Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2024

Tổ Tôm – Một di sản phi vật thể cần được bảo tồn trong văn hóa Việt

Tổ Tôm – Một di sản phi vật thể cần được bảo tồn trong văn hóa Việt

(Phạm Thanh Liêm sưu tầm/tổng hợp, 17/10/2024)


Tổ Tôm là trò chơi dân gian phổ biến của người Việt, có lịch sử từ lâu đời (hàng trăm năm), thường được các tỉnh vùng đồng bằng Bắc bộ tổ chức chơi vào các dịp lễ hội của người Việt, với 5 người chơi và 120 quân bài. Tổ hợp chơi 5 người chưa có trên thế giới, tượng trưng cho Ngũ hành, một nguyên lý kinh điển của người Việt cổ.

Có 30 loại quân bài (từ 1 đến 9, gồm 3 chất là Vạn, Văn, Sách và 3 quân Yêu là Ông Cụ, Chi Chi, Thang Thang), mỗi loại quân bài có 4 quân giống nhau.


Khàn: Là tổ hợp 3 quân giống nhau có được sau khi chia bài.
Thiên khai: Là tổ hợp 4 quân giống nhau có được sau khi chia bài.
Phu, Lưng là 2 khái niệm cơ bản trong Tổ Tôm (Tương tự với Chắn, Cạ trong Chắn và Phỏm dọc, Phỏm ngang trong Phỏm).
  • Phu: Là tổ hợp của ít nhất 3 quân bài tuân theo quy định. Có 3 loại Phu: Phụ dọc, Phu ngang (còn gọi là Phu bí) và trường hợp đặc biệt là Phu Yêu chỉ cần tối thiểu 1 quân.
  • Lưng: Là điều kiện tiên quyết để bài Ù và Ù với cước sắc nào. Có 9 loại Lưng sau:

CÁCH CHƠI TỔ TÔM
Người chơi sẽ dùng trí tuệ xoay chuyển các quân bài để bài mình Ù nhanh nhất. Bài Ù phải thỏa mãn điều kiện có ít nhất 1 Lưng, các quân còn lại sắp xếp hết được vào các Phu.


Ù là khi quân bài của người chơi và 1 quân của làng (bốc được hoặc do bất kỳ ai đánh ra) được xếp hết vào các Phu và ít nhất có 1 Lưng. Ở ví dụ bên dưới, quân Ù là Nhị Sách, cước Ù là Lèo Tôm.

Các cước Ù trong Tổ Tôm: Nếu tính theo quy định “suông 4 dịch 2” thì số điểm các cước Ù được tính như sau:
  • Suông (4 điểm);
  • Thông (Tam khôi, tứ khôi, ngũ khôi…) (+2 điểm, 4 điểm, 6 điểm, 8 điểm…): Ù liên tiếp lần 2, 3, 4… số điểm sẽ được cộng thêm 2 cho mỗi lần sau;
  • Tôm (8 điểm): Bài có Lưng là Tôm (Tam Vạn+Tam Sách+Thất Văn);
  • Bạch Thủ (8 điểm): Bài chưa có lưng, lẻ 1 đôi, chờ duy nhất nước phỗng đôi đó thành lưng thì được ù, nếu phỗng được thì gọi là Ù bạch thủ;
  • Thiên Ù (8 điểm): Lên bài là chẵn bài luôn, cầm cái, hô Ù ngay;
  • Lèo (10 điểm): Bài có Lưng là Lèo (Cửu Vạn+Bát Sách+Chi Chi);
  • Xuyên bí Tứ (10 điểm): Bài chờ quân Ù là quân gánh 2 quân kia trong 1 Phu bí, quân bài Ù là quân không có trên bài (Ví dụ: quân Ù là Tứ Vạn, bài có 2 quân Tứ Văn, 2 quân Tứ Sách; quân Ù là Nhị Vạn, bài có 2 quân Bát Văn, 2 quân Nhị Sách);
  • Xuyên năm gian (10 điểm): Bài chờ quân Ù xuyên giữa Phu dọc (không tính Yêu) (Ví dụ quân Ù là Tứ Văn, bài có dây dọc Nhị-Tam-Ngũ-Lục Văn, các quân Nhị Văn, Lục Văn không dính với các Phu bí khác);
  • Kính Cụ (12 điểm): Bài trắng tinh, chỉ duy nhất có 1 Ông Cụ – Ăn gà;
  • Thập điều (12 điểm): Bài có 10 quân đỏ – Ăn gà;
  • Bạch định (16 điểm): Bài trắng tinh – Ăn gà;
  • Chi chi nảy (24 điểm): Bài có Cửu Vạn và Bát Sách, chờ Ù con duy nhất là Chi Chi – Ăn gà;
  • Kính tứ Cố (48 điểm): Bài trắng tinh, chỉ có 4 Ông Cụ – Ăn gà.

(*) Khi tạo phu dọc, không được bỏ Nhị ăn Ngũ, bỏ Tứ ăn Thất hoặc bỏ Lục ăn Cửu.


Trong giai đoạn xếp bài, nếu có Khàn hoặc Thiên khai thì phải úp Khàn, úp Thiên khai xuống chiếu. Nếu không úp, sẽ bị treo Khàn, treo Thiên khai (nghỉ ăn tiền nếu Ù).


Phải dậy Khàn khi quân bốc Nọc hoặc quân người khác đánh đúng với 3 quân Khàn đang úp. Nếu không dậy Khàn sẽ bị Khê Khàn và nghỉ ăn tiền nếu Ù.



Trong trường hợp quân Ù có thể Phỗng được, nhưng lại vào 1-2 phu dọc/ngang khác thì khi Ù phải hô Ù không Phỗng, cùng với cước của ván Ù.
Trong trường hợp quân Ù là quân Khàn, nhưng lại vào 1 phu dọc khác thì khi Ù phải hạ quân Ù vào Phu dọc, sau đó mới dậy Khàn, và khi hô Ù phải hô “Tiền Ù hậu dậy”, cùng với cước của ván Ù.





 
Đã xin bất thực thì khi xuất hiện quân bài bất thực thì phải chả chén, hô công bố với làng như sau:



(Nguồn: Tổ Tôm sân đình)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét