan đại phu nước Lỗ là Thúc Tôn Nhược rằng:
– Thứ đào này quý lắm! Quan đại
phu có tiếng là người giỏi, nay lại làm tướng lễ ở đây, cũng nên xơi một quả.
Thúc Tôn Nhược quỳ xuống mà tâu rằng:
– Hiền đức của tôi, còn kém quan
tướng quốc (trỏ Án Anh) muôn phần. Quan tướng quốc trong thì sửa sang chính trị,
ngoài thì khiến cho chư hầu phải phục, có công to lắm, vậy thứ đào này nên nhường
để quan tướng quốc xơi, tôi đâu dám tiếm!
Tề Cảnh-công nói:
– Đã như vậy thì ban cho cả hai
người, mỗi người một chén rượu và một quả đào.
Án Anh và Thúc Tôn Nhược lạy tạ rồi
lĩnh lấy. Án Anh tâu với Tề Cảnh-công rằng:
– Trong mâm còn hai quả đào, chúa
công nên truyền lệnh cho các quan, người nào có công lao nhiều thì ra mà lĩnh lấy
quả đào ấy.
Tề Cảnh-công khen phải, rồi sai
thị vệ truyền dụ cho các quan rằng:
– Trong hàng các quan ai cũng có
công lao nhiều, đáng ăn quả đào này thì cho được đứng ra mà tâu. Đã có quan tướng
quốc xét công lao mà cho đào.
Công tôn Tiệp đứng ra tâu rằng:
– Ngày xưa tôi theo chúa công đi
săn ở Đông Sơn, ra sức giết được hổ thì công ấy thế nào?
Án Anh nói:
– Cái công bảo giá (bảo vệ nhà
vua) to ngất trời ấy, còn gì hơn nữa!
Án Anh nói xong, đưa cho một chén
rượu và một quả đào. Công tôn Tiệp lãnh lấy rồi lui xuống. Cổ Gia Tử đứng ra mà
tâu rằng:
-Giết hổ chưa lấy gì làm lạ! Khi
trước tôi giết được con giải yêu quái ở sông Hoàng Hà, khiến chúa công nguy mà
lại yên, công ấy thế nào?
Tề Cảnh-công nói:
– Ta còn nhớ lúc bấy giờ sóng gió
dữ dội, nếu không có tướng quân chém được con giải ấy thì thuyền ta tất phải đắm,
đó thật là một kỳ công trên đời, đáng uống rượu và ăn đào lắm!
Án Anh vội đưa rượu và đào cho Cổ
Gia Tử. Bỗng thấy Điền Khai Cương bước lên mà nói rằng:
– Tôi phụng mệnh chúa công đi
đánh Từ, chém được tướng Từ, bắt sống được hơn năm trăm quân Từ, vua Từ cùng
vua Đàn, vua Cử đều sợ hãi mà phải xin hoà, tôn chúa công lên làm chủ, cái công
ấy có đáng ăn đào hay không?
Án Anh tâu với Tề Cảnh-công rằng:
– Cái công của Điền Khai Cương ví
với hai tướng trước, lại còn gấp mười, nhưng nay hết đào rồi thì hãy tạm thưởng
cho một chén rượu, đợi đến năm khác sẽ hay.
Tề Cảnh-công bảo Điền Khai Cương
rằng:
– Công nhà ngươi to lắm, chỉ tiếc
thay nói chậm, thành ra hết cả đào.
Điền Khai Cương chống gươm nói rằng:
– Giết hổ và chém giải, chẳng qua
là những việc nhỏ mà thôi. Ta đây xông pha tên đạn ở ngoài nghìn dặm, biết bao
nhiêu công khó nhọc, lại không được ăn đào, chịu nhục ở trước mặt hai vua, để
tiếng cười về mai hậu, còn mặt mũi nào mà đứng trong triều đình nữa!
Nói xong, đâm cổ chết ngay. Công
Tôn Tiệp giật mình, cũng rút gươm mà nói rằng:
– Chúng ta công nhỏ mà được ăn
đào, họ Điền công to mà không được ăn. Ta ăn đào mà không biết nhường, sao gọi
là liêm; thấy người ta chết mà không theo, sao gọi là dũng!
Nói xong, cũng đâm cổ chết. Cổ Giả
Tử kêu rầm lên rằng:
– Ba chúng ta kết nghĩa với nhau,
thề cùng nhau sống chết, nay hai người đã chết, ta còn ham sống làm gì!
Nói xong, lại cũng lấy gươm đâm cổ
chết. Tề Cảnh-công vội vàng sai người ngăn lại, nhưng không kịp. Lỗ Chiêu-công cũng
đứng dậy nói:
– Tôi nghe ba tướng ấy đều là những
bậc tài giỏi nhất thiên hạ, tiếc thay trong một buổi sớm mà chết mất cả ba người!
Tề Cảnh-công nghe nói, thì biến sắc,
chỉ làm thinh không đáp. Án Anh thong dong đáp rằng:
– Đó chẳng qua là mấy kẻ vũ dũng ở
nước tôi mà thôi, dẫu có chút công nhỏ mọn, cũng không đáng tiếc.
Lỗ Chiêu-công nói:
– Ở bên quý quốc, những kẻ vũ
dũng như thế phỏng được mấy người?
Án Anh đáp rằng:
– Những kẻ bày mưu lập kế ở chốn
miếu đường, có tài làm tướng quốc hoặc làm nguyên soái thì dến vài ba mươi người,
còn những kẻ vũ dũng ấy thì chẳng qua chỉ để chúa công tôi sai khiến mà thôi, dẫu
sống hay chết, nước Tề tôi cũng không hơn thiệt gì cả!
Tề Cảnh-công nghe nói, mới được
yên lòng. Án Anh lại rót rượu mời Lỗ Chiêu-công và Tề Cảnh-công. Hai vua cùng uống
rượu thật vui rồi tan về. Khi Lỗ Chiêu-công về rồi, Tề Cảnh-công gọi Án Anh mà
hỏi rằng:
– Trong tiệc mới rồi, khanh nói
khoe khoang để giữ thể diện cho nước Tề ta; nhưng ta chỉ lo không biết lấy ai
thay vào bọn “tam kiệt”?
Án Anh nói:
– Tôi xin tiến cử một người giỏi
hơn “tam kiệt”.
Tề Cảnh-công hỏi:
– Khanh định tiến cử ai?
Án Anh nói:
– Có Điền Nhượng Thư, văn võ toàn
tài, dùng làm đại tướng được.
Tề Cảnh-công nói:
– Người ấy cùng một họ với Điền
Khai Cương phải không?
Án Anh nói:
– Người ấy dẫu cùng họ với Điền
Khai Cương nhưng về ngành thứ mà Điền Khai Cương không biết trọng đãi, cho nên
vẫn ẩn ở Đông Hải. Chúa công muốn tuyển tướng thì không ai bằng người ấy.
Tề Cảnh-công nói:
– Khanh đã biết là người giỏi,
sao không tâu ngay?
Án Anh nói:
– Người giỏi, chẳng những chọn
cho được vua mới chịu ra làm quan, lại cần phải chọn bạn nữa, như bọn Điền Khai
Cương và Cổ Gia Tử thì khi nào Điền Nhượng Thư chịu đứng cùng hàng!
Tề Cảnh-công ngoài miệng dẫu
không nói ra, nhưng trong lòng vẫn hiềm về nỗi họ Điền thân thuộc với Trần Vô
Vũ, vậy nên ngần ngại không quyết định. Một hôm, có biên lại (chức quan ngoài
biên thuỳ) báo tin rằng:
– Nước Tấn thấy nói “tam kiệt” đã
chết, cất quân sang đánh mặt Đông; nước Yên cũng thừa cơ đem quân sang xâm nhiễu
mặt Bắc.
Tề Cảnh-công sợ lắm, liền sai Án
Anh đem lễ vật ra Đông Hải đón Điền Nhượng Thư vào triều. Điền Nhượng Thư giảng
giải binh pháp, hợp ý Tề Cảnh-công lắm. Ngay ngày hôm ấy, Tề Cảnh-công cho Điền
Nhượng Thư làm nguyên soái, đem quân đi đánh Tấn và Yên. Điền Nhượng Thư tâu với
Tề Cảnh-công rằng:
– Tôi vốn con nhà hèn hạ ở chốn
thôn dã, nay chúa công giao binh quyền cho, e rằng lòng người không phục xin
chúa công chọn một người nào được trọng vọng trong nước xưa nay, để làm giám
quân, thì hiệu lệnh của tôi mới có thể thi hành được.
Tề Cảnh-công theo lời, sai quan đại
phu là Trang Giả đi làm giám quân, Điền Nhượng Thư và Trang Giả cùng lạy ta lui
ra. Ra đến ngoài triều, Trang Giả hỏi Điền Nhượng Thư rằng:
– Quan nguyên soái định đến bao
giờ thì cất quân đi?
Điền Nhượng Thư nói:
– Giờ ngọ ngày mai, tôi xin đợi
ngài ở quan môn để cùng đi, xin ngài chớ sai hẹn.
Đến giờ ngọ ngày hôm sau, Điền
Nhượng Thư truyền cho quân sĩ cấm cây gỗ làm nêu để xem bóng mặt trời, và sai
người đến giục Trang Giả. Trang Giả còn ít tuổi, vốn thấy mình được quý hiển mà
kiêu căng lại cậy thế Tề Cảnh-công yêu vì, nên chẳng coi Điền Nhượng Thư ra gì;
vả lại vẫn tưởng là mình làm giám quân thì muốn thế nào cũng được. Ngày hôm ấy,
họ hàng đều bày tiệc tiễn chân. Trang Giả vui chén quá say, thấy sứ đến giục,
cũng chẳng buồn đứng dậy. Điền Nhượng Thư đợi mãi, mặt trời đã xế về Tây, mà vẫn
chưa thấy Trang Giả đến, mới trèo lên tướng đài để truyền hiệu lệnh cho quân
sĩ. Trang Giả đi đến quan môn, thủng thỉnh xuống xe, trèo lên tướng đài. Điền
Nhượng Thư cứ nghiểm nhiên ngồi không đứng dậy mà hỏi Trang Giả rằng:
– Quan giám quân vì cớ gì bây giờ
mới đến?
Trang Giả chắp tay vái mà đáp rằng:
– Nhân vì tôi sắp khởi hành, họ
hàng bạn hữu đều bày tiệc tiễn chân, thành ra đến hơi chậm mất một chút.
Điền Nhượng Thư nói:
– Phàm người làm tướng, trong
ngày chịu mệnh vua thì phải quên nhà; khi đã truyền lệnh cho quân sĩ thì phải
quên cha mẹ; khi tay cầm dùi trống, xông pha tên đạn thì phải quên cả thân
mình. Nay nước giặc sang xâm nhiễu, ngoài biên thuỳ náo động, chúa công ta ngủ
không yên giấc, ăn không ngon miệng, đem việc đánh giặc uỷ thác cho hai ta,
cùng mà sớm tối lập công để cứu khổ cho trăm họ, còn lòng nào mà cùng với họ
hàng bạn hữu bày cuộc vui nữa!
Trang Giả tủm tỉm cười, đáp rằng:
– Cũng may mà còn kịp, quan
nguyên soái bất tất phải quá trách.
Điền Nhượng Thư nổi giận, đạp bàn
mà mắng rằng:
– Nhà ngươi cậy được chúa công
yêu, làm cho quân sĩ sinh lòng trễ biếng, nếu lúc ra trận cũng như thế thì hỏng
hết cả công việc!
Điền Nhượng Thư truyền gọi chức
quân chính đến hỏi rằng:
– Cứ theo quân pháp, hễ hẹn mà đến
chậm thì nên bắt tội gì?
Chức quân chính đáp rằng:
– Cứ theo quân pháp thì phải xử
trảm!
Trang Giả nghe nói phải đem chém
mới có ý sợ, vội vàng ở trên tướng đài chạy xuống. Điền Nhượng Thư truyền cho
quân sĩ trói lại, rồi đem ra cửa quân để chém. Bấy giờ Trang Giả không còn một
chút hơi rượu nào cả, van van lạy lạy xin tha. Những người theo hầu Trang Giả
chạy đến báo tin với Tề Cảnh-công. Tề Cảnh-công kinh hãi, liền gọi Lương Khâu Cứ,
sai cầm cờ tiết đến bảo Điền Nhượng Thư tha tội chết cho Trang Giả, lại dặn phải
đi xe thật mau, kẻo không kịp, nhưng đi đến nơi thì Trang Giả đã chết rồi.
Lương Khâu Cứ không biết, tay cầm cờ tiết, đi xe thẳng tiến vào cửa quan.
Điền Nhượng Thư truyền cho quân
sĩ ngăn lại, rồi hỏi chức quân chính rằng:
– Vào quan môn mà dám đi xe nhanh
như vậy, thì nên bắt tội gì?
Chức quân chính đáp rằng:
– Cứ theo quân pháp thì cũng phải
xử trảm.
Lương Khâu Cứ mặt như chàm đổ,
kêu là phụng mệnh mà đến, chứ không phải tự mình. Điền Nhượng Thư nói:
– Đã có mệnh vua thì tha cho
không chém, nhưng làm thể nào cũng phải giữ quân pháp, vậy thì ta phá xe, giết
ngựa đi để thay mạng cho sứ giả.
Lương Khâu Cứ được khỏi chết, cúi
đầu len lét mà đi. Quân sĩ thấy vậy, ai cũng sợ hãi. Đại binh của Điền Nhượng
Thư chưa kéo ra đến nơi, mà quân Tấn nghe tin đã bỏ trốn đi rồi. Quân Yên cũng
rút về. Điền Nhượng Thư đuổi theo mà đánh, chém được hơn một vạn đầu giặc. Người
nước Yên thua to, phải đem lễ vật sang xin hoà.
Khi Điền Nhượng Thư rút quân về, Tề
Cảnh-công thân hành ra đón, phong làm chức đại tư mã, sai giữ binh quyền. Chư hầu
nghe tiếng Điền Nhượng Thư, ai cũng kính phục. Tề Cảnh-công trong có Án Anh,
ngoài có Điền Nhượng Thư, trong nước mỗi ngày một cường thịnh. Tề Cảnh-công thấy
nước nhà đã được cường thịnh, ngày nào cũng đi săn và uống rượu để cầu vui, còn
quyền chính giao hết cho Án Anh, khác nào như Tề Hoàn-công dùng Quản Di Ngô khi
trước.
Một hôm, Tề Cảnh-công ở trong
cung cùng với cung nữ uống rượu; đến nửa đêm, bỗng nhớ đến Án Anh, truyền cho nội
thị đem tửu khí và các thức nhắm đến nhà Án Anh, rồi báo trước cho Án Anh biết
rằng:
– Chúa công sắp đến!
Án Anh đội mũ mặc áo, cầm hốt đứng
chắp tay ở ngoài cửa để đón. Tề Cảnh-công chưa kịp xuống xe, Án Anh đã chạy lại,
sợ hãi mà rằng:
– Chư hầu có việc gì chăng, hay
nước nhà có việc gì chăng?
Tề Cảnh-công nói:
– Không.
Án Anh nói:
– Thế thì sao đang đêm chúa công
lại thân hành đến nhà tôi?
Tề Cảnh-công nói:
– Quan tướng quốc công việc khó
nhọc, nay ta có rượu ngon và các thứ âm nhạc, không dám vui một mình, xin cùng
với quan tướng quốc cùng vui.
Án Anh nói:
– Việc giao kết chư hầu và giữ
yên nước nhà thì tôi xin hết sức; còn những việc bày cuộc vui để hầu hạ chúa
công thì đã có người khác, tôi không dám dự đến.
Tề Cảnh-công quay xe trở lại, rồi
sang nhà quan tư mã là Điền Nhượng Thư. Nội thị đến báo trước cho Điền Nhượng
Thư biết. Điền Nhượng Thư đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, tay cầm kích, đứng ở
ngoài cửa để đón. Khi xe Tề Cảnh-công đến. Điền Nhượng Thư cúi đầu mà hỏi rằng:
– Chư hầu có nước nào quấy nhiễu
hay đại thần có người nào phản nghịch chăng?
Tề Cảnh-công nói:
– Không.
Điền Nhượng Thư nói:
– Thế thì sao đang đêm chúa công
lại thân hành ra nhà tôi?
Tề Cảnh-công nói:
– Nào có biết gì khác đâu, chỉ vì
ta nghĩ đến cái công khó nhọc của tướng quân, vậy có rượu ngon và các thứ âm nhạc,
muốn cùng với tướng quân cùng vui!
Điền Nhượng Thư nói:
– Việc đánh nước thù và dẹp kẻ phản
nghịch thì tôi xin hết sức; còn những việc bày cuộc vui để hầu hạ chúa công thì
thiếu gì người, sao chúa công lại hỏi đến kẻ giới trụ (giới áo giáp trụ, Giới
trụ nghĩa là những tướng võ).
Tề Cảnh-công có ý không được vui.
Nội thị hỏi:
– Chúa công định về cung hay đi
đâu?
Tề Cảnh-công nói:
– Đi sang nhà quan đại phu là
Lương Khâu Cứ.
Nội thị lại báo trước cho Lương
Khâu Cứ biết.
Lương Khâu Cứ tay trái ôm đàn cầm,
tay phải cấp ống kèn, miệng hát nghêu ngao mà ra đón Tề Cảnh-công ở tận ngoài
đường. Tề Cảnh-công bằng lòng, mới cởi áo ra, rồi cùng với Lương Khâu Cứ uống
rượu vui, và nghe các thứ âm nhạc mãi đến gà gáy, mới trở về cung.
Ngày hôm sau, Án Anh và Điền Nhượng
Thư cùng vào triều tạ tội, lại can Tề Cảnh-công không nên đang đêm ra uống rượu
ở nhà các quan, Tề Cảnh-công nói:
– Ta không có hai người thì lấy
ai trị nước, không có Lương Khâu Cứ thì lấy ai mua vui? Ta không làm trở ngại đến
công việc của hai ngươi, hai ngươi chớ nên can dự đến công việc của ta!
Bấy giờ Trung Nguyên nhiều việc,
nước Tấn không thể quản cố được. Tấn Chiêu-công lên làm vua được sáu năm thì mất,
thế tử Khứ Tật lên nối ngôi, tức là Tấn. Năm thứ nhất đời Tấn Khoảnh-công, Hàn
Khởi và Dương Thiệt Bật đều ốm chết cả. Nguỵ Thư cầm quyền chính. Tuân Lịch và
Phạm Uông đều có tiếng là người hay ăn lễ. Kẻ gia thần của Kỳ Doanh, tên là Kỳ
Thắng, tư thông với vợ Ô Tang (cũng là gia thần của Kỳ Doanh). Kỳ Doanh bắt Kỳ
Thắng, Kỳ Thắng lễ đút Tuân Lịch. Tuân Lịch nói với Tấn Khoảnh-công mà gièm Kỳ
Doanh. Tấn Khoảnh-công lại bắt Kỳ Doanh. Dương Thiệt Thực Ngã (con Dương Thiệt
Bật) là phái Kỳ Doanh, liền giết Kỳ Thắng. Tấn Khoảnh-công nổi giận, giết Kỳ
Doanh và Dương Thiệt Thực Ngã, lại diệt cả họ Kỳ và họ Dương Thiệt. Người nước
Tấn nghe nói, ai cũng thương là oán. Sau Lỗ Chiêu-công bị kẻ cường thần là Quý
Tôn Ý Như đuổi, Tuân Lịch (nước Tấn) lại ăn tiền của Quý Tôn Ý Như, không cho Lỗ
Chiêu-công chạy vào nước Tấn. Tề Cảnh-công hội chư hầu ở Yên Lăng, để bàn mưu
giúp cho Lỗ Chiêu-công về nước, bởi vậy ai cũng kính phục. Từ bấy giờ uy danh Tề
Cảnh-công mới lừng lẫy.
Lại nói chuyện vua nước Ngô là Di
Muội lên ngôi được bốn năm thì ốm nặng, theo lời cha anh dặn ngày trước, muốn
truyền ngôi cho em là Quý Trát. Quý Trát từ chối mà nói rằng:
– Ta quyết không bao giờ chịu nhận!
Dẫu tiên vương ta ngày xưa có trối lại, nhưng ta cũng không dám theo, bởi vì ta
coi sự phú quý khác nào như gió thu thoảng qua mà thôi, có thiết gì!
Quý Trát liền trốn về ở Diên
Lang. Triều thần nước Ngô bèn lập con Di Muội là Châu Vu lên làm vua, cải tên
là Liêu, tức là Vương Liêu. Con Chư Phán là công tử Quang giỏi về việc binh,
Vương Liêu dùng làm tướng. Công tử Quang cùng với quân sĩ Sở giao chiến ở đất
Trường Ngạn (đất nước Sở), giết được quan tư mã nước Sở là công tử Phương. Người
nước Sở kinh sợ, phải đắp thành ở đất Châu Lai để phòng giữ nước Ngô. Bấy giờ
Phí Vô Cực khéo du nịnh, Sở Bình-vương (Lư) yêu lắm. Sái Bình-công đã lập đích
tử tên là Chu làm thế tử, người thứ tư tên là Đông Quốc muốn tranh, mới lễ tiền
cho Phí Vô Cực, để nhờ nói hộ với Bình-vương (Phí Vô Cực là quan nước Sở, được Sở
Bình-vương yêu lắm. Bấy giờ Sái thuộc Sở, vậy nên phải nhờ Phí Vô Cực nói hộ).
Sở Bình-vương thấy vậy, hỏi Phí
Vô Cực rằng:
– Tại sao người nước Sái đuổi thế
tử Chu?
Phí Vô Cực nói:
– Thế tử Chu định làm phản nước Sở
ta, người nước Sái không bằng lòng, vậy nên đuổi đi.
Sở Bình-vương cũng không hỏi gì đến
nữa. Phí Vô Cực ghét thế tử Kiến (con Sở Bình-vương), bèn muốn làm cho cha con
phải lìa rẽ nhau, nhưng chưa có kế gì. Một hôm, Phí Vô Cực tâu với Sở
Bình-vương rằng:
– Thế tử đã lớn tuổi, sao đại
vương không cầu hôn cho thế tử, mà muốn cầu hôn thì không đâu bằng nước Tần. Tần
là một nước cường thịnh xưa nay vẫn giao hiếu với Sở, nếu ta kết hôn với Tần
thì thế lực nước Sở càng thêm vững vàng.
Sở Bình-vương nghe lời, sai Phí
Vô Cực sang nước Tần cầu hôn cho thế tử Kiến. Tần Ai-công cũng họp triều thần để
thương nghị. Các quan đều nói:
– Xưa nay nước Tần ta, và nước Tấn
vẫn kết hôn với nhau, nay nước Tấn đã lâu không đi lại với ta, mà nước Sở hiện
đang cường thịnh, vậy ta nên cho nước Sở kết hôn.
Tần Ai-công liền hẹn gã em gái là
nàng Mạnh Doanh cho nước Sở. Sở Bình-vương lại sai Phí Vô Cực đem lễ vật sang
nước Tần xin cưới. Phí Vô Cực sang đến nước Tần, đem lễ vật đệ trình lên. Tần
Ai-công bằng lòng, sai công tử Bồ đưa nàng Mạnh Doanh sang nước Sở. Hành trang
có cả thảy một trăm cổ xe, các dâng thiếp theo hầu kể có vài ba mươi người.
Nàng Mạnh Doanh vào từ biệt anh rồi đi. Trong khi đi đường Phí Vô Cực thấy nàng
Mạnh Doanh nhan sắc tuyệt trần; lại thấy trong đám dâng thiếp có một người dáng
điệu đứng đắn lắm, hỏi dò ra mới biết là Tề nữ (con gái nước Tề). Nguyên trước
thân phụ Tề nữ sang làm quan ở nước Tần. Tề nữ theo sang từ thuở bé, đến sau
vào làm thị nữ trong cung, hầu nàng Mạnh Doanh. Phí Vô Cực dò biết như vậy,
nhân đêm hôm ấy ngủ ở quán xa, mật triệu Tề nữ đến mà bảo rằng:
– Ta trông thấy nàng có quý tướng,
muốn giúp cho nàng được làm vợ ngôi thế tử, nếu nàng chịu theo kế ta thì sau
này phú quý không biết đâu mà kể!
Tề nữ cúi đầu nín lặng. Phí Vô Cực
về trước một hôm, vào tâu với Sở Bình-vương, nói nàng mạnh Doanh đã đến, còn
cách xa độ ba xá. Sở Bình-vương hỏi rằng:
– Nhà ngươi đã được trông thấy mặt
nàng chưa? Nhan sắc thế nào?
Phí Vô Cực biết Sở Bình-vương là
người ham tửu sắc, định khoe khoang vẻ đẹp của nàng Mạnh Doanh để làm cho Sở
Bình-vương phải động lòng, may sao lại gặp Sở Bình-vương hỏi đến, chính trúng
vào kế của mình, bèn tâu rằng:
– Mắt tôi trông thấy con gái đã
nhiều, nhưng chưa thấy người nào đẹp như nàng Mạnh Doanh! Chẳng những trong
cung nước Sở không có ai bằng, dẫu tượng truyền các bậc tuyệt sắc đời xưa như Đắc
Kỹ và Ly Cơ, cũng chỉ nghe tiếng đồn mà thôi, chứ e rằng nàng Mạnh Doanh đẹp
muôn phần, vị tất những người kia đã được một!
Sở Bình-vương nghe nói, mặt đỏ bừng
lên, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thở dài mà nói rằng:
– Ta xưng vương làm gì cho uổng!
Chẳng gặp được người tuyệt sắc ấy, thật cũng phí một đời!
Phí Vô Cực xin đuổi hết những người
chung quanh rồi mật tâu với Sở Bình-vương rằng:
– Nếu đại vương yêu sắc đẹp của
nàng Mạnh Doanh thì sao đại vương không lấy đi?
Sở Bình-vương nói:
– Ta đã cưới về cho thế tử, làm vậy
sợ hại đến luân lý.
Phí Vô Cực tâu rằng:
– Việc gì mà hại! Nàng Mạnh Doanh
dẫu cưới cho thế tử, nhưng chưa hề đến nơi; nay đại vương đón nàng vào cung,
còn ai dám nghị luận nữa.
Sở Bình-vương nói:
– Ta khoá được miệng các quan, chứ
bưng thế nào được miệng thế tử?
Phí Vô Cực nói:
– Tôi xem trong đám dâng thiếp có
Tề nữ là người dáng điệu đứng đắn, cho giả làm nàng Mạnh Doanh được. Tôi xin
đưa nàng Mạnh Doanh vào cung, rồi đem Tề nữ tiến cho thế tử, như vậy thì hai
bên cùng phải giấu kín cả, thật là trọn vẹn mọi bề!
Sở Bình-vương mừng lắm, dặn Phí
Vô Cực phải bí mật lắm mới được. Phí Vô Cực bảo công tử Bồ nước Tần rằng:
– Hôn lễ nước Sở, không giống các
nước, tân nhân tất phải vào cung yết kiến đại vương tôi đã, rồi mới cùng với thế
tử thành thân.
Công tử Bồ xin vâng lệnh. Phí Vô
Cực bèn đưa nàng Mạnh Doanh và các dâng thiếp vào cung để yết kiến Sở
Bình-vương, rồi để nàng Mạnh Doanh ở lại đấy; lại bắt các cung nữ giả làm dâng
thiếp nước Tần, còn Tề nữ thì gỉa làm nàng Mạnh Doanh, đưa sang cung thế tử Kiến.
Các quan và thế tử Kiến đều không biết mưu gian của Phí Vô Cực. Sở Bình-vương sợ
thế tử Kiến biết việc nàng Mạnh Doanh, mới cấm thế tử Kiến không cho vào cung,
rồi ngày đêm chỉ cùng với nàng Mạnh Doanh uống rượu mua vui, chẳng thiết gì đến
chính sự cả.
Bấy giờ bên ngoài cũng có nhiều
người thì thào nghi việc nàng Mạnh Doanh. Phí Vô Cực sợ thế tử Kiến biết, mới bảo
Bình-vương rằng:
– Nước Tấn làm bá chủ được lâu
năm, chỉ vì tiếp giáp với Trung Nguyên. Vua Linh vương ta ngày xưa đắp thành ở
Trần và Sái là có ý muốn tranh nghiệp bá, nay hai nước được phục quốc, Sái mà Sở
lui về ở phương nam thì làm sao mà tranh nghiệp bá được, sao đại vương không
sai thế tử ra trấn thử ở đất Thành Phủ, để giao thông với phương bắc, còn đại
vương thì chuyên một mặt mà mở mang về phương nam, như vậy thì có thể thu hết
được thiên hạ.
Bình-vương còn ngần ngừ chưa quyết.
Phí Vô Cực lại ghé tai mật tâu rằng:
– Việc nàng Mạnh Doanh, lâu ngày
tất phải tiết lộ, nếu để cho thế tử đi xa, chẳng cũng lợi cả đôi đường hay sao!
Bình-vương nghĩ ra, liền sai thế
tử Kiến đi trấn thủ ở đất Thành Phủ, cho Phấn Dương làm quan tư mã ở đất Thành
Phủ. Lại dặn Phấn Dương rằng:
– Nhà người thờ thế tử, cũng như
là thờ ta!
Ngũ Xa biết Phí Vô Cực gièm pha,
đã toan can ngăn Bình-vương.
Phí Vô Cực biết vậy, lại tâu với Bình-vương
sai Ngũ Xa sang Thành Phủ để giúp thế tử. Khi thế tử Kiến đã đi rồi. Bình-vương
lại lập nàng Mạnh Doanh làm chánh hậu và đuổi Sái Cơ (mẹ thế tử Kiến) về đất
Viên Dương; bấy giờ thế tử Kiến mới biết chuyện nàng Mạnh Doanh đã bị cha đổi mất,
nhưng không thể làm thế nào được. Nàng Mạnh Doanh dẫu được Bình-vương yêu dấu,
nhưng thấy biết vậy cũng không dám hỏi. Được hơn một năm, nàng Mạnh Doanh sinh
con trai, Bình-vương yêu quý lắm, đặt tên là Trân.
Khi Trân đã được đầy tuổi tôi, Bình-vương
hỏi nàng Mạnh Doanh rằng:
– Từ khi nàng vào cung đến giờ,
thường hay buồn rầu ít được vui vẻ, là cớ làm sao?
Nàng Mạnh Doanh nói:
– Thiếp vâng mệnh vua anh, sang hầu
hạ đại vương, vẫn tưởng rằng Tần Sở một nhà, thanh xuân đôi lứa; khi đã vào tới
cung, mới biết đại vương đã nhiều tuổi. Thiếp không dám oán đại vương, nhưng chỉ
tiếc rằng sinh sau đẻ muộn quá!
Sở Bình-vương cười mà nói rằng:
– Cái đó là bởi số phận! Khanh về
với quả nhân thì muộn, nhưng làm chánh hậu thì đã sớm được không biết mấy năm rồi!
Nàng Mạnh Doanh nghe nói, trong
lòng nghi hoặc, mới dò hỏi các cung nữ. Các cung nữ không thể giấu được, bèn
thuật chuyện lại cho nghe. Nàng Mạnh Doanh thở dài, rồi ứa nước mắt khóc. Bình-vương
biết ý, hết sức chiều chuộng, hẹn lập Trân làm thế tử, bấy giờ nàng Mạnh Doanh
mới hơi yên lòng. Phí Vô Cực vẫn lấy việc thế tử Kiến làm e ngại, sợ sau này Kiến
nối ngôi thì tất trị tội mình, mới tâu với Bình-vương rằng:
– Tôi nghe tin thế tử cùng với
Ngũ Xa bàn mưu phản nghịch, mật sai người giao thông với Tề và Tấn, đại vương
phải phòng bị mới được.
Bình-vương nói:
– Thế tử vốn là người hiếu thuận,
có đâu có những việc ấy!
Phí Vô Cực nói:
– Thế tử vì việc nàng Mạnh Doanh
mà đem lòng oán giận. Nay ở đất Thành Phủ, vẫn luyện tập binh mã, thường khen Mục-vương
ngày xưa nổi loạn mà được hưởng nước Sở, con cháu phồn thịnh, thế là có ý muốn
bắt chước. Nếu đại vương không trừ bỏ đi thì tôi xin muốn trốn trước để khỏi
tai vạ.
Bình-vương vẫn muốn bỏ thế tử Kiến,
lập Trân làm thế tử, lại nghe lời nói của Phí Vô Cực, cũng hơi động lòng, toan
hạ lệnh bỏ thế tử Kiến.
Phí Vô Cực lại tâu rằng:
– Thế tử đang giữ binh quyền ở
ngoài, nếu hạ lệnh bỏ thì khác nào như giục thế tử làm phản. Ngũ Xa sẽ làm chủ
mưu cho thế tử. Chi bằng đại vương triệu Ngũ Xa về đã, rồi sau đem quân bắt thế
tử, mới có thể trừ bỏ được.
Bình-vương khen phải, sai người
triệu Ngũ xa. Ngũ xa về. Bình-vương hỏi rằng:
– Thế tử Kiến đem lòng phản nghịch,
nhà ngươi có biết không?
Ngũ Xa vốn là người chính trực,
đáp rằng:
– Đại vương chiếm lấy vợ thế tử,
cũng đã quá lắm rồi, nay lại nghe lời đứa tiểu nhân mà bỏ tình cốt nhục, thì
sao cho đành?
Bình-vương có ý hổ thẹn, truyền bắt
Ngũ Xa giam lại. Phí Vô Cực tâu rằng:
– Ngũ Xa dám nói như vậy, quả là
có lòng oán vọng. Nếu thế tử biết Ngũ Xa bị bắt thì tất nổi loạn, đem quân Tề
và quân Tấn về, ta khó lòng đương nổi!
Bình-vương nói:
– Ta muốn sai người đi giết thế tử,
chưa biết dùng ai.
Phí Vô Cực nói:
– Sai người khác đi thì thế tử tất
chống cự được, chi bằng mật dụ cho quan tư mã là Phấn Dương phải bắt thế tử mà
giết đi.
Bình-vương liền sai người mật dụ
Phấn Dương rằng:
– Giết thế tử thì được trọng thưởng,
tha thế tử thì phải tội chết.
Phấn Dương tức khắc sai người tâm
phúc báo cho thế tử Kiến biết, dặn phải mau mau đi trốn.
Thế tử Kiến kinh sợ. Bấy giờ Tề nữ
đã sinh con trai, đặt tên là Thắng. Thế tử Kiến liền đem vợ con chạy sang nước
Tống. Phấn Dương biết thế tử Kiến đã trốn rồi, mới bảo người Thành Phủ trói
mình lại, giải về Sinh Đô nộp Sở Bình-vương. Phấn Dương tâu với Bình-vương, nói
thế tử đã trốn mất rồi. Bình-vương nổi giận mắng rằng:
– Việc này tự miệng ta nói ra,
vào đến tai nhà ngươi, còn ai biết nữa mà báo thế tử!
Phấn Dương nói:
– Chính tôi báo thế tử! Ngày trước
đại vương có dặn tôi rằng: “Nhà ngươi thờ thế tử, cũng tức như là thờ ta!” Tôi
vâng lời dặn ấy, không dám hai lòng, cho nên phải bảo cho thế tử biết. Sau nghĩ
ra mới biết là mắc tội, hối lại không kịp!
Bình-vương nói:
– Nhà người đã tha thế tử, lại
dám đến yết kiến ta, không sợ chết hay sao?
Phấn Dương nói:
– Tôi đã không theo được lời dặn
sau cùng của đại vương nếu lại sợ chết mà không đến thì thành ra hai tội. Và
chưa có tang chứng gì là thế tử phản nghịch cả, nếu đem trị tội chẳng cũng oan
lắm sao! Thế tử sống thì tôi dẫu chết cũng được thoả lòng!
Bình-vương động lòng, và có ý thẹn,
ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bảo Phấn Dương rằng:
– Phấn Dương dẫu có trái mệnh,
nhưng tấm lòng trung trực cũng đáng khen!
Bình-vương xá tội cho Phấn Dương,
vẫn cho được làm quan tư mã ở Thành Phủ. Bình-vương lập con nàng Mạnh Doanh là
Trân làm thế tử, lại cho Phí Vô Cực làm chức thái sư. Phí Vô Cực tâu rằng:
– Ngũ Xa có hai con là Ngũ Thượng
và Ngũ Viên, đều là bậc tài giỏi, nếu để trốn sang nước Ngô thì tất hại cho nước
Sở, chi bằng ta bắt Ngũ Xa phải viết thư triệu về. Kẻ kia tin lời cha, tất rủ
nhau về cả, bấy giờ ta giết hết đi, mới có thể trừ được hậu hoạn.
Sở Bình-vương mừng lắm, sai người
vào ngục đem Ngũ Xa ra, rồi đưa giấy bút cho mà bảo rằng:
– Nhà ngươi xui thế tử làm phản,
đáng lẽ phải chết chém, nhưng ta nghĩ đến cái công tổ phụ nhà ngươi, không nỡ bắt
tội. Nhà ngươi nên viết thư triệu hai con về, ta sẽ phong quan chức cho.
Ngũ Xa biết là Bình-vương đánh lừa,
để triệu về mà giết cả đi, mới tâu rằng:
– Con trưởng tôi là Ngũ Thượng,
nhân hậu ôn hoà, nghe tôi triệu thì tất về ngay; còn con thứ tôi là Ngũ Viên
thì văn vũ toàn tài, mà tính nhẫn nại, mai sau có thể làm nên việc được, nó
tinh khôn lắm, vị tất đã chịu về.
Bình-vương nói:
– Nhà ngươi cứ theo lời ta mà triệu
về, còn về hay không, không can dự đến nhà ngươi!
Ngũ Xa không dám trái mệnh, liền
viết một bức thư, đại lược nói rằng:
“Ta có lời cho hai con là Thượng
và Viên biết rằng: Ta vì nói thẳng trái ý đại vương mà phạm tội, nhưng đại
vương nghĩ đến công của tổ phụ ta ngày xưa, không nỡ giết chết, vậy có theo lời
bàn của các quan mà tha tội cho, lại muốn phong quan chức cho hai con nữa. Hai
con nên mau mau về triều, nếu chậm thì có tội.”
Ngũ Xa viết xong, đệ trình Bình-vương,
Bình-vương xem qua, lại truyền giam Ngũ Xa vào ngục, và sai Yên Tương Sư đem
thư sang Đường Ấp để triệu Ngũ Thượng và Ngũ Viên. Khi Yên Tương Sư sang đến Đường
Ấp thì Ngũ Thượng cùng Ngũ Viên đã sang Thành Phủ rồi. Yên Tương Sư lại sang
Thành Phủ, đến gặp Ngũ Thượng, liền đem lời chúc mừng. Ngũ Thượng nói:
– Thân phục tôi đang bị giam, còn
vui gì mà chúc mừng?
Yên Tương Sư nói:
– Đại vương quá nghe người ta
nói, bắt giam tôn công (chỉ Ngũ Xa), may có các quan bảo lịnh, tâu rằng nhà tôn
công về trước đã ba đời trung trực, cho nên đại vương nghĩ lại, bèn phong cho
tôn công làm tướng quốc, và phong cho hai ngài làm Hồng Đô hầu (Thượng) và Cái
hầu (Viên). Tôn công bị giam đã lâu, nay mới được tha, mong nhớ hai ngài lắm, vậy
có sai tôi mang thư đến đây để đón.
Ngũ Thượng nói:
– Thân phụ tôi bị giam, lòng tôi
thật đau như cắt, nay được tha là may, khi nào lại dám mong quan chức!
Yên Tương Sư nói:
– Đó là mệnh vua, ngài chớ nên từ
chối!
Ngũ Thượng mừng lắm, liền đem thư
vào nhà trong cho em là Ngũ Viên xem.
Dụ hai con, Sở Bình lập kế
Nghĩ một đêm, Ngũ Viên bạc đầu
Ngũ Viên, tên tự là Tử Tư, người ở Giám Lợi, mình cao một trượng, lưng rộng người ôm, mày rộng một thước (đời thượng cổ, thước (xích) tấc (thần) rất nhỏ), mắt sáng như điện, sức khoẻ lạ thường, lại văn vũ toàn tài, là con Ngũ Xa, em Ngũ Thượng. Ngũ Thượng cùng với Ngũ Viên đều theo cha sang đất Thành Phủ. Yên Tương Sư phụng mệnh Sở Bình-vương ra dụ Ngũ Thượng, Ngũ Viên vào triều. Yên Tương Sư vào yết kiến Ngũ Thượng trước, đưa bức thư của Ngũ Xa, rồi xin vào yết kiến Ngũ Viên. Ngũ Thượng cầm bức thư vào nhà trong cho Ngũ Viên xem và bảo rằng:
– May thay, phụ thân được khỏi tội,
hai ta được phong hầu, em nên ra tiếp kiến sứ giả.
Ngũ Viên nói:
– Phụ thân được khỏi tội, cũng đã
là may, ta có công gì mà được phong hầu, chẳng qua chỉ là triều đình lừa ta đó
thôi. Ta về thì tất bị hại.
Ngũ Thượng nói:
– Hiện có thư của thân phục ta,
khi nào lại là giả dối được.
Ngũ Viên nói:
– Phụ thân một lòng tận trung với
nước, nay bị tội oan, biết là thế nào rồi sau chúng ta cũng báo thù, cho nên phụ
thân muốn cho chúng ta hiến thân cho nước để khỏi lo về sau.
Ngũ Thượng nói:
– Em nói thế chẳng qua là phỏng
đoán thôi, vạn nhất bức thư là chân tình thì cái tội bất hiếu của chúng ta để
đâu cho hết!
Ngũ Viên nói:
– Để em xin bói một quẻ.
Ngũ Viên nói xong, liền đoán rằng:
– Cứ như quẻ bói này, thì vua dối
bề tôi, cha dối con. Nếu về tất bị hại, chứ chẳng khi nào được phong hầu cả!
Ngũ Thượng nói:
– Không phải ta tham gì chuyện
phong hầu, mà ta chỉ mong được trông thấy phụ thân mà thôi.
Ngũ Viên nói:
– Người nước Sở sợ có anh em ta ở
ngoài, vậy nên chưa dám giết phụ thân, nếu ta lầm mà về thì chỉ khiến cho phụ
thân chóng chết mà thôi.
Ngũ Thượng nói:
– Cái tình cha con, nếu ta được
trông thấy mặt thì ta chết cũng thoả lòng!
Ngũ Viên thở dài mà rằng:
– Về mà cũng chết, phỏng có ích
gì! Nếu anh muốn về thì từ đây em xin vĩnh biệt.
Ngũ Thượng khóc hỏi rằng:
– Em định đi đâu?
Ngũ Viên nói:
– Ở đâu có thể báo thù được nước
Sở, thì em đi.
Ngũ Thượng nói:
– Trí lực của anh thua em xa lắm.
Vậy anh nên về Sở, còn em thì đi nước khác. Anh lấy sự theo cha làm hiếu, em lấy
sự báo thù làm hiếu, mỗi người một chí. Từ đây trở đi, anh em ta không được
trông thấy nhau nữa!
Ngũ Viên sụp lạy bốn lạy để từ biệt
Ngũ Thượng. Ngũ Thượng gạt nước mắt, ra tiếp kiến Yên Tương Sư nói em là Ngũ
Viên không muốn phong hầu, không thể cưỡng được. Yên Tương Sư đưa Ngũ Thượng về
yết kiến Bình-vương. Bình-vương truyền bắt Ngũ Thượng giam lại. Ngũ Xa thấy một
mình Ngũ Thượng về triều, liền thở dài mà nói rằng:
– Ta vẫn biết Ngũ Viên không chịu
về.
Phí Vô Cực lại tâu với Bình-vương
rằng:
– Còn một Ngũ Viên, nên sai bắt
ngay, nếu chậm thì hắn trốn mất!
Bình-vương nghe lời, liền sai
quan đại phu là Vũ Thành Hắc đem quân đi bắt Ngũ Viên. Ngũ Viên nghe tin quân Sở
sắp đến bắt mình, khóc mà nói rằng:
– Nếu vậy thì cha tôi và anh tôi
không khỏi chết được!
Liền bảo vợ là Giã thị rằng:
– Ta muốn trốn sang nước khác, mượn
quân về để báo thù cho cha, anh, nên không thể trông nom đến nàng được, biết
làm thế nào?
Giã thị trừng mắt nhìn Ngũ Viên
mà nói rằng:
– Đại trượng phu nghĩ đến cái thù
của cha, anh, lòng đau như cắt , còn lòng nào mà tưởng đến người đàn bà! Phu
quân nên mau mau trốn đi, chớ nghĩ đến thiếp!
Giã thị nói xong, liền vào trong
nhà thắt cổ mà chết. Ngũ Viên vật mình lăn khóc, đem thi thể Giã thị chôn tạm
vào một nơi, rồi thu xếp khăn gói, mình mặc áo bào trắng, đeo kiếm cầm cung trốn
đi. Ngũ Viên chưa đi được nửa ngày thì quân Sở đã kéo đến vây nhà, không tìm thấy
Ngũ Viên, đoán chừng Ngũ Viên tất chạy về phía đông, mơí tức khắc đuổi theo. Ước
độ ba trăm dặm, đến một chỗ đồng không mông quạnh, Ngũ Viên giương cung bắn chết
người dong xe của Vũ Thành Hắc; lại nhắm Vũ Thành Hắc, toan bắn luôn một phát nữa.
Vũ Thành Hắc sợ hãi xuống xe bỏ chạy. Ngũ Viên bảo Vũ Thành Hắc rằng:
– Ta định bắn chết nhà ngươi,
nhưng hãy tha cho để nhà ngươi về báo cho vua Sở biết rằng: “Nước Sở muốn còn
giữ được cúng tế thì chớ giết cha và anh ta, bằng không thì tất ta phải diệt nước
Sở, mới hả được lòng căm tức của ta!”
Vũ Thành Hắc cúi đầu đi thẳng, về
báo với Sở Bình-vương. Sở Bình-vương giận lắm, sai Phí Vô Cực giải cha con Ngũ
Thượng ra chợ để chém. Khi sắp bị chém, Ngũ Thượng nhiếc mắng Phí Vô Cực là một
đứa du nịnh, làm hại kẻ trung lương. Ngũ Xa ngăn Ngũ Thượng mà bảo rằng:
– Cần gì phải nói cho rởm, ai nịnh
ai trung, sau này sẽ có công luận! Ta chắc rằng Ngũ Viên còn sống thì vua tôi
nước Sở cũng khó lòng ngồi yên được mà ăn!
Bình-vương nói:
– Ngũ Viên dẫu trốn, nhưng đi tất
chưa xa, ta nên sai người đuổi theo.
Bình-vương bèn truyền cho quan tả
tư mã là Thẩm Doãn Thu phải đem quân đi duổi bắt cho kỳ được. Ngũ Viên đi đến bờ
sông Đại Giang, liền nghĩ ngay một kế: cởi cái áo bào trắng đang mặc treo lên
cành liễu, lại đem đôi giầy bỏ ở bên bờ, rồi thay đôi giầy cỏ, cứ men bờ sông
mà đi. Thẩm Doãn Thu đuổi theo đến bờ sông, bắt được giầy và áo của Ngũ Viên,
đem về tâu với Bình-vương rằng:
– Không biết Ngũ Viên đi phương
nào mất!
Phí Vô Cực tâu rằng:
– Tôi có một kế làm cho Ngũ Viên
không còn đường nào mà trốn.
Bình-vương hỏi kế gì? Phí Vô Cực
nói:
– Một mặt chiên yết các nơi, bất
cứ người nào, hễ bắt được Ngũ Viên thì thưởng năm vạn thạch thóc, và cho làm
thượng đại phu; còn ai chứa chấp hoặc buông tha Ngũ Viên thì cả nhà đều bị chết
chém; bao nhiêu những người qua lại ở bến sông hoặc cửa ải, đều phải khám xét
thật kỹ. Lại sai sứ đi báo khắp các nước, không nước nào được dùng Ngũ Viên.
Như thế thì Ngũ Viên sẽ không có đường trốn, dẫu chưa bị bắt mà cô thế cũng chẳng
làm gì nổi!
Bình-vương theo kế ấy, sai người
vẽ hình tượng Ngũ Viên để cho đi tầm nã các nơi.
Ngũ Viên men bờ sông đi về phía
đông, định trốn sang nước Ngô, nhưng ngặt vì đường sá xa xôi, chưa thể đi được;
lại nghĩ muốn sang nước Tống để tìm thế tử Kiến, mới theo con đường Thu Dương
mà đi. Đi đến nửa đường, bỗng trông thấy một toán xe ngựa tấp nập, Ngũ Viên ngờ
là có quân Sở đón đường, phải đứng nấp ở trong bụi rậm; sau nhìn kỹ mới biết là
người bạn cũ của mình tên gọi Thân Bao Tư, nhân đi sứ nước ngoài về qua đấy.
Ngũ Viên chạy ra, đứng ở bên xe. Thân Bao Tư vội vàng xuống xe tiếp kiến và hỏi
Ngũ Viên rằng:
– Nhà ngươi vì cớ gì mà lủi thủi
một mình như vậy?
Ngũ Viên đem việc Bình-vương giết
oan cha và anh mình nói cho Thân Bao Tư nghe, vừa nói vừa khóc. Thân Bao Tư
nghe nói, cũng động lòng mà hỏi rằng:
– Bây giờ nhà ngươi định đi đâu?
Ngũ Viên nói:
– Ta nghe nói kẻ thù của cha mẹ
thì không cùng đội trời chung, nay ta định trốn sang nước khác, mượn quân về
đánh Sở, ăn thịt vua Sở, xé thây Phí Vô Cực, cho hả tấm lòng căm tức của ta!
Thân Bao Tư can rằng:
– Vua Sở dẫu vô đạo, nhưng dù sao
cũng là vua, nhà ngươi đã mấy đời ăn lộc vua, nỡ nào lại làm phản?
Ngũ Viên nói:
– Ngày xưa Kiệt và Trụ bị kẻ bề
tôi giết, cũng chỉ vì vô đạo, nay vua Sở dâm loạn, lấy tranh vợ của con, lại
nghe lời du nịnh mà làm hại kẻ trung lương, ta mượn quân về Sinh Đô là để quét
rửa những sự ô uế cho nước Sở đó; huống chi lại là báo thù cho cha và anh ta nữa.
Ta thề rằng nếu ta không diệt Sở thì không còn đứng ở trên đời!
Thân Bao Tư nói:
– Nếu ta bảo nhà ngươi báo thù nước
Sở thì ta là kẻ bất trung, mà bảo nhà ngươi đừng báo thù lại là đẩy nhà ngươi
vào chỗ bất hiếu. Thôi tuỳ ý nhà ngươi, ta cũng vì tình bạn hữu mà không tiết lộ
cho ai biết cả. Nhưng nhà ngươi định diệt Sở thì ta đây quyết cứu Sở, nhà ngươi
định làm cho Sở nguy thì ta đây quyết giữ cho Sở yên!
Ngũ Viên từ biệt Thân Bao Tư rồi
đi ngay. Đến nước Tống tìm thấy thế tử Kiến, hai người cùng ôm nhau mà khóc, rồi
kể những tội ác của Sở Bình-vương. Ngũ Viên nói:
– Thế tử đã vào yết kiến vua Tống
chưa?
Thế tử Kiến nói:
– Nước Tống đang có loạn, nên ta
chưa vào yết kiến được.
Lại nói chuyện vua Tống tên là
Tá, là con một người thiếp yêu của Tống Bình-công. Tống Bình-công nghe lời kẻ
hoạn quan là Y Lệ, giết thế tử Toạ mà lập Tá. Tống Bình-công mất, Tá lên nối
ngôi, tức là Tống Nguyên-công. Tống Nguyên-công người xấu xí, mà tính nhu nhược,
lại không có tín nghĩa, ghét họ thế khanh là họ Hoa cường thịnh, mới cùng với bọn
công tử Dán, công tử Ngự Nhung, Hướng Thắng và Hướng Hành bàn mưu trừ bỏ họ
Hoa. Hướng Thắng nói lộ cho Hướng Ninh (con Hướng Thư) biết. Hướng Ninh quen
thân với Hoa Hướng, Hoa Định và Hoa Hợi, mới báo bọn ấy nổi loạn trước. Hoa Hợi
giả cách cáo ốm. Các quan đều đến hỏi thăm. Hoa Hợi bắt công tử Dán và công tử
Ngự Nhung đem giết đi, giam Hướng Thắng, Hướng Hành vào trong kho. Tống Nguyên-công
nghe tin, vội vàng lên xe thân hành đến nhà họ Hoa xin tha cho Hướng Thắng và
Hướng Hành. Hoa Hợi lại bức hiếp Tống Nguyên-công phải giao thế tử và một người
thân thuộc để làm tin, mới chịu nghe lời.
Tống Nguyên-công nói:
– Ngày xưa nhà Chu và nước Trịnh
cùng trao đổi con tin với nhau, nay ta giao thế tử cho nhà ngươi thì nhà ngươi
cũng phải giao con tin với ta.
Hoa Hợi thương nghị, rồi cho con
mình là Hoa Vô Cảm cùng con Hoa Định là Hoa Khải, con Hướng Ninh là Hướng La
sang ở làm con tin cho Tống Nguyên-công. Tống Nguyên-công cũng cho thế tử Loan
và người em là công tử Địa sang ở làm con tin cho Hoa Hợi. Hoa Hợi mới tha cho
Hướng Thắng và Hướng Hành theo Tống Nguyên-công về triều. Tống Nguyên-công và
phu nhân nhớ thế tử Loan lắm, ngày nào cũng đến nhà Hoa Hợi để thăm thế tử
Loan, ăn cơm xong mới về. Hoa Hợi lấy thế làm bất tiện, toan đưa thế tử Loan
sang trả. Tống Nguyên-công mừng lắm. Hướng Ninh không nghe, bảo Hoa Hợi rằng:
– Ta phải bắt thế tử sang làm tin
vì chúa công không biết thủ tín, nếu ta trả thế tử thì tai vạ tất đến nơi!
Tống Nguyên-công nghe tin Hoa Hợi
không chịu trả thế tử Loan, tức thì nổi giận, sai quan tư mã là Hoa Phí Toại
đem quân đánh Hoa Hợi. Hoa Phí Toại nói:
– Còn thế tử ở đấy, sao chúa công
không nghĩ?
Tống Nguyên-công nói:
– Chết sống đã có mệnh, ta không
thể nào chịu được những điều sĩ nhục này!
Hoa Phí Toại nói:
– Chúa công đã nhất quyết thì có
đâu tôi dám trái ý.
Hoa Phí Toại liền sửa soạn quân
mã để sắp sang đánh Hoa Hợi. Tống Nguyên-công đem những con tin của Hoa Hợi là
Hoa Vô Cảm, Hoa Khải và Hướng La chém tất cả. Con Hoa Phí Toại là Hoa Đăng quen
thân với Hoa Hợi, liền chạy sang báo Hoa Hợi. Hoa Hợi vội vàng sắp quân để
nghênh chiến, nhưng lại bị thua.
Hướng Ninh toan giết thế tử Loan.
Hoa Hợi nói:
– Ta đã đắc tội với vua, nay lại
còn giết thế tử thì ngươi ta tất nghị luận!
Liền đem con tin giao trả, rồi
cùng với bè cánh trốn sang nước Trần. Hoa Phí Toại có ba con: con trưởng là Hoa
Khu, con thứ là Hoa Đa Liêu, còn Hoa Đăng tức là con thứ ba. Hoa Đa Liêu vốn đã
bất hoà với Hoa Khu, nhân cái loạn họ Hoa, mới tâu với Tống Nguyên-công rằng:
– Hoa Khu đồng mưu với Hoa Hợi và
Hoa Định, nay sai người sang nước Trần triệu Hoa Hợi là có ý muốn làm nội ứng.
Tống Nguyên-công nghe lời, sai kẻ
hoạn quan là Nghi Liêu đi bảo Hoa Phí Toại. Hoa Phí Toại nói:
– Việc này tất là tại Hoa Đa Liêu
nói gièm, nhưng chúa công đã nghi Hoa Khu thì xin đuổi đi.
Kẻ gia thần của Hoa Khu là Trương
Mang nghe được tin ấy, sang hỏi Nghi Liêu. Nghi Liêu không chịu nói. Trương
Mang rút gươm mà bảo rằng:
– Nếu nhà ngươi không nói ta đâm
chết.
Nghi Liêu sợ hãi, nói thực tất cả.
Trương Mang về báo với Hoa Khu, xin giết Hoa Đa Liêu. Hoa Khu nói:
– Một mình Hoa Đăng phải đi trốn
đã đau lòng thân phụ lắm rồi, nay anh em ta lại tàn hại lẫn nhau thì còn ra thế
nào, âu là ta chịu nhường mà tránh đi.
Hoa Khu từ biệt với cha là Hoa
Phí Toại. Trương Mang đi theo. Vừa gặp Hoa Phí Toại ở trong triều ra, Đa Liêu cầm
cương, Trương Mang trông thấy, hầm hầm nổi giận, chém chết Hoa Đa Liêu và bức
Hoa Phí Toại cùng chạy ra ở Nam Lý. Lại sai người đến nước Trần triệu bọn Hoa Hợi
về để cùng mưu phản. Tống Nguyên-công sai Nhạc Đại Tâm làm đại tướng đem quân vậy
Nam Lý. Hoa Đăng lại sang mượn quân nước Sở. Sở Bình-vương sai Viễn Việt đem
quân sang giúp họ Hoa. Ngũ Viên nghe tin quân Sở sắp đến, liền cùng thế tử Kiến
chạy sang nước Trịnh. Tấn Khoảnh-công cũng đem quân chư hầu đến giúp Tống Nguyên-công.
Chư hầu không muốn giao chiến với Sở, liền khuyên Tống Nguyên-công cũng rút
quân vây Nam Lý về, để thả cho bọn Hoa Hợi chạy sang nước Sở, rồi hai bên cùng
nhau bãi binh.
Bấy giờ quan thượng khanh nước Trịnh
là công tôn Kiều mới mất, Trịnh Định-công thương tiếc vô cùng, lại vốn biết Ngũ
Viên là anh hùng, và nước Trịnh đang giao hiếu với Tấn mà cừu địch với Sở, cho
nên khi nghe tin thế tử Kiến đến, thì lấy làm mừng lắm, sai người mời vào công
quán, và tiếp đãi rất hậu. Thế tử Kiến và Ngũ Viên mỗi lần vào yết kiến Trịnh Định-công
lại kể lể những nỗi oan tình, vừa nói vừa khóc. Trịnh Định-công nói:
– Nước Trịnh ta nhỏ quân ít,
không làm gì được. Nhà ngươi muốn báo thù thì sao không bàn mưu với nước Tấn.
Thế tử Kiến để Ngũ Viên ở lại nước
Trịnh rồi đi sang nước Tấn vào yết kiến Tấn Khoảnh-công. Tấn Khoảnh-công hỏi hết
đầu đuôi cho ra ở quán xá, rồi họp sáu quan khanh là Nguỵ Thư, Hàn Bất Tin, Triệu
Uông, Phạm Uông, Tuân Di, và Tuân Lịch, để thương nghị.
Bấy giờ sáu quan khanh cầm quyền
chính, không ai chịu kém ai. Tấn Khoảnh-công nhu nhược, việc gì cũng không dám
chuyên quyết, mà trong bọn sáu quan khanh, chỉ có Nguỵ Thư và Hàn Bất Tín có tiếng
là người giỏi, còn bốn người kia toàn là những phường tham quyền cậy thế, nhất
là Tuân Di lại hay ăn lễ lắm. Khi công tôn Kiều còn cầm quyền chính nước Trịnh,
thì các quan khanh đều phải sợ cả; đến khi Du Cát thay công tôn Kiều, Tuân Di
nước Tấn mới đòi ăn lễ của Du Cát. Du Cát không theo, từ bấy giờ Tuân Di ghét
nước Trịnh. Khi vào thương nghị, Tuân Di mật tâu với Tấn Khoảnh-công rằng:
– Nước Trịnh xưa nay vẫn là bất
thường, lúc thì theo Tấn, lúc thì theo Sở. Nay thế tử Kiến ở nước Trịnh, nước
Trịnh tất tin lời. Nếu thế tử Kiến chịu làm nội ứng cho ta, để đem quân sang
đánh Trịnh thì khi đánh được Trịnh, ta sẽ phong cho thế tử Kiến, rồi sau này
tìm cách diệt Sở, chẳng cũng nên lắm ru!
Tấn Khoảnh-công theo kế ấy, liền
sai Tuân Di đến báo thế tử Kiến. Thế tử Kiến nhận lời, rồi từ biệt Tấn Khoảnh-công
trở về nước Trịnh, bàn mưu với Ngũ Viên. Ngũ Viên can rằng:
– Ngày xưa tướng nước Tấn là Kỳ Tử
và Dương Tôn cũng bàn mưu đánh nước Trịnh, đã chẳng được thành sự, lại không có
chỗ mà dung thân. Người ta đang lấy điều trung tín mà đãi mình, sao lại nỡ hại
người ta? Việc ấy tôi thiết tưởng không nên làm.
Thế tử Kiến nói:
– Ta đã nhận lời với vua tôi nước
Tấn rồi!
Ngũ Viên nói:
– Ta không dám làm nội ứng cho Tấn,
cũng chưa có tội gì, nếu lập mưu lẻn đánh nước Trịnh, thì tín nghĩa đều mất cả,
còn ra thế nào! Thế tử làm việc này, tôi chắc rằng tai vạ sắp đến.
Thế tử Kiến tham được nước Trịnh,
không nghe lời can của Ngũ Viên, liền đem gia tài mộ riêng quân vũ dũng , lại
giao kết với các người hầu gần Trịnh Định-công để dùng làm vây cánh. Tấn Khoảnh-công
mật sai người sang hẹn ngày với thế tử Kiến, nhưng chẳng ngờ việc tiết lộ ra,
có người vào đầu thú với Trịnh Định-công. Trịnh Định-công cùng Du Cát thương
nghị, triệu thế tử Kiến vào uống rượu ở trong vườn, nhưng cấm người hầu theo
vào. Khi uống được mấy chén Trịnh Định-công hỏi thế tử Kiến rằng:
– Ta đây đem lòng tử tế mà dung nạp
thế tử, sao thế tử lại lập tâm định hại ta?
Thế tử Kiến nói:
– Tôi có như thế bao giờ?
Trịnh Định-công gọi người đến đối
chứng. Thế tử Kiến không thể chối được nữa. Trịnh Định-công truyền cho lực sĩ bắt
thế tử Kiến mà đem giết đi, lại giết cả những người ăn tiền của thế tử Kiến mà
không đầu thú, cả thảy hơn hai chục người. Ngũ Viên đang ở quán xá, tự nhiên thấy
rùng mình, mới nghĩ thầm rằng:
– Không khéo thì thế tử nguy mất!
Được ít lâu, người theo hầu thế tử
Kiến trốn về quán xá nói việc thế tử Kiến bị giết. Ngũ Viên tức khắc cùng con
thế tử Kiến là công tử Thắng thẳng đường sang nước Ngô, nhưng sợ có quân Trịnh
đuổi theo, vẫn phải ngày núp đêm đi, trăm cay nghìn đắng, không kể hết được!
Đi qua nước Trần, biết không phải
là chỗ dung thân được, lại đi về phía đông trong mấy ngày nữa, sắp đến cửa
Chiêu Quan. Chỗ này hai bên núi cả, ra khỏi cửa quan thì có một con sông thông
sang nước Ngô được. Mới rồi, nhân việc Ngũ Viên đi trốn, Sở Bình-vương sai quan
tư mã là Viễn Việt đóng quân ở đấy. Ngũ Viên đi đến Lịch Dương sơn, chỉ cách
Chiêu Quan độ sáu mươi dặm, ngần ngừ không dám đi vội, còn ẩn núp trong rừng rậm.
Bỗng gặp một ông lão chống gậy đi tắt vào trong rừng. Ông lão ấy trông thấy Ngũ
Viên có vẻ lấy làm lạ, mới đến trước mặt mà vái chào. Ngũ Viên cũng chào lại.
Ông lão nói:
– Nhà ngươi có phải là Ngũ Viên
đó không?
Ngũ Viên giật mình đáp rằng:
– Sao ngài lại hỏi câu ấy?
Ông già nói:
– Lão đây là học trò ông Biển Thước,
tên gọi Đông Cao công. Thuở còn trẻ lấy nghề làm thuốc để đi choi khắp các nước,
nay đã tuổi tác, về nghỉ ở đây. Mấy năm trước, Viễn tướng quân (trỏ Viễn Việt)
có bệnh, mời lão đến thăm; lão trông thấy trên cửa quan có treo bức tranh vẽ
Ngũ Viên, giống nhà ngươi lắm, vậy nên lão hỏi. Nhà ngươi bất tất phải giấu,
lão ở sau núi này, nhà ngươi quá bộ lại chơi, lão sẽ nói chuyện.
Ngũ Viên biết không phải là người
thường, mới cùng công tử Thắng đi theo Đông Cao công. Đi được vài dặm, có một
cái nhà gianh. Đông Cao công vái Ngũ Viên mời vào. Vào đến trong nhà, Ngũ Viên
sụp lạy hai lạy. Đông Cao công vội vàng đáp lễ mà bảo rằng:
– Chỗ này không phải chỗ nhà
ngươi ở được!
Nói đoạn lại đưa Ngũ Viên và công
tử Thắng đi về phía tây, vào cái cửa nhỏ rồi sang qua vườn trúc. Sau vườn có ba
gian nhà đất, cửa bé bằng lỗ chui, cùng nhau cúi đầu mà vào. Trong nhà có bày
bàn ghế, hai bên khoét hai cửa sổ con cho sáng. Đông Cao công nhường cho Ngũ
Viên ngồi trên. Ngũ Viên trỏ vào công tử Thắng mà bảo:
– Có tiểu chủ tôi ở đâu, tôi xin
đứng bên.
Đông Cao công hỏi là ai. Ngũ Viên
nói:
– Đây tức là con thế tử Kiến nước
Sở tên gọi công tử Thắng; còn tôi chính thực là Ngũ Viên, thấy ngài là bực trưởng
giả, vậy không dám giấu, vua Sở giết cha và anh tôi, làm thế nào tôi cũng phải
báo thù, xin ngài chớ tiết lộ.
Đông Cao công mơi mời công tử Thắng
ngồi trên, còn mình và Ngũ Viên mỗi người ngồi một bên. Ngồi xong, Đông Cao
công bảo Ngũ Viên rằng:
– Lão đây chỉ biết cứu người, khi
nào lại có lòng hại người. Dẫu nhà ngươi ở đây một năm, hai năm cũng không ai
biết, nhưng cửa Chiêu Quan canh phòng nghiêm ngặt lắm, nhà ngươi làm thế nào mà
đi qua được, tất phải nghĩ một kế gì cho được vẹn toàn?
Ngũ Viên quỳ xuống mà hỏi rằng:
– Ngài có kế gì cứu thoát tôi được
thì sau này tôi xin hậu tạ.
Đông Cao công nói:
– Chỗ này hẻo lánh, không có ai
biết, nhà ngươi cứ ở đây, rồi lão sẽ nghĩ một kế đưa nhà ngươi và công tử đi
qua cửa quan được.
Ngũ Viên lạy tạ. Đông Cao công
ngày nào cũng làm rượu thết đãi. Đã được bảy ngày mà Đông Cao công không nói gì
đến kế đưa qua cửa quan cả. Ngũ Viên nói với Đông Cao công rằng:
– Trong lòng tôi đang nghĩ việc
báo thù, coi một khắc như một nam, nếu nấn ná mãi ở đây thì khác nào như kẻ chết
rồi. Ngài đã là người cao nghĩa thì cũng nên thương tình đôi chút.
Đông Cao công nói:
– Lão nghĩ đã kỹ lắm, nhưng còn đợi
người nữa đến đây!
Ngũ Viên hồ nghi không quyết. Đêm
ấy nằm không ngủ được, muốn từ giã Đông Cao công để đi thì sợ không qua được cửa
quan, thêm mắc tai vạ, muốn cố ở để đợi thì lại sợ kéo dài ngày tháng, mà cũng
chưa biết là Đông Cao công đợi ai. Nghĩ quanh nghĩ quẩn, băn khoăn đau đớn, như
có người cầm dao đâm vào ruột, đang nằm bỗng đứng dậy chạy xung quanh nhà, trời
đã tảng rạng mà không biết. Đông Cao công đẩy cửa bước vào, trông thấy Ngũ
Viên, kinh hãi mà hỏi rằng:
– Râu tóc nhà ngươi cớ sao mà
khác hẳn đi như vậy! Hay là vì nghĩ quá mà hoá ra như thế?
Ngũ Viên không tin, cầm lấy gương
soi thì ra râu tóc đã trắng xoá cả. Ngũ Viên mới ném cái gương xuống đất, rồi nức
nở mà khóc rằng:
– Hai mái tóc đã bạc cả mà chẳng
làm nên được một việc gì! Trời ơi là trời!
Đông Cao công nói:
– Túc hạ chớ lấy làm buồn, đó là
một điều tốt!
Ngũ Viên lau nước mắt, mà hỏi rằng:
– Sao lại gọi là điều tốt?
Đông Cao công nói:
– Túc hạ tướng mạo khôi ngô, người
ta dễ nhận lắm, nay râu tóc trắng xoá, trông lạ hẳn đi, có thể che được mắt
thiên hạ. Và người bạn già của lão cũng đã tới nơi thì kế lão may ra thành được.
Ngũ Viên hỏi:
– Ngài định làm thế nào?
Đông Cao công nói:
– Người bạn của lão tên gọi Hoàng
Phủ Nột, ở Long Động sơn, cách đây bảy mươi dặm. Người ấy mình cao chín trượng,
trông dáng hơi giống nhà ngươi. Nay bảo hắn giả hình nhà ngươi mà nhà ngươi thì
giả hình làm đứa theo hầu. Khi hắn bị bắt, chúng đang lao nhao rối rít thì nhà
ngươi lẻn qua cửa quan mà đi.
Ngũ Viên nói:
– Cái kế của ngài dẫu khéo, nhưng
để luỵ đến bạn của ngài thì tôi không đành lòng!
Đông Cao công nói:
– Không hại gì cả, lão sẽ có cách
giải cứu. Lão đã bàn kỹ với Hoàng Phủ Nột rồi. Ông ta là người khẳng khái, nhận
lời ngay, bất tất phải lo ngại.
Nói xong, sai người mời Hoàng Phủ
Nột vào để chào Ngũ Viên. Ngũ Viên trông thấy quả nhiên giống mình thật, trong
lòng mừng lắm. Đông Cao công lại dùng một thứ thuốc để Ngũ Viên bôi mặt, làm
cho khác hẳn đi. Khi trời đã nhá nhem tối, Đông Cao công bảo Ngũ Viên cởi áo trắng
đưa cho Hoàng Phủ Nột mặc, còn Ngũ Viên thì mặc áo cánh trắng, giả làm người
theo hầu. Công tử Thắng cũng ăn mặc như đứa trẻ con nhà quê.
Ngũ Viên và công tử Thắng sụp lạy
Đông Cao công bốn lạy và nói rằng:
– Sau này nên việc được thì quyết
xin hậu tạ.
Đông Cao công nói:
– Lão thương nhà ngươi bị oan, vậy
nên muốn giúp, chứ có mong tạ làm gì!
Đêm hôm ấy, Ngũ Viên cùng với
công tử Thắng theo Hoàng Phủ Nột đi sang cửa Chiêu Quan. Mờ mờ sáng hôm sau thì
vừa đi đến nơi. Tướng nước Sở là Viễn Việt truyền cho quân sĩ canh phòng nghiêm
mật. Phàm những người đi qua phải tra xét kỹ lưỡng. Trên cửa quan có treo một bức
tranh Ngũ Viên để đối chứng. Khi Hoàng Phủ Nột đến cửa quan, quân sĩ trông thấy
hình dáng giống người trong tranh lắm, mình mặc áo trắng, mà lại có vẻ sợ hãi,
liền bắt giữ lại rồi phi báo với Viễn Việt. Viễn Việt cưỡi ngựa ra xem, nhác
trông đã bảo “Chính phải rồi!”, bèn truyền cho quân sĩ bắt lấy đem về. Hoàng Phủ
Nột giả cách không biết chuyện gì, chỉ van lạy xin tha.
Bấy giờ quân sĩ và nhân dân ở
xung quanh đấy nghe tin bắt được Ngũ Viên, đều nô nức kéo nhau đến xem. Ngũ
Viên nhân lúc cửa quan mở rộng, cùng công tử Thắng đi lẫn vào trong đám đông
người, ăn mặc đã khác thường, râu tóc lại trắng xoá, vả lại ai cũng tưởng Ngũ
Viên đã bị bắt rồi, nên không tra xét gì nữa, thành ra Ngũ Viên và công tử Thắng
đi thoát qua được. Viễn Việt đem Hoàng Phủ Nột ra tra hỏi, bắt làm tờ cung, để
định giải về Sính Đô. Hoàng Phủ Nột cãi rằng:
– Tôi là ẩn sĩ ở Long Động sơn,
tên gọi Hoàng Phủ Nột có hẹn với một người bạn là Đông Cao công cùng đi chơi,
không dám làm điều gì trái phép cả, sao lại bắt trói thế này?
Viễn Việt nghe tiếng Hoàng Phủ Nột
nói, nghĩ thầm rằng:
– Ngũ Viên mắt sáng như điện, tiếng
vang như chuông, người này hình dáng dẫu giống, nhưng tiếng nói hơi nhỏ, hay vì
cớ dãy gió dầm sương xui thành ra thế chăng?
Viễn Việt còn đang nghi hoặc thì
nghe báo có Đông Cao công vào yết kiến. Viễn Việt truyền đem Hoàng Phủ Nột giải
đi một nơi, rồi mời Đông Cao công vào. Đông Cao công nói với Viễn Việt rằng:
– Chúng tôi nhân đi chơi qua đây,
nghe tin tướng quân đã bắt được kẻ vong thân (viên quan đi trốn) là Ngũ Viên, vậy
tôi xin có lời mừng.
Viễn Việt nói:
– Quân sĩ có bắt được một người mặt
giống Ngũ Viên, nhưng hắn vẫn chưa chịu thú nhận.
Đông Cao công nói:
-Quan tướng quân cùng cha con Ngũ
Viên cùng làm quan một triều, có lẽ nào lại không nhận được rõ mặt?
Viễn Việt nói:
– Ngũ Viên mắt sáng như điện, tiếng
vang như chuông, người này mắt nhỏ mà tiếng bé. Ta ngờ là vì cớ khổ sở lâu ngày
mà thành ra thế.
Đông Cao công nói:
– Tôi cũng có biết mặt Ngũ Viên,
xin cho tôi xem qua, sẽ rõ hư thực.
Viễn Việt truyền giải Hoàng Phủ Nột
đến. Hoàng Phủ Nột trông thấy Đông Cao công, vội vàng gọi mà bảo rằng:
– Ông hẹn tôi cùng đi chơi, sao
không đến mau, để tôi phải chịu nhục thế này!
Đông Cao công nói với Viễn Việt rằng:
-Tướng quân lầm rồi! Đây là người
bạn tôi, tên gọi Hoàng Phủ Nột, có hẹn tôi cùng đi chơi ở đây, chẳng ngờ hắn lại
đi trước. Nếu tướng quân không tin thì tôi đã có tờ quá quan văn điệp (giấy
phép đi qua cửa quan) này, sao tướng quân lại vu cho là vong thân được?
Đông Cao công liền thò tay vào
trong ống áo lấy tờ quá quan văn điệp ra đệ trình Viễn Việt. Viễn Việt có ý thẹn,
đứng dậy cởi trói cho Hoàng Phủ Nột và rót một chén rượu mời uống mà bảo rằng:
– Việc này là bởi quân sĩ bắt lầm,
xin ông chớ lấy làm lạ!
Đông Cao công nói:
– Quan tướng quân giữ phép triều
đình, như thế là phải, có việc gì mà lạ!
Viễn Việt lại đem vàng lụa đưa tặng
Đông Cao công và Hoàng Phủ Nột. Hai người tạ ơn lui ra. Viễn Việt lại truyền lệnh
cho quân sĩ phải canh giữ nghiêm ngặt như trước. Ngũ Viên qua được cửa Chiêu
Quan, trong lòng mừng thầm, thẳng đường đi mau. Đi được mấy dặm, bỗng gặp một
người Ngũ Viên nhìn xem ai thì tức là Tả Thành, hiện đang làm lính canh cửa
Chiêu Quan. Nguyên hắn là người ở đất Thành Phủ, khi trước có theo hầu cha con
Ngũ Viên đi săn bắn, cho nên nhận được rõ mặt Ngũ Viên lắm. Tả Thành trông thấy
Ngũ Viên thì kinh sợ mà hỏi rằng:
– Triều đình đang tầm nã ngài gấp
lắm, sao ngài lại qua được cửa quan?
Ngũ Viên nói:
– Đại vương biết ta có một viên dạ
minh châu, bắt ta phải đem nộp, nay viên hạt châu ấy về tay người khác, ta còn
phải đi tìm. Mới rồi, ta đã bẩm mệnh quan Viễn tướng quân (trỏ Viễn Việt), ngài
cho ta đi.
Tả Thành không tin mà nói rằng:
– Đại vương có truyền lệnh: ai
tha ngài thì cả nhà bị chém. Vậy xin ngài hãy cùng tôi trở về cửa quan, để tôi
hỏi lại chủ tướng, rồi sau sẽ đi.
Ngũ Viên nói:
– Nếu bắt ta trở lại để hỏi chủ
tướng thì ta nói là viên hạt châu ấy đã giao cho nhà ngươi; nhà ngươi khó lòng
mà gỡ tội được. Chi bằng nhà ngươi làm ơn tha cho ta đi, lại thành ra tử tế.
Tả Thành vốn biết Ngũ Viên là bậc
anh hùng, không thể đương nổi, mới tha cho đi. Khi về đến cửa quan, cũng giấu
kín chuyện ấy, không dám nói đến. Ngũ Viên đi mau một quãng nữa, trông thấy
sông Đại Giang, mặt nước mênh mông, làn sóng cuồn cuộn, lại không có thuyền bè
gì cả. Ngũ Viên thấy mặt trước thì bị sông chắn, mặt sau thì bị quân theo,
trong lòng đang bồn chồn hoảng hốt, bỗng thấy có một ông lão đánh cá ngồi chiếc
thuyền nhỏ, bơi ngược dòng nước đi lên. Ngũ Viên mừng mà nói rằng:
– Trời chưa nỡ hại ta!
Nói xong, liền gọi ông lão đánh
cá mà bảo rằng:
– Ông đánh cá ôi, cho tôi sang với!
Ông đánh cá ôi, mau mau cho tôi sang với!
Ông lão đánh cá toan ghé thuyền để
đón, nhưng trông thấy trên bờ có người đi, mới lên tiếng mà hát rằng:
Đã xế ngang đầu….
Đôi ta hẹn nhau
Trong bụi hoa lau…
Ngũ Viên nghe câu hát hiểu ý, liền
men bờ sông đi thẳng xuống bãi, núp vào trong bụi hoa lau. Một lúc lâu, ông lão
đánh cá ghé thuyền vào bờ, không thấy Ngũ Viên đâu cả, lại lên tiếng hát rằng:
Lòng ta thương lo….!
Mặt trăng đã mọc
Sao không sang đò….?
Ngũ Viên và công tử Thắng ở trong
bụi hoa lau chui ra. Ông lão đánh cá vội vàng gọi xuống thuyền. Khi hai người
đã xuống thuyền thì ông lão đánh cá cầm mái chèo từ từ bơi đi. Một lúc sang tới
bờ bên kia, ông lão đánh cá bảo Ngũ Viên rằng:
– Đêm qua nằm mộng thấy tướng
tinh rơi vào trong thuyền. Lão biết là có người lạ qua đây, vậy nên lão đón,
tình cờ lài gặp nhà ngươi. Nhà ngươi quyết không phải là người thường , nên nói
thực cho lão biết.
Ngũ Viên liền nói thực họ tên cho
nghe. Ông lão đánh cá ái ngại mà bảo rằng:
– Lão trông nét mặt nhà ngươi có
ý đói, để lão đi lấy cơm cho ăn. Nhà ngươi hãy đợi đây một chút.
Ông lão đánh cá liền buộc thuyền ở
dưới gốc cây, để đi vào trong xóm lấy cơm cho Ngũ Viên và công tử Thắng ăn. Ông
lão đánh cá đi mãi không thấy trở lại. Ngũ Viên bảo công tử Thắng rằng:
– Lòng người khó dò lắm, chắc đâu
là hắn không gọi người để bắt ta.
Hai người lại cùng nhau núp vào
trong bụi hoa lau. Một lúc lâu, ông lão đánh cá đem cơm canh, cá thịt đến dưới
gốc cây, không trông thấy Ngũ Viên đâu cả mới gọi to lên rằng:
– Người trong bụi lau ơi! Người
trong bụi lau ơi! Lão có định hại nhà ngươi để cầu lợi đâu!
Ngũ Viên ở trong bụi lau thưa mà
đi ra.
Ông lão đánh cá nói:
– Lão biết nhà ngươi đói, đi lấy
cơm cho ăn, sao nhà ngươi lại trốn?
Ngũ Viên nói:
– Tính mệnh tôi bây giờ ở trong
tay cụ. Tôi đang lúc lo nghĩ, trong lòng bàng hoàng, chứ cũng không phải là bỏ
trốn.
Ông lão dọn cơm, Ngũ Viên và công
tử Thắng ăn no. Lúc sắp đi, Ngũ Viên cởi thanh kiếm đưa cho ông lão đánh cá mà
bảo rằng:
– Thanh kiếm này là của tiên
vương ban cho. Ông cha tôi đeo thanh kiếm này đã ba đời rồi. Gía đáng trăm nén
vàng, xin để đền ơn cụ.
Ông lão đánh cá cười mà bảo rằng:
– Lão nghe nói vua Sở có treo giải:
“Ai bắt được Ngũ Biên cho thóc năm vạn thạch và tước thượng đại phu. Như thế
lão còn chẳng tham, lẽ nào lại tham thanh kiếm trăm nén vàng làm gì! Vả thanh
kiếm này cần dùng cho nhà ngươi, chứ lão có dùng chi đến!
Ngũ Viên nói:
– Cụ đã không nhận thanh kiếm,
xin cụ cho biết tên họ để sau này hậu tạ.
Ông lão đánh cá nổi giận nói rằng:
– Lão thấy nhà ngươi bị oan, vậy
nên thương mà giúp nhà ngươi, nhà ngươi lại đem câu hậu tạ mà nhử lão, thế thì
sao gọi là trượng phu được!
Ngũ Viên nói:
– Cụ dẫu không mong báo, nhưng
lòng tôi sao đành!
Ngũ Viên lại cố nài ông lão đánh
cá nói họ tên.
Ông lão đánh cá bảo rằng:
– Ngày nay gặp nhau đây, nhà
ngươi là kẻ mang tội đi trốn, lão là người tha kẻ có tội, còn hỏi họ tên làm
gì! Huống chi lão kiếm ăn ở trên mặt nước, bèo trôi sóng dạt, dẫu hỏi họ tên,
cũng không mấy khi đã gặp. Vạn nhất lòng trời xui khiến, lại được gặp nhau thì
lão gọi nhà ngươi là “người trong bụi lau”, nhà ngươi gọi lão là “ông lão đánh
cá”, thế cũng là đủ!
Ngũ Viên lạy tạ rồi đi. Được mấy
bước, lại quay trở lại bảo ông lão rằng:
– Nếu mặt sau có quân đuổi theo
thì xin cụ đừng tiết lộ gì hết.
Ngũ Viên giả dại hát giữa chợ
Chuyên Chư dâng cá giết Trương Liêu
Ông lão đánh cá đã chở thuyền cho Ngũ Viên qua sông, lại dọn cơm cho Ngũ Viên ăn, mà không chịu nhận thanh kiếm. Ngũ Viên đã đi rồi nhưng lại sợ có quân đuổi theo, lại quay trở lại, dặn ông lão đánh cá chớ tiết lộ cho ai biết. Ông lão đánh cá thở dài mà nói rằng:
– Lão làm ơn cho nhà ngươi mà nhà
ngươi lại nghi lão. Nếu bây giờ có quân đuổi theo, thì dẫu ai chở quân sang
sông, lão cũng bị nghi mà không thể nào giải tỏ được. Thôi thì lão liều chết để
cho nhà ngươi khỏi nghi!
Ông lão bèn cởi dây buộc thuyền
ra, quẳng mái chèo đi, rồi lật thuyền tự đắm mình chết đuối ở giữa dòng sông.
Ngũ Viên thở dài mà nói rằng:
– Tôi gặp ông mà được sống, ông
vì tôi mà phải chết, thật đáng đau lòng!
Ngũ Viên và công tử Thắng đi đến
đất Phiên Dương, đói quá phải xin ăn, gặp một người đàn bà, đang ngồi giặt ở bến
sông Lại Thuỷ, có đem theo một đô cơm. Ngũ Viên dừng chân đứng lại hỏi người ấy
rằng:
– Bà làm ơn cho tôi xin một bữa
cơm có được không?
Người đàn bà cúi đầu đáp lại rằng:
– Thiếp một mình ở nhà với mẹ, đã
ba mươi năm nay chưa lấy chồng, có đâu lại dám đem cơm cho một người khách lạ!
Ngũ Viên nói:
– Tôi gặp bước cùng khốn này, phải
xin một bữa, bà rủ lòng thương mà cho, còn ngại nỗi gì!
Người đàn bà ngẩng đầu trông thấy
Ngũ Viên mặt mũi khôi ngô, liền bảo Ngũ Viên rằng:
– Thiếp trông mặt nhà ngươi không
phải người thường, chẳng lẻ lại vì một điều nhỏ mọn mà để cho nhà ngươi phải
đói khát hay sao?
Liền mở giỏ cơm ra đưa cho Ngũ
Viên, Ngũ Viên và công tử Thắng chỉ ăn một ít mà thôi. Người đàn bà ấy nói:
– Các ngươi còn phải đi xa, sao
không ăn cho no?
Hai người lại ngồi ăn hết cả. Lúc
sắp đi Ngũ Viên bảo người đàn bà rằng:
– Bà đã rủ lòng thương mà cho ăn,
chúng tôi không bao giờ dám quên ơn, xin nói thật, chúng tôi là những người đi
trốn, nếu gặp người khác hỏi, xin bà chớ tiết lộ.
Người đàn bà có ý buồn mà than rằng:
– Mẹ goá con côi, ba mươi năm nay
thiếp vẫn một lòng trinh tiết, nào ngờ vì một giỏ cơm mà thành ra nói chuyện với
đàn ông, còn gì là trinh tiết nữa! Thôi, các người cứ đi!
– Ngũ Viên từ biệt rồi đi. Được mấy
bước, ngoảnh đầu trông lại, thấy người đàn bà ấy đã ôm một viên đá lớn, nhảy xuống
sông tự tử. Ngũ Viên thương xót vô cùng, mới cắn đầu ngón tay, lấy máu viết hai
mươi chữ lên trên một viên đá rằng:
“Nàng ngồi giặt Ta đi xin Ta bụng
đói Nàng chết đuối Sau mười năm nữa Báo ơn nghìn vàng ….” Ngũ Viên viết xong, lại
sợ người khác trông thấy, bèn lấy đất lấp kín lại. Ngũ Viên đi được hơn ba trăm
dặm thì đến đất Ngô Xu, thấy một tráng sĩ trán dô, mắt sâu, dáng dữ như hổ, tiếng
to như sấm, đang đánh nhau với một tráng sĩ khác, ai can cũng không được. Bỗng
có một bà lão ở trong nhà bước ra, gọi mà bảo rằng:
– Chuyên Chư! Không nên thế!
Tráng sĩ có ý sợ hãi, ngừng tay
trở vào trong nhà. Ngũ Viên lấy làm lạ, hỏi người đứng bên rằng:
– Tráng sĩ như thế kia, mà sao lại
sợ một người đàn bà?
Người đứng bên nói:
– Người ấy sức khoẻ địch nổi muôn
người, xưa nay không hề sợ ai cả; lại vốn là một người có nghĩa khí, thấy ai có
sự bất bình, thường liều chết để cứu giúp. Bà lão đứng gọi trong cửa mới rồi, tức
là mẹ người ấy đó. Chuyên Chư, tức là họ tên người ấy đó! Người ấy có hiếu với
mẹ lắm, dẫu đang giận đến đâu mà nghe mẹ bảo, cũng phải thôi ngay.
Ngũ Viên khen rằng:
– Thế mới thật là người giỏi!
Hôm sau, Ngũ Viên tìm vào yết kiến
Chuyên Chư, Chuyên Chư ra nghênh tiếp, hỏi lai lịch của Ngũ Viên. Ngũ Viên nói
thật họ tên, và kể hết những nông nổi mình bị Oan. Chuyên Chư nói:
– Ngài bị cái oan to như thế, sao
không tìm vào yết kiến vua Ngô để mượn quân báo thù?
Ngũ Viên nói:
– Vì chưa có người tiến dẫn.
Chuyên Chư nói:
– Hôm nay ngài hạ cố tới đây, định
bảo tôi điều gì chăng?
Ngũ Viên nói:
– Tôi mến hiếu đức của ngài, muốn
cùng ngài kết giao.
– Chuyên Chư mừng lắm, liền vào
nói với mẹ, rồi cùng Ngũ Viên kết làm anh em. Ngũ Viên hơn Chuyên Chư hai tuổi,
Chuyên Chư gọi bằng anh. Ngũ Viên vào bái yết bà mẹ Chuyên Chư. Chuyên Chư cũng
đưa vợ con ra chào Ngũ Viên, rồi giết gà làm cơm ăn, vui vẻ như anh em ruột.
Chuyên chư lại mời Ngũ Viên và công tử Thắng ngủ đấy một đêm.
Ngày hôm sau, Ngũ Viên bảo Chuyên
Chư rằng:
– Anh xin từ giã em vào kinh
thành để tìm cơ hội phục sự Ngô vương.
Chuyên Chư nói:
– Vua Ngô là người vũ dũng mà
kiêu ngạo, không bằng công tử Quang biết tôn kính kẻ hiền sĩ, sau này có cơ
thành sự được.
Ngũ Viên nói:
– Em đã chỉ bảo, anh xin nhớ lời.
Sau này có lúc dùng đến em, xin em chớ từ chối.
Chuyên Chư nhận lời, Ngũ Viên và
công tử Thắng từ giã rồi đi. Đến đất Mai Lý, thì thầy thành quách nhỏ hẹp, chợ
búa lụp sụp, kẻ đi người lại, chẳng ai quen thuộc với mình. Ngũ Viên mới giấu
công tử Thắng ở ngoại thành, rồi bôi mặt, xoa? tóc giả cách điên cuồng, tay cầm
ống tiêu, đến giữa chợ ngồi thổi, để xin ăn những khách qua đường. Ngũ Viên cầm
ống tiêu thổi một bài như sau này:
Tấm thân lưu lạc đến bao giờ!…
Chưa báo thù được cho cha, dẫu sống cũng dư!
Ngũ Tử Tư! Ngũ Tử Tư!
Một đêm lo nghĩ đầu bạc phơ!…
Ngũ Tử Tư! Hoa lau bụi nọ, bến sông kia!…
Liều chết cố sống, chứ thương thì thương …
Chưa báo thù được cho thân, dẫu sống cũng dư!…”
Người trong chợ không ai hiểu gì
cả.
Lại nói chuyện công tử Quang nước
Ngô là con vua Ngô trước, tên gọi Chư Phàn. Khi Chư Phàn chết, đáng lẽ công tử
Quang được lên nối ngôi, nhưng Chư Phàn vâng lời cha dặn, muốn truyền ngôi cho
các em để theo thứ tự cho đến Quý Trát, bởi vậy Dư Sái và Dư Muội (em Chư Phàn)
được theo thứ tự lên làm vua. Đến khi Dư Muội chết, Quý Trát không chịu nối
ngôi, đáng lẽ lại lập con Chư Phàn mới phải, nhưng Vương Liêu (con Dư Muội) có
lòng tham, tự lập lên làm vua. Công tử Quang không phục, muốn giết Vương Liêu,
ngặt vì bọn triều thần đều bè cánh với Vương Liêu cả, không biết bàn mưu với
ai. Công tử Quang vẫn ẩn nhẫn, tìm một người có tài xem tướng, tên gọi Bị Ly, cử
làm chức giữ chợ, dặn phải chú ý tìm kẻ hào hiệp.
Một hôm, Ngũ Viên thổi ống tiêu
đi qua chợ, Bị Ly thấy tiếng sầu thảm, mới lắng tai nghe, rồi chạy ra xem, thì
kinh hãi mà nói rằng:
– Tôi xem tướng đã nhiều, chưa có
ai lạ như thế!
Bị Ly liền vái chào Ngũ Viên, mời
ngồi lên trên, Ngũ Viên khiêm nhượng không dám ngồi. Bị Ly nói:
-Tôi nghe tin nước Sỏo giết một
người trung thần là Ngũ Xa, con là Ngũ Tử Tư trốn đi nước ngoài, chẳng hay ngài
có phải là Ngũ Tử Tư chăng?
Ngũ Viên chưa kịp trả lời. Bị Ly
lại nói:
– Tôi không phải muốn làm hại
ngài, chỉ vì tôi thấy ngài tướng mạo kỳ dị, tôi muốn giúp ngài được nên phú
quý.
Ngũ Viên mới nói thực tất cả. Người
hầu Bị Ly, nghe được chuyện ấy, vào báo với Vương Liêu. Vương Liêu gọi Bị Ly đến,
bắt phải đưa Ngũ Viên vào yết kiến. Bị Ly một mặt sai người báo riêng cho công
tử Quang biết; còn một mặt bảo Ngũ Viên tắm gội thay áo để vào yết kiến Vương
Liêu. Vương Liêu trông thấy mặt, có ý lấy làm lạ, mới cùng Ngũ Viên nói chuyện,
biết Ngũ Viên là người giỏi, cho làm quan đại phu. Ngày hôm sau, Ngũ Viên vào lạy
tạ, nói đến những sự cha và anh mình bị Oan, nghiến răng nghiến lợi, hai mắt quắc
lên như nẩy lửa. Vương Liêu khen là người khí khái, mới rủ lòng thương nhận
giúp quân cho để báo thù. Công tử Quang vốn biết tiếng Ngũ Viên là người trí
dũng, có ý muốn dùng, nghe nói Ngũ Viên vào yết kiến Vương Liêu, sợ Vương Liêu
dùng mất liền vào nói với Vương Liêu rằng:
– Tôi nghe nói kẻ vong thân nước
Sở là Ngũ Viên chạy sang nước ta, đại vương cho là người thế nào?
Vương Liêu nói:
– Ngũ Viên là người giỏi mà có hiếu.
Công tử Quang nói:
– Đại vương thấy thế nào mà biết
là người giỏi và có hiếu?
Vương Liêu nói:
– Ngũ Viên vũ dũng khác thường,
cùng với ta bàn việc nước, đều hợp lẽ cả, thế tức là giỏi. Ngũ Viên nghĩ đến
tình oan của cha và anh mà không lúc nào dám quên, có nói với ta xin mượn quân
để báo thù, thế tức là hiếu.
– Công tử Quang nói:
– Đại vương có nhận lời cho mượn
quân hay không?
Vương Liêu nói:
– Ta thương tình hắn, đã nhận lời
cho mượn rồi!
Công tử Quang can rằng:
– Xưa nay ông vua một nước lớn,
không vì kẻ thất phu mà cất quân bao giờ! Nước ta đã nhiều phen giao chiến với
Sở mà chưa được lần nào đại thắng; nếu giúp quân cho Ngũ Viên, mà được thì kẻ
kia hả dạ, nếu ta thua thì quân ta thêm nhục, chẳng hoá ra coi một kẻ thất phu
trọng hơn điều quốc sĩ hay sao? Điều ấy quyết không nên!
Vương Liêu lấy làm phải, liền bãi
cái nghị đánh Sở. Ngũ Viên nghe tin công tử Quang can Vương Liêu như vậy, mới
phàn nàn rằng:
– Công tử Quang đang có mưu đồ ở
bên trong, ta chưa có thể nói chuyện bên ngoài được.
– Ngũ Viên bèn xin từ chức đại
phu.
Công tử Quang lại nói với Vương
Liêu rằng:
– Ngũ Viên thấy đại vương không
chịu cất quân mà xin từ chức đại phu, thế là có ý oán giận, đại vương không nên
dùng.
– Vương Liêu không dùng Ngũ Viên
nữa, chỉ cấp cho trăm mẫu ruộng ở Dương Sơn. Ngũ Viên và công tử Thắng cùng
nhau về cầy ruộng ở Dương Sơn. Công tử Quang liền tìm đến yết kiến Ngũ Viên và
giúp cho thóc lúa, lại hỏi Ngũ Viên rằng:
– Nhà ngươi đi lại trong khoảng
nước Ngô và nước Sở, đã từng gặp người nào tài dũng được gần như nhà ngươi
không?
Ngũ Viên nói:
– Tôi thì ra gì mà kể, nhưng tôi
có gặp Chuyên Chư, thật là một dũng sĩ!
Công tử Quang nói:
– Ta muốn nhờ nhà ngươi mà giao kết
với Chuyên Chư có được không?
Ngũ Viên nói:
– Chuyên Chư ở cách đây cũng
không xa lắm, xin cho triệu đến, chỉ ngày mai thì tới nơi.
– Công tử Quang nói:
– Đã là một tráng sĩ thì ta xin đến
tận nơi mà mời, khi nào dám sai người triệu.
– Công tử Quang nói xong, liền
cùng Ngũ Viên đi xe đến nhà Chuyên Chư. Chuyên Chư đang ngồi mài dao ở ngoài phố,
để đi làm thịt lợn cho người ta, trông thấy ngựa xe rộn rịp, đã toan chạy trốn.
Ngũ Viên ngồi trên xe gọi mà bảo
rằng:
– Anh đây mà! Chuyên Chư vội vàng
dừng tay mài dao, chờ xe Ngũ Viên đến. Ngũ Viên xuống xe chào Chuyên Chư, lại
trỏ công tử Quang mà bảo Chuyên chư rằng:
– Vị này là trưởng công tử của nước
Ngô, mến yêu cái tài của em, muốn đến yết kiến, em chớ nên từ chối.
Chuyên Chư nói với công tử Quang
rằng:
– Tôi là một kẻ hèn mọn, có tài
năng gì mà làm phiền lòng công tử.
Chuyên Chư vái chào công tử Quang
mà mời vào. Nhà tranh cửa túp, mọi người phải cúi đầu mới vào được. Công tử
Quang vái chào Chuyên Chư và giãi bày tấm lòng kính mến. Chuyên Chư đáp lễ lại.
Công tử Quang đưa biếu các thứ vàng bạc. Chuyên Chư nhất định từ chối. Ngũ Viên
ở bên cạnh cố khuyên mãi Chuyên Chư mới chịu nhận. Từ bấy giờ Chuyên Chư thành
ra người của công tử Quang. Công tử Quang ngày nào cũng sai người đưa cho gạo
thịt, mỗi tháng lại cấp vải lụa cho, và thỉnh thoảng đến hỏi thăm bà mẹ Chuyên
Chư.
Chuyên Chư cảm phục lòng tử tế ấy,
một hôm hỏi công tử Quang rằng:
– Tôi là một kẻ hèn mọn ở chốn
thôn giã, đội ơn công tử chu cấp, không biết lấy chi báo đáp, công tử có việc
gì sai khiến tôi xin hết sức!
Công tử Quang liền đuổi hết người
xung quanh mà bày tỏ ý muốn giết Vương Liêu.
Chuyên Chư nói:
– Vua trước là Dư Sái mất thì con
là Vương Liêu đáng được nối ngôi, cớ sao công tử lại muốn giết?
Công tử Quang thuật lại di mệnh của
tổ phụ ngày xưa, và bảo Chuyên Chư rằng:
– Quý Trát đã không chịu nhận
ngôi thì nên phải trả ngôi lại cho người con đích trưởng. Người con đích trưởng
tức là ta đây, chứ sao Vương Liêu lại được nối ngôi? Ta đây sức yếu, không làm
gì nổi, muốn nhờ tay nhà ngươi.
Chuyên Chư nói:
– Sao không sai một cận thần,
nhân lúc thong thả, thuật lại những lời di mệnh của vua trước cho Vương Liêu
nghe, khiến Vương Liêu phải thoái vị, mà lại phải dùng đến kiếm khách cho
thương tổn hoà khí trong nhà?
Công tử Quang nói:
– Vương Liêu là người tham mà cậy
khoẻ, chỉ biết điều lợi chứ không biết điều nghĩa, nếu nói với hắn thì lại thêm
hại mình. Ta cùng với Vương Liêu không thể nào cùng đứng được.
Chuyên Chư hăng hái mà đáp rằng:
– Công tử nói phải lắm, nhưng tôi
còn có lão mẫu, chưa dám liều chết.
Công tử Quang nói:
– Ta cũng biết nhà người mẹ già
con thơ, nhưng trừ phi nhà ngươi thì không ai giúp ta được việc ấy. Nếu thành sự
thì mẹ già và con thơ của nhà ngươi tức là mẹ già và con thơ của ta, ta xin hết
lòng cấp dưỡng, không dám phụ ơn nhà ngươi.
Chuyên Chư ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi
đáp lại rằng:
– Muốn làm việc gì tất phải nghĩ
cho kỹ thì mới vẹn toàn. Con cá ở dưới vực sâu mà vào trong tay người đánh cá
là vì có cái mồi thơm. Nay muốn đâm chết Vương Liêu, tất phải tìm xem Vuương
Liêu thích cái gì để mà tiến dâng thi mới tiến gần được. Chẳng hay Vương Liêu
thích cái gì?
Công tử Quang nói:
– Vương Liêu chỉ thích ăn.
Chuyên Chư nói:
– Trong các món ăn thì món nào
Vương Liêu thích hơn cá?
Công tử Quang nói:
– Thích nhất là món chả cá.
Chuyên Chư nói:
-Như vậy thì tôi hãy xin từ giã
ngài một độ.
Công tử Quang nói:
– Nhà ngươi định đi đâu?
Chuyên Chư nói:
– Tôi xin đi học làm món ăn, mới
có cớ đến gần Vương Liêu được.
Chuyên Chư bèn đi sang Thái Hồ để
học làm chả cá, trong ba tháng. Khi Chuyên Chư đã học được thành nghề rồi, lại
về yết kiến công tử Quang. Công tử Quang giấu kín Chuyên Chư ở trong phủ và gọi
Ngũ Viên đến mà bảo rằng:
– Chuyên Chư đã học được nghề chả
cá rồi, làm thế nào mà đến gần Vương Liêu được?
Ngũ Viên nói:
– Ta không trị nổi được chim hồng
và chim hộc là vì nó có lông cánh, vậy muốn trị chim hồng và chim hộc thì tất
phải cắt lông cánh nó trước. Tôi nghe nói con Vương Liêu là công tử Khánh Ky
mình cứng như sắt, sức địch muôn người, tay vồ được giống chim đang bay, chân
đá được giống thú rất mạnh. Vương Liêu có Khánh Ky lúc nào cũng đi liền bên cạnh,
ta khó lòng làm gì nổi. Huống chi lại còn hai em là Yếm Dư và Chúc Dung, đều là
người tài giỏi, lại đang giữ binh quyền, vậy bây giờ muốn giết Vương Liêu, ắt
phải trừ bỏ ba người ấy trước. Nếu không trừ bộ ba người ấy thì dẫu may ra có
thành sự nữa, công tử cũng không ngồi yên mà nối ngôi được.
Công tử Quang ngẫm nghĩ hồi lâu,
rồi bảo Ngũ Viên rằng:
– Nhà ngươi nghĩ phải lắm! Thôi
thì nhà ngươi hãy về làm ruộng; đợi có dịp nào, ta sẽ thương nghị.
Ngũ Viên cáo từ lui ra.
Năm ấy vua Cảnh-vương nhà Chu mất.
Người đích tử đã được lập làm thái tử tên là Mãnh, người thứ tử tên là Mang,
còn người thứ tử mà lớn tuổi hơn cả (nghĩa là con bà thứ mà lớn tuổi), tên là
Triều. Chu Cảnh-vương yêu vương tử Triều lắm, dặn quan đại phu là Tân Mạnh, muốn
cho vương tử Triều làm thái tử, nhưng chưa kịp lập thì mất. Lưu Quyền vốn có hiềm
khích với Tân Mạnh, cùng Đan Kỳ giết Tân Mạnh, rồi lập thái tử Mãnh, tức là Chu
Diệu-vương, Doãn Cố, Cam Du và Thiệu Hoán đều là vây cánh vương tử Triều, mới cùng
nhau họp quân, sai quan thượng tướng là Nam Cung Cực đến đánh Lưu Quyền. Lưu
Quyền bỏ chạy sang đất Dương. Đan Kỳ rước thái tử Mãnh ra đóng ở đất Hoàng.
Vương tử Triều sai Tầm Miện đem quân sang đánh. Tầm Miện bị thua mà chết.
Tấn Khoảnh-công nghe nói nhà Chu
biến loạn, sai quan đại phu là Tịch Đàm và Tuân Lịch đem quân sang lập thái tử
Mãnh, đóng ở Vương Thành. Doãn Cố cũng lập vương tử Triều ở đất Kính, chưa được
bao lâu, thái tử Mãnh ốm chết. Đan Kỳ và Lưu Quyền lại lập người em là vương tử
Mang, tức là Chu Kinh-vương, đóng ở Địch Toàn. Người nhà Chu gọi vương tử Mang
là Đông-vương, gọi vương tử Triều là Tây-vương. Hai bên cùng chống cự nhau, đã
sáu năm chưa thôi. Thiệu Hoán chết. Nam Cung Cực cũng bị sét đánh mà chết. Quan
đại phu nước Tấn là Tuân Lịch lại đem quân chư hầu sang giúp Chu Kinh-vương,
đưa về Thành Chu bắt được Doãn Cố, vương tử Triều vỡ quân. Con Thiệu Hoán là
Thiệu Ngân lại đem quân đánh vương tử Triều. Vương tử Triều bỏ chạy sang nước Sở.
Chư hầu đắp thành hộ cho nhà Chu, rồi rút quân về. Chu Kinh-vương cho Thiệu
Ngân là người phản phúc, bắt đem ra cùng chém với Doãn Cố. Người nhà Chu đều lấy
làm vui mừng.
Bấy giờ người mẹ thế tử Kiến nước
Sở đang ở đất Vấn Dương. Phí Vô Cực sợ bà này làm nội ứng cho Ngũ Viên, mới xui
Sở Bình-vương giết đi. Người mẹ thế tử Kiến nghe tin, mật sai người sang cầu cứu
với vua Ngô là Vương Liêu. Vương Liêu sai công tử Quang đem quân sang đất Vấn
Dương để đem mẹ thế tử Kiến về nước Ngô. Công tử Quang đi đến đất Chung Ly, tướng
nước Sở là Viễn Việt đem quân ra chống cự, và sai người phi báo cho Sở
Bình-vương biết. Sở Bình-vương cho quan lệnh doãn là Dương Mang làm đại tướng,
lại đòi lấy quân sáu nước là Trần, Sái, Hồ, Thẩm, Đốn và Hứa. Vua Hồ tên là
Không, vua Thẩm tên là Bính, thân hành đem quân đến. Trần sai quan đại phu là Hạ
Khiết đến. Nước Đốn, nước Hứa, nước Sái cũng sai quan đại phu đến. Quân Hồ, Thẩm,
Trần đóng ở phía hữu. Quân Đốn, Hứa, Sái đóng ở phía tả. Đại binh của Viễn Việt
đóng ở giữa. Công tử Quang nghe tin, sai người phi báo với Vương Liêu. Vương
Liêu cùng công tử Yểm Dư (em Vương Liêu) đem đại binh đến đóng ở đất Kê Phủ (đất
nước Sở).
Vừa lúc ấy, quan lệnh doãn nước Sở
là Dương Mang ngộ cảm mà chết, Viễn Việt thay làm đại tướng. Công tử Quang mới
nói với Vương Liêu rằng:
– Nước Sở mất quan đại tướng thì
quân sĩ đã ngã lòng rồi! Chư hầu theo Sở dẫu nhiều, nhưng đều là sợ thế mà
theo, chứ không phải thực lòng. Vua Hồ và vua Thẩm không quen việc chiến tranh;
Hạ Khiết nước Trần là người vũ dũng mà không có mưu trí; còn nước Đốn, nước Hứa
và nước Sái xưa nay vẫn bị nước Sở ức hiếp, trong lòng không phục, khi nào chịu
ra sức. Nay ta đem quân đánh Hồ, Thẩm, và Trần thì mấy nước ấy phải vỡ chạy trước;
mấy nước ấy đã vỡ chạy thì đại binh nước Sở tất khiếp sợ mà phải thua, xin đại
vương cho quân già yếu ra trước để dụ Sở, còn quân cường tráng thì phục ở phía
sau.
Vương Liêu theo kế ấy, chia quân
làm ba đạo: Công tử Quang ở phía hữu, Công tử Yểm Dư ở phía tả,c còn mình đem đại
binh đi ở giữa. Trước hết hãy sai ba nghìn tội nhân xông vào hữu dinh quân Sở.
Bấy giờ đang ngày hối (ngày cuối cùng trong một tháng, hôm ấy trời tối, không
có trăng) tháng bảy mùa thu. Theo binh pháp thì phải kiêng ngày hối, không hành
quân nên vua Hồ, Thẩm và Hạ Khiết nước Trần đều không phòng bị, bỗng nghe quân
Ngô kéo đến, liền mở cửa dinh ra đánh. Bọn tội nhân nước Ngô không có kỷ luật
nào cả, đứa chạy đứa đứng. Quân Sở tranh nhau đuổi bắt, cũng thành ra chẳng có
hàng ngũ nào. Công tử Quang ở phía tả thừa cơ tiến đánh, đâm chết Hạ Khiết ở dưới
chân ngựa. Vua Hồ và vua Thẩm sợ hãi bỏ chạy, cũng bị công tử Yểm Dư bắt được.
Quân Sở chết hại rất nhiều, còn giáp sĩ bị bắt sống hơn tám trăm người.
Công tử Quang truyền đem vua Hồ
và Thẩm ra chém, rồi tha bọn giáp sĩ về, để báo cho tư dinh quân Sở biết rằng
vua Hồ, vua Thẩm và Hạ Khiết nước Trần đều bị giết cả rồi. Quân nước Đốn, nước
Hứa và nước Sái sợ hãi, cùng nhau chạy trốn. Vương Liêu và hai đạo quân tả hữu
cùng tiến vào. Đại tướng nước Sở là Viễn Việt chưa kịp bày trận, quân sĩ đã trốn
mất quá nửa. Quân Ngô ở phía sau xông đến giết được nhiều lắm, người chết như rạ,
máu chảy thành suối. Viễn Việt thua to, chạy thẳng một mạch năm mươi dặm đường.
Công tử Quang vào đất Vấn Dương, đem mẹ thế tử Kiến về nước Ngô.
Viễn Việt nghe tin, lại đem quân
sang Vấn Dương thì quân Ngô đã rút về từ bao giờ rồi. Viễn Việt biết cơ không
đuổi theo được, mới thở dài mà nói rằng:
– Ta phụng mệnh vua Sở ra giữ cửa
Chiêu Quan mà để cho Ngũ Viên trốn thoát được, thế là vô công; nay đã làm vỡ
quân bảy nước, lại để mất mẹ thế tử Kiến thế là có hai tội. Đã vô công mà lại có
hai tội thì còn mặt mũi nào trông thấy vua Sở nữa.
Nói xong, bèn thắt cổ mà chết. Sở
Bình-vương nghe tin quân Ngô mạnh thế, trong lòng lo sợ mới cho Nang Ngõa thay
Dương Mang làm lệnh doãn. Nang Ngõa hiến kế rằng Sính Thành thấp hẹp, lại mở đất
ở phía đông, đắp thêm một cái thành lớn, cao hơn thành cũ bảy thước và rộng
thêm hơn hai mươi dặm, gọi tên thành cũ là Kỳ Nam thành, vì ở phía nam núi Kỳ
Sơn; còn thành mới thì gọi tên là Sính Thành, rời đô sang đóng ở đấy, lại đắp một
thành về phía Tây để làm cánh tay hữu, gọi tên là Mạch Thành. Ba thành theo
hình chữ “phẩm” liên lạc với nhau. Người nước Sở ai cũng khen công của Nang Ngõa.
Thẩm Doãn Thư cười mà nói rằng:
– Tử Thường (tên tự của Nang Ngõa)
không nghĩ gì đến đức chính mà chỉ chăm việc đáp thành. Nếu quân Ngô kéo đến
thì dẫu mười Sính Thành cũng không giữ nổi!
Nang Ngõa muốn báo thù trận Kê Phủ,
mới hết sức sửa sang thuyền bè và luyện tập quân thuỷ. Trong ba tháng, quân thuỷ
đã thành thuộc rồi. Nang Ngõa theo sông Đại Giang tiến sang địa giới nước Ngô.
Công tử Quang nước Ngô nghe tin
quân Sở kéo đến, vội vàng ra nghênh chiến thì Nang Ngõa đã rút quân về rồi.
Công tử Quang nói:
– Quân Sở vừa mới rút quân về, tất
không phòng bị.
Công tử Quang lẻn sang đánh ấp Sảo;
diệt được ấp Sào, lại diệt cả ấp Chung Ly nữa, rồi rút quân về. Sở Bình-vương
nghe tin hai ấp bị diệt, thì hoảng hốt sợ hãi, thành ra ốm nặng, mới triệu Nang
Ngõa và công tử Thân (tên tự là Tử Tây, là thứ trưởng tử của Sở Bình-vương) đến
cạnh giường nằm mà đem thế tử Trân uỷ thác cho hai người ấy. Dặn xong thì mất.
Nang Ngõa bàn riêng với Bá Khước Uyên rằng:
– Thế tử Trân hãy còn nhỏ. Và người
mẹ đáng lẽ là vợ thế tử Kiến, không phải chính hậu. Tử Tây (tức công tử Thân)
đã lớn tuổi mà lại có đức hạnh, nếu lập Tử Tây thì nước Sở mới có cơ cường thịnh
được!
Bá Khước Uyển đem lời nói Nang Ngõa
kể với công tử Thân. Công tử Thân nổi giận mà nói rằng:
– Nếu bỏ thế tử Trân, tức là tỏ sự
xấu của đại vương ta trước. Mẹ thế tử Trân là con gái nước Tần, đã được lập làm
phu nhân, nếu bỏ thế tử Trân thì mất lòng một nước lớn ở ngoài. Thế là trong
ngoài cùng oán cả, quan lệnh doãn muốn làm lợi cho ta mà lại gây vạ cho ta đấy!
Nếu còn nói đến việc ấy nữa thì tất phải giết chết Nang Ngõa mới được!
Nang Ngõa sợ, mới lập thế tử Trân
lên nối ngôi, cải tên là Chẩn, tức là Sở Chiêu-vương. Nang Ngõa vẫn làm lệnh
doãn. Bá Khước Uyển làm tả doãn. Yên Tương Sư làm hữu doãn. Phí Vô Cực vì cái
ơn trước làm sư phó nay cũng được cầm quyền chính. Trịnh Định-công nghe nói người
nước Ngô đem mẹ thế tử Kiến về, mới sai người đem châu ngọc sang tiến công, để
giải cái thù khi trước giết thế tử Kiến. Mẹ thế tử Kiến đến nước Ngô. Vương
Liêu cho ở ngoài Tây Môn, sai công tử Thắng (con thế tử Kiến) phụng dưỡng. Ngũ
Viên nghe tin Sở Bình-vương chết, vật mình lăn khóc cả ngày không thôi. Công tử
Quang lấy làm lạ mà hỏi rằng:
– Vua Sở là kẻ thù của nhà ngươi,
nhà ngươi nghe tin ấy, nên lấy làm mừng, cớ sao lại khóc?
Ngũ Viên nói:
– Tôi khóc không phải là thương
vua Sở, tôi tiếc rằng không được bêu đầu hắn để cho hả tấm lòng căm tức của
tôi!
Ngũ Viên nghĩ giận về việc không
được bêu đầu Sở Bình-vương, suốt ba đêm không ngủ, mới tìm được một kế, liền
nói với công tử Quang rằng:
– Công tử muốn khởi sự, còn chưa
được dịp hay sao / Công tử Quang nói:
– Ta nghĩ ngày nghĩ đêm mà chưa
có dịp nào.
Ngũ Viên nói:
– Nay vua Sở mới chết, trong triều
nước Sở không có ai là người giỏi cả, sao công tử không tâu với Vương Liêu đem
quân sang đánh.
Công tử Quang nói:
– Nếu Vương Liêu lại sai ta đi
thì biết làm thế nào?
Ngũ Viên nói:
– Công tử giả cách ngã xe đau
chân thì tất Vương Liêu không khi nào sai công tử. Bấy giờ công tử sẽ tiến dẫn
công tử Yểm Dư và công tử Chúc Dung làm tướng; lại sai công tử Khánh Ky đi mượn
quân nước Trịnh và nước Vệ để cùng đánh Sở. Thế là một lượt trừ được ba kẻ vây
cánh của Vương Liêu. Vương Liêu sắp đến ngày tận số đó!
Công tử Quang lại hỏi rằng:
– Ba đứa ấy dẫu đi rồi nhưng còn Quý
Trát ở trong triều. Quý Trát thấy ta cướp ngôi, khi nào chịu để yên?
Ngũ Viên nói:
– Nay Ngô và Tấn đang giao hiếu với
nhau, công tử tâu với Vương Liêu sai Quý Trát sang sứ nước Tấn, để dò xét tình
hình Trung nguyên. Vương Liêu là người kiêu ngạo, mà không có mưu trí, tất
nhiên nghe lời. Khi Quý Trát đi sứ về thì chuyện đã xong rồi, còn nói gì được nữa!
Công tử Quang sụp lạy Ngũ Viên mà
nói rằng:
– Ta được nhà ngươi thật là trời
giúp!
Ngày hôm sau, công tử Quang vào
tâu với Vương Liêu. Vương Liêu hớn hở theo lời. Công tử Quang nói:
– Việc này đáng lẽ tôi xin ra sức,
nhưng ngặt vì ngã xe thành ra đau chân, đang phải chữa thuốc không thể đi được.
Vương Liêu nói:
– Thế thì ta biết sai ai bây giờ?
Công tử Quang nói:
– Việc này là một việc lớn, không
phải người rất thân thì không thể uỷ thác được. Xin đại vương phải chọn cho kỹ.
Vương Liêu nói:
– Yểm Dư và Chúc Dung có nên
không?
Công tử Quang nói:
– Tất phải sai những người ấy mới
được việc!
Công tử Quang lại nói:
– Xưa nay Tấn và Sở tranh nhau
làm bá chủ, nước Ngô ta vẫn là thuộc quốc, bây giờ Tấn đã suy rồi, mà Sở lại
thua luôn, chư hầu đều có lòng ly tán, chưa biết về tay ai. Ta nên sai công tử
Khánh Ky sang mượn quân nước Trịnh và nước Vệ, để cùng đánh Sở, rồi lại sai Quý
Trát sang sứ nước Tấn để dò xét xem tình hình Trung nguyên thế nào, còn đại
vương thì luyện tập quân thuỷ, phòng khi dùng đến, chắc có thể tranh được nghiệp
bá.
Vương Liêu mừng lắm, sai Yểm Dư
và Chúc Dung đem quân đi đánh Sở, và sai Quý Trát sang sứ nước Tấn. Còn công tử
Khánh Ky thì không sai đi. Yểm Dư và Chúc Dung đem hai vạn quân sang vây ấp Tiềm
của Sở. Quan trấn thủ ở ấp Tiềm giữ thế thủ không ra đánh, rồi sai người cấp
báo với Sở Chiêu-vương. Bấy giờ, Sở Chiêu-vương mới lên nối ngôi, hãy còn ít tuổi,
nghe tin quân Ngô vây Ấp Tiềm thì hoảng hốt sợ hãi. Công tử Thân nói với Sở
Chiêu-vương rằng:
– Người nước Ngô nhân khi ta có
tang mà đem quân sang đánh, ta nên cho những quân già yếu ra nghênh chiến, để
cho hắn khinh thường mà tiến vào, rồi sai quan tả tư mã là Thẩm Doãn Thư đem một
vạn quân bộ sang cứu Ấp Tiềm, lại sai quan tả doãn là Bá Khước Uyển đem một vạn
quân thuỷ đi chận phía sau quân Ngô. Như thế thì ta có thể phá vỡ quân Ngô được.
Sở Chiêu-vương mừng lắm, liền sai
Thẩm Doãn Thư và Bá Khước Uyển đem quân đi. Yểm Dư và Chúc Dung đang vây Ấp Tiềm,
nghe tin có quân Sở đến cứu, giật mình kinh sợ, chia quân làm hai đạo, một nửa
vây thành, còn một nửa ra nghênh chiến. Thẩm Doãn Thư không đánh, sai quân đem
đá lấp hết các đường đi để cho quân Ngô không có lối mà kiếm củi và lấy nước.
Bá Khước Uyển lại đem quân thuỷ chẹn các cửa sông. Quân Ngô tiến thoái đều khó
cả, mới phải đóng làm hai đồn, để nương tựa nhau mà ra sức chống giữ với quân Sở,
rồi sai người về cáo cấp cùng Vương Liêu. Công tử Quang nói với Vương Liêu rằng:
– Khi trước tôi muốn mượn quân Trịnh
và Vệ chính vì cớ ấy. Bây giờ sai ngay công tử Khánh Ky đi, tưởng cũng chưa chậm.
Vương Liêu sai Khánh Ky đi mượn
quân Trịnh.
Ngũ Viên bảo công tử Quang rằng:
– Công tử có thanh kiếm truỷ thủ
đó không? Muốn dùng Chuyên Chư chính là ở lúc này.
Công tử Quang nói:
– Phải đó! Ngày xưa vua nước Việt
là Doãn Thường, sai Âu Giả Tử làm năm thanh kiếm, đem ba thanh sang dâng nước
Ngô ta, một là “Trạm Lư”, hai là “Bàn Sính”, ba là “Ngư Trường”, “Ngư Trường” tức
là thanh kiếm truỷ thủ vậy. Hình nó dầu bé nhỏ mà sắc lắm, chém vào sắt như
chém vào bùn. Tiên vương ban cho ta, ta vẫn lấy làm quý báu, giấu ở đầu giường
để phòng khi nguy cấp. Thanh kiếm ấy mấy đêm nay cứ sáng rực lên, ý chừng thần
vật ấy muốn uống máu Vương Liêu đó chăng?
Công tử Quang đem thanh kiếm truỷ
thủ ra cho Ngũ Viên xem. Ngũ Viên ngợi khen một lúc, rồi gọi Chuyên Chư đến,
đưa cho xem. Chuyên Chư không đợi phải bảo, đã hiểu ý ngay, khẳng khái mà đáp rằng:
– Vương Liêu ngày nay thật là nên
giết. Hai em và công tử đều đi xa cả, kẻ kia thế cô, làm gì ta nổi! Nhưng việc
liều chết này tôi không dám tự chủ, xin về nói lại với mẹ già tôi đã, rồi mới
dám vâng lệnh.
Chuyên Chư về nhà, trông thấy mẹ,
chưa nói đã khóc. Người mẹ nói:
– Chuyên Chư, sao con buồn rầu
như vậy? Hay là công tử định dùng con đó chăng? Cả nhà ta chịu ơn công tử đã
nhiều, chưa biết lấy gì báo đáp. Trung hiếu sao cho trọn cả đôi đường. Con cứ
đi đi, chớ có vì mẹ mà ngần ngại. Con giúp nên việc cho công tử, để danh tiếng
đời sau, mẹ đây dẫu chết cũng vui lòng!
Chuyên Chư cứ quyến luyến mãi,
không nỡ bỏ đi. Người mẹ nói:
– Mẹ muốn uống một hớp nước suối
thật trong, con hãy đi lấy cho mẹ uống.
Chuyên Chư vội vàng xuống suối lấy
nước. Khi trở về nhà không trông thấy mẹ đâu cả, mới hỏi vợ.
Vợ nói:
– Mới rồi, tôi thấy mẹ kêu mệt,
vào buồng nằm nghỉ, dặn tôi chớ có làm náo động, rồi đóng chặt cửa lại.
Chuyên Chư trong lòng nghi ngờ, mới
mở cửa sổ dòm vào thì thấy mẹ đã thắt cổ chết. Chuyên Chư vật mình lăn khóc,
đem thi thể chôn ở ngoài cửa Tây. Chôn xong, bảo vợ rằng:
– Ta chịu ơn công tử nhiều lắm, vẫn
muốn liều chết để báo đáp, chỉ vì còn mẹ già, cho nên chưa dám. Nay mẹ đã mất rồi,
ta phải đi báo ơn công tử. Sau khi ta chết thì mẹ con nhà mày, thế nào công tử
cũng cấp dưỡng cho. Chớ có ngăn trở việc ta!
Chuyên Chư vào yết kiến công tử
Quang, thuật lại chuyện mẹ tự tử cho công tử nghe. Công tử Quang có ý ngậm
ngùi, rồi tìm lời khuyên giải mãi; sau mới bàn đến việc giết Vương Liêu. Chuyên
Chư nói:
– Sau công tử không bày một tiệc
rượu để mời Vương Liêu. Nếu Vương Liêu chịu đến thì việc này mười phần đã xong
được đến tám chín.
Công tử Quang liền vào yết kiến
Vương Liêu và nói rằng:
– Tôi có một tên nhà bếp ở Thái Hồ
về, mới học được nghề làm chả cả khéo lắm, thật là một món ăn khác thường! Xin
mời đại vương quá bộ đến nhà tôi nếm món ăn ấy.
Vương Liêu xưa nay vốn thích chả
cá, nên vui lòng nhận lời, hẹn đến ngày hôm sau thì sang chơi. Đêm hôm ấy, công
tử Quang sai giáp sĩ phục sẵn ở trong phòng kín, lại sai Ngũ Viên đem một trăm
tử sĩ tiếp ứng mặt ngoài. Ngày hôm sau, công tử Quang lại sang mời Vương Liêu.
Vương Liêu vào nói với mẹ rằng:
– Công tử mời con sang uống rượu,
hoặc giả có mưu gì chăng?
Người mẹ nói:
– Công tử Quang vẫn có lòng uất ức,
lần này mời con, tất có ý khác, sao con không từ chối đi?
Vương Liêu nói:
– Từ chối thì sinh ra hiềm khích,
chi bằng ta phòng giữ cho nghiêm mật, chắc y không làm gì nổi.
Vương Liêu mặc mấy lần áo giáp, rồi
truyền cho quân sĩ sắp hàng từ cửa cung cho đến nhà công tử Quang. Vương Liêu
đi đến cửa nhà công tử Quang. Công tử Quang ra đón vào. Vương Liêu ngồi chiếu
giữa. Công tử Quang đứng hầu bên cạnh. Những người thân tín của Vương Liêu đứng
đầy cả ở trong nhà và ngoài thềm. Hơn trăm lực sĩ đứng xung quanh Vương Liêu, đều
cầm giáo dài và gươm sắc. Nhà bếp dâng món ăn đi qua dưới sân, đều phải cởi áo,
khám xét thật kỹ, rồi mới cho quỳ gối xuống đất mà dâng lên; lại còn hơn mười lực
sĩ tuốt gươm đi kèm hai bên cạnh. Nhà bếp đặt món ăn lên bàn, không dám ngẩng
trông, lại quỳ gối mà lui xuống. Công tử Quang rót chén rượu kính mời Vương
Liêu, giả cách khuỵu chân, làm ra bộ đau đớn mà tâu với Vương Liêu rằng:
-Chân tôi, chỗ đau vẫn chưa khỏi,
mỗi khi phát đau, buốt đến tận xương, phải dùng lụa buộc chặt lại thì mới đỡ.
Xin đại vương miễn thứ cho tôi được ra ngoài buộc chân, rồi lại vào ngay.
Vương Liêu nói:
– Được! Vương huynh cứ đi!
Công tử Quang khập khiễng bước dần
từng bước, đi vào nhà trong. Được một lúc Chuyên Chư dâng món chả cá cũng bị
khám xét như mấy người trước, nhưng không ai ngờ lưỡi gươm truỷ thủ thì đã được
giấu ở trong bụng con cá. Lực sĩ đi kèm hai bên. Chuyên Chư quỳ gối đi đến trước
mặt Vương Liêu, lấy tay xé con cá, bỗng rút lưỡi gươm ra, đâm thẳng vào bụng
Vương Liêu. Sức đâm mạnh quá suốt ba lần áo giáp, lòi lưỡi gươm ra phía sau
lưng. Vương Liêu kêu một tiếng thật to, rồi chết ngay lập tức. Lực sĩ xúm lại,
đâm Chuyên Chư nát nhừ người ra. Công tử Quang ở trong nhà biết là Vương Liêu
chết rồi, mới đem quân ra giết hết những người tâm phúc của Vương Liêu. Quân
theo hầu Vương Liêu bỏ chạy tán loạn cả. Bao nhiêu thị vệ ở mặt ngoài, bị Ngũ
Viên đuổi đánh cả.
Công tử Quang lên xe vào triều
tuyên bố tội Vương Liêu bội ước tự lập, rồi quyền tạm nối ngôi, để đợi Quý Trát
về nước; lại truyền đem thi thể Vương Liêu ra an táng theo như lễ thường, và hậu
táng cho Chuyên Chư, phong con là Chuyên Nghị làm thượng khanh, phong Ngũ Viên
làm chức hành nhân, đãi như lễ khách mà không bắt làm tôi; chức thị lại là Bị
Ly có cái công tiến thóc trong kho cấp phát cho thăng làm đại phu; đem tiền
thóc trong kho cấp phát cho những người cùng khổ, người trong nước ai cũng bằng
lòng.
Công tử Quang còn e có công tử
Khánh Ky ở ngoài, sai người dò thám xem lúc nào về nước thì báo trước; thám tử
về báo công tử Khánh Ky đã về gần đến kinh thành, công tử Quang bèn đem đại
binh đóng ở trên sông Giang để đón đường. Khánh Ky nghe tin, tức khắc bỏ trốn.
Thám tử về báo, công tử Quang phi ngựa đuổi theo. Khánh Ky bỏ xe mà chạy đất,
chạy nhanh như bay, ngựa đuổi theo không kịp. Công tử Quang truyền cho quân sĩ
giương cung ra bắn. Khánh Ky giơ tay bắt lấy mũi tên, không phát nào vào mình cả.
Công tử Quang biết chừng không thể bắn được, mới truyền cho quân trấn thủ ở
phía Tây phòng giữ nghiêm mật, rồi rút quân về.
Mấy hôm sau Quý Trát ở nước Tấn về
nước Ngô, biết tin Vương Liêu đã chết, liền đi thẳng ra mộ Vương Liêu khóc mà để
tang. Công tử Quang thân hành ra tận mộ, xin nhường ngôi vua cho Quý Trát và
nói rằng:
– Đó là theo ý tổ phụ và các thúc
phụ ta ngày xưa đó!
Quý Trát nói:
– Muốn thế nào thì được thế, còn
phải nhường làm gì! Ai giữ được cũng thế, yên được nhân dân thì tức là vua ta
đó!
Công tử Quang không thể nài ép được,
mới lên nối ngôi vua, xưng hiệu là Hạp Lư. Quý Trát lấy việc tranh nhau làm xấu
hổ, cáo lão về ở đất Diên Lăng, suốt đời không nói gì đến việc nước Ngô nữa. Yểm
Dư và Chúc Dung bị quân Sở vây ở Ấp Tiềm, mong mãi không thấy quân Ngô sang cứu,
đang cùng nhau thương nghị để tìm kế thoát thân. Bỗng nghe báo công tử Quang giết
Vương Liêu cướp ngôi, hai người liền vật mình lăn khóc, rồi bảo nhau rằng:
– Công tử Quang đã giết vua cướp
ngôi như vậy thì tất không để cho chúng ta được yên thân!
Hai người nói xong, toan sang đầu
nước Sở, nhưng lại sợ nước Sở không tin, chưa biết làm thế nào. Chúc Dung nói:
– Nay cứ giữ chết ở đây thì bao
giờ cho xong việc, chi bằng ta nhân đêm tìm đường trốn sang nước khác để liệu
tính về sau.
Yểm Dư nói:
– Hiện quân Sở đang vây kín bốn mặt,
chúng ta như chim ở trong lồng, làm thế nào mà thoát thân được?
Chúc Dung nói:
– Tôi có một kế. Truyền cho tướng
sĩ hai đồn, hạn đến ngày mai thì khai chiến, rồi nửa đêm hôm nay tôi cùng anh cải
trang tìm đường lẻn trốn, quân Sở tất không ngờ.
Yểm Dư và Chúc Dung cùng mấy người
tâm phúc giả hình làm quân tuần tiễu, rồi tìm đường lẻn trốn. Yểm Dư trốn sang
nước Từ. Chúc Dung trốn sang nước Chung Ngô. Sáng hôm sau, quân sĩ hai đồn
không thấy chủ tướng đâu cả, đem nhau chạy trốn, trở về nước Ngô, bỏ lại áo
giáp và binh khí rất nhiều, đều bị tướng nước Sở là Bá Khước Uyển bắt được. Các
tướng nước Sở muốn nhân lúc nước Ngô có loạn, đem quân sang đánh. Bá Khước Uyển
nói:
– Khi trước nước Ngô nhân lúc nước
ta có tang mà sang đánh, thế là bất nghĩa. Ta lại còn bắt chước làm gì!
Bá Khước Uyển liền cùng với Thẩm
Doãn Thư rút quân trở về, đem những áo giáp và binh khí bắt được của quân Ngô
dâng nộp Sở Chiêu-vương. Sở Chiêu-vương chia ra làm hai phần, một phần thì ban
thưởng cho Bá Khước Uyển, lại có lòng kính trọng, việc gì cũng hỏi Bá Khước Uyển.
Phí Vô Cực thấy vậy, ghét Bá Khước Uyển lắm, mới nghĩ ra một kế để làm hại Bá
Khước Uyển.
Hồi thứ 74.
Giết Vô Cực, tỏ lòng Nang Ngõa
Đâm Khánh Ky, nổi tiếng Yêu Ly
Phí Vô Cực đem lòng ghen ghét Bá Khước Uyển, mới cùng với Yên Tương Sư thương nghị, nghĩ ra một kế, nói dối quan lệnh doãn nước Sở là Nang Ngõa rằng:
– Tử Ác (tên tự Bá Khước Uyển) muốn
bày tiệc mời ngài, nhờ tôi nói trước để xem ngài có lòng hạ cố đến chăng?
Nang Ngõa nói:
– Người ta có lòng mời, lẽ nào lại
không đi!
Phí Vô Cực lại nói với Bá Khước
Uyển rằng:
– Quan lệnh doãn có nói chuyện với
tôi, muốn sang chơi uống rượu ở nhà ngài, chẳng hay ngài có vì quan lệnh doãn
mà sửa một tiệc rượu được không?
Bá Khước Uyển không biết là mưu,
liền đáp lại rằng:
– Tôi phận hèn chức nhỏ, được
quan lệnh doãn quá yêu đến, còn gì vinh hạnh bằng! Sáng mai tôi xin sửa tiệc để
mời quan lệnh doãn, nhờ ngài nói giúp cho.
Phí Vô Cực nói:
– Ngài mời quan lệnh doãn, định
dùng thứ gì để kính biếu?
Bá Khước Uyển nói:
– Tôi không biết quan lệnh doãn
ngài thích thứ gì?
Phí Vô Cực nói:
– Quan lệnh doãn chỉ thích áo
giáp và binh khí. Nay thấy các đồ giáp binh ta bắt được của quân Ngô khi trước,
ngài được chia một nửa, cho nên muốn uống rượu ở nhà ngài mà nhân tiện mượn xem
các đồ giáp binh ấy. Ngài nên cho đem cả ra đây, để tôi chọn xem những cái nào
tốt.
Bá Khước Uyển sai đem các đồ giáp
binh ra cho Phí Vô Cực xem. Phí Vô Cực chọn những cái tốt nhất, cả thảy được
năm mươi chiếc, rồi bảo Bá Khước Uyển rằng:
– Thôi thế cũng là đủ! ngài cho
bày cả ở phía trong cửa, rồi che màn đi, hễ quan lệnh doãn hỏi đến thì mang ra
mà dâng, tất nhiên quan lệnh doãn lấy làm quý báu; còn các thứ khác thì quan lệnh
doãn không thích gì cả.
Bá Khước Uyển tin là thực, mới mắc
màn ở phía trong cửa, bày các đồ giáp binh, rồi nhờ Phí Vô Cực đi mời Nang Ngõa.
Khi Nang Ngõa sắp đi, Phí Vô Cực lại nói với Nam Ngõa rằng:
– Lòng người ta không biết đâu mà
lường! Tôi xin sang trước để dò xét xem tình ý thế nào rồi ngài hãy sang.
Phí Vô Cực đi một lúc, chạy hộc
trở về, vừa nói vừa thở mà bảo Nang Ngõa rằng:
– Xuýt nữa thì tôi làm hại quan lệnh
doãn! Tử Ác mời ngài hôm nay, không phải là lòng tử tế, tất có ý muốn hại ngài.
Tôi trông thấy trong màn ở phía bên cửa, có bày các đồ giáp binh. Ngài vô ý mà
sang hôm nay, tất nhiên bị hại.
Nang Ngõa nói:
– Ta cùng Tử Ác không có hiềm
khích gì, làm sao lại thế?
Phí Vô Cực nói:
– Kẻ kia cậy được đại vương yêu,
muốn thay ngài làm lệnh doãn. Và tôi nghe Tử Ác âm mưu với nước Ngô. Khi quân
ta sang cứu Ấp Tiềm, các tướng quân nước Ngô có loạn, đem quân sang đánh; Tử Ác
ăn tiền của nước Ngô, cho là việc bất nghĩa, rồi bắt quan tả tư mã (tức là Thẩm
Doãn Thư) phải rút quân về. Ngày trước nước Ngô nhân nước ta có loạn mà sang
đánh, chính là một dịp báo thù, nếu không ăn tiền của Ngô, sao lại chịu rút
quân? Tử Ác mà đắc chí thì nước Sở nguy mất!
Nang Ngõa còn chưa tin, lại sai
người khác đi xem. Khi về đều nói trong màn ở phía bên cửa nhà Bá Khước Uyển quả
có giáp binh thật. Nang Ngõa nổi giận, liền sai người triệu Yên Tương Sư đến,
nói cho biết việc Bá Khước Uyển cùng với Dương Lập Trung, Dương Hoàn và Dương
Đà đồng mưu với nhau đã lâu, vẫn muốn cầm quyền chính nước Sở.
Nang Ngõa nói:
– Nó là một đứa thất phu ở nước
khác đến (Bá Khước Uyển là con Bá Châu Lê. Bá Châu Lê vốn trước là quan nước Tấn
sang đầu nước Sở), mà lại dám làm loạn, ta quyết đâm chết mới nghe.
Nang Ngõa liền tâu với Chiêu
vương, sai Yên Tương Sư đem quân đến bắt Bá Khước Uyển. Bá Khước Uyển biết là mắc
lừa Phí Vô Cực, bèn đâm cổ mà chết. Con Bá Khước Uyển là Bá Hi sợ hãi bỏ trốn.
Nang Ngõa truyền đốt nhà Bá Khước Uyển. Người trong thành không ai chịu đốt.
Nang Ngõa càng giận lắm, liền hạ lệnh rằng:
– Ai không chịu đốt nhà Bá Khước
Uyển thì cùng bắt tội.
Người trong thành ai cũng biết Bá
Khước Uyển là người hiền, nhưng vì có lệnh của Nang Ngõa, đều phải cầm một nắm
rơm, ném vào nhà Bá Khước Uyển. Nang Ngõa truyền cho quân sĩ vây kín nhà Bá Khước
Uyển. Chỉ trong chốc lát, cả nhà Khước Uyển hoá ra tro cả. Nang Ngõa giết hết
vây cánh của Bá Khước Uyển lại bắt cả Dương Lập Trung, Dương Hoàn, và Dương Đà,
vu cho tội thông mưu với Ngô, đem giết chết. Người trong nước ai cũng thương là
oan.
Một hôm, Nang Ngõa nhân đêm sáng
trăng, trèo lên lầu chơi, nghe văng vẳng bên tai có tiếng hát ở phía ngoài chợ.
Bài hát như sau:
“Đừng ai bắt
chước Bá Khước Uyển, trung mà bị oan. Tấm thân đã uổng, nắm xương cũng tàn!
Nước Sở
không có vua, chỉ có họ Phí và họ Yên!
Quan lệnh doãn khác nào tượng
gỗ, bị chúng sai khiến Trời có thấu chăng? Báo ứng hiển hiện!”
Nang Ngõa vội vàng sai người đi
dò xét, xem ai hát thì thấy trong phố xá nhà nào cũng bày đèn hương nghi ngút để
cúng lễ. Hỏi ra mới biết, là dân chúng cúng Bá Khước Uyển, vì trung mà bị oan,
cầu cho được thấu đến trời. Người nhà về báo với Nang Ngõa. Nang Ngõa mới vào hỏi
các quan trong triều. Bọn công tử Thân đều nói Bá Khước Uyển không có tư thông
với Ngô bao giờ. Nang Ngõa có ý hối. Thẩm Doãn Thư nghe nói người trong nước đều
nguyền rủa quan lệnh doãn, mới bèn vào cung bảo Nang Ngõa rằng:
– Người trong nước ai cũng oán
ngài, ngài có biết không? Phí Vô Cực là một kẻ dèm pha ở nước Sở này, cùng với
Yên Tương Sư kết làm vây cánh với nhau, lập mưu đuổi Triều Ngô và Sái hầu Chu, lại
xui tiên vương làm những điều càn dỡ, để đến nỗi thế tử Kiến chết tại đất
ngoài. Trước hắn đã làm cho cha con Ngũ Xa chết oan, nay lại làm cho Bá Khước
Uyển cùng ba họ Dương đều chết oan cả. Người trong nước oán hai người ấy đến
xương tuỷ, đều đổ lỗi là tại ngài dung túng và ai cũng nguyền rủa ngài. Một mai
nước Sở có việc gì thì giặc nổi mặt ngoài, dân phản mặt trong, tôi lấy làm nguy
cho ngài lắm! Chi bằng ngài trừ lũ ấy đi thì mới yên việc được.
Nang Ngõa sợ hãi, đang ngồi đứng
dậy mà bảo Thẩm Doãn Thư rằng:
– Đó thật là điều lỗi của tôi!
Xin quan tư mã giúp tôi một tay để trừ bỏ hai thằng giặc ấy.
Thẩm Doãn Thư nói:
– Nếu vậy thì phúc cho nước nhà lắm,
tôi xin vâng mệnh.
Thẩm Doãn Thư bèn sai người truyền
bá cho dân trong nước biết rằng:
– Qaun tả doãn (tức là Bá Khước
Uyển) bị chết oan đều là tại Phí Vô Cực và Yên Tương Sư, quan lệnh doãn đã rõ
mưu gian ấy, nay định đem quân đi đánh. Dân trong nước ai muốn theo thì cho đi.
Thẩm Doãn Thư nói chưa dứt lời,
dân trong nước đều đua nhau cầm binh khí đi trước. Nang Ngõa kể tội Phí Vô Cực
và Yên Tương Sư, rồi bắt đem chém, bêu đầu ở ngoài chợ. Người trong nước không
đợi quan lệnh doãn truyền bảo, đều tranh nhau đem lửa đốt nhà Phí Vô Cực và Yên
Tương Sư. Nang Ngõa lại giết hết vây cánh Phí Vô Cực và Yên Tương Sư, từ bấy giờ
người trong nước mới không oán giận nữa.
Vua nước Ngô là Hạp Lư hỏi Ngũ
Viên rằng:
– Ta muốn cho nước được cường thịnh
để tranh nghiệp bá, nên làm thế nào?
Ngũ Viên sụp lạy, rồi ứa nước mắt
mà đáp rằng:
– Tôi là một kẻ tội nhân ở nước Sở,
cha và anh tôi bị oan, chết chẳng ai chôn, giỗ chẳng ai cúng, nên tôi phải đem
thân sang đây để trông nhờ đại vương. Đại vương không bắt tội là may rồi, khi
nào lại còn dám dự đến chính sự của nước Ngô.
Hạp Lư nói:
– Không có nhà ngươi thì ta còn
phải chịu nhục ở dưới kẻ khác, nay nhờ nhà ngươi chỉ bảo mà được thế này, còn định
đem chính sự trong nước phó thác cho nhà ngươi, cớ sao đang nửa chừng mà nhà
ngươi lại có ý chán, hoặc là nhà ngươi cho ta không đáng giúp hay sao?
Ngũ Viên nói:
– Không phải thế! Tôi nghe nói
người thân bao giờ cũng hơn người sơ, người gần bao giờ cũng hơn người xa. Tôi
là một kẻ lưu lạc ở nước khác đến, có đâu lại dám ở trên các mưu thần nước Ngô!
Huống chi cái thù lớn của tôi chưa báo được thì lòng tôi bối rối, còn nghĩ ra
được mưu kế gì?
Hạp Lư nói:
– Mưu thần nước Ngô không ai bằng
nhà ngươi, nhà ngươi chớ nên từ chối. Khi công việc nước ta được tạm yên, ta sẽ
vì nhà ngươi báo thù. Nhà ngươi muốn thế nào, ta xin theo ý.
Ngũ Viên nói:
– Bây giờ đại vương muốn thế nào?
Hạp Lư nói:
– Nước ta ở chếch về phía Đông
nam, đất thấp mà ẩm, lại có cái nạn nước bể, ruộng nương không mở mang ra được,
nhân dân không vững lòng để làm ăn. Nay muốn cho nước cường thịnh thì nên thế
nào?
Ngũ Viên nói:
– Dân có yên ổn thì nước mới được
cường thịnh, cho nên phải làm thế nào để mặt trong có thể giữ dân mà mặt ngoài
có thể đánh giặc được. Muốn như vậy thì phải làm cho thóc lúa đầy đủ trong kho,
phải sửa sang thành quách và luyện tập binh mã.
Hạp Lư nói:
– Nhà ngươi nói phải lắm! Vậy thì
việc ấy ta giao cho nhà ngươi.
Ngũ Viên liền đi xem ngắm hình thế,
chọn được một nơi đất tốt ở phía Đông bắc núi Cô Tô. Tức thì đắp một cái thành
lớn, rộng bốn mươi bảy dặm, chia làm tám cửa như sau: Bản Môn và Xà Môn ở phía Nam;
Tề Môn và Bình Môn ở phía Bắc; Lâu Môn và Tượng Môn ở phía Đông; Xương Môn và
Tư Môn ở phía Tây.
Thành quách đã đắp xong rồi, Ngũ
Viên đón Hạp Lư thiên đô vào đấy, rồi tuyển mộ quân sĩ, dạy cho biết những phép
chiến trận. Lại đắp một cái thành nữa ở phía nam Phượng Hoàng sơn, để phòng giữ
nước Việt, gọi là Nam Vũ thành. Hạp Lư cho lưỡi “Ngư Trường” (tức là lưỡi gươm
truy thủ mà Chuyên Chư đâm Vương Liêu) là vật chẳng lành, mới bỏ vào hòm, phong
kín lại mà không dùng đến nữa; lại đắp một cái thành ở Ngưu Thủ sơn, đúc mấy
nghìn thanh kiếm, gọi là Biển Chư. Lại tìm được người nước Ngô tên gọi Can
Tương, cùng học một thầy với Âu Giả Sác. Can Tương đi tìm những kim loại, thiêt
loại tinh anh, rồi chọn ngày chọn giờ, sai các đồng nam và đồng nữ cả thảy ba
trăm người, ngày đêm đốt than, nấu suốt ba tháng, mà vàng và sắt đều không chảy.
Can Tương không biết vì cớ làm sao. Người vợ là nàng Mạc Gia bảo Can Tương rằng:
– Thần vật, tất phải đợi sinh khí
của con người mới thành được. Nay phu quân đúc kiếm, trong ba tháng không xong,
hoặc giả thần vật còn phải đợi sinh khí của con người đó chăng?
Can Tương nói:
– Ngày xưa thầy ta cũng đúc mãi
không thành kiếm, rồi hai vợ chồng đều nhảy vào trong lò, bấy giờ mới thành; về
sau ai đúc kiếm ở chân núi ấy cũng phải làm lễ tế lò, mới dảm mở ra. Nay ta đúc
mãi không được, hay là cũng phải như thế!
Nàng Mạc Gia nói:
– Thầy ta còn bỏ thân để đúc nên
kiếm thần, sao ta lại không bắt chước.
Nàng Mạc Gia liền tắm gội sạch sẽ
ra đứng ở cửa lò, rồi sai các đồng nam và đồng nữ kéo bễ đốt than. Khi lửa cháy
dữ thì nàng Mạc Gia nhảy vào trong lò. Được một lúc, vàng và sắt đều chảy ra cả,
đúc nên được hai thanh kiếm: thanh đúc trước đặt tên là Can Tương, thanh đúc
sau, đặt tên là Mạc Gia. Can Tương giấu thanh đúc trước (tức thanh kiếm Can
Tương) đi, rồi đem thanh kiếm Mạc Gia đến dâng Hạp Lư. Hạp Lư cầm thanh kiếm
chém thử vào viên đá, viên đá tức thì đứt đôi ra. Hạp Lư thưởng cho Can Tương một
trăm nén vàng.
Sau Hạp Lư biết là Can Tương giấu
mất một thanh kiếm, sai người đến đòi, và bảo nếu không chịu trả thì sẽ bị giết.
Can Tương đem thanh kiếm ra xem. Thanh kiếm ở trong bao nhảy ra, hoá thành con
rồng xanh. Can Tương cưỡi con rồng xanh ấy bay lên trời mất. Sứ giả về nói với
Hạp Lư. Hạp Lư thở dài, từ bấy giờ càng quý thanh kiếm Mạc Gia lắm. Thanh kiếm
Mạc Gia sau không biết về đâu mất. Cách hơn sáu trăm năm, đến triều nhà Tấn, có
quan thừa tướng tên gọi Trương Hoa trông thấy trên trời có khí lạ, liền triệu một
người giỏi thiên văn là Lôi Hoán đến hỏi. Lôi Hoán nói:
– Đó là cái tinh của bảo kiếm, ở
về địa phận Phong Thành.
Trương Hoa tức khắc bổ cho Lôi
Hoán làm huyện lệnh ở Phong Thành. Lôi Hoán đào nền nhà ngục, bắt được cái hòm
bằng đá, dài hơn sáu thước, mở ra xem, trong có hai thanh kiếm, dùng thứ đất ở
núi Tây Sơn mà đánh thì ánh sáng rực rỡ. Lôi Hoán đưa một thanh kiếm cho Trương
Hoa, còn một thanh nữa lưu lại để dùng. Trương Hoa xem thanh kiếm rồi bảo rằng:
– Đây tức là thanh kiếm Can
Tương, còn thanh kiếm Mạc Gia đi đâu mất. Tuy vậy mà thần vật thế nào rồi cũng
lại hợp với nhau.
Sau Lôi Hoán và Trương Hoa cùng
đeo kiếm đi qua bến Diên Bình, tự nhiên hai thanh kiếm nhảy xuống nước mất, vội
vàng sai người lặn tìm, thì thấy có hai con rồng ngũ sắc vểnh râu trừng mắt,
làm cho người ấy sợ mà trở về. Từ bấy giờ mất tích hai thanh kiếm ấy.
Vua nước Ngô là Hạp Lư quý thanh
kiếm Mạc Gia lắm. Lại thuê người làm cái kim câu (lưỡi gươm cong queo) ai làm
giỏi thì được thưởng trăm nén vàng.
Người trong nước đua nhau làm kim
câu dễ dàng. Có một người câu sư (người thợ làm kim câu) tham giải thưởng to,
giết chết hai con, lấy máu tưới vàng, đúc thành hai cái kim câu, đem dâng Hạp
Lư. Qua mấy ngày nữa, câu sư đến cửa xin lĩnh thưởng. Hạp Lư hỏi:
– Người ta dâng kim câu nhiều lắm,
sao một mình nhà ngươi dám đến lĩnh thưởng? Cái kim câu của nhà ngươi có khác
gì không?
Câu sư nói:
– Tôi muốn được thưởng, đã giết
chết hai con để đúc thành hai cái kim câu ấy, người khác bì thế nào được!
Hạp Lư truyền đem hai cái kim câu
ấy ra xem. Các thị vệ tâu rằng:
– Hai cái kim câu ấy đã bỏ lẫn
vào trong đám kim câu khác, trông giống nhau lắm, không thể chọn lấy riêng ra
được.
Câu sư nói:
– Xin đại vương cho tôi xem.
Thị vệ đem cả đống kim câu ra để ở
trước mặt câu sư. Câu sư cũng không biết cái nào mà chọn, mới gọi tên hai đứa
con mà nói rằng:
– Ngô Hồng và Hổ Kê ơi! Ta ở đây,
sao hai con không hiển linh ở trước mặt đại vương?
Câu sư nói chưa dứt lời thì hai
cái kim câu ở trong đống nhảy ra, ấp vào ngực câu sư. Hạp Lư kinh sợ mà bảo rằng:
– Ừ, thế thì nhà ngươi nói thực!
Hạp Lư liền thưởng cho câu sư một
trăm nén vàng. Từ bấy giờ Hạp Lư cũng quý hai cái kim câu ấy như thanh kiếm Mạc
Gia, đeo luôn ở trong mình.
Bấy giờ Bá Hi nước Sở sợ tội chạy
trốn, nghe nói Ngũ Viên đã làm quan ở nước Ngô, mới trốn sang nước Ngô, vào yết
kiến Ngũ Viên. Hai người nhìn nhau mà khóc, rồi Ngũ Viên đưa Bá Hi vào yết kiến
Hạp Lư. Hạp Lư hỏi Bá Hi rằng:
– Nước ta ở về nơi hẻo lánh xứ
Đông Hải này mà nhà ngươi chẳng quản xa xôi, cố tìm tới, tất cũng có nghĩ được
điều gì hay để bảo ta chăng?
Bá Hi nói:
– Đời ông (Bá Châu Lê) và đời cha
(Bá Khước Uyển) tôi vẫn một lòng tận trung với Sở. Nay cha tôi không có tội gì
mà bị giết oan, tôi phải bơ vơ chạy trốn, nghe nói đại vương là người cao
nghĩa, đã thu dùng Ngũ Viên, cho nên tôi đem thân tới đây, sống chết cũng ở
trong tay đại vương vậy.
Hạp Lư có lòng thương, cho làm
quan đại phu, để cùng với Ngũ Viên cùng bàn việc nước. Quan đại phu nước Ngô là
Bị Ly hỏi riêng Ngũ Viên rằng:
– Ngài nghĩ thế nào mà tin Bá Hi
như vậy?
Ngũ Viên nói:
– Sự oan uổng của Bá Hi, cũng chẳng
khác gì sự oan uổng của tôi. Tục ngữ có câu rằng: “đồng bệnh tương liên” (cùng
bệnh thì thương nhau), hẳn ngài chẳng còn lạ gì điều ấy.
Bị Ly nói:
– Ngài chỉ biết mặt ngoài chưa biết
mặt trong. Tôi trông Bá Hi, mắt nhìn như mắt chim ưng, chân đi như dáng con hổ,
thế là người tham nịnh tàn ác, chớ nên đến gần. Nếu người ấy được trọng dụng
thì tất luỵ đến ngài.
Ngũ Viên không cho là phải, cùng
với Bá Hi cùng thờ vua Ngô.
Lại nói chuyện công tử Khánh Ky
trốn sang ở Ngải Thành, chiêu nạp kẻ hào kiệt, kết liên với lân quốc, muốn đợi
thời để về nước Ngô đánh báo thù. Hạp Ly nghe tin ấy, bảo Ngũ Viên rằng:
– Việc Chuyên Chư ngày trước, thật
ta nhờ sức nhà ngươi. Nay Khánh Ky lại muốn báo thù, ta ăn không biết ngon, nằm
không được yên, nhà ngươi nên vì ta mà nghĩ giúp mưu kế.
Ngũ Viên nói:
– Tôi cùng với đại vương mưu việc
giết Vương Liêu, cũng đã là bất trung rồi; nay lại mưu giết cả con Vương Liêu nữa,
thế thì còn trời đất nào!
Hạp Lư nói:
– Ngày xưa vua Vũ vương nhà Chu
đánh vua Trụ, lại giết cả Vũ Canh (con vua Trụ), người nhà Chu chẳng thấy ai
chê cả. Nếu Khánh Ky hãy còn thì cũng như là Vương Liêu chưa chết, nhà ngươi chớ
nên vì được điều nhỏ mọn mà gây nên cái tai vạ về sau. Ta phải có một tay như
Chuyên Chư nữa thì việc này mới xong được! Nhà ngươi tìm tòi những kẻ trí dũng
kể đã lâu ngày, vậy nhà ngươi có biết ai không?
Ngũ Viên nói:
– Khó nói lắm! Tôi có quen một
người bé nhỏ, có thể bàn mưu được.
Hạp Lư nói:
– Khánh Ky sức khoẻ lắm, một người
bé nhỏ thì làm gì nổi?
Ngũ Viên nói:
– Người này dẫu bé nhỏ, nhưng sức
khoẻ địch nổi muôn người.
Hạp Lư hỏi:
– Người nào thế? Tại sao nhà
ngươi biết là giỏi, thử nói ta nghe?
Ngũ Viên nói:
– Người ấy họ là Yêu, tên là Ly,
là người nước Ngô. Ngày xưa tôi thấy hắn dám nhiếc mắng một người tráng sĩ tên
gọi Tiêu Khâu Tố, cho nên biết là người giỏi.
Hạp Lư hỏi:
– Việc người ấy mắng nhiếc một
người tráng sĩ thế nào?
Ngũ Viên nói:
– Tiêu Khâu Tố vốn người Đông Hải,
có người bạn làm quan chết ở Ngô. Tiêu Khâu Tố sang Ngô để viếng bạn, đi qua bến
Hoài Tân, toan cho ngựa xuống uống nước. Người giữ bến bảo Tiêu Khâu Tố rằng:
Con sông này có thuỷ thần, trông
thấy ngựa thì hay bắt mất, ông đừng cho ngựa xuống uống nước”. Tiêu Khâu Tố nói:
“Có tráng sĩ đứng đây, thuỷ thần
nào dám hiện lên”. Tiêu Khâu Tố liền sai người nhà dắt ngựa xuống sông cho uống
nước. Qủa nhiên, con ngựa ấy rít lên mà sa xuống nước mất. Người giữ biến nói:
“Thuỷ thần bắt mất ngựa của ông rồi!”
Tiêu Khâu Tố nổi giận, xoay trán người ra, rồi cầm kiếm nhảy xuống nước, để
đánh nhau với thuỷ thần. Thuỷ thần hoá phép nổi sóng rất dữ dội, mà không làm
gì nổi Tiêu Khâu Tố. Cách ba ngày ba đêm, Tiêu Khâu Tố ở dưới nước nổi lên, bị
thần đánh mù mất một mắt. Khi đến nước Ngô, vào viếng tang người bạn, Tiêu Khâu
Tố dửng dưng tự đắc thuật lại chuyện đánh thuỷ thần, có vẻ lên mặt với mọi người,
thái độ không được khiêm tốn. Bấy giờ Yêu Ly cũng ngồi ở đấy, có ý bất bình, bèn
bảo Tiêu Khâu Tố rằng:
“Nhà ngươi lên mặt với mọi người,
muốn tự đắc là dũng sĩ đó chăng? Ta nghe nói kẻ dũng sĩ đã đánh nhau với ai, chẳng
thà chết chứ không chịu nhục; nay nhà ngươi đánh nhau với thuỷ thần, chịu mất
ngựa không lấy lại được, lại bị hỏng mất một mắt, nghĩ nên hổ thẹn biết dường
nào, thế mà còn đeo đẳng cái thân sống thừa, thế là đồ vô dụng ở trong khoảng
trời đất, còn mặt mũi nào trông thấy ai nữa!” Tiêu Khâu Tố bị nhục, có ý hổ thẹn,
nín lặng không nói gì cả, rồi cáo từ lui ra. Chiều hôm ấy, Yêu Ly về nhà nói chuyện
với vợ rằng:
“Hôm nay ta làm nhục một kẻ dũng
sĩ là Tiêu Khâu Tố ở trong một đám tang, hắn căm tức vô cùng! Đêm nay thế nào hắn
cũng đến báo thù. Ta nên nằm sẵn ở giữa nhà để đợi hắn đến. Nàng chớ có đóng cửa.”
Người vợ vốn biết dũng khí của chồng mới theo lời chồng bỏ ngõ cửa. Qủa nhiên
Tiêu Khâu Tố nửa đêm hôm ấy giắt dao đến nhà Yêu Ly, trông thấy cửa ngỏ, mới đi
thẳng vào, thấy Yêu Ly rũ tóc nằm ở phía dưới cửa sổ. Yêu Ly thấy Tiêu Khâu Tố
đến, cứ nghiêm nhiên mặc kệ, không thèm cựa quậy, cũng không có ý sợ hãi. Tiêu
Khâu Tố cầm dao kề vào cổ Yêu Ly mà kể tội rằng:
“Nhà ngươi có ba điều đáng chết,
đã biết hay chưa? Yêu Ly nói:
“Chưa biết”. Tiêu Khâu Tố nói:
“Nhà ngươi làm nhục ta trong đám
tang, đó là một điều đáng chết; khi về nhà lại không biết lo xa, dám bỏ ngỏ cửa,
đó là hai điều đáng chết; trông thấy ta mà không chạy trốn, đó là ba điều đáng
chết. Thế thì tự nhà ngươi muốn chết, còn oán gì ta nữa!”. Yêu Ly nói:
“Ba điều ấy cũng chưa đáng chết,
nhưng nhà ngươi có ba điều hèn, đã biết chưa?” Tiêu Khâu Tố nói:
“Chưa biết”. Yêu Ly nói:
“Ta làm nhục nhà ngươi trong đám
đông người, mà nhà ngươi không dám nói lại một câu nào, đó là một điều hèn; nhà
ngươi vào nhà ta mà không lên tiếng, có ý lẻn trộm, đó là hai điều hèn; cầm dao
kề vào cổ ta rồi mới nói khoác, đó là ba điều hèn. Nhà ngươi có ba điều hèn ấy,
lại còn trách ta thì thật là đáng khinh lắm!” Tiêu Khâu Tố bèn rút dao lại mà
khen rằng:
“Kể cái vũ dũng của ta, đời không
mấy kẻ bàng, mà Yêu Ly lại còn hơn ta, thế thì thật là một dũng sĩ! Nếu ta giết
người dũng sĩ thì mang tiếng với đời, mà không giết thì ta cũng khó lòng mà gọi
là vũ dũng được!”. Tiêu Khâu Tố nói xong, liền ném dao xuống đất, đập đầu vào cửa
sổ mà chết.
Ngũ Viên lại nói với Hạp Lư rằng:
– Trong khi Tiêu Khâu Tố đến viếng
tang, tôi cũng có ngồi đấy, nên tôi biết rõ. Như thế, không phải là Yêu Ly sức
khoẻ địch nổi muôn người sao?
Hạp Lư nói:
– Nhà ngươi triệu đến đây cho ta.
Ngũ Viên đến gặp Yêu Ly và bảo rằng:
– Vua Ngô mến cái tài của nhà
ngươi, muốn được gặp mặt.
Yêu Ly kinh sợ mà nói rằng:
– Ta là người thường dân hèn mọn,
có tài giỏi gì mà dám ứng triệu.
Ngũ Viên hai ba lần giải bày những
tình ý kính mến của vua Ngô, Yêu Ly mới theo Ngũ Viên vào triều. Hạp Lư lúc trước
nghe Ngũ Viên khoe tài của Yêu Ly vẫn tưởng là người khôi ngô lạ thường, đến
lúc trông thấy Yêu Ly hình thù thấp bé, mặt mũi xấu xa, có ý không bằng lòng, mới
hỏi Yêu Ly rằng:
– Ngũ Viên nói Yêu Ly là dũng sĩ,
có phải nhà ngươi đó chăng?
Yêu Ly nói:
– Tôi bé nhỏ không có sức khoẻ,
gió thổi mạnh thì ngã, nhưng đại vương muốn sai gì, tôi cũng xin cố làm!
Hạp Lư nín lặng, không nói gì cả.
Ngũ Viên biết ý, liền tâu rằng:
– Con ngựa hay không cần to lớn, quý
hồ sức khỏe, có thể mang nặng đi xa được thì thôi. Yêu Ly hình dáng dẫu xấu,
nhưng tài trí lạ thường, nếu không dùng người ấy thì không thể thành sự được,
xin đại vương chớ bỏ hoài!
Hạp Lư truyền dẫn Yêu Ly vào
trong hậu cung và cho ngồi. Yêu Ly nói:
– Tôi xem ý đại vương, chắc là lo
nghĩ về công tử Khánh Ky. Tôi có thể giết chết hắn được.
Hạp Lư cười mà bảo rằng:
– Khánh Ky sức khoẻ như voi, chạy
nhanh hơn ngựa, ta e rằng nhà ngươi không địch nổi!
Yêu Ly nói:
– Giết được người ta, cốt ở trí
khôn, không ở sức khoẻ, tôi được đến gần Khánh Ky thì giết hắn như cắt tiết con
gà mà thôi.
Hạp Lư nói:
– Khánh Ky là người tài trí, vẫn
hay chiêu nạp những kẻ vong mệnh (những người có tội đi trốn) ở bốn phương, thấy
nhà ngươi là người khách ở nước Ngô đến, khi nào lại quá tin mà cho nhà ngươi đến
gần?
Yêu Ly nói:
– Khánh Ky đã hay chiêu nạp những
kẻ vong mệnh, định mưu hại nước Ngô, thì tôi xin giả cách làm một người có tội
trốn đi. Xin đại vương hãy giết vợ con tôi, chặt cánh tay phải của tôi. Khánh
Ky tất phải tin tôi mà cho đến gần, như thế mới có thể nên việc được!
Hạp Lư ngậm ngùi nói:
– Nhà ngươi không có tội gì, ta nỡ
nào làm hại nhà ngươi như thế!
Yêu Ly nói:
– Tôi nghe nói vui vợ con mà
không biết hết đạo thờ vua thì không gọi là trung được; ham cửa nhà mà không biết
lo việc giúp vua thì không gọi là nghĩa được. Nếu tôi được nên danh trung nghĩa
thì dẫu chết sạch cả nhà, cũng được thỏa lòng.
Ngũ Viên đứng bên cạnh, cũng nói
với Hạp Lư rằng:
– Yêu Ly vì nước quên nhà, vì chủ
quên mình, thế mới thật là bậc hào kiệt. Khi đã nên việc rồi, đại vương sẽ truy
tặng cho vợ con y, để lưu danh tiếng về sau, thế là được!
Hạp Lư thuận cho. Ngày hôm sau,
Ngũ Viên cùng Yêu Ly vào triều. Ngũ Viên xin cử Yêu Ly làm tướng, đem quân đi
đánh Sở. Hạp Lư mắng rằng:
– Ta xem sức Yêu Ly, dẫu đánh một
đứa trẻ con, cũng vị tất đã nổi, huống chi là đánh Sở! Và ngày nay công việc
trong nước mới yên, ta không muốn động binh.
Yêu Ly nói:
– Nếu vậy đại vương bất nhân quá!
Ngũ Viên giúp đại vương được nước Ngô, mà đại vương không báo thù hộ cho Ngũ
Viên hay sao?
Hạp Lư nổi giận mắng rằng:
– Nhà ngươi là một đứa gia nhân,
biết đâu được việc lớn trong nước, sao lại dám đương triều nói hỗn với ta như vậy!
Nói xong truyền cho lực sĩ bắt
Yêu Ly đem chặt một cánh tay phải đi, rồi giam vào trong ngục. Lại sai người bắt
giam cả vợ con Yêu Ly nữa. Ngũ Viên thở dài mà lui ra. Triều thần đều không biết
chủ ý thế nào cả. Mấy hôm, Ngũ Viên mật truyền cho quân canh ngục phải khoản
đãi Yêu Ly. Yêu Ly thừa cơ lẻn trốn, gặp ai cũng kể những nổi oan khổ, rồi tìm
đến nước Vệ, vào yết kiến công tử Khánh Ky. Khanh Ky nghĩ là nói dối, không nhận
cho theo. Yêu Ly cởi áo ra cho Khánh Ky xem. Khánh Ky trông thấy cụt một cánh
tay phải, mới tin là thực, liền hỏi rằng:
– Vua Ngô đã giết vợ con nhà
ngươi, chặt cánh tay nhà ngươi, may nhà ngươi định theo ta làm gì?
Yêu Ly nói:
– Tôi nghe nói vua Ngô giết thân
phụ công tử mà cướp mất ngôi vua, nay công tử kết liên với chư hầu, định về
đánh báo thù, vậy tôi đem cái thân sống thừa này đến theo công tử, tôi đã biết
rõ hết tình hình nước Ngô; với cái tài của công tử mà công tử lại dùng tôi làm
hướng đạo thì chắc có thể về nước được. Công tử báo thù cho thân phụ, tôi cũng
báo thù cho vợ con tôi.
Khánh Ky nghe nói, vẫn chưa lấy
làm tin lắm. Được ít lâu, có người tâm phúc của Khánh Ky đi thăm ở nước Ngô về,
đem việc vợ con Yêu Ly bị đốt ở giữa chợ, thuật lại cho Khánh Ky nghe. Khánh Ky
mới thực lòng tin dùng Yêu Ly, hỏi Yêu Ly rằng:
– Ta nghe nói vua Ngô dùng Ngũ
Viên và Bá Hi làm mưu chủ, luyện binh tuyển tướng, trong nước cường thịnh lắm,
mà ta thì quân ít sức yếu, làm thế nào mà bảo thủ được?
Yêu Ly nói:
– Bá Hi là đồ vô mưu, không lo gì
người ấy; chỉ có một mình Ngũ Viên là trí dũng kiêm toàn, nhưng nay cũng đã có
hiềm khích với vua Ngô rồi.
Khánh Ky nói:
– Ngũ Viên là ân nhân của vua
Ngô, nay vua tôi nước Ngô đang tương đắc với nhau, sao bảo là có hiềm khích?
Yêu Ly nói:
– Công tử mới biết một mà chưa biết
hai. Ngũ Viên sở dĩ tận trung với vua Ngô là muốn mượn quân để đánh Sở mà báo
thù cho cha anh, nay Sở Bình-vương đã chết, Phí Vô Cực cũng chết, mà vua Ngô
thì an hưởng phú quý, chẳng nghĩ đến việc báo thù cho Ngũ Viên. Tôi vì cớ nói
giúp cho Ngũ Viên mà bị vua Ngô làm hại, tôi chắc rằng trong lòng Ngũ Viên cũng
oán vua Ngô lắm! Tôi trốn thoát được, cũng là nhờ cái công chu toàn của Ngũ
Viên đó! Ngũ Viên có dặn tôi rằng:
“Đi chuyến này, thử dò xem ý
công tử thế nào, nếu công tử chịu vì tôi báo thù thì tôi xin làm nội ứng cho
công tử, để chuộc lại cái tội đồng mưu với vua Ngô năm xưa!” Nếu công tử không
nhân dịp này đem quân về đánh, lại để cho vua tôi hắn lại liên hợp với nhau thì
tôi dám nói quyết rằng cái thù của công tử và của tôi, chẳng còn ngày nào báo
được.
Yêu Ly nói xong, khóc rầm lên rồi
toan đập đầu vào vách mà chết. Khánh Ky vội vàng ôm lại mà bảo rằng:
– Khoan đã! Ta xin theo lời nhà
ngươi. Ta xin theo lời nhà ngươi!
Nói xong liền đem Yêu Ly về Ngãi
Thành, dùng làm tâm phúc, sai luyện tập quân sĩ và sửa sang thuyền bè, định
trong ba tháng nữa thì theo dòng sông mà tiến sang đánh quân Ngô. Khánh Ky và
Yêu Ly cùng ngồi một thuyền. Khi đi đến giữa dòng, thuyền sau còn đi cách xa,
Yêu Ly bèn nói với Khánh Ky rằng:
– Công tử nên ngồi lên mũi thuyền
để ra lệnh cho quân sĩ.
Khánh Ky lên ngồi ở mũi thuyền.
Yêu Ly chỉ còn một tay, cầm cái giáo ngắn đứng hầu. Bỗng giữa sông nổi lên một
trận gió. Yêu Ly quay mình đứng về đầu gió, mượn sức gió thổi, cầm giáo đâm suốt
vào bụng Khánh Ky, ngọn giáo thò ra phía sau lưng. Khánh Ky xách ngược Yêu Ly
lên, dìm đầu xuống nước ba lần, rồi lại ẵm lên để lên trên đầu gối cúi nhìn mà
cười, và bảo rằng:
– Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ
này dám cả gan đâm ta! Quân sĩ toan xúm lại để đâm Yêu Ly, Khánh Ky gạt đi mà bảo
rằng:
– Người này là dũng sĩ! Chớ nên
trong một ngày để chết hai dũng sĩ của thiên hạ. Đừng giết hắn làm gì, nên tha
cho hắn về Ngô để tỏ lòng trung của hắn!
Khánh Ky đẩy Yêu Ly xuống dưới
chân, rồi giơ tay rút ngọn giáo ra. Máu chảy như xối, Khánh Ky chết.
Hồi thứ 75.
Tôn Vũ dạy cung nữ tập trận
Nang Ngõa bắt chư hầu lễ tiến
Khánh Ky gần chết dặn quân sĩ chớ giết Yêu Ly.
Yêu Ly nói:
– Ta có ba điều không thể dung được.
Dẫu công tử tha ta, ta cũng không tham sống làm gì.
Mọi người đều hỏi:
– Ba điều gì không thể dung được?
Yêu Ly nói:
– Vì đạo thờ vua mà giết cả vợ
con, thế là bất nhân; vì vua mới mà giết con vua cũ, thế là bất nghĩa; nên việc
cho người mà đến nỗi tàn hại cả thân thể, cả vợ con, thế là bất trí. Đã phạm ba
điều ấy, còn mặt mũi nào mà đứng trên cõi đời nữa!
Yêu Ly nói xong, liền đâm đầu xuống
sông. Người lái thuyền lại vớt Yêu Ly lên. Yêu Ly nói:
– Nhà ngươi vớt ta làm gì?
Người lái thuyền nói:
– Nhà ngươi về nước, tất được tước
lộc, sao lại không về?
Yêu Ly nói:
– Đến vợ con mà tính mệnh ta cũng
còn không tiếc huống chi là tước lộc. Các ngươi đem xác ta về Ngô mà lấy trọng
thưởng.
Nói xong, giật lấy thanh kiếm của
người đứng bên, chặt bỏ chân đi, rồi tự đâm cổ mà chết. Mọi người bèn rủ nhau
đem thi thể Yêu Ly và Khánh Ky sang nộp vua Ngô là Hạp Lư. Hạp Lư bằng lòng, trọng
thưởng cho mọi người, rồi dùng lễ thượng khanh an táng Yêu Ly ở dưới cửa thành
mà khấn rằng:
– Nhà ngươi hãy đem thân dùng để
giữ thành cho ta.
Hạp Lư lại truy tặng cho vợ con
Yêu Ly, lập miếu thờ chung Yêu Ly với Chuyên Chư, dùng lễ công tử an táng Khánh
Ky ở bên mộ Vương Liêu và đặt tiệc lớn để thết đãi triều thần. Ngũ Viên khóc mà
tâu với Hạp Lư rằng:
– Những mối thù của đại vương, đều
trừ được cả, còn mối thù của tôi, biết bao giờ mới trả xong!
Bá Hi cũng khóc lóc mà xin quân
đánh Sở. Hạp Lư nói:
– Việc ấy để sáng mai sẽ bàn.
Ngày hôm sau, Ngũ Viên và Bá Hi lại
vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư nói:
– Ta muốn vì hai người mà đem
quân đánh Sở, nhưng chẳng biết dùng ai làm tướng được?
Ngũ Viên và Bá Hi đồng thanh đáp:
– Tùy ý đại vương, dẫu ai làm tướng
chúng tôi cũng xin hết sức.
Hạp Lư nghĩ thầm Ngũ Viên và Bá
Hi đều là người Sở, nếu họ đã báo thù xong thì khi nào chịu ra sức giúp mình nữa,
mới nín lặng không nói gì cả, chỉ ngẩng mặt hứng gió nam mà thở dài.
Ngũ Viên hiểu ý, nói với Hạp Lư rằng:
– Đại vương sợ nước Sở lắm quân
nhiều tướng hay sao?
Hạp Lư nói:
– Chính thế!
Ngũ Viên nói:
– Tôi xin cử một người chắc chắn
đánh được Sở.
Hạp Lư hớn hở hỏi:
– Nhà ngươi định cử ai? Tài người
ấy thế nào?
Ngũ Viên nói:
– Người ấy họ Tôn tên Vũ, cũng là
người nước Ngô ta.
Hạp Lư nghe nói là người nước
Ngô, thì có ý mừng rỡ.
Ngũ Viên lại tâu rằng:
– Người này tinh thông thao lược,
có làm ra mười ba thiên binh pháp, mà đời không mấy người biết tài. Hiện nay
người ấy ẩn ở La Phù sơn. Nếu được người ấy làm quân sư thì cả thiên hạ cũng
không ai địch nổi được, huống chi là Sở!
Hạp Lư nói:
– Nhà ngươi thử triệu đến đây cho
ta.
Ngũ Viên nói:
– Người này không phải là kẻ tầm
thường, phải đem lễ vật đến đón thì có lẽ mới chịu ra.
Hạp Lư theo lòi, mới lấy mười nén
hoàng kim, một đôi bạch bích, sai Ngũ Viên đến La Phù sơn đón Tô Vũ. Ngũ Viên
vào yết kiến Tôn Vũ, giải bày những tình ý kính mến của Hạp Lư. Tôn Vũ mới theo
Ngũ Viên vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư xuống thềm chào đón, rồi mời ngồi, hỏi về
binh pháp. Tôn Vũ đem mười ba thiên binh pháp đệ dâng Hạp Lư. Hạp Lư sai Ngũ
Viên đọc cả lên một lượt. Ngũ Viên đọc. Mỗi khi đọc hết một thiên thì lại ngợi
khen không ngớt. Mười ba thiên pháp ấy như sau đây:
1) Thuỷ kế thiên; 2) Tác chiến
thiên; 3) Mưu công thiên; 4) Quân hình thiên; 5) Binh thế thiên; 6) Hư thực
thiên; 7) Quân tranh thiên; 8) Cửu biến thiên; 9) Hành quân thiên; 10) Địa hình
thiên; 11) Tưu địa thiên; 12) Hoa? công thiên; 13) Dụng gián thiên.
Hạp Lư ngảnh lại bảo Ngũ Viên rằng:
– Xem binh pháp này, thì biết cái
tài thông thiên triệt địa của Tôn tiên sinh. Chỉ tiếc thay ta đây nước nhỏ quân
ít, biết làm thế nào?
Tôn Vũ nói:
– Binh pháp của tôi chẳng những
dùng trong đám quân sĩ mà thôi, dẫu đến đàn bà con gái, biết theo hiệu lệnh của
tôi, cũng có thể đi đánh giặc được.
Hạp Lư vỗ tay cười mà nói rằng:
– Sao tiên sinh nói viễn vông quá
như vậy, lẽ nào đàn bà con gái mà lại sai cầm gươm tập trận được?
Tôn Vũ nói:
– Đại vương bảo tôi nói viễn vông
thì hãy xin cho phép tôi luyện tập các cung nữ, nếu không được thì tôi xin chịu
tội.
Hạp Lư truyền đem ba trăm cung nữ
giao cho Tôn Vũ luyện tập. Tôn Vũ nói:
– Xin đại vương chọn cho hai người
sủng cơ (cung nữ được vua yêu) làm đội trưởng thì hiệu lệnh mới có thể thi hành
được.
Hạp Lư lại truyền gọi hai người sủng
cơ là Tả cơ và Hữu cơ đến trước mặt mà bảo Tôn Vũ rằng:
– Hai nàng này là người yêu của
ta, phòng có làm đội trưởng được không?
Tôn Vũ nói:
– Làm được! Nhưng phân việc binh
tất phải có thưởng phạt thì hiệu lệnh mới được nghiêm chỉnh, xin đại vương cho
lập một người làm chấp pháp, một người làm quân lại để tuyên bố hiệu lệnh, hai
người làm cổ lại để cầm trống và mấy người làm nha tướng để cầm gươm giáo đứng ở
trên đàn cho trọng sự thể.
Hạp Lư đều thuận cho cả. Tôn Vũ
chia đám cung nữ ra làm tả đội và hữu đội; cho Tả cơ quân lính tả đội, còn Hữu
cơ quân lính hữu đội. Hai đội đều mặc binh phục và cầm binh khí.
Tôn Vũ tuyên bố hiệu lệnh có ba
điều:
1. Không được hỗn loạn hàng ngũ;
2. Không được cười nói rầm rĩ; 3. Không được có ý làm trái hiệu lệnh.
Tôn Vũ hẹn đến sáng hôm sau thì mọi
người đều hội tại giáo trường (nơi luyên tập quân sĩ). Người nào cũng mình mặc
áo giáp, đầu đội mũ trụ, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm mộc. Tả cơ và Hữu cơ
thì trang phục như tướng quân, đứng ở hai bên, chờ Tôn Vũ thăng trường. Tôn Vũ
thân hành ra chỉ bảo mẫu mực và bày thành trận thế. Lại truyền đem hai lá cờ
vàng đưa cho Tả cơ và Hữu cơ để cầm đứng trước, còn các cung nữ đứng ở sau. Hai
đội chực cả ở hai bên để nghe lệnh. Tôn Vũ hạ lệnh rằng:
– Hễ nghe thấy hồi trống thứ nhất
thì hai đội đều đứng dậy cả, nghe hồi trống thứ hai thì tả đội quành về bên hữu,
hữu đội quành về bên tả, nghe hồi trống thứ ba thì đều giơ kiếm ra như thể đánh
nhau; hễ nghe thấy hiệu thanh la thì rút quân kéo lui.
Các cugn nữ đều bưng miệng cười.
Viên cổ lại đánh một hồi trống. Các cung nữ kẻ ngồi kẻ đứng, không được đều
nhau. Tôn Vũ đứng dậy mà nói rằng:
– Hiệu lệnh không rõ, diễn tập
không đúng là tội quan tướng đó!
Tôn Vũ truyền cho viên quân lại
truyền bá hiệu lệnh một lần nữa. Viên cổ lại đánh một hồi trống. Các cung nữ đều
đứng dậy, nhưng nghiêng nghiêng vẹo vẹo, đổ xổ vào nhau, mà vẫn cười như trước.
Tôn Vũ liền vén hai tay áo, cầm lấy dùi mà đánh trống, hiệu lệnh vẫn tuyên bố
như trước. Tả cơ và Hữu cơ cùng các cung nữ đều cười ồ lên cả.
Tôn Vũ nổi giận, hai mắt trợn
lên, tóc dựng trên đầu, liền gọi:
– Viên chấp pháp đâu!
Viên chấp pháp đến quỳ ở trước mặt.
Tôn Vũ nói:
– Hiệu lệnh không rõ, diễn tập
không đúng là tội tại quan tướng đó! Đã tuyên bố hiệu lệnh mà quân sĩ không
theo thì là tội tại quân sĩ đó! Cứ theo quân pháp, nên trị tội gì?
Viên chấp pháp nói:
– Nên chém!
Tôn Vũ nói:
– Quân sĩ không thể giết hết được,
ta nên trị tội hai viên đội trưởng!
Tôn Vũ truyền đem hai người nữ đội
trưởng ra chém để làm gương. Các nha tướng trông thấy Tôn Vũ hầm hầm nổi giận,
thì không dám trái mệnh, liền trói Tả cơ và Hữu cơ điệu ra. Hạp Lư ngồi ở trên
đài trông thấy, vội vàng sai Bá Hi cầm cờ tiết đến nói với Tôn Vũ rằng:
– Ta đã biết tài dụng binh của tướng
quân rồi. Nhưng hai nàng ấy là người nâng khăn sửa túi của ta và rất hợp ý ta.
Ta không có hai nàng ấy thì ăn không biết ngon, xin tướng quân tha cho.
Tôn Vũ nói:
– Việc quân không phải là việc
đùa! Tôi đã chịu mệnh làm tướng rồi thì khi ở trong quân, dẫu có mệnh vua, cũng
không được phép theo nữa. Nếu theo mệnh vua, tha kẻ có tội thì sao cho quân sĩ
phục!
Tôn Vũ truyền chém ngay Tả cơ và
Hữu cơ, đem bêu đầu ở trước hàng quân. Các cung nữ đều sợ run cầm cập, không
dám ngẩng nhìn. Tôn Vũ lại chọn hai người khác ở trong hai đội ấy cho làm tả đội
trưởng và hữu đội trưởng, rồi nổi trống và tuyên bố hiệu lệnh: Hồi trống thứ nhất,
đều đứng dậy cả; Hồi trống thứ hai, đều đi vòng quanh; Hồi trống thứ ba, hai
bên cùng hợp chiến, khi nghe hiệu thanh la thì lui quân. Quân sĩ lúc tiến lúc
lui, đều đúng khuôn phép, không sai một chút nào. Trong khi diễn tập từ trước đến
sau ai nấy đều im lặng như tờ. Tôn Vũ bèn sai viên chấp pháp đến tâu với Hạp Lư
rằng:
– Quân đội đã được chỉnh tề rồi,
xin tùy ý đại vương điều khiển, bây giờ dẫu đại vương bảo nhảy vào đống lửa,
cũng không ai dám lui tránh.
Hạp Lư thương Tả cơ và Hữu cơ lắm,
sai làm lễ hậu táng ở Hoành Sơn, rồi lập đền thờ, gọi là Ái cơ tử. Vì lòng
thương Tả cơ và Hữu cơ nên Hạp Lư mới có ý không muốn dùng Tôn Vũ. Ngũ Viên nói
với Hạp Lư rằng:
– Đại vương muốn đánh Sở mà làm
bá chủ thiên hạ, cho nên mong tìm được người tướng giỏi. Nhưng người tướng giỏi,
cần nhất phải là một người quả quyết, nếu không có Tôn Vũ thì ai là người dám
vượt sông Hoài, sông Tử, băng qua nghìn dặm mà sang đánh Sở bây giờ? Gái đẹp dễ
có, chứ tướng giỏi khó tìm, nay thương hai nàng ấy mà bỏ mất một tướng giỏi thì
khác nào như tiếc đám cỏ xấu mà bỏ mất đám lúa tốt đó!
Hạp Lư nghe nói tỉnh ngộ, bèn
phong Tôn Vũ làm thượng tướng quân, hiệu là quân sư, giao phó cho việc đánh Sở.
Ngũ Viên hỏi Tôn Vũ rằng:
– Phải tiến quân từ chỗ nào?
Tôn Vũ nói:
– Phàm việc dụng binh, trước hết
phải giữ gìn mặt trong đã, rồi mới có thể đánh mặt ngoài được. Tôi nghe nói em
Vương Liêu là Yểm Dư ở nước Từ, Chúc Dung ở nước Chung Ngô, hai người ấy đều muốn
báo thù. Nay ta phải trừ bỏ hai người ấy, rồi sẽ tiến binh đánh Sở.
Ngũ Viên khen phải, tâu với Hạp
Lư. Hạp Lư nói:
– Từ và Chung Ngô đều là nước nhỏ,
ta sai sứ đến bảo bắt họ, tất họ phải theo lời.
Hạp Lư liền sai một người sang Từ
bắt Yểm Dư và một người sang Chung Ngô bắt Chúc Dung. Vua Từ là Chương Vũ không
nỡ để cho Yểm Dư chết, mới mật sai người báo Yểm Dư. Yểm Dư trốn đi, lại gặp
Chúc Dung. Hai người bàn nhau chạy sang nước Sở. Sở Chiêu-vương mừng mà nói rằng:
– Hai công tử ấy đều thầm oán nước
Ngô, ta nên nhân lúc họ cùng khốn mà kết nạp.
Bèn cho hai công tử ở đất Thư
Thành, để luyện tập quân mã mà chống nhau với nước Ngô. Hạp Lư giận nước Từ và
nước Chung Ngô, sai Tôn Vũ đem quân đi đánh. Vua Từ là Chương Vũ chạy sang nước
Sở. Tôn Vũ bắt vua nước Chung Ngô đem về, lại lẻn sang đánh Thư Thành, giết Yểm
Dư và Chúc Dung. Hạp Lư muốn thừa thắng tiến vào đánh Sính Đô (kinh thành nước
Sở), Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng:
– Dân đang mỏi mệt, chưa nên dùng
vội.
Tôn Vũ nói xong, liền rút quân về.
Ngũ Viên hiến kế rằng:
– Phàm ít mà thắng được nhiều, yếu
mà thắng được mạnh là tất phải hiểu cái lẻ “dĩ dật đãi lao” (mình thong thả khoẻ
khoắn, chờ cho quân địch mệt nhọc, đến để đánh). Tấn Điệu-công ngày xưa chia
quân làm ba đạo để làm cho Sở phải khó nhọc, mới đánh được Sở ở đất Tiêu Ngư. Kẻ
cầm quyền ở nước Sở ngày nay đều là những phường ngu dốt, không biết gì, xin đại
vương cũng chia quân làm ba đạo để sang quấy nhiễu nước Sở. Cứ thay đổi nhau, Sở
ra thì ta về, mà Sở về thì ta ra, khiến cho kẻ kia mệt mỏi, bấy giờ ta sẽ kéo cả
ra mà đánh thì tất phải vỡ được.
Hạp Lư khen phải, mới chi quân
làm ba đạo, cho sang quấy nhiễu bờ cõi nước Sở. Sở đem quân ra cứu. Ngô lại rút
quân về, người nước Sở rất khổ sở.
Hạp Lư có người con gái yêu tên
là Thắng Ngọc. Một hôm ăn tiệc, người nhà bếp dâng món cá hấp. Hạp Lư ăn một nửa,
còn thừa đưa cho Thắng Ngọc. Thắng Ngọc giận, nói:
– Đại vương cho con cá ăn dở, thế
là làm nhục ta, ta còn sống làm gì nữa.
Thắng Ngọc lui ra, rồi tự tử. Hạp
Lư thương lắm, mới làm một cái lăng thật to ở ngoài Sương Môn, đào hào đắp luỹ,
nhưng chỗ đất đào thành ra cái hồ lớn (tức là hồ Vũ Phần bây giờ); lại đục đá
hoa để làm quách, bao nhiêu vàng bạc châu báu ở trong kho, đem chôn gần đến nửa
phần; chôn thêm cả một thanh bảo kiếm là thanh kiếm Bản sinh, lại sai người múa
bạch hạc (làm con hạc trắng đội mà múa) ở giữa chợ nước Ngô. Dân kéo đến xem kể
hàng vạn người, nhân tiện bảo mọi người theo lối Toại môn (cửa hang đi ngầm dưới
đất vào huyệt) mà vào xem. Trong Toại môn có làm một cái máy. Khi dân đã kéo ồ
cả vào, Hạp Lư liền cho giật máy cho cửa đóng sập lại, rồi đem đất lấp đi. Kể
hàng vạn người vừa trai, vừa gái, đều chết tất cả.
Hạp Lư nói:
– Ta bắt hàng vạn người chết theo
thì con gái ta ở dưới suối vàng, không đến nỗi cô quạnh.
Lại nói chuyện Sở Chiêu-vương, một
hôm đang nằm ở trong cung, bỗng sực thức dậy, thấy bên gối có hào quang sáng rực,
liền ngoảnh lại trông thấy một thanh bảo kiếm. Sáng hôm sau, Chiêu-vương sai
triệu Phong Hồ Tử là một người giỏi xem kiếm, vào cung, rồi đưa thanh kiếm cho
xem. Phong Hồ Tử trông thấy thanh kiếm, kinh sợ mà nói rằng:
– Đại vương lấy đâu được thế này?
Sở Chiêu-vương nói:
– Đêm qua ta ngủ dậy, bắt được ở
bên gối, chẳng hay đó là thanh kiếm gì?
Phong Hồ Tử nói:
– Đây là thanh kiếm “Trạm Lư” của
một kiếm sư tên gọi Âu Giã Tử đúc ra. Ngày xưa vua nước Việt đúc được năm thanh
kiếm. Vua nước Ngô là Thọ Mộng muốn lấy, vua nước Việt mới đem dâng ba thanh là
“Ngư trường”, “Bản sinh”, và “Trạm lư”. “Ngư trường” là thanh truỷ thủ sau đâm
chết Vương Liêu, thanh kiếm “Bản sinh” sau chôn theo con gái Hạp Lư, chỉ còn có
một thanh kiếm “Trạm lư” này. Tôi nghe nói thanh kiếm này thiêng lắm, hễ vua
làm điều trái lẽ thì thanh kiếm này biến mất; nó hiện ra ở nước nào thì nước ấy
được cường thịnh. Nay vua Ngô giết Vương Liêu để cướp ngôi, lại chôn sống hàng
vạn người theo con gái, người nước Ngô ai cũng oán giận, vậy nên thanh kiếm “Trạm
lư” này bỏ chỗ vô đạo mà đến chỗ hữu đạo đó!
Sở Chiêu-vương quý thanh kiếm “Trạm
lư” lắm, đeo luôn ở cạnh mình, lại tuyên bố cho người trong nước biết, lấy làm
một cái điềm hay. Hạp Lư mất thanh kiếm, sai người đi dò tìm. Có kẻ báo là
thanh kiếm ấy đã về nước Sở. Hạp Lư nổi giận nói:
– Đó tất là vua Sở đút tiền cho bọn
thị vệ ta để lấy trộm thanh kiếm đây!
Hạp Lư tức thì giết chết mấy chục
thị vệ vẫn hầu hạ chung quanh; lại sai Tôn Vũ, Ngũ Viên và Bá Hi đem quân đi
đánh Sở, và sai sang mượn quân nước Việt. Vua nước Việt là Doãn Thường chưa tuyệt
giao với Sở, không chịu phát binh. Khi bọn Tôn Vũ đã đánh được đất Lục và đất
Tiềm của nước Sở rồi, không thấy có quân tiếp ứng, liền rút quân về. Hạp Lư giận
nước Việt không chịu phát binh đánh Sở, toan quay sang đánh Việt. Tôn Vũ can rằng:
– Năm nay tuế tinh ở về địa phận
nước Việt. Ta đánh Việt tất không lợi.
Hạp Lư không nghe, đem quân đánh
Việt; phá vỡ quân Việt ở đất Huế Lý, cướp lấy của cải, rồi lại rút về. Tôn Vũ
nói riêng với Ngũ Viên rằng:
– Sau bốn mươi năm nữa, chắc nước
Việt sẽ cường thịnh mà nước Ngô phải suy vong!
Năm sau, quan lệnh doãn nước Sở
là Nang Ngõa đem quân đánh Ngô, để báo thù trận đánh ở đất Lục và đất Tiềm khi
trước. Hạp Lư sai Tôn Vũ và Ngũ Viên đem quân ra nghênh chiến, phá vỡ quân nước
Sở ở đất Sào, bắt được tướng nước Sở là Can Phồn đem về. Hạp Lư nói:
– Chưa vào tới Sính Đô, thì dẫu
phá vỡ quân Sở cũng là vô công.
Ngũ Viên nói:
– Tôi có lúc nào quên được Sính
Đô đâu, chỉ vì nước Sở đang cường thịnh, không nên khinh thường. Nang Ngõa
(quan lệnh doãn nước Sở) dẫu không được lòng dân, nhưng chư hầu chưa ai ghét cả.
Tôi nghe Nang Ngõa hay ăn tiền, chẳng bao lâu chư hầu tất cả cũng sinh biến, bấy
giờ ta sẽ nhân dịp mà đánh Sở.
Hạp Lư giao cho Tôn Vũ luyện tập
thuỷ quân; còn Ngũ Viên thì ngày nào cũng sai người dò thám công việc nước Sở.
Một hôm, nghe báo có nước Đường và nước Sái sai sứ sang thông hiếu, hiện đã tới
cõi ngoài. Ngũ Viên mừng mà nói rằng:
– Đường và Sái đều là thuộc quốc
của nước Sở, nay tự nhiên sai sứ sang thông hiếu với ta, tất đã có lòng oán Sở.
Ấy là cơ hội trời khiến cho ta phá Sở, tiến vào Sính Đô đó.
Nguyên các nước thấy Sở
Chiêu-vương bắt được thanh kiếm “Trạm lư”, thì đều đến chúc mừng. Đường Thành-công
và Sái Chiêu-công cùng đến. Sái Chiêu-côgn có một đôi ngọc bội màu mỡ dê và hai
chiếc áo cấu bằng lông điểu bạch, bèn đem mỗi thứ một chiếc dâng Sở Chiêu-vương
để làm lễ chúc mừng, còn thì để mình đeo và mặc. Nang Ngõa trông thấy thích lắm,
sai người đòi lấy. Đường Thành-công có một đôi ngựa rất quý, tên gọi Túc Sương;
Thành-công đem đôi ngựa ấy thắng xe đi đến nước Sở, ngựa đi nhanh mà êm lắm.
Nang Ngõa cũng có ý thích, sai người đòi lấy. Đường Thành-công không cho.
Khi Đường Thành-công và Sái Chiêu-công
vào triều kiến xong, Nang Ngõa nói dèm với Sở Chiêu-vương rằng:
– Đường và Sái tư thông với Ngô,
nếu tha cho về thì tất dẫn Ngô sang đánh Sở, chi bằng ta bắt giữ lại.
Sở Chiêu-vương bèn truyền giam Đường
Thành-công và Sái Chiêu-công ở quán xá, cho một nghìn quân cạnh giữ. Bấy giờ Sở
Chiêu-vương còn ít tuổi, quyền chính đều ở tay Nang Ngõa. Đường Thành-công và Sái
Chiêu-công bị giam tại Sở, đã ba năm trời. Thế tử nước Đưòong không thấy Đường
Thành-công về, sai quan đại phu là công tôn Triết đến nước Sở thăm tin, mới biết
là Đường Thành-công bị giam. Công tôn Triết nói riêng với các thị vệ rằng:
– Chúa công ta tiếc đôi ngựa để
chịu giam mãi ở nước Sở, sao lại trọng súc vật mà khinh nước nhà như thế! Chi bằng
chúng ta lấy trộm đôi ngựa ấy đem dâng quan lệnh doãn nước Sở để chúa công được
về. Khi chúa công về rồi, có trị chúng ta về tội lấy trộm ngựa thì chúng ta
cũng cam lòng!
Thị vệ theo lời, liền đem rượu
cho kẻ giữ ngựa uống thật say, rồi lấy trộm đôi ngựa đem dâng Nang Ngõa và nói
với Nang Ngõa rằng:
– Chúa công tôi có lòng kính mến
quan lệnh doãn, vậy sai chúng tôi đem đôi ngựa quý này đến dâng.
Nang Ngõa mừng lắm, nhận lấy đôi
ngựa. Ngày hôm sau vào tâu với Sở Chiêu-vương rằng:
– Nước Đường đất nhỏ quân ít, dẫu
ta có tha cho về, cũng chẳng làm gì ta nổi.
Sở Chiêu-vương nghe lời, tức thì
tha cho Đường Thành-công về nước. Khi Đường Thành-công đã về đến nước Đường,
công tôn Triết và các thị vệ đều sụp ở trước sân để xin chịu tội. Đường
Thành-công nói:
– Các ngươi không đem ngựa mà
dâng đứa tham phu qấy thì sao cho ta được về nước. Đó là lỗi của ta, các người
cũng đừng oán ta!
Đường Thành-công trọng thưởng cho
công tôn Triết và các thị vệ. Sái Chiêu-công nghe nói Đường Thành-công dâng ngựa
được về, cũng đém áo cừu và ngọc bộ dâng Nang Ngõa. Nang Ngõa lại nói với Sở
Chiêu-vương rằng:
– Sái cũng như Đường, ta đã tha
cho Đường thì còn giữ Sái làm gì nữa.
Sở Chiêu-vương theo lời. Sái
Chiêu-công cáo từ lui về, trong lòng căm tức; khi đến sông Hán Thuỷ, bèn cầm
viên bạch bích ném xuống sông mà thề rằng:
– Nếu ta không đánh được Sở mà lại
qua sông này lần nữa thì xin chết như thế này!
Khi về nước, tức khắc cho thế tử
Nguyên sang làm con tin tại nước Tấn, để mượn quân đánh nước Sở. Tấn Định-công
đem việc Nang Ngõa tham lam vào tố cáo với Chu Kính vương. Chu Kính vương sai
quan khanh sĩ là Lưu Quyền đem quân đến giúp. Tống, Tề, Lỗ, Vệ, Trần, Trịnh, Hứa,
Tào, Cừ, Châu, Đốc, Hồ, Đằng, Tiết, Kỷ, Tiêu Châu, Từ và Sái cả thảy mười bảy
nước đều oán giận Nang Ngõa là người tham lam, đem quân theo Tấn. Sĩ Uông nước
Tấn làm đại tướng, Tuân Di làm phó tướng, đem quân chư hầu hội ở đất Thiệu
Lăng. Tuân Di nghĩ mình vì nước Sái mà đánh nước Sở là có công với nước Sái,
nên cũng muốn đợi ăn tiền, bèn sai người bảo Sái Chiêu-công rằng:
– Tôi nghe nói nhà vua có áo cừu
và ngọc bội, đem dâng vua tôi nước Sở, sao đến nước tôi lại không có gì cả?
Chúng tôi vì nhà vua mà cất quân đi, đưòong xa hàng nghìn dặm, chẳng hay nhà
vua định lấy gì mà khao thưởng quân sĩ của nước tôi?
Sái Chiêu-công nói:
– Tôi thấy quan lệnh doãn nước Sở
là người tham lam, vậy nên bỏ Sở mà theo Tấn. Nay nếu ngài nghĩ cái nghĩa minh
chủ mà đem quân đánh Sở thì năm trăm dặm đất ở xứ Kinh Tương kia đều là để khao
thưởng quân sĩ cả, còn gì lợi hơn nữa!
Tuân Di nghe nói, có ý hổ thẹn. Bấy
giờ trời mưa to luôn mãi, quan khanh sĩ nhà Chu bị bệnh sốt rét. Tuân Di nói với
Sĩ Uông rằng:
– Ngày xưa Tề Hoàn-công cường thịnh
như thế mà còn chịu đóng quân ở Thiệu Lăng để giảng hoà với Sở. Tiên quân nước
ta là Văn-công chỉ đánh được Sở có một trận mà việc tranh chiến lan man mãi
không thôi. Nước ta từ khi cùng Sở giảng hoà, hai bên vẫn không hiềm khích gì với
nhau, vậy thì không nên gây ra việc tranh chiến. Huống chi độ này mưa nhiều nước
lụt, bệnh sốt rét đang phát, tôi e rằng tiến lên vị tất đã đánh được Sở, mà lui
về lại bị quân Sở đuổi theo, ta nên lo trước mới được.
Sĩ Uông cũng là một đứa tham phu,
muốn ăn tiền của nước Sái, nhưng chưa được mãn nguyện, mới mượn cớ mưa nhiều nước
lụt, tiến binh không lợi, cho thế tử Nguyên trở về nước Sái, rồi hạ lệnh rút
quân. Các nước thấy nước Tấn rút quân, cũng đều rút quân về cả. Sái Chiêu-công
thấy các nước rút quân về, trong lòng chán ngán, khi về qua nước Thẩm, gị6n vua
Thẩm không theo đánh Sở, mới sai quan đại phu là công tôn Tính đem quân đánh Thẩm,
bắt vua Thẩm giết đi, để cho hả lòng oán Sở. Nang Ngõa giận lắm, đem quân đánh
Sái, vây thành nước Sái. Công tôn Tính nói với Sái Chiêu-công rằng:
– Ta không thể trông cậy ở nước Tấn
được, chi bằng sang cầu viện nước Ngô. Các quan nước Ngô như Ngũ Viên và Bá Hi
đều là cừu địch với Sở, tất thế nào cũng giúp ta.
Sái Chiêu-công nghe lời, liền sai
công tôn Tính sang ước với Đường Thành-công để cùng đi mượn quân nước Ngô, lại
cho người con thứ là công tử Kiền sang ở làm tin. Ngũ Viên đưa vào yết kiến Hạp
Lư và nói với Hạp Lư rằng:
– Đường và Sái oán giận nước Sở
mà xin làm tiên phong để sang đánh Sở. Cứu Sái là một tiếng tốt, đánh Sở là một
lợi to. Đại vương muốn tiến binh vào Sính Đô thì nên nhân cơ hội này!
Hạp Lư nhận lời, sai công tôn
Tính về trước để báo cho Sái Chiêu-công biết.
Hạp Lư đang bàn việc tiến binh, bỗng
nghe báo có quân sư là Tôn Vũ xin vào yết kiến. Hạp Lư mời vào. Tôn Vũ nói:
– Nước Sở khó đánh là vì có nhiều
thuộc quốc, ta chưa dễ tiến đến tận nơi được. Nay vua Tấn xương lên một câu mà
mười tám nước hợp: trong mười tám nước ấy thì Trần, Hứa, Hồ và Đốn đều là thuộc
quốc của Sở, mà cũng bỏ Sở theo Tấn, xem thế thì biết người ta đều oán Sở, chẳng
những Đường và Sái. Phen này nước Sở cô thế rồi!
Hạp Lư bằng lòng, sai Bị Ly và
Chuyên Nghị giúp thế tử Ba giữ nước, cho Tôn Vũ làm đại tướng. Ngũ Viên và Bá
Hi làm phó tướng, công tử Phu Khái làm tiên phong, công tử Sơn đốc vận lương thực,
rồi đem sáu vạn quân Ngô theo đường thuỷ qua sông Hoài, tiến sang nước Sái.
Nang Ngõa thấy quân Ngô thế to lắm, liền giải vây nước Sái mà chạy về; lại sợ
quân Ngô kéo quân sông Hán, mới đóng quân giữ ở đấy, và sai người về Sính Đô
cáo cấp. Sái Chiêu-công ra nghênh tiếp Hạp Lư, rồi vừa khóc vừa kể những tội ác
của vua tôi nước Sở. Được một lúc, Đường Thành-công cũng đến. Đường Thành-công
và Sái Chiêu-công tình nguyện cùng theo đánh Sở. Lúc sắp khởi hành, Tôn Vũ truyền
cho quân sĩ lên cả đường bộ, còn bao nhiêu thuyền bè cứ để ở khúc sông Hoài.
Ngũ Viên thấy vậy, sẽ hỏi riêng Tôn Vũ.
Tôn Vũ nói:
– Ta đi đường thuỷ thì ngược nước
mà chậm, khiến cho Sở phòng bị trước được, khó lòng phán nổi.
Ngũ Viên rất lấy làm phục. Đại
binh nước Ngô qua đường Dự Chương tiến thẳng đến đóng ở phía bắc sông Hán, còn
quân Sở đóng ở phía nam. Nang Ngõa ngày đêm chỉ lo quân Ngô tiến đến, nghe nói
thuyền bè nước Ngô có ở sông Hoài, bấy giờ mới yên lòng. Sở Chiêu-vương nghe
tin quân Ngô sắp sang đánh, liền họp các quan lại để hỏi kế. Công tử Thân nói:
– Tài Tử Thường không phải là tài
đại tướng. Đại vương nên sai quan tư mã là Thẩm Doãn Thư đem quân đi, giữ cho
quân Ngô khỏi qua sông Hán. Kẻ kia đi xa xôi không có tiếp ứng thì tất không ở
lâu được!
Sở Chiêu-vương theo lời sai Thẩm
Doãn Thư đem một vạn quân rưỡi hợp cùng Nang Ngõa để chống quân Ngô. Thẩm Doãn
Thư đem quân tới nơi, Nang Ngõa đón vào. Thẩm Doãn Thư hỏi rằng:
– Quân Ngô đi đường nào mà đến
đây được chóng như vậy?
Nang Ngõa nói:
– Quân Ngô bỏ thuyền bè ở sông
Hoài, rồi theo đường bộ qua Dự Chương tới đấy.
Thẩm Doãn Thư cười ha hả mà nói rằng:
– Người ta nói Tôn Vũ dụng binh
như thần, cứ như ta xem thì khác nào trò trẻ.
Nang Ngõa nói:
– Sao vậy?
Thẩm Doãn Thư nói:
– Người nước Ngô quen thạo thuyền
bè, lợi về việc đánh thuỷ, nay lại bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài để đi cho
chóng, vạn nhất thua trận thì lấy đường nào mà chạy về? Ta nghĩ cũng nực cười!
Nang Ngõa nói:
– Quân kia hiện đang đóng ở phía
bắc sông Hán, ta dùng kế gì mà phá được?
– Tôi chia cho ngài năm nghìn
quân. Ngài cứ theo dọc bờ sông Hán mà đóng đồn, bao nhiêu thuyền bè, bắt để cả ở
bên này sông, lại sai quân thuỷ đi tuần khắp mặt sông, khiến cho quân Ngô không
thể nào qua sông được, rồi tôi đem đại binh qua đường Tân Tức đi thẳng sang
sông Hoài, đốt hết những thuyền bè của quân Ngô đi lại, dùng gỗ đá lấp con đường
Hán Đông. Lúc bấy giờ ngài đem quân qua sông Hán đánh vào mặt trước, tôi đem
quân đánh mặt sau. Kẻ kia thuỷ bộ đều nghẽn cả, không có đường mà chạy, chắc hẳn
là ta bắt sống được vua tôi nước Ngô.
Nang Ngõa mừng lắm, nói:
– Tôi chịu kém cái tài cao đoán của
quan tư mã!
Thẩm Doãn Thư cho quan đại tướng
là Vũ Thành Hắc coi năm nghìn quân ở lại để giúp Nang Ngõa, còn mình thì đem đại
binh tiến thẳng vào đường Tân Tức.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét