HỒI THỨ MƯỜI SÁU
Ngày
đẹp, Hữu Kháng về Thái Bình, mở lỗ
Giờ
lành, Trần Đức dọn buồng 416, khai trương
Ở miền duyên hải Thái Bình có kẻ ngầm bàn bạc với nhau,
rồi tấu với Hòa đại nhân là kẻ được triều đình cử ra trông nom vùng Tiền Hải
rằng: “Xứ Cái bang ta lâu nay chỉ lẹt đẹt vài ba cái mỏ khí và nước khoáng chả
phát lên được, nay nếu triều đình tập trung nhân sỹ, điều binh khiến tướng đẩy
mạnh công cuộc tìm nước đái của Rồng, thì có cơ là được. Vì trong dân có kẻ
được Thánh thần chỉ bảo, cứ đem ống tre mà đóng xuống đất, rồi châm lửa dẫn về
nhà, gì chứ cám lợn đun nấu đỡ đến tám chín phần rơm rạ. Từ đó mới rút ra được
kinh nghiệm, phàm rằng nơi nào có khí phun thì thể nào cũng có nước đái của
Rồng chảy ra, nếu ta nhân thế thời mà vời được lũ ngoại bang về lo cuộc khai
quật thì thể nào cũng nên nghiệp lớn, Thái Bình ta từ đó mới có cơ mở mày mở
mặt ra với thiên hạ được. Với lại Cái bang ta cũng sản sinh biết bao anh hùng
hào kiệt trong công cuộc dò tìm nước đái của Rồng, chả lẽ Thiên tử không vì nề
mà ừ đi cho hay sao”.
Hòa đại nhân nghe vậy cho là phải bèn tức tốc sai văn
quan thảo gấp một bức sớ dài ca ngợi ơn mưa móc của triều đình, lấy cái nhân
nghĩa của lũ Văn Minh, cái khoan dung của Hữu Kháng ra mà ca tụng, đặng khúc
cuối mới đưa ra cái nội dung tiến hành công việc hút nước thánh của Rồng (lũ
gia quyến của Văn Minh, Hữu Kháng đều xuất thân đất Thái Bình cả). Quả nhiên,
Thiên tử gật đầu ưng thuận, có sớ về cho đám Văn Trương, Đỗ Hậu, đem quân tinh
nhuệ về vùng đất Thái Bình mở lỗ giếng khoan Tiền Hải 4X.
Ngày mồng một tháng mười năm Giáp Thân (12/11/2004) nhằm
ngày Hoàng Đạo, triều đình cử đích danh quan Hữu Kháng, võ quan chuyên về công
cuộc khai quật, cùng tên tiểu tướng là Vũ Minh vốn là kẻ áo vải xuất thân nguồn
gốc Thái Bình cho quen thông thổ, ngựa xe võng lọng kéo về từ tối ngày hôm
trước. Kháng người mực thước, trí sáng hơn người, thời trai trẻ đã từng một tay
quản mấy trăm tinh binh chuyên nghề chọc đất tìm dầu nơi Thái Bình. Đêm cuối
tháng trời tối đen như mực, Kháng thấy trong người buồn bực mệt mỏi, bèn quay
ra bảo với tên tiểu tử Vũ Minh rằng: “Ta vốn dân Hà Tĩnh, song thuở trẻ lập
nghiệp trên đất Thái Bình nhà ngươi cũng có đến chục năm rồi lấy vợ mà sinh con
ở đó. Do vậy thông thổ ở đây cũng chẳng lạ gì. Kỳ này đang vào lúc giao thời
chuyển mùa, tiết trời chẳng mưa gió gì mà nóng lạnh thất thường, vào cái tuổi
như ta đây thân trinh một thân một mình đường xa dặm thẳm là điều không nên
làm, vậy mới buộc ngươi phải theo ta, để lại con thơ vợ trẻ nơi Định Công, hai
ngày cùng lắm thì về”. Vũ Minh lúc này mới thấy yên lòng, vì không hiểu sao đợt
kinh lý này chủ tớ lại đêm hôm vất vả làm vậy. Làm quan Thăm dò khai thác
chuyện ngày ngày cưỡi chim sắt trong nam ngoài bắc qua lại là lẽ thường, song
ngựa xe đưa đón chứ đâu dấm dúi thế này, giờ thì hiểu ra rằng ý chỉ của Hữu
Kháng là muốn tiết kiệm thời gian vàng ngọc. Ngựa xe đi vùn vụt chẳng mấy chốc
mà về đến thị trấn quê nhà. Minh sai gia nhân lo cơm nước rồi thầy trò lên
giường đi ngủ, định sáng hôm sau thì ra trận làm cái lễ mở lỗ cho bọn nhà thầu.
Chuyện không bàn đến nữa.
Lại nói chuyện tại Ngô Quyền Phủ, đúng sáng mồng một,
nhằm giờ Thìn là giờ hợp tuổi, Đức Chính thân hành đến từng trại mà mời đám
quan quân lên thưởng rượu, gọi cho là cái lễ ngày lành dọn về office mới, lại chọn
đúng chỗ ngồi của Văn Hinh, lấy hướng Cấn Đông bắc quay mặt mà thờ. Sau một
chầu rượu, Chính mới tuyên bố với quần thần bản thân chẳng mặn mà chuyện tín
ngưỡng, song trông vào cái phòng 416 tốt phúc nên mới lấy về. Lũ dân đen nghe
Chính bảo vậy thì biết vậy.
Đồn rằng ngày còn Đại quan nhân Quyết Thắng tại phòng
416, thì cứ mỗi khi Trời nổi mưa to gió lớn là nước ở đâu cứ cuồn cuộn chảy về,
nhằm vào chỗ Quyết Thắng mà đổ, đến độ mỗi lần như vậy Thắng lại phải sai gia
nhân khiêng cái chum đại vào mà hứng, và coi đó là cái lộc mà trời đất mang
lại. Đến khi Thắng có chiếu chỉ của triều đình điều vào Lam Sơn cầm chân Giám
đốc cai quản một nhóm người ta tàu lẫn lộn, đến ngày đi Trời cũng muốn nổi cơn
mưa đầu mùa, nước ở đâu lại chảy về nhưng lần này lại đổ vào phía chỗ quan chi
phủ là Văn Hinh ngồi, trong quân đều cho là lạ. Thắng thân hành sai gia nhân
chuyển cho Văn Hinh cái chum mà rằng: “Nhà ngươi nay ở lại, thay ta lo việc
thiên hạ. Ta vẫn biết chuyến này ra đi khó có ngày trở lại, vì thiên hạ loạn
lạc, mà kẻ làm tôi không thể chống lệnh triều đình. Lam Sơn JOC mới sinh còn
non trẻ, cần người phụng danh Thiên tử điều hành, nay triều đình đã cử, ra đi
ngày một ngày hai là chuyện không thể không thi hành. Nay có cái chum nhỏ này,
đã cùng ta chịu trận bao cơn mưa rào đầu hạ lẫn những ngày bão lớn gió to, nay
ta trao lại cho ngươi, hãy giữ lấy gọi là cái ơn đồng tọa”. Nói rồi bưng đến để
trước mặt Văn Hinh. Hinh lấy làm cảm động lắm, lễ tạ ba lạy mà rằng: “Thần theo
Đại vương cũng đến 10 năm có lẻ, tuy chưa có chút danh phận gì nhưng được Đại
vương hạ cố đoái thương, gia sản trong nhà tích lũy cũng đôi phần bằng người
thiên hạ. Nay Đại vương bỗng dưng vì nghiệp lớn mà dứt áo ra đi, âu cũng là đến
cái lúc thế thời phải vậy. Cái chum này Đại vương để lại, thần xin nguyện sẽ sử
dụng theo cái chí hướng mà ngày xưa Đại vương từng làm. Kính mong Đại vương bảo
trọng”, nói rồi lại lễ thêm ba lạy nữa. Đám thần dân trong phòng 416 bấy giờ là
lũ Minh Thu, Mạnh Cường cũng sụt sùi cảm động cho cái tình huynh đệ đồng phòng
mà rơi lệ. Và từ đấy mỗi khi trời có gió bão, Hinh lại mang cái chum ra hứng
nước, theo thói thường nước giờ chảy vào chỗ của Văn Hinh.
Vì thế đời sau mới có câu thơ ca ngợi chuyện này rằng:
Hinh
ơi, em ở lại nhà
Thần
linh em cúng, vợ già em trông
Anh nay dứt áo vô Nam
Lam Sơn tu chí làm xong việc đời
Việc đời cũng chỉ rong chơi
Anh đi, xin trả lại đời cái chum
Chuyện dừng
ở đây.
Sau cơn binh
biến giữa năm Giáp Thân, phòng ốc trong Phủ nhiều phần thay đổi. Đức Chính
không muốn về trướng cũ của Văn Đắc, vì thỉnh thoảng Đắc vẫn thường qua lại làm
quan tư vấn cho phường thăm dò, sau chính Ngọ cơm nước về đấy
mà ngủ nghỉ, việc Chính chuyến đến đôi phần lấy làm không tiện. Trông đi trông
lại chỉ còn trại 416 của lũ Văn Hinh, Mạnh Cường là tiện hơn cả. Tuy phong thủy
không được thông thoáng cho lắm, nhưng sự kín đáo vẫn cần cho các bậc vương
giả, mà Chính cũng đã ngoại ngũ tuần, ngọc thể cũng đến lúc cần phải được lũ
gia nhân liệu bề chăm sóc và đề phòng. Ở tư thất thì đã có gia quyến vợ con, còn nơi cung
cấm thì tướng nào cũng phải lo mà tự mình phòng bị tuy rằng cũng có đám hậu cần y tế chuyên lo việc
thang thuốc. Vả lại Văn Hinh khi xưa cũng là kẻ vốn quen việc cúng
tế đi lại với thánh thần, chốn thâm cung nhưng lại là nơi các vị qua lại độ trì
và phù trợ. Nay việc Chính đến không thể không lễ thờ theo lẽ thường, và mới có
câu chuyện trên.
Chẳng biết
khi Văn Hinh ra đi có để lại cho Đức Chính cái chum như ngày xưa Quyết Thắng đã
từng làm hay không, chỉ thấy sử cũ có ghi:
Nhằm hôm mồng một ngày ta
Giờ Hoàng Đạo, Chính xoay ra chuyển buồng
Cầu cho mưa thuận gió nhiều
Đám thần dân, cấm đặt điều thị phi
Khi nào bái tổ vinh quy
Các ngươi muốn điều gì thì nói ngay
Hơn mười năm nữa trong tay
Tưởng gì chứ chuyện sau này, biết đâu…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét