Giang hồ đồn bảo, y "sản" ra thơ như thò tay lấy đồ trong bị, ngẫm cũng phải.
Những vần không màu mè, trần trụi tình người. Cho, và nhận. Từ thủ đô (nơi chôn rau) đến đại ngàn cao nguyên xa xôi, từ làng nghề Kinh Bắc đến mùa nước nổi phương Nam, đâu đó vẫn ẩn hiện trong thơ y, phản ảnh thói đi nhiều chơi nhiều của phường lãng du.
Y
viết như lên đồng - ngày xưa, và “quần quật” bàn phím - thời nay. Như hoá dại.
Thơ
y không vui. Rặt những chuyện tình, những nhớ nhung, đam mê rồi tiếc nuối, theo
thời gian. Phải. Thơ y không vui. Buồn kinh.
Dễ
đến cả nhiều nghìn bài kể từ khi vương vào nghiệp cầm búa luồn rừng (nghề thổ nghiệp)
và cầm bút. Nguyễn Bính bảo: "Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ, nghèo lắm con ơi, bạc lắm con..." - nghĩ cũng phải. Tí tật lẻ sáo nhị đàn ca mà y đam mê cũng làm cho thời gian đi qua
trở nên vô thường hơn. Nghiệp võ (tí ti, chưa thể gọi là nghiệp, đam mê thì được), cũng luỵ chỉ vì hai từ nghệ thuật
không hơn. Tệ nữa, thói ham mê rượu chè cũng làm cho nhiều khi y trở nên đần ra
với thời cuộc. Vợ kêu. Rồi con kêu. Y trở nên trầm tư.
Gạt
bỏ chuyện mưu sinh, những cơn vui tầm thường, chúng loay hoay bên nhau, nhào nặn
nên y, một khái niệm không thời gian.
Hàng
xóm hơn nhiều lần bực mình (phải, hơn nhiều lần) vào những đêm quãng qua đầu
Hợi, trong khung cửa (sổ) nhỏ, y loay hoay bên chiếc dương cầm, thả hồn vào một
Maxcova chiều hoang hay tạ từ Elise, lại ngô nghê tỉ tê cùng cây guitar già cỗi
(bảo vật của người em năm xưa), những Nguyễn Cường Trần Tiến của một cao nguyên
không thời gian, hay ồ ề làm giàn, nghêu ngoao cùng bạn bè một phường du thủ y quen. Tinh mơ vào Dần đã lại
thấy y kỳ cạch tìm vui bên "nữ nhân hành mộc". Rồi làm phuộc
xe, đạp đón bình minh, ngao du với các cụ hưu CLB bơi Tây Hồ Hà Nội.
Nhưng
suy cho cùng, đời là cơn mộng. Và y tin, y gieo mộng lành.
(Hà Nội, đêm 23/8/2013).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét