Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

TDKTNT_P1: Hồi thứ mười sáu



HỒI THỨ MƯỜI SÁU

Ngày đẹp, Hữu Kháng về Thái Bình, mở lỗ
Giờ lành, Trần Đức dọn buồng 416, khai trương
Ở miền duyên hải Thái Bình có kẻ ngầm bàn bạc với nhau, rồi tấu với Hòa đại nhân là kẻ được triều đình cử ra trông nom vùng Tiền Hải rằng: “Xứ Cái bang ta lâu nay chỉ lẹt đẹt vài ba cái mỏ khí và nước khoáng chả phát lên được, nay nếu triều đình tập trung nhân sỹ, điều binh khiến tướng đẩy mạnh công cuộc tìm nước đái của Rồng, thì có cơ là được. Vì trong dân có kẻ được Thánh thần chỉ bảo, cứ đem ống tre mà đóng xuống đất, rồi châm lửa dẫn về nhà, gì chứ cám lợn đun nấu đỡ đến tám chín phần rơm rạ. Từ đó mới rút ra được kinh nghiệm, phàm rằng nơi nào có khí phun thì thể nào cũng có nước đái của Rồng chảy ra, nếu ta nhân thế thời mà vời được lũ ngoại bang về lo cuộc khai quật thì thể nào cũng nên nghiệp lớn, Thái Bình ta từ đó mới có cơ mở mày mở mặt ra với thiên hạ được. Với lại Cái bang ta cũng sản sinh biết bao anh hùng hào kiệt trong công cuộc dò tìm nước đái của Rồng, chả lẽ Thiên tử không vì nề mà ừ đi cho hay sao”.
Hòa đại nhân nghe vậy cho là phải bèn tức tốc sai văn quan thảo gấp một bức sớ dài ca ngợi ơn mưa móc của triều đình, lấy cái nhân nghĩa của lũ Văn Minh, cái khoan dung của Hữu Kháng ra mà ca tụng, đặng khúc cuối mới đưa ra cái nội dung tiến hành công việc hút nước thánh của Rồng (lũ gia quyến của Văn Minh, Hữu Kháng đều xuất thân đất Thái Bình cả). Quả nhiên, Thiên tử gật đầu ưng thuận, có sớ về cho đám Văn Trương, Đỗ Hậu, đem quân tinh nhuệ về vùng đất Thái Bình mở lỗ giếng khoan Tiền Hải 4X.
Ngày mồng một tháng mười năm Giáp Thân (12/11/2004) nhằm ngày Hoàng Đạo, triều đình cử đích danh quan Hữu Kháng, võ quan chuyên về công cuộc khai quật, cùng tên tiểu tướng là Vũ Minh vốn là kẻ áo vải xuất thân nguồn gốc Thái Bình cho quen thông thổ, ngựa xe võng lọng kéo về từ tối ngày hôm trước. Kháng người mực thước, trí sáng hơn người, thời trai trẻ đã từng một tay quản mấy trăm tinh binh chuyên nghề chọc đất tìm dầu nơi Thái Bình. Đêm cuối tháng trời tối đen như mực, Kháng thấy trong người buồn bực mệt mỏi, bèn quay ra bảo với tên tiểu tử Vũ Minh rằng: “Ta vốn dân Hà Tĩnh, song thuở trẻ lập nghiệp trên đất Thái Bình nhà ngươi cũng có đến chục năm rồi lấy vợ mà sinh con ở đó. Do vậy thông thổ ở đây cũng chẳng lạ gì. Kỳ này đang vào lúc giao thời chuyển mùa, tiết trời chẳng mưa gió gì mà nóng lạnh thất thường, vào cái tuổi như ta đây thân trinh một thân một mình đường xa dặm thẳm là điều không nên làm, vậy mới buộc ngươi phải theo ta, để lại con thơ vợ trẻ nơi Định Công, hai ngày cùng lắm thì về”. Vũ Minh lúc này mới thấy yên lòng, vì không hiểu sao đợt kinh lý này chủ tớ lại đêm hôm vất vả làm vậy. Làm quan Thăm dò khai thác chuyện ngày ngày cưỡi chim sắt trong nam ngoài bắc qua lại là lẽ thường, song ngựa xe đưa đón chứ đâu dấm dúi thế này, giờ thì hiểu ra rằng ý chỉ của Hữu Kháng là muốn tiết kiệm thời gian vàng ngọc. Ngựa xe đi vùn vụt chẳng mấy chốc mà về đến thị trấn quê nhà. Minh sai gia nhân lo cơm nước rồi thầy trò lên giường đi ngủ, định sáng hôm sau thì ra trận làm cái lễ mở lỗ cho bọn nhà thầu. Chuyện không bàn đến nữa.
Lại nói chuyện tại Ngô Quyền Phủ, đúng sáng mồng một, nhằm giờ Thìn là giờ hợp tuổi, Đức Chính thân hành đến từng trại mà mời đám quan quân lên thưởng rượu, gọi cho là cái lễ ngày lành dọn về office mới, lại chọn đúng chỗ ngồi của Văn Hinh, lấy hướng Cấn Đông bắc quay mặt mà thờ. Sau một chầu rượu, Chính mới tuyên bố với quần thần bản thân chẳng mặn mà chuyện tín ngưỡng, song trông vào cái phòng 416 tốt phúc nên mới lấy về. Lũ dân đen nghe Chính bảo vậy thì biết vậy.
Đồn rằng ngày còn Đại quan nhân Quyết Thắng tại phòng 416, thì cứ mỗi khi Trời nổi mưa to gió lớn là nước ở đâu cứ cuồn cuộn chảy về, nhằm vào chỗ Quyết Thắng mà đổ, đến độ mỗi lần như vậy Thắng lại phải sai gia nhân khiêng cái chum đại vào mà hứng, và coi đó là cái lộc mà trời đất mang lại. Đến khi Thắng có chiếu chỉ của triều đình điều vào Lam Sơn cầm chân Giám đốc cai quản một nhóm người ta tàu lẫn lộn, đến ngày đi Trời cũng muốn nổi cơn mưa đầu mùa, nước ở đâu lại chảy về nhưng lần này lại đổ vào phía chỗ quan chi phủ là Văn Hinh ngồi, trong quân đều cho là lạ. Thắng thân hành sai gia nhân chuyển cho Văn Hinh cái chum mà rằng: “Nhà ngươi nay ở lại, thay ta lo việc thiên hạ. Ta vẫn biết chuyến này ra đi khó có ngày trở lại, vì thiên hạ loạn lạc, mà kẻ làm tôi không thể chống lệnh triều đình. Lam Sơn JOC mới sinh còn non trẻ, cần người phụng danh Thiên tử điều hành, nay triều đình đã cử, ra đi ngày một ngày hai là chuyện không thể không thi hành. Nay có cái chum nhỏ này, đã cùng ta chịu trận bao cơn mưa rào đầu hạ lẫn những ngày bão lớn gió to, nay ta trao lại cho ngươi, hãy giữ lấy gọi là cái ơn đồng tọa”. Nói rồi bưng đến để trước mặt Văn Hinh. Hinh lấy làm cảm động lắm, lễ tạ ba lạy mà rằng: “Thần theo Đại vương cũng đến 10 năm có lẻ, tuy chưa có chút danh phận gì nhưng được Đại vương hạ cố đoái thương, gia sản trong nhà tích lũy cũng đôi phần bằng người thiên hạ. Nay Đại vương bỗng dưng vì nghiệp lớn mà dứt áo ra đi, âu cũng là đến cái lúc thế thời phải vậy. Cái chum này Đại vương để lại, thần xin nguyện sẽ sử dụng theo cái chí hướng mà ngày xưa Đại vương từng làm. Kính mong Đại vương bảo trọng”, nói rồi lại lễ thêm ba lạy nữa. Đám thần dân trong phòng 416 bấy giờ là lũ Minh Thu, Mạnh Cường cũng sụt sùi cảm động cho cái tình huynh đệ đồng phòng mà rơi lệ. Và từ đấy mỗi khi trời có gió bão, Hinh lại mang cái chum ra hứng nước, theo thói thường nước giờ chảy vào chỗ của Văn Hinh.
Vì thế đời sau mới có câu thơ ca ngợi chuyện này rằng:
Hinh ơi, em ở lại nhà
Thần linh em cúng, vợ già em trông
Anh nay dứt áo vô Nam
Lam Sơn tu chí làm xong việc đời
Việc đời cũng chỉ rong chơi
Anh đi, xin trả lại đời cái chum
Chuyện dừng ở đây.
Sau cơn binh biến giữa năm Giáp Thân, phòng ốc trong Phủ nhiều phần thay đổi. Đức Chính không muốn về trướng cũ của Văn Đắc, vì thỉnh thoảng Đắc vẫn thường qua lại làm quan tư vấn cho phường thăm dò, sau chính Ngọ cơm nước về đấy mà ngủ nghỉ, việc Chính chuyến đến đôi phần lấy làm không tiện. Trông đi trông lại chỉ còn trại 416 của lũ Văn Hinh, Mạnh Cường là tiện hơn cả. Tuy phong thủy không được thông thoáng cho lắm, nhưng sự kín đáo vẫn cần cho các bậc vương giả, mà Chính cũng đã ngoại ngũ tuần, ngọc thể cũng đến lúc cần phải được lũ gia nhân liệu bề chăm sóc và đề phòng. Ở tư thất thì đã có gia quyến vợ con, còn nơi cung cấm thì tướng nào cũng phải lo mà tự mình phòng bị tuy rằng cũng có đám hậu cần y tế chuyên lo việc thang thuốc. Vả lại Văn Hinh khi xưa cũng là kẻ vốn quen việc cúng tế đi lại với thánh thần, chốn thâm cung nhưng lại là nơi các vị qua lại độ trì và phù trợ. Nay việc Chính đến không thể không lễ thờ theo lẽ thường, và mới có câu chuyện trên.
Chẳng biết khi Văn Hinh ra đi có để lại cho Đức Chính cái chum như ngày xưa Quyết Thắng đã từng làm hay không, chỉ thấy sử cũ có ghi:
Nhằm hôm mồng một ngày ta
Giờ Hoàng Đạo, Chính xoay ra chuyển buồng
Cầu cho mưa thuận gió nhiều
Đám thần dân, cấm đặt điều thị phi
Khi nào bái tổ vinh quy
Các ngươi muốn điều gì thì nói ngay
Hơn mười năm nữa trong tay
Tưởng gì chứ chuyện sau này, biết đâu…


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét