🔙 Mục lục 🔜
Hồi thứ 106.
Vương Ngao phản gián giết Lý Mục
Điền Quang đâm cổ tiến Kinh Kha
Bấy giờ thái tử Đan nước Yên làm
con tin ở Tần, thấy Tần cử đại binh mã đánh Triệu, biết tai họa sẽ lây đến nước
Yên, bèn ngầm sai người đưa thư cho vua Yên bảo nên phòng bị việc chiến thủ; lại
bảo vua Yên nói dối có bệnh, sai người sang đón thái tử về nước. Vua Yên theo kế.
Sứ giả đến Tần, vua Tần nói:
– Vua Yên chưa chết, thì thái tử
chưa về được. Muốn cho thái tử về, trừ phi bao giờ đầu quạ trắng, ngựa mọc sừng
mới được!
Thái tử Đan ngửa mặt lên trời kêu
to, một luồng oán khí thẳng xông lên mấy tầng mây, đầu quạ bỗng trắng, mà vua Tần
vẫn không cho về. Thái tử Đan bèn đổi quần áo, hủy hình dung, giả làm đầy tớ
nhà người ta, lừa ra khỏi cửa Hàm Cốc, đang đêm trở về nước Yên. Vua Tần đang bận
về việc Hàn, Triệu, chưa rỗi hỏi đến tội Đan trốn về.
Lại nói đại tướng Triệu là Lý Mục
đóng quân ở núi Hội Toàn, hai đạo quân Tần đều không dám tiến, vua Tần lại sai
Vương Ngao đến giúp mưu kế cho Vương Tiễn. Vương Ngao nói với Tiễn rằng:
– Lý Mục là tay danh tướng, chưa
dễ đánh được, chi bằng hãy tạm giảng hòa, nhưng chớ định ước, trong khi sứ mệnh
hai bên đi lại, tôi sẽ có kế.
Vương Tiễn bèn sai người sang
dinh Triệu giảng hòa. Lý Mục cũng sai người đáp lại. Vương Ngao lại đến Triệu
vào nói riêng với Quách Khai rằng:
– Lý Mục cùng Tần giảng hòa
riêng, hẹn ngày phá Triệu sẽ chia cho làm vua ở Đại quận. Nếu ông đem lời ấy
nói với vua Triệu, khiến vua Triệu cử viên tướng khác thay Lý Mục, tôi sẽ tâu
lên vua Tần, thì công lao của ông không phải là nhỏ!
Quách Khai đã có ý khác, bèn theo
lời Vương Ngao mật tâu lên vua Triệu, vua Triệu ngầm sai người xem xét, thì quả
thấy Lý Mục cùng Vương Tiễn sai sứ đi lại, bèn tin là thực, và triệu Quách Khai
đến bàn mưu. Quách Khai xin vua Triệu cử ngay Triệu Thông ở trong quân làm đại
tướng thay Lý Mục, rồi triệu Lý Mục về nói dối là sẽ dung làm tướng quốc. Vua
Triệu nghe lời, sai Tư Mã Thượng cầm cờ tiết đến núi Hội Toàn truyền mệnh. Lý Mục
nói:
– Trong lúc hai quân đối lũy, nước
nhà yên hay nguy, đều ở một người tướng, dẫu có mệnh vua ta cũng không thể theo
được!
Tư Mã Thượng bảo riêng Lý Mục rằng:
– Quách Khai dèm tướng quân muốn
làm phản, vua Triệu nge lời, nói là đòi tướng quân về làm tướng quốc, đó chỉ là
lời nói dối tướng quân đó mà thôi!
Lý Mục tức giận nói rằng:
– Khai trước dèm Liêm Pha, nay lại
dèm ta, ta phải đem quân vào triều, trừ bỏ thằng ác ở bên cạnh vua, rồi sẽ chống
Tần sau!
Tư Mã Thượng nói:
– Tướng quân làm như thế, người
biết cho là trung, người không biết lại cho là phản, chỉ tổ cho kẻ dèm pha có
được cớ nói mình. Với cái tài của tướng quân, đi đâu chẳng lập được công danh,
hà tất phải ở Triệu.
Lý Mục than rằng:
– Ta thường giận Nhạc Nghị, Liêm
Pha không trọn đời làm tướng Triệu, không ngờ ngày nay lại đến ta!
Lại nói:
– Triệu Thông không đáng thay ta
làm tướng, ta không thể đem tướng ấn trao cho y được
Rồi treo ấn ở trong màn, nửa đêm
cải trang làm thường dân trốn đi, muốn sang Ngụy. Triệu Thông cảm ơn Quách Khai
tiến cử, lại giận Lý Mục không chịu trao tướng ấn cho mình, bèn sai lực sĩ đuổi
theo, tìm thấy Lý Mục ở trong một nhà trọ, nhân lúc say trói lại mà chém, rồi
đem đầu về dâng. Tư Mã Thượng không dám về triều phục mệnh, lẻn đem vợ con trốn
ra ngoài bể. Sau khi Triệu Thông đã thay Lý Mục làm tướng, Nhan Tụ được cử làm
phó. Quân đại vốn phục Lý Mục, thấy Lý Mục không có tội gì mà bị hại, thì căm
giận khôn xiết, trong một đêm cùng nhau bỏ trốn hết cả, Triệu Thông không thể
ngăn được. Quân Tần nghe tin Lý Mục chết đều uống rượu mừng. Vương Tiễn, Dương
Đoan Hòa hai đạo quân lập tức cùng tiến đánh, Triệu Thông vội đem quân nghênh địch,
nhưng bị quân Tần đánh chẹn giữa, đầu đuôi không cứu nhau được, Triệu Thông
thua chạy, bị Vương Tiễn đón đường giết chết, còn Nhan Tụ thu nhặt tàn binh chạy
về Hàm Đan. Quân Tần đuổi thẳng vào đến nơi, bổ vây bốn mặt. Vua Tần nghe hai đạo
quân đều đắc thắng, bèn sai nội sử Đằng dời quân sang nhận đất Hàn. Vua Hàn là
An sợ quá, dâng hết cả các thành, xin làm tôi nước Tần. Tần bèn lấy đất Hàn đặt
làm quận Dĩnh Xuyên. Thế là nước Hàn mất, sáu nước chỉ còn có năm.
Lại nói quân Tần vây Hàm Đan,
Nhan Tụ đem hết quân chống giữ. Vua Triệu sợ quá muốn sai sứ sang các nước láng
giềng cầu cứu. Quách Khai nói:
– Vua Hàn đã vào làm tôi Tần;
Yên, Ngụy thì còn đang lo giữ mình không xong, còn cứu ta thế nào được! Cứ như
ý tôi, quân Tần thế mạnh lắm, chi bằng nhà vua đem cả thành đầu hàng, còn giữ
được địa vị phong hầu.
Vua Triệu toan nghe, công tử Gia
phục xuống đất kêu khóc rằng:
– Tiên vương đem tôn miếu xã tắc
truyền cho nhà vua, sao nỡ bỏ? Tôi xin cùng Nhan Tụ hết sức chống đánh, vạn nhất
thành bị phá, thì còn đất Đại Quận rộng vài trăm dặm, có thể lập nước được, cớ
sao lại chịu bó tay làm tên tù của người ta?
Quách Khai nói:
– Thành phá thì vua bị bắt, khi
nào còn đến đất Đại được?
Công tử Gia rút gươm, chỉ Quách
Khai nói rằng:
– Cái thằng dèm pha hại nước kia,
còn nói nhiều ta tất chém chết!
Vua Triệu khuyên giải, Gia mới
thôi. Vua Triệu về cung, không biết làm thế nào, chỉ còn biết uống rượu làm vui
mà thôi. Quách Khai muốn ước với quân Tần dâng thành, nhưng công tử Gia đem hết
tôn tộc tân khách, giúp Nhan Tụ phòng giữ, một giọt nước cũng không lọt, trong
ngoài không thể tin được. Bấy giờ vì mất mùa luôn, dân chúng ngoài thành trốn hết,
quân Tần không cướp lương vào đâu được, mà ở trong thành có trữ nhiều thóc, ăn
dùng không thiếu, cho nên quân Tần không thể hạ thành mau chóng được. Vương Tiễn
bèn lui quân ra ngoài năm mươi dặm, để gần chỗ chở lương. Trong thành thấy quân
Tần lui đi việc phòng giữ hơi trễ nải, mỗi ngày mở cửa một lần, để cho mọi người
ra vào. Quách Khai nhân dịp ấy, sai người tâm phú đem mật thư ra đưa đến dinh Tần,
trong thư đại ý nói có ý dâng thành đã lâu, hiềm vì không có dịp, nhưng vua Triệu
đã sợ hãi lắm rồi, nếu vua Tần ngự giá đến nơi, thì Khai xin khuyên vua Triệu
ra hàng. Vương Tiễn được thư, sai người phi báo vua Tần. Vua Tần đem ba vạn
tinh binh, sai Lý Tính hộ giá đi đến Hàm Đan, lại hạ lệnh vây thành, ngày đêm
đánh phá. Trên thành trông thấy lá cờ to có chữ “Tần vương”, liền phi báo vua
Triệu, vua Triệu càng sợ, Quách Khai nói:
– Vua Tần thân mang quân đến đây,
có ý định nếu không phá được Hàm Đan thì không thôi. Bọn công tử Gia, Nhan Tụ
không đủ cậy, xin đại vương tự quyết đoán lấy.
Vua Triệu nói:
– Quả nhân muốn hàng Tần, nhưng sợ
bị giết, thì làm thế nào?
Quách Khai nói:
– Tần chẳng hại vua Hàn, lại hại
đại vương ư? nếu đem ngọc bích họ Hòa và địa đồ Hàm Đan ra dâng, vua Tần tất
vui lòng.
Vua Triệu liền sai Quách Khai viết
thư xin hàng. Quách Khai thảo xong lại tâu rằng:
– Thư xin hàng đã viết, nhưng
công tử Gia tất sẽ ngăn trở. Nghe nói đại dinh vua Tần ở cửa Tây, vậy đại vương
nói dối là đi tuần thành rồi đi xe đến đó, tự mở cửa ra hàng lo gì không được!
Vua Triệu vốn hôn mê, chỉ nghe lời
Quách Khai, đến lúc nguy cấp lại càng không có chủ trương, bèn theo lời Quách
Khai. Nhan Tụ đang tuần thị ở cửa Bắc, nghe vua Triệu đã ra cửa Tây đầu hàng
vua Tần rồi, thì sợ quá. Công tử Gia cũng phi ngựa đến nói rằng trên thành đã
vâng mệnh vua Triệu dựng cờ hàng, quân Tần sắp kéo vào. Nhan Tụ nói:
– Tôi xin liều chết giữ cửa Bắc,
công tử nên đi nhặt hết những người công tộc đến ngay, ta cùng chạy đến đất Đại,
để mưu việc khôi phục.
Công tử Gia theo lời, lặp tức
mang vài trăm người tôn tộc, cùng Nhan Tụ chạy ra cửa Bắc, luôn đêm đi đến đất
Đại. Nghe lời khuyên của Nhan Tụ, công tử Gia tự lập làm vua Đại, để hiệu lệnh
quân dân, nêu công của Lý Mục, khai phục quan tước, thân tự đặt lễ tế, để thu lòng
người đất Đại; sai sứ đi kết hợp với Yên; đóng quân ở Thượng Cốc để phòng quân
Tần.
Lại nói vua Tần chuẩn bị cho vua
Triệu đầu hàng rồi, vào thành Hàm Đan, ở trong cung vua Triệu. Vua Triệu theo lễ
bầy tôi vào bái kiến, vua Tần ngồi mà nhận, các bề tôi cũ có nhiều người rơi nước
mắt. Hôm sau vua Tần cầm xem viên ngọc bích họ Hòa, bèn cười mà bảo quần thần rằng:
– Viên ngọc này Tiên vương dùng
mười lăm thành đổi mà không được đây.
Rồi hạ lệnh lấy đất Triệu đặt làm
quận Cự Lộc, đặt quan trấn thủ, an trí vua Triệu ở Phòng Lăng, phong Quách Khai
làm thượng khanh. Vua Triệu bấy giờ mới biết cái tội Quách Khai bán nước, bèn
than rằng:
– Nếu Lý Mục còn sống, người Tần
há được ăn thóc Hàm Đan của ta!
Phòng Lăng bốn mặt có nhà đá, Triệu
vương ở trong nhà đá, nghe tiếng nước chảy, hỏi nước sông gì. Tả hữu thưa rằng:
– Sở có bốn sông: Giang, Hàng,
Thư, Chương. Đây là sông Thư, phát nguyên từ Phòng Sơn, chảy đến sông Hán.
Vua Triệu buồn bã than rằng:
– Nước là vật vô tình, mà còn tự
chảy đến sông Hán được. Quả nhân bị giam ở đây, trông về cố hương nghìn dặm,
làm sao mà đến được?
Bèn làm bài ca sơn thủy để tỏ ý
xót thương nhân thế. Từ đó, cứ suốt ngày buồn bã, mỗi khi hát một bài các người
chung quanh ai nghe cũng phải ngậm ngùi thương xót, rồi phát bệnh mà chết.
Vua Tần kéo quân về Hàm Dương, tạm
cho quân lính nghỉ ngơi. Quách Khai chứa vàng nhiều quá, không thể mang đi theo
được, bèn cho cả vào hầm nhà riêng ở Hàm Đan. Khi việc đã xong, xin vua Tần cho
nghỉ ít lâu về Triệu để vận tải gia tài. Vua Tần cười mà cho về. Về đến Hàm Đan,
mở hầm lấy vàng, chở lên mấy xe, giữa đường bị kẻ cướp giết chết, lấy hết vàng
đem đi mất. Có người nói bọn cướp ấy là khách của Lý Mục báo thù cho chủ.
Lại nói thái tử Đan trốn về nước
Yên, căm giận vua Tần lắm, bèn bán gia tài, tụ hợp nhiều tân khách để mưu việc
báo thù. Đan tìm được hai tay dũng sĩ là Hạ Phù và Tống Ý đều hậu đãi cả. Lại
có Tần Vũ Dương mới mười ba tuổi đã từng ban ngày giết kẻ thù ở giữa chợ, người
chợ không dám gần, thái tử cũng tha tội cho mà thu nuôi ở trong nhà. Tướng Tần
là Phàn Ô Kỳ bị tội chạy sang Yên, trốn ở trong núi sâu, lúc ấy nghe thái tử hiếu
khách cũng ra xin theo, Đan đãi làm bậc thượng tân, xây một cái thành ở phía Đông
sông Dịch Thủy cho Ô Kỳ ở, gọi là Phàn quán. Thái phó Cúc Võ sợ làm như thế là
chọc tức Tần, Tần không khi nào để yên, xin cho Ô Kỳ lập tức sang nước Hung-nô,
để Tần khỏi mượn cớ sinh sự, rồi mới kết với Tam Tấn ở phía Bắc, để mưu đồ dần
dần việc báo thù Tần. Thái tử Đan nói:
– Kế của thái phó là kế lâu dài,
lòng Đan này như lửa đốt không thể lúc nào nguôi được. Phương chi Phàn tướng
quân về với Đan trong lúc cùng khốn, đó là giao cái tình đau thương, làm sao lại
vì cớ sợ nước Tần mà đem bỏ Phàn tướng quân ra nơi hẻo lánh? Đan thà chết chứ
không làm việc ấy! Xin thái phó nghĩ cho Đan này kế khác.
Cúc Võ nói:
– Yên yếu mà chống Tần mạnh thì
cũng như đem lông bỏ vào lò, đem trứng chọi với đá. Tôi nông cạn hẹp hòi, không
thể giúp thế tử nghĩ kế được. Người quen của tôi là Điền Quang tiên sinh, trí
dũng kiêm toàn lại quen biết nhiều người kỳ vĩ. Thái tử muốn báo thù Tần, mà
không có Điền Quang thì không được.
Thái tử Đan liền cậy Cúc Võ đem
xe đi đón Điền Quang. Khi Điền Quang đến nơi, thái tử thân ra ngoài cửa cung
đón rước, rất là cung kính. Điền Quang tuổi già lụ khụ, trèo lên ngồi trên, những
người đứng dưới đều cười thầm. Thái tử Đan đuổi các người tả hữu ra ngoài, rồi
quỳ xuống mà nói rằng:
– Cái thế ngày nay, Yên-Tần không
thể cùng đứng. Nghe nói tiên sinh là người trí dũng kiêm toàn. Vậy tiên sinh có
thể vạch ra diệu kế để cứu nước Yên sắp mất trong chốc lát không?
Điền Quang từ chối là đã già yếu
không làm gì được nữa. Thái tử nói:
– Trong chỗ bạn chơi với tiên
sinh, hiện có người nào cũng có trí dũng như tiên sinh lúc còn trẻ không?
Điền Quang nói:
– Khó lắm. khó lắm! Thái tử xem
những khách ở trong nhà có mấy người có thể dùng được, bảo ra đây cho tôi xem!
Thái tử Đan liền cho gọi bọn Hạ
Phù, Tống Ý, Tần Vũ Dương ra chào Điền Quang. Điền Quang xem qua một lượt, hỏi
rõ họ tên, rồi bảo thái tử Đan rằng:
– Tôi xem những khách của thái tử
không người nào dùng được cả. Hạ Phù là người máu hăng, giận thì mặt đỏ; Tống Ý
là người mạch hăng, giận thì mặt xanh; Tần Vũ Dương là người cốt hăng, giận thì
mặt trắng. Tức giận mà lộ ra mặt để cho người ta biết, thì làm sao nên việc được?
Tôi biết có Kinh Khanh là người thần dũng, mừng giận không lộ ra mặt, có lẽ hơn
những người này.
Thái tử Đan nói:
– Kinh Khanh tên gì? Người ở đâu?
Điền Quang nói:
– Kinh Khanh tên là Kha, nguyên
là dòng dõi quan đại phu nước Tề tên là Khánh Phong. Khánh Phong chạy sang Ngô,
ở đất Chu Phương; Sở đánh giết Khánh Phong, họ hàng lại chạy sang Vệ, đem kiếm
thuật mà thuyết Vệ Nguyên quân, Vệ Nguyên quân không dung. Kha bỏ sang Yên, đổi
làm họ Kinh, người ta gọi là Kinh Khanh, tính vốn thích uống rượu. Người Yên
tên là Cao Tiệm Ly khéo đánh đàn trúc, Kha đem lòng yêu mến, hang ngày cùng uống
rượu ở trong chợ. Rượu say, Tiệm Ly đánh đàn trúc, Kinh Kha theo nhịp mà hát,
hát xong chảy nước mắt khóc rồi lại than thở, cho là thiên hạ không ai biết
mình. Người ấy thâm trầm có mưu lược, Quang này kém xa.
Thái tử Đan liền lấy xe của mình
sai tên nội thị đánh xe, nhờ Quang đi đón Kinh Kha hộ. Điền Quang nói:
– Kinh Kha nghèo tôi vẫn cung cấp
tiền rượu, chắc phải nghe lời tôi mà đến ngay.
Quang sắp lên xe, thái tử Đan lại
dặn rằng:
– Những lời Đan này nói là việc lớn
của nước nhà, xin tiên sinh chớ hở ra cho ai biết.
Điền Quang cười mà nói rằng:
– Già này không dám nói đâu.
Nói rồi đi xe chợ tìm Kinh Kha.
Kha cùng Cao Tiệm Ly đang uống rượu, mới ngà ngà say. Tiệm Ly đánh đàn trúc.
Quang nghe tiếng trúc, xuống xe vào thẳng gọi Kinh Kha. Tiệm Ly cầm đàn trúc mà
tránh đi. Kinh Kha cùng Điền Quang chào nhau, rồi Điền Quang mời Kha vào trong
nhà trò chuyện, Quang nói đén việc thái tử Đan muốn dung mình để mưu việc báo
thù Tần, nhưng vì mình già, có cử kinh Kha thay. Kha nói:
– Kha đâu dám không vâng mệnh
tiên sinh.
Quang muốn khích chí Kinh Kha,
bèn vỗ gươm than rằng:
– Phàm kẻ trưởng giả làm gì, chớ
để người ta nghi, nay thái tử đem việc nước bàn với Quang, mà lại dặn Quang chớ
tiết lộ, đó là có lòng nghi Quang. Quang này khi nào muốn thành việc cho người
mà lại để người nghi mình, vậy Quang xin lấy cái chết để tỏ lòng, xin túc hạ
kíp đi báo cho thái tử biết!
Nói xong rút gươm tự đâm cổ mà chết.
Kinh Kha đang thương khóc thì thái tử Đan vừa sai người đến xem sự thể thế nào.
Kinh Kha thấy thái tử có lòng thành, bèn lên xe của Điền Quang mà đi vào cung.
Thái tử tiếp đãi Kinh Kha cũng như Điền Quang, hỏi rằng:
– Điền tiên sinh sao không cùng đến?
Khinh Kha nói:
– Quang nghĩ thái tử có lời dặn
riêng, muốn tỏ với thái tử là giữ kín chuyện không nói với ai, nên đã tự đâm cổ
chết rồi.
Thái tử vỗ ngực thương khóc nói rằng:
– Điền tiên sinh này vì Đan mà chết,
há chẳng oan lắm thay!
Hồi lâu mới gạt nước mắt, mời
Kinh Kha ngồi lên trên, rồi nói rằng:
– Điền tiên sinh có lòng yêu mà
cho tôi được gặp Kinh-khanh, tôi xem đó là cái phúc từ trên Trời xuống, vậy xin
Kinh-khanh chỉ giáo cho.
Kinh Kha nói:
– Thái tử có việc lo về nước Tần?
Đan nói:
– Tần ví như hùm sói, ăn nuốt chư
hầu, không lấy được hết đất thiên hạ thì không chịu thôi. Nay đã diệt được hai
nước Hàn, Triệu rồi, tất sẽ đến lượt nước Yên. Vì thế nên Đan này ngày đêm lo
nghĩ, ăn không ngon ngủ không yên.
Kinh Kha nói:
– Thái tử muốn đem quân cùng Tần
quyết được thua, hay có kế gì khác?
Thái tử Đan nói:
– Yên là nước nhỏ, lại thường bị
nạn binh lửa, nay công tử Gia nước Triệu tự lập làm vua nước Đại, muốn cùng Yên
hợp quân chống Tần. Đan này chỉ e đem hết cả quân trong nước, cũng không đương
nổi một viên tướng Tần. Mà dù có vua Đại phụ thêm vào cũng chưa thấy mạnh thêm
được bao nhiêu. Ngụy và Tề thì vốn đi với Tần, mà Sở thì lại ở xa, chư hầu đều
sợ Tần mạnh, không ai dám hợp tung nữa. Đan này trộm nghĩ một kế, là nếu được một
tay dũng sĩ, giả sang xứ Tần, lấy lợi mà dụ, vua Tần tham lợi, tất cho đến gần,
nhân dịp đó sấn vào mà uy hiếp, bắt trả lại những đất đã lấn của chư hầu, như
Tào Mạt đời Tề Hoàn-công ngày xưa, nếu không thì sẽ đâm chết. Lúc ấy những đại
tướng cầm binh quyền không ai chịu ai, vua chết nước loạn, trên dưới ngờ nhau,
bấy giờ ta sẽ liên hợp Sở, Ngụy cùng lập con cháu Hàn, Triệu mà hợp sức phá Tần.
Đó là lúc càn khôn tái tạo, xin ngài lưu ý cho.
Kinh Kha ngẫm nghĩ hồi lâu rồi
thưa rằng:
– Tôi e tài hèn sức kém không làm
nổi việc ấy!
Thái tử Đan dập đầu cố xin rằng:
– Biết tấm lòng cao nghĩa của
ngài, Đan này đem sinh mệnh mà gửi vào tay ngài đó, xin chớ chối từ!
Kinh Kha lại hai ba lần từ chối rồi
mới nhận lời. Thái tử Đan liền tôn Kinh Kha làm thượng khanh, xây một tòa quán ở
ngay bên hữu tòa quán của Phàn Ô Kỳ, gọi là Kinh quán để Kinh Kha ở. Thái tử
Đan ngày ngày đến thăm, cung phụng cỗ bàn rất hậu, lại hiến xe ngựa và gái đẹp,
tùy sở thích của Kinh Kha. Một hôm Kinh Kha cùng thái tử đi chơi Đông cung,
Kinh Kha thấy dưới ao có con rùa lớn nổi lên, toan nhặt viên ngói để ném, thái
tử Đan liền đưa thoi vàng thay hòn ngói để Kinh Kha ném rùa. Lại một hôm cùng
thi cưỡi ngựa, thái tử có con ngựa quý ngày đi ngàn dặm, Kha bỗng nói gan ngựa
ăn ngon lắm; lát sau thấy nhà bếp đem món gan ngựa đến, tức là gan con ngựa quý
của thái tử. Đan lại giới thiệu Phàn Ô Kỳ với Kinh Kha, rồi làm tiệc đãi hai
người ở Hoa Dương đài, cho một mỹ nhân yêu của mình ra mời rượu, lại sai mỹ
nhân gảy đàn làm vui. Kinh Kha thấy hai tay mỹ nhân trắng muốt như ngọc, khen rằng:
– Hai tay đẹp quá!
Tiệc tan, Đan sai nội thị lấy mâm
ngọc đem phẩm vật biếu Kinh Kha. Kha mở ra xem thì là bàn tay mỹ nhân vừa rồi,
thái tử cho chặt đi dâng Kha để tỏ cho Kha biết là thái tử không tiếc Kha cái
gì cả. Kha than rằng:
– Thái tử đãi Kha này hậu đến thế
ư? Kha này xin đem cái chết để báo lại.
Dâng địa đồ, Kinh Kha náo Tần Đình
Bàn binh pháp, Vương Tiễn thay Lý Tín
Kinh Kha ngày thường cùng người
bàn về thuật đánh gươm, ít khi chịu ai là giỏi, mà chỉ tâm phục có Cáp Nhiếp,
người ở Du Thứ, tự cho là mình không bằng, bèn cùng kết làm bạn chí thân. Lúc ấy
Kha chịu hậu ơn của thái tử Đan, muốn đến Hàm Dương uy hiếp vua Tần, bèn sai
người đi tìm Cáp Nhiếp, định mời đến nước Yên để cùng thương nghị. Vì Cáp Nhiếp
thường đi chơi, không nhất định ở chỗ nào, cho nên không mời được. Thái tử Đan
biết Kinh Kha là tay hào kiệt, ngày đêm cung phụng kính cẩn, không dám thúc giục.
Bỗng có biên lại báo tin là vua Tần sai đại tướng Vương Tiễn đi lấn đất đã đến
biên giới phía Nam nước Yên, vua Đại là Gia sai sứ đến ước vua Yên cùng đem
quân giữ Thượng Cốc để cự Tần. Thái tử Đan sợ quá nói với Kinh Kha rằng:
– Quân Tần sắp qua sông Dịch. Vậy
muốn nghĩ kế cứu Yên, có lẽ cũng chẳng kịp nào!
Kinh Kha nói:
– Tôi đã nghĩ kỹ lắm! Lần đi này,
không có cái gì để cho vua Tần tin mình, thì không đến gần được. Nay Phàn tướng
quân có tội với Tần, vua Tần rao mua thủ cấp Phàn tướng quân nghìn vàng, phong ấp
muôn nhà. Lại có chỗ đất tốt ở Đốc Cương, người Tần vẫn muốn lấy. Vậy nay nếu
được cái đầu Phàn tướng quân và bản địa đồ Đốc Cương đem dâng vua Tần, vua Tần
tất vui mừng mà tiếp đãi, tôi nhân đó mới có thể giúp thái tử được.
Đan nói:
– Phàn tướng quân đến đây gửi
thân trong khi cùng khốn sao tôi nỡ lòng mà giết được, còn như bản địa đồ Đốc Cương
thì không dám tiếc!
– Kinh Kha biết thái tử Đan có lòng
bất nhẫn, bèn đến yết riêng Phàn Ô Kỳ mà nói rằng:
– Nước Tần gây vạ cho tướng quân,
cha mẹ họ hàng tướng quân đều bị giết sạch. Nay nghe vua Tần muốn mua đầu tướng
quân, vàng nghìn cân, ấp muôn nhà. Vậy tướng quân sẽ dùng cách gì để báo thù?
Phàn Ô Kỳ ngửa mặt thở dài, chảy
nước mắt mà nói rằng:
– Tôi mỗi khi nghĩ đến tên Chính ở
nước Tần, thì đau đến tim tủy, muốn giết nó rồi cùng chết với nó, chỉ hiềm chưa
có cơ hội mà thôi!
Kinh Kha nói:
– Nay tôi có một lời, có thể giải
được lo cho nước Yên, báo thù được cho tướng quân, tướng quân có chịu nghe
không?
Phàn Ô Kỳ vội hỏi:
– Ông có kế gì?
Kinh Kha trù trừ không nói, Ô Kỳ
hỏi:
– Sao ngài không nói?
Kha nói:
– Kế đã định rồi nhưng khó nói ra
lắm!
Ô Kỳ nói:
– Nếu báo thù được Tần, thì dẫu
phải nát thịt tan xương tôi cũng không tiếc, vậy ngài có điều gì khó nói?
Kha nói:
– Cái kế mọn của tôi là muốn hành
thích vua Tần, nhưng lại e không sao đến gần được vua Tần. Nếu được cái đầu của
tướng quân để dâng vua Tần, thì vua Tần tất vui mừng mà tiếp tôi, nhân đó tay
trái tôi nắm lấy áo vua Tần, tay phải đâm vào ngực y, thì cái thù của tướng
quân sẽ báo được, mà nước Yên khỏi được cái họa diệt vong. Tướng quân nghĩ thế
nào?
Ô Kỳ trật ngay áo ra, quăng tay dẫm
chân mà nói to lên rằng:
– Bấy lâu tôi chỉ suốt ngày suốt
đêm, nghiến răng, nát ruột vì điều ấy mà chưa tìm được kế gì, nay mới được nghe
lời ngài dạy!
Nói xong, liền rút gươm tự cứa
vào cổ, cổ họng đứt mà cổ chưa đứt. Kinh Kha lại lấy gươm chặt cho đứt hẳn, rồi
sai người báo với thái tử Đan là đã lấy được đầu của Phàn tướng quân rồi. Thái
tử Đan nghe tin vội đi xe đến, phục vái cái thây Ô Kỳ mà khóc rất thảm, cho
quân đem thi thể khâm liệm rồi cất tang rất hậu, còn cái đầu thì để trong hòm gỗ.
Kinh Kha nói:
– Thái tử đã tìm được lưỡi dao
găm sắc bén nào chưa?
Thái tử Đan nói:
– Từ phu nhân nước Triệu có lưỡi
dao găm dài một thước tám tấc, rất sắc, tôi đã bỏ ra trăm cân vàng mua được,
sai thợ đem tẩm thuốc độc, từng đem thử người, chỉ hơi rướm máu là chết ngay,
tôi vẫn cất kỹ để dành cho ngài đã lâu, chưa rõ bao giờ thì ngài đi?
Kinh Kha nói:
– Tôi có người bạn chí thiết là
Cáp Nhiếp, muốn đợi hắn đi giúp sức mà hắn chưa đến.
Đan nói:
– Ông bạn của ngài, nay đây mai
đó lênh đênh như cánh bèo trên mặt bể, biết đâu mà tìm! Môn hạ tôi có mấy tay
dũng sĩ, mà Tần Vũ Dương là hơn cả, hoặc có thể cho đi giúp sức được chăng?
Kinh Kha thấy thái tử quá nóng nảy,
thở dài nói rằng:
– Mang một con dao nhọn, đi vào
cái nước Tần bất trắc ấy, là chỉ có đi mà không có về. Tôi sở dĩ đi chậm, là muốn
đợi bạn tôi để làm việc cho được mười phần chắc chắn. Thái tử đã không đợi được
thì tôi xin đi.
Thái tử Đan liền thảo bức quốc
thư, nói xin hiến đất Đốc Cương và đầu họ Phàn, rồi đem nghìn vàng sắm sửa hành
trang cho Kinh Kha. Tần Vũ Dương làm phó sứ. Khi ra đi, thái tử Đan cùng tân
khách và bạn bè thân thiết có biết việc ấy đều mặc áo trắng đội mũ trắng đưa
Kinh Kha đến bờ sông Dịch, đặt tiệc tiễn hành. Cao Tiệm Ly nghe tin Kinh Kha
vào Tần cũng đem cái vai rượu lớn và một đấu rượu đến. Kinh Kha giới thiệu với
thái tử. Thái tử mời cùng ngồi uống rượu. Khi uống được vài lượt rồi, Cao Tiệm
Ly đánh đàn trúc, Kinh Kha theo nhịp mà hát rằng:
Tráng sĩ một đi không bao giờ về!
Tiếng hát thê thảm, tân khách và
những người đi theo đều chảy nước mắt, như trong đám tang. Kinh Kha ngửa mặt thở
phào một tiếng, hơi xông thẳng lên Trời, hóa thành một cái móng trắng, chạy suốt
vào giữa mặt trời, ai nấy đều kinh ngạc. Kinh Kha lại cất tiếng hát:
Làn hơi thở hóa cầu vồng thẳng bay...
Tiếng hát nghe khích liệt hùng
tráng, mọi người đều trừng mắt hăm hở như đi ra trận. Thái tử Đan rót chén rượu,
quỳ mà dâng lên cho Kinh Kha. Kinh Kha uống một hơi hết ngay, rồi níu vai Tần
Vũ Dương, nhảy tót lên xe, bảo gia roi đi mau, không ngoái trở lại. Thái tử Đan
trèo lên gò cao trông theo, đến khi không thấy xe Kinh Kha nữa mới thôi, rồi rầu
rầu nét mặt như thương tiếc cái gì, chảy nước mắt mà quay về.
Kinh Kha đến Hàm Dương, biết quan
trung thứ sử Mông Gia được vua Tần yêu, liền đem nghìn vàng đến đút lót, nhờ
nói trước với vua Tần cho. Mông Gia vào tâu vua Tần rằng:
– Vua Yên sợ oai, không dám chống
lại, xin đem cả nước xưng thần, cầu được giữ tôn miếu của tiền nhân; lại sợ hãi
không dám tự tỏ bày, đã chém đầu Phàn Ô Kỳ và dâng bản địa đồ đất Đốc Cương,
sai sứ đem dâng. Sứ giả là Kinh Kha, hiện đang ở quán dịch đợi chỉ.
Vua Tần nghe tin đã giết được
Phàn Ô Kỳ thì mừng quá, liền thiết đại triều ở cung Hàm Dương, cho đòi sứ Yên
là Kinh Kha vào triều kiến. Kinh Kha đã dấu sẵn con dao nhọn vào trong cái trục
bức địa đồ bèn bưng cái hòm đựng đầu Phàn Ô Kỳ, cùng Tần Vũ Dương bưng hộp địa
đồ bước lên. Bỗng sắc mặt Tần Vũ Dương trắng nhợt như người chết, có vẻ sợ hãi
quá. Thị thần hỏi:
– Sứ giả làm sao lại biến sắc?
Kinh Kha ngoảnh lại nhìn Vũ Dương
cười, rồi đi lên trước đập đầu tạ rằng:
– Tần Vũ Dương là một kẻ quê mùa
mọi rợ, chưa từng thấy thiên tử, cho nên sợ quá mà đổi sắc, xin đại vương rộng
lòng tha thứ, cho được làm xong sứ mệnh ở trước thiên nhan.
Vua Tần truyền lệnh chỉ cho một
mình chánh sứ lên điện.
Tả hữu liền thét bảo Tần Vũ Dương
xuống thềm. Vua Tần sai mở cái hòm để xem, quả nhiên trong có đầu Phàn Ô Kỳ,
bèn hỏi Kinh Kha rằng:
– Sao nước Yên không giết ngay
tên nghịch thần này đem dâng từ trước mà lại đợi đến bây giờ mới làm.
Kinh Kha nói:
– Phàn Ô Kỳ đắc tội với đại vương
trốn lên miền Bắc mạc, vua tôi phải treo thưởng nghìn vàng mới bắt được, vua
tôi cũng muốn để Ô Kỳ sống đem giải nộp đại vương, lại e giữa đường sinh biến,
cho nên phải chặt đầu, mong được thư cái lòng giận của đại vương.
Kinh Kha đối đáp ung dung, nhan sắc
càng ra vẻ hòa nhã, vua Tần không có lòng ngờ. Bấy giờ Vũ Dương bưng cái hộp địa
đồ cúi đầu quỳ ở dưới thềm. Vua Tần bảo Kinh Kha lấy lên xem. Kinh Kha xuống lấy
dâng lên. Vua Tần mở bức địa đồ, đang chực xem, thì mũi dao của Kinh Kha đã lộ,
không thể che dấu được nữa. Kinh Kha hoảng quá, liền tay tả nắm lấy tay áo vua
Tần, tay hữu rút dao đâm vào ngực vua Tần, nhưng lưỡi dao chưa tới. Vua Tần sợ
quá, vùng đứng dậy, tay áo đứt vì bấy giờ là đầu tháng năm, vua Tần chỉ mặt cái
áo lá mỏng. Bên cạnh chỗ vua ngồi, có cái bình phong dài tám thước; Vua Tần vượt
qua, bình phong đổ xuống đất, Kinh Kha cầm con dao sấn đằng sau, vua Tần không
thể thoát thân nên cứ vòng quanh cái cột mà chạy. Nguyên phép nhà Tần, quần thần
chầu trên điện, không được mang binh khí; còn các quan lang trung túc vệ cầm
giáo, đều đứng giàn hầu ở dưới điện, không có chỉ tuyên triệu, không được tự tiện
lên điện. Bấy giờ sự biến thảng thốt xảy ra, vua Tần không kịp gọi người lên cứu.
Quần thần đều lấy tay không đánh Kha. Kha khỏe lắm, người nào đến gần là bị
đánh ngã ngay. Có viên ngự y Hạ Vô Đán đang đứng hầu cũng lấy túi thuốc đánh
Kha; Kha quật tay một cái, túi thuốc rách tung. Vì Kinh Kha còn phải đánh đuổi
mọi người, nên vua Tần chạy tránh chỗ này chỗ nọ, không bị Kinh Kha bắt được.
Thanh bảo kiếm vua Tần đeo ở bên mình gọi là “Lộc lư” dài tám thước, vua Tần muốn
rút ra, nhưng vì nó dài, khó rút ra khỏi vỏ được. Có tên tiểu nội thị Triệu Cao
vội gọi rằng:
– Sao đại vương không xoay vỏ
gươm ra sau lưng mà rút?
Vua Tần nghe ra, liền xoay vỏ
gươm ra sau lưng, quay tay lại, rút gươm ra được dễ dàng. Vua Tần khỏe không
kém gì Kinh Kha; vả con dao nhọn dài hơn thước chỉ có thể đâm gần, còn thanh kiếm
dài tám thước lại có thể đánh xa được. Vua Tần đã có thanh kiếm cầm tay, liền
thấy bạo dạn ngay, bèn chạy đến chém Kinh Kha vào đùi bên tả, Kinh Kha ngã bổ
nhào xuống bên cạnh cột đồng bên tả, không thể đứng dậy được, bèn cầm dao nhọn
ném vua Tần. Vua Tần né mình tránh, con dao sượt qua bên tai mà vụt đi, đâm thẳng
vào cái cột đồng bên hữu tóe lửa ra. Vua Tần lại cầm kiếm chém Kha, Kha giơ tay
đón, rụng mất ba ngón tay. Bị chém luôn tám nhát, Kinh Kha dựa cột mà cười, rồi
nhổm lên mắng vua Tần rằng:
– May cho mày! Ta muốn bắt chước
việc Tào Mạt cướp sống mày, bắt mày phải trả những đất đai lấn được của chư hầu.
Không ngờ việc không thành, mày lại thoát được, há chẳng phải lòng Trời ư?
Nhưng mày cậy mạnh, thôn tính chư hầu, làm sao mà hưởng lâu dài được?
Tả hữu xô lại đánh chết Kinh Kha;
Tần Vũ Dương ở dưới điện, thấy Kinh Kha đã ra tay, toan chạy lên, nhưng bị ngay
bọn lang trung đánh chết.
Tiếc thay! Kinh Kha được thái tử
Đan nước Yên cung dưỡng bao nhiêu ngày, đi sang Tần một việc lại chẳng xong,
không những tự hại thân mình, lại làm uổng mạng ba người (Điền Quang, Phàn Ô Kỳ,
và Tần Vũ Dương) đoạn tống sinh mệnh cha con vua Yên, đó cũng vì kiếm thuật
không tinh mà nên nỗi vậy!
Vua Tần sợ quá, ngồi ngây nửa
ngày mới hoàn hồn, rồi đến xem Kinh Kha, thấy hai mắt tròn vo trợn lên, sắc giận
còn hầm hầm, hệt như người sống. Vua Tần càng sợ, sai đem thây Kinh Kha, Tần Vũ
Dương và đầu Phàn Ô Kỳ cùng đốt ở trong chợ. Những người nước Yên đi theo đều bị
đem chém và bêu đầu ở các cửa thành. Vua Tần về nội cung, các hậu phi đã nghe
nói có biến, bèn đến vấn an và đặc biệt mừng. Sớm hôm sau, vua Tần ra coi chầu,
luận công hành thưởng, trước hết thưởng cho Hạ Vô Đán hai trăm cân vàng, nói rằng:
– Vô Đán yêu ta đã cầm túi thuốc
ném Kinh Kha!
Rồi gọi tên tiểu nội thị Triệu
Cao bảo rằng:
– Nhờ có nhà ngươi bảo, ta mới biết
rút kiếm ra mà đánh Kinh Kha!
Cũng thưởng cho trăm cân vàng.
Trong bọn quần thần, những người tay không dám xông vào đánh Kinh Kha, cứ coi dấu
thương nặng nhẹ mà gia thưởrng. Các lang trung ở dưới điện đánh chết Tần Vũ
Dương cũng đều được thưởng. Mông Gia nói hộ cho Kinh Kha vào triều, bị tội lăng
trì xử tử, giết cả nhà. Mông Ngao đã ốm chết, con là Mông Vũ là tì tướng, vì
không tư tình, nên được tha tội.
Vua Tần vẫn chưa nguôi giận, sai
con Vương Tiễn là Vương Bí đem thêm quân giúp sức cha đánh Yên. Quân Yên thua
to. Vương Tiễn hợp binh vây Kế thành. Khi thành vỡ, vua Yên bảo thái tử Đan rằng:
– Ngày nay nước mất nhà tan là chỉ
vì mày!
Đan thưa rằng:
– Hai nước Hàn, Triệu bị diệt
cũng tội ở Đan này ư?
Rồi thái tử Đan cùng vua Yên bỏ Kế
Thành chạy ra Liêu Đông để lo kế khôi phục. Vương Tiễn bị bệnh xin từ chức, vua
Tần sai Lý Tín thay cầm quân đuổi theo đánh cha con vua Yên.
Vua Yên nghe quân Tần lại đến,
sai sứ cầu cứu vua đất Đại là Gia. Gia phúc thư, đại lược nói Tần sở dĩ kíp
đánh Yên là vì cớ oán thái tử Đan, vua có thể giết Đan để tạ tội với Tần, thì Tần
sẽ hết giận, xã tắc nước Yên may còn giữ được. Vua Yên do dự không nỡ. Thái tử
Đan sợ bị giết bèn cùng tân khách chốn ra đảo Đào Hoa. Lý Tín đóng quân ở Thủ Sơn,
sai người đưa thư kể tội thái tử Đan. Vua Yên sợ quá, giả cách cho đòi Đan về
bàn việc, rồi đổ rượu cho say, sai người đem dây thắt cổ cho chết rồi chặt đứt
đầu. Bấy giờ là tháng năm mà trời bỗng xuống tuyết dày đến ba thước năm tấc
trên mặt đất, rét buốt như mùa Đông. Người ta đều bảo đó là do oán khí của thái
tử Đan mà có vậy.
Vua Yên sai đem đầu thái tử Đan
đóng hòm nộp Lý Tín và viết thư tạ tội. Lý Tín nhân thấy tháng năm mà trời lại
có tuyết lớn, quân lính bị rét thành bệnh, bèn tâu vua Tần hãy cho tạm rút quân
về.
Vua Tần lại nghe kế của Úy Liêu,
cho rằng Yên, Đại chỉ còn như cái hồn vất vưởng không bao lâu sẽ phải tan, hãy
đem quân đánh Ngụy rồi đến Tề, Sở; ba nước ấy đã diệt được rồi, thì Yên Đại
không cần đánh cũng hạ được. Bèn sai Vương Bí làm đại tướng đem mười vạn quân
đi đánh Ngụy. Vua Ngụy cầu cứu Tề, nhưng tướng quốc Tề là Hầu Thắng ăn lễ nhiều
của Tần, khuyên vua Tề chớ cứu Ngụy. Quân Tần đánh Đại Lương, Vương Bí nhân lúc
trời mưa to, sai quân lính khai cừ ở Tây bắc, dẫn nước hai sông Hoàng hà và Biện
hà và đắp đê ngăn hạ lưu. Khi đào cừ xong, trời mưa to luôn mười ngày không ngớt,
thế nước ào ạt. Vương Bí phá đê cho nước chảy tràn vào trong thành. Thành bị nước
ngâm ba ngày, mấy nơi bị lở, quân Tần bèn theo đó mà vào. Vua Ngụy cùng quần thần
đang bàn viết biểu xin đầu hàng, bị Vương Bí bắt được, bỏ lên xe tù cùng cung
thuộc đưa về Hàm Dương. Giữa đường vua Ngụy bị bệnh chết. Vương Bí lấy hết đất
Ngụy đặt làm quận Tam Xuyên, lại lấy cả đất Giả Vương, truất Vệ quân làm thứ
nhân.
Vua Tần lại dùng kế Úy Liêu đem
quân đánh Sở, hỏi Lý Tín dùng độ bao nhiêu quân thì vừa, Lý Tín nói:
– Chỉ dùng hai mươi vạn là đủ.
Vua Tần lại hỏi lão tướng Vương
Tiễn. Tiễn nói nếu dùng hai mươi vạn người thì tất bị thua, mà phải dùng sáu
mươi vạn quân mới được. Vua Tần cho là Vương Tiễn già nua nên nhút nhát, không
bằng Lý Tín trai trẻ đang hăng hái, bèn không dùng Vương Tiễn nữa, mà cử Lý Tín
làm đại tướng, Mông Vũ làm phó, đem hai mươi vạn quân đi đánh Sở.
Vua Sở là Phụ Sô nghe tin quân Tần
dến đánh, bèn cử Hạng Yên làm đại tướng, đem hai mươi vạn quân chống đánh. Lý
Tín cậy sức tiến vào, gặp quân Hạng Yên, hai bên giao chiến, đánh nhau đang
hăng, bảy đạo quân phục của Sở đều xông ra, Lý Tín không chống nổi, thua to bỏ
chạy. Hạng Yên đuổi đánh luôn ba ngày ba đêm, giết bảy viên đô úy và quân sĩ Tần
không biết bao nhiêu mà kể. Vua Tần giận quá, tước hết quan chức và ấp ăn lộc của
Lý Tín, rồi thân đến Dĩnh Dương, yết kiến Vương Tiễn, tỏ ý hối về việc nghe lời
Lý Tín đem hai mươi vạn quân đánh Sở, quả nhiên bị thua, và mời Vương Tiễn lại
ra làm đại tướng đánh Sở để báo thù ấy. Vương Tiễn hai lần từ chối, nhưng vua Tần
cứ ép nài. Vương Tiễn nói:
– Nếu bất đắc dĩ đại vương dùng
tôi thì phi có sáu mươi vạn quân không được.
Vua Tần hiềm là dùng nhiều quân
quá. Vương Tiễn nói:
– Nước Sở đất rộng, hễ có hiệu lệnh
là có thể lấy được trăm vạn quân ngay. Tôi xin sáu mươi vạn quân, còn e không địch
nổi, chứ nói gì diệt nước ấy?
Vua Tần lấy làm phải, bèn lấy xe
chở Vương Tiễn vào triều, ngay ngày hôm ấy bái làm đại tướng, lại cử Mông Vũ
làm phó. Khi khởi hành, vua Tần thân đi tiễn, Vương Tiễn nâng chén rượu mời vua
Tần uống rồi nói rằng:
– Xin đại vương uống cạn chén này
tôi có điều muốn nói.
Vua Tần uống một hơi hết ngay, hỏi
rằng:
– Tướng quân muốn nói gì?
Vương Tiễn lấy ở trong tay áo ra
một tờ giấy, trong giấy xin vua Tần cấp cho vài nơi ruộng vườn tốt ở Hàm Dương.
Vua Tần nói:
– Nếu tướng quân thành công trở về,
quả nhân còn tính cùng hưởng phú quý với tướng quân chớ có lo gì!
Vương Tiễn nói:
– Tôi già rồi, đại vương dẫu có
phong tước đền công cho, cũng như ngọn đuốc ngoài gió, sáng được mấy tí, chi bằng
lúc tôi còn sống, cấp ruộng vườn tốt để lại cho con cháu đời đời được chịu ơn đại
vương.
Vua Tần cả cười, rồi bằng lòng
cho. Khi quân đi đến cửa Hàm Cốc, Vương Tiễn lại sai sứ về xin vua Tần cho thêm
mấy nơi vườn ao nữa. Mông Vũ nói:
– Tướng quân xin như thế, chẳng
là nhiều lắm ư?
Vương Tiễn bảo rằng:
– Vua Tần tính dữ tợn mà đa nghi,
nay đem 60 vạn quân giao cho ta, thế là đem hết cả nước mà ủy thác vào ta vậy.
Ta xin nhiều ruộng nhà ao vườn để lập nghiệp cho con cháu, là cốt để yên lòng
vua Tần không nghi ta là có mưu tính sự gì khác nữa.
Mông Vũ phục là cao kiến.
----------------------------------------------------
Kiêm sáu nước, thống nhất thiên hạ
Lên ngôi báu, tự xưng Thủy-hoàng
Lại nói Vương Tiễn thay Lý Tính
làm đại tướng đem sáu mươi vạn quân đi đánh Sở, tướng Sở là Hạng Yên giữ Đông Cương
để chống lại. Vua Sở lại sai Cảnh Kỳ đem thêm hai mươi vạn quân giúp sức. Vương
Tiễn đóng quân ở núi Thiên Trung, cắm trại liền nhau hơn mười dặm, phòng giữ
kiên cố. Hạng Yên hàng ngày kêu người đến khiêu chiến, Vương Tiễn nhất định
không ra đánh. Hạng Yên cho là Vương Tiễn tuổi già nhát sợ. Vương Tiễn hàng
ngày cứ cho quân lính tắm gội ăn uống, như thế trong vài tháng, quân lính vô sự
ngày ngày chỉ cùng nhau ném đá nhảy cao làm trò chơi. Theo binh pháp của Phạm
Lãi, ném đá là dùng hòn đá nặng mười hai cân, dựng cây gỗ làm máy, bắn đi được
ba trăm bước là thắng, không được kể là thua. Người nào có sức khỏe thì có thể
dùng tay mà ném đá, thì thắng hơn một tầng. Nhảy cao là chôn một tấm gỗ ngang
cao bảy tám thước, cùng nhau nhảy qua, lấy đó thi hơn thua. Vương Tiễn mỗi ngày
sai quân lại các dinh, ngầm ghi tên những người được thua để biết sức mạnh yếu
của mỗi người. Bề ngoài thì làm ra dáng co rút giữ mình, không cho quân lính đến
địa giới Sở kiếm củi; bắt được người Sở thì cho ăn uống no say rồi thả về. Giữ
nhau đến hơn một năm, Hạng Yên không được đánh trận nào, cho rằng Vương Tiễn tiếng
dẫu đánh Sở, thực là giữ mình, bèn không lo lắng gì chiến sự nữa. Bỗng một hôm
Vương Tiễn đại khao tướng sĩ, nói rằng hôm nay cùng quân sĩ phá Sở. Tướng sĩ đều
tranh nhau xin đi trước. Vương Tiễn bèn kén hai vạn người kiêu dũng gọi là
tráng sĩ, sung làm quân xung phong, lại chia quân làm mấy đạo, dặn rằng hễ thấy
quân Sở thua chạy rồi, thì chia nhau cướp đất. Hạng Yên không ngờ Vương Tiễn chợt
đến, thảng thốt ra cự địch. Quân Tần được nuôi sức lâu ngày, hăng máu muốn
đánh, cho nên một người địch nổi trăm người. Quân Sở thua to, Khuất Định tử trận.
Hạng Yên và Cảnh Kỳ đem tàn quân chạy về phía Đông. Vương Tiễn thừa thắng đuổi
theo, hai bên lại đánh nhau ở thành Vĩnh An, quân Sở lại thua to, quân Tần bèn
hạ được Tây Lăng. Đất Kinh đất Tương đều chấn động. Vương Tiễn sai Mông Vũ chia
một nửa quân đóng ở Ngọc Chử, truyền hịch đi các quận Hồ Nam, tuyên bố uy đức
vua Tần, còn tự mình thì đem đại quân kéo thẳng đến kinh đô Thọ Xuân; rồi sai
người về Hàm Dương báo tiệp. Hạng Yên đi lên sông Hoài mộ quân chưa về, Vương
Tiễn thừa hư đánh gấp, thành vỡ; Cảnh Kỳ tự vẫn ở trên thành; vua Sở là Phụ Sô
bị bắt. Vua Tần thân đến Phàn Khẩu để nhận tù, truất vua Sở làm thứ nhân, sai
Vương Tiễn hợp binh với Mông Vũ để đánh lấy đất Kinh, đất Tương.
Hạng Yên mộ được hai vạn năm
nghìn quân, về đến Từ Thành, bỗng gặp người em cùng mẹ với vua Sở là Xương Bình
quân chạy nạn đến đó, nói thành Thọ Xuân đã bị phá, vua Sở đã bị bắt, chẳng biết
sống chết thế nào. Hạng Yên nói:
– Ngô, Việt có Trường Giang làm
giới hạn, đất vuông nghìn dặm, còn có thể dựng nước được.
Bèn đem quân qua sông, tôn Xương
Bình quân làm vua Sở, ở thành Ô Lăng, luyện binh giữ thành.
Được tin Hạng Yên lại lập vua Sở
mới ở Giang Nam, vua Tần có ý lo, Vương Tiễn nói:
– Hình thế của nước Sở là ở
Giang, Hoài. Nay cả miền Hoài đều về tay ta rồi, kẻ kia dầu còn chút hơi thở,
nhưng đại binh đến là bắt ngay, lo chi điều ấy!
Vua Tần khen rằng:
– Tướng quân tuổi già rồi mà chí
còn hăng hái lắm!
Hôm sau, vua Tần trở về Hàm Dương,
lưu Vương Tiễn ở lại để bình định miền Giang Nam. Vương Tiễn sai Mông Vũ đóng
thuyền ở Anh vũ châu. Hơn một năm thì thuyền đóng xong, bèn cho thuận dòng đi
xuống. Quân giữ sông không thể chống nổi. Quân Tần bèn lên bộ, lưu mười vạn ở
Hoàng Sơn để đóng chẹn cửa sông, còn đại quân thì từ Chu Phương tiến vây Lan Lăng
đóng dinh khắp bốn mặt, quân sĩ reo hò vang trời. Hạng Yên đem hết quân ra đánh
ở dưới thành. Hợp đầu quân Tần hơi lui. Vương Tiễn chia các tráng sĩ làm hai đội
tả hữu, đều cầm dao ngắn, reo to mà xông vào trận. Mông Vũ tự tay chém được một
viên tùy tướng, lại bắt sống được một người. Quân Tần càng thêm hăng hái, Hạng
Yên lại thua to, chạy vào trong thành, lấp cửa thành cố giữ. Vương Tiễn dùng
thang máy leo lên đánh. Hạng Yên dùng tên lửa bắn, đốt cháy thang máy. Mông Vũ
nói:
– Hạng Yên như con cá ở trong nồi
rồi!
Rồi sai đắp lũy cao bằng thành,
vây đánh càng gấp, Xương Bình quân thân đi tuần hành, bị tên bắn phải, quân
lính vực về hành cung, nửa đêm thì chết. Hạng Yên khóc lóc rằng:
– Ta còn sống ở đây, là vì còn có
Xương Bình quân là dòng dõi vua Sở. Ngày nay Xương Bình quân chết rồi, thì ta
còn mong gì!
Rồi ngửa lên trời kêu to ba tiếng,
cầm gươm đâm cổ mà chết. Trong thành rối loạn, quân Tần trèo vào mở cửa thành.
Vương Tiễn kéo quân vào dụ yên dân, lại đem quân xuống miền Nam, đến núi Tích Sơn,
quân lính đào đất làm bếp, đặt nồi thổi cơm, tìm được một cái bia đá, ở trong
có khắc mười hai chữ rằng: “Hữu tích: binh, thiên hạ tranh; vô tích: ninh,
thiên hạ thanh”, nghĩa là: “Có thiếc thì đánh nhau, thiên hạ loạn; không có thiếc
thì yên, thiên hạ thanh bình”. Vương Tiễn cho đòi cổ nhân đến hỏi, thì biết từ
khi vua Bình Vương nhà Chu dời sang đất Lạc, núi ấy sản sinh ra nhiều chì, thiếc
nên gọi là Tích Sơn, đã bốn mươi năm nay lấy dùng không hết, nhưng gần đây thấy
ít dần; tấm bia ấy cũng không biết người nào làm ra. Vương Tiễn than rằng:
– Bia này lộ ra thiên hạ từ đây
được yên ổn. Có lẽ người xưa đã thấy trước được điều này, nên chọn bia để báo
cho người sau đó chăng! Từ nay nên đặt tên nơi này gọi là Vô Tích (không có thiếc).
Vương Tiễn kéo quân qua Cô Tô,
quan giữ thành đem thành ra hàng. Tiễn bèn qua sông Chiết Giang mà định đất Việt.
Con cháu vua Việt, từ sau khi Việt mất, ở tản mát trong khoảng Dũng Giang,
Thiên Thai, dựa theo mé bể, tự xưng quân trưởng, không thống thuộc nhau. Đến
lúc đó nghe oai đức vua Tần, đều đến xin hàng. Vương Tiễn thu lấy địa đồ và sổ
dinh, phi báo vua Tần; rồi lấy nốt cả đất Dự Chương, dựng ra hai quận Cửu Giang
và Cối Kê. Thế là Tần diệt được Sở.
Vương Tiễn đã diệt được Sở, đem
quân về Hàm Dương, vua Tần thưởng cho nghìn cân vàng. Tiễn cáo lão về lại Dĩnh Dương.
Vua Tần cử con trai của Tiễn là Vương Bí làm đại tướng đem quân đi đánh vua Yên
ở Liêu Đông, dặn rằng khi đã bình định Liêu Đông rồi thì đem quân lấy luôn đất
Đại. Vương Bí đem quân đi, qua sông Áp Lục, vây phá được thành Bình Nhưỡng, bắt
Yên vương Hỉ đưa về Hàm Dương, truất là thứ nhân. Thế là lại diệt được Yên.
Vương Bí đã diệt được Yên bèn dời
quân sang phía Tây đánh đất Đại. Đại vương gia thua to, muốn chạy sang Hung-nô.
Vương Bí đuổi theo bắt được đem giam, Gia tự sát, Vương Bí lấy được hết đất Vân
Trung, Nhãn Môn, thế là diệt hẳn được nước Triệu. Sáu nước đối địch với Tần, đến
đó là mất năm rồi, chỉ còn lại một nước Tề nữa mà thôi. Thư báo tiệp của Vương
Bí gửi về Hàm Dương, vua Tần mừng quá, tự tay viết một bức thư, gửi cho Vương
Bí, đại lược nói rằng:
– “Tướng quân một lần đem quân đi
mà bình định được Yên và Đại, giong ruổi hơn hai ngàn dặm, so với cha già, công
lao chẳng hơn kém nhau. Tuy nhiên, từ Yên về Tề, Nam Bắc tiện đường. Nước Tề mà
hãy còn, cũng ví như thân người, còn thiếu một cánh tay. Xin tướng quân đem cái
oai thừa, diệt nốt nước Tề. Như vậy cái công của cha con tướng quân đối với Tần
là có một không hai vậy!”
Vương Bí được thư bèn dẫn quân
qua Yên Sơn, theo đường Hà Giang xuống miền Nam.
Lại nói về Tề-vương Kiến nghe lời
tướng quốc Hậu Thắng, không cứu Hàn, Triệu. Mỗi khi Tần diệt được một nước, Tề-vương
lại cho sứ đến mừng. Tần lại đút nhiều vàng cho sứ giả, sứ giả về kể chuyện vua
Tần hậu đãi, vua Tề cho là có thể trông cậy được vào việc hòa hiếu, nên không
phòng bị việc chiến tranh. Đến khi nghe năm nước đã bị diệt cả rồi, vua Tề mới
áy náy không yên, bèn cùng Hậu Thắng thương nghị, đem quân giữ địa giới phía Tây,
để phòng quân Tần đánh úp. Dè đâu Vương Bí ở mặt Bắc đem quân qua Ngô Kiều thẳng
đến Tế Nam. Nước Tề từ khi vua Kiến lên ngôi, trong bốn mươi năm, không có nạn
binh lửa, dân ở yên đã quen, không từng diễn tập võ nghệ. Phương chi quân Tần vốn
có tiếng là cường bạo, nay nghe có mấy mươi vạn kéo đến, sừng sững như núi Thái
Sơn, sao mà chẳng sợ, nên không dám chống cự. Vương Bí kéo quân đi thẳng vào
Lâm Tri, nhân dân trong thành đều chạy tán loạn, cửa thành không giữ được nữa,
Hậu Thắng bó tay không còn cách gì, đành khuyên vua Tề ra hàng. Vương Bí không
phải đánh một trận nào, trong khoảng hai tháng lấy được hết đất Sơn Đông. Vua Tần
nghe tin báo tiệp truyền lệnh rằng:
– Tề-vương Kiến dùng kế của Hậu
Thắng, cự tuyệt sứ Tần, mưu toan làm loạn, nhưng may tướng sĩ phụng mệnh, đã diệt
được Tề. Lẽ ra giết cả vua tôi Tề, nhưng nghĩ đến cái tình Kiến quy thuận trong
hơn bốn mươi năm nên tha tội chết cho, cùng vợ con dời ra ở Cung Thành, quan chức
trách tính ngày cấp thóc ăn, cho trọn cái đời sống thừa của Kiến. Còn Hậu Thắng
thì đem chém đầu ngay tại chỗ.
Vương Bí vâng lệnh giết Hậu Thắng,
sai quân áp giải Tề-vương Kiến ra an trí ở Cung Thành, cho ở trong mấy gian nhà
ở dưới núi Thái Hang, bốn bề đều là cây tùng, cây bách, tuyệt chẳng có cư dân;
cung quyến dẫu bỏ đi mất nhiều, nhưng cũng còn vài chục miệng ăn, số thóc không
đủ, mà quan chức trách lại nhiều khi không cấp cho. Kiến chỉ có một con trai,
còn bé, giữa đêm đói bụng khóc inh, Kiến buồn rầu ngồi dậy, nghe tiếng gió thổi
trên các cây tùng bách, nghĩ lại khi ở Lâm Tri, phú quý đến bực nào, vì dại
nghe tên gian thần Hậu Thắng đến nỗi nước mất, phải chết đói ở núi hoang, hối lại
không còn kịp nữa. Nghĩ vậy rồi khóc nức nở, được vài hôm thì chết. Các cung
nhân đều trốn cả, còn đứa con trai cũng không biết sống chết thế nào. Tiếng đồn
Tề-vương Kiến vì đói mà chết, người Tề nghe tin đều động lòng thương, nhân làm
bài hát rằng:
Đói lòng mà không ăn được!
Ai làm cho Kiến cơ cực nước đời
Thương ôi! Chẳng biết dung người mà nên!
Mấy câu hát ấy là trách Hậu Thắng
đã làm mất nước Tề vậy.
Bấy giờ là năm thứ 26 đời Tần-vương
Chính, sáu nước đều hợp cả vào nước Tần, thiên hạ nhất thống. Vua Tần cho rằng
sáu nước kia đều xưng vương, thì vương hiệu không còn được tôn quý nữa, muốn đổi
xưng đế, nhưng năm xưa cũng từng có cái nghị Đông Tây nhị đế rồi, mà không đáng
truyền cho đời sau, không đủ uy phục bốn rợ. Bèn xét xem quân hiệu thời thượng
cổ, chỉ có Tam hoàng, Ngũ đế, công đức trên Tam vương duy chỉ có Tần đức kiêm
Tam hoàng, công hơn Ngũ đế, bèn kiêm cả hai danh hiệu gọi là Hoàng-Đế, tôn cha
là Trang Tương-vương làm Thái thượng hoàng. Lại cho Chu công đặt ra phép đặt
tên thụy, con được nghị cha, tôi được nghị vua là trái lễ, bỏ phép ấy đi không
dùng. “Ta làm Thủy-hoàng đế, (vị hoàng đế đầu tiên) đời sau cứ theo số ấy mà
tính đi, nhị thế, tam thế, cho đến bách thiên, vạn thế, truyền mãi không cùng”.
Thiên tử tự xưng là “trẫm”, bề tôi tâu xưng với thiên tử là “bệ hạ”. Lại cho thợ
triệu khéo trạm viên ngọc họ Hòa làm ấn quốc, có khắc chữ rằng: “Thụ mệnh ư
thiên, ký thọ vĩnh xương”.
Lại suy tính ngũ hành trước sau,
nhà Chu thuộc hỏa, mà thủy có thể diệt được hỏa; Tần ứng vào cái vận thuộc thủy,
y phục tinh kỳ đều theo sắc đen; thủy số sáu, nên đồ dùng đều theo số sáu, lấy
ngày sóc tháng mười làm tháng giêng, các lễ triều hạ đều ở trong tháng ấy. Chữ
(chinh) đồng âm với chữ (chính) là ngự húy hoàng đế, không được phạm, cho nên đổi
chữ (chính) là chữ (chinh), chữ (chinh) có nghĩa không được tốt lành, nhưng vì
là ý của Thủy-hoàng nên không ai dám nói.
Úy Liêu thấy Thủy-hoàng dương
dương đắc ý, luôn đề ra cải cách này nọ thì phàn nàn riêng một mình rằng:
– Nhà Tần dẫu thống nhất thiên hạ
mà nguyên khí đã suy rồi, thì lâu dài sao được.
Rồi một đêm cùng đệ tử Vương Ngao
trốn đi, không ai biết đi đâu. Thủy-hoàng hỏi quần thần rằng:
– Úy Liêu bỏ trẫm mà đi là cớ làm
sao?
Quần thần đều thưa rằng:
– Uý Liêu giúp bệ hạ định bốn bể,
công rất to, cũng mong được cắt đất chia phong, như Thái công, Chu công nhà
Chu, nay bệ hạ đã định tôn hiệu mà chưa luận công hành thưởng, nên Úy Liêu thất
ý mà bỏ đi đó.
Thủy-hoàng hỏi:
– Chế độ phân phong của nhà Chu
còn dung được nữa không?
Quần thần đều nói:
– Yên, Tề, Sở, Đại, đất xa khó trị,
không đặt vương thì không thể trấn nhiếp dược.
Lý Tư bàn rằng:
– Nhà Chu chia phong ra vài trăm
nước, đều là người cùng họ. Về sau con cháu tranh giết nhau mãi không thôi. Nay
bệ hạ đã thống nhất được thiên hạ, nên chia ra làm nhiều quận huyện; dẫu có
công thần, cũng nên chỉ cấp bổng lộc cho thật hậu, mà không cho được một thước
đất, một tên dân nào; như thế mới tuyệt hẳn được cái gốc họa binh cách, há chẳng
phải là kế trị an lâu dài ư?
Vua Tần theo lời nghị ấy, bèn
chia thiên hạ làm ba mươi sáu quận, mỗi quận đặt một viên thủ úy, một viên giám
ngự sử; thu hết giáp binh thiên hạ đem về Hàm Dương, tiêu hủy đi, đúc mười hai
người vàng, mỗi người nặng nghìn thạch, đặt ở trong cung đình, để ứng cái điềm
người cao lớn ở Lâm Thao. Đem hết những bậc hào kiệt trong thiên hạ đến ở cả Hàm
Dương, cộng hai mươi vạn nhà. Lại ở khu Bắc Hàm Dương, theo kiểu cung thất sáu
nước, dựng ra sáu sở li cung. Lại làm cung A Phòng, cử Lý Tư làm Thừa tướng,
Triệu Cao làm Lang trung lệnh; các tướng súy có công, như bọn Vương Bí, Mông
Vũ, đều được phong một vạn hộ, những người khác thì được vài nghìn hộ, theo số
thuế thu nhập mà cấp.
Rồi đó, đốt sách, chôn học trò,
tuần du vô độ, đắp Vạn lý trường thành để chống rợ Hồ, trăm họ than vãn, cuộc sống
cơ cực. Đến đời vua Nhị thế, lại càng bạo ngược, các tay anh hùng ở nơi thảo giã
là bọn Trần Thắng, Ngô Khởi đều nổi lên mà làm mất nhà Tần./.
🔙 Mục lục 🔜
Hết
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét