Thứ Tư, 2 tháng 7, 2025

Đôi điều về phong thủy

ĐÔI ĐIỀU THUẬT VỀ PHONG THỦY

(do Phạm Vũ Thanh Liêm sưu tầm, bổ sung)

 Hà Nội, tháng 5/2005


Thiết nghĩ đây là một tài liệu đọc được và cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tham khảo và ghi chú, bổ sung thêm một số tài liệu thu thập được. Tám đồ hình minh họa (BÁT CẨM TRẠCH) cho tám mệnh quái, người đọc có thể tự xây dựng theo hiểu biết của mình, hoặc lập trên giấy A4 mà chiêm nghiệm (P.V.T.L).

A.    PHẦN MỞ ĐẦU

Minh triết phương Đông từ 6000 năm trước đây đã có một luận đề mà tiến bộ của văn minh nhân loại ngày càng xác nhận tính đúng đắn của nó, luận đề đó là: Vũ trụ là một, trời-đất-người là một. Ta có thể đọc thấy chân lý đó trong Đạo đức Kinh của nhà triết học vĩ đại nhất của mọi thời đại là Lão Tử: “Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Thiệu Tử giải thích tư tưởng đó: “Đạo sinh nhất, nhất vi Thái cực. Nguyên chi nhất diễn chi vi vạn. Cùng Thiên hạ chi số nhi phục qui ư nhất, Nhất hà dã? Thiên địa chi tâm dã! Tạo hóa chi nguyên dã!” Khổng Tử than rằng: “Dịch kỳ chi hỹ hồ!” Lão Tử còn nói: Đại viết thệ, tự thệ viết viễn, viễn viết phản - Nghĩa là, phản phục là một động tác của Đạo, càng đi xa là càng trở lại với nguồn gốc. Kinh Dịch đã nói rõ quá trình sinh sinh hoá hoá ấy từ thuở Phục Hy đặt ra Bát quái: Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, hai nghi Âm và Dương xuất hiện, thì Dương biến Âm hợp nhi sinh Thủy Hỏa Mộc Kim Thổ, ngũ khí thuận bổ, tứ tà ơi hành yên. Ngũ hành, nhất Âm nhất Dương dã!  Âm Dương nhất, Thái cực dã. Thái cực, bản vô cực dã! Ngũ hành chi sinh dã các nhất kỳ tính, Vô cực chi nhân, nhị ngũ chi tính, diệu hợp chi ngưng. Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ, nhị khí giao cảm, hóa sinh vạn vật - Chu Liêm Khê nói rõ như vậy. Dương biến Âm hợp mà thành ngũ hành, ngũ hành là một Âm một Dương. Một Âm Dương là Thái cực. Thái cực vốn từ vô cực, sự sinh ra ngũ hành đều là một tính. Cái chân của vô cực, cái tính của âm dương ngũ hành khó hội hợp mà ngưng tụ thành. Đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, hai khí giao nhau, hóa sinh muôn loài.

Như vậy, con người cũng là một sản phẩm của cuộc hóa sinh đó, chịu sự biến hóa của âm dương ngũ hành dưới nguyên lý diễn biến của Đạo mà thôi. Suy ra, con người không thể không chịu sự qui định của môi trường tự nhiên, và cái tư tưởng xem con người là chúa tể của muôn loài, có thể cải tạo tự nhiên theo ý mình, rõ là nực cười, khác nào tự mình nắm tóc mình nhấc lên khỏi mặt đất vậy!

Người xưa xem trọng lúc xuất sinh. Với bốn thông số giờ, ngày, tháng, năm sinh, có thể suy đoán dự báo vô số thông tin về con người ấy. Cho nên mới tính ra được phương hướng nhà ở nên như thế nào, mà ra đời thuật làm nhà ở. Nhưng người xưa còn xem trọng nữa khi nhập tử, nơi chôn sẽ là nơi an giấc ngàn thu, sao lại không coi trọng? Trở về với cát bụi thế nào để rồi lại luân hồi kiếp sau, can hệ lớn lắm chứ! Cho nên người xưa bàn về Âm phần còn nhiều hơn về Dương trạch do cái lý ấy. Mộ táng đắc địa, con cháu sẽ phát, táng phải hãm địa ấy là đại họa! Thuật phong thuỷ ra đời từ đó. Phong là gió, thuỷ là nước. Phong thuỷ cốt ở tìm ra sinh khí. Quách Bốc nói: Vô thuỷ thì gió đến và khí tán, hữu thuỷ thì khí dừng. Do đó đắc thuỷ là can hệ nhất, rồi đến đất chứa gió. Nước dẫn khí, nước dừng thì khí đọng lại, không bị gió thổi tan, thế là tìm được sinh khí. Phong thuỷ, nói cho cùng là thuật thừa sinh khí. Khí theo phong mà tán, nước bị ngăn thì dừng. Tụ được khí là tốt nhất.

Có biết thế, mới hiểu thế nào là địa linh nhân kiệt. Phàm những miền núi cao như Cônlôn, Kailas, Hưng an lĩnh, Tần lĩnh, Như Ngũ lĩnh, Thái sơn, Trường sơn, là nơi tiếp được nhiều thiên khí nhất. Núi cao thì có sông lớn, như Hằng hà, Hoàng hà, Dương tử, Nhị hà, Cửu long giang. Có sơn có thuỷ sẽ tụ khí, cho nên những nơi đó thường sản sinh người tài, như đất Ba thục ở Trung Hoa, Hai xuyên lắm kỳ giỏi như Lý Bạch, Khổng Minh, Từ Nguyên Trực, Bàng Thống. Ở Việt Nam ta, thì miền núi bên triền sông Mã, sông Cả, nơi phát tích bao anh hùng kiệt xuất, quê hương của nhiều triều đại vua Lê, bà Triệu, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, Mai Thúc Loan, Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp, Phan Đình Phùng... Một miền núi Tản có Bố Cái Đại vương và Ngô Quyền, rặng Tam điệp có Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Bặc là tổ của Nguyễn Trãi...

Người Trung Hoa tìm ra thuật phong thuỷ từ rất lâu. Trước Công nguyên hàng trăm năm, họ đã viết nhiều sách phong thuỷ, như Trạch Kinh của Hoàng Đế và Văn Vương. Khổng Tử, Tư Mã Thiên cũng có Trạch Kinh, rồi Hoài Nam Tử, Lưu Tấn Bình, Trương Tử Hào, Lữ Tài. Thanh Ô T có Táng Kinh, Quản Lộ có Di lý chỉ môn. Đời Tấn có Quách Bốc viết Táng thư, Thanh ly hải giác Kinh. Từ thời Hán trở đi, sách Phong thuỷ ngày càng nhiều, hàng dăm chục bộ. Phong thuỷ Trung hoa chia làm Âm trạch và Dương trạch, đặc biệt phong phú về Âm trạch, những điều huyền hoặc cũng lắm bên cạnh những tri thức khoa học.

Muốn hiểu thuật phong thuỷ, trước hết người đọc cần nắm một số tri thức cơ sở sau:

1.      Lịch Can chi:

Chỗ linh diệu của lịch can chi ở điểm nó ghi thời gian bằng các thông số không gian. Can là 10 can trời: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý trong đó Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là 5 can Dương, còn lại là 5 can Âm. Mười can biểu thị ngũ hành trên trời với ngũ phương dưới đất, tương truyền do Hoàng Đế tế Trời mà được giáng. Các số 1, 3, 5, 7, 9 là Thiên số, các số 2, 4, 6, 8, 10 là Địa số.

Hoàng Đế uỷ cho Nghiêu lập 12 địa chi phối ứng: Thân Tí Thìn Dần Ngọ Tuất là 6 chi dương, còn lại là chi âm. Mười hai địa chi ứng với 12 triền độ của sao trời. Trên đường Hoàng đạo, Trái đất xoay qua đủ 12 cung. Bốn mùa ứng với tứ tượng, 12 tháng ứng với 12 cung độ, ứng với 12 quẻ bát quái đi từ thuần Khôn đến thuần Càn, rồi lại từ Càn đến Khôn, đắp đôi mỗi tháng thêm một hào âm hoặc dương. Với cách ghi thời gian bằng can chi, mỗi thời điểm trên Trái đất ứng với vị trí xác định của quả đất trên Hoàng đạo, như vậy, thời gian với lịch can chi đã biết thị sự phụ thuộc vào không gian, chẳng đúng với lý thuyết của Einstein xem thời gian là chiều thứ tư của không gian đó sao? Bởi thời gian phụ thuộc vào không gian, nên không gian chuyển động với vận tốc cao, thì năng lượng cao đòi hỏi khối lượng lớn theo. Khối lượng lớn sẽ làm thời gian co lại, như ở trên đỉnh núi thời gian chậm hơn so với dưới chân núi. Người xưa nói một ngày trên trời bằng một năm dưới đất, nói thế là rất đúng với thuyết tương đối của Einstein. Với vật lý học hiện đại, thời gian không gian là những đại lượng động lực, đâu phải cái gì trừu tượng? Trong một vũ trụ đương dãn nở hiện tại, đương động, thì mọi cái đều chịu của bao nhiêu biến động vũ trụ. Bởi thế cho nên, khoa Tử vi học, với bốn thông số giờ ngày tháng năm sinh của một người (gọi là tứ trụ) có thể suy đoán ra nhiều dự báo về cuộc đời con người. Trong khoa phong thuỷ, biết tuổi một người có thể suy ra phương hướng nơi ở nên có của người ấy, cũng như nơi đặt mộ huyệt.

2.      Âm dương và Bát quái:

Âm dương là hai nghi trong Thái cực, nương nhau mà tồn tại như hai cực Bắc Nam của thanh nam châm, muốn chia cắt cũng chẳng nổi dù ta có chặt thanh nam châm ra làm mẩu vụn, thì nó vẫn có đủ hai cực nam bắc. Thái cực sinh lưỡng nghi, âm dương tách đôi thì thành trời đất Càn Khôn. Dịch nói: Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo! Âm Dương là đạo của Thiên địa, là bản thuỷ của sống chết. Trời Dương đất Âm, ngày Dương đêm Âm, đến Dương đi Âm, động Dương tĩnh Âm, nhanh Dương chậm Âm, mặt trời Dương mặt trăng Âm, nam Dương bắc Âm, lồi Dương lõm Âm, Dương hô Âm hấp, Âm lai Dương tác, Dương lai Âm tác... Phong thuỷ lấy Âm Dương giao nhau làm lành, nếu chỉ thuần Âm hay thuần Dương thì đều hung. Bởi Âm Dương luôn tương cầu, tương giao, tương thành, tương phản. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, Dương cạnh cái Dương hơn thì thành Âm, Âm cạnh cái Âm hơn thì thành Dương. Âm Dương là hai khái niệm rất rộng, rất biện chứng.

Bát quái do hội nhập hai quẻ chính Càn Khôn mà thành. Quẻ Càn có ba hào Dương, giao với quẻ Khôn ở hào một thì được quẻ Tốn, ở hào hai thì được quẻ Ly, ở hào ba thì được quẻ Đoài. Quẻ Khôn giao với quẻ Càn ở hào một thì được quẻ Chấn, ở hào hai được quẻ Khảm, ở hào ba được quẻ Cấn. Bởi vậy Tốn là gái cả, Ly là gái giữa, Đoài là gái út. Chấn là trai cả, Khảm là trai giữa, Cấn là trai út. Tám quẻ đều có tượng của chúng, mà muốn hiểu Dịch thì phải thuộc Quái tượng.

  1. Quẻ Càn có các tượng: Kim, Trời, Băng, Vua, quân tử, cha, đại nhân, người già, danh nhân, trai trưởng, cứng, mạnh, quả quyết, đầu, xương, phổi, mùa thu, ngựa, voi, sư tử, vàng ngọc, vật tròn, quả cây, mũ, lâu đài, tây bắc, danh gia, quan toà, nhà binh, thành công, xuất hành lợi Tây bắc...
  2. Quẻ Khôn có các tượng: Đất, mây đen, mù sương, mẹ già, vợ kế, vợ, phụ nữ, tiểu nhân, thường dân, bụng, dạ dày, tháng 8-5-10. Vật hình vuông, vải vóc, ngũ cốc, tây nam, trâu bò, chim, nhà nhỏ, thịt trâu, vị ngọt, ruột gan, quả phụ, nhà nông, thầy giáo, lợi cầu mưu, có thể đi...
  3. Quẻ Chấn có các tượng: Sấm, phương Đông, cây gỗ, đường lớn, chân, gan, tóc, âm thanh, trưởng nam, giận, sợ, động nhiều hơn tĩnh, mùa xuân, tháng hai, rồng rắn, thịt tươi, quả chua, rau, cá chép, được danh, quan coi ngục, động thai, bệnh chân, bệnh gan, lợi giao dịch, thế mạnh, màu xanh…
  4. Quẻ Tốn có tượng: Gió, đông nam, vườn rau, trưởng nữ, tu sĩ, quả phụ, nhu hoà, không quả quyết, cánh tay, đùi, tháng 3, gà, chim rừng, có danh, văn chức, bệnh tứ chi, đường ruột, màu xanh lục...
  5. Quẻ Khảm có tượng: Mưa, nước, tuyết, phương bắc, sông suối ao hồ, trung nam, nơi hiểm, phiêu bạt, tháng 11, mùa đông, lợn, cá tôm, rượu, hải sản, ám muội, đề phòng cướp, chức quản lý nhỏ, khó thành công, đau tai, bệnh tim mạch, thận, màu đen, vị mặn...
  6. Quẻ Ly có tượng: Lửa, ban ngày, phương nam, gò cao, trung nữ, văn nhân, bụng, tài học, khiêm tốn, tháng 5, mùa hạ, sách, chữ, quan văn, lội văn thư, bệnh mắt, màu đỏ tím, vị đắng...
  7. Quẻ Cấn có tượng: Mây, núi, phương đông bắc, trai út, trẻ em, do dự, phản lại, ngừng lại, ngón tay, mũi, lưng, đất đá, hổ, chó, chuột, cáo, khó sinh, khó thành, không nên đi xa, bệnh về tỳ vị, màu vàng, vị ngọt...
  8. Quẻ Đoài có tượng: đầm, hồ, kim loại, phương tây, gái út, kỹ nữ, diễn viên, lưỡi, miệng, vui mừng, mùa thu, tháng 8, khó hôn nhân, khó thành, không nên đi xa, phòng cãi vã, màu trắng, vị cay...

Với Bát quái đã đủ hình dung giới tự nhiên.

3.    Ngũ hành:

Âm dương biến hóa nhi ngũ hành sinh. Đầu tiên sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim theo chiều thuận, đó là Tiên thiên. Theo Hậu thiên, thì trật tự theo chiều nghịch, lẽ tương khắc: Thuỷ khắc Hỏa, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ. Nắm ngũ hành thì phải thuộc luật tương sinh tương khắc, đặc biệt khi xét quan hệ giữa cung và sao, khi dựng nhà cửa mồ mả. Ngũ hành có các cục tam hợp: Dần Ngọ Tuất thành Hoả cục, Tỵ Dậu Sửu thành Kim cục, Thân Tí Thìn thành Thuỷ cục, Hợi Mão Mùi thành Mộc cục. Ngũ hành phối Thiên can thành: Giáp Ất thuộc Mộc, Bính Đinh thuộc Hỏa, Mậu Kỷ thuộc Thổ, Canh Tân thuộc Kim, Nhâm Quí thuộc Thuỷ.

§  Mộc trường sinh tại Hợi, Đế vượng ở Mão, Mộ ở Mùi.

§  Hoả trường sinh ở Dần, Đế vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu, Mộ ở Tuất.

§  Kim trường sinh ở Tỵ, Đế vượng ở Dậu, Tử ở Tí, Mộ ở Sửu.

§  Thuỷ Thổ trường sinh ở Thân, Đế vượng ở Tí, Tử ở Mão, Mộ ở Thìn.

Trường sinh, Đế vượng thì cát, Tử Mộ thì hung.

4.      Long mạch:

Mạch là mạch máu. Mạch tìm theo sơn xuyên. Chỗ nào có núi thì có mạch, núi lớn thì mạch nước lớn. Chỗ nước xuất hiện gọi là thuỷ khẩu. Long mạch ngắn thì phúc lộc cũng ngắn, mau hết. Thuỷ khẩu tại Tân, thì Càn là Ất long, tại Quí à Cấn là Đinh long, tại Ất à Tốn là Tân long, tại Đinh à Khôn là Quí long. Lấy phương Càn làm đầu, xem hình tượng có đầy tròn sinh khí, là có chân long phát phúc. Khảm long tọa Tuất, Cấn long tọa Thân, Chấn long tọa Dần, Tốn long tọa Mão, Ly long tọa Tỵ, Khôn long tọa Dậu, Đoài long tọa Hợi, Càn long tọa Tí, là đã phạm bát sát, tối hung, vậy nên phải biết phép vào theo phương Càn.

5.      Minh đường:

Minh đường là thế đất trước huyệt. Trước huyệt là Tiểu Minh đường. Mạch núi xung quanh là Trung Minh đường. Núi bao quanh là Đại Minh đường. Tiểu Minh đường không nên quá rộng, rộng không chứa gió, hẹp quá thì không hiển quí. Nên vuông vắn tròn trịa, không thấp trũng, nước không bị cắt. Đại Minh đường nên thoáng đãng, có nước uốn khúc chầu về, có núi vây quanh, có  thuỷ khẩu mở.

6.      Cung phi:

Mỗi người đều sinh vào một năm nhất định, năm đó ứng với một quẻ trong Bát quái, nên Cung phi còn gọi là Mệnh quái, hay Quái mệnh. Cứ 60 năm họp thành một nguyên. Ba nguyên Thượng, Trung, Hạ làm thành một khoảng 180 năm.

Thượng nguyên thì nam khởi cung Khảm tự Giáp Tí, rồi tính theo chiều nghịch từ 1, 9, 8, 7, 6, 5 (5 nam tính thành cung Khôn), rồi 4, 3, 2,1. Nữ thì khởi Cấn tự Giáp Tí, tính thuận theo chiều 9, 1, 2, 3, 4, 5 (5 thì nữ tính thành Cấn), 6, 7, 8, 9. Các số theo số của Hậu thiên Bát quái: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung 5 (Nam Khôn, Nữ Cấn), Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.

Trung nguyên nam khởi tự Tốn, nữ tự Khôn.

Hạ nguyên nam khởi tự Đoài, nữ tự Cấn.

Dưới đây sẽ cho trước bảng tính ba nguyên cho cả nam và nữ. (Chú ý: Không nhất thiết phải nhớ Thượng, Trung, Hạ nguyên. Hãy lấy năm 1970 làm chuẩn, là năm cả nam và nữ cùng Quái mệnh Chấn (3), từ đó mà theo vòng quay nữ thuận nam nghịch để lấy Quái mệnh cho mọi người. Tuy nhiên, có thể tính hiện giờ (2002) chúng ta đang sống trong Hạ nguyên (1984-2044) – Liêm chú dẫn).

7.      Đông trạch và Tây trạch:

Bốn quẻ Khảm Ly Chấn Tốn sinh trong quá trình từ tối ra sáng của vũ trụ, ứng với phương Đông nên gọi là Đông trạch. Bốn quẻ Càn Cấn Khôn Đoài sinh ở quá trình từ sáng đến tối, ứng với phương Tây nên gọi là Tây trạch. Người có Cung phi ứng với Đông trạch thì có Đông mệnh, với Tây trạch thì có Tây mệnh. Đông mạng phải ở Đông trạch, Tây mạng thì ở Tây trạch, ở nhầm trạch là Đại hung. Làm nhà phải luận mệnh vì thế. Đông trạch thì Tam cát (3 phương cát) ở về Đông, Tây trạch thì Tam cát ở về Tây.

8.      Phối Bát cẩm trạch:

Quẻ của Cung phi tức Quái mệnh, sẽ biến tám lần thành các biến quái. Công thức tính như sau:

1.       Đệ nhất trận, thượng biến vi Sinh khí            Tốn biến thành Khảm

2.       Đệ nhị trận, trung biến vi Ngũ quỉ                  Khảm biến thành Khôn

3.       Đệ tam trận, hạ biến vi Diên niên                   Khôn biến thành Chấn

4.       Đệ tứ trận, trung biến vi Lục sát                      Chấn biến thành Đoài

5.       Đệ ngũ trận, thượng biến vi Họa hại               Đoài biến thành Càn

6.       Đệ lục trận, trung biến vi Thiên y                   Càn biến thành Ly

7.       Đệ thất trận, hạ biến vi Tuyệt mệnh                Ly biến thành Cấn

8.       Đệ bát trận, trung biến vi Phục vị                   Cấn biến thành Tốn

Biến là thế nào? Là hào âm biến thành hào dương, hào dương biến thành hào âm. Thượng trung hạ tính từ trên xuống dưới. Ví như ta biến từ quẻ Tốn xem sao (xem cột bên trái sơ đồ trên). Như đệ nhất biến, Tốn thành Khảm, thì Sinh khí nằm ở phương Khảm. Đệ nhị trận, Khảm biến thành Khôn, thì Ngũ quỉ nằm ở phương Khôn...Phép biến này là khóa để mở Cửu diệu thất tinh.

Thế nào là Cửu diệu thất tinh? Thất tinh là 7 ngôi sao trong chòm sao Bắc đẩu, có ảnh hưởng lớn tới cát hung của người. Gồm:

·         Sinh khí, tức sao Tham lang, hành Mộc, đắc địa ở Chấn Tốn Ly Khảm. Sao này đại cát, phát nhân tài hiếu hữu.

·         Thiên Y, tức sao Cự môn, hành Thổ, đắc địa ở Khôn Tốn Càn Đoài, chủ giàu có, từ thiện.

·         Diên niên, tức sao Vũ khúc, hành Kim, đắc địa ở Càn Khôn Cấn Đoài, chủ binh nghiệp cao sang, thọ quí.

·         Tuyệt mệnh, tức sao Phá quân, hành Kim, tối hung, chủ bại tuyệt, ác tật.

·         Ngũ quỉ, tức sao Liêm trinh, hành Hỏa, chủ tà nhiễm vô lễ.

·         Họa hại, tức sao Lộc tồn, hành Thổ, chủ cô quả, cờ bạc.

·         Lục sát, tức sao Văn khúc, hành Thuỷ, chủ rượu trà du đãng.

·         Cửu diệu là chỉ ngôi Phục vị, do hai sao Phù Bật tạo thành, hành Thuỷ, chủ phúc thọ phú quí.

Tính chất các sao như sau:

1.       Sao Sinh khí, Phục vị sẽ tốt các năm Hợi, Mão, Mùi.

2.       Sao Diên niên, Tuyệt mạng sẽ mạnh hơn các năm Tỵ, Dậu, Sửu.

3.       Sao Thiên Y, Họa hại sẽ mạnh hơn vào các năm Tứ mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi).

4.       Sao Ngũ quỉ mạnh vào các năm Dần Ngọ Tuất.

5.       Sao Lục sát mạnh váo các năm Thân Tí Thìn.

Dưới đây là bảng lập sẵn cho sự phối cung giữa Cung phi và phương vị bát quái.

Quái mệnh

Phục vị

Sinh khí

Diên niên

Thiên Y

Tuyệt mạng

Ngũ quỉ

Lục sát

Họa hại

Càn

Càn

Đoài

Khôn

Cấn

Ly

Chấn

Khảm

Tốn

Cấn

Cấn

Khôn

Đoài

Càn

Tốn

Khảm

Chấn

Ly

Khảm

Khảm

Tốn

Ly

Chấn

Khôn

Cấn

Càn

Đoài

Chấn

Chấn

Ly

Tốn

Khảm

Đoài

Càn

Cấn

Khôn

Tốn

Tốn

Khảm

Chấn

Ly

Cấn

Khôn

Đoài

Càn

Ly

Ly

Chấn

Khảm

Tốn

Càn

Đoài

Khôn

Cấn

Khôn

Khôn

Cấn

Càn

Đoài

Khảm

Tốn

Ly

Chấn

Đoài

Đoài

Càn

Cấn

Khôn

Chấn

Ly

Tốn

Khảm

Chú thích:

Bốn cung trên là bốn cung dương, bốn cung dưới là bốn cung âm.

·         Càn Cấn Khôn Đoài là Tây tứ trạch, Tây mạng.

·         Khảm Chấn Tốn Ly là Đông tứ trạch, Đông mạng.

Bát cẩm trạch sẽ vẽ theo đúng sự phối cung này.

Qua bảng này ta thấy tuổi nào thì tuổi ấy giữ phương Phục vị. Phục vị là đúng hướng mà thôi. Các phương khác có sao nào, do phép biến bát trận đã trình bày.

9.      24 sơn hướng:

Bát quái quản tám phương: Đ, T, N, B, ĐB, TB, ĐN, TN. Nhưng mỗi quái còn quản ba sơn hướng. Thứ tự 24 sơn hướng như dưới đây: 1- Phúc đức, hướng đại phúc, quí tử. 2- Ôn hoàng, lắm bệnh tật, cứ 3 đến 5 năm lại phát bệnh một lần, sản ách. 3- Tấn tài, tức tài tinh, giàu. 4- Trường bệnh, hay đau yếu, đau mắt, tù ngục. 5- Tố tụng, hay kiện cáo, mất của. 6- Quan tước, thăng quan tiến chức, giàu sang. 7- Quan quí, công danh tài lộc. 8- Tụ ải, lắm họa, trộm cướp, ly hương. 9- Vượng trang, tiền ruộng sẵn. 10- Hưng phúc, phúc thọ giàu sang. 11- Pháp trường, đại hung, yểu thọ, tù ngục. 12- Điên cuồng, sinh ly tử biệt, gia sự lục đục. 13- Khẩu thiệt, bất hòa. 14- Vượng tàm, phát nghề nông. 15- Tấn điền, phúc bền, nhiều tài lộc. 16- Khốc khấp, con chết non, lắm tai họa. 17- Cô quả, goá bụa, ly tán. 18- Vinh phú, đại cát, giàu. 19- Thiếu vong, lắm nạn, thuỷ nạn, sét đánh. 20- Xương dâm, dâm loạn. 21- Thân hôn, con cái hòa thuận, lắm tài lộc. 22- Hoan lạc, có âm phù, lắm tài lộc. 23- Bại tuyệt, con cái ly tán. 24- Vượng tài, phú quí hiền lương.

Chìa khóa mở Sơn hướng:

§  Càn trạch, khởi Phúc đức tự Thân sơn.

§  Khảm trạch khởi Phúc đức tự Dần sơn.

§  Cấn trạch, khởi Phúc đức tự Giáp sơn.

§  Chấn, Tốn trạch khởi Phúc đức tự Tỵ sơn.

§  Ly trạch, khởi Phúc đức tự Thân sơn.

§  Khôn, Đoài trạch khởi Phúc đức tự Hợi sơn.

Phép làm nhà, luận mạng là tối cần thiết, quên luận mạng thì đại hung. Luận sơn hướng không quan trọng bằng, quên sơn hướng là tiểu hung.

Trong sơ đồ Bát cẩm trạch, vẽ đủ tám phương (Cung) kèm đủ 24 sơn hướng, lại chỉ rõ Hoàng tuyền để tránh mở lối vào nhà.

B.     PHẦN CHỈ DẪN CỤ THỂ

1.      Lựa thế đất:

Phàm làm nhà, thì thế đất thường sau cao trước thấp, như thế cốt để đời sau phát hơn đời trước, cho nên người xưa thường làm nhà lưng tựa núi, mặt ngoảnh ra sông. Thế đất sau nhỏ hơn trước là thế đuôi chuột, rất xấu. Tốt nhất là thửa đất hình vuông vắn hoặc chữ nhật. Nơi đô thị, lấy đường làm sông, đường lắm người đi, xem là dân thuỷ. Nhà trông ra đường là chính danh, thuận ngôn.

Đẹp nhất là, phía trước nhà có tiền đình để tiến, phía sau có hậu chẩm để dựa. Đó là thế tiền hô hậu ủng. Hai bên nhà nên có vườn, phía tả làm vườn, phía hữu mở lối vào, nhà tọa chính giữa, đó là thế tả Thanh long, hữu Bạch hổ. Long nghi tĩnh, hổ nghi động. Soái phủ chính giữa, hai bên như thể có tả phù hữu bật.

Tuyệt đối không được để ngã ba đâm thẳng vào nhà, cũng không được để nhà ngoảnh mặt hay tựa lưng vào đền miếu. Đền miếu là nơi tụ hội nhiều vong linh ma quái, dễ gây tai nạn, thị phi điều tiếng. Cũng không để nhà trước chọc đầu hồi vào nhà mình, chọc bên tả hại nam, chọc bên hữu hại nữ, chọc chính giữa nhà mình thì hại chủ. Nhà mình ngoảnh vào lưng nhà khác cũng xấu. Nhà bị bịt kín lối vào thì tổn người hao của, ba nhà chung ngõ thì hay tranh chấp.

2.      Lựa thế nước:

Trước nhà nên có dòng chảy. Nước thẳng, sâu là nước chết. Nước ao hồ là nước hãm. Nên chọn nước chảy quanh co uốn khúc, đó là nước sinh. Cũng nên chọn thượng dòng. Nếu nước chảy từ phải qua trái, thì mở ngõ phía phải, trụ cổng bên phải lui vào từ 5 - 10 cm, nếu nước chảy từ trái qua phải, thì mở  cổng bên trái, trụ cổng bên trái lui vào từ 5 - 10 cm, phía nước tới là hướng Lai long. Nếu vì một lẽ nào đó không mở hướng nhà ra sông ra đường được, thì phải xoay bàn thờ gia tiên và miệng lò (táo khẩu) ra phía sông phía đường.

3.      Lựa hướng:

Hướng nhà là tối quan trọng. Trước hết cần luận mệnh, xem mình thuộc Đông mệnh hay Tây mệnh. Đông mệnh nhất thiết chọn Đông trạch, Tây mệnh nhất thiết chọn Tây trạch. Chọn nhầm là đại hung. Sau đó, lựa sơn hướng đẹp.

Phép lựa hướng như sau: Chọn điểm giữa của nhà, ngồi chỗ đó, cầm la bàn, khẽ xoay sao cho hướng la bàn trùng với phương Bắc của miếng đất, rồi giở sơ đồ Bát cẩm trạch ra đối chiếu với trạch của mình rơi vào cung nào trong bát quái, nhìn vào đó sẽ thấy rõ các phương hung phương cát. Cắm cọc đánh dấu các phương đó, để chọn Tam cát mà mở hướng nhà, mở ngõ, mở cửa lớn vào nhà. Nếu vì lẽ gì đó nhà mở phải hướng hung, thì phía mặt sau nhà phải trổ nhiều cửa sổ cho cái hung thoát ra. Nếu chọn được hướng cát, thì nên mở ít cửa, bắt cái cát phải chạy một vòng quanh nhà trước khi thoát ra. Và phải biết cách chế hóa, làm giảm cái hung bằng cách xoay hướng ban thờ gia tiên và hướng miệng lò. Sau đây là cách chế hóa:

-          Nếu Cung phi của mình, tức trạch chủ, không được hướng tốt, thì phải lấy cung phi tuổi con trai mình thay thế, và nhớ làm lễ thay trạch chủ, uỷ cho con trai làm trạch chủ, cùng lắm, lấy cung phi của vợ thay thế, bởi đàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp, bất đắc dĩ mới để vợ làm trạch chủ.

-          Trường hợp không thể chọn được người thay thế, thì phải dùng cách xoay hướng miệng lò và hướng ban thờ gia tiên về Tam cát của sơ đồ bát cẩm trạch. Cách chế hoá như sau:

  • Quái mệnh Càn (Kim), nhà mở hướng Đoài, được Sinh khí (Mộc). Sinh khí đẹp, nhưng Càn Kim lại khắc Sinh khí Mộc, đó là Cung khắc Tinh. Để làm giảm sự khắc đó, ta xoay miệng lò và ban thờ về Càn để được Phục vị (Thuỷ). Thuỷ của Phục vị sẽ nuôi Mộc của Sinh khí, do đó, giảm được sự khắc của Kim Càn.
  • Quái mệnh Chấn (Mộc), ngõ Tốn, được Diên niên (Kim). Kim Diên niên khắc Mộc của trạch chủ, không tốt, vì là Tinh (sao) khắc Cung. Ta xoay miệng lò về Khảm, được Thiên Y (Thổ). Thổ của Thiên Y sẽ nuôi Kim của Diên niên. Đó là phép Tu kỳ sinh dĩ chế kỳ ác dúng cách nuôi dưỡng để giảm hung.

Bài Quyết của phép chế hóa như sau:

Thiên Y (Thổ) chế Tuyệt mạng (Kim), Sinh Khí (Mộc) chế Ngũ quỉ (Hỏa), Diên niên (Kim) chế Lục sát (Thuỷ), Phục vị (Thuỷ) chế Họa hại (Mộc).  (Lưu ý: không có Hỏa sinh Thổ vì 4 sao tốt không có sao nào hành Hỏa – Liêm chú dẫn).

Thí dụ cách dẫn dụng:

§   Mệnh Càn (Kim), nhà mở hướng Chấn, phạm Ngũ quỉ (Hỏa). Thế thì phải xoay lò hướng Càn lấy Phục vị, Thủy của Phục vị sẽ trị Hỏa của Ngũ quỉ.

§  Nhà phạm Tuyệt mạng (Kim), xoay miệng lò về Phục vị, lấy Thuỷ của Phục vị bắt Kim phải nuôi nó, làm nó yếu đi.

§  Nhà phạm Lục sát (Thuỷ), xoay miệng lò về Thiên y, lấy Thổ của Thiên y khắc Thuỷ của Lục sát (cách 2 – Tu kỳ khắc dĩ chế kỳ độc – Liêm chú dẫn); Hoặc xoay miệng lò về Sinh khí (Mộc), bắt Thuỷ của Lục sát phải nuôi Mộc của Sinh khí (cách 1 – Tu kỳ sinh dĩ chế kỳ ác - Liêm chú dẫn), do đó cũng yếu đi.

Như thế, hoặc bắt cái ác phải sinh cho nó hư hao đi, hoặc lấy cái khác khắc hành của cái ác, hai cách đều được. Ta có: Thiên y giáng Ngũ quỉ (bắt Hỏa của Ngũ quỉ phải nuôi Thổ của Thiên Y), Phục vị chế Tuyệt mạng (Bắt Kim của Tuyệt mạng phải sinh Thuỷ của Phục vị, do phải sinh mà hư hao), Sinh khí yểm Lục sát (bắt Thuỷ của Lục sát phải sinh Mộc của Sinh khí, do sinh mà hư hao đi), Diên niên chế Lộc tồn (Họa hại) (bắt Thổ của Lộc tồn phải nuôi Kim của Diên niên). Tu kỳ sinh dĩ chế kỳ ác, tu kỳ khắc dĩ chế kỳ độc, cả hai đều được, nhưng dùng Tu kỳ sinh thì cao cường hơn, nhân đức hơn.

Phép lựa hướng cần biết: Được sao sinh cung là tốt nhất, sau đó là cung và sao tỵ hoà. Cung sinh sao thì có hư hao. Cung khắc tinh cũng được tuy chưa thực tốt, nhưng sao khắc cung là tối hung. Sao là khách, cung là chủ. Có khắc là có vấn đề, lúc đó phải xem cho kỹ: Phải thuộc tượng của cung, như Càn bị khắc, thì chú ý hướng Tây bắc, cha già. Khôn bị khắc, chú ý hướng Tây nam, mẹ già. Tốn bị khắc, chú ý hướng Đông nam, gái trưởng. Cấn bị khắc, hướng Đông bắc, con trai út. Ví như người mệnh Chấn, mở hướng Càn là phạm Ngũ quỉ. Càn là cha, Hoả Ngũ quỉ khắc Kim của Càn, là hại cha (Ngũ quỉ là sao, Càn là cung, sao khắc cung).

Lại phải xem sao đó là dương hay âm. Sao dương rơi cung âm thì hại nữ, sao âm rơi cung dương thì hại nam.

Tóm lại, khi lên hướng phải tính toán kỹ lẽ sinh khắc giữa cung với sao, sao với cung. Nói chung, sao và cung tương sinh hoặc tị hoà là tốt, cát càng thêm cát, hung cũng giảm hung. Cung và sao tương khắc thì cát cũng bất cát, hung càng thêm hung. Tinh khắc cung hại hơn cung khắc tinh, vì cung là chủ, ít chịu để thua khi khắc khách. Thí dụ: Người cung Cấn (Thổ) gặp sao Diên niên (Kim), Thổ sinh Kim, chủ bị hư hao. Nếu tinh là Ngũ quỉ, thì Hoả của Ngũ quỉ phải nuôi Thổ của Diên niên, mà bị hư hao, cái ác cũng giảm một phần.

Trạch mệnh Tốn (Mộc) gặp Lục sát Thuỷ. Thuỷ sinh Mộc, Lục sát do sinh mà hư hao, cái hung của Lục sát cũng giảm. Nếu gặp Tuyệt mạng Kim, là tinh khắc cung, rất xấu. Nếu tinh là Họa hại (Thổ) thì là cung khắc tinh, cái hung của Họa hại cũng giảm.

Cho nên, rủi gặp Tứ hung cần xét với hành của quái mệnh, với quẻ của trạch, tinh khắc trạch mới đáng lo. Tinh tương sinh với trạch thì hung do sinh cũng giảm hung. Nếu trạch khắc tinh được thi là hung tinh cũng giảm hung. Đó là mấy điều hệ trọng nên phải nói kỹ.

Làm nhà, phải tinh thông Bát cẩm trạch để lựa hướng, tìm cách chế hoá theo nguyên lý sinh khắc ngũ hành. Nói chung, nhà thoả mãn được cả quái mệnh lẫn sơn hướng, lai long là đẹp nhất. Sau khi làm nhà xong, thì giường ngủ, bàn làm việc của mỗi người cũng đều phải sắp xếp theo Tam cát. Cha mẹ nằm giường hướng Phục vị phần nhiều sinh con gái bởi Phục vị là Âm thuỷ. Cha mẹ do hôn phối chót phạm phải Tứ hung, thì nhớ xoay miệng kiềng (lò) về phương Tam cát của trạch chủ.

4.      Mở ngõ:

Nhà như bụng, ngõ như miệng. Ngõ còn có tác dụng chế hóa khi hướng nhà phạm Tứ hung. Như mệnh Càn, nhà mở Khảm, phạm Lục sát, lúc ấy cần mở ngõ Cấn, lấy Thổ của ngõ Cấn khắc Thuỷ của Lục sát. Có bài thơ sau cần nhớ:

·         Càn nhập Lôi môn thương trưởng tử: Mệnh Càn, hướng Càn, ngõ Chấn thì hại cụ ông và con trai trưởng.

·         Hỏa kiến Thiên môn thương lão ông: Nhà hướng Ly, mở ngõ Càn (Thiên môn) sẽ hại cụ già (Càn) và gái giữa (Ly).

·         Ly xâm tây Đoài phương thương nữ: Nhà hướng Ly, ngõ Đoài, phạm Ngũ quỉ, hại trung nữ (Ly) và thiếu nữ (Đoài), hay tranh chấp.

·         Tốn nhập Khôn vị mẫu li ông: Nhà hướng Tốn, ngõ Khôn, phạm Ngũ quỉ, cha mẹ lìa nhau, trưởng nữ xung khắc mẹ.

·         Đoài phòng Chấn Tốn trưởng nữ tử: Nhà hướng Đoài, ngõ Chấn hoặc Tốn thì họa đến với con gái cả hoặc con cái bất hòa.

·         Cấn Ly âm phụ hoại gia phong: Nhà hướng Cấn, ngõ Ly, thì vợ và trung nữ hư.

·         Cấn Khảm tiểu khẩu đa bệnh tật: Nhà hướng Cấn, ngõ Khảm, phạm Ngũ quỉ, nhà lục đục, hại trung nam và thiếu nam.

·         Khôn Khảm trung nam mạng tảo thương: Nhà hướng Khôn, ngõ Khảm, phạm Tuyệt mạng, hại trung nam.

Nhà ở tĩnh âm, rất khó xoay chuyển. Trong khi đó, ngõ là động dương, tha hồ chọn hướng. Cần phối hướng ngõ với hướng mở nhà cho đẹp.

Ở thành thị, nhà và ngõ thường khó chọn hướng. Lúc ấy, thì phải chế hóa bằng dùng phép xoay miệng lò cộng hướng của bàn thờ gia tiên sao cho tạo thành sao Sinh khí. Sinh khí có tác dụng giáng Ngũ quỉ, yểm Lục sát, khắc Họa hại. Các hướng phối thuộc tạo thành Sinh khí là: Càn + Đoài, Cấn + Khôn, Khảm + Tốn, Chấn + Ly, Tốn + Khảm, Ly + Chấn, Khôn + Cấn, Đoài + Càn.

5.      Làm bếp:

Bếp (Táo tòa) là nơi ngụ của Táo thần, tức Phúc thần. Làm bếp rất quan trọng. Bếp là Hỏa, kỵ gần Thuỷ, kỵ phương Khảm (nước). Làm bếp khác làm nhà ở chỗ Táo tòa phải ngược hướng với nhà. Người Đông mệnh thì bếp phải ở Tây và ngược lại. Mặt khác nếu nhà đặt ở Tam cát thì bếp phải đặt ở Tứ hung nếu nhìn trên Cẩm trạch.

·         Bếp phương Lục sát thì mạnh khỏe, sống lâu, nhiều của nhiều con.

·         Bếp phương Tuyệt mạng thì thêm người phát tài.

·         Bếp phương Họa hại thì không mất của, không hại người, ít đau yếu.

·         Bếp phương Ngũ quỉ thì không trộm cướp, không đau ốm, gia đạo vượng.

Ngược lại, bếp đặt nhầm Tam cát thì đại hung. Táo khẩu tức miệng lò, miệng kiềng thì luôn luôn phải xoay về Tam cát của trạch chủ. Nhưng không được đối diện với ngõ vào mà tán tài. Không được đối diện với giếng nước mà cãi cọ điên loạn.

·         Táo khẩu xoay hướng Phục vị thì tâm cầu sở đắc, ước gì được nấy.

·         Táo khẩu xoay hướng Lục sát thì hao tài tốn của thất đức.

·         Táo khẩu xoay hướng Tuyệt mạng thì đau ốm mà chết.

·         Táo khẩu xoay Ngũ quỉ thì tranh chấp, kiện tụng.

·         Táo khẩu xoay Họa hại thì sinh thù oán.

·         Táo khẩu xoay Thiên y thì đau ốm chóng lành, hướng Diên niên thì hôn sự thuận lợi, hướng Sinh khí thì cầu tử tốt, con bỏ nhà đi lại về.

Ngày làm bếp, đắp lò hoặc di chuyển bếp: Cần tránh các ngày có can là Bính Đinh để phòng hỏa. Bếp làm đất mới, sạch.

Đối chiếu với Cung phi của trạch chủ, thì nhà trạch Khảm, trạch Ly nên đặt Táo toà ở hướng Giáp-Dần đắc tài, hướng Thìn-Mão phú. Nhà Chấn trạch chọn hướng Tỵ-Bính phát tài, hướng Canh đại phú.

Bếp tối kỵ ba sơn hướng Nhâm, Tí, Quí vì thuộc Thuỷ. Táo tại Cấn phương thì gia đạo bất an.

Giữa bếp với nhà cũng có quan hệ: Phòng hậu Táo tiền thì gia đạo phá. Táo hậu phòng tiền tử tôn bất hiền.

Có 12 sơn hướng tối kỵ đặt miệng lò: Nhâm, Tí, Quí, Sửu, Cấn, Ất, Đinh, Khôn, Dậu, Đoài, Càn, Hợi. Phương Ngọ giàu có, phương Nhâm-Tốn-Mùi-Tuất hanh thông. Hãy luôn luôn nhớ phải xoay miệng lò về Tam cát còn Táo tòa thì ở Tứ hung. Bếp lò day hướng Phục vị thường sinh con gái. Chồng Đông mạng muốn con trai xoay miệng lò về Chấn Khảm, cầu gái xoay miệng lò về Ly Tốn.

6.      Nhà vệ sinh:

Nhà vệ sinh nên đặt tại Tứ hung, chọn hướng Giáp Ất Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quí và Tứ mộ. Tuyệt đối tránh hướng Tí Ngọ Mão Dậu, Dần Thân Tỵ Hợi, Càn Khôn Tốn Cấn là tứ xung, hướng của Thổ công.

Hố rác hố ga, cống rãnh thì kỵ hướng Lai long và tám hướng có Thổ công, nên đặt ở Tứ mộ.

7.     

Phép tính: Khởi tự cung Khôn, mỗi cung 10 tuổi, đi lối thuận chiều, cứ đến 5 hoặc 50 là vào cung trung. Số lẻ thì cứ mỗi ô đếm 1 cho đến hết số tuổi của mình. Nơi có cung tuổi cuối cùng rơi vào Khảm Ly Chấn Đoài thì tốt, còn rơi vào Càn Khôn Tốn Cấn thì phạm Kim lâu. Khôn là Kim lâu Thân, Càn là Kim lâu Thê, Cấn là Kim lâu Tử, Tốn là Kim lâu Súc.

 
Tuổi Kim lâu:

Làm nhà, lấy vợ, tậu trâu,

Trong ba điều ấy Kim lâu thì đừng.

 

Có bảng sau:

Tốn

Ly

Khôn

Chấn

Trung

Đoài

Cấn

Khảm

Càn

Ví dụ:

Làm nhà năm 33 tuổi thì: Khôn là 1 mười, Đoài là 2 mười, Càn là 3 mười, 31 là Khảm, 32 là Cấn, 33 là Chấn. Không phạm Kim lâu.

Cũng có kẻ nói lấy tổng số tuổi chia cho 9, còn số dư bao nhiêu nếu là 1, 3, 6, 8 thì rơi vào Kim lâu. Như thế 33 chia cho 9 được 27, còn dư 6 rơi vào cung Chấn.

8.      Tuổi Quan ốc:

Còn gọi là Lục hoang ốc gồm sáu ô như hình sau: Nhất cát, nhị nghi, tam địa sát, tứ tấn tài, ngũ thụ tử, lục địa sát.

Cách tính: Mỗi cung tính một mười, số lẻ thì tính tiếp mỗi cung một số cho đến hết tuổi, rơi vào cung nào thì biết ngay cung ấy xấu hay tốt.

 

 
III

IV

 II

V

I

VI


Địa sát thì nhà cửa chao đảo, gia sự lục đục. Thụ tử thì đau ốm, nhà làm dây dưa, tranh chấp thị phi.

Ví dụ: Làm nhà năm 34 tuổi, đếm cung I là một mười, cung II là hai mười, cung III là ba mười, tiếp cung IV là 31, cung V là 32, cung VI là 33, cung I là 34. Thế thì gặp nhất cát, rất tốt!

9.      Chọn trực:

Chọn trực để tính số đòn dông, đòn tay (vợ), số bậc cầu thang, số phòng. Có cả thảy 12 trực: Kiến Thổ - Trừ Thuỷ - Mãn Thổ - Bình Thuỷ - Định Mộc - Chấp Hỏa - Phá Hỏa - Nguy Thuỷ -Thành Kim - Thu Thuỷ - Khai Kim - Bế Kim.

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Thìn

 

 

Dậu

Mão

 

 

Tuất

Dần

Sửu

Tí

Hợi

 

 

 

 

Cách tính:

·         Mạng Kim khởi trực kiến ở cung Sửu

·         Mạng Hỏa khởi trực kiến ở cung Tuất

·         Mạng Mộc khởi trực kiến ở cung Mùi

·         Mạng Thổ và Thuỷ khởi trực kiến ở cung Thìn.

Tính theo 12 cung trên lá số Tử vi, thí dụ: Trạch chủ tuổi Canh Ngọ, mệnh Thổ, muốn làm nhà 5 đòn tay. Cung mạng Thổ, khởi tự cung Thìn, tính đến trực Mãn là hành Thổ, tức cung Ngọ. Lấy Ngọ tính tiếp 5 cung: Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, đủ số 5. Nguy rơi vào cung Hợi, Nguy cũng là hành Thuỷ, mà Thổ khắc Thuỷ, thế là không hợp. Nếu tính thêm một đòn nữa là Thành, Thành thuộc hành Kim. Thổ sinh Kim, thế là tốt. Nhà nên có sáu đòn dông.

Tính số bậc cầu thang như sau: Tuổi Nhâm Thân, mệnh Kim, khởi tự cung Sửu là trực Kiến, tính đến cung Thân thì được Nguy, tức cung năm sinh. Lấy Nguy làm 1, đếm đến 10 thì tới Định. Định là hành Mộc, Kim khắc Mộc vậy là đẹp, nên xây 10 bậc thang.

10. Chọn hình thể nhà:

Hình thể nhà rất quan trọng:

·         Nhà trước cao sau thấp: Tổn con khắc vợ.

·         Nhà sau cao trước thấp: U mê tăm tối.

·         Nhà giữa cao, sau trước thấp: Vợ chồng bất hoà.

·         Nhà giữa cao, tả hữu thấp: Bất hoà.

·         Trước và sau nhà là công sở: Hao tán.

·         Nhà hiên rộng: Tốt.

·         Nhà hiên hẹp: Đau ốm.

·         Tường vách lở lói chân: Tán tài.

·         Trước nhà có dải đất thè lè lưỡi trai: Đời đời sinh hiền tài.

·         Mái sau chìa đuôi cá: Ôn dịch.

·         Trước nhà có nhà đổ: Khẩu thiệt thị phi.

·         Có tum nhỏ: Trẻ khó nuôi.

·         Trước nhà là một nhà cao mái hơn nhà mình: Cô quả.

·         Nhà phụ cao hơn nhà chính: Thoái bại.

·         Đất sau nhà rộng hơn mặt tiền: Giàu có.

11. Khí vị:

Sáng sủa- Tốt; ảm đạm, u ám- Suy thoái; ấm áp- Hưng thịnh; chói chang- sắp phát tài, sắp sinh quí tử; màu đỏ, có khói- sắp cháy; lờ mờ như sương- sắp có tai họa; ban đêm trên nhà có màu sáng rực- quí tụ, sắp phát lộc; ban đêm trên mái nhà có ngũ sắc- rất quí; đường dẫn thẳng vào nhà là có lai khí, xem hướng lai khí mà đoán; đường chạy ngang trước cửa- là chính khí, xem tụ khí ở hướng đối diện, như nhà Càn xem ở Tốn. Nhớ là khí tụ phương Bắc tới thì xấu, từ phương sinh tới thì tốt.

Tóm lại, đàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp. Làm nhà phải tính theo Cung phi của đàn ông, phối hợp với thế đất thế nước (Thổ cục và Thuỷ cục), luận Đông hay Tây mệnh. Trường hợp hướng phạm Tứ hung thì phải xoay hướng bàn thờ gia tiên + Cung phi của trạch chủ để được các hướng Sinh khí, Diên niên hoặc Thiên y mà cầu phúc. Sau đó, miệng lò cùng day về hướng Sinh khí.

Thí dụ: Bàn thờ gia tiên ở Khôn thì miệng lò day Cấn. Khôn + Cấn thành Sinh khí. Bàn thờ ở Ly, miệng lò day Chấn. Ly + Chấn = Sinh khí.

Giường ngủ của trạch chủ cũng đạp chân về Tam cát.

Táo khẩu và bàn thờ Táo thần hãy phối với bàn thờ gia tiên cho được Tam cát.

·         Số của Tiên thiên bát quái là: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8.

·         Số của Hậu thiên bát quái là: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung ương 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.

Khai môn và Sinh môn là cát.

Hưu môn chủ nghỉ ngơi, đợi thời.

Thương môn chủ lo sợ.

Đô môn chủ trắc trở.

Cảnh môn chủ vật tư, gia tài.

Tử môn chủ đại hung.

Kinh môn chủ kinh hoàng.

 

 
Khi dự đoán, Thiệu Khang Tiết dùng hành của Hậu thiên nhưng với số của Tiên thiên, chưa rõ vì sao.

Khai môn

(1)

Hưu môn

(6)

Sinh môn

(7)

Kinh môn

(2)

Thương môn

(4)

Tử môn

(8)

Cảnh môn

(3)

Đô môn

(5)

 

Đồ hình của Tiên thiên như sau:

Số của Tiên thiên rõ ra là Tứ tượng sinh Bát quái (Thái âm 4, Thiếu âm 2, Thái dương 1, Thiếu dương 3).

 

 
 


Cấn

(7)

Khôn

(8)

Chấn

(4)

Khảm

(6)

Ly

(3)

Tốn

(5)

Càn

(1)

Đoài

(2)

12. Đặt huyệt mộ:

Phàm người chết, thì nên chọn đúng huyệt mộ, tức là Âm trạch nằm đúng bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

§  Cung phi của người chết phạm Tứ Kim lâu hoặc Ngũ Thụ tử, thì mộ nên đặt phương Phục vị hoặc Thiên y.

§  Phạm Lục địa sát, chọn hướng Phục vị, Sinh khí. 

§  Phạm Tam địa sát, chọn Diên niên.

§  Phạm Trùng tang, chọn Phục vị.

Đặt phía chân hướng cao, đầu gối hướng thấp.

Phép tính nhập mộ như sau: Trên Thiên bàn của lá số Tử vi, nam khởi tại cung Dần, thuận hành. Nữ khởi tại cung Thân, nghịch hành. Khởi tại Tí, đến tên năm chết. Tính tiếp, đến tháng chết. Lại tính tiếp, đến ngày chết. Lại tính tiếp, đến giờ chết. Bốn cung (năm, tháng, ngày, giờ) tìm được rơi đúng vào bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Nhập mộ, rơi vào Dần, Thân, Tỵ, Hợi là phạm Trùng tang, vào Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì được Thiên di.

Nhập mộ là tốt, chết đúng cách, thứ đến Thiên di. Rơi vào Trùng tang là rất xấu.

Xem thí dụ sau:

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Thìn

 

 

Dậu

Mão

Thuận

Nghịch

Tuất

Dần

Sửu

Tí

Hợi

Ông Ba, chết năm 33 tuổi, tháng 3, ngày 21, giờ Mão. Tính như sau:

§  Khởi tự cung Dần, làm 1 mười. Đến cung Thìn là 3 mười. Cộng thêm 3 cho đủ tuổi, thì tuổi 33 rơi vào cung Mùi (được 1 mộ).

§  Tính sang cung Thân là tháng 1, đến tháng 3 là sang Tuất, đúng tháng chết (được 2 mộ).

§  Lại tính tiếp cung Hợi là ngày 1, đủ 21 ngày, là ngày chết, rơi vào cung Mùi, là được 3 mộ.

§  Tính tiếp cung Thân là giờ Tí, đến giờ Mão thì rơi vào cung Hợi. Vậy là giờ chết của ông Ba phạm Trùng tang, Ông Ba được 3 cái nhập mộ. Dùng đủ 4 nhập mộ, là ông ấy đủ số trời cho.

Muốn tìm huyệt chôn, phải dựa vào chòm sao Trường sinh. Vòng Trường sinh gồm 12 sao: Trường sinh - Mộc dục - Quan đức - Lâm quan - Đế vượng - Suy - Bệnh - Tử - Mộ - Tuyệt - Thai - Dưỡng. Huyệt đặt vào cung Sinh Vượng thì tốt, vào Mộ thì đúng, huyệt rơi vào Tử, Tuyệt là rất xấu.

Tìm vòng Trường sinh dựa theo Thuỷ Y Pháp:

§  Nếu thấy nước nơi nghĩa địa chảy về phương Tuất (Tây Bắc) thì là Hỏa cục. Sẽ đứng ở phương Mão nhìn sang Tuất, nếu nước chảy từ trái sang phải thì là Dương cục. Dương Hỏa Cục, thì Trường sinh an Dần, Đế vượng tại Ngọ, Mộ tại Tuất. Chôn ở Tuất, là mộ cư mộ địa. Nếu nước chảy từ phải sang trái là Âm cục. Âm hỏa Cục, thì Trường sinh khởi tại Ngọ, Mộ cũng ở Tuất.

§  Nếu nước chảy phương Thìn (Đông Nam) thì đất ấy là Thuỷ cục. Đứng ở Dậu nhìn Thìn, nếu nước chảy từ trái sang phải thì là Dương cục, Trường sinh khởi tại Thân, Mộ tại Thìn. Nếu nước chảy từ phải sang trái là Âm cục, Trường sinh khởi tại Tí, Mộ tại Thìn.

§  Nếu nước chảy phương Sửu (Đông Bắc) là Kim cục. Đứng ở Ngọ nhìn Sửu. Nước chảy từ tả (trái) sang hữu (phải) thì là Dương cục. Trong Kim cục thì Trường sinh khởi tại Tỵ, Mộ tại Sửu (ô thứ 9). Nước chảy từ hữu sang tả, là Âm cục. Trường sinh khởi tại Dậu, Mộ cũng tại Sửu (khởi nghịch).

§  Nếu nước chảy phương Mùi (Tây Nam) là Mộc cục. Đứng ở Tí nhìn Mùi, nếu nước chảy từ trái sang phải thì là Dương mộc cục, Trường sinh khởi tại cung Hợi. Nước chảy từ phải sang trái là Âm mộc cục, Trường sinh khởi nghịch tại cung Mão.

Tóm lại dù Dương cục hay Âm cục, mộ bao giờ cũng rơi vào Tứ mộ. Nhớ là Dương cục thuận hành, Âm cục nghịch hành. Cái chết bao giờ cũng trở về với Thổ (Tứ mộ là Thổ).

Kim lâu: Lấy số tuổi chia cho 9, số dư thuộc các số 1, 3, 6, 8 là phạm Kim lâu.

Lúc khâm liệm, lúc chôn, những ai phạm các điều sau, nên tránh mặt:

§  Cùng địa chi với tuổi người chết, có địa chi tương khắc với tuổi người chết.

§  Có Cung phi, phối với cung phi của người chết tạo thành Tứ hung.

Cải táng, cũng phải theo Kim lâu và Hoang ốc.

Phép tính Hoang ốc:

Khởi nhất càn ở ô I, theo chiều thuận, mỗi ô 10 tuổi, cho đến ô 60. Nếu tuổi ở  số  lẻ, thì dừng ở 10 cuối cùng, rồi tính tiếp mỗi ô một tuổi. Tuổi cuối cùng rơi vào ô nào, là phạm tuổi ấy.

§  Chỉ có 3 ô tốt : Nhất cát, nhị nghi, tứ tấn tài.

§  Đại sát xấu như Thụ tử.

 

 

 
 


Tam địa sát

III

IV

Tứ tấn tài

Nhị nghi

II

V

Ngũ thụ tử

Nhất cát

I

VI

Lục địa sát


TỪ THÁNG BIẾT NGÀY HOÀNG ĐẠO,

TỪ NGÀY BIẾT GIỜ HOÀNG ĐẠO

(theo tư liệu của anh Hinh sưu tầm – 02/2004)

 

Dần Thân ĐI ĐỨNG bình yên, ĐẾN ĐÂU cũng ĐƯỢC người quen ĐÓN chào

Mão Dậu ĐẾN cửa ĐÔNG ĐÀO, có tiên ĐƯA ĐÓN qua ĐÈO thiên thai

Thìn Tuất ai ngóng ĐỢI ai, ĐƯỜNG ĐI suôn sẻ ĐẸP ĐÔI bạn ĐỜI

Tỵ Hợi cuối ĐẤT cùng trời, ĐẾN nơi ĐẮC ĐỊA còn ngồi ĐẮN ĐO

Tí Ngọ ĐẸP ĐẼ tiền ĐỒ, qua sông ĐỪNG vội ĐỢI ĐÒ sang ngang

Sửu Mùi sẵn kẻ ĐƯA ĐƯỜNG, băng ĐÈO vượt suối ĐEM sang ĐỒN ĐIỀN

 

Tháng(ngày)

 

Ngày(giờ)

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Dần Thân

ĐI

ĐỨNG

bình

yên,

ĐẾN

ĐÂU

cũng

ĐƯỢC

người

quen

ĐÓN

chào

Mão Dậu

ĐẾN

cửa

ĐÔNG

ĐÀO,

tiên

ĐƯA

ĐÓN

qua

ĐÈO

thiên

thai

Thìn Tuất

ai

ngóng

ĐỢI

ai,

ĐƯỜNG

ĐI

suôn

sẻ

ĐẸP

ĐÔI

bạn

ĐỜI

Tỵ Hợi

cuối

ĐẤT

cùng

trời,

ĐẾN

nơi

ĐẮC

ĐỊA

còn

ngồi

ĐẮN

ĐO

Tí Ngọ

ĐẸP

ĐẼ

tiền

ĐỒ,

qua

sông

ĐỪNG

vội

ĐỢI

ĐÒ

sang

ngang

Sửu Mùi

sẵn

kẻ

ĐƯA

ĐƯỜNG,

băng

ĐÈO

vượt

suối

ĐEM

sang

ĐỒN

ĐIỀN

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét